Table of Contents
Atlantis
By Edgar Cayce
Copyright © 2009
by the Edgar Cayce Foundation
1st Printing, May 2009
Printed in the U.S.A.
All rights reserved. No part of this book may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher.
A.R.E. Press
215 67th Street
Virginia Beach, VA 23451-2061
ISBN 13: 978-0-87604-588-6 (trade pbk.)
Edgar Cayce Readings © 1971, 1993, 1994, 1995, 1996
by the Edgar Cayce Foundation.
All rights reserved.
Cover design by Richard Boyle
Foreword
Who Was Edgar Cayce?—Edgar Cayce là ai?
Edgar Cayce (1877-1945) has been called “the sleeping prophet,” “the father of holistic medicine,” “the miracle man of Virginia Beach,” and “the most documented psychic of all time.” For forty-three years of his adult life, he had the ability to put himself into some kind of self-induced sleep state by lying down on a couch, closing his eyes, and folding his hands over his stomach. This state of relaxation and meditation enabled him to place his mind in contact with all time and space and to respond to any question he was asked. His responses came to be called “readings” and contain insights so valuable that, even to this day, Cayce’s work is known throughout the world. Hundreds of books have explored his amazing psychic gift, and the entire range of Cayce material is accessed by tens of thousands of people daily via the Internet.
Edgar Cayce (1877–1945) từng được gọi là “nhà tiên tri đang ngủ”, “cha đẻ của y học tổng thể”, “người đàn ông kỳ diệu ở Virginia Beach”, và “nhà thông linh được ghi chép đầy đủ nhất mọi thời”. Suốt bốn mươi ba năm trong quãng đời trưởng thành, Ông có khả năng đưa mình vào một trạng thái ngủ do tự thân gây ra bằng cách nằm trên ghế dài, nhắm mắt, và chắp tay trên bụng. Trạng thái thư giãn và tham thiền này cho phép Ông đặt thể trí của mình tiếp xúc với mọi thời và mọi không gian và đáp ứng bất kỳ câu hỏi nào được nêu ra. Những phản hồi ấy dần được gọi là “các bài đọc” và chứa đựng những minh triết quý đến mức, ngay đến hôm nay, công trình của Cayce vẫn được biết đến trên khắp thế giới. Hàng trăm cuốn sách đã khảo cứu năng khiếu thông linh kỳ diệu của Ông, và toàn bộ tư liệu về Cayce được hàng chục ngàn người truy cập mỗi ngày qua Internet.
Although the vast majority of the Cayce material deals with health and every manner of illness, countless topics were explored by Cayce’s psychic talent: dreams, philosophy, intuition, business advice, the Bible, education, child rearing, ancient civilizations, personal spirituality, improving human relationships, and much more. In fact, during Cayce’s lifetime he discussed an amazing ten thousand different subjects!
Dù phần lớn tư liệu của Cayce bàn về sức khỏe và mọi dạng tật bệnh, vô số đề tài khác cũng được Ông khai mở bằng tài năng thông linh: chiêm bao, triết học, trực giác, tư vấn kinh doanh, Kinh Thánh, giáo dục, nuôi dạy con, các nền văn minh cổ, đời sống tinh thần cá nhân, cải thiện các mối quan hệ giữa người với người, và còn nhiều nữa. Thực vậy, trong suốt cuộc đời, Cayce đã luận bàn một con số đáng kinh ngạc: mười nghìn chủ đề khác nhau!
The Cayce legacy presents a body of information so valuable that Edgar Cayce himself might have hesitated to predict its impact on contemporary society. Who could have known that, eventually, terms such as meditation, auras, spiritual growth, reincarnation, and holism would become household words to millions? Edgar Cayce’s A.R.E. (the Association for Research and Enlightenment, Inc.) has grown from its humble beginnings to an association with Edgar Cayce Centers in countries around the world. Today the Cayce organizations consist of hundreds of educational activities and outreach programs, children’s camps, a multi-million-dollar publishing company, membership benefits and services, volunteer contacts and programs worldwide, massage and health services, prison and prayer outreach programs, conferences and workshops, and affiliated schools (Atlantic University and the Cayce/Reilly School of Massotherapy).
Di sản của Cayce trình hiện một khối thông tin quý giá đến mức chính Edgar Cayce có lẽ cũng phải do dự nếu tiên liệu tác động của nó lên xã hội đương đại. Ai có thể biết rằng, rốt cục, những thuật ngữ như tham thiền, hào quang, trưởng thành tinh thần, luân hồi, và toàn diện sẽ trở thành những từ ngữ quen thuộc với hàng triệu người? Tổ chức A.R.E. của Edgar Cayce (Association for Research and Enlightenment, Inc.) đã phát triển từ khởi đầu khiêm tốn thành một hiệp hội có các Trung tâm Edgar Cayce tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, các tổ chức của Cayce bao gồm hàng trăm hoạt động giáo dục và chương trình tiếp cận cộng đồng, trại hè cho thiếu nhi, một công ty xuất bản trị giá nhiều triệu đô-la, các quyền lợi và dịch vụ dành cho hội viên, các đầu mối thiện nguyện và chương trình trên toàn cầu, các dịch vụ xoa bóp và sức khỏe, các chương trình tiếp cận nhà tù và cầu nguyện, các hội thảo và khóa học, cùng các trường liên kết (Đại học Atlantic và Trường Massotherapy Cayce/Reilly).
Edgar Cayce was born and reared on a farm near Hopkinsville, Kentucky. He had a normal childhood in many respects. However, he could see the glowing energy patterns that surround individuals. At a very early age he also told his parents that he could see and talk with his grandfather—who was deceased. Later, he developed the ability to sleep on his schoolbooks and retain a photographic memory of their entire contents.
Edgar Cayce sinh trưởng trên một nông trại gần Hopkinsville, Kentucky. Ở nhiều phương diện, Ông có một tuổi thơ bình thường. Tuy vậy, Ông có thể thấy các mẫu năng lượng phát sáng bao quanh con người. Rất sớm, Ông cũng nói với cha mẹ rằng Ông có thể nhìn thấy và trò chuyện với ông nội của mình—người đã qua đời. Sau đó, Ông phát triển khả năng ngủ trên sách giáo khoa và ghi nhớ như chụp ảnh toàn bộ nội dung của chúng.
Eventually, he met and fell in love with Gertrude Evans, who would become his wife. Shortly thereafter, he developed a paralysis of the vocal cords and could scarcely speak above a whisper. Everything was tried, but no physician was able to locate a cause. The laryngitis persisted for months. As a last resort, hypnosis was tried. Cayce put himself to sleep and was asked by a specialist to describe the problem. While asleep, he spoke normally, diagnosing the ailment and prescribing a simple treatment. After the recommendations were followed, Edgar Cayce could speak normally for the first time in almost a year! The date was March 31, 1901—that was the first reading.
Sau này, Ông gặp và đem lòng yêu Gertrude Evans, người sau trở thành vợ Ông. Không lâu sau, Ông bị liệt dây thanh và hầu như chỉ có thể nói thì thầm. Đã thử mọi cách nhưng không bác sĩ nào tìm được nguyên nhân. Tình trạng viêm thanh quản kéo dài nhiều tháng. Phương sách cuối cùng là thôi miên. Cayce tự đưa mình vào giấc ngủ và được một chuyên gia yêu cầu mô tả vấn đề. Khi đang ngủ, Ông nói chuyện bình thường, chẩn đoán căn bệnh và kê một liệu pháp đơn giản. Sau khi thực hiện các khuyến nghị, Edgar Cayce đã nói bình thường trở lại lần đầu tiên sau gần một năm! Ngày đó là 31 tháng Ba, 1901—đó là bài đọc đầu tiên.
When it was discovered what had happened, many others began to want help. It was soon learned that Edgar Cayce could put himself into this unconscious state and give readings for anyone—regardless of where he or she was. If the advice was followed, the individual got well. Newspapers throughout the country carried articles about his work, but it wasn’t really until Gertrude was stricken with tuberculosis that the readings were brought home to him. Even with medical treatments, she continued to grow worse and was not expected to live. Finally, the doctors said there was nothing more they could do. A reading was given and recommended osteopathy, inhalants, enemas, dietary changes, and prescription medication. The advice was followed and Gertrude returned to perfectly normal health! For decades, the Cayce readings have stood the test of time, research, and extensive study. Further details of Cayce’s life and work are explored in such classic books as There Is a River (1942) by Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) by Jess Stearn, Many Mansions (1950) by Gina Cerminara, and Edgar Cayce: An American Prophet (2000) by Sidney Kirkpatrick.
Khi phát hiện ra điều đã xảy ra, nhiều người khác bắt đầu mong được giúp đỡ. Không lâu, người ta biết rằng Edgar Cayce có thể tự đưa mình vào trạng thái vô thức này và thực hiện các bài đọc cho bất kỳ ai—bất kể người đó ở đâu. Nếu lời khuyên được làm theo, người bệnh sẽ bình phục. Báo chí khắp nước đăng bài về công việc của Ông, nhưng phải đến khi Gertrude mắc bệnh lao thì các bài đọc mới thật sự trở nên gần gũi với Ông. Dù được điều trị y khoa, tình trạng của Bà vẫn xấu đi và không được kỳ vọng sống. Cuối cùng, các bác sĩ nói không còn gì có thể làm. Một bài đọc được thực hiện và khuyến nghị nắn xương, hít xông, thụt tháo, thay đổi chế độ ăn, và dùng thuốc kê toa. Lời khuyên được làm theo và Gertrude đã trở lại sức khỏe hoàn toàn bình thường! Suốt nhiều thập kỷ, các bài đọc của Cayce đã vượt qua thử thách của thời gian, nghiên cứu, và khảo cứu sâu rộng. Chi tiết thêm về đời và công việc của Cayce được trình bày trong những cuốn sách kinh điển như There Is a River (1942) của Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) của Jess Stearn, Many Mansions (1950) của Gina Cerminara, và Edgar Cayce: An American Prophet (2000) của Sidney Kirkpatrick.
Throughout his life, Edgar Cayce claimed no special abilities, nor did he ever consider himself to be some kind of twentieth-century prophet. The readings never offered a set of beliefs that had to be embraced but instead focused on the fact that each person should test in his or her own life the principles presented. Though Cayce himself was a Christian and read the Bible from cover to cover for every year of his life, his work was one that stressed the importance of comparative study among belief systems all over the world. The underlying principle of the readings is the oneness of all life, a tolerance for all people, and a compassion and understanding for every major religion in the world.
Suốt đời mình, Edgar Cayce không tự nhận có năng lực đặc biệt, cũng không bao giờ xem mình là một loại nhà tiên tri của thế kỷ XX. Các bài đọc không đưa ra một hệ tín điều nào buộc phải chấp nhận, mà nhấn mạnh rằng mỗi người nên thử nghiệm các nguyên lý được trình bày trong chính đời sống của mình. Dù bản thân Cayce là một tín hữu Cơ Đốc và đọc Kinh Thánh từ đầu đến cuối mỗi năm trong đời mình, công trình của Ông đề cao tầm quan trọng của việc nghiên cứu so sánh giữa các hệ thống tín ngưỡng trên khắp thế giới. Nguyên lý nền tảng của các bài đọc là tính nhất thể của mọi sự sống, lòng khoan dung với mọi người, và lòng trắc ẩn cùng sự thấu hiểu đối với mọi tôn giáo lớn trên thế giới.
Editor’s Explanation of Cayce’s Discourses
Edgar Cayce dictated all of his discourses from a self-induced trance. A stenographer took his discourses down in shorthand and later typed them. Copies were sent to the person or persons who had requested the psychic reading, and one was put into the files of the organization that built up around Cayce over the years: the Association for Research and Enlightenment (better known as the A.R.E.).
Edgar Cayce đọc diễn giảng tất cả các bài của Ông trong một trạng thái xuất thần do tự thân gây ra. Một người tốc ký ghi lại bằng tốc ký và sau đó đánh máy. Bản sao được gửi cho người hoặc những người đã yêu cầu bài đọc thông linh, và một bản được lưu vào hồ sơ của tổ chức được xây dựng quanh Cayce trong những năm qua: Association for Research and Enlightenment (thường được biết đến là A.R.E.).
In his normal consciousness, Edgar Cayce spoke with a Southern accent but in the same manner as any other American. However, from the trance state, he spoke in the manner of the King James Bible, using “thees” and “thous.” In trance, his syntax was also unusual. He put phrases, clauses, and sentences together in a manner that slows down any reader and requires careful attention in order to be sure of his meaning. This caused his stenographer to adopt some unusual punctuation in order to put into sentence form some of the long, complex thoughts conveyed by Cayce while in trance. Also, many of his discourses are so jam-packed with information and insights that they require one to slow down and read more carefully in order to fully understand what Cayce is intending.
Trong trạng thái bình thường, Edgar Cayce nói với giọng miền Nam nhưng cách nói như bất kỳ người Mỹ nào khác. Tuy nhiên, trong trạng thái xuất thần, Ông nói theo văn phong Kinh Thánh bản King James, dùng những đại từ cổ như “ngươi”, “mi”. Trong trạng thái xuất thần, cú pháp của Ông cũng khác lạ. Ông ghép các cụm từ, mệnh đề và câu theo một cách khiến người đọc chậm lại và phải chú tâm kỹ lưỡng để chắc chắn hiểu đúng điều Ông muốn nói. Điều này khiến người tốc ký áp dụng một số kiểu chấm câu bất thường để có thể đặt thành câu một số mạch tư tưởng dài và phức tạp mà Cayce truyền đạt khi xuất thần. Ngoài ra, nhiều bài diễn giảng của Ông dày đặc thông tin và tuệ kiến đến mức buộc người đọc phải chậm lại và đọc kỹ hơn để hiểu trọn vẹn điều Cayce chủ ý.
From his trance state, Cayce explained that he got his information from two sources: (1) the inquiring individual’s mind, mostly from his or her deeper, subconscious mind and (2) from the Universal Consciousness, the infinite mind within which the entire universe is conscious. He explained that every action and thought of every individual makes an impression upon the Universal Consciousness, an impression that can be psychically read. He correlated this with the Hindu concept of an Akashic Record, which is an ethereal, fourth-dimensional film upon which actions and thoughts are recorded and can be read at any time.
Từ trạng thái xuất thần, Cayce giải thích rằng Ông nhận thông tin từ hai nguồn: (1) thể trí của người đang thỉnh hỏi, chủ yếu từ tầng sâu hơn là tiềm thức của người ấy; và (2) từ Tâm thức Vũ trụ, tức thể trí vô hạn trong đó toàn vũ trụ có tâm thức. Ông giải thích rằng mọi hành động và tư tưởng của mỗi cá nhân đều in dấu lên Tâm thức Vũ trụ, một dấu ấn có thể được đọc bằng thông linh. Ông tương ứng điều này với khái niệm Ấn giáo về Ký lục Akasha, tức một cuộn phim dĩ thái bốn chiều ghi khắc các hành động và tư tưởng để có thể được đọc bất cứ lúc nào.
When giving one of his famous health readings, called physical readings, Cayce acted as if he were actually scanning the entire body of the person, from the inside out! He explained that the subconscious mind of everyone contains all of the data on the condition of the physical body it inhabits, and Cayce simply connected with the patient’s deeper mind. He could also give the cause of the condition, even if it was from early childhood or from many lifetimes ago in a previous incarnation of the soul. This was knowable because the soul remembers all of its experiences. He explained that deeper portions of the subconscious mind are the mind of the soul, and portions of the subconscious and the soul inhabit the body with the personality.
Khi thực hiện một trong những bài đọc sức khỏe nổi tiếng của mình, gọi là các bài đọc thể chất, Cayce hành xử như thể Ông thật sự đang “quét” toàn thân của người ấy, từ trong ra ngoài! Ông giải thích rằng tiềm thức của mỗi người chứa mọi dữ liệu về tình trạng của thân xác mà nó cư trú, và Cayce chỉ đơn giản kết nối với tầng sâu hơn của tâm trí người bệnh. Ông cũng có thể nêu nguyên nhân của tình trạng, dù nó xuất phát từ thời thơ ấu hay từ nhiều kiếp trước trong một lần lâm phàm trước của linh hồn. Điều này có thể biết được vì linh hồn ghi nhớ tất cả những trải nghiệm của mình. Ông giải thích rằng những phần sâu hơn của tiềm thức là thể trí của linh hồn, và những phần của tiềm thức cùng linh hồn cư trú trong thân thể cùng với phàm ngã.
In life readings and topic readings, Cayce also connected with the subconscious minds of those inquiring as well as with the Universal Consciousness.
Trong các bài đọc về đời sống và các bài đọc theo chủ đề, Cayce cũng kết nối với các tâm trí tiềm thức của những người thỉnh hỏi, cũng như với Tâm thức Vũ trụ.
Occasionally, Cayce would not have the material being requested, and he would say, “We do not have that here.” This implied that Cayce’s mind was more directed than one might think. He was not open to everything. From trance, he explained that the suggestion given at the beginning of one of his psychic readings so directed his deeper mind and focused it on the task or subject requested that he truly did not have other topics available. However, on a few occasions, he seemed able to shift topics in the middle of a reading.
Đôi khi, Cayce không có sẵn tư liệu được yêu cầu, và Ông sẽ nói, “Chúng ta không có điều đó ở đây.” Điều này hàm ý rằng thể trí của Cayce được điều hướng nhiều hơn ta tưởng. Ông không “mở” với mọi thứ. Từ trạng thái xuất thần, Ông giải thích rằng ám thị được đưa ra ở đầu mỗi bài đọc thông linh đã định hướng và tập trung tầng sâu hơn của thể trí Ông vào nhiệm vụ hay chủ đề được yêu cầu đến mức Ông thật sự không có sẵn các chủ đề khác. Tuy vậy, trong một vài trường hợp, Ông dường như có thể chuyển chủ đề ngay giữa bài đọc.
The typed readings have a standard format. Numbers were used in the place of the name of the person or persons receiving the reading, and a dash system kept track of how many readings the person had received. For example, reading 137-5 was the fifth reading for Mr. [137]. At the top of each reading is the reading number, the date and location, and the names or numbers (for privacy) of those in attendance. Occasionally the stenographer would include a note about other conditions, such as the presence of a manuscript that Cayce, in trance, was supposed to view psychically and comment on. In many cases, I left in the entire format of a recorded reading, but sometimes only a paragraph or two were pertinent to our study, and then I gave only the reading number.
Các bài đọc đánh máy có một định dạng chuẩn. Số được dùng thay cho tên người hay những người nhận bài đọc, và một hệ thống gạch nối theo dõi số lần người đó đã nhận bài đọc. Ví dụ, bài đọc 137-5 là bài đọc thứ năm cho Ông [137]. Ở đầu mỗi bài đọc là số bài, ngày tháng và địa điểm, và tên hoặc số (để bảo mật) của những người có mặt. Thỉnh thoảng người tốc ký sẽ ghi chú về các điều kiện khác, như sự hiện diện của một bản thảo để Cayce, trong trạng thái xuất thần, được yêu cầu “xem” bằng thông linh và bình luận. Trong nhiều trường hợp, tôi giữ nguyên toàn bộ định dạng của một bài đọc đã ghi, nhưng đôi khi chỉ một hai đoạn liên quan đến nghiên cứu của chúng ta, và khi đó tôi chỉ đưa số bài đọc.
As I explained, Cayce dictated all of these discourses while he was in trance. In most cases, he spoke in a monotone voice. However, he would sometimes elevate his volume when saying a word or phrase. In these instances, his stenographer usually typed these words with all-capital letters, to give the reader some sense of Cayce’s increased volume. These all-capital letters have been changed to italic typeface for readability as well as emphasis. In many cases, these words appear to be rightly accentuated in Cayce’s discourses. However, in some cases, it is not clear why he raised his voice.
Như tôi đã giải thích, Cayce đọc diễn giảng tất cả những điều này khi Ông đang xuất thần. Phần lớn, Ông nói bằng giọng đều đều. Tuy nhiên, đôi lúc Ông nâng cao âm lượng khi nói một từ hay cụm từ. Trong các trường hợp này, người tốc ký thường đánh máy những từ đó bằng chữ IN HOA để người đọc cảm nhận âm lượng tăng. Những chữ IN HOA này đã được chuyển thành chữ nghiêng nhằm dễ đọc và nhấn mạnh. Trong nhiều trường hợp, các từ ấy quả thực được nhấn đúng trong các bài diễn giảng của Cayce. Tuy nhiên, có lúc không rõ tại sao Ông lại nâng giọng.
Another style that the stenographer adopted was to capitalize all of the letters in Cayce’s many affirmations (positive-thought or prayer-like passages to be used by the recipient as a tool for focusing or raising consciousness). I have also changed these to upper- and lower-case letters and italicized them. Questions asked Cayce have also been italicized for easier reference.
Một lối khác mà người tốc ký áp dụng là viết hoa toàn bộ các chữ trong nhiều lời khẳng định của Cayce (các đoạn tư tưởng tích cực hoặc giống lời cầu nguyện để người nhận dùng như một công cụ tập trung hay nâng cao tâm thức). Tôi cũng đã chuyển chúng thành chữ hoa–thường đan xen và in nghiêng. Các câu hỏi dành cho Cayce cũng được in nghiêng để tiện tra cứu.
Whenever his stenographer was not sure if she had written down the correct word or thought that she might have missed or misunderstood a word, she inserted suggested words, comments, and explanations in brackets. If she knew of another reading that had similar material or that was being referred to during this reading, she would put the reading number in brackets. Within the text of a reading, all parentheses are asides made by Cayce while in trance, not by his stenographer. Only she used brackets with the text of a reading. In the preliminary material, she used parentheses in the normal manner.
Bất cứ khi nào người tốc ký không chắc mình đã ghi đúng từ ngữ, hoặc nghĩ rằng mình có thể bỏ sót hay hiểu sai một từ, Bà đưa vào các từ gợi ý, chú thích và giải thích trong dấu ngoặc vuông. Nếu Bà biết có một bài đọc khác có tư liệu tương tự hoặc đang được tham chiếu trong bài đọc này, Bà sẽ đặt số bài đọc trong ngoặc vuông. Trong phần nội dung của một bài đọc, mọi dấu ngoặc tròn đều là những lời phụ chú do Cayce nói trong trạng thái xuất thần, không phải của người tốc ký. Chỉ Bà mới dùng ngoặc vuông trong phần nội dung bài đọc. Còn trong phần dẫn nhập, Bà dùng ngoặc tròn theo thông lệ.
A few common abbreviations used in these discourses were “GD” for Gladys Davis, the primary stenographer, “GC” for Gertrude Cayce, Edgar’s wife and the predominant conductor of the readings, “MHB” for Morton H. Blumenthal, an occasional conductor of the readings, and “EC” for Edgar Cayce.
Một vài chữ viết tắt thường dùng trong các bài diễn giảng này là “GD” chỉ Gladys Davis, người tốc ký chính; “GC” chỉ Gertrude Cayce, vợ của Edgar và là người điều khiển các bài đọc chủ yếu; “MHB” chỉ Morton H. Blumenthal, thỉnh thoảng điều khiển bài đọc; và “EC” chỉ Edgar Cayce.
John Van Auken
John Van Auken
1
The Atlantis Readings Series—Loạt Bài Đọc về Atlantis
Editor’s Note: After a few past-life readings for reincarnated Atlanteans, the staff working with Edgar Cayce decided to get a series of readings devoted solely to understanding Atlantis. This became the 364 series. These readings are not for individuals but for a little group seeking information on this ancient legendary land.
Ghi chú của biên tập viên: Sau vài bài đọc về tiền kiếp cho những người Atlantean tái sinh, ê-kíp làm việc với Edgar Cayce quyết định thực hiện một loạt bài đọc dành riêng cho việc thấu hiểu Atlantis. Loạt này trở thành series 364. Các bài đọc này không dành cho các cá nhân mà cho một nhóm nhỏ tìm kiếm thông tin về miền đất huyền thoại cổ xưa ấy.
TEXT OF READING 364-1
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-1
This psychic reading given by Edgar Cayce at his office, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., this 3rd day of February, 1932, in accordance with request made by Norfolk Study Group #1, of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Ông, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., ngày 3 tháng Hai, 1932, theo yêu cầu của Norfolk Study Group #1, thuộc Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Hugh Lynn and L.B. Cayce, and Gray Salter.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis, Hugh Lynn và L.B. Cayce, và Gray Salter.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 12:15 P. M. Eastern Standard Time.
Thời điểm thực hiện bài đọc: 12:15 trưa, Giờ Chuẩn Miền Đông.
(You will have before you subject for address to be given by EC 2/19/32 on Atlantis. You will give in lecture form the material which he should present at that time.)
(Quý vị đang có trước mặt chủ đề cho bài thuyết trình sẽ do EC trình bày vào 2/19/32 về Atlantis. Xin hãy đưa ra theo dạng bài giảng những tư liệu Ông nên trình bày khi đó.)
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, and that as may be given on such a subject. In many ways this would be better were it divided into two lectures. This, however, as we find, may be presented somewhat in this manner:
EC: Vâng, chúng ta có thân thể, thể trí đang thỉnh vấn, và điều có thể được đưa ra về một chủ đề như vậy. Ở nhiều phương diện, sẽ hay hơn nếu chia nó thành hai bài giảng. Tuy nhiên, như chúng ta nhận thấy, có thể trình bày phần nào theo cách này:
Atlantis as a continent is a legendary tale. Whether or not that which has been received through psychic sources has for its basis those few lines given by Plato, or the references made in Holy writ that the earth was divided, depends upon the trend of individual minds. Recently, however, the subject has taken on greater import, since some scientists have declared that such a continent was not only a reasonable and plausible matter, but from evidences being gradually gathered was a very probable condition.
Atlantis với tư cách một lục địa là một truyền thuyết. Liệu những gì được tiếp nhận qua các nguồn thông linh có dựa trên vài dòng ít ỏi do Plato ghi lại, hay các ám chỉ trong Thánh thư rằng trái đất đã bị phân chia, điều này tùy thuộc vào khuynh hướng của từng thể trí cá nhân. Tuy nhiên, gần đây, chủ đề này trở nên quan trọng hơn, bởi một số nhà khoa học đã tuyên bố rằng một lục địa như thế không chỉ là điều hợp lý và có thể, mà dựa trên những chứng cứ đang được thu thập dần dần thì còn là một khả thể rất có cơ sở.
As we recognize, there has been considerable given respecting such a lost continent by those channels such as the writer of Two Planets, or Atlantis—or Poseida and Lemuria—that has been published through some of the Theosophical literature. As to whether this information is true or not, depends upon the credence individuals give to this class of information.
Như chúng ta nhận thấy, đã có khá nhiều điều được đưa ra liên quan đến lục địa bị mất như vậy qua các kênh như tác giả Two Planets, hay Atlantis—hoặc Poseida và Lemuria—đã được xuất bản trong một số tài liệu thuộc Thông Thiên Học. Việc những thông tin này đúng hay không tùy thuộc vào mức độ tín nhiệm mà mỗi người dành cho loại thông tin này.
Then, it has seemed well to many of this group, that those channels through which information may be obtained interest themselves in such an undertaking, as to gain through those channels such information that might be applicable in the lives or experiences of individuals interested in such.
Vì vậy, có vẻ hợp lẽ với nhiều người trong nhóm này rằng những kênh qua đó có thể tiếp nhận thông tin nên quan tâm đến một nỗ lực như vậy, để qua những kênh ấy thu nhận thông tin có thể áp dụng vào đời sống hay trải nghiệm của những cá nhân quan tâm.
From time to time, in and through the information obtained for some individuals in their life readings, has come that they, as an entity or individual, occupied some particular place, or performed some activity in some portion of that continent; or emigrated from the continent to some other portion of the earth’s surface at the time, and began some particular development. These must have been a busy folk, for with their advent into other climes (as the information runs) they began to make many changes from the activities in that particular sphere in which they entered.
Thỉnh thoảng, trong và qua thông tin thu được cho một số cá nhân trong các bài đọc về đời sống của họ, xuất hiện điều rằng họ, với tư cách một thực thể hay cá nhân, đã chiếm giữ một vị trí nào đó, hoặc thực hiện một hoạt động nào đó ở một phần của lục địa ấy; hoặc di cư khỏi lục địa đến một phần khác trên bề mặt trái đất khi ấy, và khởi đầu một phát triển nào đó. Hẳn họ là một dân tộc bận rộn, bởi khi họ đến những miền khí hậu khác (theo dòng thông tin), họ bắt đầu tạo nhiều thay đổi đối với các hoạt động trong môi trường riêng mà họ đi vào.
Then, if we are to accept such as being a fact or fiction, may truly depend upon what value to the human family knowledge concerning such a peoples would be in the affairs of individuals today. What contribution would information be to the minds of individuals, as to knowing or understanding the better or closer relations to the Creative Forces? Or, to put it another manner, what would information of that nature mean to my soul today?
Vậy, nếu chúng ta chấp nhận điều ấy là thực hay hư, điều ấy thực sự có thể tùy thuộc vào giá trị mà tri thức về một dân tộc như vậy mang lại cho gia đình nhân loại trong đời sống cá nhân ngày nay. Sự hiểu biết ấy sẽ đóng góp gì cho thể trí của từng người, nhằm biết hoặc thấu hiểu sâu hơn hay gần gũi hơn với Các Mãnh Lực Sáng Tạo? Hoặc, nói cách khác, thông tin thuộc loại đó có ý nghĩa gì cho linh hồn tôi hôm nay?
Be it true that there IS the fact of reincarnation, and that souls that once occupied such an environ are entering the earth’s sphere and inhabiting individuals in the present, is it any wonder that—if they made such alterations in the affairs of the earth in their day, as to bring destruction upon themselves—if they are entering now, they might make many changes in the affairs of peoples and individuals in the present? Are they, then, being born into the world? If so, what were their environs—and will those environs mean in a material world today?
Giả như có thực trạng luân hồi, và rằng những linh hồn từng cư trú trong môi sinh như vậy đang đi vào vòng trái đất này và cư trú trong các cá nhân hiện tại, thì có gì lạ—nếu họ đã tạo ra những thay đổi đến mức mang sự hủy diệt xuống chính mình vào thời của họ—nếu giờ đây họ đi vào, họ có thể tạo nên nhiều đổi thay trong các sinh hoạt của cộng đồng và cá nhân hiện nay? Vậy họ có đang được sinh vào thế gian không? Nếu có, môi sinh của họ là gì—và những môi sinh ấy hôm nay sẽ có ý nghĩa gì trong một thế giới vật chất?
To be continued. We are through for the present.
Sẽ còn tiếp. Chúng ta tạm dừng tại đây.
Editor’s Note: They attempted the second reading on Atlantis but were told that Edgar Cayce’s body was not ready to do the readings. Here is that reading.
Ghi chú của biên tập viên: Họ đã thử thực hiện bài đọc thứ hai về Atlantis nhưng được cho biết thân thể của Edgar Cayce chưa sẵn sàng để làm các bài đọc. Sau đây là bài đọc đó.
TEXT OF READING 364-2
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-2
This psychic reading given by Edgar Cayce at his office, 105th St. & Ocean, Virginia Beach, Va., this 15th day of February, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Ông, 105th St. & Ocean, Virginia Beach, Va., ngày 15 tháng Hai, 1932, theo yêu cầu của những người có mặt.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Gray Salter, Hugh Lynn and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis, Gray Salter, Hugh Lynn và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 3:20 P. M. Eastern Standard Time.
Thời điểm thực hiện bài đọc: 3:20 chiều, Giờ Chuẩn Miền Đông.
GC: You will have before you the subject for the address to be given by Edgar Cayce, Feb. 19, 1932, on “The Lost Continent of Atlantis”. You will please continue in lecture form the material which he should present at that time.
GC: Quý vị đang có trước mặt chủ đề cho bài thuyết trình sẽ do Edgar Cayce trình bày, ngày 19 tháng Hai, 1932, về “Lục địa đã mất Atlantis”. Xin vui lòng tiếp tục, theo dạng bài giảng, những tư liệu Ông nên trình bày khi đó.
EC: Until there is a cleansing of the body from that created in the present, such infinite subjects or hard are not well to be done.
EC: Cho đến khi có sự tịnh hóa thân thể khỏi những gì đã tạo trong hiện tại, các chủ đề bao la hoặc khó khăn như thế này không nên thực hiện.
(Q) What should be done to cleanse the body in the proper way?
(H) Cần làm gì để tịnh hóa thân thể cho đúng cách?
(A) Same as has oft been given, through prayer, through meditation, through the purifying of self.
(Đ) Cũng như đã nhiều lần được cho, qua cầu nguyện, qua tham thiền, qua tự thanh lọc.
You will dismiss the suggestion regarding Atlantis. That is all for the present.
Hãy loại bỏ ám thị liên quan đến Atlantis. Tạm thời chỉ vậy.
TEXT OF READING 364-3
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-3
This psychic reading given by Edgar Cayce at his office, 105th St. & Ocean, Virginia Beach, Va., this 16th day of February, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Ông, 105th St. & Ocean, Virginia Beach, Va., ngày 16 tháng Hai, 1932, theo yêu cầu của những người có mặt.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Gray Salter, Hugh Lynn and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis, Gray Salter, Hugh Lynn và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 11:40 A. M. Eastern Standard Time. (Suggestion to continue information on Atlantis)
Thời điểm thực hiện bài đọc: 11:40 sáng, Giờ Chuẩn Miền Đông. (Ám thị để tiếp tục thông tin về Atlantis)
EC: Yes, we have the subject and those conditions. As has been said, much data has been received from time to time through psychic forces as respecting conditions in or through the period, or ages, of this continent’s existence. That the continent existed is being proven as a fact.
EC: Vâng, chúng ta có chủ đề và các điều kiện đó. Như đã nói, nhiều dữ liệu đã được tiếp nhận từng thời qua các lực thông linh liên quan đến các tình hình trong hoặc xuyên qua thời kỳ hay các thời kỳ tồn tại của lục địa này. Việc lục địa ấy đã tồn tại đang dần được chứng minh như một sự kiện.
Then, what took place during the period, or periods, when it was being broken up? What became of the inhabitants? What was the character of their civilization? Are there any evidences of those, or any portion of, the inhabitants’ escape? The position of the continent, and the like, must be of interest to peoples in the present day, if either by inference that individuals are being born into the earth plane to develop in the present, or are people being guided in their spiritual interpretation of individuals’ lives or developments by the spirits of those who inhabited such a continent. In either case, if these be true, they are wielding—and are to wield—an influence upon the happenings of the present day world.
Vậy điều gì đã xảy ra trong giai đoạn, hay các giai đoạn, khi nó bị phân rã? Chuyện gì đã xảy đến với cư dân? Trình độ văn minh của họ ra sao? Có bằng chứng nào về việc những người ấy, hoặc bất kỳ phần nào của họ, đã thoát nạn chăng? Vị trí của lục địa, và tương tự, hẳn phải là mối quan tâm đối với con người hiện đại, dù bằng suy diễn rằng các cá nhân đang được sinh vào cõi trần để phát triển trong hiện tại, hoặc rằng con người đang được dẫn dắt trong diễn giải tinh thần về đời sống hay phát triển của từng cá nhân bởi các linh hồn từng cư trú nơi một lục địa như vậy. Dù theo cách nào, nếu những điều này là đúng, thì họ đang—và sẽ—tác động lên những biến cố của thế giới đương thời.
The position as the continent Atlantis occupied, is that as between the Gulf of Mexico on the one hand—and the Mediterranean upon the other. Evidences of this lost civilization are to be found in the Pyrenees and Morocco on the one hand, British Honduras, Yucatan and America upon the other. There are some protruding portions within this that must have at one time or another been a portion of this great continent. The British West Indies or the Bahamas, and a portion of same that may be seen in the present—if the geological survey would be made in some of these—especially, or notably, in Bimini and in the Gulf Stream through this vicinity, these may be even yet determined.
Vị trí mà lục địa Atlantis chiếm giữ là giữa Vịnh Mexico ở một bên—và Địa Trung Hải ở bên kia. Dấu vết của nền văn minh bị mất này có thể tìm thấy ở dãy Pyrenees và Morocco ở một phía, British Honduras, Yucatan và châu Mỹ ở phía còn lại. Có vài phần nhô lên trong vùng này hẳn đã từng, vào thời điểm nào đó, là một phần của lục địa rộng lớn này. British West Indies hay Bahamas, và một phần của chúng vẫn có thể được thấy ngày nay—nếu khảo sát địa chất được tiến hành ở một vài nơi trong số này—đặc biệt, hay đáng chú ý, tại Bimini và trong Dòng Hải lưu Vịnh quanh vùng đó, những điều này thậm chí còn có thể được xác định.
What, then, are the character of the peoples? To give any proper conception, may we follow the line of a group, or an individual line, through this continent’s existence—and gain from same something of their character, their physiognomy, and their spiritual and physical development.
Vậy, bản chất của cư dân là gì? Để đưa ra bất kỳ khái niệm đúng đắn nào, chúng ta có thể theo dấu một dòng nhóm, hoặc một dòng cá nhân, xuyên suốt thời tồn tại của lục địa này—và từ đó thu nhận điều gì đó về tính cách, dung mạo, và sự phát triển tinh thần lẫn thể chất của họ.
In the period, then—some hundred, some ninety-eight thousand years before the entry of Ram into India [See 364–3, Par. R2]—there lived in this land of Atlantis one Amilius [?], who had first noted that of the separations of the beings as inhabited that portion of the earth’s sphere or plane of those peoples into male and female as separate entities, or individuals. As to their forms in the physical sense, these were much rather of the nature of thought forms or able to push out of themselves in that direction in which its development took shape in thought—much in the way and manner as the amoeba would in the waters of a stagnant bay, or lake, in the present. As these took form, by the gratifying of their own desire for that as builded or added to the material conditions, they became hardened or set—much in the form of the existent human body of the day, with that of color as partook of its surroundings much in the manner as the chameleon in the present. Hence coming into that form as the red, or the mixture peoples—or colors; known then later by the associations as the red race. These, then, able to use IN their gradual development all the forces as were manifest in their individual surroundings, passing through those periods of developments as has been followed more closely in that of the yellow, the black, or the white races, in other portions of the world; yet with their immediate surroundings, with the facilities for the developments, these became much speedier in this particular portion of the globe than in others—and while the destruction of this continent and the peoples are far beyond any of that as has been kept as an absolute record, that record in the rocks still remains—as has that influence of those peoples in that life of those peoples to whom those that did escape during the periods of destruction make or influence the lives of those peoples to whom they came. As they may in the present, either through the direct influence of being regenerated, or re-incarnated into the earth, or through that of the mental application on through the influences as may be had upon thought of individuals or groups by speaking from that environ.
Vậy thì, trong thời kỳ—khoảng một trăm, khoảng chín mươi tám nghìn năm trước khi Ram du nhập vào Ấn Độ [Xem 364–3, Par. R2]—đã sống trên miền đất Atlantis này một Amilius [?], người đầu tiên nhận thấy sự phân chia của các hữu thể đang cư trú phần ấy của quả địa cầu hay cõi của những dân ấy thành nam và nữ như các thực thể hay cá nhân riêng biệt. Về hình thể theo nghĩa vật chất, họ thiên về dạng các hình tư tưởng, hoặc có khả năng “đẩy” ra khỏi chính mình theo hướng mà sự phát triển của nó mang hình dạng trong tư tưởng—tựa như cách thức con amíp trong vùng vịnh hay ao tù nước đọng hiện nay. Khi những dạng này hình thành, bằng việc thỏa mãn ước muốn do chính họ kiến tạo hoặc cộng thêm vào các điều kiện vật chất, chúng trở nên cứng lại hay định hình—rất giống với hình thể nhân loại hiện nay, với sắc màu hòa vào môi trường xung quanh, giống cách tắc kè hoa hiện thời. Bởi vậy, đi vào hình thái như sắc đỏ, hay sắc lai—hoặc các sắc; về sau được biết đến qua tương giao như là chủng người đỏ. Những người này, TRONG quá trình phát triển dần dần, có thể sử dụng mọi lực được biểu lộ trong môi trường riêng, trải qua những thời kỳ phát triển như đã được theo dõi kỹ hơn nơi các chủng vàng, đen hoặc trắng, ở những phần khác của thế giới; tuy nhiên, với môi trường trực tiếp xung quanh, với các phương tiện cho phát triển, tiến trình ở phần địa cầu đặc thù này đã trở nên nhanh hơn nhiều so với nơi khác—và trong khi sự tàn hoại của lục địa này và của dân cư vượt xa khỏi bất cứ điều gì được lưu giữ như ghi chép tuyệt đối, thì ghi chép trong đá vẫn còn—như còn đó ảnh hưởng của dân ấy trong đời sống của những cộng đồng mà những người đã thoát nạn trong các thời kỳ hủy hoại có tác động hay ảnh hưởng đến đời sống của các dân tộc nơi họ đến. Như họ có thể hiện nay, hoặc qua ảnh hưởng trực tiếp của việc được tái sinh, hay tái lâm phàm vào trần thế, hoặc qua ứng dụng trên bình diện thể trí và qua những ảnh hưởng có thể có lên tư tưởng của từng cá nhân hay nhóm bằng việc phát biểu từ môi trường đó.
In the manner of living, in the manner of the moral, of the social, of the religious life of these peoples: There, classes existed much in the same order as existed among others; yet the like of the warlike influence did not exist in the peoples—as a people—as it did in the other portions of the universe.
Về cách sống, về phương diện đạo đức, xã hội, tôn giáo của dân này: Có các giai tầng, khá tương tự như ở nơi khác; nhưng ảnh hưởng hiếu chiến tương tự thì không tồn tại trong dân chúng—như một dân tộc—như đã có tại những phần khác của vũ trụ.
To be continued.
Còn tiếp.
TEXT OF READING 364-4
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-4
This psychic reading given by Edgar Cayce at his office, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., this 16th day of February, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Ông, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., ngày 16 tháng Hai, 1932, theo yêu cầu của những người có mặt.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Gray Salter, Hugh Lynn and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis, Gray Salter, Hugh Lynn và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 3:50 P. M. Eastern Standard Time.
Thời điểm thực hiện bài đọc: 3:50 chiều, Giờ Chuẩn Miền Đông.
GC: You will have before you the subject for the address to be given by Edgar Cayce, Feb. 19, 1932, on “The Lost Continent of Atlantis”. You will please continue in lecture form the material which he should present at that time.
GC: Quý vị đang có trước mặt chủ đề cho bài thuyết trình sẽ do Edgar Cayce trình bày, ngày 19 tháng Hai, 1932, về “Lục địa đã mất Atlantis”. Xin vui lòng tiếp tục, theo dạng bài giảng, những tư liệu Ông nên trình bày khi đó.
EC: Yes, we have the subject here, The Lost Continent of Atlantis.
EC: Vâng, chúng ta có ở đây chủ đề, Lục địa đã mất Atlantis.
As the peoples were a peaceful peoples, their developments took on rather that form—with the developing into the physical material bodies—of the fast development, or to the using of the elements about them to their own use; recognizing themselves to be a part of that about them. Hence, as to the supplying of that as necessary to sustain physical life as known today, in apparel, or supplying of the bodily needs, these were supplied through the natural elements; and the developments came rather in the forms—as would be termed in the present day—of preparing for those things that would pertain to what would be termed the aerial age, or the electrical age, and supplying then the modes and manners of transposition of those materials about same that did not pertain to themselves bodily; for of themselves was transposed, rather by that ability lying within each to be transposed in thought as in body.
Vì dân ấy là một dân tộc yêu hòa bình, tiến triển của họ mang hình thái—khi phát triển vào các thể vật chất—của sự tiến triển nhanh, tức vận dụng các yếu tố quanh mình cho nhu cầu riêng; nhận biết bản thân là một phần của những gì xung quanh. Bởi vậy, trong việc đáp ứng những gì cần thiết để duy trì đời sống thể chất như hiện nay, về y phục, hay cung ứng các nhu cầu thân xác, các thứ này được cung cấp qua các yếu tố tự nhiên; và phát triển thiên về những hình thức—như theo thuật ngữ hiện đại—chuẩn bị cho những điều thuộc “kỷ nguyên hàng không” hay “kỷ nguyên điện khí”, rồi cung cấp các phương tiện và cách thức chuyển dời các vật liệu quanh họ vốn không thuộc về thân xác họ; bởi chính bản thân họ được chuyển dời, chủ yếu bằng khả năng nội tại nơi mỗi người để chuyển dời bằng tư tưởng cũng như bằng thân xác.
In these things, then, did Amilius [?] see the beginning of, and the abilities of, those of his own age, era, or period, not only able to build that as able to transpose or build up the elements about them but to transpose them bodily from one portion of the universe to the other, through the uses of not only those recently re-discovered gases, and those of the electrical and aeriatic formations—in the breaking up of the atomic forces to produce impelling force to those means and modes of transposition, or of travel, or of lifting large weights, or of changing the faces or forces of nature itself, but with these transpositions, with these changes that came in as personalities, we find these as the Sons of the Creative Force as manifest in their experience looking upon those changed forms, or the daughters of men, and there crept in those pollutions, of polluting themselves with those mixtures that brought contempt, hatred, bloodshed, and those that build for desires of self without respects of others’ freedom, others’ wishes—and there began, then, in the latter portion of this period of development, that that brought about those of dissenting and divisions among the peoples in the lands. With the attempts of those still in power, through those lineages of the pure, that had kept themselves intact as of the abilities of forces as were manifest IN their activities, these builded rather those things that attempted to draw back those peoples; through first the various changes or seasons that came about, and in the latter portion of the experience of Amilius [?] was the first establishing of the altars upon which the sacrifices of the field and the forest, and those that were of that that satisfied the desires of the physical body, were builded.
Trong những điều ấy, Amilius [?] đã thấy khởi nguyên và năng lực của những người thuộc thời, niên đại, hoặc thời kỳ của mình, không chỉ có khả năng xây dựng cái có thể chuyển dời hoặc cấu tạo các yếu tố quanh họ, mà còn chuyển dời cả chính họ từ phần này của vũ trụ đến phần khác, qua việc sử dụng không chỉ những khí chất mới được tái khám phá gần đây, và các cấu trúc điện khí và hàng không—trong việc bẻ gãy các lực nguyên tử để tạo ra lực đẩy cho những phương tiện và cách thức chuyển dời, hay du hành, hay nâng các tải trọng lớn, hoặc đổi thay diện mạo hay các lực của tự nhiên—mà đồng thời, với các chuyển dời ấy, với các biến đổi đến cùng với sự xuất hiện của các “nhân cách”, chúng ta thấy nơi đây các Con của Mãnh Lực Sáng Tạo, như được biểu lộ trong trải nghiệm của họ, chiêm ngắm những hình thể đã đổi thay, tức “các con gái của loài người”, và khi ấy len vào những ô nhiễm, tức tự làm hoen bẩn mình bằng các sự lai tạp mang đến khinh bỉ, hận thù, đổ máu, và những gì xây đắp cho dục vọng vị ngã mà chẳng tôn trọng tự do của kẻ khác, ý muốn của kẻ khác—và do vậy đã bắt đầu, trong phần cuối của thời kỳ phát triển này, những điều gây nên bất đồng và phân hóa trong dân cư khắp vùng. Với nỗ lực của những người còn nắm quyền, qua các dòng dõi của hàng tinh thuần, những người đã gìn giữ nguyên vẹn các năng lực của các lực được biểu lộ TRONG hoạt động của họ, những người này đã kiến tạo thiên về các điều nhằm kéo dân chúng trở lại; qua trước hết các đổi thay hay mùa vụ lần lượt đến, và trong phần cuối trải nghiệm của Amilius [?] là lần đầu thiết lập các bàn thờ để tế hiến hoa màu ruộng đồng và rừng núi, và những gì làm thỏa nguyện các dục vọng của thân xác.
Then, with the coming in or the raising up of Esai [?], with the change that had come about, began in that period when there were the invasions of this continent by those of the animal kingdoms, that brought about that meeting of the nations of the globe to prepare a way and manner of disposing of, else they be disposed of themselves by these forces. With this coming in, there came then the first of the destructive forces as could be set and then be meted out in its force or power. Hence that as is termed, or its first beginning of, explosives that might be carried about, came with this reign, or this period, when man—or men, then—began to cope with those of the beast form that overran the earth in many places. Then, with these destructive forces, we find the first turning of the altar fires into that of sacrifice of those that were taken in the various ways, and human sacrifice began. With this also came the first egress of peoples to that of the Pyrenees first, of which later we find that peoples who enter into the black or the mixed peoples, in what later became the Egyptian dynasty. We also find that entering into Og, or those peoples that later became the beginning of the Inca, or Ohum [Aymara’?], that builded the walls across the mountains in this period, through those same usages of that as had been taken on by those peoples; and with the same, those that made for that in the other land, became first those of the mound dwellers, or peoples in that land. With the continued disregard of those that were keeping the pure race and the pure peoples, of those that were to bring all these laws as applicable to the Sons of God, man brought in the destructive forces as used for the peoples that were to be the rule, that combined with those natural resources of the gases, of the electrical forces, made in nature and natural form the first of the eruptions that awoke from the depth of the slow cooling earth, and that portion now near what would be termed the Sargasso Sea first went into the depths. With this there again came that egress of peoples that aided, or attempted to assume control, yet carrying with them all those forms of Amilius [?] that he gained through that as for signs, for seasons, for days, for years. Hence we find in those various portions of the world even in the present day, some form of that as was presented by those peoples in that great development in this, the Eden of the world.
Rồi, khi Esai [?] xuất hiện—như một chuyển biến sau đã xảy đến—khởi đầu vào thời kỳ có những cuộc tràn ngập lục địa này bởi các giới động vật, điều đó mang đến cuộc hội ngộ giữa các dân tộc trên địa cầu nhằm chuẩn bị phương cách xử trí, kẻo chính họ bị xử trí bởi các lực ấy. Với điều này, bắt đầu xuất hiện các lực hủy diệt đầu tiên có thể được thiết lập rồi phân phối theo công suất hay quyền năng của nó. Bởi vậy, điều được gọi là khởi thủy của các chất nổ di động xuất hiện trong triều đại, hay giai đoạn, khi con người—hay những con người khi ấy—bắt đầu đối phó với những hình thú tràn ngập trái đất ở nhiều nơi. Rồi, cùng với các lực hủy diệt này, chúng ta thấy lần đầu chuyển lửa bàn thờ sang việc hiến tế những ai bị bắt theo nhiều cách khác nhau, và việc hiến tế người bắt đầu. Cũng với đó là đợt xuất cư đầu tiên của dân đến dãy Pyrenees trước hết, mà sau này chúng ta thấy những dân đi vào nhóm đen hoặc nhóm lai, trong những người về sau trở thành triều đại Ai Cập. Chúng ta cũng thấy sự đi vào Og, hay những dân sau này trở thành khởi nguyên của Inca, hay Ohum [Aymara’?], những người đã xây các bức tường băng qua núi trong thời kỳ này, bằng chính những phương thức đã được những dân ấy tiếp nhận; và cùng với đó, những người tạo nên hình thái ở miền đất khác, trước hết trở thành những cư dân gò đống, hay cư dân của vùng đất đó. Với việc tiếp tục phớt lờ những người giữ gìn dòng giống tinh thuần và dân tinh thuần, tức những người sẽ mang đến mọi luật lệ này hầu áp dụng cho Các Con của Thượng Đế, con người đã đưa vào các lực hủy diệt được dùng cho dân sẽ cai trị, điều mà kết hợp với các tài nguyên tự nhiên về khí chất, về các lực điện khí được tạo trong tự nhiên và ở dạng tự nhiên, đã tạo nên những đợt phun trào đầu tiên bừng dậy từ lòng đất chậm nguội, và phần đất nay gần khu vực gọi là Biển Sargasso là nơi đầu tiên chìm xuống vực sâu. Cùng với đó lại có đợt xuất cư của dân để hỗ trợ, hoặc tìm cách nắm quyền, song vẫn mang theo mọi mô thức của Amilius [?] mà người ấy đã thu nhận về các “dấu chỉ”, về mùa, về ngày, về năm. Bởi vậy, chúng ta thấy ở nhiều miền khác nhau của thế giới ngay trong hiện tại, vẫn còn một số hình thức của những gì từng được trình hiện bởi dân ấy trong thời đại phát triển lớn lao kia, miền Eden của thế giới.
In the latter portion of same we find as cities were builded more and more rare became those abilities to call upon rather the forces in nature to supply the needs for those of bodily adornment, or those of the needs to supply the replenishing of the wasting away of the physical being; or hunger arose, and with the determinations to set again in motion, we find there—then Ani [?] [See the name Ani mentioned on pp. 6, 57, 187 and 324 of the book, Myths & Legends Of Ancient Egypt, by Lewis Spence.] [GD’s note: I put a question mark because I didn’t know whether this was the correct spelling or not.], in those latter periods, ten thousand seven hundred (10,700) years before the Prince of Peace came—again was the bringing into forces that to tempt, as it were, nature—in its storehouse—of replenishing the things—that of the wasting away in the mountains, then into the valleys, then into the sea itself, and the fast disintegration of the lands, as well as of the peoples—save those that had escaped into those distant lands.
Trong phần cuối của cùng thời kỳ ấy, khi các thành thị được dựng lập ngày càng nhiều, dần dần trở nên hiếm hoi các năng lực kêu cầu trực tiếp các lực trong thiên nhiên để cung ứng các nhu cầu phục sức thân thể, hay các nhu cầu nhằm bổ sung phần tiêu hao của hiện thể thể chất; tức đói khát trỗi dậy, và khi quyết ý tái lập vận hành, chúng ta gặp nơi đó—lúc ấy Ani [?] [Xem tên Ani được nhắc đến ở các trang 6, 57, 187 và 324 trong sách Myths & Legends Of Ancient Egypt, của Lewis Spence.] [Ghi chú của GD: Tôi đặt dấu hỏi vì không biết cách đánh vần này có đúng hay không.], trong những thời kỳ cuối ấy, mười nghìn bảy trăm (10,700) năm trước khi Đấng Vương Tử Hòa Bình xuất hiện—một lần nữa đưa vào vận hành những điều nhằm cám dỗ, như thể, tự nhiên—trong “kho tàng” của nó—để bổ sung những gì—tức phần tiêu hao—trong núi, rồi vào thung lũng, rồi ra biển cả, và sự phân rã nhanh của đất đai, cũng như của dân chúng—trừ những người đã thoát vào những miền xa.
How, then, may this be applicable to our present day understanding? As we see the effects as builded in that about the sacred fires, as through those of Hermes, those of Arart, those of the Aztec, those of Ohum [Aymara’?], each in their respective sphere carrying some portion of these blessings—when they are kept in accord and pure with those through which the channels of the blessings, of the Creative Forces, may manifest. So, we find, when we apply the lessons in the day—would ye be true, keep that every whit thou knowest to do within thine own heart! Knowing, as ye use that as is known, there is given the more and more light to know from whence ye came and whither ye go!
Vậy điều này có thể áp dụng vào hiểu biết thời nay của chúng ta thế nào? Như chúng ta thấy những hiệu ứng được kiến tạo quanh các lửa thiêng, như qua Hermes, qua Arart, qua người Aztec, qua Ohum [Aymara’?], mỗi bên trong phạm vi riêng mang một phần của các phước lành—khi chúng được giữ phù hợp và tinh thuần với những kênh qua đó các phước lành của Các Mãnh Lực Sáng Tạo có thể biểu lộ. Vậy nên, khi áp dụng các bài học hôm nay—nếu các ngươi muốn chân thật, hãy giữ vẹn mọi điều các ngươi biết phải làm trong chính lòng mình! Biết rằng, khi các ngươi sử dụng điều mình đã biết, sẽ được ban thêm ánh sáng, càng thêm và càng thêm, để biết các ngươi đến từ đâu và sẽ đi về đâu!
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Please give a description of the earth’s surface as it existed at the time of Atlantis’ highest civilization, using the names of continents, oceans and sections of same as we know them today?
(H) Xin cho một mô tả về bề mặt trái đất như nó tồn tại vào thời điểm nền văn minh Atlantis đạt đỉnh cao, dùng tên các lục địa, đại dương và các khu vực như chúng ta biết hiện nay?
(A) As to the highest point of civilization, this would first have to be determined according to the standard as to which it would be judged—as to whether the highest point was when Amilius [?] ruled with those understandings, as the one that understood the variations, or whether they became man made, would depend upon whether we are viewing from a spiritual standpoint or upon that as a purely material or commercial standpoint; for the variations, as we find, extend over a period of some two hundred thousand years (200,000)—that is, as light years—as known in the present—and that there were many changes in the surface of what is now called the earth. In the first, or greater portion, we find that now known as the southern portions of South America and the Arctic or North Arctic regions, while those in what is now as Siberia—or that as of Hudson Bay—was rather in that region of the tropics, or that position now occupied by near what would be as the same line would run, of the southern Pacific, or central Pacific regions—and about the same way. Then we find, with this change that came first in that portion, when the first of those peoples used that as prepared for the changes in the earth, we stood near the same position as the earth occupies in the present—as to Capricorn, or the equator, or the poles. Then, with that portion, then the South Pacific, or Lemuria [?], began its disappearance—even before Atlantis, for the changes were brought about in the latter portion of that period, or what would be termed ten thousand seven hundred (10,700) light years, or earth years, or present setting of those, as set by Amilius [?]—or Adam.
(Đ) Về “đỉnh cao” của văn minh, trước hết cần xác định theo chuẩn mực nào để phán định—xem đỉnh cao là khi Amilius [?] trị vì trong những hiểu biết ấy, như một người thấu hiểu các biến thiên, hay khi chúng trở nên do con người tạo tác—tùy thuộc vào việc chúng ta đang nhìn từ quan điểm tinh thần hay thuần túy vật chất hoặc thương mại; vì các biến thiên, như chúng ta thấy, trải dài qua một giai đoạn khoảng hai trăm nghìn năm (200,000)—tức, như “năm ánh sáng”—như hiện biết, và đã có nhiều thay đổi trên bề mặt điều ngày nay gọi là trái đất. Ở phần đầu tiên, hay phần lớn hơn, chúng ta thấy những gì nay được biết là miền phía nam của Nam Mỹ và vùng Bắc Cực, hay Bắc Cực địa, trong khi những nơi như nay gọi là Siberia—hoặc vùng như Vịnh Hudson—lại ở vào miền nhiệt đới, hay vị trí tương ứng với đường chạy hiện nay gần như vậy, của Nam Thái Bình Dương, hay Trung Thái Bình Dương—và vào khoảng như thế. Rồi chúng ta thấy, với biến thiên đến trước hết nơi phần ấy, khi những người đầu tiên đã dùng những điều được chuẩn bị cho các biến đổi của trái đất, chúng ta đứng gần vị trí mà trái đất chiếm giữ trong hiện tại—như với Ma Kết, hay xích đạo, hay các cực. Sau đó, nơi phần ấy, thì Nam Thái Bình Dương, hay Lemuria [?], bắt đầu biến mất—thậm chí trước Atlantis, vì các đổi thay được mang đến ở phần cuối của thời kỳ đó, hay điều được gọi là mười nghìn bảy trăm (10,700) “năm ánh sáng”, hay năm trái đất, hay theo cách đặt hiện nay, như được Amilius [?]—hay Adam—định đặt.
We are through for the present.
Chúng ta tạm dừng tại đây.
TEXT OF READING 364-5
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-5
This psychic reading given by Edgar Cayce at his office, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., this 17th day of February, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Ông, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., ngày 17 tháng Hai, 1932, theo yêu cầu của những người có mặt.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Gray Saltar, Hugh Lynn and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều khiển; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis, Gray Saltar, Hugh Lynn và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 11:45 A. M. Eastern Standard Time.
Thời điểm thực hiện bài đọc: 11:45 sáng, Giờ Chuẩn Miền Đông.
GC: You will have before you the material given through this channel on the Lost Continent of Atlantis, a copy of which I hold in my hand. You will answer the questions which I will ask regarding this.
GC: Quý vị đang có trước mặt tư liệu đã được đưa ra qua kênh này về Lục địa Đã Mất Atlantis, một bản sao tôi đang cầm. Xin trả lời các câu hỏi tôi sẽ nêu liên quan đến điều này.
EC: Yes, we have the information as given respecting the continent Atlantis. In the considerations that may be had concerning such information, many are the questions that must naturally arise in the minds of individuals who would consider same in any way or manner. However, will a very close check be kept upon those who evince an interest, these will be found to be those who occupy in the present some influence innate or manifested from their experience or sojourn under or in that environ. As has been given, this would be well to do; for to the analytical or to the research character of mind, there will be little that may escape the attention of such a mind—when spiritual or psychic, or occult, or those kindred subjects are approached—as to how quick there is the desire, that expression of “I know it, but don’t know how to tell it, will be in that individual’s or entity’s feeling, and expression—when one may be obtained at all. They will immediately become the dreamer! Try this!
EC: Vâng, chúng ta có thông tin như đã cho về lục địa Atlantis. Khi cân nhắc những thông tin như vậy, tự nhiên sẽ nảy sinh nhiều câu hỏi trong thể trí của những người nào muốn xét đến bằng bất cứ cách nào hay phương diện nào. Tuy nhiên, nếu theo dõi thật sát những ai bộc lộ sự quan tâm, sẽ thấy đó là những người trong hiện tại đang chiếm giữ một ảnh hưởng nào đó bẩm sinh hoặc đã biểu lộ, xuất phát từ trải nghiệm hay thời cư ngụ trong môi trường ấy. Như đã được cho, làm vậy là điều hay; vì đối với thể trí có tính phân tích hay nghiên cứu, sẽ hiếm khi điều gì lọt khỏi chú ý của thể trí như vậy—khi các chủ đề tinh thần hay thông linh, hay huyền bí, hoặc các chủ đề tương cận được tiếp cận—về mức độ nhanh chóng xuất hiện ước muốn, cách biểu đạt rằng “Tôi biết, nhưng không biết cách diễn đạt”, điều này sẽ xuất hiện trong cảm thức và biểu hiện của người ấy—nếu có thể thu nhận biểu hiện nào. Họ sẽ lập tức trở thành kẻ mơ mộng! Hãy thử đi!
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Explain the information given regarding Amilius [?], who first noted the separation of the peoples into male and female, as it relates to the story in the Bible of Adam and Eve, in the Garden of Eden giving the name of the symbols Adam, Eve, the apple, and the serpent.
(H) Xin giải thích thông tin đã cho về Amilius [?], người đầu tiên nhận thấy sự phân chia con người thành nam và nữ, trong mối liên hệ với câu chuyện trong Kinh Thánh về Adam và Eve trong Vườn Eden, và cho biết ý nghĩa các biểu tượng Adam, Eve, trái táo, và con rắn.
(A) This would require a whole period of a lecture period for this alone; for, as is seen, that as is given is the presentation of a teacher of a peoples that separated for that definite purpose of keeping alive in the minds, the hearts, the soul minds of entities, that there may be seen their closer relationship to the divine influences of Creative Forces, that brought into being all that appertains to man’s indwelling as man in the form of flesh in this material world. These are presented in symbols of that thought as held by those peoples from whom the physical recorder took those records as compiled, with that gained by himself in and through the entering into that state where the entity’s soul mind drew upon the records that are made by the passing of time itself in a material world. As given, these are records not only of the nature as has been termed or called akashic records (that is, of a mental or soul record), but that in a more material nature as set down in stone, that was attempted to be done—has been attempted to be done throughout all time! Why does man now set in stone those that are representatives of that desired to be kept in mind by those making records for future generations? There are many more materials more lasting, as is known to many.
(Đ) Điều này tự thân đòi hỏi cả một tiết thuyết giảng; vì, như thấy, những gì được đưa ra là một trình hiện của một vị thầy của một dân tộc đã phân chia vì mục đích minh định là giữ sống động trong thể trí, trong tâm can, trong tâm trí linh hồn của các thực thể, để người ta có thể thấy mối liên hệ gần gũi hơn của họ với các ảnh hưởng thiêng liêng của Các Mãnh Lực Sáng Tạo, vốn mang vào hiện hữu mọi điều liên quan đến việc con người cư trú như người trong hình thể xác trong thế giới vật chất này. Những điều này được trình bày bằng các biểu tượng của hệ tư tưởng như được giữ bởi dân tộc mà từ đó người ghi chép vật chất thu nhận các ghi chép đã biên soạn, cùng với điều người ấy tự mình thu hoạch được trong và qua việc đi vào trạng thái mà tâm trí linh hồn của thực thể rút tỉa các ghi chép được tạo nên bởi sự trôi qua của thời gian tự thân trong một thế giới vật chất. Như đã cho, các ghi chép này không chỉ thuộc bản chất của điều được gọi là ký lục Akasha (tức loại ghi chép của tâm trí hay linh hồn), mà còn thuộc bản chất vật chất hơn, như được ghi xuống đá, điều đã được cố gắng thực hiện—và đã được cố gắng thực hiện suốt mọi thời! Tại sao con người ngày nay khắc đá những hình tượng đại diện cho điều họ mong được giữ trong tâm trí bởi những người đang làm ghi chép cho các thế hệ mai sau? Có nhiều vật liệu bền hơn, như nhiều người biết.
In the records, then, as this: There are, as seen, the records made by the man in the mount, that this Amilius [?]—Adam, as given—first discerned that from himself, not of the beasts about him, could be drawn—was drawn—that which made for the propagation of beings in the flesh, that made for that companionship as seen by creation in the material worlds about same. The story, the tale (if chosen to be called such), is one and the same. The apple, as ‘the apple of the eye’, the desire of that companionship innate in that created, as innate in the Creator, that brought companionship into the creation itself. Get that one!
Trong các ký lục, thì như sau: Có, như đã thấy, những ký lục do người trên núi ghi lại, rằng Amilius [?] này—Adam, như đã nêu—lần đầu nhận ra rằng từ chính bản thân y, chứ không phải từ loài thú quanh y, có thể rút ra—đã được rút ra—điều làm nên sự sinh sản của các hữu thể trong xác phàm, điều làm nên mối bạn đồng hành như được thấy bởi công cuộc sáng tạo trong các thế giới vật chất quanh đó. Câu chuyện, thiên truyện (nếu muốn gọi vậy), vốn chỉ là một. Quả táo, như “con ngươi của mắt”, là lòng khát cầu bạn đồng hành bẩm sinh nơi cái được tạo tác, như vốn bẩm sinh nơi Đấng Tạo Hóa, điều ấy đã đưa tình bạn đồng hành vào chính sáng tạo. Hãy nắm lấy điểm này!
In this there comes, then, that which is set before that created—or having taken on that form, able of projecting itself in whatever direction it chose to take, as given; able to make itself of that environ, in color, in harmony, in whatever source that makes for the spirit of that man would attempt to project in music, in art, in any form that may even be conceivable to the mind itself in what may be termed its most lucid moments, in its most esoteric moments, in its highest animation moments; for were He not the Son of the living God made manifest, that He might be the companion in a made world, in material manifested things, with the injunction to subdue all, bring all in the material things under subjection—all under subjection—by that ability to project itself IN its way? Knowing itself, as given, to be a portion of the whole, in, through, of, by the whole? In this desire, then, keep—as the injunction was—thine self separate: of that seen, but not that seen. The apple, then, that desire for that which made for the associations that bring carnal-minded influences of that brought as sex influence, known in a material world, and the partaking of same is that which brought the influence in the lives of that in the symbol of the serpent, that made for that which creates the desire that may be only satisfied in gratification of carnal forces, as partake of the world and its influences about same—rather than of the spiritual emanations from which it has its source. Will control—inability of will control, if we may put it in common parlance.
Trong đó lại đến điều được đặt trước cái được tạo—hoặc khi đã mang lấy hình tướng ấy, có khả năng phóng chiếu chính mình theo bất cứ hướng nào nó chọn; có khả năng làm mình đồng nhất với môi trường, trong màu sắc, trong điều hòa, trong bất kỳ nguồn nào làm nên tinh thần mà người ấy sẽ thử phóng chiếu trong âm nhạc, nghệ thuật, trong mọi hình thức mà thể trí có thể tưởng nghĩ trong những khoảnh khắc sáng suốt nhất, huyền bí nhất, sinh động cao nhất; vì lẽ nào Ngài không phải là Con của Thượng đế hằng sống được biểu lộ, để Ngài có thể làm bạn đồng hành trong một thế giới được tạo, trong những sự vật biểu lộ vật chất, với lệnh truyền phải chế ngự tất cả, khiến mọi sự vật vật chất phục tùng—tất cả đều phục tùng—bằng chính khả năng phóng chiếu mình THEO cách của mình? Biết chính mình, như đã nêu, là một phần của Toàn Thể, ở trong, xuyên qua, thuộc về, bởi Toàn Thể? Trong khát vọng này, vậy thì gìn giữ—như lệnh truyền—bản thân ngươi riêng ra: thuộc cái được thấy, nhưng chẳng thuộc về cái được thấy. Quả táo, vậy đó, là dục vọng đối với điều làm nên những kết hợp đem đến các ảnh hưởng thiên về xác dục, tức ảnh hưởng tính dục được biết trong thế giới vật chất; và việc cùng dự phần vào điều ấy đã đưa ảnh hưởng vào đời sống—trong biểu tượng con rắn—điều nuôi dưỡng cái tạo nên dục vọng chỉ có thể thỏa bằng sự thỏa mãn các lực xác dục, khi dự phần vào thế gian và những ảnh hưởng quanh đó—thay vì vào các xuất lộ tinh thần vốn là nguồn gốc của nó. Sự điều ngự ý chí—sự bất lực điều ngự ý chí, nếu nói theo ngôn ngữ thường nhật.
We are through for the present.
Chúng tôi tạm dừng ở đây.
TEXT OF READING 364-6
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-6
This psychic reading given by Edgar Cayce at his office, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., this 17th day of February, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc ngoại cảm này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Ông, 105th St. & Ocean, Va. Beach, Va., ngày 17 tháng Hai năm 1932, theo yêu cầu của những người hiện diện.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người dẫn; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Mildred Davis và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 4:00 P. M. Eastern Standard Time.
Thời gian tiến hành 4:00 chiều, Giờ Miền Đông.
GC: You will have before you the material and information given through this channel on the lost continent of Atlantis, a copy of which I hold in my hand. You will answer the questions which I will ask regarding this:
GC: Ông sẽ có trước mặt mình tài liệu và thông tin được ban qua kênh này về lục địa thất lạc Atlantis, một bản sao mà tôi đang cầm trong tay. Ông sẽ trả lời những câu hỏi mà tôi sẽ nêu liên quan đến điều này:
EC: Yes, we have the information as written here, as given. In following out that as just given, with these changes coming in the experience of Amilius [?] and I [Ai? Ay?], Adam and Eve, the knowledge of their position, or that as is known in the material world today as desires and physical bodily charms, the understanding of sex, sex relationships, came into the experience. With these came the natural fear of that as had been forbidden, that they know themselves to be a part of but not OF that as partook of earthly, or the desires in the manner as were about them, in that as had been their heritage.
EC: Vâng, chúng tôi có thông tin như đã ghi chép ở đây, như đã nêu. Theo sát điều vừa nêu, với những đổi thay đến trong kinh nghiệm của Amilius [?] và I [Ai? Ay?], Adam và Eve, sự hiểu biết về vị thế của họ, hay điều hiện nay trong thế giới vật chất được biết như là các dục vọng và những duyên dáng của thân xác, sự hiểu biết về tính dục, các mối quan hệ tính dục, đã đi vào kinh nghiệm. Cùng với đó đến nỗi sợ tự nhiên về điều đã bị cấm, rằng họ biết mình là một phần của nhưng không PHẢI của điều tham dự vào tính địa cầu, hay các dục vọng theo lối thức vốn vây quanh họ, trong điều vốn là di sản của họ.
Were this turned to that period when this desire, then, becomes consecrated in that accomplished again in the virgin body of the mother of the son of man, we see this is then crystallized into that, that even that of the flesh may be—with the proper concept, proper desire in all its purity—consecrated to the living forces as manifest by the ability in that body so brought into being, as to make a way of escape for the erring man. Hence we have found throughout the ages, so oft the times when conception of truth became rampant with free-love, with the desecration of those things that brought to these in the beginning that of the knowledge of their existence, as to that that may be termed—and betimes became—the moral, or morality of a people. Yet this same feeling, this same exaltation that comes from association of kindred bodies—that have their lives consecrated in a purposefulness, that makes for the ability of retaining those of the essence of creation in every virile body—can be made to become the fires that light truth, love, hope, patience, peace, harmony; for they are ever the key to those influences that fire the imaginations of those that are gifted in any form of depicting the high emotions of human experience, whether it be in the one or the other fields, and hence is judged by those that may not be able, or through desire submit themselves—as did Amilius [?] and I [?] to those elements through the forces in the life as about them.
Nếu chuyển điều này về thời kỳ khi dục vọng ấy, rồi, được thánh hiến trong điều được hoàn tất lại trong thân xử nữ của người mẹ của Con của loài người, chúng ta thấy điều này được kết tinh thành điều mà ngay cả phần xác phàm cũng có thể—với quan niệm đúng đắn, ước muốn đúng đắn trong mọi thanh khiết của nó—được thánh hiến cho các lực sống được biểu lộ bởi khả năng nơi thân thể được đưa vào hiện hữu như thế, để mở một lối thoát cho người lầm lạc. Bởi vậy chúng ta đã thấy qua các thời đại, biết bao lần khi quan niệm về chân lý trở nên hỗn loạn bởi ái tình tự do, bởi sự báng phạm những điều đã mang đến cho những người này lúc khởi đầu sự hiểu biết về sự hiện hữu của họ, về điều có thể được gọi—và đôi khi trở thành—đạo đức, hay luân lý của một dân tộc. Thế nhưng cũng chính cảm thức ấy, sự hân dâng ấy nảy sinh từ sự kết hợp của những thân xác đồng tộc—những thân xác đã hiến đời mình cho một mục đích, điều làm nên khả năng gìn giữ những tinh chất của sáng tạo trong mỗi thân thể tráng kiện—có thể trở nên ngọn lửa thắp sáng chân lý, tình thương, hy vọng, nhẫn nại, bình an, điều hòa; vì chúng luôn là chiếc chìa khóa cho những ảnh hưởng thắp lửa sự tưởng tượng nơi những ai được ban năng khiếu trong bất cứ hình thái nào mô tả các cảm xúc cao cả của kinh nghiệm con người, dù ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, và vì thế bị xét đoán bởi những người có thể không có khả năng, hoặc vì dục vọng mà khuất phục chính mình—như Amilius [?] và I [?] đã làm—trước những yếu tố qua các lực trong đời sống quanh họ.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) Who was [I]?** [**Ai? Ay?] [GD’s note: “I” or “Ai” [or whatever spelling] we understood to be a proper name and not the pronoun I.]
(Q) [I] là ai?** [**Ai? Ay?] [Ghi chú của GD: “I” hay “Ai” [hay cách đánh vần nào] chúng tôi hiểu là một danh riêng chứ không phải đại từ tôi.]
(A) It’s been given!
(A) Đã được nêu rồi!
(Q) In relation to the history of Atlantis as presented, at what period did the flood as recorded in the Bible in which Noah took part, occur?
(Q) Liên quan đến lịch sử Atlantis như đã trình bày, trận đại hồng thủy chép trong Kinh Thánh mà Noah tham dự xảy ra vào thời kỳ nào?
(A) In the second of the eruptions, or—as is seen—two thousand—two-two thousand and six [22,006?]—before the Prince of Peace, as time is counted now, or light years—day and night years. Not light years as the akashic records, or as the esoteric records, or as counted by astrology or astronomy, in the speed or the reflection of a ray of light; for, as records are made, the akashic records are as these:
(A) Trong lần thứ hai của các cuộc phun nổ, hay—như được thấy—hai nghìn—hai-hai nghìn không trăm lẻ sáu [22,006?]—trước Vị Chúa Tể của Hòa Bình, theo cách hiện nay tính thời gian, hay năm ánh sáng—năm ngày và đêm. Không phải năm ánh sáng theo các ký lục akashic, hay theo các ký lục huyền bí, hay theo cách chiêm tinh học hay thiên văn học đếm bằng tốc độ hay sự phản xạ của một tia sáng; vì, như các ký lục được lập, các ký lục akashic là như vầy:
Activity of any nature, as of the voice, as of a light made, produced in the natural forces those of a motion—which pass on, or are upon, the record of that as time. As may be illustrated in the atomic vibration as set in motion for those in that called the audition, or the radio in its activity. It passes even faster than time itself. Hence light forces pass much faster, but the records are upon the esoteric, or etheric, or akashic forces, as they go along upon the wheels of time, the wings of time, or in whatever dimension we may signify as a matter of its momentum or movement. Hence as the forces that are attuned to those various incidents, periods, times, places, may be accorded to the record, the contact as of the needle upon the record, as to how clear a rendition or audition is received, or how clear or how perfect an attunement of the instrument used as the reproducer of same is attuned to those keepers—as may be termed—of those records. What would be indicated by the keepers? That as just given, that they are the records upon the wings or the wheel of time itself. Time, as that as of space—as inter-between. That inter-between, that which is, that of which, that from one object to another when in matter is of the same nature, or what that is is what the other is, only changed in its vibration to produce that element, or that force, as is termed in man’s terminology as dimensions of space, or dimensions that give it, whatever may be the solid, liquid, gas, or what its form or dimension!
Hoạt động thuộc bất kỳ loại nào, như của âm thanh, như của một ánh sáng được tạo ra, sản sinh trong các lực tự nhiên những chuyển động—chuyển tiếp, hay được ghi trên ký lục của điều gọi là thời gian. Như có thể minh họa trong rung động nguyên tử được phát động cho những thứ gọi là thính âm, hay radio trong hoạt động của nó. Nó truyền đi còn nhanh hơn chính thời gian. Do vậy các lực ánh sáng truyền nhanh hơn nhiều, nhưng các ký lục lại nằm trên các lực huyền bí, hay dĩ thái, hay akashic, khi chúng đi dọc theo các bánh xe của thời gian, đôi cánh của thời gian, hay theo bất cứ chiều kích nào mà chúng ta có thể chỉ định theo đà xung lực hay chuyển động của nó. Vì thế, khi các lực được điều chỉnh đồng điệu với các biến cố, thời kỳ, thời điểm, địa điểm khác nhau ấy, có thể được “chấp thuận” với ký lục, (tức) sự tiếp xúc như cây kim đặt lên đĩa ghi, xem một bản trình bày hay thính âm được tiếp nhận rõ đến đâu, hay mức độ trong, trọn vẹn đến đâu của sự điều hòa của khí cụ dùng để tái tạo điều đó được điều chỉnh đồng điệu với những người canh giữ—như có thể gọi—các ký lục ấy. “Những người canh giữ” chỉ điều gì? Chính điều vừa nêu, rằng chúng là các ký lục trên đôi cánh hay bánh xe của thời gian tự thân. Thời gian, như điều của không gian—như khoảng gian-trung. Khoảng gian-trung ấy, cái là, cái mà, khoảng từ một vật thể đến vật thể khác khi ở trong vật chất là đồng một bản tính, hay cái này là cái kia, chỉ khác ở rung động để tạo ra yếu tố, hay lực, như được gọi trong thuật ngữ của con người là các chiều kích của không gian, hay các chiều kích khiến nó trở thành bất cứ thứ gì—rắn, lỏng, khí, hay hình thể hay chiều kích nào!
(Q) How large was Atlantis during the time of Amilius?
(Q) Atlantis rộng cỡ nào trong thời của Amilius?
(A) Comparison, that of Europe including Asia in Europe—not Asia, but Asia in Europe—see? This composed, as seen, in or after the first of the destructions, that which would be termed now—with the present position—the southernmost portion of same—islands as created by those of the first (as man would call) volcanic or eruptive forces brought into play in the destruction of same.
(A) So sánh, bằng châu Âu gồm cả phần Á thuộc châu Âu—không phải Á, mà là phần Á trong châu Âu—hiểu chứ? Điều này cấu thành, như thấy, vào hoặc sau lần hủy diệt thứ nhất, cái mà nay sẽ được gọi—với vị trí hiện tại—là phần cực nam của nó—những hải đảo được tạo nên bởi những lực (mà con người gọi) núi lửa hay phun nổ đầu tiên được đưa vào vận hành trong sự hủy diệt đó.
(Q) Was Atlantis one large continent, or a group of large islands?
(Q) Atlantis là một lục địa lớn, hay một nhóm các đảo lớn?
(A) Would it not be well to read just that given? Why confuse in the questionings? As has been given, what would be considered one large continent, until the first eruptions brought those changes—from what would now, with the present position of the earth in its rotation, or movements about its sun, through space, about Arcturus, about the Pleiades, that of a whole or one continent. Then with the breaking up, producing more of the nature of large islands, with the intervening canals or ravines, gulfs, bays or streams, as came from the various elemental forces that were set in motion by this charging—as it were—of the forces that were collected as the basis for those elements that would produce destructive forces, as might be placed in various quarters or gathering places of those beasts, or the periods when the larger animals roved the earth—with that period of man’s indwelling. Let it be remembered, or not confused, that the earth was peopled by animals before peopled by man! First that of a mass, which there arose the mist, and then the rising of same with light breaking over that as it settled itself, as a companion of those in the universe, as it began its natural (or now natural) rotations, with the varied effects upon the various portions of same, as it slowly—and is slowly—receding or gathering closer to the sun, from which it receives its impetus for the awakening of the elements that give life itself, by radiation of like elements from that which it receives from the sun. Hence that of one type, that has been through the ages, of mind—that gives the sun as the father of light in the earth. Elements have their attraction and detraction, or those of animosity and those of gathering together. This we see throughout all of the kingdoms, as may be termed, whether we speak of the heavenly hosts or of those of the stars, or of the planets, or of the various forces within any or all of same, they have their attraction or detraction. The attraction increases that as gives an impulse, that that becomes the aid, the stimuli, or an impulse to create. Hence, as may be seen—or may be brought to man’s own—that of attraction one for another gives that stimuli, that impulse, to be the criterion of, or the gratification of, those influences in the experience of individuals or entities. To smother same oft becomes deteriorations for each other, as may come about in any form, way or manner. Accidents happen in creation, as well as in individuals’ lives! Peculiar statement here, but—true!
(A) Chẳng phải sẽ tốt hơn nếu đọc kỹ điều vừa nêu sao? Sao lại làm rối bằng câu hỏi? Như đã nêu, (lúc đầu) có thể xem là một lục địa lớn duy nhất, cho đến khi các đợt phun nổ đầu tiên mang đến những biến đổi ấy—từ điều mà hiện nay, với vị trí hiện tại của trái đất trong sự tự quay, hay chuyển động quanh mặt trời, xuyên qua không gian, quanh Arcturus, quanh chòm Pleiades, (vẫn là) một toàn thể hay một lục địa. Rồi với sự vỡ ra, sinh thành dạng như các đảo lớn hơn, với những kênh hay hẻm vực, vịnh, vũng hay dòng chảy chen vào, do những lực hành khí khác nhau được phát động bởi sự tích điện—như thể—của những lực được gom tụ làm nền cho các yếu tố sẽ sinh ra các lực hủy diệt, như có thể đặt ở nhiều vùng hay nơi tụ họp của các thú vật, hay những thời kỳ khi các loài thú lớn còn dạo bước trên đất—cùng với thời kỳ con người cư ngụ. Hãy ghi nhớ, đừng nhầm lẫn, rằng trái đất có loài vật cư trú trước khi có loài người! Ban đầu là một khối, từ đó trỗi lên làn sương, rồi sự trỗi lên ấy cùng với ánh sáng bừng qua khi nó an vị, như một bạn đồng hành của các (thể) trong vũ trụ, khi nó bắt đầu những vòng quay tự nhiên (hay hiện nay là tự nhiên), với các hiệu ứng khác nhau trên các phần khác nhau của nó, khi nó chậm rãi—và vẫn chậm rãi—rời xa hoặc áp gần hơn với mặt trời, mà từ đó nó nhận xung lực đánh thức những yếu tố ban cho sự sống tự thân, nhờ sự bức xạ của những yếu tố tương ứng với cái nó nhận từ mặt trời. Do đó kiểu thức (tư tưởng) một, vốn kéo dài qua các thời đại, của thể trí—cái khiến mặt trời được xem là cha của ánh sáng nơi trái đất. Các yếu tố có sự hấp dẫn và bài xích, hay những điều oán đối và qui tụ. Điều này ta thấy xuyên suốt mọi giới, như có thể gọi, dù nói về cơ binh thiên thượng hay các vì sao, hay các hành tinh, hay các lực khác nhau bên trong bất kỳ hay tất cả những điều ấy, chúng có lực hút hay lực đẩy. Lực hút làm tăng điều tạo xung lực, điều trở thành trợ duyên, kích thích, hay xung lực để sáng tạo. Vậy nên, như có thể thấy—hay có thể đưa về cho chính con người—sự hấp dẫn giữa nhau tạo nên kích thích, xung lực, trở thành tiêu chuẩn, hay sự mãn nguyện, của những ảnh hưởng trong kinh nghiệm của các cá nhân hay các thực thể. Đè nén nó thường trở thành suy đồi cho nhau, như có thể xảy đến theo bất cứ hình thức, cách hay phương thức nào. Tai nạn xảy ra trong sự sáng tạo, cũng như trong đời sống của các cá nhân! Lời khẳng định lạ lùng ở đây, nhưng—đúng vậy!
(Q) What were the principal islands called at the time of the final destruction?
(Q) Những đảo chính gọi là gì vào thời kỳ hủy diệt cuối cùng?
(A) Poseidia and Aryan [?], and Og [?].
(A) Poseidia và Arya [?], và Og [?].
(Q) Describe one of the ships of the air that was used during the highest period of mechanical development in Atlantis.
(Q) Hãy mô tả một trong những tàu bay được dùng trong thời kỳ phát triển cơ khí cao nhất ở Atlantis.
(A) Much of the nature, in the earlier portion, as would be were the hide of many of the pachyderm, or elephants, many into the containers for the gases that were used as both lifting and for the impelling of the crafts about the various portions of the continent, and even abroad. These, as may be seen, took on those abilities not only to pass through that called air, or that heavier, but through that of water—when they received the impetus from the necessities of the peoples in that particular period, for the safety of self. The shape and form, then, in the earlier portion, depended upon which or what skins were used for the containers. The metals that were used as the braces, these were the combinations then of what is now a lost art—the tempered brass, the temperament of that as becomes between aluminum (as now called) and that of uranium, with those of the fluxes that are from those of the combined elements of the iron, that is carbonized with those of other fluxes—see? These made for lightness of structure, non-conductor or conductors of the electrical forces—that were used for the impelling of same, rather than the gases—which were used as the lifting. See? For that as in the nature’s forces may be turned into even the forces of that that makes life, as given, from the sun rays to those elements that make for, or find corresponding reaction in their application of same, or reflection of same, to the rays itself—or a different or changed form of storage of force, as called electrical in the present.
(A) Nhiều phần giống như, ở giai đoạn sớm hơn, nếu dùng da của nhiều loài động vật da dày, hay voi, ghép thành các bình chứa cho các loại khí dùng vừa để nâng vừa để đẩy các chuyên cơ di chuyển khắp các phần khác nhau của lục địa, và thậm chí ra cả hải ngoại. Những chiếc này, như có thể thấy, mang lấy các khả năng không chỉ băng qua cái gọi là không khí, hay môi trường nặng hơn, mà còn xuyên qua nước—khi chúng nhận được xung lực từ nhu cầu của dân chúng trong thời kỳ đặc thù ấy, vì sự an toàn của bản thân. Hình dáng và kiểu thức, lúc ban đầu, tùy thuộc loại da nào được dùng cho các bình chứa. Các kim loại dùng làm giằng đỡ, đó là những phối hợp của điều nay đã thành thất truyền—đồng rèn, tính chất điều hòa của thứ nằm giữa (thứ hiện nay gọi là) nhôm và uranium, với những chất chảy đến từ các thành phần phối hợp của sắt, được các-bon hóa với những chất chảy khác—hiểu chứ? Những điều này tạo cho cấu trúc nhẹ, vừa cách điện vừa dẫn điện—điều được dùng để đẩy chuyển, hơn là dùng khí—vốn dùng để nâng. Hiểu chứ? Vì điều trong các lực của tự nhiên có thể chuyển hóa thành ngay cả các lực làm nên sự sống, như đã nêu, từ các tia mặt trời đến các yếu tố tạo nên, hay tìm thấy phản ứng tương ứng trong việc ứng dụng, hay phản chiếu các tia ấy—hoặc một dạng khác hay biến đổi của cách tích trữ lực, như hiện nay gọi là điện.
We are through for the present.
Chúng tôi tạm dừng ở đây.
TEXT OF READING 364-7
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-7
This psychic reading given by Edgar Cayce at his office in Pinewood on Lake Drive, Virginia Beach, Va., this 5th day of April, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc ngoại cảm này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Ông ở Pinewood trên Lake Drive, Virginia Beach, Va., ngày 5 tháng Tư năm 1932, theo yêu cầu của những người hiện diện.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, H.L. and L.B. Cayce, and Gray Salter.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người dẫn; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Mildred Davis, H.L. và L.B. Cayce, và Gray Salter.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading Unknown.
Thời gian tiến hành Không rõ.
GC: You will have before you the material, or information, given thru this channel on the Lost Continent of Atlantis, a copy of which I hold in my hand. You will answer the questions which I will ask regarding this:
GC: Ông sẽ có trước mặt mình tài liệu, hay thông tin, được ban qua kênh này về Lục Địa Thất Lạc Atlantis, một bản sao mà tôi đang cầm trong tay. Ông sẽ trả lời những câu hỏi mà tôi sẽ nêu liên quan đến điều này:
EC: Yes, we have the information as has been transcribed here. Ready for questions.
EC: Vâng, chúng tôi có thông tin như đã được chép lại ở đây. Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) How is the legend of Lilith connected with the period of Amilius?
(Q) Truyền thuyết về Lilith liên hệ thế nào với thời kỳ của Amilius?
(A) In the beginning, as was outlined, there was presented that that became as the Sons of God, in that male and female were as one, with those abilities for those changes as were able or capable of being brought about. In the changes that came from those things, as were of the projections of the abilities of those entities to project, this as a being came as the companion; and when there was that turning to the within, through the sources of creation, as to make for the helpmeet of that as created by the first cause, or of the Creative Forces that brought into being that as was made, then—from out of self—was brought that as was to be the helpmeet, not just companion of the body. Hence the legend of the associations of the body during that period before there was brought into being the last of the creations, which was not of that that was not made, but the first of that that was made, and a helpmeet to the body, that there might be no change in the relationship of the sons of God with those relationships of the sons and daughters of men.
(A) Thuở ban đầu, như đã phác thảo, đã xuất hiện điều trở thành như Các Con của Thượng đế, ở đó nam và nữ là một, với những khả năng đối với những biến đổi vốn có thể hay có khả năng mang đến. Trong những đổi thay đến từ những điều thuộc các phóng chiếu của khả năng nơi các thực thể để phóng chiếu, điều này như một hữu thể đã đến như bạn đồng hành; và khi có sự quay vào nội tại, qua các nguồn của sáng tạo, hầu làm nên bạn trợ giúp cho điều được tạo bởi nguyên nhân đầu tiên, hay bởi các Lực Sáng Tạo đã mang điều được làm nên vào hiện hữu, thì—từ trong tự ngã—được đưa ra điều sẽ là bạn trợ giúp, chứ không chỉ là bạn đồng hành của thân thể. Bởi vậy mới có truyền thuyết về các kết hợp của thân thể trong thời kỳ trước khi có sự mang vào hiện hữu điều sau cùng của các sáng tạo, vốn không thuộc về điều chẳng được làm nên, mà là cái đầu tiên trong những điều được làm nên, và là bạn trợ giúp của thân thể, để mối quan hệ giữa các con trai của Thượng đế với các mối quan hệ của con trai và con gái loài người không đổi thay.
In this then, also comes that as is held by many who have reached especially to that understanding of how necessary then, becomes the proper mating of those souls that may be the answers one to another of that that may bring, through that association, that companionship, into being that that may be the more helpful, more sustaining, more the well-rounded life or experience of those that are a portion one of another. Do not misinterpret, but knowing that all are of one—yet there are those divisions that make for a closer union, when there are the proper relationships brought about. As an illustration, in this:
Trong đó, cũng đến điều được nhiều người nắm giữ—những ai đã đạt được, đặc biệt là sự thấu hiểu về mức cần thiết thế nào của việc phối ngẫu thích đáng giữa các linh hồn có thể đáp ứng cho nhau hầu nhờ mối kết hợp ấy, mối bạn đồng hành ấy, đưa vào hiện hữu điều có thể là hữu ích hơn, nâng đỡ hơn, viên mãn hơn cho đời sống hay kinh nghiệm của những ai vốn là phần của nhau. Chớ hiểu sai, mà biết rằng tất cả là một—song có những phân hệ làm nên sự hợp nhất gần gũi hơn, khi các mối quan hệ thích đáng được mang đến. Là một minh họa, như vầy:
In the material world we find there is in the mineral kingdom those elements that are of the nature as to form a closer union one with another, and make as for compounds as make for elements that act more in unison with, or against, other forms of activity in the experience in the earth’s environ, or the earth’s force, as makes for those active forces in the elements that are about the earth. Such as we may find in those that make for the active forces in that of uranium, and that of ultramarine, and these make then for an element that becomes the more active force as with the abilities for the rates of emanation as may be thrown off from same. So, as illustrated in the union, then, of—in the physical compounds—that as may vibrate, or make for emanations in the activities of their mental and spiritual, and material, or physical forces, as may make for a greater activity in this earth environ. Then, there may be seen that as is in an elemental, or compound, that makes for that as is seen in the material experience as to become an antipathy for other elements that are as equally necessary in the experience of man’s environ as in the combination of gases as may produce whenever combined that called water, and its antipathy for the elements in combustion is easily seen or known in man’s experience.
Trong thế giới vật chất ta thấy trong giới khoáng có những yếu tố có bản chất khiến kết hợp gần gũi hơn với nhau, và làm thành các hợp chất tạo nên những nguyên tố hành xử đồng thuận hơn, hoặc tương phản, với các hình thức hoạt động khác trong kinh nghiệm nơi môi trường trái đất, hay lực của trái đất, vốn làm nên những lực hoạt động trong các yếu tố quanh trái đất. Tỷ như ta có thể thấy trong những gì làm nên các lực hoạt động nơi uranium, và nơi ultramarine, và rồi những điều này làm nên một yếu tố biến thành lực hoạt động mạnh hơn cùng với khả năng về mức phát xạ có thể phóng ra từ đó. Vậy, như được minh họa trong sự hòa hợp, thì—trong các hợp chất vật chất—điều có thể rung ứng, hay làm nên những phát xạ trong các hoạt động của các lực tinh thần và linh hồn, và vật chất, hay thể xác, của họ, có thể làm nên một hoạt động lớn hơn trong môi trường trái đất này. Rồi có thể thấy điều là (tương ứng) trong một nguyên tố, hay hợp chất, làm nên điều như được thấy trong kinh nghiệm vật chất là trở thành đối kháng với các yếu tố khác cũng cần thiết tương đương trong kinh nghiệm của môi trường con người, như trong sự phối hợp các khí tạo nên khi phối hợp cái gọi là nước, và sự đối kháng của nó với các yếu tố trong sự đốt cháy là điều dễ thấy hay biết trong kinh nghiệm của con người.
So in those unions of that in the elemental forces of creative energies that take on the form of man, either in that of man or woman, with its natural or elemental, see? Elemental forces of its vibration, with the union of two that vibrate or respond to those vibrations in self, create for that ideal that becomes as that, in that created, in the form—as is known as radium, with its fast emittal vibrations, that brings for active forces, principles, that makes for such atomic forces within the active principles of all nature in its active force as to be one of the elemental bases from which life in its essence, as an active principle in a material world, has its sources, give off that which is ever good—unless abused, see? So in that may there be basis for those forces, as has been, as is sought, thought, or attained by those who have, through the abilities of the vibrations, to make for a continued force in self as to meet, know, see, feel, understand, those sources from which such begets that of its kind, or as those that become as an antipathy for another, or as makes for those that makes for the variations in the tempering of the various elements, compounds, or the like; so, as is seen, these—then—the basis for those things as has been given here, there, in their various ways and manners, as to the companion of, and companions of, that that first able—through its projection of itself and its abilities in the creation—to bring about that that was either of its own making, or creation, or that given in the beginning to be the force through which there might be that that would bring ever blessings, good, right, and love, in even the physical or material world. See?
Vậy trong những kết hợp nơi các lực nguyên tố của các năng lượng sáng tạo mang lấy hình hài con người, dù ở nam hay nữ, với những nguyên tố tự nhiên hay hành khí của nó, hiểu chứ? Các lực nguyên tố của rung động của nó, với sự kết hợp của hai bên rung động hay đáp ứng với những rung động ấy nơi tự ngã, tạo nên lý tưởng trở thành như điều đó, trong cái được tạo, trong hình thể—như được biết là radium, với các rung động phát xạ nhanh của nó, mang đến các lực hoạt động, các nguyên lý, làm nên những lực nguyên tử như thế bên trong các nguyên lý hoạt động của toàn nhiên giới trong lực hoạt động của nó đến mức trở thành một trong các nền tảng nguyên tố từ đó sự sống, trong tinh chất của nó, như một nguyên lý hoạt động trong thế giới vật chất, có nguồn cội—phát ra điều luôn là thiện—trừ khi bị lạm dụng, hiểu chứ? Vậy nên trong đó có thể có nền tảng cho những lực, như đã có, như đang được tìm cầu, tư duy, hay đạt tới bởi những ai thông qua khả năng về các rung động mà tạo nên một lực liên tục nơi tự thân để gặp gỡ, biết, thấy, cảm, hiểu các nguồn cội từ đó sinh ra đồng loại của nó, hay như những thứ trở thành đối kháng với một thứ khác, hay như (những thứ) làm nên các biến thiên trong sự luyện tính của các nguyên tố, hợp chất khác nhau, v.v.; vậy, như thấy, đây—rồi—là nền tảng cho những điều như đã được nêu nơi đây, kia, theo nhiều lối và cách, về người bạn của, và những bạn đồng hành của, điều trước hết có thể—thông qua sự phóng chiếu tự thân và các khả năng của nó trong sáng tạo—mang lại điều hoặc do chính tự thân tạo ra, hay là điều được ban từ thuở đầu để trở thành lực mà nhờ đó có thể có điều sẽ mang lại muôn ơn phước, điều thiện, điều đúng, và tình thương, ngay trong thế giới thể xác hay vật chất. Hiểu chứ?
(Q) How long did it take for the division into male and female?
(Q) Sự phân đôi thành nam và nữ mất bao lâu?
(A) That depends upon which, or what branch or line is considered. When there was brought into being that as of the projection of that created by that created, this took a period of evolutionary—or, as would be in the present year, fourscore and six year. That as brought into being as was of the creating of that that became a portion of, of that that was already created by the Creator, that brought into being as were those of the forces of nature itself. God said, “Let there be light” and there was light! God said, “Let there be life” and there was life!
(A) Tùy thuộc xét nhánh hay dòng nào. Khi mang vào hiện hữu điều là phóng chiếu của cái được tạo bởi cái được tạo, điều này mất một thời kỳ tiến hóa—hay, theo năm hiện nay, là bốn mươi cộng sáu năm, tức tám mươi sáu năm. Còn điều được mang vào hiện hữu như là tạo tác của điều trở thành một phần của, của cái đã được Đấng Tạo Hóa tạo nên, điều được đưa vào hiện hữu như là những lực của tự nhiên tự thân. Thượng đế phán, “Hãy có ánh sáng” và có ánh sáng! Thượng đế phán, “Hãy có sự sống” và có sự sống!
(Q) Were the thought forms that were able to push themselves out of themselves inhabited by souls, or were they of the animal kingdom?
(Q) Những hình tư tưởng có thể tự đẩy mình ra khỏi bản thân đó có do linh hồn cư ngụ, hay thuộc về giới động vật?
(A) That as created by that created, of the animal kingdom. That created as by the Creator, with the soul.
(A) Cái được tạo bởi cái được tạo, thuộc giới động vật. Cái do Đấng Tạo Hóa tạo, thì có linh hồn.
(Q) What was meant by the Sons of the Highest in Atlantis and the second coming of souls to the earth, as mentioned in a life reading given thru this channel? [See 2802-1 on 5/18/25.]
(Q) “Các Con của Đấng Tối Cao” ở Atlantis và “lần đến thứ hai của các linh hồn” vào trần gian, như đã nói trong một bài đọc về đời sống ban qua kênh này, có ý gì? [Xem 2802-1 ngày 5/18/25.]
(A) In this period or age, as was seen—There is fault of words here to project that as actually occurs in the formations of that as comes about! There was, with the will of that as came into being through the correct channels, of that as created by the Creator, that of the continuing of the souls in its projection and projection—see? while in that as was of the offspring, of that as pushed itself into form to satisfy, gratify, that of the desire of that known as carnal forces of the senses, of those created, there continued to be the war one with another, and there were then—from the other sources (worlds) the continuing entering of those that would make for the keeping of the balance, as of the first purpose of the Creative Forces, as it magnifies itself in that given sphere of activity, of that that had been given the ability to create with its own activity—see? and hence the second, or the continued entering of souls into that known as the earth’s plane during this period, for that activity as was brought about. Let’s remember that as was given, in the second, third from Adam, or fourth, or from Amilius, there was “In that day did they call upon the name of the Lord”—is right! and ever, when the elements that make for littleness, uncleanness, are crucified in the body, the spirit of the Lord, of God, is present! When these are overbalanced, so that the body (physical), the mental man, the imagination of its heart, is evil, or his purpose is evil, then is that war continuing—as from the beginning. Just the continued warring of those things within self as from the beginning; for with these changes as brought sin into the world, with same came the fruits of same, or the seed as of sin, which we see in the material world as those things that corrupt good ground, those that corrupt the elements that are of the compounds of those of the first causes, or elementals, and pests are seen—and the like, see? So does it follow throughout all creative forces, that the fruits of that as is active brings that seed that makes for the corrupting of, or the clearing of, in the activative forces of, that being acted upon.
(A) Trong thời kỳ hay thời đại này, như đã thấy—Ngôn từ bất cập ở đây để phóng chiếu điều thực sự xảy ra trong các cấu thành của điều đang diễn ra! Đã có, theo ý chí của điều đi vào hiện hữu qua các kênh đúng đắn, của cái được tạo bởi Đấng Tạo Hóa, sự tiếp nối của các linh hồn trong sự phóng chiếu và phóng chiếu—hiểu chứ? trong khi ở trong điều là hậu duệ, của cái tự đẩy mình vào hình thể để thỏa, thỏa mãn, điều thuộc dục vọng của cái gọi là lực xác dục của các giác quan, của những kẻ được tạo, thì vẫn tiếp diễn cuộc chiến giữa nhau, và rồi đã có—từ các nguồn (thế giới) khác—sự tiếp diễn nhập thể của những ai sẽ giữ thăng bằng, như mục đích đầu tiên của các Lực Sáng Tạo, khi nó phóng đại chính mình trong cõi hoạt động đã được ban, của điều đã được ban khả năng sáng tạo bằng chính hoạt động của nó—hiểu chứ? và do đó là lần thứ hai, hay sự tiếp tục bước vào của các linh hồn vào điều gọi là cõi trần của trái đất trong thời kỳ này, cho hoạt động được mang đến. Chúng ta hãy nhớ điều đã nêu, ở người thứ hai, thứ ba từ Adam, hay thứ tư, hay từ Amilius, có ghi rằng “Trong ngày ấy họ đã kêu cầu danh Chúa”—điều ấy đúng! và bao giờ, khi những yếu tố gây nên sự nhỏ nhen, nhơ uế, bị đóng đinh trong thân xác, thì Thần của Chúa, của Thượng đế, hiện diện! Khi những điều này bị lấn át, khiến thân thể (thể xác), con người tinh thần, sự tưởng hình của lòng y, trở nên ác, hay mục đích của y là ác, thì cuộc chiến ấy lại tiếp diễn—như từ khởi thủy. Chỉ là cuộc chiến tiếp nối của những điều bên trong tự thân từ thuở ban đầu; vì với những biến đổi này đã đưa tội lỗi vào thế gian, thì cùng đến với nó là hoa trái của nó, hay hạt giống như của tội, mà ta thấy trong thế giới vật chất như những điều làm bại hoại đất tốt, những thứ làm bại hoại các yếu tố vốn là hợp phần của những nguyên nhân đầu tiên, hay các nguyên tố, và sâu bọ tai họa hiện ra—và tương tự như vậy, hiểu chứ? Vậy nên điều đó trải khắp mọi lực sáng tạo, rằng hoa trái của điều hoạt động mang đến hạt giống làm bại hoại, hay làm trong sạch, trong các lực đang hoạt hóa, của điều đang bị tác động.
(Q) What was meant by “As in the first Adam sin entered, so in the last Adam all shall be made alive?”
(Q) “Như bởi Adam thứ nhất tội lỗi đi vào, thì bởi Adam sau cùng mọi người sẽ được làm cho sống” có ý gì?
(A) Adam’s entry into the world in the beginning, then, must become the savior of the world, as it was committed to his care, “be thou fruitful, multiply, and subdue the earth!” Hence Amilius, Adam, the first Adam, the last Adam, becomes—then—that that is given the power over the earth, and—as in each soul the first to be conquered is self—then all things, conditions and elements, are subject unto that self! That a universal law, as may be seen in that as may be demonstrated either in gases that destroy one another by becoming elements of the same, or that in the mineral or the animal kingdom as may be found that destroy, or become one with the other. Hence, as Adam given—the Son of God—so he must become that that would be able to take the world, the earth, back to that source from which it came, and all power is given in his keeping in the earth, that he has overcome; self, death, hell and the grave even, become subservient unto him through the conquering of self in that made flesh; for, as in the beginning was the word, the Word was with God, the Word was God, the same was in the beginning. The Word came and dwelt among men, the offspring of self in a material world, and the Word overcame the world—and hence the world becomes, then, as the servant of that that overcame the world!
(A) Adam đi vào thế gian lúc ban đầu, vậy thì phải trở thành đấng cứu thế của thế gian, vì thế gian đã ủy thác cho y chăm coi, “Hãy sinh sôi, nảy nở, và chế ngự trái đất!” Do đó Amilius, Adam, Adam thứ nhất, Adam sau cùng, rồi sẽ trở thành—điều được ban quyền trên trái đất, và—như nơi mỗi linh hồn điều đầu tiên phải chinh phục là tự ngã—thì mọi sự, mọi điều kiện và yếu tố, đều chịu phục tùng tự ngã ấy! Đó là định luật phổ quát, như có thể thấy trong điều có thể minh chứng, hoặc nơi các khí triệt tiêu nhau bằng cách trở thành các yếu tố của nhau, hoặc trong giới khoáng hay giới động vật có thể tìm thấy những thứ hủy diệt, hay hòa nhập làm một với nhau. Vậy, như Adam đã được ban—Con của Thượng đế—thì y phải trở thành Đấng có thể mang thế gian, trái đất, trở về nguồn từ đó nó đến, và mọi quyền năng được trao vào tay y nơi trần gian, rằng y đã chiến thắng; tự ngã, sự chết, địa ngục và ngay cả mồ mả nữa, đều khuất phục trước y nhờ chinh phục tự ngã nơi điều đã làm thành xác phàm; vì, thuở ban đầu có Linh từ, Linh từ ở cùng Thượng đế, Linh từ là Thượng đế, Ngài vốn ở nơi khởi thủy. Linh từ đã đến và ở giữa loài người, hậu duệ của tự ngã trong một thế giới vật chất, và Linh từ đã chiến thắng thế gian—và bởi vậy thế gian trở thành, rồi, đầy tớ của Đấng đã chiến thắng thế gian!
(Q) Please give the important re-incarnations of Adam in the world’s history.
(Q) Xin nêu các lần tái lâm trọng yếu của Adam trong lịch sử thế giới.
(A) In the beginning as Amilius, as Adam, as Melchizedek, as Zend [?], as Ur [?] [Enoch? GD’s note: Perhaps Ur was prehistory person [364-9, Par. 3-A] who established Ur of the Chaldees? I don’t think he was mentioned anywhere else in the readings as an incarnation of Jesus.], as Asaph [?] [Songs of Asaph? See Ps. 81:5 indicating that Joseph and Asaph were one and the same?], as Jesus [Jeshua]—Joseph—Jesus. [See 364-9, Par. 3-A.]
(A) Thuở ban đầu là Amilius, là Adam, là Melchizedek, là Zend [?], là Ur [?] [Enoch? Ghi chú của GD: Có lẽ Ur là nhân vật tiền sử [364-9, Đ. 3-A] đã lập nên Ur của người Canh Đê? Tôi không nghĩ Ông được nhắc đến ở đâu khác trong các bài đọc như một hóa thân của Jesus.], là Asaph [?] [Những Bài ca của Asaph? Xem Tv. 81:5 chỉ rằng Joseph và Asaph là một?], là Jesus [Jeshua]—Joseph—Jesus. [Xem 364-9, Đ. 3-A.]
Then, as that coming into the world in the second coming—for He will come again and receive His own, who have prepared themselves through that belief in Him and acting in that manner; for the spirit is abroad, and the time draws near, and there will be the reckoning of those even as in the first so in the last, and the last shall be first; for there is that Spirit abroad—He standeth near. He that hath eyes to see, let him see. He that hath ears to hear, let him hear that music of the coming of the Lord of this vineyard, and art thou ready to give account of that thou hast done with thine opportunity in the earth as the Sons of God, as the heirs and joint heirs of glory with the Son? Then make thine paths straight, for there must come an answering for that thou hast done with thine Lord! He will not tarry, for having overcome He shall appear even as the Lord and Master. Not as one born, but as one that returneth to His own, for He will walk and talk with men of every clime, and those that are faithful and just in their reckoning shall be caught up with Him to rule and to do judgement for a thousand years!
Rồi, như Đấng đi vào thế gian trong lần đến thứ hai—vì Ngài sẽ lại đến và tiếp nhận những ai thuộc về Ngài, những người đã chuẩn bị chính mình qua niềm tin nơi Ngài và hành động theo cách ấy; vì Thần đang ngự khắp, và thời khắc đang đến gần, và sẽ có sự quyết toán của những người—như thuở đầu thì rốt sẽ đầu, và đầu sẽ rốt; vì có Thần ấy đang lan tỏa—Ngài đang đứng gần. Ai có mắt để thấy, hãy thấy. Ai có tai để nghe, hãy nghe bản nhạc của sự đến của Chủ của vườn nho này, và ngươi đã sẵn sàng trình bày về điều ngươi đã làm với cơ hội của ngươi nơi trần gian như Các Con của Thượng đế, như những kẻ thừa kế và đồng thừa kế vinh quang với Con chưa? Vậy hãy sửa bằng phẳng đường lối của ngươi, vì phải có sự đáp lại về điều ngươi đã làm với Chúa của ngươi! Ngài sẽ không chậm trễ, vì sau khi đã chiến thắng Ngài sẽ hiện ra như là Chúa và Thầy. Không như một người được sinh ra, mà như Đấng trở về với Những kẻ thuộc về Ngài, vì Ngài sẽ đi lại và đàm đạo với người ở mọi miền xứ, và những kẻ trung tín và công chính trong cuộc quyết toán sẽ được cất lên cùng Ngài để cai quản và thi hành phán xét trong một ngàn năm!
(Q) Describe some of the mental abilities that were developed by the Atlanteans at the time of their greatest spiritual development.
(Q) Hãy mô tả vài năng lực trí tuệ được người Atlantis phát triển vào thời kỳ phát triển tinh thần cao nhất của họ.
(A) Impossible to describe achievements physical in their spiritual development. The use of material conditions and spiritual attributes in a material world would, and do, become that as are the miracles of the Son in the material world; for even as with Him in—and as He walked, whether in Galilee, in Egypt, in India, in France, in England, or America—there were those periods when the activities of the physical were as was what would be termed the everyday life of the sons of God in the Atlantean or Eden experience; for as those brought the various changes from the highest of the spiritual development to the highest of the mental, then of the material or physical developments, then the fall—see?
(A) Không thể mô tả các thành tựu vật chất trong sự phát triển tinh thần của họ. Việc dùng các điều kiện vật chất và các thuộc tính tinh thần trong một thế giới vật chất sẽ, và quả là, trở thành những điều như các phép lạ của Con trong thế giới vật chất; vì ngay cả như với Ngài—khi Ngài đi lại, dù ở Galilee, ở Ai Cập, ở Ấn Độ, ở Pháp, ở Anh, hay ở Mỹ—đã có những thời kỳ khi các hoạt động của vật chất là điều có thể gọi là đời sống thường nhật của các con của Thượng đế trong kinh nghiệm Atlantis hay Eden; vì khi những người ấy mang đến các biến đổi khác nhau từ đỉnh cao phát triển tinh thần tới đỉnh cao phát triển trí tuệ, rồi đến phát triển vật chất hay thể xác, thì là sự sa ngã—hiểu chứ?
We are through for the present.
Chúng tôi tạm dừng ở đây.
TEXT OF READING 364-8
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-8
This psychic reading given by Edgar Cayce at his home in Pinewood on Lake Drive, Va. Beach, Va., this 15th day of April, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc ngoại cảm này do Edgar Cayce thực hiện tại tư gia của Ông ở Pinewood trên Lake Drive, Va. Beach, Va., ngày 15 tháng Tư năm 1932, theo yêu cầu của những người hiện diện.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno Mildred Davis, H.L. and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người dẫn; Gladys Davis, Thư ký tốc ký Mildred Davis, H.L. và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 4:00 P. M. Eastern Standard Time.
Thời gian tiến hành 4:00 chiều, Giờ Miền Đông.
GC: You will have before you the information given thru this channel on The Lost Continent of Atlantis, a copy of which I hold in my hand. You will please answer the questions which I will ask regarding this.
GC: Ông sẽ có trước mặt mình thông tin được ban qua kênh này về Lục Địa Thất Lạc Atlantis, một bản sao mà tôi đang cầm trong tay. Xin vui lòng trả lời những câu hỏi tôi sẽ nêu liên quan đến điều này.
EC: We have the information as given here, The Lost Continent of Atlantis, Poseida, Og, Odynelius [?]. Yes. Ready for questions.
EC: Chúng tôi có thông tin như nêu ở đây, Lục Địa Thất Lạc Atlantis, Poseida, Og, Odynelius [?]. Vâng. Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) Please explain what is meant by “He will walk and talk with men of every clime”. Does this mean he will appear to many at once or appear to various peoples during a long period?
(Q) Xin giải thích “Ngài sẽ đi lại và đàm đạo với người ở mọi miền xứ” có ý gì. Điều này có nghĩa Ngài sẽ hiện ra với nhiều người cùng lúc hay hiện ra với các dân tộc khác nhau trong một thời kỳ dài?
(A) As given, for a thousand years He will walk and talk with men of every clime. Then in groups, in masses, and then they shall reign of the first resurrection for a thousand years; for this will be when the changes materially come.
(A) Như đã nêu, suốt một ngàn năm Ngài sẽ đi lại và đàm đạo với người ở mọi miền xứ. Rồi theo nhóm, theo đám đông, và rồi họ sẽ trị vì của cuộc phục sinh thứ nhất trong một ngàn năm; vì điều này sẽ xảy đến khi những biến đổi về vật chất đến.
In the manner as He sat at the peace conference in Geneva, in the heart and soul of a man not reckoned by many as an even unusually Godly man; yet raised for a purpose, and he chose rather to be a channel of His thought for the world. So, as there has been, so will it be until the time as set. As was given of Him, not given to man to know the time or the period of the end, nor to man—save by their constituting themselves a channel through which He may speak. To be sure, man and woman alike; for, as given from the beginning, they are one. Not as man counts oneness from the material viewpoint. Rather from that as He gave, “Where are those thy persecutors?” “No man, Lord.” “Neither do I condemn thee. Sin no more.” In the searching out of those who, where and when He speaks, or has spoken among or with, or through men, “By their fruits ye shall know them.” They that bring more righteousness are the children of faith, hope, charity. These three; and they do so in material world, the Father, the Son, the Holy Spirit. Be thou, then, a channel that may oft walk with Him that gave not of else than, “Let not your hearts be troubled; neither let it be afraid. Let not thine right hand know what thy left hand doeth.” Rather giving self to seeking, day by day, to know the will of the Father as was manifest in Him, and may be manifest in Thee, for He will not leave thee desolate, but will come to thee—but not unless invited; for, as in the periods, as we find, when He walked with men as the Master among men, or when as Joseph in the kingdoms that were raised as the saving of his peoples that sold him into bondage, or as the priest of Salem in the days when the call came that a peculiar peoples would proclaim his name, He has walked and talked with men. Or, as in those days as Asapha [?] [Sons of Asaph? See Ps. 81:5 indicating that Joseph and Asaph were one and the same?], or Affa [?] in those periods when those of that same Egyptian land were giving those counsels to the many nations, when there would be those saving of the physical from that of their own making in the physical; or in the garden when those temptations came, or as the first begotten of the Father that came as Amilius in the Atlantean land and allowed himself to be led in ways of selfishness. Hence, as we see, all the various stages of developments that have come to man through the ages have been those periods when He walked and talked with man.
Theo cách như Ngài đã ngồi tại hội nghị hòa bình ở Geneva, trong tâm và hồn của một người mà nhiều người không coi trọng là một người đặc biệt đạo hạnh; thế nhưng đã được dấy lên cho một mục đích, và ông đã chọn thà trở thành một kênh cho Tư tưởng của Ngài cho thế giới. Như đã có, vậy sẽ có cho đến thời khắc đã định. Như đã được nói về Ngài, chẳng ban cho người ta biết thời giờ hay kỳ hạn của tận cùng, cũng chẳng ban cho người—trừ khi họ tự biến mình thành một kênh mà qua đó Ngài có thể cất tiếng. Chắc chắn, cả nam và nữ; vì, như đã nêu từ khởi thủy, họ là một. Không phải như con người đếm sự nhất thể theo quan điểm vật chất. Đúng hơn theo điều Ngài đã phán, “Những kẻ cáo gian ngươi đâu?” “Thưa Chúa, không ai cả.” “Ta cũng không lên án ngươi. Hãy đi và đừng phạm tội nữa.” Khi dò xét những người, nơi nào và khi nào Ngài nói, hay đã nói giữa hay với, hay qua con người, “Cứ xem quả mà biết cây.” Những ai mang lại nhiều công chính hơn là con cái của đức tin, hy vọng, bác ái. Ba điều này; và họ làm điều đó trong thế giới vật chất, (như) Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Vậy ngươi hãy là một kênh sao cho có thể thường xuyên đi cùng Ngài, Đấng chẳng ban gì khác hơn là, “Lòng các ngươi chớ xao xuyến; đừng sợ hãi. Tay phải ngươi chớ biết điều tay trái ngươi làm.” Đúng hơn là hiến mình để tìm cầu, ngày qua ngày, biết Ý của Cha như đã biểu lộ trong Ngài, và có thể biểu lộ trong Ngươi, vì Ngài sẽ không để ngươi bơ vơ, nhưng sẽ đến với ngươi—nhưng không trừ khi được thỉnh mời; vì, như trong các thời, như ta thấy, khi Ngài đi lại với con người như là Thầy giữa loài người, hoặc như Joseph trong những vương quốc được dấy lên để cứu dân tộc của mình, những người đã bán ông làm nô lệ, hoặc như vị tư tế của Salem trong những ngày khi có lời kêu gọi rằng một dân tộc đặc tuyển sẽ tuyên xưng Danh Ngài, Ngài đã đi lại và đàm đạo với con người. Hoặc, như trong những ngày đó là Asapha [?], hay Affa [?] trong những thời khi ngay vùng đất Ai Cập ấy đang hiến tặng những lời khuyên cho nhiều quốc gia, khi sẽ có những sự cứu khỏi (tai họa) thể xác vốn do chính họ gây nên trong vật chất; hoặc trong khu vườn khi những cám dỗ đến, hoặc như Trưởng Tử của Cha, Đấng đã đến như Amilius trong đất Atlantis và đã để cho mình bị dắt theo những lối ích kỷ. Bởi thế, như ta thấy, mọi chặng bậc phát triển khác nhau đã đến với con người qua các thời đại đều là những thời khi Ngài đi lại và đàm đạo với con người.
In this, then, when—as we find—that those periods began in a like period from that of Joseph to Joseph, or Jesus, then again we see the cycle when perfected in body, overcoming the world in the body of man, will He appear in those varied experiences; for He tarries not, and the time draws near.
Trong điều này, rồi, khi—như ta thấy—những thời kỳ ấy khởi đầu tương tự khoảng từ Joseph đến Joseph, hay Jesus, thì rồi ta lại thấy chu kỳ khi, sau khi hoàn hảo trong thân, chiến thắng thế gian trong thân người, Ngài sẽ hiện ra trong những kinh nghiệm khác nhau; vì Ngài chẳng chậm trễ, và thời khắc đang đến gần.
(Q) In the Persian experience as San (or Zend) did Jesus give the basic teachings of what became Zoroastrianism?
(Q) Trong kinh nghiệm Ba Tư với danh xưng San (hay Zend) có phải Jesus đã ban những giáo huấn căn bản của điều về sau trở thành Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism)?
(A) In all those periods that the basic principle was the Oneness of the Father, He has walked with men.
(A) Trong mọi thời kỳ mà nguyên tắc căn bản là Nhất Thể của Chúa Cha, Ngài đã đi lại với con người.
We are through.
Chúng tôi xong.
TEXT OF READING 364-9
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-9
This psychic reading given by Edgar Cayce at his home in Pinewood on Lake Drive, Va. Beach, Va., this 28th day of April, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc ngoại cảm này do Edgar Cayce thực hiện tại tư gia của Ông ở Pinewood trên Lake Drive, Va. Beach, Va., ngày 28 tháng Tư năm 1932, theo yêu cầu của những người hiện diện.
PRESENT
CÓ MẶT
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, H.L. and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người dẫn; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Mildred Davis, H.L. và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 10:45 A. M. Eastern Standard Time.
Thời gian tiến hành 10:45 sáng, Giờ Miền Đông.
GC: You will have before you the information given through this channel on the Lost Continent of Atlantis. You will please answer the questions which I will ask regarding this:
GC: Ông sẽ có trước mặt mình thông tin được ban qua kênh này về Lục Địa Thất Lạc Atlantis. Xin vui lòng trả lời những câu hỏi tôi sẽ nêu liên quan đến điều này:
EC: Yes, we have the information that has been given as respecting the continent Atlantis; also the information that has been given through these channels as respecting same. Ready for questions.
EC: Vâng, chúng tôi có thông tin đã được nêu liên quan đến lục địa Atlantis; cũng như thông tin đã được ban qua các kênh này liên quan đến điều đó. Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) In what country, and in connection with what religion or philosophy, did Jesus live as Ur? [As indicated in 364-7, Par. 8-A.]
(Q) Ở quốc gia nào, và trong mối liên hệ với tôn giáo hay triết lý nào, Jesus sống như Ur? [Như chỉ ra trong 364-7, Đ. 8-A.]
(A) Ur was rather a land, a place, a city—and the thought, or intent, or the call was from Ur. Ur, then, as presented or represented in the experience of Jesus, as one that impelled or guided those thoughts in that period, or experience.
(A) Ur đúng hơn là một miền, một nơi, một thành—và tư tưởng, hay ý hướng, hay lời kêu gọi xuất phát từ Ur. Vậy Ur, như được trình bày hay đại diện trong kinh nghiệm của Jesus, là điều đã thúc đẩy hay dẫn dắt những tư tưởng trong thời kỳ, hay kinh nghiệm ấy.
(Q) What part did Jesus play in any of His reincarnations in the development of the basic teachings of the following religions and philosophies? First, Buddhism:
(Q) Jesus đã đóng vai trò gì trong bất kỳ lần tái lâm nào của Ngài đối với sự phát triển các giáo huấn căn bản của những tôn giáo và triết lý sau đây? Trước hết, Phật giáo:
(A) This is just one.
(A) Đây chỉ là một.
(Q) Mohammedanism, Confucianism, Shintoism, Brahmanism, Platoism, Judaism.
(Q) Hồi giáo, Nho giáo, Thần đạo, Bà-la-môn giáo, Chủ nghĩa Plato, Do Thái giáo.
(A) As has been indicated, the entity—as an entity—influenced either directly or indirectly all those forms of philosophy or religious thought that taught God was One.
(A) Như đã chỉ ra, thực thể—như một thực thể—đã ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến tất cả những hình thái tư tưởng triết học hay tôn giáo dạy rằng Thượng đế là Một.
In the first, as one that associated with—in the meditation or spirit of—that one guiding same, and those things that have been added to are much in the same manner that was added to in Judaism. Whether in Buddhism, Mohammedanism, Confucianism, Platoism, or what—these have been added to much from that as was given by Jesus in His walk in Galilee and Judea. In all of these, then, there is that same impelling spirit. What individuals have done, do do, to the principles or the spirit of same—in turning this aside to meet their own immediate needs in material planes, or places has made for that as becomes an outstanding thing, as a moralist or the head of any independent religious force or power; for, as has been given, “Know, O Israel, the Lord thy God is One!” whether this is directing one of the Confucius’ thought, Brahman thought, Buddha thought, Mohammedan thought; these are as teachers or representatives, or to make more of the distinct change—as was in that as given by the apostle to the gentiles: “I hear there are divisions among you. Some say I am Paul, another I am Apollos, another I am of Caiaphas. Paul may minister, Apollos may have watered, but it’s God that gives the increase!” The Spirit of the Creative Force, and as such the Son represented in the spirit in that as was made manifest in the earth. Not as only one, but the only one; for, as He gave, “He that climbs up any other way is a thief and a robber.” As the Spirit of the Master, the Spirit of the Son, was manifest—as was given—to each in their respective sphere. As it is today. As it was of yore. God calls on man everywhere to seek His face, through that channel that may be blessed by the Spirit of the Son—in whatever sphere this may take its form. Because there are contentions, because there is the lack of the giving and taking as to others’ thought, does not change God’s attitude one whit; neither does it make one above another; for, as has been given, there is only one—the others are as those acting in the capacity of the thought that was given to them through that same power, that “In the last days has He spoken unto us through the Son, as one born out of due season.” We find the same contentions arising in that called in the present denominationalism, and each one crying, “Lo, here is Christ—Lo, this is the manner of approach—Lo, unless ye do this or that ye have no part in Him.” “He that loves me will keep my commandments.” What are the commandments? “Thou shalt have no other God before me”, and “Love thy neighbor as thyself.” In this is builded the whole law and gospel of every age that has said, “There is one God!”
Trong trường hợp thứ nhất, như một đấng đồng hành—trong tham thiền hay trong thần khí—với đấng đang dẫn dắt điều đó, và những điều đã được thêm vào là theo cách rất giống với những điều đã được thêm vào trong Do Thái giáo. Dù trong Phật giáo, Hồi giáo, Nho giáo, Chủ nghĩa Plato, hay gì—những điều này đã được thêm nhiều từ điều được Jesus ban trong cuộc hành đạo của Ngài ở Galilee và Judea. Trong tất cả những điều này, có cùng một Thần lực thúc đẩy. Điều các cá nhân đã làm, đang làm, đối với các nguyên tắc hay Thần của điều ấy—khi xoay nó đi để đáp ứng các nhu cầu trước mắt của riêng họ trong cõi vật chất, hay nơi chốn—đã làm nên điều trở thành nổi trội, như một nhà luân lý hay người đứng đầu một lực lượng hay quyền năng tôn giáo độc lập; vì, như đã nêu, “Hỡi Israel, hãy biết, Chúa—Đức Chúa Trời ngươi—là Một!” dù điều này đang dẫn đạo một tư tưởng của Khổng giáo, của Bà-la-môn, của Phật, của Mohammed; những vị này là các thầy hay người đại diện, hoặc để làm rõ hơn sự đổi thay đặc thù—như trong điều được vị sứ đồ cho dân ngoại nêu: “Ta nghe rằng có sự chia rẽ giữa anh em. Kẻ thì nói ta thuộc về Phao-lô, kẻ khác ta thuộc về A-pollos, kẻ khác nữa ta thuộc về Cai-pha. Phao-lô có thể đã gây dựng, A-pollos có thể đã tưới, nhưng chính Thượng đế ban cho sự tăng trưởng!” Thần của Lực Sáng Tạo, và như vậy Con đã đại diện trong Thần, trong điều đã được biểu lộ nơi trần. Không phải như chỉ là một, mà là Đấng duy nhất; vì, như Ngài đã nêu, “Kẻ nào trèo lên bằng đường nào khác là trộm và cướp.” Như Thần của Thầy, Thần của Con, đã biểu lộ—như đã nêu—với từng người trong phạm vi riêng của họ. Như ngày nay vẫn vậy. Như thuở xưa. Thượng đế kêu gọi con người khắp nơi tìm mặt Ngài, qua kênh có thể được Thần của Con chúc phước—dù trong bất kỳ cõi nào điều này mang hình thái của nó. Bởi vì có tranh chấp, bởi vì thiếu sự cho và nhận đối với tư tưởng của kẻ khác, điều đó không làm thay đổi thái độ của Thượng đế dù chỉ một chút; cũng chẳng đặt ai trên ai; vì, như đã nêu, chỉ có một—các vị khác như những người hành động trong tư cách của tư tưởng đã được ban cho họ qua cùng quyền năng ấy, rằng “Trong những ngày sau rốt Ngài đã phán cùng chúng ta qua Con, như một người sinh ra không đúng mùa.” Ta thấy cùng những tranh chấp nổi lên trong điều hiện nay gọi là phái hệ, và từng phái kêu, “Kìa, đây là Đấng Christ—Kìa, đây là lối tiếp cận—Kìa, nếu các ngươi không làm điều này hay điều kia thì các ngươi không có phần trong Ngài.” “Ai yêu Ta thì giữ các điều răn của Ta.” Các điều răn là gì? “Ngươi chớ có thần nào khác trước mặt Ta”, và “Hãy yêu người lân cận như chính mình.” Trên điều này mà toàn bộ luật pháp và phúc âm của mọi thời được xây dựng, thời nào cũng nói, “Chỉ có một Thượng đế!”
(Q) What name was borne by Jesus in His reincarnations in France, England, America?
(Q) Tên nào được Jesus mang trong những lần tái lâm của Ngài ở Pháp, Anh, Mỹ?
(A) Rather these have been as the Spirit of the Christ, or the Master walked among men, than incarnated in these different countries; for whether among the priest, as it were, in France—or among the lowly monk in England, or the warrior bold in America, the spirit that “God is one! Prefer thy neighbor, thy brother, before thyself!” These, as we find, took possession of—or rather labored with, until their own personalities were laid aside in individuals. Do thou likewise, would thou have Him walk with thee. “Not my will, O Lord, but thine, be done in me—this day, now!”
(A) Đúng hơn những lần này là khi Thần của Đấng Christ, hay của Thầy, đi lại giữa loài người, hơn là nhập thể ở những quốc gia khác nhau; vì dù là giữa giới tư tế, như ở Pháp—hay giữa bậc tăng bình dị ở Anh, hay chiến sĩ can trường ở Mỹ, thì Thần rằng “Thượng đế là Một! Hãy ưu tiên cho người lân cận, cho huynh đệ, trước chính mình!” Những điều này, như ta thấy, đã chiếm hữu—hay đúng hơn đã cùng lao tác—cho tới khi các phàm ngã của họ được đặt qua một bên trong từng cá nhân. Ngươi cũng hãy làm như vậy, nếu muốn Ngài bước đi cùng ngươi. “Không phải ý con, lạy Chúa, mà là ý Ngài, được nên trong con—ngày nay, ngay bây giờ!”
(Q) Was Atlantis one of the five points at which man appeared in the beginning, being the home of the red race?
(Q) Atlantis có phải là một trong năm điểm nơi con người xuất hiện thuở ban đầu, là quê hương của giống đỏ không?
(A) One of the five points. As has been given, in what is known as Gobi, India, in Carpathia [?], or in that known as the Andes, and that known as in the western plain of what is now called America—the five places. In their presentation, as we find, these—in the five places, as man (Let’s get the difference in that as first appeared in what is known as Atlantis, and that as man appearing from those projections in the five places—and, as has been given, from their environ took on that as became necessary for the meeting of those varying conditions under which their individualities and personalities began to put on form)—one in the white, another in the brown, another in the black, another in the red. These, as we find, taking that form—Would snow be the place for the black? or the sun the place for the white? or the desert and the hills for either the white or black? as were partakers of those things that brought about those variations in that which enters, or becomes as the outer presentation, or the skin, or the pigment that is presented in same. [See 5/2/63 in 364-9, Par. R1.]
(A) Một trong năm điểm. Như đã nêu, ở nơi được biết là Gobi, Ấn Độ, ở Carpathia [?], hoặc nơi được gọi là dãy Andes, và nơi được biết là đồng bằng phía tây của vùng hiện nay gọi là châu Mỹ — năm địa điểm. Trong sự xuất hiện của họ, như chúng ta thấy, những điều này — tại năm nơi, trong tư cách con người (Chúng ta hãy phân biệt giữa cái đã xuất hiện trước hết ở nơi gọi là Atlantis, và cái là con người xuất hiện từ những sự phóng chiếu ở năm nơi ấy — và, như đã nêu, từ môi trường của họ họ khoác lấy những gì trở nên cần thiết để thích nghi với các điều kiện khác nhau dưới đó cá tính và phàm ngã của họ bắt đầu mặc lấy hình tướng) — người thì trắng, kẻ thì nâu, kẻ thì đen, kẻ thì đỏ. Những nhóm này, như chúng ta thấy, đã mang lấy hình tướng ấy — Tuyết có phải là nơi dành cho người da đen chăng? hay mặt trời là nơi dành cho người da trắng? hay sa mạc và đồi núi là nơi dành cho cả người trắng lẫn người đen? — vì họ đã dự phần vào những yếu tố tạo nên các dị biệt trong cái đi vào, hay trở thành biểu hiện bên ngoài, tức là da, hay sắc tố được phơi bày nơi đó. [See 5/2/63 in 364-9, Par. R1.]
(Q) The center or beginning of these projections was in Atlantis?
(Q) Trung tâm hay khởi điểm của những sự phóng chiếu này là ở Atlantis?
(A) Was in Atlantis. Hence we have, as from the second incarnation there—or the story as is given in Judaism doesn’t vary a great deal from that of the Chaldean; neither does it vary at all from that that will be discovered in Yucatan; nor does it vary a great deal from that as from the older ones of the Indian (East Indian, of course—as it is from the present).
(A) Ở Atlantis. Do đó chúng ta có, như từ lần lâm phàm thứ hai ở đó — hay câu chuyện được truyền trong Do Thái giáo không khác nhiều lắm so với của người Chaldea; cũng không khác chút nào với điều sẽ được phát hiện ở Yucatan; và cũng không sai biệt nhiều so với chuyện của những nhóm cổ xưa của người Ấn (Ấn Độ giáo, dĩ nhiên — như so với hiện nay).
(Q) What was the greatest period of the development of the occult sciences in Atlantis and how did the people use them?
(Q) Thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của các khoa học huyền bí ở Atlantis là khi nào và dân chúng đã sử dụng chúng ra sao?
(A) This, as we will find, will require a great deal of an explanation even to bring to the consciousness of an individual, in the present day way of thinking, as to what is meant by occult or mystic science; for the natural trend—or the natural condition of individuals, or entities—was the use of these; as it is natural to eat!
(A) Điều này, như chúng ta sẽ thấy, đòi hỏi phải giải thích khá dài mới đưa được vào tâm thức của một cá nhân theo cách nghĩ hiện đại về điều được gọi là khoa học huyền bí hay khoa học thông linh; bởi khuynh hướng tự nhiên — hay tình trạng tự nhiên của các cá nhân, hay các thực thể — là sử dụng các điều ấy; như chuyện ăn uống vốn là tự nhiên vậy!
We are through for the present.
Chúng ta tạm dừng tại đây.
TEXT OF READING 364-10
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-10
This psychic reading given by Edgar Cayce at his home in Pinewood on Lake Drive, Virginia Beach, Va., this 28th day of April, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà Ông ở Pinewood trên Lake Drive, Virginia Beach, Va., ngày 28 tháng Tư năm 1932, theo yêu cầu của những người hiện diện.
PRESENT
HIỆN DIỆN
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, H.L. and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, điều khiển; Gladys Davis, tốc ký. Mildred Davis, H.L. và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 3:00 P. M.
Thời gian thực hiện: 3:00 chiều.
GC: You will have before you the information given through this channel on the lost continent of Atlantis. You will please continue with this information, and answer the questions which I will ask regarding same.
GC: Trước mặt Ông sẽ có thông tin đã được cung cấp qua kênh này về lục địa đã mất Atlantis. Xin vui lòng tiếp tục với thông tin này, và trả lời các câu hỏi tôi sẽ nêu liên quan đến cùng đề tài.
EC: Yes. In understanding, then, in the present terminology, occult science, or psychic science—as seen, this was the natural or nature’s activity in that experience, and not termed a science—any more than would be the desire for food by a new born babe. Rather the natural consequence. This explanation may of necessity take on some forms that may possibly be confusing at times, but illustrations may be made through the various types of occult science, or psychic manifestations, that may clarify for the student something of the various types of psychic manifestations in the present, as well as that that was natural in this period.
EC: Vâng. Vậy, trong cách nói hiện nay, khoa học huyền bí, hay khoa học thông linh — như thấy, đó là hoạt động tự nhiên hay hoạt động của thiên nhiên trong kinh nghiệm ấy, và không được gọi là khoa học — cũng như ước muốn được ăn của một hài nhi vậy. Đúng hơn là hệ quả tự nhiên. Lời giải thích này tất yếu có thể mang những hình thức đôi lúc gây bối rối, nhưng có thể đưa ra minh họa qua các dạng khác nhau của khoa học huyền bí, hay các hiện lộ thông linh, để làm sáng tỏ cho đạo sinh đôi điều về những dạng hiện lộ thông linh khác nhau trong hiện tại, cũng như cái vốn tự nhiên trong thời kỳ ấy.
There is, as has been oft given, quite a difference—and much differentiation should be made—in mysticism and psychic, or occult science as termed today.
Có — như đã thường nói — một khác biệt rõ ràng, và cần phân biệt nhiều, giữa thần bí học và lĩnh vực thông linh, hay cái gọi là khoa học huyền bí của ngày nay.
From that which has been given, it is seen that individuals in the beginning were more of thought forms than individual entities with personalities as seen in the present, and their projections into the realms of fields of thought that pertain to a developing or evolving world of matter, with the varied presentations about same, of the expressions or attributes in the various things about the entity or individual, or body, through which such science—as termed now, or such phenomena as would be termed—became manifest. Hence we find occult or psychic science, as would be called at the present, was rather the natural state of man in the beginning. Very much as (in illustration) when a baby, or babe, is born into the world and its appetite is first satisfied, and it lies sleeping. Of what is its dreams? That it expects to be, or that it has been? Of what are thoughts? That which is to be, or that which has been, or that which is? Now remember we are speaking—these were thought forms, and we are finding again the illustrations of same!
Từ điều đã được nêu, thấy rằng các cá nhân thuở ban đầu thiên về các hình tư tưởng hơn là những thực thể cá biệt có phàm ngã như thấy trong hiện tại; và sự phóng chiếu của họ vào những cảnh giới, những cánh đồng tư tưởng thuộc về một thế giới vật chất đang phát triển hay tiến hóa, với những trình hiện đa dạng quanh đó, của các biểu hiện hay thuộc tính trong các sự vật khác nhau quanh thực thể hay cá nhân, hay thân, qua đó loại khoa học — như nay gọi, hay những hiện tượng như sẽ gọi — đã hiện lộ. Vì vậy chúng ta thấy khoa học huyền bí hay thông linh, như nay gọi, vốn là trạng thái tự nhiên của con người thuở ban đầu. Rất giống như (để minh họa) khi một em bé chào đời, cơn thèm ăn đầu tiên được thỏa mãn, và nó nằm ngủ. Nó mơ gì? Về cái nó kỳ vọng sẽ là, hay cái nó đã là? Nó nghĩ điều gì? Về cái sẽ là, hay cái đã là, hay cái đang là? Nay hãy nhớ chúng ta đang nói — đó là những hình tư tưởng, và chúng ta lại đang nêu minh họa cho chính điều ấy!
When the mental body (Now revert back to what you are calling science)—when the mental body, or mind, has had training, or has gone through a course of operations in certain directions, such individuals are called so-and-so minded; as one of an inventive turn, and trained; one of a statistician turn, and trained; one of a theologian turn, and trained; one of philosophical turn, and trained. Of what does the mind build? We have turned, then, to that that has become very material, for the mind constantly trained makes for itself mental pictures, or makes for that as is reasoned with from its own present dimensional viewpoints—but the babe, from whence its reasoning? from whence its dream? From that that has been taken in, or that that has been its experience from whence it came? Oft has it been said, and rightly, with a babe’s smile ‘Dreaming of angels’, and close in touch with them—but what has produced that dream? The contact with that upon which it has fed! Don’t forget our premise now from which we are reasoning! and we will find that we will have the premise from which those individuals, or the entities, reasoned within the beginning in this land. (We are speaking of Atlanteans, when they became as thought forces.) From whence did they reason? From the Creative Forces from which they had received their impetus, but acted upon by the thought forms as were in material forms about them, and given that power (will) to be one with that from what it sprang or was given its impetus, or force, yet with the ability to use that in the way that seemed, or seemeth, good or well, or pleasing, unto itself. Hence we find in this particular moulding or mouldive stage, that in which there was the greater development of, and use of, that as is termed or called psychic and occult forces, or science—in the present terminology, or age.
Khi thể trí (Giờ quay lại điều các bạn đang gọi là khoa học) — khi thể trí, hay trí, đã được rèn luyện, hay đã đi qua một quá trình vận hành theo những hướng nhất định, thì người ta gọi những cá nhân như thế là có óc như thế này như thế kia; như người có khiếu phát minh và được huấn luyện; người có thiên hướng thống kê và được huấn luyện; người có thiên hướng thần học và được huấn luyện; người có thiên hướng triết học và được huấn luyện. Thể trí xây dựng bằng cái gì? Bấy giờ chúng ta đã chuyển sang điều đã trở nên rất vật chất, vì thể trí được rèn luyện liên tục tự tạo cho mình các bức tranh tâm trí, hay làm ra cái để suy lý từ chính các điểm nhìn kích thước hiện tại của nó — còn em bé, lý lẽ của nó từ đâu? giấc mơ của nó từ đâu? Từ cái đã thu nạp, hay từ điều đã là kinh nghiệm của nó nơi chốn xuất phát? Người ta đã thường nói, và nói đúng, về nụ cười của hài nhi: “Mơ về các thiên thần”, và kề cận với các vị ấy — nhưng điều gì tạo nên giấc mơ ấy? Sự tiếp xúc với cái mà nó đã nuôi dưỡng! Đừng quên tiên đề từ đó chúng ta đang suy lý! và chúng ta sẽ thấy mình có tiên đề từ đó những cá nhân hay những thực thể ấy đã suy lý thuở ban đầu trong miền đất này. (Chúng ta đang nói về người Atlante, khi họ thành các lực tư tưởng.) Họ đã suy lý từ đâu? Từ Các Mãnh Lực Sáng Tạo — từ đó họ đã nhận thúc lực của mình — nhưng bị tác động bởi những hình tư tưởng hiện hữu trong các hình tướng vật chất quanh họ, và được trao quyền năng (ý chí) để nên một với cái mà từ đó họ phát sinh hay được trao thúc lực hay mãnh lực, tuy vẫn có khả năng sử dụng điều ấy theo cách dường như, hay xem ra, là tốt, là hay, là vừa lòng chính mình. Do đó chúng ta thấy, trong giai đoạn nắn khuôn đặc thù này, nơi có sự phát triển lớn hơn và việc sử dụng nhiều hơn cái được gọi là lực thông linh và huyền bí, hay “khoa học” — theo thuật ngữ hay thời đại hiện nay.
Illustrating, then, that as to how this was used by those entities, those beings, in the formative stage of their experience or sojourn among that as had been created in all of its splendor to supply every want or desire that might be called forth by that being, with all of its attributes physical, mental and spiritual at hand; for, as has been given, even unto the four hundred thousandth generation from the first creation was it prepared for man’s indwelling. As we today (turn to today), we find there the developments of those resources. How long have they remained? Since the beginning! How long has man been able to use them for his undoing, or his pleasure, or for his regeneration? Since the knowledge of some source has awakened within its psychic force, or source, of the apparatus, or the form that it takes, either in a physical or mental (for remember, Mind is the Builder—and it moves along those channels through which, and by which, it may bring into existence in whatever dimension or sphere from which it is reasoning, or reasoning toward—see)—and as these may be illustrated in the present:
Minh họa, vậy thì, cách điều này được dùng bởi các thực thể, các sinh linh ấy, trong giai đoạn hình thành của kinh nghiệm hay cuộc lưu trú của họ giữa cái vốn đã được tạo tác trong tất cả sự huy hoàng để cung ứng mọi nhu cầu hay ước muốn có thể được khơi dậy bởi sinh linh ấy, với mọi thuộc tính vật chất, trí tuệ và tinh thần luôn sẵn có; vì, như đã nêu, thậm chí đến thế hệ thứ bốn trăm ngàn kể từ cuộc tạo dựng đầu tiên, nó đã được chuẩn bị cho việc con người cư ngụ. Như ngày nay (quay về hôm nay), chúng ta thấy các tài nguyên ấy được khai triển ở đó. Chúng tồn tại bao lâu? Từ thuở khởi đầu! Con người có thể sử dụng chúng cho sự hủy hoại mình, hay cho khoái lạc của mình, hay cho sự tái sinh của mình từ khi nào? Từ khi tri thức về một cội nguồn nào đó được đánh thức trong lực thông linh, hay cội nguồn thông linh, của khí cụ, hay hình tướng mà nó mang lấy, hoặc là vật chất hoặc là tinh thần (vì hãy nhớ, Thể trí là Đấng Kiến tạo — và nó vận hành dọc theo những kênh, qua đó và bằng đó, nó có thể đưa vào hiện hữu trong bất kỳ chiều kích hay cảnh giới nào từ đó nó đang suy lý, hay hướng đến — xem) — và như có thể minh họa trong hiện tại:
When there is a manifestation of a psychic force, or an occult action, or phenomena, or activity in, upon, of or for, an individual, there is then the rolling back, as it were, or a portion of the physical consciousness—or that mental trained individual consciousness—has been rolled aside, or rolled back, and there is then a visioning—To what? That as from the beginning, a projection of that form that assumed its position or condition in the earth as from the beginning, and with those so endowed with that as may be called an insight into psychic sources there may be visioned about a body its astral (if chosen to be termed), rather its thought body, as is projected from same in such a state; especially so when there is the induction, or the inducing of, an unconsciousness of the normal brain, or normal mental body. Submerged—into what? Into the unconscious, or subconscious. Sub, in this instance, meaning below—not above normal; below—subjected to the higher consciousness, or to the higher thought, that has been builded—just as sure as has a physical body been builded, from what? That as has been given from its first nucleus as passed through in its experience. Then there may be visioned by such a body, as may be called with the second sight, or with a vision, that accompanying thought body of such an one, manifesting in much the way and manner as individuals in the Atlantean period of psychic and occult development brought about in their experience. Through such projections there came about that first necessity of the division of the body, to conform to those necessities of that as seen in its own mental vision as builded (mental now—Don’t confuse these terms, or else you will become very confused in what is being given!).
Khi có một hiện lộ của một mãnh lực thông linh, hay một tác động, hiện tượng, hay hoạt động huyền bí trong, trên, của hay vì một cá nhân, thì khi ấy có sự cuộn ngược lại, như thể, hoặc một phần của tâm thức thể xác — hay tâm thức cá nhân đã được rèn luyện về mặt trí — đã bị đẩy sang một bên, hay cuộn lại, và rồi xuất hiện thị kiến — Về cái gì? Về điều như từ thuở ban đầu: một phóng chiếu của hình thể vốn nắm lấy vị thế hay tình trạng của nó trên trần gian như từ khởi thủy; và nơi những ai được phú cho cái có thể gọi là cái nhìn thấu vào các cội nguồn thông linh, có thể “thấy” quanh một thân thể cái thể cảm dục (nếu muốn gọi như thế), đúng hơn là thể tư tưởng của nó, như được phóng chiếu từ chính thân trong trạng thái như vậy; đặc biệt khi có sự cảm ứng, hay việc gây nên, một tình trạng vô thức của bộ não bình thường, hay của thể trí bình thường. Bị nhận chìm — vào đâu? Vào vô thức, hay tiềm thức. “Sub”, trong ngữ cảnh này, nghĩa là bên dưới — không phải trên mức bình thường; bên dưới — lệ thuộc vào tâm thức cao hơn, hay tư tưởng cao hơn, vốn đã được xây dựng — chắc chắn như thân thể vật chất đã được xây dựng — từ đâu? Từ cái đã được trao từ hạch nhân đầu tiên của nó khi đi qua kinh nghiệm. Bấy giờ, bởi một thân như thế có thể “thấy”, với cái có thể gọi là nhãn thứ hai, hay với một thị kiến, cái thể tư tưởng đi kèm của người như thế, hiện lộ theo cách thức và cung cách rất giống như cách các cá nhân trong thời kỳ phát triển thông linh và huyền bí của người Atlante đã đưa vào kinh nghiệm của họ. Qua những phóng chiếu như vậy, nảy sinh cái nhu cầu đầu tiên là sự phân chia thân thể, để tương ứng với những nhu cầu của điều được thấy trong chính thị kiến tâm trí của nó như đã được xây đắp (giờ là tâm trí — Đừng lẫn lộn các thuật ngữ này, nếu không các bạn sẽ rất rối với điều đang được trình bày!).
The mental vision by its action upon what body is being builded? On the mental body of the individual in a material world, out of Spirit, out of the ability to have all the attributes of the spiritual or unseen forces—but materialized forces, as is necessary from the mental body in a material world mentally trained to, or in, certain directions, or given directions, or following the natural bent of its threefold or threeply body, as is seen in every individual or every entity. As these projected themselves, then we find these developments were in this portion of the development in the Atlantean period. How were these used? In much as were from the beginning. Remember there was ever the instruction to those peoples that were to hold to that that would bring for the spiritual forces, rather than the abuses of the abilities—as those with familiar spirits, as those that spoke to or partook of the divinations of those that had passed from the earth’s plane, or those that partook of the animal magnetism—that came from the universal consciousness of animal matter as passed into its experience, in its interchange through those periods of integration and disintegration—and the spirit forces possessing those that would lay themselves open to such conditions, for these are as real as physical bodies if the attunements of the entity are such that it may vision them! and they are about you always, sure! These, then, are entities—sure; whether animal or those endowed with the soul—until they pass through those changes—as there ever has been, see? Also there are those that ever make for those channels in the psychic and occult (we are speaking of, through which man—as it reached that stage, or that position that it became farther and farther from its natural sources, through the same character of channel may it communicate with that from which it is a portion of, or the Creative Forces), and hence the terminology arose as ‘Good Spirits’ and ‘Bad Spirits’; for there are those that partake of the earth, or of the carnal forces, rather than of those forces that are of the spiritual or creative. Those that are destruction are of the Earth. Those that are constructive, then, are the good—or the divine and the devilish, bringing for those developments in their various phases. Hence the greater development of that called occult, or psychic forces, during the Atlantean period—and the use of same, and the abuse of same—was during its first thousand years, as we would call light years; not the light of the star, but the sun goes down and the sun goes down—years. That brought about those cycles, or those changes. Hence we have that which has been given through many of the sources of information, or the channels for individuals—and in those, these, the entity—as a voice upon waters, or as the wind that moved among the reeds and harkened, or again as when the morning stars sang together and the sons of God beheld the coming of man into his own, through the various realms as were brought by the magnifying of, or the deteriorating of, the use of those forces and powers as manifested themselves in a material area, or those that partook of carnal to the gratification of that that brought about its continual hardening and less ability to harken back through that from which it came, and partaking more and more of that upon which it became an eater of; or, as is seen even in the material forces in the present: We find those that partake of certain elements, unless these become very well balanced with all sources—Of what? That of which there were the first causes, or nature, or natural, or God’s sources or forces are. Hence elements—not rudiments; elements—as are termed in the terminology of the student of the anatomical, physiological, psychological forces within a body—germs! Sure they are germs! for each are as atoms of power—From what? That source from which it has drawn its essence upon what it feeds. Is one feeding, then, its soul? or is one feeding its body? or is one feeding that interbetween (its mental body) to its own undoing, or to those foolishnesses of the simple things of life? Being able, then, to partake of the physical but not a part of same—but more and more feeding upon those sources from which it emanates itself, or of the spiritual life, so that the physical body, the mental body, are attuned to its soul forces, or its soul source, its Creator, its Maker, in such a way and manner, as it develops.
Thị kiến tâm trí, bằng tác động của nó, đang xây đắp lên thân nào? Trên thể trí của cá nhân trong một thế giới vật chất, từ Thần Linh, từ khả năng có mọi thuộc tính của các mãnh lực tinh thần hay vô hình — nhưng là các mãnh lực đã được hiện hình, như cần thiết từ thể trí trong một thế giới vật chất được rèn luyện theo, hay trong, những hướng nhất định, hay được chỉ hướng, hay theo khuynh hướng tự nhiên của thân thể tam phân của nó, như thấy nơi mọi cá nhân hay mọi thực thể. Khi những điều này tự phóng chiếu chính mình, chúng ta thấy những phát triển ấy là trong phần này của tiến trình phát triển vào thời Atlante. Chúng đã được sử dụng thế nào? Phần nhiều như thuở ban đầu. Hãy nhớ luôn có điều giáo huấn cho những dân chúng phải bám giữ điều sẽ đem các mãnh lực tinh thần đến, hơn là lạm dụng các khả năng — như những kẻ có “linh quen”, như những kẻ nói với hay dự phần vào việc chiêm đoán những người đã rời cõi trần, hay những kẻ dự phần vào từ điện động vật — đến từ tâm thức phổ quát của vật chất động vật khi đi vào kinh nghiệm của nó, trong sự trao đổi qua những thời kỳ tích hợp và phân rã ấy — và các mãnh lực tinh thần chiếm hữu những ai phơi mở mình cho các điều kiện như thế, vì những điều này có thật như các thân thể vật chất nếu sự điều hòa của thực thể là sao cho nó có thể “thấy” chúng! và chúng luôn ở quanh các bạn, chắc chắn vậy! Vậy, chúng là các thực thể — dĩ nhiên; bất kể là động vật hay những kẻ được phú linh hồn — cho đến khi chúng đi qua những chuyển đổi — như vẫn luôn có, thấy chứ? Đồng thời có những kẻ luôn mở ra các kênh trong phương diện thông linh và huyền bí (chúng ta đang nói, qua đó con người — khi đạt đến giai đoạn, hay vị trí rằng nó trở nên xa dần khỏi các cội nguồn tự nhiên — qua chính loại kênh ấy nó có thể giao thông với cái mà nó là một phần, tức là Các Mãnh Lực Sáng Tạo), và do đó nảy sinh thuật ngữ “Thần Lành” và “Thần Dữ”; vì có những kẻ dự phần vào trần gian, hay các mãnh lực xác thịt, hơn là các mãnh lực thuộc tinh thần hay sáng tạo. Những kẻ mang tính hủy diệt là thuộc Đất. Những kẻ mang tính kiến tạo, vậy, là tốt — hay thiêng liêng, còn phần quỷ quái thì đưa đến những phát triển trong các phương diện khác nhau của chúng. Vì vậy, sự phát triển lớn hơn của cái gọi là các mãnh lực huyền bí hay thông linh trong thời Atlante — việc dùng và lạm dụng chúng — diễn ra trong ngàn năm đầu tiên, theo cách chúng ta gọi là “năm ánh sáng”; không phải là ánh sáng của vì sao, mà là những “năm” mặt trời lặn rồi mặt trời lặn. Điều đó đưa đến những chu kỳ, hay những biến chuyển. Vì thế, chúng ta có điều đã được nêu qua nhiều nguồn thông tin, hay các kênh dành cho các cá nhân — và nơi đó, những điều này, thực thể — như một tiếng nói trên làn nước, hay như cơn gió lướt qua các khóm sậy và lắng nghe, hay lại như khi các sao mai đồng ca và Các Con của Thượng đế chiêm kiến con người đến trong phần vụ riêng của y, qua các cảnh giới khác nhau, do việc phóng đại, hay sự suy đồi, của việc sử dụng những năng lực và quyền năng vốn hiện lộ trong một vùng vật chất, hoặc những kẻ dự phần vào xác thịt để thỏa mãn cái đưa đến sự cứng đặc liên tục của nó và khả năng giảm dần trong việc lắng nghe trở lại qua cái mà từ đó nó đến, và ngày càng dự phần nhiều hơn vào cái mà nó trở thành kẻ ăn của; hay, như thấy ngay cả trong các mãnh lực vật chất hiện nay: Chúng ta thấy những kẻ dự phần vào những yếu tố nhất định, nếu không được quân bình rất tốt bằng mọi nguồn — Bằng cái gì? Bằng cái thuộc về các nguyên nhân đầu tiên, hay bản tánh, hay các cội nguồn hay mãnh lực của Thượng đế. Do vậy, “các yếu tố” — không phải “thô sơ”; “các yếu tố” — như thuật ngữ của môn sinh nghiên cứu các mãnh lực giải phẫu, sinh lý, tâm lý trong một thân thể — “các mầm”! Đúng là mầm! vì mỗi cái đều như nguyên tử quyền năng — Từ đâu? Từ cội nguồn mà nó đã rút tinh túy của mình, thứ nó lấy làm dưỡng phần. Vậy một người đang nuôi dưỡng linh hồn mình chăng? hay nuôi thân xác? hay nuôi cái ở-khoảng-giữa (tức thể trí của nó) để tự hủy hoại mình, hay để chạy theo những phù phiếm của những điều đơn sơ của đời sống? Nhờ vậy có thể dự phần vào cái vật chất mà không trở thành một phần của nó — nhưng ngày càng được nuôi dưỡng bởi các cội nguồn mà từ đó chính nó xuất lộ, tức là sự sống tinh thần — để thân xác, thể trí, được điều hòa với các mãnh lực linh hồn của nó, hay cội nguồn linh hồn của nó, Đấng Sáng Tạo, Đấng Tác Thành của nó, theo một cách thế khi nó phát triển.
What, then, is psychic force? What is occult science? A developing of the abilities within each individual that has not lost its sonship, or its relation to its Creator, to live upon—or demonstrate more and more through phenomena of whatever nature from which it takes its source, for that individual activity of that entity itself through the stages of development through which it has passed, and giving of its life source that there may be brought into being that which gives more knowledge of the source from which the entity essence (Isn’t a good word, but signifies that intended to be expressed; not elements, not rudiments, but essence of the entity itself, its spirit and soul—its spirit being its portion of the Creator, its soul that of its entity itself, making itself individual, separate entity, that may be one with the Creative Force from which it comes—or which it is! of which it is made up, in its atomic forces, or in its very essence itself!) emanates; and the more this may be manifest, the greater becomes the occult force.
Vậy, mãnh lực thông linh là gì? Khoa học huyền bí là gì? Là sự khai triển các khả năng bên trong mỗi cá nhân, người chưa đánh mất địa vị làm con, hay mối tương thuộc với Đấng Tạo Hóa, để sống — hay biểu hiện ngày càng nhiều hơn qua các hiện tượng, bất luận thuộc bản chất nào mà từ đó nó rút nguồn — cho hoạt động cá nhân của chính thực thể ấy xuyên qua những giai đoạn phát triển mà nó đã đi qua, và hiến tặng nguồn sống của nó để có thể đưa vào hiện hữu cái đem lại tri thức lớn hơn về cội nguồn từ đó tinh túy của thực thể (Chữ này không thật đắc, nhưng diễn đạt điều muốn nói; không phải “yếu tố”, không phải “thô sơ”, mà là “tinh túy” của chính thực thể, linh khí và linh hồn của nó — linh khí là phần của Đấng Tạo Hóa nơi nó, linh hồn là phần của chính thực thể, khiến nó trở thành cá thể, một thực thể riêng biệt, có thể là một với Mãnh Lực Sáng Tạo từ đó nó đến — hay mà nó là! là cái cấu thành nó, trong các mãnh lực nguyên tử của nó, hay trong chính tinh túy của nó!) phát xuất; và càng có thể hiện lộ như thế, mãnh lực huyền bí càng lớn.
To what uses, then, did these people in this particular period give their efforts, and in what directions were they active? As many almost as there were individuals! for, as we find from the records as are made, to some there was given the power to become the sons of God; others were workers in brass, in iron, in silver, in gold; others were made in music, and the instruments of music. These, then, we find in the world today (Today, now—we are reasoning from today). Those that are especially gifted in art—in its various forms; and a real artist (as the world looks at it) isn’t very much fit for anything else! yet it is—What? An expression of its concept of that from which it, that entity, sprang—through the various stages of its evolution (if you choose to call it such) in a material world, or that which it fed its soul or its mental being for its development through its varied experiences in a material world. These, then, are but manifestations (occult forces) in individuals who are called geniuses, or gifted in certain directions.
Vậy, những người này trong thời kỳ đặc thù ấy đã dồn nỗ lực của họ vào việc gì, và họ hoạt động theo những hướng nào? Nhiều gần như số cá nhân! vì, như chúng ta thấy từ các kỷ lục được lập, cho một số thì đã ban quyền năng để trở nên Các Con của Thượng đế; những kẻ khác là thợ làm đồng, sắt, bạc, vàng; những kẻ khác thành tựu trong âm nhạc và khí cụ âm nhạc. Những điều này, bấy giờ, chúng ta thấy trong thế gian hôm nay (Hôm nay, ngay bây giờ — chúng ta đang suy lý từ hôm nay). Những người đặc biệt thiên phú về nghệ thuật — dưới nhiều hình thức; và một nghệ sĩ chân chính (theo cách thế gian nhìn) thì chẳng làm khéo được việc gì khác! nhưng đó là — Cái gì? Là sự biểu đạt quan niệm của họ về cái mà từ đó, chính thực thể ấy, phát sinh — qua những chặng đường khác nhau của sự tiến hóa (nếu muốn gọi thế) trong một thế giới vật chất, hay cái mà họ đã nuôi dưỡng linh hồn hay hữu thể trí của mình, để phát triển qua những kinh nghiệm khác nhau trong một thế giới vật chất. Vậy, đây chỉ là những biểu hiện (các mãnh lực huyền bí) nơi các cá nhân được gọi là thiên tài, hay có thiên bẩm theo những hướng nhất định.
These, then, are the manners in which the entities, those beings, those souls, in the beginning partook of, or developed. Some brought about monstrosities, as those of its (that entity’s) association by its projection with its association with beasts of various characters. Hence those of the Styx, satyr, and the like; those of the sea, or mermaid; those of the unicorn, and those of the various forms—these projections of what? The abilities in the psychic forces (psychic meaning, then, of the mental and the soul—doesn’t necessarily mean the body, until it’s enabled to be brought into being in whatever form it may make its manifestation—which may never be in a material world, or take form in a three-dimensional plane as the earth is; it may remain in a fourth-dimensional—which is an idea! Best definition that ever may be given of fourth-dimension is an idea! Where will it project? Anywhere! Where does it arise from? Who knows! Where will it end? Who can tell! It is all inclusive! It has both length, breadth, height and depth—is without beginning and is without ending! Dependent upon that which it may feed for its sustenance, or it may pass into that much as a thought or an idea. Now this isn’t ideal that’s said! It’s idea! see?)
Đây là những cách mà các thực thể, những sinh linh ấy, các linh hồn ấy, thuở ban đầu dự phần vào, hay phát triển. Một số tạo ra những quái tượng, như bởi (của thực thể ấy) sự kết liên qua phóng chiếu của nó với mối liên kết với các loài thú trong nhiều dạng. Do đó có những kẻ thuộc Styx, những kẻ nửa người nửa thú, và tương tự; những kẻ của biển, hay nàng tiên cá; những kẻ của kỳ lân, và nhiều dạng khác — những phóng chiếu của cái gì? Của các khả năng trong các mãnh lực thông linh (thông linh ở đây có nghĩa là của thể trí và linh hồn — không nhất thiết là của thân thể, cho đến khi nó có thể được đưa vào hiện hữu trong bất kỳ hình thức nào nó có thể biểu hiện — mà có thể chẳng bao giờ ở trong một thế giới vật chất, hay mang hình dạng trong một bình diện ba chiều như địa cầu; nó có thể tồn tại trong bình diện thứ tư — tức là một ý niệm! Định nghĩa hay nhất có thể dành cho chiều thứ tư là “một ý niệm”! Nó phóng chiếu về đâu? Bất kỳ đâu! Nó khởi lên từ đâu? Ai biết! Nó sẽ kết thúc ở đâu? Ai có thể nói! Nó bao gồm tất cả! Nó có cả dài, rộng, cao và sâu — không khởi đầu và không kết thúc! Tùy thuộc vào cái nó dùng làm dưỡng phần, hoặc nó có thể tiêu tan như một tư tưởng hay một ý niệm. Giờ, điều này không phải là “lý tưởng” được nói! Mà là “ý niệm”! thấy chứ?)
In the use of these, then, in this material plane—of these forces—brought about those that made for all manners of the various forms that are used in the material world today. Many of them to a much higher development. As those that sought forms of minerals—and being able to be that the mineral was, hence much more capable—in the psychic or occult force, or power—to classify, or make same in its own classifications. Who classified them? They were from the beginning! They are themselves! They were those necessities as were in the beginning from an all wise Creator! for remember these came, as did that as was to be the keeper of same! The husbandman of the vineyard! Each entity, each individual—today, has its own vineyard to keep, to dress—For who? Its Maker, from whence it came! What is to be the report in thine own life with those abilities, those forces, as may be manifest in self—through its calling upon, through what? How does prayer reach the throne of mercy or grace, or that from which it emanates? From itself! Through that of crucifying, nullifying, the carnal mind and opening the mental in such a manner that the Spirit of truth may flow in its psychic sense, or occult force, into the very being, that you may be one with that from which you came! Be thou faithful unto that committed into thy keeping! Life itself is precious! For why? It is of the Maker itself! That is the beginning! The psychic forces, the attunements, the developments, going to that! As did many in that experience. And Enoch walked with God, and he was not for God took him. As was many of those in those first years, in this land, this experience.
Trong việc sử dụng các mãnh lực này, trên bình diện vật chất — đã đưa đến những cái làm nên mọi dạng khác nhau đang được dùng trong thế giới vật chất ngày nay. Nhiều dạng đã vươn đến mức phát triển cao hơn nhiều. Như những kẻ kiếm tìm các dạng khoáng vật — và có thể “trở thành” điều mà khoáng vật là, nhờ vậy có khả năng hơn nhiều — trong mãnh lực thông linh hay huyền bí, hay quyền năng — để phân loại, hay đặt chúng trong các phân loại riêng. Ai đã phân loại? Chúng vốn như thế từ đầu! Chúng tự thân là chúng! Chúng là những nhu cầu như đã hiện hữu trong thuở ban đầu từ một Đấng Tạo Hóa toàn trí! vì hãy nhớ, chúng xuất hiện cùng với cái sẽ là kẻ giữ gìn của chúng! Người canh vườn nho! Mỗi thực thể, mỗi cá nhân — hôm nay — đều có vườn nho riêng để giữ gìn, chăm sóc — Vì ai? Vì Đấng Tác Thành của mình, từ đó nó đến! Lời tường trình trong đời sống riêng của ngươi sẽ là gì, với những khả năng, những mãnh lực, như có thể hiện lộ nơi tự ngươi — bằng cách kêu cầu qua cái gì? Lời nguyện cầu đến ngai xót thương hay ân sủng, hay cái mà nó phát xuất, bằng cách nào? Từ chính nó! Qua việc đóng đinh, triệt tiêu, cái tâm trí xác thịt và mở ra thể trí theo cách để Thần Linh của chân lý có thể tuôn đổ trong cảm thức thông linh hay mãnh lực huyền bí vào tận hữu thể, để ngươi có thể nên một với cái từ đó ngươi đến! Hãy trung tín với điều đã được trao vào sự gìn giữ của ngươi! Sự sống tự thân là quý báu! Vì sao? Vì nó là của chính Đấng Tác Thành! Đó là khởi đầu! Các mãnh lực thông linh, sự điều hòa, sự phát triển, đều nhằm điều ấy! Như nhiều người đã làm trong kinh nghiệm ấy. Và Enoch đã bước đi với Thượng đế, rồi ông không còn nữa vì Thượng đế đem ông đi. Cũng như nhiều người trong những năm đầu tiên ấy, trong miền đất này, kinh nghiệm này.
These in the present, then, do not justly call it science; rather being close to nature. Listen at the birds. Watch the blush of the rose. Listen at the life rising in the tree. These serve their Maker—Through what? That psychic force, that is Life itself, in their respective sphere—that were put for the service of man. Learn thine lesson, O Man, from that about thee!
Vậy, trong hiện tại, chớ nên gọi đó là “khoa học”; đúng hơn là sự gần gũi với thiên nhiên. Lắng nghe chim muông. Quan sát sắc hồng e ấp của hoa hồng. Lắng nghe Sự sống trỗi dậy trong cây. Chúng phụng sự Đấng Tác Thành của chúng — Bằng gì? Bằng mãnh lực thông linh, tức là Sự Sống tự thân, trong vòng hoạt động riêng của chúng — vốn được đặt để để phục vụ con người. Người ơi, hãy học bài học của ngươi từ những gì quanh ngươi!
We are through for the present.
Chúng ta tạm dừng tại đây.
TEXT OF READING 364-11
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-11
This psychic reading given by Edgar Cayce at his home in Pinewood on Lake Drive, Virginia Beach, Va., this 29th day of April, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà Ông ở Pinewood trên Lake Drive, Virginia Beach, Va., ngày 29 tháng Tư năm 1932, theo yêu cầu của những người hiện diện.
PRESENT
HIỆN DIỆN
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Gray Salter, H.L. and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, điều khiển; Gladys Davis, tốc ký. Mildred Davis, Gray Salter, H.L. và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 10:40 A. M.
Thời gian thực hiện: 10:40 sáng.
GC: You will have before you the information given through this channel on the lost continent of Atlantis. You will continue with this information, and will answer the questions which I will ask regarding this:
GC: Trước mặt Ông sẽ có thông tin đã được cung cấp qua kênh này về lục địa đã mất Atlantis. Ông sẽ tiếp tục với thông tin này, và trả lời những câu hỏi tôi sẽ nêu về đề tài này:
EC: Yes. As to why, then, each individual must be, and is, the keeper of his own vineyard? For there is, as from the beginning, in each entity that—of the Father, or the First Cause—that enables one to make manifest even in the material world through the attributes of the First Cause, that makes for the manifestation of that power, or force, in a material world. As to what one does with same is an action of the will that entity himself, or herself.
EC: Vâng. Vậy thì vì sao mỗi cá nhân phải là, và thật sự là, người giữ vườn nho của riêng mình? Bởi vì có, như từ khởi nguyên, trong mỗi thực thể, cái — thuộc về Cha, hay Nguyên Nhân Thứ Nhất — cho phép một người biểu hiện ngay trong thế giới vật chất qua các thuộc tính của Nguyên Nhân Thứ Nhất, cái làm cho quyền năng, hay mãnh lực, được biểu lộ trong thế giới vật chất. Còn một người làm gì với điều ấy là tác động của ý chí của chính thực thể ấy, dù là nam hay nữ.
As to occult or psychic science, as called, then—it is, as we have found through some manifestations, that these forces are first recognized in or by the individual. Hence, as has been seen, in the beginning these were the natural expressions of an entity. As there developed more of the individual association with material conditions, and they partook of same in such a manner as to become wholly or in part a portion OF same, farther—or more hidden, more unseen—has become occult or psychic manifestations. First there were the occasional harking back. Later by dream. Again we find individuals raised in certain sections for specific purposes. As the cycle has gone about, time and again has there arisen in the earth those that manifested these forces in a more magnificent, more beneficent, way and manner. And, as has been given, again the time draws near when there shall be seen and known among men, in many places, the manifestations of such forces in the material world; for “As ye have seen him go, so will He return again.” Be thou faithful unto those words He has given while yet with you. Hence it behooves every individual to take cognizance of that force that may manifest in their material lives, even in this material age; for those that become ashamed for His sake—for that sake—of that that may manifest (which is as the Spirit’s manner of activity) through those many channels that are open to those who will look up, lift up—and these, we find, are often in the lowliest of places and circumstances. Why? Since these are forces of the Most High, since these supplied—as of old—those secular things in abundance, and were supplied the needs not only of the physical being but of the mental and spiritual also, contributing to those forces as made for the gratification also of that builded in a material world, does it become any wonder that he that shall be abased and remains true shall wear the Crown of Life? Does it become unreasonable, then, that ye are being chastised for that which has been builded within the material forces of the body itself, that must be tried so as by fire? for the chaff must be burned out! Even as with the use of those sources of information, the abilities to become a portion of those elements that were the creative forces of the compounds or elements within the universal forces, at that period brought about those forces that made for destruction of the land itself, in the attempt to draw that as was in man then back to the knowledge; and these brought about those destructive forces (that are known today) in gases, with that called the death ray [See 364-11, Par. R2], that brought from the bowels of the earth itself—when turned into the sources of supply—those destructions to portions of the land. Man has ever (even as then) when in distress, either mental, spiritual or physical, sought to know his association, his connection, with the divine forces that brought the worlds into being. As these are sought, so does the promise hold true—or that given man from the beginning, “Will ye be my children, I will be thy God!” “Ye turn your face from me, my face is turned from thee”, and those things ye have builded in thine own endeavor to make manifest thine own powers bring those certain destructions in the lives of individuals in the present, even as in those first experiences with the use of those powers that are so tabu by the worldly-wise, that are looked upon as old men’s tales and women’s fables; yet in the strength of such forces do worlds come into being!
Về cái gọi là khoa học huyền bí hay thông linh, vậy — như chúng ta đã thấy qua một số hiện lộ — là những mãnh lực này trước hết được nhận biết trong hay bởi cá nhân. Do đó, như đã thấy, trong thuở ban đầu đây là những biểu hiện tự nhiên của một thực thể. Khi có sự phát triển nhiều hơn của sự gắn bó cá nhân với các điều kiện vật chất, và họ dự phần vào những điều ấy theo cách trở nên hoàn toàn hay một phần là một phần của điều ấy, thì các hiện lộ huyền bí hay thông linh trở nên xa hơn — ẩn hơn, khó thấy hơn. Ban đầu là những lúc hiếm hoi hồi tưởng về trước. Sau đó qua mộng mị. Lại nữa, chúng ta thấy có những cá nhân được dựng lên ở các khu vực nhất định vì những mục đích đặc thù. Khi chu kỳ xoay vần, hết lần này đến lần khác đã nổi lên trên trần gian những người biểu hiện các mãnh lực này theo cách thức lộng lẫy hơn, lợi ích hơn. Và, như đã nêu, thời điểm lại gần khi sẽ thấy và biết giữa loài người, ở nhiều nơi, các hiện lộ của những mãnh lực như thế trong thế giới vật chất; vì “Như các ngươi đã thấy Ngài ra đi, Ngài cũng sẽ trở lại.” Hãy trung tín với những lời Ngài đã trao khi còn ở cùng các ngươi. Do vậy, mỗi cá nhân cần chú tâm đến mãnh lực có thể hiện lộ trong đời sống vật chất của mình, ngay trong thời đại vật chất này; vì những ai trở nên hổ thẹn vì cớ Ngài — vì cớ ấy — trước điều có thể hiện lộ (vốn là cách thức hoạt động của Thần Linh) qua những kênh ngòi phong phú mở ra cho những ai biết ngước lên, vươn lên — và thường những kênh ấy lại ở những chốn và hoàn cảnh khiêm hạ nhất. Vì sao? Bởi vì đây là những mãnh lực của Đấng Tối Cao, bởi vì những mãnh lực này đã cung cấp — như xưa kia — những điều thế tục dư dật, và đã cung ứng nhu cầu không chỉ của thân xác mà còn của thể trí và tinh thần nữa, góp phần vào những mãnh lực làm thỏa mãn cả cái được xây đắp trong thế giới vật chất; vậy có gì đáng lạ khi kẻ bị hạ mình mà vẫn trung tín sẽ đội mão Triều Thiên Sự Sống? Có vô lý chăng khi các ngươi đang được sửa dạy vì điều đã được xây đắp trong các mãnh lực vật chất của chính thân thể, điều phải được thử như qua lửa? vì rơm rác phải bị thiêu đốt! Ngay cả như với việc sử dụng các nguồn thông tin ấy, những khả năng để trở thành một phần của các yếu tố vốn là các mãnh lực sáng tạo của các hợp chất hay yếu tố trong các mãnh lực phổ quát, vào thời kỳ ấy đã đưa đến những mãnh lực gây nên sự hủy diệt chính miền đất, trong mưu toan lôi kéo cái vốn ở trong con người khi ấy quay về tri thức; và những điều ấy đưa đến các mãnh lực hủy diệt (điều ngày nay đã biết) trong khí, cùng với cái gọi là tia tử thần [See 364-11, Par. R2], thứ mà khi được dẫn từ lòng đất — khi chuyển vào các nguồn cung — đã gây những tàn phá cho các phần của miền đất. Con người xưa nay (ngay như khi ấy), khi lâm cảnh khốn quẫn, dù trí tuệ, tinh thần hay thể xác, đều tìm cách biết mối liên hệ, sự nối kết của mình với các mãnh lực thiêng liêng đã đem các thế giới vào hiện hữu. Khi các điều ấy được kiếm tìm, thì lời hứa giữ nguyên hiệu lực — tức điều được trao cho con người từ đầu, “Nếu các ngươi là con cái Ta, Ta sẽ là Thượng Đế của ngươi!” “Các ngươi quay mặt khỏi Ta, mặt Ta lìa khỏi ngươi”, và những điều các ngươi đã xây đắp trong nỗ lực riêng để biểu lộ quyền năng của mình đem đến những hủy hoại chắc chắn trong đời của những cá nhân hiện nay, cũng như trong những trải nghiệm ban đầu với việc sử dụng những quyền năng bị thế gian khôn ngoan gán là điều cấm kỵ, bị xem là chuyện cổ tích của người già và giai thoại của đàn bà; ấy thế mà trong sức mạnh của những mãnh lực như thế mà các thế giới bước vào hiện hữu!
This is what psychic force, and so called occult science, did mean, has meant, does mean in the world today.
Đó là điều mà mãnh lực thông linh, và cái gọi là khoa học huyền bí, đã từng có nghĩa, đã có nghĩa, và hiện nay có nghĩa trong thế gian.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Describe in more detail the causes and effects of the destruction of the part of Atlantis now the Sargasso sea.
(Q) Xin mô tả chi tiết hơn các nguyên nhân và hệ quả của sự hủy diệt phần Atlantis nay là biển Sargasso.
(A) As there were those individuals that attempted to bring again to the mind of man more of those forces that are manifest by the closer association of the mental and spiritual, or the soul forces that were more and more as individual and personal forms in the world, the use of the these elements—as for the building up, or the passage of individuals through space—brought the uses of the gases then (in the existent forces), and the individuals being able to become the elements, and elementals themselves, added to that used in the form of what is at present known as the raising of the powers from the sun itself, to the ray that makes for disintegration of the atom, in the gaseous forces formed, and brought about the destruction in that portion of the land now presented, or represented, or called, Sargasso sea.
(A) Khi có những cá nhân tìm cách đưa trở lại trí của con người nhiều hơn về những mãnh lực được biểu lộ nhờ mối liên kết gần gũi giữa phương diện trí tuệ và tinh thần, hay các mãnh lực linh hồn vốn ngày càng mang hình thái cá nhân và riêng tư trong thế gian, việc dùng các yếu tố ấy — như để xây dựng, hay để con người đi qua không gian — đã kéo theo việc sử dụng các khí khi đó (trong các mãnh lực hiện hữu), và các cá nhân có thể trở thành các yếu tố và các hành khí tự thân, gia tăng vào điều được sử dụng dưới hình thức cái mà hiện nay được biết là tận dụng các quyền năng từ chính mặt trời, thành tia gây phân rã nguyên tử, trong các mãnh lực khí được tạo thành, và đưa đến sự tàn phá ở phần miền đất nay được trình hiện, hay đại diện, hay được gọi là biển Sargasso.
(Q) What was the date of the first destruction, estimating in our present day system of counting time in years B.C.?
(Q) Ngày tháng của cuộc hủy diệt đầu tiên là khi nào, ước tính theo hệ thống tính năm hiện nay trước Công nguyên?
(A) Seven thousand five hundred (7,500) years before the final destruction, which came as has been given.
(A) Bảy nghìn năm trăm (7.500) năm trước cuộc hủy diệt sau cùng, vốn diễn ra như đã nêu.
(Q) Please give a few details regarding the physiognomy, habits, customs and costumes of the people of Atlantis during the period just before this first destruction.
(Q) Xin cho vài chi tiết về diện tướng, tập quán, phong tục và y phục của dân Atlantis vào thời kỳ ngay trước cuộc hủy diệt đầu tiên này.
(A) These, as we find, will require their being separated in the gradual development of the body and its physiognomy as it came into being in the various portions of that land, as well as to those that would separate themselves from those peoples where there were the indwelling of peoples, or man—as man, in the various areas of the land, or what we call world.
(A) Những điều này, theo chúng tôi thấy, cần được phân biệt qua sự phát triển tiệm tiến của thân và diện tướng khi nó đi vào hiện hữu trong các phần khác nhau của miền đất, cũng như đối với những kẻ tách biệt khỏi những cộng đồng nơi có cư dân, hay con người — như con người — trong các khu vực khác nhau của miền đất, hay cái chúng ta gọi là thế giới.
In the matter of form, as we find, first there were those as projections from that about the animal kingdom; for the thought bodies gradually took form, and the various combinations (as may be called) of the various forces that called or classified themselves as gods, or rulers over—whether herds, or fowls, or fishes, etc.—in part that kingdom and part of that as gradually evolved into a physiognomy much in the form of the present day may (were one chosen of those that were, or are, the nearest representative of the race of peoples that existed in this first period as the first destructions came about). These took on many sizes as to stature, from that as may be called the midget to the giants—for there were giants in the earth in those days, men as tall as (what would be termed today) ten to twelve feet in stature, and in proportion—well proportioned throughout. The ones that became the most useful were those as would be classified (or called in the present) as the ideal stature, that was of both male and female (as those separations had been begun); and the most ideal (as would be called) was Adam, who was in that period when he (Adam) appeared as five in one—See?
Về phương diện hình thể, theo chúng tôi thấy, ban đầu có những kẻ như là phóng chiếu từ miền quanh giới động vật; vì các thể tư tưởng dần dần mang hình, và những phối hợp khác nhau (nếu muốn gọi thế) của các mãnh lực khác nhau tự xưng là các thần, hay các kẻ cai quản — dù là đàn súc vật, hay loài chim, hay loài cá, v.v. — vừa thuộc vương quốc này vừa thuộc cái dần dần tiến hóa thành diện tướng khá giống như thời nay (nếu chọn ra kẻ nào gần là đại diện nhất cho chủng dân tồn tại trong thời kỳ đầu tiên này khi những hủy diệt đầu tiên xảy đến). Họ mang nhiều kích thước về tầm vóc, từ cái có thể gọi là người tý hon đến người khổng lồ — vì đã có những người khổng lồ trên đất thời ấy, cao đến (theo cách gọi ngày nay) mười đến mười hai feet, và cân xứng — cân xứng hài hòa. Những người trở nên hữu dụng nhất là những kẻ được xếp (hay gọi ngày nay) là tầm vóc lý tưởng, gồm cả nam lẫn nữ (vì đã khởi sự phân biệt); và lý tưởng nhất (như sẽ gọi) là Adam, người vào thời kỳ ấy xuất hiện như “năm trong một” — Thấy chứ?
In this the physiognomy was that of a full head, with an extra eye—as it were—in those portions that became what is known as the eye. In the beginning these appeared in whatever portion was desired by the body for its use!
Ở đây diện tướng là đầu đầy đặn, với một con mắt phụ — như thể — ở những phần sau trở thành cái được biết là con mắt. Thuở đầu, chúng xuất hiện tại bất cứ phần nào mà thân muốn dùng!
As for the dress, those in the beginning were (and the Lord made for them coats) of the skins of the animals. These covered the parts of their person that had become, then, as those portions of their physiognomy that had brought much of the desires that made for destructive forces in their own experience; and these then were of those about them that were given as meat, or used as same—that partook of the herbs. These were those same herbs that the seed were to have been for food for the man in self, and only those that partook of same may be called even clean—in the present day. Those that supply those same materials that are the proper building for the forces within the anatomical forces, or physiological forces, of a developing body; for these carry all the elements in their natural state. Little of minerals should ever be the properties within the system, save as may be taken through the vegetable forces, save where individuals have so laxed themselves as to require or need that which will make for an even balance of same.
Về y phục, ban đầu (và Chúa đã làm cho họ áo) bằng da thú. Những áo này che những phần thân thể đã trở thành, như những phần diện tướng, nơi đã khơi dậy nhiều dục vọng đưa đến các mãnh lực hủy hoại trong kinh nghiệm của họ; và những áo ấy làm từ những loài quanh họ được ban làm thực phẩm, hay dùng làm thức ăn — là những loài ăn các thảo mộc. Những thảo mộc này chính là những thứ mà hạt giống vốn được ban làm lương thực cho con người tự thân, và chỉ những loài ăn các thứ ấy mới có thể gọi là thanh khiết — trong hiện tại. Những loài cung cấp chính các chất liệu đồng dạng với cái là cấu kiện thích đáng cho các mãnh lực trong hệ giải phẫu, hay các mãnh lực sinh lý, của một thân đang phát triển; vì chúng mang đủ các yếu tố trong trạng thái tự nhiên của mình. Rất ít khoáng chất nên là thành phần trong hệ thống cơ thể, trừ phi hấp thụ qua các lực thực vật, trừ khi cá nhân đã buông thả đến mức cần cái sẽ tạo nên sự quân bình thích đáng của những thứ ấy.
We are through for the present.
Chúng ta tạm dừng tại đây.
TEXT OF READING 364-12
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-12
This psychic reading given by Edgar Cayce at his home in Pinewood on Lake Drive, Va. Beach, Va., this 6th day of May, 1932, in accordance with request made by those present.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà Ông ở Pinewood trên Lake Drive, Va. Beach, Va., ngày 6 tháng Năm năm 1932, theo yêu cầu của những người hiện diện.
PRESENT
HIỆN DIỆN
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Hugh Lynn and L.B. Cayce.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, điều khiển; Gladys Davis, tốc ký. Mildred Davis, Hugh Lynn và L.B. Cayce.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 3:30 P. M.
Thời gian thực hiện: 3:30 chiều.
GC: You will have before you the information given through these channels on the lost continent of Atlantis. You will continue with this information and answer the questions regarding same.
GC: Trước mặt Ông sẽ có thông tin đã được cung cấp qua các kênh này về lục địa đã mất Atlantis. Ông sẽ tiếp tục với thông tin này và trả lời các câu hỏi liên quan.
EC: Yes, we have the information that has been given through these channels regarding the development of individual lives and their respective personalities, as these in their development got farther and farther away from those impelling forces that made them one in body, mind and spirit, with the universal consciousness.
EC: Vâng, chúng ta có thông tin đã được nêu qua các kênh này về sự phát triển của các đời sống cá nhân và các phàm ngã tương ứng, khi những điều này trong tiến trình phát triển đã xa dần, xa dần các mãnh lực thúc đẩy khiến họ nên một trong thân, trí và thần, với tâm thức phổ quát.
As these that were projections upon this plane of man’s making began to multiply, and to attach themselves to the various activities that made for the sustaining of those forces that are most predominant in the living creatures (that of self-preservation and propagation), with these developments of self, the ego, the I Am, there began the developments towards that gratifying in material senses those forces manifest in their beings; as those that made for amusement, those that made for the preserving of thoughts in their developing forces as towards material—now, rather than towards its continued associations from that which it received its impulse. The “its”, now, is the man!
Khi những phóng chiếu này lên bình diện mà con người đã kiến tạo bắt đầu tăng lên, và bám chặt vào các hoạt động nhằm duy trì những mãnh lực vốn trội nhất nơi các sinh linh (đó là tự tồn và sinh sản), thì cùng với các phát triển của tự ngã, của chân ngã, của “Ta Là”, đã khởi sinh các phát triển hướng tới việc thỏa mãn trong cảm giác vật chất những mãnh lực biểu lộ nơi hữu thể; như những điều đem lại tiêu khiển, những điều làm nên việc ghi giữ tư tưởng trong các lực đang phát triển hướng về vật chất — nay, thay vì tiếp tục liên kết với cái mà từ đó nó nhận được xung lực. “Nó” giờ đây là con người!
In the first, then, we find the necessity of now supplying its own foods, its own protection, its own activities for amusements, for developments, for its associations one with another, and—as given—then selfishness, and the desire to excel, the desire to place self as in control of, in the supervision of, those things or others about same, gradually developed households, groups, clans, masses, then originally—or eventually—in that known as various groups, houses, or nations. With these developments came then the gradual injections of the use of elements from without for protection, as implements with which to protect themselves, which began with the use of fitting stone, iron, brass, copper, and those elements known in the present, as instruments of warfare, or of building, or of preservation of the various emoluments of individuals. Hence we had also those for ornamentation of the body, ornamentation of the abode, ornamentation of the various surroundings that had to do with the individuals in their various sets, classes, or groups. These made for such as dwelt in groups in homes or cities, while others made for those as of following the field, or those as of the hunters, or those as of the agriculturists, or those that had herds, and their various necessities that followed with these.
Thoạt đầu, vậy thì, chúng ta thấy nhu cầu tự cung cấp thực phẩm, tự bảo hộ, tự tổ chức các hoạt động tiêu khiển, phát triển, quan hệ giữa nhau, và — như đã nêu — bấy giờ tính ích kỷ, và ham muốn vượt trội, ham muốn đặt mình vào vị thế kiểm soát, giám sát những thứ hay những người quanh mình, dần dần làm nảy sinh gia thất, nhóm, thị tộc, đám đông, rồi rốt cuộc — hay sau cùng — là cái được biết như các tập đoàn khác nhau, các nhà, hay các quốc gia. Theo các phát triển này, rồi dần dần có sự đưa vào các yếu tố từ bên ngoài nhằm bảo hộ, như các khí cụ để tự phòng vệ, khởi đi với việc gia công đá, sắt, đồng, thiếc, và những yếu tố hiện nay được biết, như các dụng cụ chiến tranh, hay xây dựng, hay bảo quản các lợi ích khác nhau của các cá nhân. Vì vậy, chúng ta cũng có những thứ để trang sức thân thể, trang hoàng chỗ ở, trang trí các hoàn cảnh khác nhau liên quan đến các cá nhân trong các lớp, các nhóm khác nhau của họ. Những điều này dẫn đến việc có những kẻ cư trú theo nhóm trong nhà cửa hay thành thị, trong khi những kẻ khác theo đuổi nghề đồng quê, hay theo thú săn bắn, hay làm nông, hay chăn đàn, và theo đó là những nhu cầu khác nhau gắn liền.
In their various developments, we find in various periods of the beginning, some were given to the one and some given to the other. These as the necessity and the surroundings demanded that those bring in the experience of the entities that it brought to pass; for was it still not those that were of creation in itself? and it followed in the examples, then, of that about it—called nature—that built according to its instinctive forces. Hence the first became dwellers in the rocks, in the caves, and those also that made their homes or nests, as it were, in the trees and in the various things that surrounded their environs. Then began the correlation, or the coordinating of combined forces of a household, which made for the building up of that as became the clans in their varied activities, those of a nature builded together as for that in which those groups or those clans followed in their line, these keeping in touch with those various others according to their necessities of dispensing or disposing of, or to meet with the needs for the various individual groups.
Trong những phát triển khác nhau ấy, chúng ta thấy, ở các thời đoạn khác nhau thuở ban đầu, kẻ thì nghiêng về điều này, kẻ thì nghiêng về điều khác. Tùy theo nhu cầu và hoàn cảnh đòi hỏi mà những điều ấy đem đến trong kinh nghiệm của các thực thể, chúng đã thành hiện thực; vì lẽ nó vẫn là cái thuộc về sáng tạo tự thân chăng? và nó noi theo các mô thức của cái quanh nó — gọi là thiên nhiên — mà xây dựng tùy theo các mãnh lực bản năng. Do vậy, những kẻ đầu tiên cư ngụ trong đá, trong hang, cũng như những kẻ làm nhà hay tổ, như thể, trên cây cối và trên những thứ bao quanh môi trường của họ. Rồi khởi sự sự liên kết, hay điều phối, của các lực kết hợp trong một gia thất, điều làm nên sự kiến lập cái trở thành thị tộc trong các hoạt động khác nhau của họ, những kẻ đồng tánh năng xây dựng cùng nhau theo điều mà những nhóm hay những thị tộc ấy theo đuổi, các nhóm này duy trì liên lạc với các nhóm khác tùy theo nhu cầu phân phát, phân phối, hay để đáp ứng nhu cầu của các nhóm cá nhân khác nhau.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Describe briefly one of the large cities of Atlantis at the height of its commercial and material prosperity, giving name and location.
(Q) Xin phác thảo ngắn gọn một trong những thành thị lớn của Atlantis ở đỉnh cao thịnh vượng thương mại và vật chất, cho biết tên và vị trí.
(A) This we find in that as called Poseida, or the city that was built upon the hill that overlooked the waters of Parfa (?), and in the vicinity also the egress and entrance to the waters from which, through which, many of the people passed in their association with, or connection with, those of the outside walls or countries. This we find not an altogether walled city, but a portion of same built so that the waters of these rivers became as the pools about which both sacrifice and sport, and those necessities for the cleansing of body, home and all, were obtained, and these—as we find—were brought by large ducts or canals into these portions for the preservation, and yet kept constantly in motion so that it purified itself in its course; for, as we find, as is seen, water in motion over stone or those various forces in the natural forces purifies itself in twenty feet of space.
(A) Điều này chúng ta thấy ở nơi được gọi là Poseida, hay thành được xây trên đồi nhìn xuống các dòng nước Parfa (?), và cũng ở gần lối ra vào các dòng nước mà qua đó, nhờ đó, nhiều người qua lại trong tương quan hay liên hệ với những kẻ ngoài các tường thành hay các quốc gia khác. Theo chúng tôi thấy, đây không hẳn là một thành có tường bao bọc toàn bộ, mà một phần được xây sao cho nước của các sông này trở thành những hồ ao quanh đó, cả tế tự lẫn vui chơi, và những nhu yếu cho việc tẩy rửa thân, nhà và mọi thứ, đều được đáp ứng; và những thứ này — như chúng tôi thấy — được mang vào bằng những đường dẫn hay kênh đào lớn, vào các khu vực ấy để bảo tồn, tuy nhiên vẫn luôn được lưu chuyển để tự thanh lọc trên lộ trình; vì, như chúng tôi thấy, như ai cũng thấy, nước chảy qua đá hay các mãnh lực tự nhiên khác tự thanh lọc mình trong khoảng hai mươi feet.
In the type of the buildings, these were much in that of tiers—one upon the another, save principally in the temples—that were about the sacred fires where these were offered, the sacrifices that were gradually builded by the people in their attempt to appease those forces in nature, and from which we find there came all those forms in the various portions of the earth in which these were carried in their necessary channels, to make for the variations in its surroundings and the conditions thereunto. In this temple, we find these of large or semi-circular columns of onyx, topaz, and inlaid with beryl, amethyst, and stones that made the variations in catching the rays of the sun. Hence a portion of same became as the sun worshippers in other portions, from which there were an egress of the peoples.
Về kiểu thức kiến trúc, nhà cửa tầng tầng lớp lớp — chồng lên nhau, trừ các đền — quanh các hỏa đàn thiêng nơi dâng tế, những tế tự được dân chúng dần dần thiết lập trong nỗ lực làm nguôi các mãnh lực trong thiên nhiên, và từ đó, chúng ta thấy, đã phát sinh mọi hình thức ở các miền khác nhau của địa cầu, nơi những điều này được lưu truyền theo các kênh cần thiết, để tạo nên các biến dị trong môi trường và các điều kiện nơi đó. Trong ngôi đền này, chúng ta thấy có những cột lớn hay bán nguyệt bằng mã não, hoàng ngọc, và khảm ngọc bích, thạch anh tím, cùng các đá quý tạo nên biến tấu khi bắt các tia mặt trời. Do đó, một phần đã trở thành những kẻ thờ mặt trời ở nơi khác, từ đó có sự xuất cư của dân chúng.
In this the sacred fires burned, and there were the rising of the intermittent fires that came and went, that were later worshipped by some that brought on much of the destruction, because they waited long at the period before the destructions came. These were those places where there became eventually the necessity of offering human sacrifices, which when put into fires became the ashes that were cast upon the waters for the drinking of same by those that were made prisoners from portions of other lands.
Tại đây những ngọn lửa thiêng bập bùng cháy, và có những ngọn lửa lúc nổi lúc tắt bốc lên, rồi lịm, về sau được một số người tôn thờ và điều này mang đến nhiều hủy diệt, vì họ chờ đợi lâu ngay trước kỳ các tàn phá xảy ra. Đây là những nơi về sau trở thành chỗ cần thiết phải dâng tế người, và khi bị ném vào lửa, họ trở thành tro bụi và tro được rải xuống nước để cho những kẻ bị bắt làm tù nhân từ những miền đất khác uống.
In the setting up of same, these in the temple ruled—rather than those who held official positions in carrying out the orders of those in these positions.
Trong cơ cấu tổ chức, những người trong đền nắm quyền — hơn là những kẻ giữ các chức vị chính thức trong việc thi hành mệnh lệnh của những người ở các vị trí ấy.
These, as to the manner of the buildings, were of the outer court—or where groups or masses might collect. The inner, those that were of a select group, or those of the second chambers. Those of the inner court, or shrine about the altar, were only for the elect, or the chosen few.
Về kết cấu của các tòa nhà, có ngoại viện — nơi các nhóm hay đám đông có thể tụ hội. Trung viện, dành cho những kẻ được chọn, hay thuộc lớp thứ nhì. Còn nội điện, hay khu vực quanh bàn thờ, chỉ dành cho những người được tuyển chọn, hay số ít được chọn.
We are through for the present.
Chúng ta tạm dừng tại đây.
TEXT OF READING 364-13
NỘI DUNG BÀI ĐỌC 364-13
This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Va. Beach, Va., this 17th day of November, 1932, in accordance with request made by Hugh Lynn Cayce, Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.
Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà Ông trên Arctic Crescent, Va. Beach, Va., ngày 17 tháng Mười Một năm 1932, theo yêu cầu của Hugh Lynn Cayce, Hội viên Tích cực của Hội Nghiên cứu & Khai ngộ, Inc.
PRESENT
HIỆN DIỆN
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, H.L. and L.B. Cayce, H.B. Harrell, Jr., at the last.
Edgar Cayce; Gertrude Cayce, điều khiển; Gladys Davis, tốc ký. Mildred Davis, H.L. và L.B. Cayce, H.B. Harrell, Jr., vào phút cuối.
READING
BÀI ĐỌC
Time of Reading 4:00 to 4:25 P. M. Eastern Standard Time.
Thời gian thực hiện: 4:00 đến 4:25 chiều, Giờ Tiêu Chuẩn Miền Đông.
GC: You will have before you the two articles copies of which I hold in my hand; the first on the Coming of Man; the second on Life Readings. You will please go over these articles in the order named, making corrections as to information presented and suggesting any changes in the presentation, expansion or condensing, which would more adequately fit them to fulfil the purposes desired. You will answer the questions which I will ask regarding the data and its presentation.
GC: Trước mặt Ông sẽ có hai bài viết mà bản sao tôi đang cầm; bài thứ nhất về Sự Đến của Con Người; bài thứ hai về Các Bài Đọc Đời Sống. Xin Ông đi qua các bài này theo thứ tự đã nêu, đính chính những thông tin được trình bày và đề nghị bất cứ thay đổi nào về cách trình bày, mở rộng hay rút gọn, để phù hợp hơn với mục đích mong muốn. Ông sẽ trả lời các câu hỏi tôi sẽ nêu liên quan đến dữ liệu và cách trình bày.
EC: Yes, we have the articles here as they are written.
EC: Vâng, chúng tôi có các bài viết ở đây như chúng đã được viết.
The first, The Coming of Man: [See 364-13, Par. R1.] This presented in the form written here is very good, for the manner in which it is to be presented; however, as we find, it would be well to present this in such a way and manner that it might be given as a syndicated article for Sunday Supplement, or in such a manner that it might carry the thoughts presented here to a greater number of individuals.
Bài thứ nhất, Sự Đến của Con Người: [See 364-13, Par. R1.] Bài này được trình bày theo hình thức ở đây là rất tốt, cho cách mà nó sẽ được công bố; tuy nhiên, theo chúng tôi thấy, sẽ hay hơn nếu trình bày nó theo cách và phương thức để có thể phát hành như một bài viết liên kết cho Phụ trương Chủ nhật, hoặc theo phương thức có thể chuyển chở những tư tưởng nêu ra đây đến với số đông độc giả hơn.
The article, Life Readings: [See 264-13, Par. R2.] This might be bettered were there some expansion in references as to what the various schools or groups of astrologers, with the line of Grecian thought and Grecian mythology, have indicated as to the valuation of the name, or the god or goddess represented by the various planets. Then this would convey in the form more for the visualizing of the individual, that represented by the sojourns in Mercury—as the messenger, as the mental, as the charge necessary between the activities whether Venus, Jupiter, Saturn or what. Venus would be shown in its purity, its truth, its concept of the varied conditions when in the light of truth—or when brandished by those thoughts in Mars or Saturn, or the defilements in the Uranian or Jupiter powers turned to variations in conditions in experiences. All represent the attributes to man’s experience, and need visualization. We would, then, only draw comparisons of these various conditions, as it were. The rest is very good, and will enable many an individual to get an insight into the message that is given in information of this nature.
Bài viết, Các Bài Đọc về Đời Sống: [Xem 264-13, đoạn R2.] Điều này có thể được cải thiện nếu có mở rộng phần tham chiếu về việc các trường phái hay nhóm chiêm tinh khác nhau, theo mạch tư tưởng Hy Lạp và thần thoại Hy Lạp, đã chỉ ra gì về giá trị của tên gọi, hay vị thần nam hoặc nữ được các hành tinh khác nhau đại diện. Khi ấy, điều này sẽ truyền đạt theo hình thức giúp cá nhân dễ hình dung hơn về những lần trụ xứ ở Sao Thủy—như sứ giả, như phương diện trí tuệ, như điện tích cần thiết giữa các hoạt động, dầu là của Sao Kim, Sao Mộc, Sao Thổ hay thế nào. Sao Kim sẽ được trình hiện trong sự tinh tuyền của nó, trong chân lý, trong quan niệm của nó về những điều kiện đa tạp khi ở trong ánh sáng của chân lý—hoặc khi bị những tư tưởng thuộc Sao Hỏa hay Sao Thổ khuấy động, hoặc những sự nhiễm ô trong các quyền lực của Thiên Vương tinh hay Sao Mộc biến thành các biến thiên về điều kiện trong kinh nghiệm. Tất cả đều biểu lộ những thuộc tính nối kết với kinh nghiệm của con người, và cần được hình dung. Vậy thì, chúng ta chỉ vẽ các so sánh giữa những điều kiện đa tạp này, như vậy đó. Phần còn lại rất tốt, và sẽ giúp nhiều cá nhân thấu triệt sứ điệp được trao trong thông tin thuộc loại này.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Are the places designated for the beginning of the five races correct?
(Q) Các địa điểm được chỉ định là khởi điểm của năm giống dân có đúng không?
(A) As we find, these are changed, in that: Those in the Gobi, the yellow. The white—rather in the Carpathians than India, though this is the change to which they are made. The red, of course, in the Atlantean and in the American. The brown in the Andean. The black in the plain and the Sudan, or in African.
(A) Như chúng tôi thấy, chúng đã thay đổi, theo đó: Những người ở Gobi, giống vàng. Giống trắng—đúng hơn là ở vùng Karpat hơn là Ấn Độ, dẫu đó là sự điều chỉnh đã được họ thực hiện. Giống đỏ, dĩ nhiên, ở Atlantis và ở châu Mỹ. Giống nâu ở vùng Andes. Giống đen ở đồng bằng và Sudan, hay ở Phi châu.
(Q) Where was the Carpathian region?
(Q) Vùng Karpat ở đâu?
(A) Aarat.
(A) Aarat.
(Q) Where is the location? Is it on the map today?
(Q) Vị trí ở đâu? Ngày nay có trên bản đồ không?
(A) Southern part of Europe and Russia, and Persia and that land. Caucasian mountains.
(A) Phần phía nam châu Âu và Nga, và Ba Tư và xứ đó. Dãy núi Kavkaz.
(Q) Why was the number five selected for the projection of the five races?
(Q) Vì sao chọn con số năm cho sự xuất hiện của năm giống dân?
(A) This, as we find, is that element which represents man in his physical form, and the attributes to which he may become conscious from the elemental or spiritual to the physical consciousness. As the senses; as the sensing of the various forces that bring to man the activities in the sphere in which he finds himself.
(A) Điều này, như chúng tôi thấy, là yếu tố biểu trưng cho con người trong hình thể vật chất, và những thuộc tính mà từ đó y có thể trở nên tự ý thức—từ nguyên tố hay tinh thần đến tâm thức vật chất. Như các giác quan; như việc cảm thụ các mãnh lực đa tạp mang đến cho con người các hoạt động trong phạm vi y tự thấy mình hiện hữu.
This, to be sure, may be expanded upon. This must bear in the same relation to that as did exist, to the promise that He will come again. Does any individual group think of themselves so exalted as that only to one peoples will He appear as in the beginning, so shall it ever be, that man’s indwelling must recognize that not only must his desires carnally be crucified, but all elements that make for the awareness of the spiritual manifestations in the material plane!
Điều này, dĩ nhiên, có thể được khai triển thêm. Điều này phải mang cùng mối liên hệ với điều đã hiện hữu, đối với lời hứa rằng Ngài sẽ đến lần nữa. Có nhóm cá nhân nào tự nghĩ mình cao cả đến mức Ngài chỉ hiện ra với một dân tộc duy nhất như thuở ban đầu sao, và sẽ luôn luôn như vậy, rằng cư dân nội tại trong con người phải nhận biết rằng không chỉ những dục vọng xác phàm của y phải bị đóng đinh, mà mọi yếu tố tạo nên sự tỉnh thức về các biểu hiện tinh thần trên cõi vật chất đều phải như thế!
(Q) Did the appearance of what became the five races occur simultaneously?
(Q) Sự xuất hiện của cái về sau trở thành năm giống dân có xảy ra đồng thời không?
(A) Occurred at once.
(A) Xảy ra cùng lúc.
(Q) Describe the earth’s surface at the period of the appearance of the five projections.
(Q) Hãy mô tả bề mặt Trái Đất vào thời kỳ xuất hiện của năm sự xuất lộ đó.
(A) This has been given. In the first, or that known as the beginning, or in the Caucasian and Carpathian, or the Garden of Eden, in that land which lies now much in the desert, yet much in mountain and much in the rolling lands there. The extreme northern portions were then the southern portions, or the polar regions were then turned to where they occupied more of the tropical and semi-tropical regions; hence it would be hard to discern or disseminate the change. The Nile entered into the Atlantic Ocean. What is now the Sahara was an inhabited land and very fertile. What is now the central portion of this country, or the Mississippi basin, was then all in the ocean; only the plateau was existent, or the regions that are now portions of Nevada, Utah and Arizona formed the greater part of what we know as the United States. That along the Atlantic board formed the outer portion then, or the lowlands of Atlantis. The Andean, or the Pacific coast of South America, occupied then the extreme western portion of Lemuria. The Urals and the northern regions of same were turned into a tropical land. The desert in the Mongolian land was then the fertile portion. This may enable you to form some concept of the status of the earth’s representations at that time! The oceans were then turned about; they no longer bear their names, yet from whence obtained they their names? What is the legend, even, as to their names? [See Source File Key #2746 for 4/41 Comdr. Wynne’s map of coming rising Atlantis, re 2746-3.]
(A) Điều này đã được nêu. Trong thời kỳ thứ nhất, hay cái được biết là khởi nguyên, hay tại vùng Caucasus và Karpat, hoặc Vườn Êđen, ở miền đất nay phần nhiều là sa mạc, nhưng cũng nhiều núi non và nhiều vùng đất lượn sóng tại đó. Các phần cực bắc khi ấy là các phần cực nam, tức các vùng địa cực khi ấy xoay chuyển để chiếm phần lớn các vùng nhiệt đới và cận nhiệt; do đó sẽ khó phân biệt hay phân giải sự đổi thay. Sông Nile đổ vào Đại Tây Dương. Cái nay là sa mạc Sahara từng là miền cư trú và rất phì nhiêu. Cái nay là phần trung tâm của xứ này, tức lưu vực Mississippi, khi ấy toàn bộ ở dưới đại dương; chỉ có cao nguyên là hiện hữu, hay các vùng nay là một phần của Nevada, Utah và Arizona cấu thành phần lớn cái mà chúng ta biết là Hợp Chúng Quốc. Dải ven Đại Tây Dương khi ấy tạo thành phần rìa ngoài, tức vùng đất thấp của Atlantis. Vùng Andes, hay bờ Thái Bình Dương của Nam Mỹ, khi ấy chiếm phần cực tây của Lemuria. Dãy Ural và miền bắc của nó trở thành một xứ nhiệt đới. Vùng nay là sa mạc ở xứ Mông Cổ khi ấy là phần phì nhiêu. Điều này có thể giúp các bạn hình dung phần nào hiện trạng đại diện của Trái Đất khi ấy! Các đại dương khi ấy đã xoay chuyển; chúng không còn mang những tên gọi hiện nay nữa, thế nhưng những tên gọi ấy khởi nguyên từ đâu? Ngay cả truyền thuyết về những tên gọi của chúng là gì? [Xem Mã Hồ Sơ Nguồn #2746 cho bản đồ (4/41) của Chỉ huy Wynne về Atlantis sắp trồi lên, liên quan 2746-3.]
(Q) Are the following the correct places? Atlantean, the red.
(Q) Sau đây có phải là những nơi đúng không? Atlantis, giống đỏ.
(A) Atlantean and American, the red race.
(A) Atlantis và châu Mỹ, giống đỏ.
(Q) Upper Africa for the black?
(Q) Bắc Phi đối với giống đen?
(A) Or what would be known now as the more western portion of upper Egypt for the black. You see, with the changes—when there came the uprisings in the Atlantean land, and the sojourning southward—with the turning of the axis, the white and yellow races came more into that portion of Egypt, India, Persia and Arabia.
(A) Hoặc cái nay được biết là phần tây hơn của miền thượng Ai Cập đối với giống đen. Các bạn thấy đó, với những thay đổi—khi có những cuộc trỗi dậy ở đất Atlantis, và hành trình xuôi nam—cùng với sự xoay của trục, các giống trắng và vàng đi vào nhiều hơn phần lãnh thổ Ai Cập, Ấn Độ, Ba Tư và Ả Rập.
(Q) There was no original projection in upper India?
(Q) Không có sự xuất lộ ban đầu ở miền bắc Ấn Độ sao?
(A) This was a portion rather of the white and the yellow as represented. Let these represent the attributes of the physical, or the senses and what forms they take, rather than calling them white, black, yellow, red and green, etc. What do they signify in the sensing? Sight, vision—white. Feeling—red. Black—gratifying of appetites in the senses. Yellow—mingling in the hearing. What is the law of the peoples that these represent? Their basic thoughts run to those elements!
(A) Điều này đúng hơn là một phần của giống trắng và vàng theo như được biểu trưng. Hãy để chúng biểu trưng cho các thuộc tính của thể xác, tức các giác quan và những hình thức chúng mang lấy, hơn là gọi chúng là trắng, đen, vàng, đỏ và xanh lục, v.v. Chúng biểu thị điều gì trong sự cảm thụ? Thấy, thị kiến—trắng. Cảm giác—đỏ. Đen—thoả mãn các dục vọng trong các giác quan. Vàng—hòa trộn trong thính giác. Luật của các dân tộc mà những sắc màu ấy biểu trưng là gì? Tư tưởng căn bản của họ vận hành theo những yếu tố đó!
We are through for the present.
Tạm xong cho hiện tại.