← Atlantis

2

2

Atlantis Readings Not in the Atlantis Series—Các Bài Đọc về Atlantis Không thuộc Loạt Atlantis

Editor’s note: This first reading reveals the Atlantean influence on the Pre-Mayan and Mayan culture and lands:

Ghi chú của biên tập: Bài đọc đầu tiên này cho thấy ảnh hưởng của Atlantis lên văn hoá và lãnh thổ Tiền-Maya và Maya:

TEXT OF READING 5750-1

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 5750-1

This psychic reading given by Edgar Cayce at the home of Mr. and Mrs. Ernest W. Zentgraf, 400 St. Paul’s Ave,, Stapleton, Staten Island, N.Y., this 12th day of November, 1933, in accordance with request made by Mrs. Ernest W. Zentgraf, Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà của Ông và Bà Ernest W. Zentgraf, 400 St. Paul’s Ave,, Stapleton, Staten Island, N.Y., ngày 12 tháng 11 năm 1933, theo yêu cầu của Bà Ernest W. Zentgraf, Hội viên Tích cực của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Zentgraf Family, Mr. and Mrs. MacBeth, Mr. and Mrs. Clark, and Mr. and Mrs. Wilson.

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Gia đình Zentgraf, Ông và Bà MacBeth, Ông và Bà Clark, và Ông và Bà Wilson.

READING

BÀI ĐỌC

Time of Reading 4:40 to 5:15 P. M. Eastern Standard Time.

Thời gian bài đọc từ 4:40 đến 5:15 chiều, Giờ Chuẩn Miền Đông.

HLC: You will give an historical treatise on the origin and development of the Mayan civilization, answering questions.

HLC: Ông sẽ trình bày một khảo luận lịch sử về nguồn gốc và sự phát triển của nền văn minh Maya, và trả lời các câu hỏi.

EC: Yes. In giving a record of the civilization in this particular portion of the world, it should be remembered that more than one has been and will be found as research progresses.

EC: Vâng. Khi trình bày ký lục về nền văn minh ở phần cõi giới đặc thù này của thế giới, cần nhớ rằng đã có và sẽ còn phát hiện hơn một nền văn minh khi nghiên cứu tiến triển.

That which we find would be of particular interest would be that which superseded the Aztec civilization, that was so ruthlessly destroyed or interrupted by Cortez.

Điều mà chúng tôi thấy sẽ đặc biệt đáng quan tâm là cái vượt lên nền văn minh Aztec, cái đã bị Cortez tàn bạo hủy diệt hay gián đoạn.

In that preceding this we had rather a combination of sources, or a high civilization that was influenced by injection of forces from other channels, other sources, as will be seen or may be determined by that which may be given.

Trước đó, chúng ta có đúng hơn là một sự kết hợp các nguồn, hoặc một nền văn minh cao, vốn được tác động bởi sự tiếp dòng các lực từ những kênh khác, những nguồn khác, như sẽ thấy hoặc có thể xác định qua điều có thể được nêu ra.

From time as counted in the present we would turn back to 10,600 years before the Prince of Peace came into the land of promise, and find a civilization being disturbed by corruption from within to such measures that the elements join in bringing devastation to a stiffnecked and adulterous people.

Tính từ thời gian hiện tại, chúng ta sẽ lùi lại 10,600 năm trước khi Đấng Vương Hòa Bình đến xứ hứa, và thấy một nền văn minh đang bị khuấy đảo bởi tha hoá từ bên trong đến mức các yếu tố liên hiệp lại mang tàn phá đến một dân tộc cứng cổ và bội giáo.

With the second and third upheavals in Atlantis, there were individuals who left those lands and came to this particular portion then visible.

Với cuộc chấn động thứ hai và thứ ba ở Atlantis, có những cá nhân rời bỏ các miền đất ấy và đến phần đất đặc thù khi ấy hiện lộ này.

But, understand, the surface was quite different from that which would be viewed in the present. For, rather than being a tropical area it was more of the temperate, and quite varied in the conditions and positions of the face of the areas themselves.

Nhưng, cần hiểu rằng bề mặt khi ấy rất khác với cái được thấy trong hiện tại. Vì, thay vì là một khu vực nhiệt đới thì nó thiên về ôn đới, và khá đa dạng về điều kiện và vị thế của các vùng diện địa tự thân.

In following such a civilization as a historical presentation, it may be better understood by taking into consideration the activities of an individual or group—or their contribution to such a civilization. This of necessity, then, would not make for a complete historical fact, but rather the activities of an individual and the followers, or those that chose one of their own as leader.

Khi theo dấu nền văn minh như một trình bày lịch sử, có thể hiểu rõ hơn nếu xét đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm—hoặc cống hiến của họ cho nền văn minh ấy. Vì thế, điều này tất nhiên sẽ không tạo nên một sử liệu trọn vẹn, mà đúng hơn là các hoạt động của một cá nhân và những người theo, hay những kẻ chọn một người trong số họ làm lãnh đạo.

Then, with the leavings of the civilization in Atlantis (in Poseidia, more specific), Iltar—with a group of followers that had been of the household of Atlan, the followers of the worship of the One with some ten individuals—left this land Poseidia, and came westward, entering what would now be a portion of Yucatan. And there began, with the activities of the peoples there, the development into a civilization that rose much in the same matter as that which had been in the Atlantean land. Others had left the land later. Others had left earlier. There had been the upheavals also from the land of Mu, or Lemuria, and these had their part in the changing, or there was the injection of their tenets in the varied portions of the land—which was much greater in extent until the final upheaval of Atlantis, or the islands that were later up-heaved, when much of the contour of the land in Central America and Mexico was changed to that similar in outline to that which may be seen in the present.

Bấy giờ, với tàn dư của nền văn minh ở Atlantis (tại Poseidia, nói cụ thể hơn), Iltar—cùng một nhóm tùy tùng vốn thuộc gia tộc của Atlan, những người thờ phượng Đấng Duy Nhất, gồm khoảng mười người—đã rời xứ Poseidia, và tiến về phía tây, nhập vào cái nay sẽ là một phần của Yucatan. Và tại đó, khởi sự—cùng các hoạt động của dân chúng—công cuộc phát triển thành một nền văn minh trỗi dậy khá tương tự với cái từng có ở đất Atlantis. Những người khác rời xứ sau đó. Những người khác rời đi sớm hơn. Cũng đã có các cuộc trồi sụt từ xứ Mu, hay Lemuria, và những người này có phần trong sự biến cải, hay là có sự tiếp dẫn các giáo điều của họ vào những phần khác nhau của miền đất—vốn rộng lớn hơn nhiều cho đến cuộc trồi sụt cuối cùng của Atlantis, hay những hải đảo về sau trồi lên, khi nhiều đường nét địa hình của miền Trung Mỹ và Mexico đổi thành dáng dấp tương tự cái có thể thấy trong hiện tại.

The first temples that were erected by Iltar and his followers were destroyed at the period of change physically in the contours of the land. That now being found, and a portion already discovered that has laid in waste for many centuries, was then a combination of those peoples from Mu, Oz and Atlantis.

Những đền thờ đầu tiên do Iltar và những người theo dựng lên đã bị phá hủy vào thời kỳ đổi thay về mặt hình thể trong đường nét của miền đất. Cái nay đang được tìm thấy, và một phần đã được phát hiện—từng bỏ hoang phế qua nhiều thế kỷ—lúc đó là sự kết hợp của những dân từ Mu, Oz và Atlantis.

Hence, these places partook of the earlier portions of that peoples called the Incal; though the Incals were themselves the successors of those of Oz, or Og, in the Peruvian land, and Mu in the southern portions of that now called California and Mexico and southern New Mexico in the United States.

Do đó, những nơi này mang phần sắc thái sớm hơn của dân được gọi là Incal; dẫu chính người Incal là hậu duệ của những người Oz, hoặc Og, ở xứ Peru, và của Mu ở các phần phía nam của cái nay gọi là California và Mexico và miền nam New Mexico ở Hợp Chúng Quốc.

This again found a change when there were the injections from those peoples that came with the division of those peoples in that called the promise land. Hence we may find in these ruins that which partakes of the Egyptian, Lemurian and Oz civilizations, and the later activities partaking even of the Mosaic activities.

Một lần nữa lại có biến đổi khi có sự tiếp nhập từ những dân đến cùng với sự phân ly của những dân nơi xứ được gọi là Đất Hứa. Do vậy, ta có thể thấy trong các phế tích này những gì mang sắc thái của nền văn minh Ai Cập, Lemuria và Oz, cùng các hoạt động muộn hơn thậm chí nhuốm màu hoạt động của Môsê.

Hence each would ask, what specific thing is there that we may designate as being a portion of the varied civilizations that formed the earlier civilization of this particular land?

Vậy thì mỗi người sẽ hỏi, có điều gì đặc thù mà chúng ta có thể định danh là một phần của những nền văn minh đa tạp đã hình thành nền văn minh sớm hơn của miền đất đặc thù này?

The stones that are circular, that were of the magnetized influence upon which the Spirit of the One spoke to those peoples as they gathered in their service, are of the earliest Atlantean activities in religious service, we would be called today.

Những phiến đá hình tròn, có ảnh hưởng từ hoá—trên đó Thần Linh của Đấng Duy Nhất phán cùng dân chúng khi họ quy tụ trong phụng sự—là những hoạt động tôn giáo sớm nhất của Atlantis, theo cách gọi ngày nay.

The altars upon which there were the cleansings of the bodies of individuals (not human sacrifice; for this came much later with the injection of the Mosaic, and those activities of that area), these were later the altars upon which individual activities—that would today be termed hate, malice, selfishness, self-indulgence—were cleansed from the body through the ceremony, through the rise of initiates from the sources of light, that came from the stones upon which the angels of light during the periods gave their expression to the peoples.

Các bàn thờ nơi diễn ra việc tẩy sạch thân thể của các cá nhân (không phải tế người; vì điều này đến muộn hơn nhiều với sự tiếp nhập của truyền thống Môsê, và những hoạt động của khu vực đó), về sau trở thành các bàn thờ nơi những hoạt động cá nhân—mà ngày nay gọi là hận thù, ác ý, ích kỷ, buông thả bản thân—được tẩy sạch khỏi thân qua nghi lễ, qua sự trỗi dậy của các vị hành lễ từ các nguồn ánh sáng, phát xuất từ những phiến đá mà trên đó các thiên sứ của ánh sáng trong những kỳ hạn đã trao biểu đạt của họ cho dân chúng.

The pyramid, the altars before the doors of the varied temple activities, was an injection from the people of Oz and Mu; and will be found to be separate portions, and that referred to in the Scripture as high places of family altars, family gods, that in many portions of the world became again the injection into the activities of groups in various portions, as gradually there were the turnings of the people to the satisfying and gratifying of self’s desires, or as the Baal or Baalilal activities again entered the peoples respecting their associations with those truths of light that came from the gods to the peoples, to mankind, in the earth.

Kim tự tháp, các bàn thờ trước cửa của những đền thờ đa dạng, là một sự tiếp nhập từ dân Oz và Mu; và sẽ thấy chúng như các phần riêng biệt, và đó là cái được nhắc đến trong Kinh Thánh như những nơi cao—các bàn thờ gia tộc, các thần gia tộc—cái mà ở nhiều nơi trên thế giới lại trở thành sự tiếp nhập lần nữa vào các hoạt động của những nhóm ở nhiều phần, khi dần dần dân chúng quay về chiều thoả mãn và thoả dục ngã, hoặc khi các hoạt động Baal hay Baalilal lại xâm nhập dân chúng trong mối liên hệ của họ với những chân lý của ánh sáng đến từ các thần cho dân chúng, cho nhân loại, trong cõi đất.

With the injection of those of greater power in their activity in the land, during that period as would be called 3,000 years before the Prince of Peace came, those peoples that were of the Lost Tribes, a portion came into the land; infusing their activities upon the peoples from Mu in the southernmost portion of that called America or United States, and then moved on to the activities in Mexico, Yucatan, centralizing that now about the spots where the central of Mexico now stands, or Mexico City. Hence there arose through the age a different civilization, a mixture again.

Với sự tiếp nhập của những kẻ có quyền lực lớn hơn trong hoạt động tại miền đất, vào thời kỳ gọi là 3,000 năm trước khi Đấng Vương Hòa Bình đến, những dân thuộc Các Chi tộc Thất Lạc, một phần đã vào miền đất; hoà vào các hoạt động trên những dân từ Mu ở phần nam nhất của cái gọi là châu Mỹ hay Hợp Chúng Quốc, rồi chuyển lên các hoạt động ở Mexico, Yucatan, tập trung quanh các điểm mà nay là trung tâm của Mexico, tức Thành phố Mexico. Do đó, qua thời đại đã trỗi dậy một nền văn minh khác, lại là pha trộn.

Those in Yucatan, those in the adjoining lands as begun by Iltar, gradually lost in their activities; and came to be that people termed, in other portions of America, the Mound Builders.

Những người ở Yucatan, những người ở các miền kề cận như do Iltar khởi dựng, dần dần suy tàn trong các hoạt động; và trở thành dân mà ở các phần khác của châu Mỹ gọi là Những Người Xây Gò.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) How did the Lost Tribe reach this country?

(Q) Các Chi tộc Thất Lạc đến xứ này bằng cách nào?

(A) In boats.

(A) Bằng thuyền.

(Q) Have the most important temples and pyramids been discovered?

(Q) Các đền thờ và kim tự tháp quan trọng nhất đã được phát hiện chưa?

(A) Those of the first civilization have been discovered, and have not all been opened; but their associations, their connections, are being replaced—or attempting to be rebuilt. Many of the second and third civilization may never be discovered, for these would destroy the present civilization in Mexico to uncover same!

(A) Những đền của nền văn minh thứ nhất đã được phát hiện, và chưa phải tất cả đều được mở; nhưng các mối liên kết của chúng đang được khôi phục—hoặc đang nỗ lực tái thiết. Nhiều đền của nền văn minh thứ hai và thứ ba có thể sẽ không bao giờ được phát hiện, vì để khai mở chúng sẽ phải phá huỷ nền văn minh hiện tại ở Mexico!

(Q) By what power or powers were these early pyramids and temples constructed?

(Q) Bằng quyền lực hay các lực nào mà những kim tự tháp và đền thờ sơ kỳ ấy được xây dựng?

(A) By the lifting forces of those gases that are being used gradually in the present civilization, and by the fine work or activities of those versed in that pertaining to the source from which all power comes.

(A) Bởi lực nâng của những khí thể mà nền văn minh hiện tại đang dần sử dụng, và bởi công trình tinh xảo hay các hoạt động của những người am tường về nguồn mà từ đó mọi quyền lực phát sinh.

For, as long as there remains those pure in body, in mind, in activity, to the law of the One God, there is the continued resource for meeting the needs, or for commanding the elements and their activities in the supply of that necessary in such relations.

Vì, chừng nào vẫn còn những người thanh tịnh trong thân, trong tâm, trong hoạt động đối với luật của Đấng Duy Nhất, thì vẫn còn nguồn lực để đáp ứng nhu cầu, hoặc để truyền lịnh cho các nguyên tố và hoạt động của chúng trong việc cung cấp cái cần trong những mối liên hệ như thế.

(Q) In which pyramid or temple are the records mentioned in the readings given through this channel on Atlantis, in April, 1932? [[364] series]

(Q) Trong kim tự tháp hay đền thờ nào lưu trữ các ký lục đã được nhắc đến trong các bài đọc về Atlantis, vào tháng 4, 1932? [[364] loạt]

(A) As given, that temple was destroyed at the time there was the last destruction in Atlantis.

(A) Như đã nói, đền đó bị phá hủy vào lúc có cuộc hủy diệt cuối cùng ở Atlantis.

Yet, as time draws nigh when changes are to come about, there may be the opening of those three places where the records are one, to those that are the initiates in the knowledge of the One God:

Tuy nhiên, khi thời điểm các thay đổi đến gần, có thể sẽ mở những nơi chốn ấy—ba nơi nơi các ký lục là một—cho những ai là các điểm đạo đồ trong tri thức về Đấng Duy Nhất:

The temple by Iltar will then rise again. Also there will be the opening of the temple or hall of records in Egypt, and those records that were put into the heart of the Atlantean land may also be found there—that have been kept, for those that are of that group.

Ngôi đền của Iltar rồi sẽ trỗi dậy lần nữa. Cũng sẽ có việc mở ngôi đền hoặc phòng ký lục ở Ai Cập, và những ký lục được đặt vào lòng đất của xứ Atlantis cũng có thể được tìm thấy ở đó—do những người thuộc nhóm đó gìn giữ.

The records are one.

Các ký lục là một.

We are through for the present.

Tạm xong cho hiện tại.

Editor’s Note: This is a reading for key Atlantean.

Ghi chú của Biên tập: Đây là một bài đọc dành cho một người Atlantis then chốt.

TEXT OF READING 440-5 M 23

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 440-5 M 23

(Elec. Engr. Student, Christian Background)

(Sinh viên Kỹ thuật Điện, nền tảng Cơ Đốc)

This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 20th day of December, 1933, in accordance with request made by self—Mr. [440], Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông ở Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 20 tháng 12 năm 1933, theo yêu cầu của chính đương sự—Ông [440], Hội viên Tích cực của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Sáng.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, Mr. [440], L.B. and Hugh Lynn Cayce.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Mildred Davis, Ông [440], L.B. và Hugh Lynn Cayce.

READING

BÀI ĐỌC

Time of Reading 10:55 to 11:35 A. M. Eastern Standard Time. New York City.

Thời gian bài đọc từ 10:55 đến 11:35 sáng, Giờ Chuẩn Miền Đông. Thành phố New York.

(Body and soul-mind. Questions regarding his various appearances in the earth plane.)

(Thân và tâm-trí linh hồn. Các câu hỏi liên quan những lần đương sự xuất hiện trên cõi trần.)

EC: Yes, we have the soul-mind and its experiences through sojourns in the earth, with the information that has been given respecting this.

EC: Vâng, chúng tôi có tâm-trí linh hồn và các kinh nghiệm của nó qua những lần trụ xứ trong cõi trần, cùng với thông tin đã được nêu liên quan đến điều này.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Give an account of the electrical and mechanical knowledge of the entity as Asal-Sine in Atlantis.

(Q) Hãy kể lại tri thức điện học và cơ khí của đương sự với tư cách Asal-Sine ở Atlantis.

(A) Yes, we have the entity’s activities during that experience. As indicated, the entity was associated with those that dealt with the mechanical appliances and their application during the experience. And, as we find, it was a period when there was much that has not even been thought of as yet in the present experiences.

(A) Vâng, chúng tôi có các hoạt động của đương sự trong kinh nghiệm ấy. Như đã nêu, đương sự gắn bó với những người xử lý các thiết bị cơ khí và việc ứng dụng chúng trong thời kỳ ấy. Và, như chúng tôi thấy, đó là một thời kỳ có nhiều điều mà đến nay trong các kinh nghiệm hiện thời thậm chí còn chưa nghĩ tới.

About the firestone that was in the experience did the activities of the entity then make those applications that dealt with both the constructive and destructive forces in the period.

Về khối đá lửa từng có trong kinh nghiệm, chính quanh nó mà các hoạt động của đương sự khi ấy đã thực hiện những ứng dụng xử lý cả các lực xây dựng lẫn phá hoại trong giai đoạn.

It would be well that there be given something of a description of this, that it may be better understood by the entity in the present, as to how both constructive and destructive forces were generated by the activity of this stone.

Sẽ tốt nếu đưa ra đôi điều mô tả để đương sự trong hiện tại có thể hiểu rõ hơn cách mà cả lực xây dựng và phá hủy được phát sinh bởi hoạt động của khối đá này.

In the center of a building, that today would be said to have been lined with non-conductive metals, or non-conductive stone—something akin to asbestos, with the combined forces of bakerite [bakelite?] or other non-conductors that are now being manufactured in England under a name that is known well to many of those that deal in such things.

Ở giữa một toà nhà—mà ngày nay có thể nói là được ốp lót bằng kim loại không dẫn điện, hoặc đá không dẫn điện—gần như là amiăng, kết hợp với các chất như bakerite [bakelite?] hoặc những vật liệu cách điện khác hiện đang được sản xuất tại Anh quốc dưới một tên gọi vốn rất quen thuộc với nhiều người làm trong lĩnh vực ấy.

The building above the stone was oval, or a dome wherein there could be or was the rolling back, so that the activity of the stone was received from the sun’s rays, or from the stars; the concentrating of the energies that emanate from bodies that are on fire themselves—with the elements that are found and that are not found in the earth’s atmosphere. The concentration through the prisms or glass, as would be called in the present, was in such a manner that it acted upon the instruments that were connected with the various modes of travel, through induction methods—that made much the character of control as the remote control through radio vibrations or directions would be in the present day; though the manner of the force that was impelled from the stone acted upon the motivating forces in the crafts themselves.

Toà nhà phía trên khối đá có hình bầu dục, hay một vòm có thể lăn mở, để hoạt động của khối đá tiếp nhận được tia mặt trời, hoặc từ các vì sao; việc tập trung các năng lượng phát xạ từ những thiên thể tự thân bốc lửa—với các nguyên tố có và chưa có trong khí quyển Trái Đất. Sự tập trung qua các lăng kính hoặc kính—theo cách gọi hiện nay—được thực hiện sao cho tác động lên các dụng cụ nối kết với các phương thức di chuyển khác nhau, qua các phương pháp cảm ứng—tạo nên tính chất kiểm soát khá giống như điều khiển từ xa bằng rung động vô tuyến hay chỉ thị trong thời nay; dẫu rằng cách thức lực được phát ra từ khối đá thì tác động trực tiếp lên các lực động năng trong chính các phương tiện.

There was the preparation so that when the dome was rolled back there might be little or no hindrance in the application direct to the various crafts that were to be impelled through space, whether in the radius of the visioning of the one eye, as it might be called, or whether directed under water or under other elements or through other elements.

Có sự chuẩn bị để khi vòm được mở ra, việc áp dụng trực tiếp lên các phương tiện khác nhau—bị thúc đẩy xuyên không—gần như không bị cản trở, dù trong bán kính tầm nhìn của “một con mắt”, hay dù được điều hướng dưới nước hoặc qua các nguyên tố khác hay xuyên qua những nguyên tố khác.

The preparation of this stone was in the hands only of the initiates at the time, and the entity was among those that directed the influences of the radiation that arose in the form of the rays that were invisible to the eye but that acted upon the stones themselves as set in the motivating forces—whether the aircraft that were lifted by the gases in the period or whether guiding the more pleasure vehicles that might pass along close to the earth, or what would be termed the crafts on the water or under the water.

Việc chuẩn bị khối đá này khi ấy chỉ nằm trong tay các điểm đạo đồ, và đương sự là một trong những người điều hướng ảnh hưởng của các bức xạ phát lên dưới dạng các tia không thấy được bằng mắt nhưng tác động lên chính các phiến đá được đặt trong cơ cấu động lực—dù là các phi cơ được nâng bởi khí thể trong thời kỳ hay là điều hướng những phương tiện khoái lạc đi gần mặt đất, hoặc cái mà ngày nay gọi là các tàu trên mặt nước hay dưới nước.

These, then, were impelled by the concentrating of the rays from the stone that was centered in the middle of the power station, or power house (that would be termed in the present).

Những thứ này được thúc đẩy bởi sự tập trung các tia từ khối đá đặt tại giữa trạm lực, hay nhà máy điện (theo cách gọi hiện nay).

In the active forces of these the entity brought destructive forces, by the setting up—in various portions of the land—the character that was to act as producing the powers in the various forms of the people’s activities in the cities, the towns, the countries surrounding same. These, not intentionally, were tuned too high—and brought the second period of destructive forces to the peoples in the land, and broke up the land into the isles that later became the periods when the further destructive forces were brought in the land.

Trong các lực hoạt động ấy, đương sự mang đến các lực phá hoại, bằng cách thiết lập—ở nhiều phần của miền đất—những cơ cấu dự kiến tạo ra năng lượng cho các hình thái hoạt động khác nhau của dân chúng trong các thành phố, thị trấn, các xứ sở bao quanh. Vì không chủ ý, chúng đã được điều chỉnh quá cao—và đem đến giai đoạn thứ hai của các lực phá hủy cho người dân, và chia cắt miền đất thành những hải đảo—về sau trở thành thời kỳ mà các lực phá hoại tiếp theo được mang đến trên miền đất.

Through the same form of fire the bodies of individuals were regenerated, by the burning—through the application of the rays from the stone, the influences that brought destructive forces to an animal organism. Hence the body rejuvenated itself often, and remained in that land until the eventual destruction, joining with the peoples that made for the breaking up of the land—or joining with Baalilal [Baal? Belial?] at the final destruction of the land. In this the entity lost. At first, it was not the intention nor desire for destructive forces. Later it was for the ascension of power itself.

Cũng thông qua cùng hình thức hỏa lực đó, thân thể các cá nhân được tái tạo, bằng cách thiêu đốt—qua việc áp dụng các tia từ khối đá—những ảnh hưởng vốn đem lại các lực phá hoại cho một sinh thể động vật. Do vậy thân thể tự trẻ lại nhiều lần, và đương sự ở lại miền đất ấy cho đến cuộc hủy diệt cuối cùng, kết hợp với những người góp phần bẻ gãy miền đất—hoặc nhập về phía Baalilal [Baal? Belial?] vào lúc hủy diệt chung cuộc của miền đất. Trong việc này, đương sự thất bại. Ban đầu, không có chủ ý hay ước muốn lực phá hoại. Về sau là vì tham vọng quyền lực tự thân.

As to describing the manner of construction of the stone, we find it was a large cylindrical glass (as would be termed today), cut with facets in such a manner that the capstone on top of same made for the centralizing of the power or force that concentrated between the end of the cylinder and the capstone itself.

Về cách mô tả cấu tạo của khối đá, chúng tôi thấy đó là một ống thuỷ tinh lớn (theo cách gọi ngày nay), cắt nhiều giác sao cho viên đá chóp bên trên tạo nên sự tập trung quyền lực hay lực quy tụ giữa đầu ống và chính viên đá chóp.

As indicated, [See 996-12] the records of the manners of construction of same are in three places in the earth, as it stands today: In the sunken portions of Atlantis, or Poseidia, where a portion of the temples may yet be discovered, under the slime of ages of sea water—near what is known as Bimini, off the coast of Florida. And in the temple records that were in Egypt, where the entity later acted in cooperation with others in preserving the records that came from the land where these had been kept. Also the records that were carried to what is now Yucatan in America, where these stones (that they know so little about) are now—during the last few months—being uncovered.

Như đã chỉ ra, [Xem 996-12] các ký lục về cách cấu tạo của nó được lưu ở ba nơi trên địa cầu, như hiện trạng ngày nay: Ở các phần chìm của Atlantis, hay Poseidia, nơi một phần các đền có thể còn được phát hiện, dưới lớp bùn tích tụ của bao đời nước biển—gần nơi gọi là Bimini, ngoài khơi Florida. Và trong các ký lục đền ở Ai Cập, nơi về sau đương sự hợp tác với những người khác để gìn giữ các ký lục từ miền đất từng lưu trữ chúng. Cũng có các ký lục đã được mang đến cái nay là Yucatan ở châu Mỹ, nơi những phiến đá (mà họ hiểu rất ít) đang—trong vài tháng gần đây—được phát lộ.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Is it for this entity to again learn the use of these stones?

(Q) Đương sự có nên học lại cách sử dụng những khối đá này không?

(A) When there have come those individuals who will purify themselves in the manner necessary for the gaining of the knowledge and the entering into the chambers where these may be found; yes—if the body will purify itself. In ′38 it should come about, should the entity—or others may—be raised.

(A) Khi có những cá nhân tự thanh tịnh mình theo cách cần thiết để thu nhận tri thức và bước vào các phòng nơi chúng có thể được tìm thấy; có—nếu thân xác tự thanh tịnh. Vào năm ’38 điều đó nên xảy đến, nếu đương sự—hoặc những người khác—được nâng lên.

In Yucatan there is the emblem of same. Let’s clarify this, for it may be the more easily found—for they will be brought to this America, these United States. A portion is to be carried, as we find, to the Pennsylvania State Museum. A portion is to be carried to the Washington preservations of such findings, or to Chicago.

Ở Yucatan có biểu trưng của cùng vật ấy. Chúng ta hãy làm rõ điều này, để dễ tìm hơn—vì chúng sẽ được mang đến xứ này, Hợp Chúng Quốc này. Một phần sẽ được chuyển đến Bảo tàng Tiểu bang Pennsylvania. Một phần sẽ đưa đến các nơi lưu trữ ở Washington cho những phát hiện như thế, hoặc đến Chicago.

The stones that are set in the front of the temple, between the service temple and the outer court temple—or the priest activity, for later there arose (which may give a better idea of what is meant) the activities of the Hebrews from this—in the altar that stood before the door of the tabernacle. This altar or stone, then, in Yucatan, stands between the activities of the priest (for, of course, this is degenerated from the original use and purpose, but is the nearest and closest one to being found).

Những phiến đá được đặt trước đền, giữa đền phụng sự và đền ngoại viện—tức khu hoạt động của tư tế, vì dĩ nhiên điều này đã suy thoái khỏi mục đích và cách dùng nguyên thủy, nhưng nó là cái gần nhất và sát nhất với thứ sẽ được tìm thấy.

As to the use of same, and as to how it’s to be applied, one must prepare self—and it may not wholly be given through any channel, until an individual has so purified his purposes and desires. For, as given, not again will man bring to himself, or to those that have not been awakened to their individual development, destruction for the earth—saving man does it himself!

Về cách sử dụng nó, và về cách áp dụng, một người phải tự chuẩn bị—và điều đó không thể được trao trọn vẹn qua bất kỳ kênh nào, cho đến khi cá nhân ấy đã thanh lọc các mục đích và dục vọng của mình. Vì, như đã nói, con người sẽ không còn lần nữa tự mang đến cho mình—hoặc cho những kẻ chưa được đánh thức với sự phát triển cá nhân—sự hủy diệt cho địa cầu—trừ phi chính con người tự làm điều ấy!

(Q) What should be the nature of this purification?

(Q) Bản chất của sự thanh lọc này nên như thế nào?

(A) Purifying from within, much in the way and manner as has been given or illustrated to the entity in how that the mental self must be purified, much in the same way and manner as the inner self has been purified through its sojourns in the planetary influences between the appearances in the earth. For, as given, the body, the body-consciousness, is a well-balanced body, mind and soul, for development as an initiate, to again use these forces, these influences, for constructive rather than destructive purposes.

(A) Sự thanh lọc từ bên trong, khá giống cách thức đã được nêu hay minh họa cho đương sự rằng tự ngã trí tuệ phải được thanh lọc, tương tự như cách nội ngã đã được thanh lọc qua những lần trụ xứ trong các ảnh hưởng hành tinh giữa những lần xuất hiện trong cõi trần. Vì, như đã nêu, thân thể, tâm thức thân thể, là một chỉnh thể quân bình giữa thân, tâm và linh hồn, nhằm phát triển như một điểm đạo đồ, để lại sử dụng những lực này, những ảnh hưởng này, cho mục đích xây dựng thay vì phá hoại.

(Q) Who is conducting this work in Yucatan?

(Q) Ai đang tiến hành công việc này ở Yucatan?

(A) Would it be sent to any other place than to those who were carrying on same?

(A) Lẽ nào lại được gửi đến nơi nào khác ngoài những người đang thực hiện công việc ấy?

(Q) Give an account of the electrical and mechanical knowledge of the entity as Ptel-in, in Egypt.

(Q) Hãy kể lại tri thức điện học và cơ khí của đương sự với tư cách Ptel-in, ở Ai Cập.

(A) As may be surmised from that given, the entity was among those that had laid aside their physical self in destructive forces in Atlantis and picked them up again in the periods of the Egyptian development that followed the closer after the Atlantean destructive forces, or overlapped somewhat.

(A) Như có thể suy ra từ điều đã nêu, đương sự ở trong số những người đã gác qua thân phàm trong các lực phá hoại ở Atlantis và nhặt lại chúng trong thời kỳ phát triển Ai Cập xảy ra ngay sau—và một phần chồng lấn với—các lực phá hoại Atlantean.

In that experience not so much of the electrical or mechanical appliances were the activities of the entity, save in the assisting of the preservation of the records and the mental distribution of that designed to be for the betterment and the purifying of those peoples of that age, period or land. It must be remembered, as indicated through these sources respecting the peoples of that time, much of the animals—that had been fully cleansed in Atlantis—remained with the peoples in the Egyptian development. But the entity, or Ptel-in, worked with the priest of that age in giving to the people the knowledge of the relationships of the Creator to the created, in the way of preparing the body physical for the receptivity—or as a receptacle that might attune its inner self—to the divine forces in that particular period of development. The activities of the entity in the electrical or mechanical were not so active in the Egyptian as they had been in the Atlantean. And the offices or activities pertained more to the assisting of individuals that sought to cleanse themselves, and were used—as indicated—by the fires in the cleansing temple, and the activities in the Temple Beautiful. For, the entity was then among those that aided the priest in setting the individuals so purifying themselves, so making themselves the channels or the receptive channels for the spiritual enlightenment that came through not only those that had sojourned in the earth as constructive forces but through those of the spiritual realm that thought and directed and aided the individuals in their activity, that had purified, had cleansed themselves.

Trong kinh nghiệm ấy, các hoạt động của đương sự không thiên nhiều về các thiết bị điện hay cơ khí, ngoại trừ việc trợ giúp bảo tồn các ký lục và việc phân truyền trong tâm thức những điều được dự phóng hướng đến việc cải thiện và thanh lọc dân chúng của thời đại, thời kỳ hay miền đất đó. Cần ghi nhớ, như đã chỉ ra qua các nguồn này về dân chúng khi ấy, nhiều loài động vật—từng được thanh lọc hoàn toàn ở Atlantis—vẫn còn ở cùng dân chúng trong giai đoạn phát triển Ai Cập. Nhưng đương sự, tức Ptel-in, làm việc với vị tư tế của thời đó trong việc ban cho dân tri thức về mối liên hệ giữa Đấng Tạo Hoá và cái được tạo thành, theo cách chuẩn bị thân thể vật chất cho khả năng tiếp nhận—hay như một bình chứa có thể điều hoà nội ngã—với các lực thiêng liêng trong thời kỳ phát triển đặc thù ấy. Các hoạt động của đương sự trong điện học hay cơ khí không sôi nổi ở Ai Cập như từng ở Atlantis. Và các chức trách hay hoạt động thuộc nhiều hơn về việc trợ giúp các cá nhân tìm cách tự thanh lọc, và được sử dụng—như đã nêu—bởi hỏa lực trong đền tẩy sạch, và các hoạt động nơi Đền Mỹ Lệ. Vì, khi ấy đương sự ở trong số những người trợ giúp vị tư tế đặt để các cá nhân đang tự thanh lọc, đang làm cho mình thành các kênh, hay các kênh tiếp nhận, cho sự soi sáng tinh thần tuôn đến—không chỉ qua những ai đã trụ xứ trong cõi trần như các lực xây dựng, mà còn qua những Đấng của cõi tinh thần, những Đấng tư duy và hướng dẫn và trợ giúp các cá nhân trong hoạt động của họ—những người đã tự thanh lọc, đã tự tẩy sạch.

(Q) How many facets did the crystals previously referred to have?

(Q) Các tinh thể đã nhắc đến trước đây có bao nhiêu giác?

(A) Would be better were these taken from that pattern of same that will be eventually put in the museum in Pennsylvania. For, as given, do not confuse self in the attempt to use something without having prepared self to know what to do with same—and bring, unintentionally as before, destructive forces in the experience of self and those about self. Not that this should not be sought. Not that information may not be asked for, but be sure that the records are read—and those that have been given may only be read by those who have cleansed themselves, or purified themselves!

(A) Tốt hơn là lấy theo khuôn dạng của chính vật ấy—vốn sau cùng sẽ được đưa vào bảo tàng ở Pennsylvania. Vì, như đã nêu, đừng tự lầm lẫn khi cố dùng một thứ gì mà chưa tự chuẩn bị để biết phải làm gì với nó—và rồi, vô tình như trước kia, mang đến những lực phá hoại trong kinh nghiệm của tự thân và những người chung quanh. Không phải vì điều này không nên tìm cầu. Không phải vì không được phép cầu thông tin, nhưng hãy chắc rằng các ký lục được đọc—và những thứ đã được trao chỉ có thể được đọc bởi những ai đã tự thanh lọc, hay đã tự tẩy sạch!

(Q) Give more details regarding the appearance as Sir Gilbert during the revolution, including first name—etc?

(Q) Cho biết chi tiết thêm về lần xuất hiện với danh xưng Sir Gilbert trong thời cách mạng, gồm tên gọi—v.v.?

(A) Reginald Sir Gilbert, and among those that came into the land that represented the government under which grants were given for the activities in this particular portion of the land. Not as an agent. Not as a representative, other than that there was to be seen that more of an association was kept between the parent land granting the permit, or the treaty that was later brought about in the activities of those near to the land—and in the records of same that were granted to Penn, in England. These may be found.

(A) Reginald Sir Gilbert, và ở trong số những người đến miền đất này, đại diện cho chính quyền mà dưới đó cấp giấy cho các hoạt động ở phần xứ đặc thù này. Không phải một phái viên. Cũng không phải một đại diện, ngoài việc duy trì được nhiều hơn mối liên hệ giữa quốc gia mẹ, nơi cấp đặc ân, hay hiệp ước về sau được hình thành trong hoạt động của những người gần gũi với miền đất—và trong các ký lục của nó vốn đã cấp cho Penn, ở Anh. Có thể tìm thấy những điều này.

(Q) Have I karma from any previous existence that should be overcome?

(Q) Tôi có nghiệp quả từ bất kỳ tiền kiếp nào cần được vượt qua không?

(A) Well that karma be understood, and how it is to be met. For, in various thought—whether considered philosophy or religion, or whether from the more scientific manner of cause and effect—karma is all of these and more.

(A) Sẽ tốt nếu nghiệp quả được hiểu, và cách để đối diện nó. Vì, trong những cách quan niệm khác nhau—dù được xem là triết học hay tôn giáo, hoặc trong cách khoa học hơn của nhân-quả—nghiệp quả là tất cả những điều này và hơn thế nữa.

Rather it may be likened unto a piece of food, whether fish or bread, taken into the system; it is assimilated by the organs of digestion, and then those elements that are gathered from same are, made into the forces that flow through the body, giving the strength and vitality to an animate object, or being, or body.

Đúng hơn, nó có thể được ví như một miếng thức ăn, dù là cá hay bánh, được đưa vào hệ thống; nó được tiêu hoá bởi các cơ quan, rồi các yếu tố thu nhận từ đó được biến thành các lực lưu chuyển trong thân thể, đem sức mạnh và sinh lực cho một hữu thể, hay sinh mệnh, hay thân xác.

So, in experiences of a soul, in a body, in an experience in the earth. Its thoughts make for that upon which the soul feeds, as do the activities that are carried on from the thought of the period make for the ability, of retaining or maintaining the active force or active principle of the thought through the experience.

Vậy thì, trong các kinh nghiệm của một linh hồn, trong một thân xác, trong một trải nghiệm ở cõi trần. Tư tưởng của nó tạo nên cái mà linh hồn nuôi dưỡng, cũng như các hoạt động được tiến hành từ tư tưởng của thời kỳ tạo nên khả năng lưu giữ hay duy trì lực hoạt động hay nguyên lý hoạt động của tư tưởng suốt trải nghiệm.

Then, the soul re-entering into a body under a different environ either makes for the expending of that it has made through the experience in the sojourn in a form that is called in some religions as destiny of the soul, in another philosophy that which has been builded must be met in some way or manner, or in the more scientific manner that a certain cause produces a certain effect.

Sau đó, linh hồn tái nhập vào một thân trong một môi trường khác, hoặc tiêu dùng cái nó đã tạo nên qua trải nghiệm trong lần trụ xứ—dưới hình thức mà một số tôn giáo gọi là định mệnh của linh hồn, còn triết học khác gọi là cái đã được xây phải được đối diện bằng cách này hay cách khác, hay trong cách khoa học hơn rằng một nguyên nhân nhất định sản sinh một kết quả nhất định.

Hence we see that karma is all of these and more. What more? Ever since the entering of spirit and soul into matter there has been a way of redemption for the soul, to make an association and a connection with the Creator, through the love for the Creator that is in its experience. Hence this, too, must be taken into consideration; that karma may mean the development for self—and must be met in that way and manner, or it may mean that which has been acted upon by the cleansing influences of the way and manner through which the soul, the mind-soul, or the soul-mind is purified, or to be purified, or purifies itself, and hence those changes come about—and some people term it “Lady Luck” or “The body is born under a lucky star.” It’s what the soul-mind has done about the source of redemption of the soul! Or it may be yet that of cause and effect, as related to the soul, the mind, the spirit, the body.

Vì vậy chúng ta thấy nghiệp quả là tất cả những điều này và còn hơn thế nữa. Hơn thế nữa là gì? Từ khi thần khí và linh hồn đi vào vật chất, đã có một con đường cứu chuộc cho linh hồn, để kết nối và liên hiệp với Đấng Tạo Hoá, qua tình yêu dành cho Đấng Tạo Hoá vốn ở trong kinh nghiệm của nó. Do đó, điều này cũng phải được cân nhắc; rằng nghiệp quả có thể có nghĩa là sự phát triển cho tự thân—và phải được đối diện theo cách ấy, hoặc có thể có nghĩa là cái đã được tác động bởi những ảnh hưởng tẩy sạch theo con đường và cách thức mà qua đó linh hồn, tâm trí-linh hồn, hay linh hồn-tâm trí được thanh lọc, hoặc sẽ được thanh lọc, hoặc tự thanh lọc, và do đó có những đổi thay xảy đến—và có người gọi đó là “Quý bà May Mắn” hay “Thân này sinh ra dưới một ngôi sao may mắn.” Chính là cái mà tâm trí-linh hồn đã làm đối với nguồn mạch cứu chuộc của linh hồn! Hoặc nó vẫn có thể là nhân và quả, như liên hệ đến linh hồn, tâm trí, tinh thần, thân xác.

We are through for the present.

Tạm xong cho hiện tại.

Editor’s Note: Here is another major Atlantean incarnation that reveals much about the spiritual and mental struggles in Atlantis and how they set a pattern for future incarnations

Ghi chú của Biên tập: Sau đây là một tiền kiếp Atlantis lớn nữa, bộc lộ nhiều điều về những tranh đấu tinh thần và trí tuệ ở Atlantis và cách chúng đặt mô thức cho những lần lâm phàm về sau

TEXT OF READING 2794-3 F 34

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 2794-3 Nữ 34

(Catholic Background but Not Active.)

(Nền tảng Công giáo nhưng không hoạt động.)

This psychic reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 19th day of November, 1943, in accordance with request made by the self—Mrs. [2794], Associate Member of the Ass’n for Research and Enlightenment, Inc.

Bài đọc thông linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 19 tháng 11 năm 1943, theo yêu cầu của chính đương sự—Bà [2794], Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu và Khai Sáng.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. (Notes read to and transcribed by Jeanette Fitch.) [2794], Katherine A. Park and Mother and Harmon Bro.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều khiển; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. (Ghi chép do Jeanette Fitch đọc và đánh máy lại.) [2794], Katherine A. Park và Mẹ và Harmon Bro.

READING

BÀI ĐỌC

Born May 11, 1909, in New York City.

Sinh ngày 11 tháng 5, 1909, tại Thành phố New York.

Time of Reading 11:25 to 11:55 A. M. Eastern War Time....

Thời gian bài đọc từ 11:25 đến 11:55 sáng, Giờ Chiến tranh Miền Đông....

Va.

Va.

GC: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain and how. You will answer the questions, as I ask them.

GC: Ông sẽ trình bày mối liên hệ của đương sự này với vũ trụ, và với các lực phổ quát; nêu các điều kiện như là những phàm ngã, còn tiềm ẩn và đã biểu lộ trong đời sống hiện tại; cũng như những lần xuất hiện trước đây trong cõi trần, cho biết thời gian, nơi chốn và tên gọi, và những gì trong mỗi kiếp đã xây dựng hay cản trở sự phát triển cho đương sự; nêu các khả năng của đương sự hiện tại, điều mà đương sự có thể đạt tới và bằng cách nào. Ông sẽ trả lời các câu hỏi khi tôi nêu ra.

EC: (In going back over the years from the present—“-′40 a mental revolution—′38-′34 expectancies—” etc. on back to birth date.)

EC: (Khi lùi về qua các năm từ hiện tại—“-′40 một cuộc cách mạng trong tư tưởng—′38-′34 những kỳ vọng—” v.v. trở lùi về ngày sinh.)

Yes, we have the records here of that entity now known as or called [2794].

Vâng, chúng tôi có các ký lục ở đây của đương sự nay được biết hay gọi là [2794].

In giving the interpretation of the records as we find them, these we choose from same with the desire and purpose that this information may be a helpful experience for the entity; enabling the entity to better fulfil those purposes for which it entered this sojourn. For, it is not by chance that any soul enters a particular period. As indicated in this entity here, it is an Atlantean. Hence it is manifesting in the earth at a period when many Atlanteans have entered. For, ye may be very sure, there is not a leader in any country or any clime, whether friend or foe of what this entity thinks, that was not an Atlantean. Hence, what you think of them in the present will have much to do with their ability as well as thine own ability to meet thine own problems in the present.

Khi đưa ra diễn giải các ký lục như chúng tôi thấy, chúng tôi lựa chọn từ đó với ước muốn và mục đích rằng thông tin này có thể là một kinh nghiệm hữu ích cho đương sự; giúp đương sự hoàn thành tốt hơn những mục đích vì đó đương sự nhập thế kỳ này. Vì, không hề có chuyện tình cờ khi một linh hồn đi vào một thời kỳ cụ thể. Như được chỉ ra nơi đương sự này, đương sự là người Atlantis. Bởi thế, đương sự đang lâm phàm đúng vào thời kỳ nhiều người Atlantis đã nhập thế. Bởi, các bạn có thể rất chắc rằng, không có một nhà lãnh đạo nào trong bất kỳ quốc gia hay xứ sở nào, dù là bạn hay đối nghịch với điều đương sự này suy nghĩ, mà không từng là người Atlantis. Do vậy, điều các bạn nghĩ về họ trong hiện tại sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến năng lực của họ cũng như năng lực của chính các bạn để đối diện những vấn đề của chính mình trong hiện tại.

As we have indicated, the Atlanteans were those that had reached an advancement, had been entrusted with divine activities in the earth, and—as the entity—forgot from whom, in whom all live and have their being; thus brought about within themselves—that which destroyed the body, but not the soul.

Như chúng tôi đã chỉ ra, người Atlantis là những kẻ từng đạt đến một trình độ tiến bộ, được ký thác những hoạt động thiêng liêng trong cõi trần, và—giống như đương sự—đã quên mất từ nơi nào, trong nơi nào mà mọi sự sống và hiện hữu; thế nên đã gây ra trong chính họ—điều đã phá huỷ thân xác, nhưng không phải linh hồn.

Thus there was prepared the way, even through Him who is now the life, the light, the immortality, the resurrection, the way through which peace and harmony, beauty and love, may be in the experience of each and every soul that seeks and acknowledges Him as thy Lord, as thy Savior.

Vì thế đã được dọn sẵn con đường, ngay qua Đấng hiện là sự sống, là ánh sáng, là bất tử, là phục sinh, là con đường qua đó bình an và hòa điệu, vẻ đẹp và tình thương có thể hiện diện trong kinh nghiệm của từng linh hồn tìm kiếm và xác nhận Ngài là Chúa của ngươi, là Đấng Cứu Rỗi của ngươi.

This, then, is the purpose of the entity in the earth: To be a channel of blessing to someone today, now; to be a living example of that He gave, “Come unto me, all that are weak and heavy laden—take my Cross upon you and learn of me.”

Vậy, mục đích của đương sự trong cõi trần là: Trở nên một kênh chúc phúc cho ai đó hôm nay, ngay bây giờ; trở thành tấm gương sống động của điều Ngài đã trao, “Hãy đến với Ta, hỡi tất cả những ai mệt mỏi và gánh nặng—hãy mang lấy Thập Giá của Ta và học nơi Ta.”

These are thy purposes in the earth. These ye will manifest beautifully, or make a miserable failure again as ye did in Atlantis, as many another soul in this particular era is doing.

Đây là các mục đích của ngươi trong cõi trần. Ngươi sẽ biểu hiện chúng cách mỹ mãn, hoặc lại chuốc lấy một thất bại thảm hại như ngươi từng làm ở Atlantis, như nhiều linh hồn khác trong kỷ nguyên đặc thù này đang làm.

Which will it be?

Sẽ là điều nào?

In analyzing the purposes, the ideals, the urges latent and manifested in this entity: As has been indicated by some, ye are part and parcel of a universal consciousness or God—and thus all that is within the universal consciousness, or the universal awareness; as the stars, the planets, the sun, the moon. Do ye rule them or they rule thee? They were made for thy own use, as an individual—yea, that is the part, the thought thy Maker, thy Father-God thinks of thee.

Khi phân tích các mục đích, lý tưởng, các xung lực tiềm ẩn và đã biểu lộ nơi đương sự này: Như có người đã chỉ ra, các bạn là một phần không thể tách của tâm thức phổ quát hay Thượng đế—và như thế tất cả những gì thuộc về tâm thức phổ quát, hay sự nhận biết phổ quát; như các vì sao, các hành tinh, mặt trời, mặt trăng. Các bạn cai quản chúng hay chúng cai quản các bạn? Chúng được dựng nên cho chính sự dụng của các bạn, như một cá thể—vâng, đó là phần, là niệm tưởng mà Đấng Tạo Hoá của các bạn, Đức Chúa Cha của các bạn nghĩ về các bạn.

For ye are as a corpuscle in the body of God; thus a co-creator with Him, in what ye think, in what ye do. And ye change each soul ye contact, literally or mentally—insofar as ye, as an individual entity, are a witness for or against thy Lord, thy God. This is the literal application, yea the spiritual way of man, of this entity in the earth; endowed, yes, with material attributes that to others may appear as a non- entity. Yet no soul may come in contact with the entity without being changed, either in body, in mind or in purpose. And purpose is, of course, of the soul.

Vì các bạn như một tiểu thể trong Thân Thể của Thượng đế; do đó là đồng sáng tạo với Ngài, trong điều các bạn nghĩ, trong điều các bạn làm. Và các bạn làm đổi thay mỗi linh hồn các bạn tiếp xúc, dù trực tiếp hay trong tư tưởng—tuỳ theo các bạn, như một đơn vị cá nhân, làm chứng vì hay chống lại Chúa của các bạn, Thượng đế của các bạn. Đây là áp dụng chữ nghĩa, vâng là con đường tinh thần của con người, của đương sự này trong cõi trần; được phú ban, đúng vậy, với những thuộc tính vật chất mà với người khác có thể trông như một kẻ vô danh. Tuy nhiên, không linh hồn nào có thể chạm đến đương sự mà không bị đổi thay, hoặc trong thân, trong tâm hoặc trong mục đích. Và mục đích, dĩ nhiên, thuộc về linh hồn.

As to the sojourns of the entity other than in the earth, we find Mercury, Jupiter, Venus, Saturn and Uranus as the ruling forces.

Về những lần trụ xứ của đương sự ngoài cõi trần, chúng tôi thấy Sao Thủy, Sao Mộc, Sao Kim, Sao Thổ và Sao Thiên Vương là các lực cai quản.

Thus the entity is one of high mental ability, or thinks things through—by comparison. This is a natural tend of the mind.

Như vậy đương sự là người có năng lực trí tuệ cao, hoặc suy xét mọi điều—bằng so sánh. Đây là khuynh hướng tự nhiên của thể trí.

In Jupiter we find naturally the universal consciousness.

Ở Sao Mộc, ta tự nhiên gặp tâm thức phổ quát.

We find in Venus love, beauty, home, friends. These are parts of the entity’s consciousness and are the most important experiences in the physical experience of the entity.

Ở Sao Kim, ta gặp tình thương, vẻ đẹp, gia đình, bằng hữu. Đó là những phần của tâm thức đương sự và là những kinh nghiệm quan trọng nhất trong đời sống vật chất của đương sự.

In Saturn we find the great changes that have come, and yet the ability to meet these in the consciousness of the mental as well as in the ideal becomes the problem of the entity.

Ở Sao Thổ, ta gặp những biến đổi lớn lao đã đến, nhưng năng lực đối diện chúng trong tâm thức trí tuệ cũng như trong lý tưởng trở thành vấn đề của đương sự.

We find in Uranus the extremes, yet the whole in the consciousness of the entity by that experience in Atlantis as well as in another experience, as we shall see. The things, the ways, the manners the entity may apply to meet the problems are parts of the consciousness of the entity.

Ở Sao Thiên Vương, ta gặp những cực đoan, tuy vậy toàn thể trong tâm thức của đương sự nhờ kinh nghiệm ở Atlantis cũng như ở một kinh nghiệm khác, như chúng ta sẽ thấy. Những điều, những cách, những phương tiện mà đương sự có thể áp dụng để đối diện các vấn đề là các phần của tâm thức đương sự.

As to the appearances of the entity in the earth, these have been quite varied, quite far apart in many instances and not all are to be met in this particular cycle, but especially those experiences in Atlantis—because of the numbers, great numbers of Atlanteans in the earth in the present; as well as the great hordes of those in that period when the Master walked in the earth.

Về những lần đương sự xuất hiện trong cõi trần, chúng khá đa tạp, khá cách biệt nhau trong nhiều trường hợp, và không phải tất cả đều phải được đối diện trong chu kỳ đặc thù này, mà nhất là những kinh nghiệm ở Atlantis—bởi số lượng, số rất lớn người Atlantis đang ở trần trong hiện tại; cũng như những đoàn người đông đảo ở thời kỳ mà Đấng Thầy bước đi trên mặt đất.

Before that the entity was in the land of the present nativity, during those reconstruction periods following the revolution.

Trước đó thực thể ở trong xứ sở của nơi sinh quán hiện tại, vào những thời kỳ tái thiết sau cuộc cách mạng.

There the entity was in the land of its present nativity or birth, experiencing the hardships that were a part of the problems of those that had just become settlers in the land when the differences arose between the free thinkers and those that were of the Crown—or the Tory, as called by some.

Ở đó thực thể ở trong xứ sở của nơi sinh quán hay sinh ra hiện tại, nếm trải những cơ cực vốn là một phần của các vấn đề của những người vừa trở thành dân định cư trên vùng đất khi những khác biệt nảy sinh giữa những người tư tưởng tự do và những người thuộc về Vương quyền—hay như một số người gọi là phe Tory.

The entity grew in that environ, and thus is meeting itself in the present in what might be well called the babble of tongues or of thought by groups, by individuals.

Thực thể trưởng thành trong môi trường ấy, nên hiện tại đang tự gặp lại chính mình trong cái có thể gọi khá đúng là sự lộn xộn của các tiếng nói hay của tư tưởng bởi các nhóm, bởi từng cá nhân.

In the group of sisters that took the entity in, the entity found a haven—that has brought to the entity in the present a sacredness of those who have dedicated their lives for any individual service, that the entity cannot by pass easily. Keep that faith, for of such is the kingdom made!

Trong nhóm các chị em đã đón nhận thực thể, thực thể tìm thấy một chốn nương náu—điều này đã mang lại cho thực thể trong hiện tại một cảm thức thiêng liêng đối với những người đã hiến dâng đời mình cho bất cứ sự phụng sự cá nhân nào—điều mà thực thể khó có thể dễ dàng bỏ qua. Hãy giữ vững đức tin ấy, vì bởi những điều như thế mà vương quốc được kiến tạo!

In the experience the entity gained, for throughout its experiences as a sister—Tennele—the entity made for helpfulness to children, and to those that were considered wayward in their relationships to the opposite sex. These are still within the entity’s consciousness those whom it pities most.

Trong kinh nghiệm mà thực thể đã thu nhận, bởi xuyên suốt các trải nghiệm như một nữ tu—Tennele—thực thể đã góp phần trợ giúp trẻ em, và những người bị xem là lạc hướng trong các mối quan hệ với giới tính đối nghịch. Đến nay, trong tâm thức của thực thể, đó vẫn là những người mà thực thể thương xót nhất.

Before that the entity was in the land when the Master walked in the earth, when there were those activities that brought about the attending to the passover—which He kept with His Disciples.

Trước đó, thực thể ở trong xứ sở khi bậc Thầy bước đi trên trần thế, khi có những hoạt động dẫn đến việc tham dự Lễ Vượt Qua—mà Ngài đã giữ cùng với các Đệ tử của Ngài.

The entity was among those who aided in the preparation of that upper chamber where He spent the last supper with His beloved Disciples.

Thực thể ở giữa những người đã trợ giúp trong việc chuẩn bị thượng phòng nơi Ngài dùng Bữa Tiệc Ly với các Đệ tử yêu dấu của Ngài.

It might be said that the entity was a maid or a helper in the household then of Zebedee, and very close to Mrs. Zebedee—being then a distant relative, in the name Elba.

Có thể nói rằng thực thể khi ấy là một thiếu nữ hay một người phụ giúp trong gia thất của Zebedee, và rất gần gũi với Bà Zebedee—khi ấy là một bà con xa, tên là Elba.

In the experience, and especially in the even, as the entity heard those pronouncements “One among you will betray me,” there was brought anger. And such expressions often make the entity double its fists even in the present, when insincerity is indicated—by inference or by activity—in friendships or in purpose toward that to which the entity has given itself in any activity.

Trong trải nghiệm ấy, và đặc biệt vào buổi chiều tối, khi thực thể nghe lời tuyên bố “Có một người trong các ngươi sẽ phản bội Ta,” cơn phẫn nộ dâng lên. Và những biểu hiện như vậy thường khiến thực thể trong hiện tại siết chặt hai nắm tay khi tính không chân thành được biểu lộ—dù là qua hàm ý hay hành động—trong tình bằng hữu hoặc trong mục đích đối với điều mà thực thể đã hiến mình trong bất cứ hoạt động nào.

The entity will understand those periods in self, then, when there is caused—as from out of nowhere—those feelings of loneliness, of a longing to hear that Voice again.

Thực thể rồi sẽ hiểu những thời kỳ trong tự thân, khi chẳng từ đâu cả mà dấy lên những cảm thức cô đơn, một niềm khao khát được nghe lại Tiếng Nói ấy.

The entity aided through those periods of reconstruction, and when the church was begun on Pentecost, when the thousands were added to the groups and there were the needs for the ministering to the strangers that encompassed the city, and the needs for those that might instruct others.

Thực thể đã trợ giúp trong những thời kỳ tái thiết, và khi giáo hội khởi sự vào Lễ Ngũ Tuần, khi có hàng ngàn người được thêm vào các nhóm và có nhu cầu chăm nom những người ngoại lai tràn ngập thành phố, và nhu cầu cho những người có thể giáo huấn những người khác.

Through that period the entity gained.

Qua giai đoạn đó thực thể đã đắc lực tiến bộ.

Before that the entity was in the Egyptian land when there were those activities following the demise or passing of the Priest Ra-Ta.

Trước đó thực thể ở xứ Ai Cập khi có những hoạt động sau sự viên tịch hay sự ra đi của Tu sĩ Ra-Ta.

The entity was among those that had been educated or prepared in the Temple Beautiful. Thus the associations with many of such in the present, yet there are some in which vast differences of opinions arise—as in that particular experience; thus we find the entity falling away or judging others too quickly in their differences of opinions. And these, as indicated, the entity is meeting in itself in the present.

Thực thể ở giữa những người đã được giáo dục hay được chuẩn bị trong Đền Thờ Mỹ Lệ. Do đó có những liên hệ với nhiều người như thế trong hiện tại, tuy vậy vẫn có một số người trong số họ nảy sinh những khác biệt ý kiến to lớn—như trong trải nghiệm riêng biệt đó; vì vậy chúng ta thấy thực thể rời xa hay phán xét người khác quá vội vàng khi có khác biệt ý kiến. Và như đã chỉ ra, thực thể đang tự gặp lại những điều này trong chính mình ở hiện tại.

But know that thy body is indeed the Temple of the Living God. And He has promised to meet thee. Keep that body as the Temple of God. Supply it with all the beauties as ye would a physical service to Him that ye would honor most—in thy heart, in thy body, in thy mind, in thy purpose. And let it ever be with that spirit of truth as manifested in Him, “I go unto the Father, that where I am ye may be also.” It may be thine now if ye will accept it—as ye did in the upper room.

Nhưng hãy biết rằng thân thể của ngươi quả là Đền Thờ của Thượng đế Hằng Sống. Và Ngài đã hứa sẽ gặp ngươi. Hãy giữ thân thể ấy như là Đền Thờ của Thượng đế. Hãy cung hiến cho nó mọi vẻ đẹp như ngươi sẽ dâng một phụng vụ hồng trần lên Đấng mà ngươi tôn vinh nhất—trong trái tim ngươi, trong thân ngươi, trong trí ngươi, trong mục đích của ngươi. Và hãy để nó luôn ở cùng tinh thần chân lý vốn hiển lộ nơi Ngài: “Ta đi về cùng Cha, để nơi Ta ở, các ngươi cũng ở đó.” Điều ấy có thể là của ngươi ngay bây giờ nếu ngươi chấp nhận nó—như ngươi đã làm trong thượng phòng.

Then the entity was known as Hed-Kala.

Khi ấy thực thể được biết đến là Hed-Kala.

Before that the entity was in Atlantis when those activities brought about the final destruction of the land.

Trước đó thực thể ở Atlantis khi những hoạt động dẫn đến sự hủy diệt sau chót của vùng đất.

The entity was among the children of the Law of One, and yet allowed self to be led astray by the sons of Belial. Harken not to these in the present, those that would tempt thee with any form of privilege because of that position in any manner. Let thy heart speak within thee, and ever “Not my will but thine, O God, be done in and through me.”

Thực thể thuộc về hàng con cái của Luật của Đấng Duy Nhất, nhưng đã để cho mình bị các con của Belial dẫn sai lạc. Chớ lắng nghe họ trong hiện tại—những kẻ sẽ cám dỗ ngươi bằng bất cứ hình thức đặc quyền nào vì địa vị nào đó theo bất cứ cách thức nào. Hãy để trái tim ngươi cất tiếng trong ngươi, và luôn luôn: “Không theo ý con, mà theo ý của Ngài, lạy Thượng đế; xin được hoàn tất trong và qua con.”

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) What specific thing am I to overcome or accomplish in this life?

(Q) Điều cụ thể nào tôi phải vượt qua hay hoàn thành trong đời này?

(A) Just read what we have given. You are meeting self, and it is that indifference that appears at times. As to that ye may accomplish most, it is in adding to—day by day—those opportunities, those privileges that ye have. It is by thy smile and not a word spoken, that the day may be brighter for many a soul and in making the day brighter, even for the moment, ye have contributed to the whole world of affairs—in thy thinking, “God forgive them, even as I ask forgiveness of thee.”

(A) Hãy đọc những gì chúng ta đã nêu. Ngươi đang tự đối diện với mình, và đó là sự dửng dưng đôi khi xuất hiện. Còn như điều ngươi có thể làm được nhiều nhất, đó là thêm vào—từng ngày một—những cơ hội, những đặc quyền mà ngươi có. Chính bằng nụ cười của ngươi, chứ không phải bằng một lời nói, mà một ngày có thể trở nên sáng sủa hơn cho biết bao linh hồn; và khi làm cho ngày ấy sáng hơn, dẫu chỉ trong khoảnh khắc, ngươi đã góp phần cho cả thế giới sự vụ—trong tư tưởng của ngươi, “Xin Thượng đế tha thứ cho họ, như con cũng cầu xin Ngài tha thứ cho con.”

(Q) Where and how have I been associated in the past with my husband, [2528].

(Q) Tôi đã liên hệ trong quá khứ với chồng tôi, [2528], ở đâu và như thế nào?

(A) In Atlantis not so hot. In Egypt much better. In the experience in the Holy Land most gracious—and ye are growing closer together in these. Keep the faith.

(A) Ở Atlantis thì không mấy tốt. Ở Ai Cập thì khá hơn nhiều. Trong trải nghiệm tại Thánh Địa thì rất tốt lành—và các ngươi đang ngày càng gần nhau hơn trong những điều ấy. Hãy giữ vững đức tin.

(Q) How can I be a better wife to [2528]?

(Q) Làm sao tôi có thể trở thành một người vợ tốt hơn cho [2528]?

(A) Who can tell a rose to be beautiful? Ye know within yourself thy ideal. Be as near that ideal as possible. Judgments—as ye will find—don’t draw too quickly. Meet him, be ever that to him that makes him feel better of himself and of everyone else.

(A) Ai có thể bảo một bông hồng rằng hãy xinh đẹp? Ngươi biết lý tưởng của ngươi ở trong chính mình. Hãy gần với lý tưởng đó hết mức có thể. Những phán xét—như ngươi sẽ thấy—đừng vội vàng. Hãy gặp chàng, và luôn là đối với chàng điều khiến chàng cảm thấy tốt hơn về chính mình và về mọi người khác.

We are through for the present.

Hiện thời chúng ta tạm dừng.

3

Past Life Readings for Reincarnated Atlanteans—Các Bài Đọc Tiền Kiếp cho Những Người Atlantis Tái Sinh

Editor’s Note: The following is a collection of past-life readings for individuals who had a significant incarnation in ancient Atlantis. Poseidia is the name Cayce gave to one of the five major regions of Atlantis

Ghi chú của Biên tập: Sau đây là tuyển tập các bài đọc tiền kiếp cho những cá nhân đã có một lần lâm phàm quan trọng ở Atlantis cổ đại. Poseidia là tên Cayce đặt cho một trong năm khu vực lớn của Atlantis.

TEXT OF READING 877-26 M 46

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 877-26 Nam 46

(Corporation Lawyer, Protestant)

(Luật sư Doanh nghiệp, Tin Lành)

This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Virginia, Virginia Beach, Va., this 23rd day of May, 1938, in accordance with request made by the self—Mr. [877], Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc tâm linh này được Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông ở Arctic Crescent, Virginia, Virginia Beach, Va., ngày 23 tháng Năm, 1938, theo yêu cầu của đương sự—Ông [877], Hội viên Tích cực của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký.

READING

BÀI ĐỌC

Time of Reading 4:10 to 4:40 P. M. Eastern Standard Time. New York City.

Thời gian Đọc 4:10 đến 4:40 chiều Giờ Chuẩn Miền Đông. Thành phố New York.

(Earthly existence in Poseidia, Atlantis, during first destructive influences used by the sons of Belial; when the influences of the sun were crystallized through the crystal that then controlled the motivative forces in the experience.)

(Sự lâm phàm trên trần thế ở Poseidia, Atlantis, trong thời kỳ đầu của các ảnh hưởng hủy hoại được dùng bởi các con của Belial; khi ảnh hưởng của mặt trời được kết tinh qua khối tinh thể khi ấy điều khiển các mãnh lực thúc động trong trải nghiệm.)

EC: Yes, we have the records here of that entity now called or known as [877]; those experiences in that sojourn in the earth environment in what is called Poseidia, in Atlantis.

EC: Vâng, chúng ta có các ghi chép ở đây về thực thể hiện được gọi hay biết đến là [877]; những trải nghiệm trong chuyến du trú nơi môi trường trần thế tại nơi gọi là Poseidia, thuộc Atlantis.

In giving the interpretation of the records as we find them, it is well that there be given something of the background—or the variations; that there is not confusion.

Khi diễn giải những ghi chép mà chúng ta tìm thấy, điều nên làm là nêu ra đôi chút bối cảnh—hoặc các biến thiên; để khỏi nhầm lẫn.

For in giving the experience of an entity’s sojourn in a period as remote as the early destructive influences in that land called Atlantis, or in Poseidia, there is oft a confusion in the interpretations of the records—as to whether Poseidia was the land or Atlantis was the land.

Bởi vì khi thuật lại trải nghiệm của một thực thể lâm phàm trong một thời kỳ xa xôi như giai đoạn đầu của những ảnh hưởng hủy hoại nơi vùng đất gọi là Atlantis, hay tại Poseidia, thường có sự lẫn lộn khi diễn giải các ghi chép—rằng Poseidia là vùng đất hay Atlantis là vùng đất.

There were also other centers that were developing. For in the projections they began as many, and in creating influences they began as five—or in those centers where crystallization or projection had taken on such form as to become what was called man.

Khi ấy cũng có những trung tâm khác đang phát triển. Vì trong các lần phóng chiếu, họ khởi đầu như nhiều nhóm, và trong các ảnh hưởng sáng tạo, họ khởi đầu như năm—or là ở những trung tâm nơi sự kết tinh hay sự phóng chiếu đã mang hình thái như thế để trở thành cái được gọi là con người.

Hardly could it be said that they were in the exact form as in the present. For there were more of the influences that might be used when necessary; such as arms or limbs or feet or whatnot.

Khó mà nói rằng họ có hình dạng chính xác như trong hiện tại. Vì có nhiều ảnh hưởng có thể dùng khi cần; như tay hay chân hay bàn chân hay đại loại như thế.

So, in following or interpreting the Poseidian period—or in Atlantis—let it be understood that this was only one of the groups; and the highest or the greater advancement in the earthly sojourning of individual entities or souls at that particular period—or the highest that had been save that which had been a part of the Lemurian age.

Vậy nên, khi theo dõi hay diễn giải thời kỳ Poseidia—hay ở Atlantis—hãy hiểu rằng đó chỉ là một trong các nhóm; và là mức cao nhất hay sự tiến bộ lớn hơn trong cuộc chu lưu trần thế của các thực thể hay các linh hồn vào thời giai đoạn đó—hay là cao nhất từng có ngoại trừ điều đã thuộc về thời đại Lemuria.

Hence we find there had been the separating into groups (as we would call them) for this or that phase of activity; and those that were against that manner of development.

Do đó chúng ta thấy đã có sự phân nhóm (như chúng ta gọi) cho hoạt động này hay hoạt động kia; và cả những người chống lại cách thức phát triển như thế.

The Sons of Belial were of one group, or those that sought more the gratifying, the satisfying, the use of material things for self, without thought or consideration as to the sources of such nor the hardships in the experiences of others. Or, in other words, as we would term it today, they were those without a standard of morality.

Các Con của Belial là một nhóm, tức là những kẻ tìm kiếm sự thỏa mãn, đáp ứng, sử dụng các vật chất cho riêng mình, không nghĩ hay quan tâm đến nguồn gốc của những thứ ấy, cũng như các cơ cực trong trải nghiệm của người khác. Hay, nói cách khác, theo cách gọi ngày nay, họ là những kẻ không có chuẩn mực đạo đức.

The other group—those who followed the Law of One—had a standard. The Sons of Belial had no standard, save of self, self-aggrandizement.

Nhóm kia—những người theo Luật của Đấng Duy Nhất—thì có chuẩn mực. Các Con của Belial không có chuẩn mực nào, ngoại trừ vì bản ngã, vì tự tôn vinh.

Those entities that were then the producers (as we would term today), or the laborers, the farmers or the artisans, or those who were in the positions of what we would call in the present just machines, were those that were projections of the individual activity of the group.

Những thực thể khi ấy là những người sản xuất (như chúng ta gọi ngày nay), hay là thợ lao động, nông dân hay thợ thủ công, hay những người ở vị trí mà hiện nay chúng ta gọi đơn thuần là máy móc, vốn là các phóng chiếu của hoạt động cá thể trong nhóm.

And it was over these then, and the relationships that they bore to those that were in authority, that the differences arose.

Và chính về những người này, và các quan hệ mà họ mang đối với những người có thẩm quyền, mà tranh chấp nảy sinh.

Then we find the entity, now known as or called [877], was among the children of the Law of One; entering through the natural sources that had been considered in the period as the means of establishing a family. However, they were rather as a group than as an individual family.

Khi ấy chúng ta thấy thực thể, hiện được biết hay gọi là [877], ở giữa hàng con cái của Luật của Đấng Duy Nhất; đi vào qua những nguồn tự nhiên vốn được xem trong thời kỳ đó là phương tiện thiết lập một gia đình. Tuy vậy, họ thiên về hình thái nhóm hơn là một gia đình cá thể.

For those who were of the ruling forces were able by choice to create or bring about, or make the channel for the entrance or the projection of an entity or soul, as the period of necessity arose.

Bởi những người thuộc lực lượng cầm quyền khi ấy có thể theo chọn lựa mà tạo ra hay gây nên, hay mở kênh cho sự đi vào hay phóng chiếu của một thực thể hay linh hồn, khi xuất hiện nhu cầu theo thời kỳ.

Then such were not as households or as families, like we have today, but rather as groups.

Vậy nên những nơi ấy không như các hộ gia đình hay gia đình như ngày nay, mà thiên về các nhóm.

Their standard was that the soul was given by the Creator or entered from outside sources into the projection of the mental and spiritual self at the given periods. That was the standard of the Law of One, but was rejected by the Sons of Belial.

Chuẩn mực của họ là linh hồn được ban bởi Đấng Sáng Tạo hay đi vào từ các nguồn bên ngoài vào phóng chiếu của tự ngã trí tuệ và tinh thần vào các thời đoạn nhất định. Đó là chuẩn mực của Luật của Đấng Duy Nhất, nhưng đã bị các Con của Belial khước từ.

But this entity, [877], is the one whom we are to follow in the present; as for its application of those innate tenets, that are a portion of the aroma of the innate being, as it were, or the influence that is as the rate of vibratory force of the entity in its relationships to the universal activity or vibratory forces.

Nhưng thực thể này, [877], là người mà chúng ta sẽ theo dõi trong hiện tại; xét theo việc vận dụng những giáo điều bẩm sinh, vốn là phần hương khí của hữu thể bẩm sinh, như thể vậy, hay là ảnh hưởng như tần độ rung động của thực thể trong tương quan với hoạt động hay các lực rung động mang tính vũ trụ.

These are the abilities to which the entity may attune self, through all the various phases of its application in those directions in other experiences.

Đó là những khả năng mà thực thể có thể tự điều hòa, qua mọi phương diện khác nhau của việc vận dụng trong những hướng đã có ở các trải nghiệm khác.

But that was among the first entrances, or the second entrance of the entity from the without, into that form which became encased as an entity, an individual body, see?

Nhưng đó là vào những lần nhập thế đầu tiên, hay lần nhập thế thứ hai của thực thể từ bên ngoài, vào hình thái trở nên được bao bọc như một thực thể, một thân thể cá nhân, thấy chứ?

The name then, as we would term in the present, was Deui (pronounced Dar, or D-R); and the entity was active in the recording of the messages, the directing of those forces that came with the use of the light that formed the rays upon which the influence from without was crystallized into what would become as the sound from the outer realm to the static or individual realm.

Danh xưng khi ấy, như chúng ta gọi trong hiện tại, là Deui (phát âm Dar, hay D-R); và thực thể hoạt động trong việc ghi chép các thông điệp, điều vận những lực đã đến cùng với việc sử dụng ánh sáng để hình thành những tia mà trên đó ảnh hưởng từ bên ngoài được kết tinh thành cái sẽ trở nên như âm thanh từ cõi ngoại giới vào cõi tĩnh hay cõi cá thể.

These were not only the rays from the sun, set by the facets of the stones as crystallized from the heat from within the elements of the earth itself, but were as the combination of these.

Đó không chỉ là những tia từ Mặt Trời, được định bởi các diện tinh thể của đá khi kết tinh từ nhiệt phát ra trong các nguyên tố của chính Trái Đất, mà còn là sự phối kết của những thứ này.

For it was these gases, these influences that were used for what we call today the conveniences as for light, heat, motivative forces; or radial activity, electrical combinations; the motivative forces of steam, gas and the like for the conveniences.

Vì chính các khí, các ảnh hưởng ấy đã được dùng cho cái mà ngày nay chúng ta gọi là tiện nghi như ánh sáng, nhiệt, các mãnh lực thúc động; hay hoạt động bức xạ, các tổ hợp điện; các mãnh lực thúc động của hơi nước, khí v.v. cho những tiện nghi.

Then this entity, Deui, was among those who attempted to make such influences a part of the experience of those who were—as indicated—the producers of that used for food, clothing; for the machines as it were for the producing of these—as we would call them today; rather than the machines used for the sources of the correlating or centralizing or crystallizing of the activity in their very forms.

Khi ấy thực thể này, Deui, thuộc về những người tìm cách làm cho các ảnh hưởng như vậy trở thành một phần trong trải nghiệm của những người—như đã nêu—là những nhà sản xuất những thứ dùng làm lương thực, quần áo; cho những máy móc dùng để sản xuất những thứ này—như chúng ta gọi ngày nay; hơn là những cỗ máy dùng làm nguồn cho sự tương liên hay tập trung hay kết tinh hoạt động ngay trong chính các hình thái của họ.

The use of these influences by the Sons of Belial brought, then, the first of the upheavals; or the turning of the etheric rays’ influence from the Sun—as used by the Sons of the Law of One—into the facet for the activities of same—produced what we would call a volcanic upheaval; and the separating of the land into several islands—five in number.

Việc các Con của Belial sử dụng những ảnh hưởng này đã mang đến cuộc chấn động đầu tiên; tức là việc chuyển đổi ảnh hưởng của các tia dĩ thái từ Mặt Trời—vốn được các Con của Luật của Đấng Duy Nhất sử dụng—vào phương diện để vận hành cùng các tia ấy—đã tạo ra cái mà chúng ta gọi là một cuộc phun trào núi lửa; và sự tách rời vùng đất thành vài hòn đảo—năm hòn.

Poseidia, the place or the settlement of that particular sojourning of the entity—Deui—at the time, then became one of these islands.

Poseidia, nơi chốn hay khu định cư cho chuyến lâm phàm đặc thù của thực thể—Deui—khi ấy trở thành một trong các đảo này.

Hence the confusion that at times is seen by those who would interpret such records.

Do đó xuất hiện sự lẫn lộn đôi khi thấy nơi những người muốn diễn giải các ghi chép như vậy.

As to the application of that the entity experienced, and the urges received—or that are applicable in the present, we find:

Về việc vận dụng những điều mà thực thể đã trải nghiệm, và những xung lực nhận được—hay điều có thể áp dụng trong hiện tại—chúng ta thấy:

The entity knows innately the relationship of the soul—or the first cause of self—with infinity; the relationship of infinity to each entity; and that there is no respecter of persons except as to how and why each entity, as a spark of infinity, magnifies or uses its relationship not for self-indulgence or gratification but for the glory of that which is the source of light, of all that pertains to light. For every spark of light, whether in the spiritual, the mental or the material sense, must have its inception in infinity.

Thực thể biết một cách bẩm sinh mối quan hệ của linh hồn—hay nguyên nhân đầu tiên của tự ngã—với vô tận; mối liên quan của vô tận với mỗi thực thể; và rằng không có sự thiên vị các nhân vị, trừ như cách thức và lý do mà mỗi thực thể, như một tia lửa của vô tận, phóng đại hay sử dụng mối tương liên ấy không phải cho tự khoái lạc hay thỏa mãn, mà hầu hiển vinh cho nguồn của ánh sáng, của mọi điều thuộc về ánh sáng. Vì mọi tia lửa ánh sáng, dù ở nghĩa tinh thần, trí tuệ hay vật chất, tất phải có khởi nguyên trong vô tận.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Was there any relationship in that incarnation with my present wife, [920]?

(Q) Trong hóa thân đó có mối liên hệ nào với người vợ hiện tại của tôi, [920], không?

(A) Because of the very relationship, and for the characterization of same, there is the necessity that there be the comparison—rather than the drawing from the individual.

(A) Bởi chính mối tương liên, và vì đặc trưng của nó, cần có sự đối chiếu—hơn là rút ra từ cá nhân.

(Q) With my friend, [1301]?

(Q) Với người bạn của tôi, [1301]?

(A) The same would be applicable here.

(A) Ở đây cũng áp dụng như vậy.

As has just been indicated, all who were of the Law of One were associated, see?

Như vừa chỉ ra, tất cả những ai thuộc về Luật của Đấng Duy Nhất đều có liên hệ, thấy chứ?

If they were of that group, then they were associated. Draw the comparisons, you see, from the information given for each.

Nếu họ thuộc nhóm ấy, thì họ có liên hệ. Hãy rút các đối chiếu, ngươi thấy đấy, từ thông tin đã ban cho mỗi người.

(Q) With my friend, Edgar Cayce.

(Q) Với người bạn của tôi, Edgar Cayce.

(A) Just as indicated. These relationships are not to be drawn from those experiences that were merely two or three thousand years back, but remember—this sojourn was nearer to fifty or five hundred thousand years before we even have the beginning of the Law as the Law of One manifested!

(A) Như đã chỉ ra. Những mối tương liên này không nên được rút ra từ những trải nghiệm chỉ cách đây hai hoặc ba nghìn năm, mà hãy nhớ—chuyến lâm phàm này gần với năm mươi hay năm trăm nghìn năm trước khi chúng ta thậm chí có khởi đầu của Luật như Luật của Đấng Duy Nhất hiển lộ!

(Q) What was the fundamental basic principle of metaphysics and religion?

(Q) Nguyên lý căn bản nền tảng của siêu hình học và tôn giáo là gì?

(A) As has been indicated.

(A) Như đã chỉ ra.

We are through for the present.

Hiện thời chúng ta tạm dừng.

Editor’s Note: When giving a past-life reading, Cayce often began with a view of the astrological influences affecting the soul—not in the manner we do astrology today but in a way that dealt with how the soul experiences life beyond Earth in dimensions of activity associated with the various other planets in this solar system. Cayce called these “planetary sojourns” and explained that this solar system is comparable to a soul university in which there are nine colleges (the planets) and that souls experience nonphysical training in these other dimensions, experiences that fit with what astrology identifies as the feature of each planet. For example, soul training for the mind occurs in dimensions associated with the planet Mercury, while training about love, music, and the arts would occur in dimensions associated with Venus; and so on it goes. In this next reading for a soul that incarnated in Poseidia, we see how Cayce addressed his astrological influences, as well as his Earth lives.

Ghi chú của Biên tập: Khi đưa ra một bài đọc tiền kiếp, Cayce thường khởi đầu bằng cách nhìn các ảnh hưởng chiêm tinh tác động lên linh hồn—không theo cách chúng ta làm chiêm tinh ngày nay, mà theo cách bàn về việc linh hồn trải nghiệm đời sống vượt ngoài Trái Đất trong các chiều hoạt động gắn với những hành tinh khác nhau trong hệ mặt trời này. Cayce gọi đó là “những kỳ lưu trú hành tinh” và giải thích rằng hệ mặt trời này giống như một đại học dành cho linh hồn, trong đó có chín “trường” (các hành tinh) và các linh hồn trải nghiệm huấn luyện phi vật chất nơi các chiều không gian khác này, những trải nghiệm tương hợp với cái mà chiêm tinh học nhận diện là đặc tính của từng hành tinh. Thí dụ, sự rèn luyện cho thể trí diễn ra trong những chiều liên hệ với Sao Thủy, trong khi rèn luyện về tình thương, âm nhạc, và nghệ thuật diễn ra nơi các chiều gắn với Sao Kim; và cứ thế tiếp diễn. Trong bài đọc tiếp theo dành cho một linh hồn đã nhập thể ở Poseidia, chúng ta sẽ thấy Cayce đã đề cập đến các ảnh hưởng chiêm tinh của ông ấy, cũng như những đời sống nơi Trần gian.

TEXT OF READING 5395-1 M 55

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 5395-1 Nam 55

(Promoter, Hebrew and Christian Background)

(Nhà xúc tiến, Nền tảng Do Thái và Cơ Đốc)

This psychic reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 26th day of August, 1944, in accordance with request made by the self—Mr. [5395], Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc tâm linh này được Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 26 tháng Tám, 1944, theo yêu cầu của đương sự—Ông [5395], Hội viên Tích cực của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Jeanette Fitch, Stenos. [5395].

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Jeanette Fitch, Thư ký tốc ký. [5395].

READING

BÀI ĐỌC

Born February 22, 1889, in Buffalo, New York.

Sinh ngày 22 tháng Hai, 1889, tại Buffalo, New York.

Time of Reading Set bet. 3:30 to 4:30 P. M. Eastern War Time.

Thời gian Đọc ấn định trong khoảng 3:30 đến 4:30 chiều, Giờ Chiến tranh Miền Đông.

GC: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane, giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them:

GC: Ngài sẽ cho biết mối liên hệ giữa thực thể này và vũ trụ, cùng các lực vũ trụ; cho biết những trạng thái vốn là các biểu hiện phàm ngã, tiềm ẩn và lộ bày trong đời sống hiện tại; đồng thời những lần xuất hiện trước đây trong cõi trần, cho biết thời gian, địa điểm và tên gọi, và điều trong mỗi đời đã xây dựng hay kìm hãm sự phát triển của thực thể; cho biết các khả năng của thực thể hiện tại, điều có thể đạt đến, và cách thức. Ngài sẽ trả lời các câu hỏi khi tôi nêu:

EC: Yes, we are given the records here of that entity now known as or called [5395].

EC: Vâng, chúng ta có các ghi chép ở đây về thực thể hiện được biết hay gọi là [5395].

In giving the interpretations of these records, there is much to be chosen from. There should be the return for specifics in certain periods as may be indicated. For there are conditions in the making that are a parallel in the activities of the entity in other periods of world unfoldment.

Khi diễn giải những ghi chép này, có rất nhiều điều để chọn. Nên quay lại để xin chỉ dẫn cụ thể cho những thời kỳ nhất định như có thể được chỉ ra. Vì có những hoàn cảnh đang được hình thành, song hành với các hoạt động của thực thể trong các thời kỳ khai mở của thế giới khác.

In analyzing the records here, these we find as a composite of the entity’s astrological urges, as well as from sojourns in the earth.

Khi phân tích những ghi chép ở đây, chúng ta thấy chúng là tổng hợp các xung lực chiêm tinh của thực thể, cũng như từ những lần lưu trú nơi trần thế.

As we find, characters have, and do influence the entity’s thought by the manner in which those entities—who are of interest or were interesting in their characteristics, made application of tenets or truths which appear to be applicable in the experience of the entity in the present. Just as in the experience as in the one before this certain characters were the ideal of the entity, rather than the spiritual source. This is not given intending to indicate the lack of spirituality upon the part of the entity, but rather indicating that the cycle of time is such that the spirituality rather than individuality of certain individuals is to be made the ideal of the entity in the present.

Như chúng ta thấy, các nhân vật đã và đang ảnh hưởng đến tư tưởng của thực thể bằng cách thức những nhân vật đó—những người tạo hứng thú hoặc từng thú vị trong đặc trưng của họ—đã vận dụng các giáo điều hay chân lý vốn có vẻ thích đáng trong trải nghiệm của thực thể ở hiện tại. Cũng như trong trải nghiệm ở đời ngay trước đời này, những nhân vật nhất định đã trở thành lý tưởng của thực thể, thay vì nguồn tinh thần. Điều này không nhằm ám chỉ sự thiếu vắng tinh thần nơi thực thể, nhưng đúng hơn cho thấy rằng chu kỳ thời gian là như vậy, trong đó tính tinh thần chứ không phải cá tính của một số cá nhân cần được thực thể hiện tại lấy làm lý tưởng.

Astrologically, we find the urges from Jupiter, Mercury, Mars are those leading or the greater influences. Hence, activities of the entity from the Jupiterian are to be beneficent or of a universal activity or consciousness and not by mob rule, but rather of that which appeals to the consciousness of the benevolent, beneficent, or the good is to ever be appealed to in the entity’s activities and associations as will be seen from the sojourns, as well as the astrological urges will have to do with large numbers or of great numbers of peoples are to be the entity’s activities. That others do not take advantage of the entity because of its beneficent or benevolent attitude should be the warning to the entity.

Về mặt chiêm tinh, chúng ta thấy các xung lực từ Sao Mộc, Sao Thủy, Sao Hỏa là những lực dẫn dắt hay ảnh hưởng lớn hơn. Do vậy, các hoạt động của thực thể từ ảnh hưởng Mộc tinh sẽ hướng đến điều hiếu thiện hay mang tính phổ quát, hoặc tâm thức phổ quát, và không theo cách “chủ nghĩa đám đông”, mà đúng hơn là điều đánh động tâm thức của những gì nhân từ, hiếu thiện, hay điều thiện nên luôn được khơi dậy trong các hoạt động và liên hệ của thực thể; như sẽ thấy từ những chuyến lưu trú, cũng như các xung lực chiêm tinh sẽ liên quan đến số đông, hoặc rất đông người, thuộc lĩnh vực hoạt động của thực thể. Rằng người khác không nên lợi dụng thực thể vì thái độ hiếu thiện hay nhân hòa của mình—điều này nên là lời cảnh báo cho thực thể.

The entity expects, desires, hopes for that “as ye do to others, so should others do to thee”. This can be and only is true when either or both of such activities is prompted by the spirit of truth, rather than from an “axe to grind” as it might be called. In Mars we find those activities.

Thực thể trông đợi, mong muốn, hy vọng điều rằng “điều gì ngươi làm cho người khác, người khác cũng nên làm cho ngươi.” Điều này chỉ có thể có thật khi một trong hai hoặc cả hai hoạt động như thế được thúc đẩy bởi tinh thần chân lý, chứ không phải từ “ý đồ riêng” như có thể gọi. Ở Sao Hỏa, chúng ta thấy những hoạt động như vậy.

The entity in its relationships, then, to others finds ever something of the mind, of the hands, to do, that the experience of the entity is that the entity is itself, as each soul in the earth, a three-dimensional entity or individual—body-physical, mind (mental) and soul and that where most of the activities may appeal to the purely physical, unless it is prompted from the spiritual source, the mind cannot be wholly or always creative in bringing material manifestations into the earth. If it is selfishness or an exalted opinion of self, which is another form of selfishness, or the desire of being exalted, it is another form of the same. Then these must bring only that which is temporary or is wholly material. But prompted by a spiritual ideal which is seen in man’s concept of the Godhead, Father, Son, Holy Spirit or body, mind, soul, these, then, are active, acted upon in the same manner as these give expression in the spiritual, in the mental, in the material affairs of man.

Trong các tương quan của mình với người khác, thực thể luôn tìm ra điều gì đó dành cho trí năng, cho đôi tay, để làm; sao cho trải nghiệm của thực thể là: bản thân thực thể, như mỗi linh hồn nơi trần thế, là một cá thể hay cá nhân ba chiều—thể xác, thể trí (trí tuệ) và linh hồn; và rằng nơi phần lớn các hoạt động có thể hướng đến thuần túy thể chất, nếu không được thúc đẩy từ nguồn tinh thần, thì thể trí không thể hoàn toàn hay luôn luôn sáng tạo trong việc đưa các biểu hiện vật chất vào trần gian. Nếu đó là tính ích kỷ hay một ý nghĩ tự tôn cao, vốn là một dạng khác của ích kỷ, hay khát vọng được tôn vinh, thì đó lại là một dạng khác của cùng một điều. Vậy thì những điều này chỉ có thể mang lại cái tạm bợ hay thuần túy vật chất. Nhưng nếu được thúc đẩy bởi một lý tưởng tinh thần vốn được thấy trong quan niệm của con người về Thần tính—Cha, Con, Thánh Linh—hay thân, trí, hồn, thì những điều này sẽ vận hành, được tác động theo cùng cách như chúng biểu lộ trong lĩnh vực tinh thần, trong lĩnh vực trí tuệ, trong các sự vụ vật chất của con người.

In the associations we find activities which will have to do with influences of people in every walk of life as was the experience of the entity in the experience just before this when it was in the name of Jonathan Hannigan during those periods of what may be called the period of reconstruction following the war between brethren. The entity using then the principles as to the entity applied from the study of the life of Washington, prompted the manner in which the relationships between the individuals who would become buyers, whether local or foreign, prompted the activities of the entity in establishing interests which have grown to be great powers in the land of the entity’s present nativity.

Trong các tương giao, chúng ta thấy những hoạt động sẽ liên quan đến ảnh hưởng của con người thuộc mọi nẻo đời, như đã từng là trải nghiệm của thực thể trong đời ngay trước đời này, khi thực thể mang tên Jonathan Hannigan, vào thời kỳ có thể gọi là giai đoạn tái thiết sau cuộc chiến giữa anh em. Khi ấy, thực thể dùng những nguyên tắc mà mình đã vận dụng từ việc học đời sống của Washington, qua đó định hướng cách thức các mối quan hệ giữa các cá nhân sẽ trở thành người mua, dù địa phương hay ngoại quốc, qua đó thúc đẩy các hoạt động của thực thể trong việc thiết lập những lợi ích đã lớn mạnh thành những thực lực lớn trong xứ sở nơi sinh quán hiện tại của thực thể.

The entity presented these in much of the manner in which another of the ideals or ideas of the entity were written as Lowell. Thus, we find the abilities of the entity in the directing especially of those activities between certain groups, is part of the consciousness of the entity.

Thực thể đã trình bày những điều này rất nhiều theo cách mà một nhân vật lý tưởng hay ý tưởng khác của thực thể là Lowell đã viết. Do vậy, chúng ta thấy khả năng của thực thể trong việc điều phối, đặc biệt là những hoạt động giữa các nhóm nhất định, là một phần trong tâm thức của thực thể.

Before that we find the entity was in what is called the Roman land, when there were those expansions of the land as an empire and the establishing of influences and developments in other lands.

Trước đó chúng ta thấy thực thể ở cái gọi là xứ La Mã, khi có những bành trướng của xứ sở thành đế quốc và việc thiết lập ảnh hưởng cũng như phát triển ở các miền khác.

The entity was among those who aided in setting the policies which would be used in directing as to what should be the contribution to those lands taken under direction or those lands put under subjugation. To the entity these should ever be as working together for the common good of both of the lands. As in those which might be expected as contributions from the northern portions of the African land, as those which might be from the Holy Land, from what is now the Turkish or Mohammedan land, though this is, of course, not in those special terms, but as directions.

Thực thể ở giữa những người trợ giúp đặt ra các chính sách sẽ dùng để chỉ đạo những gì nên là sự đóng góp cho những vùng đất bị đặt dưới sự quản lý hay những vùng đất bị đặt dưới ách chế ngự. Đối với thực thể, những điều này phải luôn là làm việc chung vì lợi ích chung của cả hai miền đất. Như trong những điều có thể trông đợi là đóng góp từ miền bắc của xứ châu Phi, như những điều có thể đến từ Thánh Địa, từ nơi nay là xứ Thổ hay Hồi giáo—dĩ nhiên không theo các thuật ngữ riêng biệt như bây giờ—mà dưới dạng chỉ đạo.

Here we find the entity beginning the establishments of causes of why relationships between various groups, though under quite different circumstances, could be set as established truths between nations which held even varied ideals as to their moral or their spiritual lives and yet, as has been indicated, these in their application in the present, are to be manifested or expressed in the terms of spiritual ideals and will make for clean thinking and bring material manifestations best for all.

Tại đây chúng ta thấy thực thể khởi sự thiết lập các nguyên nhân cho lý do tại sao các mối tương quan giữa các nhóm khác nhau, dù ở những hoàn cảnh khá khác biệt, có thể được đặt ra như chân lý đã được thiết lập giữa các quốc gia, vốn thậm chí giữ những lý tưởng khác nhau về đời sống đạo đức hay tinh thần của họ; và tuy vậy, như đã chỉ ra, những điều này trong việc vận dụng ở hiện tại, phải được biểu lộ hay thể hiện bằng các thuật ngữ của lý tưởng tinh thần và sẽ kiến tạo tư duy trong sạch, mang đến những biểu hiện vật chất tốt nhất cho tất cả.

The entity was then in the name of Durocas.

Thực thể khi ấy mang tên Durocas.

Before that we find the entity was in the Egyptian land when there had been the setting up of an ideal by the Priest and especially by the King who had chosen the counselors for providing the better understanding between peoples of other lands and setting, as would be called in the present, the offices of the aid, or the Cabinet of the President. Then the entity was president of the Young King as set by the choice of those in that period.

Trước đó chúng ta thấy thực thể ở xứ Ai Cập khi đã thiết định một lý tưởng bởi vị Tu sĩ và đặc biệt là bởi vị Quốc vương, người đã chọn những cố vấn để vun bồi sự thấu hiểu tốt hơn giữa các dân thuộc các miền khác và thiết lập, như trong hiện tại sẽ gọi, các phòng vụ trợ giúp, hay Nội các của Tổng thống. Khi ấy thực thể là chủ tịch của vị Vua Trẻ như đã được chọn bởi những người trong thời kỳ đó.

The entity had, as would be termed today, the position of the foreign relationships and these brought to the peoples of that period even when turmoils arose and the Priest banished, brought to the King a better interpretation of the needs in various portions of the then active world.

Thực thể có, theo cách gọi ngày nay, chức trách về ngoại giao và những điều này đã mang đến cho dân chúng trong thời kỳ đó—dù khi sóng gió nổi lên và vị Tu sĩ bị lưu đày—điều đã mang đến cho Vua một cách diễn giải tốt hơn về những nhu cầu ở nhiều phần của thế giới đang hoạt động khi ấy.

With the reestablishing of the activities of the Priest in that particular period, these tenets and truths brought the universality of good for the betterment of all in every walk of life. In all the various forms of development were portions of that set in the tenets and teachings of the entity then in the capacity as the representative of the King and of the Priest in its efforts with other groups as those in the Carpathian, the Persian, the land of Saad, the Golden Land and especially in the Gobi land.

Với việc tái lập các hoạt động của vị Tu sĩ trong thời kỳ đặc thù đó, những giáo điều và chân lý này đã mang lại tính phổ quát của điều thiện vì lợi ích của tất thảy trong mọi nẻo đời. Trong mọi hình thái phát triển khác nhau đều có phần thuộc về điều được thiết định trong các giáo điều và giáo huấn của thực thể, khi ấy trong vai trò đại diện cho Vua và vị Tu sĩ trong nỗ lực với các nhóm khác như ở Carpathia, Ba Tư, xứ Saad, Xứ Vàng và đặc biệt ở vùng Gobi.

Thus the tenets and the truths from other sources, then that which may be applicable in the experience of the entity for a unified activity becomes a part of the consciousness of the entity.

Vì vậy, các giáo điều và chân lý từ những nguồn khác, rồi điều có thể vận dụng trong trải nghiệm của thực thể để phục vụ cho một hoạt động thống nhất, trở thành một phần trong tâm thức của thực thể.

The entity was then in the name of Henk-elel.

Thực thể khi ấy mang tên Henk-elel.

In this experience the entity worked together closely with the propagandist or the choice of the tenets and truths which were published for relationships as one to another. These will be well for the entity to follow in the present.

Trong trải nghiệm này, thực thể đã hợp tác rất gần gũi với người làm công tác tuyên truyền hay người chọn lựa các giáo điều và chân lý được công bố nhằm kiến tạo tương quan giữa người với người. Những điều này thực thể nên theo trong hiện tại.

Before that we find the entity was in the Atlantean land when there were those first disturbances which brought about the upheavals. The Sons of Belial were using the spiritual truths for self-aggrandizement, self-indulgence.

Trước đó chúng ta thấy thực thể ở xứ Atlantis khi có những xáo động ban đầu dẫn đến các cuộc chấn động. Các Con của Belial đang sử dụng các chân lý tinh thần vì tự tôn vinh, tự hưởng thụ.

The entity, then in the capacity of the Prince of Poseidia, attempted to prevent the use of such and thus brought on a period of turmoils, eventually defied, brought destruction.

Thực thể, khi ấy trong vai Vương tử của Poseidia, đã tìm cách ngăn chặn việc sử dụng như thế và vì vậy đưa đến một giai đoạn sóng gió, rốt cuộc bị thách thức, dẫn đến hủy diệt.

The entity will find in the present that no land, no country, which is not being directed by some entity whom the entity worked with or against at that period.

Thực thể sẽ thấy trong hiện tại rằng không có xứ sở, không có quốc gia nào mà không được dẫn dắt bởi một số thực thể mà thực thể đã từng cộng tác hoặc đối kháng trong thời kỳ ấy.

This is a period when instead of upheavals in material, in mental there may be established harmonious reactions among the groups which make for the social, of the political, of the human conditions of many lands. The application of the tenets of truth, spiritual truths—not in gobs, in small doses—remembering as is given, which is too often neglected, too often forgotten: “It is the little leaven that leaveneth the whole lump.” It must grow as an individual, in grace, in knowledge, in understanding, to bring the unified activity under the source of truth, the source of light, the source of understanding. It is either made or imagined or disagreements in lack of understanding.

Đây là một thời kỳ mà thay vì các chấn động nơi vật chất, thì trong lĩnh vực trí tuệ có thể thiết định những phản ứng hài hòa giữa các nhóm vốn cấu thành các điều kiện xã hội, chính trị, và nhân sự của nhiều xứ sở. Việc vận dụng các giáo điều chân lý, các chân lý tinh thần—không phải ồ ạt, mà theo những liều nhỏ—hãy nhớ như đã ban, điều quá thường bị xem nhẹ, quá thường bị quên lãng: “Một chút men làm dậy cả khối bột.” Nó phải lớn lên như một cá thể, trong ân sủng, trong tri thức, trong thấu hiểu, để đưa hoạt động thống nhất về dưới nguồn của chân lý, nguồn của ánh sáng, nguồn của sự thấu hiểu. Người ta hoặc là tạo tác hoặc là tưởng tượng ra bất đồng vì thiếu thấu hiểu.

As to the abilities of the entity, then, and that to which it may attain and how: As indicated, an activity in relationship to individuals in all walks of life as: That brethren may dwell together in unity with the thought of that as the betterment of all, of homes, of relationships between various sections, and of other lands.

Về khả năng của thực thể, và điều thực thể có thể đạt đến và cách thức: Như đã chỉ ra, một hoạt động trong mối tương quan với các cá nhân thuộc mọi nẻo đời như: Để anh em có thể cùng cư ngụ trong hợp nhất với tư tưởng hướng đến điều tốt đẹp hơn cho tất cả, cho gia đình, cho các mối quan hệ giữa các miền khác nhau, và với các xứ sở khác.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) What is my mission in this Incarnation?

(Q) Sứ mệnh của tôi trong Hóa thân này là gì?

(A) As has been indicated, again dissemination of truth in its relationship to things, to conditions, to individuals, to nations.

(A) Như đã chỉ ra, một lần nữa: truyền bá chân lý trong tương quan của nó với sự vật, với điều kiện, với cá nhân, với quốc gia.

(Q) Am I making progress in that direction?

(Q) Tôi có đang tiến triển theo hướng đó không?

(A) You are at the crossroad—the choice is to be made! Choose the spiritual import!

(A) Ngươi đang ở ngã ba đường—lựa chọn đang phải được đưa ra! Hãy chọn ý nghĩa tinh thần!

(Q) Should I proceed with the work I am planning for greater harmony in the industry; between management and labor?

(Q) Tôi có nên xúc tiến công việc mà tôi đang hoạch định nhằm xây dựng sự hài hòa lớn hơn trong ngành công nghiệp; giữa giới quản trị và người lao động không?

(A) Provided the spirituality is included. For the spirit giveth life; the law killeth; the spirit giveth life!

(A) Miễn là bao gồm yếu tố tinh thần. Vì Thần khí ban sự sống; luật pháp giết chết; Thần khí ban sự sống!

(Q) Will this work prove as beneficial as I think it will?

(Q) Công việc này có chứng tỏ hữu ích như tôi nghĩ không?

(A) Do it for the cause of Him, who is truth and ye may leave the results to Him and it will not be a failure.

(A) Hãy làm vì cớ của Đấng là chân lý, và ngươi có thể phó mặc kết quả cho Ngài, và nó sẽ không thất bại.

(Q) Is this the right time to present it?

(Q) Đây có phải là thời điểm thích hợp để trình bày nó không?

(A) As has just been indicated, it is as was that which failed and the empire lost. It is as was when Poseidia or Atlantis was lost. The third time take Him wholly with thee.

(A) Như vừa chỉ ra, nó giống như điều đã thất bại và đế chế đã mất. Nó giống như khi Poseidia hay Atlantis đã mất. Lần thứ ba, hãy đem Ngài trọn vẹn đi với ngươi.

(Q) Should I personally direct its distribution?

(Q) Tôi có nên đích thân chỉ đạo việc phân phối không?

(A) Personally direct!

(A) Đích thân chỉ đạo!

We are through for the present.

Hiện thời chúng ta tạm dừng.

TEXT OF READING 280-1 M 56

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 280-1 Nam 56

(Retired Cotton Broker, Protestant)

(Nhà môi giới Bông đã nghỉ hưu, Tin Lành)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Va. Beach, Va., this 22nd day of February, 1933, in accordance with request made by Mrs. [268], his wife, Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài Đọc Tâm linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông ở Arctic Crescent, Va. Beach, Va., ngày 22 tháng Hai, 1933, theo yêu cầu của Bà [268], vợ ông, Hội viên Liên kết của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mrs. [268]

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Bà [268]

READING

BÀI ĐỌC

Born June 5, 1876, Botetourt St., Norfolk, Va.

Sinh ngày 5 tháng Sáu, 1876, phố Botetourt, Norfolk, Va.

Time of Reading 11:15 to 11:55 A. M. Eastern Standard Time.

Thời gian Đọc 11:15 đến 11:55 sáng Giờ Chuẩn Miền Đông.

..., Va.

..., Va.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Bài đọc Đời sống)

EC: Yes, we have the entity here and those relations with the universe, and universal forces, that are manifested in the personalities of the present entity, [280].

EC: Vâng, chúng ta có thực thể ở đây và những mối liên hệ với vũ trụ, và các lực vũ trụ, vốn biểu lộ trong các phàm ngã của thực thể hiện tại, [280].

In entering from the astrological viewpoints, we will find many of the influences coincide with those conditions that are represented as personalities in the activity of the present entity, as well as many of the influences from the appearances and the activity of the entity then acting in the individuality.

Bắt đầu từ các quan điểm chiêm tinh, chúng ta sẽ thấy nhiều ảnh hưởng trùng khớp với những trạng thái được biểu đạt như các phàm ngã trong hoạt động của thực thể hiện tại, cũng như nhiều ảnh hưởng từ các lần xuất hiện và hoạt động của thực thể khi ấy vận hành trong tính cá biệt.

These, as seen, are in reverse order, as they were in the present activity or activating forces in the experience of the entity.

Những điều này, như thấy, ở trật tự đảo ngược, vì chúng từng là những lực hoạt hóa trong trải nghiệm của thực thể hiện nay.

Hence, oft do we find those experiences when there is an understanding within the entity that to others becomes very much adverse to the normal influences or reactions that might be expected. Hence the body is called strange, or much adverse to the normal reactions from the influences that are in the experience of the entity and of others. Or, sometimes others would say the entity was very strange, very abnormal, when to the entity the activities would be the most normal, and more reason in self for the activities than from many an ordinary individual.

Vì vậy, thường chúng ta thấy những trải nghiệm khi có sự thấu hiểu bên trong nơi thực thể mà đối với người khác lại trở nên rất trái ngược với những ảnh hưởng hay phản ứng bình thường vốn có thể trông đợi. Do vậy, thân xác bị gọi là lạ lùng, hay rất trái ngược với những phản ứng bình thường từ các ảnh hưởng ở trong trải nghiệm của thực thể và của những người khác. Hoặc đôi khi người khác sẽ nói thực thể rất lạ, rất bất thường, trong khi đối với thực thể thì những hoạt động ấy lại là bình thường nhất, và có nhiều lý lẽ trong tự thân hơn để hành động như thế so với nhiều người bình thường khác.

Then, we find the influences come under Neptune, Mars, Saturn; yet the benevolent influences in Jupiter—which make these tendencies:

Vậy, chúng ta thấy các ảnh hưởng đến dưới Sao Hải Vương, Sao Hỏa, Sao Thổ; tuy vậy có các ảnh hưởng hiếu thiện ở Sao Mộc—tạo nên những khuynh hướng sau:

Near large bodies of water may the entity always find the greater satisfaction in the activities.

Ở gần các thuỷ vực lớn, thực thể luôn tìm được sự thỏa lòng hơn trong các hoạt động.

To be among large crowds, high buildings or mountainous country, seems to bring about—in the thought and intent of the individual—great disturbing influences.

Ở giữa đám đông lớn, những tòa nhà cao tầng hay miền sơn cước dường như—trong tư tưởng và dụng ý của cá nhân—gây ra những ảnh hưởng xáo động lớn.

Yet, in the quiet of self, in the study and thought along certain lines—as reading, figuring, or even counseling with others, the entity finds the greater solace in the present experience.

Tuy nhiên, trong tĩnh lặng của tự thân, trong học hỏi và tư duy theo những đường lối nhất định—như đọc sách, tính toán, hay ngay cả khi tham vấn với người khác—thực thể tìm được nhiều an ủi hơn trong trải nghiệm hiện tại.

In the solitudes, as we find then, does the entity (as we will see from the personalities) find expression in the activities that were in the experiences of the entity through that which has builded for individuality to the body.

Trong tịch mịch, như chúng ta thấy, thực thể (như chúng ta sẽ thấy từ các phàm ngã) tìm được biểu đạt trong những hoạt động vốn ở trong trải nghiệm của thực thể qua điều đã xây đắp nên tính cá biệt cho thân xác.

From Neptune we find those influences that make the entity often called by many one that acts most normal under the influence of hunches, mysterious thoughts, signs, impressions, that to others are imaginative; but that to the entity are the right thing, though often adverse to the mind, development or thought of others.

Từ Sao Hải Vương, chúng ta thấy những ảnh hưởng khiến thực thể thường được nhiều người gọi là người hành xử bình thường nhất theo ảnh hưởng của linh cảm, những tư tưởng huyền bí, những dấu hiệu, ấn tượng—những điều đối với người khác chỉ là tưởng tượng, nhưng đối với thực thể thì đó là điều đúng, dù thường trái ngược với phát triển hay tư duy của người khác.

The influences from Mars make one of high temper, one that rages at some very trivial matter; yet things of great import, that would be a worry or disturbing factor to many, the body laughs at or passes over as being a non-essential for worry, or for even disagreements. Yet often does the entity find those experiences where great problems with the minor things cause dissension in the activity of the entity or body in the present.

Ảnh hưởng từ Sao Hỏa khiến người nóng nảy, có thể nổi bùng vì chuyện rất nhỏ; tuy vậy những điều hệ trọng, vốn sẽ là lo toan hay yếu tố xáo trộn đối với nhiều người, thì thân xác lại cười bỏ hay bỏ qua như không xứng đáng để lo hay thậm chí để tranh cãi. Tuy vậy, thường thực thể cũng gặp những trải nghiệm khi những vấn đề lớn lại phát sinh từ các chuyện nhỏ nhặt, gây bất hòa trong hoạt động của thực thể hay thân xác trong hiện tại.

From Saturn’s influences we find one easily at times turned from its thought or activity; at others very determined, yet suddenly seeking for penance and attempting to give expression in little ways, in extravagance in many ways, as to being sorry for those outbursts and for those activities.

Từ ảnh hưởng Sao Thổ, chúng ta thấy lúc thì người dễ bị kéo lệch khỏi tư tưởng hay hoạt động của mình; lúc khác lại rất cương quyết, rồi đột nhiên đi tìm sự đền bù lỗi lầm và cố gắng biểu đạt bằng những cách nhỏ nhặt, bằng phung phí theo nhiều cách, như một cách tỏ lòng hối hận cho những bừng bột và những hoạt động ấy.

These being tempered (as they are) through those influences in Jupiter, make for those benevolent feelings of expression that are builded rather as air castles often than as real activities. And those expressions or determinations set by the entity at such times, while many are never carried out, are of the import that would be of an influence in the experience of many were they expressed in the activities of the entity.

Những điều này, khi được điều hòa bởi ảnh hưởng ở Sao Mộc, tạo nên những xúc cảm hiếu thiện trong biểu đạt vốn được xây dựng như những tòa lâu đài trên không nhiều hơn là các hoạt động thực tế. Và những biểu đạt hay quyết tâm do thực thể đặt ra lúc đó, dù nhiều điều không bao giờ thực thi, nhưng lại có tầm quan trọng đủ để có ảnh hưởng trong trải nghiệm của nhiều người nếu chúng được biểu hiện trong các hoạt động của thực thể.

As to the appearances, then, and those influences that build for the innate expression or individuality of the entity:

Về các lần xuất hiện, và những ảnh hưởng tạo dựng biểu đạt bẩm sinh hay tính cá biệt của thực thể:

The one before this we find was during that period when there was the establishing and sojourn of the peoples in the land of the present nativity, at and about that known as the isle or island of Jamestown. The entity was then among those that builded there, and with the experiences of those that brought the contentions and dissensions from many activities the entity gained and lost—and lost—through the experience. For, many of these things that were as dissuading others from associations with the natives, that were established in those sojourns there, caused much discussion and suffering in body, in mind, in many of the associations. Yet losing from those determining influences within self for the self-expressions that were gained through those activities. The entity was then in the name John Ailsworth.

Đời ngay trước đời này chúng ta thấy là vào thời kỳ có sự thiết lập và cư trú của dân chúng nơi xứ sở sinh quán hiện tại, ở và quanh cái được biết là đảo Jamestown. Khi ấy thực thể ở giữa những người xây dựng nơi đó, và qua những trải nghiệm vốn mang lại tranh cãi và bất hòa từ nhiều hoạt động, thực thể vừa đắc vừa thất—và thất—qua trải nghiệm. Bởi vì nhiều điều mà thực thể đã làm để ngăn người khác giao thiệp với người bản địa—vốn đã được thiết lập trong các chuyến cư trú nơi ấy—đã gây nhiều bàn cãi và khổ lụy nơi thân xác, trong tâm trí, trong nhiều mối giao kết. Tuy vậy, thực thể lại đánh mất các quyết tâm bên trong tự thân vì những biểu đạt tự thân vốn thu được thông qua các hoạt động ấy. Khi ấy thực thể mang tên John Ailsworth.

In the present we find—as seen in the individuality, if the body will go aside with self in the quiet, or in a stroll, or even among a group where counsel is given—there is the absorption, or changes in attitude of the entity or body in such experiences.

Trong hiện tại chúng ta thấy—như thể hiện trong tính cá biệt—nếu thân xác chịu lánh vào chốn yên tĩnh, hoặc đi dạo, hoặc ngay cả giữa một nhóm nơi có tham vấn—sẽ có sự hấp thụ, hay những thay đổi về thái độ của thực thể hay thân xác trong những trải nghiệm như vậy.

The one before this we find was during that period known as the Roman, when there were those destructions by the people in power of those that adhered to a thought, a way, a change that was being brought by the adherence to a particular line of thought. The entity was then among the soldiery of the period, and—with the associations of those in authority as well as the associations the entity had with those who were persecuted—there was brought much that through the mental body put it at an unbalanced condition; for the entity was then pulled this way, that way, with the duty in the material life and that calling for the answer through the mental and spiritual life for those that suffered in body during those experiences.

Đời ngay trước đó nữa chúng ta thấy là trong thời kỳ La Mã, khi có những cuộc hủy diệt do những kẻ cầm quyền gây ra đối với những ai bám theo một tư tưởng, một lối đi, một đổi thay đang được đem đến bởi sự bám theo một đường lối tư tưởng nhất định. Khi ấy thực thể ở giữa hàng binh sĩ, và—với các liên hệ với những người có thẩm quyền cũng như các liên hệ mà thực thể có với những người bị bách hại—điều đó đã mang đến nhiều điều mà qua thể trí khiến người mất quân bình; vì thực thể khi ấy bị kéo bên này bên kia giữa bổn phận trong đời sống vật chất và tiếng gọi đòi lời đáp của đời sống trí tuệ và tinh thần dành cho những người chịu khổ về thân xác trong những trải nghiệm đó.

Then, the entity finally threw itself, as it were, into the defense of those that made for the followings of those from the foreign land.

Rồi, thực thể rốt cuộc đã lao mình, như thể vậy, vào việc bênh vực những người theo các đường lối từ xứ ngoại.

Hence again we find in the present, those that make for pretensions or those that are given to the activities in the spiritual life have a particular interest for the entity. Yet as suddenly does the entity in the present turn against, and berate, and belittle the activities of those who follow in such lines of thought.

Bởi vậy, một lần nữa chúng ta thấy trong hiện tại, những ai làm bộ làm tịch hay những ai nhiệt thành trong hoạt động tinh thần có sức hấp dẫn đặc biệt đối với thực thể. Nhưng liền sau đó thực thể trong hiện tại lại quay sang chống đối, trách mắng, và hạ thấp các hoạt động của những người theo các đường lối tư tưởng như vậy.

The entity then, in the name Pothosin, was an individual of striking appearance in the physical.

Khi ấy, thực thể mang tên Pothosin, là một cá nhân có dáng vẻ nổi bật về phương diện thể chất.

In the present there is seen the reverential awe that is often experienced by the entity when there is the exhibition or activities of an individual with unusual strength in the physical or in the mental. And the entity holds such as something above the ordinary in the present.

Trong hiện tại có thể thấy niềm kính sợ tôn nghiêm mà thực thể thường trải nghiệm khi chứng kiến sự biểu lộ hay hoạt động của một cá nhân có sức mạnh khác thường nơi thể xác hay nơi thể trí. Và thực thể xem những điều như vậy là vượt trên tầm thường trong hiện tại.

The appearance before this was in those lands now known as the Persian, during those periods when there was the over-running or the attack of the land from the Bedouins—or the roaming people from the south and from the hill country. [Uhjltd period]

Lần xuất hiện trước đó nữa là ở những xứ nay gọi là Ba Tư, vào những thời kỳ khi có sự tràn qua hay cuộc tấn công vào xứ sở từ người Bedouin—hay dân du mục từ phương nam và từ miền sơn địa. [Uhjltd period]

Then the entity was in a position of power and trust with the king called Croesus, and was one that gave counsel; and was in a position of royalty and in power.

Khi ấy thực thể giữ một vị trí quyền lực và tín nhiệm bên cạnh vị vua gọi là Croesus, và là người tham vấn; và ở vị thế vương giả, quyền uy.

The abilities from that experience are those in which the entity acts the more normal in the present, respecting the keeping, preservation or expending of moneys or mediums of exchange. Yet in this even does the entity at periods find a reverting to the extravagance that was exhibited in the activities during that experience.

Các khả năng từ trải nghiệm ấy là những gì mà trong đó thực thể hành xử bình thường hơn trong hiện tại, khi nói đến gìn giữ, bảo tồn hay tiêu dùng tiền bạc hay các phương tiện trao đổi. Tuy nhiên, ngay cả trong việc này, đôi khi thực thể vẫn thấy mình trở lại với sự phung phí đã biểu lộ trong các hoạt động suốt trải nghiệm đó.

In the name then Medeni, the entity gained much through this experience until there were those overthrowings of those that were held to the entity near and dear; as the companion [288] of the king’s daughter [369] was carried away during those experiences, and the entity then, in throwing self into the attempts to retake those that had been carried away, suffered in body, in mind, in experience; for the entity was taken captive, and through the activities of Edssi [437] lost much respect for that held as to the veracity of promises made.

Với tên gọi khi ấy là Medeni, thực thể đã gặt hái nhiều điều qua trải nghiệm này cho đến khi xảy ra những cuộc lật đổ nhằm vào những người thân cận và yêu quý với thực thể; vì người bạn đồng hành [288] của con gái nhà vua [369] đã bị bắt đi trong những biến cố ấy, và thực thể khi đó, trong việc dốc mình vào nỗ lực chiếm lại những người đã bị mang đi, đã chịu khổ trong thân, trong trí, trong trải nghiệm; bởi thực thể bị bắt làm tù binh, và qua các hoạt động của Edssi [437], đã đánh mất nhiều sự kính trọng đối với tính chân thực của những lời hứa đã được đưa ra.

The entity in the present, in extremes, makes many rash promises, yet intentionally within is the desire to carry on for the seeking out of those associations, or something akin to same, in the present.

Thực thể ở hiện tại, trong những cực điểm, đưa ra nhiều lời hứa hấp tấp, dẫu sâu thẳm bên trong là ước muốn tiếp tục tìm kiếm những mối kết giao ấy, hoặc điều gì đó tương tự, trong hiện đời.

The one before this we find was in that land now called the Atlantean, in Poseidia. The entity was among those of the upper classes who belittled self that there might become a better understanding between those that ruled in power, might and mind, and those that supplied the necessity for bodily adornments or material supplies.

Lần trước đó nữa, chúng tôi thấy là ở vùng đất nay gọi là Atlantis, tại Poseidia. Thực thể ở trong hàng ngũ thượng lưu, đã hạ mình để có thể đạt tới sự thấu hiểu tốt hơn giữa những kẻ nắm quyền lực, uy thế và trí lực, và những kẻ cung ứng các nhu cầu cho trang sức thân thể hoặc vật liệu cung ứng.

Through this experience the entity gained, and often in the present those things dealing with labor saving devices are of interest. Hence at times there is exhibited a turn towards mechanics, or mechanical appliances; and in same would the entity have in the present exceeded or excelled much, had the thought been carried farther in the developing periods of the entity’s experience in the present.

Qua trải nghiệm này thực thể đã thu hoạch, và thường trong hiện đời những điều liên quan đến các thiết bị tiết kiệm lao động là điều hấp dẫn. Do đó đôi khi bộc lộ thiên hướng về cơ khí, hay các dụng cụ cơ khí; và trong lĩnh vực này lẽ ra thực thể ở hiện đời đã vượt trội hoặc xuất chúng nhiều, nếu ý tưởng ấy được đẩy xa hơn trong những thời kỳ phát triển của trải nghiệm hiện đời của thực thể.

The name then, as would be sounded in the present, was Auoir.

Tên khi ấy, như sẽ được phát âm trong hiện đời, là Auoir.

As to the abilities of the entity in the present, and that to which it may attain and how:

Về các khả năng của thực thể trong hiện tại, và điều nó có thể đạt tới cùng cách thức:

Through the associations of those with whom the entity experienced the developments or retardments in the earth, that made for the dissenting or dissemination of differentiations in material, moral and spiritual rights, may the entity succeed the most.

Thông qua các mối liên hệ với những người mà cùng với họ thực thể đã trải qua các phát triển hoặc trì trệ trên trần gian, vốn làm phát sinh sự bất đồng hoặc gieo rắc những dị biệt về các quyền lợi vật chất, đạo đức và tinh thần, thực thể có thể thành công nhất.

Study alone, study with many, often brings the greater developments for the entity’s present activity.

Học một mình, học với nhiều người, thường mang lại những phát triển lớn hơn cho hoạt động hiện tại của thực thể.

So, with the rising of those benevolent influences in Jupiter, (that will rule those under its influence) in the next three years will be found the experiences when the entity may in the present, with those environs and surroundings, make for the greater development in this present experience.

Vậy nên, với sự trỗi dậy của những ảnh hưởng từ ái nơi Mộc Tinh, (sẽ cai quản những ai nằm trong ảnh hưởng của nó) trong ba năm tới sẽ có những trải nghiệm khi mà thực thể, với môi trường và hoàn cảnh vây quanh, có thể tạo nên sự phát triển lớn hơn trong trải nghiệm hiện đời này.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Why, and is there a cure for, streak of insanity in him and his family? (Left out of original copy)

(H) Vì sao, và liệu có phương chữa trị, cho khuynh hướng loạn trí nơi ông ấy và gia đình ông ấy không? (Bỏ khỏi bản gốc)

(A) As indicated from those experiences of the entity through the activities, these have made for a retroversion or retrogression; not exactly (as the word indicates) going backward, but reversing or changing from the balances between those influences that are, in a way, hereditary and environmental; and these must be worked out through the experiences in those spheres in which they were lost.

(Đ) Như đã chỉ ra từ những trải nghiệm của thực thể qua các hoạt động, những điều này đã tạo nên sự đảo chiều hay thoái hóa; không hẳn (như từ này gợi ý) là đi lùi, mà là đảo ngược hoặc thay đổi khỏi thế quân bình giữa những ảnh hưởng vốn, ở một mức độ nào đó, là do di truyền và môi trường; và những điều này phải được hóa giải qua các trải nghiệm trong những cõi mà ở đó chúng đã bị đánh mất.

As to meeting these, they are innate, they are builded, they are gradually being eliminated by experience.

Về cách đối diện chúng, chúng là bẩm sinh, chúng được tạo dựng, và đang dần được loại trừ nhờ trải nghiệm.

(Q) What relation was he to his present wife in other periods?

(H) Quan hệ của ông ấy với người vợ hiện tại trong các thời kỳ khác là gì?

(A) An admirer of the power, the position the present wife held in the Roman period; yet aloof from same, and disliking and despising same when there arose the determination in self to class or cast self’s lot with those persecuted.

(Đ) Một người ngưỡng mộ quyền lực, địa vị mà người vợ hiện tại nắm giữ trong thời La Mã; tuy nhiên giữ khoảng cách với điều đó, và không ưa, thậm chí khinh ghét điều đó khi nơi bản thân trỗi dậy quyết tâm đứng chung hoặc cam kết số phận với những người bị bách hại.

(Q) In the Persian these associations only came in contact during the period when the entity, or present entity known as [280], was a prisoner; and there was the administering only by the present companion [268] those things that made for the return of sanity, as it were, in that experience. Hence the quieting, helpful effect they have upon one another at times. Also the dissensions, and the inability for compatibility at times; though this experience is only one of many in which there are those influences from an association—as in Jamestown.

(H) Trong thời Ba Tư, các kết giao này chỉ chạm mặt nhau trong giai đoạn khi thực thể, hay thực thể hiện tại được biết là [280], làm tù binh; và chỉ có người bạn đồng hành hiện tại [268] đã chăm nom những điều đem lại sự phục hồi tỉnh táo, như vậy, trong trải nghiệm ấy. Do đó tác dụng làm lắng dịu, trợ giúp mà họ đôi khi dành cho nhau. Đồng thời cũng có những bất đồng, và sự bất lực trong hòa hợp đôi lúc; tuy nhiên trải nghiệm này chỉ là một trong nhiều trải nghiệm có những ảnh hưởng đến từ mối kết giao—như ở Jamestown.

(Q) What relation is he to the little dog Mona?

(H) Quan hệ của ông ấy với con chó nhỏ Mona là gì?

(A) He fought with the body in the Roman experience.

(Đ) Nó đã đấu với thân thể trong trải nghiệm La Mã.

(Q) What was Mona then?

(H) Khi ấy Mona là gì?

(A) The lioness that fought with the entity, and with those that destroyed many that the entity was then seeking to aid.

(Đ) Là sư tử cái đã chiến đấu với thực thể, và với những kẻ đã sát hại nhiều người mà thực thể lúc đó đang cố gắng giúp đỡ.

(Q) Will his niece Julia recover while in present body?

(H) Cháu gái Julia của ông ấy có hồi phục khi còn ở trong thân xác hiện tại không?

(A) We don’t find the associations.

(Đ) Chúng tôi không tìm thấy các liên hệ.

(Q) Why is he a sadist and why annoying wife?

(H) Vì sao ông ấy là kẻ bạo dâm và vì sao quấy rầy vợ?

(A) As given, from those periods there arises a reverting to the innate activities that impel the body to separate self; and at such times there come those determinations, as it were, to get back to those influences through the varied experiences when there were the dissensions, the reversions from the innate feelings; for the entity often reverts to that which would be called mental aberrations, for he sees much into the past.

(Đ) Như đã nói, từ các thời kỳ đó nảy sinh sự quay về với các hoạt động bẩm sinh thúc đẩy thân thể tách rời bản thân; và vào những lúc như thế, xuất hiện những quyết tâm, như thể, muốn quay lại với những ảnh hưởng qua các trải nghiệm đa đoan khi có các bất đồng, sự đảo chiều so với cảm thức bẩm sinh; vì thực thể thường trở lại với điều có thể gọi là rối loạn tâm trí, bởi y nhìn thấy nhiều điều trong quá khứ.

(Q) What can his wife [268] do to help or change him?

(H) Người vợ [268] có thể làm gì để giúp đỡ hay thay đổi ông ấy?

(A) Just in the quietness, in the little things, the little kindnesses, the little gentlenesses that brought him to the better understanding of that being experienced in the Persian period.

(Đ) Chỉ bằng sự lặng lẽ, bằng những điều nhỏ bé, những ân cần nhỏ, những dịu dàng nhỏ đã đem ông về sự thấu hiểu tốt hơn điều đang được trải nghiệm trong thời Ba Tư.

(Q) Is he ruining his wife’s health and happiness, and will they separate?

(H) Ông ấy có đang hủy hoại sức khỏe và hạnh phúc của vợ, và họ có sẽ ly thân không?

(A) She may be able to do more for him, and with him, than most any other! It would be well to expend self in saving, as far as possible. Not well to separate.

(Đ) Cô ấy có thể làm cho ông ấy, và cùng với ông ấy, nhiều hơn hầu như bất cứ ai khác! Tốt hơn là tự dốc lòng để cứu vãn, trong mức có thể. Không nên ly thân.

[Questions & answers 44-48 left out of original copy & typed on separate sheet for Mrs. [268].]

[Các câu hỏi & trả lời 44-48 bị bỏ khỏi bản gốc & được đánh máy trên tờ rời cho Bà [268].]

(Q) Has he many more years to manifest on this earth plane in present body?

(H) Ông ấy còn nhiều năm nữa để biểu lộ trên cõi trần trong thân xác hiện tại không?

(A) Three.

(Đ) Ba.

(Q) What will be the cause of his passing into another plane?

(H) Nguyên nhân nào khiến ông ấy sang cõi khác?

(A) Rashness.

(Đ) Nông nổi.

(Q) Does he have any oriental ancestry? If so, what nationality?

(H) Ông ấy có tổ tiên phương Đông không? Nếu có, thuộc quốc tịch nào?

(A) Through the Persian period, yes. From the material standpoint, in the present, these revert back through those that settled in the British Isles—maternally. [GD’s note: I met him later. He looked sort of oriental.]

(Đ) Qua thời kỳ Ba Tư, có. Về phương diện vật chất, trong hiện đời, điều này truy về những người đã định cư ở Quần đảo Anh—theo dòng mẹ. [Ghi chú của GD: Sau này tôi gặp ông ta. Trông ông ta có vẻ Á Đông.]

(Q) Any Japanese or Chinese?

(H) Có Nhật hay Hoa không?

(A) Those associations with same in the varied experience, making for an aversion at times and yet seeking to know their wiles often.

(Đ) Những kết giao với họ trong các trải nghiệm khác nhau, khiến đôi lúc sinh ác cảm và rồi lại thường muốn tìm hiểu mưu mẹo của họ.

(Q) Where is he, and what is he doing at the present time?

(H) Hiện ông ấy ở đâu, và đang làm gì?

(A) About those affairs for which he started out in the very late period. We are through.

(Đ) Quanh những công việc mà ông đã khởi sự vào giai đoạn rất muộn. Chúng tôi xong rồi.

Editor’s Note: Alta, mentioned in this next reading, was a city in the region of Poseidia.

Ghi chú của Biên tập: Alta, được nhắc đến trong bài đọc tiếp theo, là một thành phố thuộc vùng Poseidia.

TEXT OF READING 288-1 F 18

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 288-1 F 18

(Stenographer, Protestant)

(Nữ tốc ký, Tin Lành)

This psychic reading given by Edgar Cayce at Phillips Hotel, Room 115, Dayton, Ohio, this 20th day of November, 1923, in accordance with request made by self—Miss [288].

Bài đọc tâm linh này do Edgar Cayce thực hiện tại Khách sạn Phillips, Phòng 115, Dayton, Ohio, ngày 20 tháng 11 năm 1923, theo yêu cầu do chính đương sự—Cô [288]—đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Linden Shroyer, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mrs. Cayce, and George S. Klingensmith.

Edgar Cayce; Linden Shroyer, Điều phối; Gladys Davis, Tốc ký. Bà Cayce, và George S. Klingensmith.

READING

BÀI ĐỌC

Born January 30, 1905, near Centerville, Alabama.

Sinh ngày 30 tháng 1 năm 1905, gần Centerville, Alabama.

Time of Reading 11:15 A. M...., Ohio.

Thời gian Bài Đọc 11:15 SA..., Ohio.

LS: Now, you have before you the body of [288], who was born January 30th, 1905, at Centerville, Alabama. You will give a horoscope reading, a reading giving the effects of the planets upon the life and destiny of this individual. You will give the vocation in life for which this person is most adapted. You will also give the personalities and time in history of each appearance upon this earth plane. You will speak very slowly and distinctly.

LS: Giờ đây, ông có trước mắt thân thể của [288], người sinh ngày 30 tháng 1 năm 1905, tại Centerville, Alabama. Ông sẽ đưa ra một bài đọc lá số chiêm tinh, một bài đọc cho biết tác động của các hành tinh lên đời sống và định mệnh của cá nhân này. Ông sẽ cho biết thiên hướng nghề nghiệp trong đời mà người này thích hợp nhất. Ông cũng sẽ cho biết các cá tính và thời điểm trong lịch sử của mỗi lần xuất hiện trên cõi trần này. Ông sẽ nói thật chậm rãi và rõ ràng.

EC: Yes, we have the conditions and record here. In the evening [About 1:30 a.m. her mother later said.], you see, the soul entered this body.* Goodly soul, and rather old, you see. One destined to bring, both from its own self and from the experiences of the past, much good to many peoples, and much good for individuals who put their trust and faith in the entity, for the soul and spirit of this entity has seen many and various phases of the evolution of the human family.

EC: Vâng, chúng tôi có các điều kiện và hồ sơ ở đây. Vào buổi tối [Khoảng 1:30 sáng, mẹ cô sau này nói.], quý vị thấy đấy, linh hồn đã nhập vào thân thể này.* Linh hồn tốt đẹp, và khá cổ xưa, quý vị thấy đó. Một người được định sẽ đem lại, cả từ tự thân và từ những trải nghiệm quá khứ, nhiều điều thiện lành cho nhiều dân tộc, và nhiều điều tốt lành cho những cá nhân đặt lòng tin và đức tin nơi thực thể này, vì linh hồn và tinh thần của thực thể này đã chứng kiến nhiều và đa dạng những giai đoạn của tiến hóa gia đình nhân loại.

Under the conditions, and the rule of these, little of Saturn or Mars enter the present entity control. This we see coming under that of Venus direct. That of Mercury in the 7th house, Neptune in the 11th house, Jupiter in the 9th house. [See in 288-1, Par. R39, 9/23/34 astrologer’s letter.]

Trong các điều kiện đó, và sự cai quản của chúng, rất ít ảnh hưởng của Thổ Tinh hay Hỏa Tinh đi vào kiểm soát của thực thể hiện tại. Điều này chúng ta thấy nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của Kim Tinh. Thủy Tinh ở nhà thứ bảy, Hải Vương Tinh ở nhà thứ mười một, Mộc Tinh ở nhà thứ chín. [Xem trong 288-1, Đoạn R39, thư của nhà chiêm tinh ngày 9/23/34.]

The Moon in its effect gives that of the great increase in the physical, and also in the development of the entity toward the mark of the higher calling, as is set in Him, the Sun’s effect leaving the afterglow of the relations as have been effected upon those with whom this individual has and will come in contact. * [Apparently soul birth was several hours prior to physical birth—See 288-36, Par. 5-A-7-A. See opposite situation in 538-30, Par. 13-A in which [538]’s soul entrance was several hours after the physical.]

ảnh hưởng của Mặt Trăng đem lại sự gia tăng lớn về mặt thể xác, và cũng trong sự phát triển của thực thể hướng tới dấu ấn của tiếng gọi cao cả, như được đặt trong Ngài; ảnh hưởng của Mặt Trời để lại ánh dương quang của những mối liên hệ đã tác động lên những người mà cá nhân này đã và sẽ tiếp xúc. * [Có vẻ như sự ra đời của linh hồn đã xảy ra trước sinh nở thể xác vài giờ—Xem 288-36, Đoạn 5-A-7-A. Xem tình huống ngược lại trong 538-30, Đoạn 13-A, trong đó linh hồn của [538] nhập xác vài giờ sau sinh nở thể xác.]

One whose will force has, and will, when kept in that straight and narrow way that has been set for itself, lead to that of the Truth and the making of the soul, spirit and physical forces free.

Một người mà lực ý chí đã, và sẽ, khi được giữ trong con đường thẳng và hẹp mà tự bản thân đã đặt định, dẫn đến Chân Lý và giải phóng linh hồn, tinh thần và các lực vật chất.

One who, under the influences of Mercury’s forces, with that of Venus, will bring much of this world’s goods to the individual, through those of the forces that have to do with nature’s or the earth’s storehouse.

Một người mà, dưới ảnh hưởng của các lực của Thủy Tinh, cùng với của Kim Tinh, sẽ mang lại nhiều của cải trần thế cho cá nhân, qua những lực có liên quan đến kho tàng của tự nhiên hay của Đất.

One whom the gods [gods—guards?] of the forces in natural force give of the better things of life, with the entity’s developing through that of its own experiences upon the other planes through which it, this entity, has passed.

Một người mà các vị thần [các thần—các vị hộ vệ?] của các lực trong lực tự nhiên ban cho những điều tốt đẹp hơn của đời sống, với sự phát triển của thực thể qua chính những trải nghiệm của mình trên các cõi mà thực thể này đã đi qua.

One in whom there will be, in the future, little of the earthly ills for itself, though one that will lend much to the assistance in the earthly ills of others.

Một người mà trong tương lai, đối với bản thân, ít gặp những bệnh hoạn trần gian, dẫu là người sẽ giúp đỡ rất nhiều những nỗi khổ trần của kẻ khác.

One who will find its greater force in the home, and the dedication of its better self to the future generations of its own strain. [9/28/39 See suggestion in 288-45 seeking clarification.]

Một người sẽ tìm thấy sức mạnh lớn hơn của mình nơi mái ấm, và dâng hiến phần tốt đẹp hơn của mình cho các thế hệ tương lai của chính dòng giống mình. [9/28/39 Xem gợi ý trong 288-45 nhằm tìm sự làm rõ.]

One who, with others, will draw much of the more beautiful things of the earth plane about them, and one to whom all obstacles become the stepping stones for higher development in this present earth plane.

Một người mà, cùng với người khác, sẽ thu hút nhiều điều đẹp đẽ hơn của cõi trần về quanh mình, và là người mà mọi chướng ngại trở thành những bậc thang cho sự phát triển cao hơn trong kiếp trần hiện tại.

One whose greater possibilities in the physical lie in and about the last days of June, October, see? June 21st to July 2nd, October the 19th to November 7th, and the forces of the natural elements lend to the developing of the entity here. [See 288-27, Par. 7-A, and 8-A clarification.]

Khả năng lớn hơn của người này về mặt thể chất nằm trong và quanh những ngày cuối tháng Sáu, tháng Mười, thấy chứ? Từ 21 tháng Sáu đến 2 tháng Bảy, từ 19 tháng Mười đến 7 tháng Mười Một, và các lực của những nguyên tố tự nhiên góp phần vào sự phát triển của thực thể ở đây. [Xem 288-27, Đoạn 7-A, và phần làm rõ 8-A.]

One in whom the better forces in the natural elements will be the guiding forces in the manifestation of earthly welfare—that is, these to the entity, [288], we are speaking of, will become manifestations of the forces, as have been given, of the gods [gods—guards?] of natural force giving their sanction to the developing of the entity, with this entity’s faith in the immutable laws of the Prince of Peace, and through these gain the dynamic forces of the greater development upon this plane. [See 288-27, Par. 9-A-11-A.]

Một người mà các lực tốt đẹp hơn nơi những nguyên tố tự nhiên sẽ là các lực dẫn đường trong biểu lộ phúc lợi trần gian—tức là, đối với thực thể [288] mà chúng ta đang nói, chúng sẽ trở thành sự biểu lộ của những lực, như đã nói, của các vị thần [các thần—các vị hộ vệ?] của lực tự nhiên ban phê chuẩn cho sự phát triển của thực thể, với đức tin của thực thể này nơi những định luật bất biến của Đấng Hòa Bình, và qua đó nhận được các lực năng động cho sự phát triển lớn hơn trên cõi này. [Xem 288-27, Đoạn 9-A-11-A.]

In appearances and personalities, we find in this four:

Về các lần xuất hiện và các cá tính, chúng tôi thấy ở đây có bốn:

Now, these as exhibited in the former appearances, there are many stages of the developing that may be given. This we find, those not of the whole life, but those points which had to do with the developing upon the earth plane, or that in those lives as lived upon which the soul and spirit of the entity developed to bring the various stages to the individual entity.

Giờ đây, như được bộc lộ trong các lần xuất hiện trước, có nhiều giai đoạn phát triển có thể được nêu. Ở đây chúng tôi nêu ra không phải toàn bộ đời sống, mà là những điểm có liên quan đến sự phát triển trên cõi trần, hoặc là trong những đời sống đã sống mà linh hồn và tinh thần của thực thể đã phát triển để mang các giai đoạn khác nhau tới thực thể cá nhân này.

Just previous to this we find one born in the household of royalty, and of the royal family, in the King’s Court of Louis the 15th. That of the King’s own household, the daughter, and in the conditions as were surrounding the individual then was in the Court of that country, of which the individual and entity was a part, with the pomp, the glory, the magnificence of the worldly show as was manifest in that country at the time, with the education in the hands of those of the Church as was manifest in and through the minds (secular) of the people at the time.

Ngay trước hiện đời, chúng tôi thấy một lần sinh trong hoàng thất, và thuộc hoàng gia, tại triều đình của Vua Louis thứ 15. Ở ngay trong gia thất của nhà vua, là con gái, và với những điều kiện bao quanh cá nhân khi ấy ở triều đình của xứ sở mà cá nhân và thực thể ấy là một phần, với sự phô trương, vinh quang, huy hoàng của những màn trình diễn thế tục như được biểu lộ ở xứ sở đó thời bấy giờ, với nền giáo dục nằm trong tay những người của Giáo hội như vẫn biểu lộ trong và qua tư tưởng (thế tục) của dân chúng khi ấy.

The first change came in the seventeenth year of the life, then, with the meeting and betrothal of this individual to that of the Duke of York, as then known. This, we find, was not consummated, and brought to the individual that in the inmost soul of the distrust of man, or of the opposite sex, and the body then became an inmate of the confined walls, where the rest of life was spent, and only lived to the age in years then of thirty.

Sự thay đổi đầu tiên đến vào năm thứ mười bảy của đời sống khi ấy, với cuộc gặp gỡ và đính ước của cá nhân này với một người sau đó được biết là Công tước xứ York. Điều này, chúng tôi thấy, đã không được hoàn tất, và đưa đến nơi cá nhân một sự ngờ vực tận đáy linh hồn đối với đàn ông, hay giới khác phái, và thân thể khi đó trở thành người ở sau bức tường giam, nơi quãng đời còn lại được sống, và chỉ sống đến tuổi ba mươi khi ấy.

In this, we find that personality as is given in the present sphere, with the innate feelings oft of that same distrust, though the body, with the whole being and soul, enters into that which it makes a purpose. [See 288-10 on 3/17/25 indicating she was Louis 14th’s daughter but lived during the Regency, when Louis 15th was the child king. See 288-27, Par. 15-A-18-A.]

Trong điều này, chúng tôi thấy cá tính như được nêu trong cõi hiện tại, với những cảm thức bẩm sinh thường là sự ngờ vực như thế, dẫu thân thể, bằng toàn bộ hữu thể và linh hồn, dấn thân vào điều mà nó đặt làm mục đích. [Xem 288-10 ngày 3/17/25 chỉ ra cô là con gái của Louis 14 nhưng sống trong thời Nhiếp chính, khi Louis 15 là ấu quân. Xem 288-27, Đoạn 15-A-18-A.]

In that before this we find in the land that is now known as Persia, [Uhjltd Period, 8,058 BC?], and in the forces under that of Croesus. In this we find this body still in that same sex as has been and is shown, and those points then we find that made the manifestations were in the association of the individual to whom this body then was close, that of the only daughter* of the ruler, and their studies and education of the time were together, though they were of different households; yet the position of him who was in the earth plane, the father, brought this body into this contact early in the life, and in this same place where the entity spent the days with this individual was where the life, as known, was taken by the invading forces from the South and East, and in this the aversion to those cutting instruments, for in that manner the bodily destruction came, and those forces, as given, in personality were the manifestations in the present sphere, and added that of loyalty to friendships made. [See 288-10 and 288-27, Par. 19-A, 20-A, also 288-38 Par. 9-A.] * [See 369-3 on 11/3/27.2/13/24 See 294-8 in re [288]’s association in the Uhjltd period. 7/26/38 See 1007-3 indicating Mrs. [1007] was a sister of the first Croesus, “being the name of a line of several kings that followed”; that she was later active during the Uhjltd period. Perhaps Uhjltd lived at the period of Croesus II?]

Trước đó nữa, chúng tôi thấy ở vùng đất nay gọi là Ba Tư, [Thời kỳ Uhjltd, 8,058 BC?], và dưới các lực dưới quyền Croesus. Trong lần này chúng tôi thấy thân thể vẫn cùng giới tính như đã và đang thể hiện, và những điểm chúng tôi thấy khi ấy tạo thành biểu lộ là trong mối kết giao với người mà thân thể khi ấy thân cận, tức người con gái duy nhất* của nhà cầm quyền, và việc học hành, giáo dục của thời đó của họ ở cùng nhau, dẫu họ thuộc khác gia tộc; song địa vị của người đang ở cõi trần, người cha, đã mang thân thể này vào liên hệ ấy ngay từ sớm trong đời, và tại nơi mà thực thể trải ngày cùng người ấy cũng chính là nơi mạng sống, như đã biết, bị đoạt bởi các đạo quân xâm lược từ phương Nam và phương Đông, và vì vậy có sự ác cảm với những khí cụ sắc bén, bởi theo cách ấy mà thân xác bị hủy diệt, và những lực, như đã nói, về mặt cá tính đã trở thành các biểu lộ trong cõi hiện tại, và còn thêm sự trung thành với những tình bạn đã kết. [Xem 288-10 và 288-27, Đoạn 19-A, 20-A, cũng 288-38 Đoạn 9-A.] * [Xem 369-3 ngày 11/3/27. 2/13/24 Xem 294-8 liên quan đến sự kết giao của [288] trong thời kỳ Uhjltd. 7/26/38 Xem 1007-3 chỉ ra Bà [1007] là chị của Croesus thứ nhất, “đó là tên của một dòng gồm nhiều vua tiếp nối”; rằng bà hoạt động sau đó trong thời kỳ Uhjltd. Có lẽ Uhjltd sống vào thời Croesus II?]

In that before this we find in the lands just before the present plane, as given, in the Egyptian forces, and in the rule of the second ruler of that land, when the glory of the country was near its height, and was in the household of Potiphar [?] [Ra-Ta]* but the sojourn in that sphere, was of short duration, for we find only a short span is given in earth plane. [See 294-147 through 294-153, July/August 1932 EC readings on Ra-Ta.]

Trước đó nữa, chúng tôi thấy ở các vùng đất ngay trước cõi hiện tại, như đã nói, trong các lực Ai Cập, và dưới sự cai trị của vị quân chủ thứ hai của vùng đất ấy, khi vinh quang của xứ sở gần đạt đỉnh, và ở trong gia thất của Potiphar [?] [Ra-Ta]* nhưng thời lưu trú trong cõi đó thì ngắn, vì chúng tôi thấy chỉ có một khoảng ngắn được ban cho trong cõi trần. [Xem 294-147 đến 294-153, tháng 7/tháng 8 năm 1932 các bài đọc của EC về Ra-Ta.]

In the one before this we find in that fair country of Alta, [See 339-1 on 5/27/33 saying Alta was a ruler, a scribe, just before the third destruction of Atlantis.] or Poseidia [GD’s spelling based on Poseidon in Greek Mythology.] proper, when this entity was in that force that brought the highest civilization and knowledge that has been known to the earth’s plane, and this entity was one of those who lent much assistance to the developing of those forces that made the common peoples that they became the assistance in the knowledge as obtained. Again we find the entity in that sex as given, and was in the household of the ruler of that country. [This body (not physically) will be present when the earth is changed again, see? See 288-29, Par. 8-A expanding on “when the earth is changed again.”] This we find nearly ten thousand years before the Prince of Peace came, and this entity then found the destructive forces to life in the misapprehension of those who were attempting to be of assistance, and not by their fault was the catastrophe brought; yet not until the entrance into the land of the unknown did this entity come to the realization of this as truth, and in the affliction as brought to the physical were the personalities and manifestations of same brought through to the sphere at present. [See 288-10 and 288-27, Par. 22-A-25-A.]

Trong lần trước đó nữa, chúng tôi thấy ở xứ sở tươi đẹp Alta, [Xem 339-1 ngày 5/27/33 nói Alta là một vị cai trị, một ký lục, ngay trước lần hủy diệt thứ ba của Atlantis.] hay Poseidia đúng nghĩa, khi thực thể ở trong lực đã mang đến nền văn minh và tri thức cao nhất từng được biết trên cõi trần, và thực thể này là một trong những người đóng góp nhiều trợ lực cho việc phát triển những lực làm cho tầng lớp bình dân trở thành trợ thủ trong việc phổ truyền tri thức đã đạt được. Lại nữa, chúng tôi thấy thực thể ở cùng giới tính như đã nêu, và ở trong gia thất của vị cai trị xứ ấy. [Thân thể này (không phải về mặt thể chất) sẽ có mặt khi Trái Đất lại thay đổi, thấy chứ? Xem 288-29, Đoạn 8-A, khai triển về “khi Trái Đất lại thay đổi”.] Điều này chúng tôi thấy xảy ra gần mười nghìn năm trước khi Đấng Hòa Bình đến, và thực thể khi đó đã gặp những lực hủy diệt đối với sự sống vì sự hiểu lầm của những người đang cố gắng trợ giúp, và không phải bởi lỗi của họ mà thảm họa xảy ra; tuy nhiên mãi cho đến khi bước vào miền đất chưa biết thì thực thể mới nhận ra đây là chân lý, và trong những khổ não đem đến cho thân xác, các cá tính và biểu hiện của chúng đã được chuyển sang cõi hiện tại. [Xem 288-10 và 288-27, Đoạn 22-A-25-A.]

Follow well in those paths that are set by the present entity’s will and knowledge of those laws that make [the entity] its self secure in the blood of the lamb, that taketh away the sins of the world.

Hãy bước đi vững vàng trong những nẻo đường được đặt ra bởi ý chí hiện tại của thực thể và sự hiểu biết về những luật khiến [thực thể] tự thân an ổn trong huyết Chiên Con, Đấng cất tội thế gian.

* [GD’s note: This was one of the earliest Life Rdgs. I’m sure it was the Ra-Ta period, as we later came to know it. Not knowing how to spell it, EC told me to put Potiphar, as it sounded nearest to the sound I gave him, and he thought it was the Bible Character.]

* [Ghi chú của GD: Đây là một trong những Bài đọc Đời sống sớm nhất. Tôi chắc chắn đó là thời kỳ Ra-Ta, như sau này chúng ta biết. Vì không biết viết đúng chính tả, EC bảo tôi ghi Potiphar, vì nó nghe gần nhất với âm tôi đưa cho ông, và ông nghĩ đó là nhân vật Kinh Thánh.]

Editor’s Note: Eden, as mentioned in this next reading, was a city in the region of Poseidia.

Ghi chú của Biên tập: Eden, như được nhắc trong bài đọc tiếp theo, là một thành phố thuộc vùng Poseidia.

TEXT OF READING 390-2 F 35

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 390-2 F 35

(Maid (Domestic), Protestant)

(Người hầu (Nội trợ), Tin Lành)

This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Va. Beach, Va., this 15th day of August, 1933, in accordance with request made by self—Miss [390], Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc tâm linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà ông, trên Arctic Crescent, Va. Beach, Va., ngày 15 tháng 8 năm 1933, theo yêu cầu do chính đương sự—Cô [390], Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Minh, Inc.—đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mildred Davis, L. B. Cayce, Ola and Jerry Crume and little Alice Caroline (Jerry) Crume.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Tốc ký. Mildred Davis, L. B. Cayce, Ola và Jerry Crume và bé Alice Caroline (Jerry) Crume.

READING

BÀI ĐỌC

Born June 5, 1898, in Pforzheim, Germany.

Sinh ngày 5 tháng 6 năm 1898, tại Pforzheim, Đức.

Time of Reading 4:10 to 5:00 P. M. Eastern Standard Time...., N.Y.

Thời gian Bài Đọc 4:10 đến 5:00 CH, Giờ Miền Đông...., N.Y.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Bài đọc Đời sống)

EC: Yes, we have the entity here, and those relations with the universe and universal forces; that are latent and manifested in the personalities of the present entity, called [390].

EC: Vâng, chúng tôi có thực thể ở đây, và những mối liên hệ với vũ trụ và các lực vũ trụ; vốn tiềm ẩn và biểu lộ trong các cá tính của thực thể hiện tại, gọi là [390].

In entering the present experience, we find (as it were, compared with many) some unusual circumstances from the physical—surrounding the entity’s entrance into the earth’s plane at this particular time.

Khi bước vào trải nghiệm hiện tại, chúng tôi thấy (nếu so với nhiều người) có vài hoàn cảnh khác thường về phương diện thể chất—bao quanh sự nhập thế của thực thể vào cõi trần vào thời điểm đặc biệt này.

From the astrological influences, these also are somewhat unusual, out of the ordinary; the ruling influence being Saturn. That the entity entered into the earth, rather than into some other environ that is not for material manifestations, is unusual.

Về các ảnh hưởng chiêm tinh, những điều này cũng có phần bất thường, ra ngoài lề thường; ảnh hưởng chủ quản là Thổ Tinh. Việc thực thể nhập thế vào cõi trần, thay vì vào một môi trường khác không dành cho các biểu hiện vật chất, là điều bất thường.

Hence, we find, in the entity’s experience in the present, that there are many conditions in which it is necessary for the entity to make definite decisions; and such decisions have changed, and do at almost each period change, the whole material influence in the entity’s experience.

Bởi thế, chúng tôi thấy, trong trải nghiệm của thực thể ở hiện tại, có nhiều tình huống mà thực thể cần đưa ra các quyết định dứt khoát; và những quyết định như vậy đã thay đổi, và hầu như ở mỗi kỳ lại thay đổi, toàn bộ ảnh hưởng vật chất trong trải nghiệm của thực thể.

These have to do, or have had to do, with the home; the material associations of individuals, material relationships with the own home and with those that would accrue influence from the entity’s association—as well as the entity’s associations in the present.

Những điều này liên quan, hoặc đã liên quan, đến mái ấm; các mối kết giao vật chất với các cá nhân, các mối quan hệ vật chất với chính mái ấm của mình và với những người có thể tích tụ ảnh hưởng từ sự kết giao của thực thể—cũng như các mối kết giao của thực thể ở hiện tại.

While these, as we find, have in the greater part been such (to the present) where the entity has developed in the soul and mental influences in the present, yet the conditions often seem as hardships to the entity materially; being in the position to meet influences, then, from the astrological standpoint, where determination and the use of will’s influences are the most necessary factors in the material experience.

Dẫu rằng những điều này, như chúng tôi thấy, phần lớn (cho đến hiện tại) là những điều mà nơi đó thực thể đã phát triển về mặt linh hồn và tâm trí trong hiện đời, song các điều kiện thường dường như là gian khó đối với thực thể về mặt vật chất; ở vị thế phải đối diện các ảnh hưởng, vậy thì, xét từ góc chiêm tinh, nơi mà quyết tâm và việc sử dụng ảnh hưởng của ý chí là những yếu tố cần thiết nhất trong trải nghiệm vật chất.

Also from the astrological influence we find Jupiter, with Saturn, being rather benevolent. Hence, while material conditions have often distressed the body, so far as relationships are considered as for want—or desire—or opportunity—or expression of self in a mental and material way, these have (as many would consider) favored the entity in each and every change that has come in the entity’s experience.

Cũng từ ảnh hưởng chiêm tinh, chúng tôi thấy Mộc Tinh, cùng với Thổ Tinh, là khá từ ái. Do vậy, tuy điều kiện vật chất thường làm thân thể khốn khó, xét về các mối quan hệ như là nhu cầu—hay ước muốn—hay cơ hội—hay biểu hiện bản thân về mặt tâm trí và vật chất, những điều này (như nhiều người sẽ cho là) đã ưu đãi thực thể trong từng lần thay đổi xảy đến trong trải nghiệm của thực thể.

And, as we find, while in that period in October of the year just past the entity made those decisions that, for the material life, would have made considerable change in much that might be desired in the material affairs of the earth, these have brought—will bring—greater opportunities in the material, the mental and spiritual development for the entity.

Và, chúng tôi thấy, dẫu trong giai đoạn tháng Mười của năm vừa qua thực thể đã đưa ra những quyết định mà, đối với đời sống vật chất, hẳn đã tạo nên đổi thay đáng kể trong nhiều điều có thể ước muốn nơi các sự vụ vật chất của thế gian, thì những quyết định đó đã mang đến—và sẽ mang đến—những cơ hội lớn hơn trong phát triển vật chất, tâm trí và tinh thần cho thực thể.

For, the other influences from the astrological that are more benevolent will come into the entity’s experience in the latter part of the present year and the early portion of the one to come. For, then Saturn, Jupiter, Venus and Mercury will all be (as for the entity) in a benevolent influence for the experience of the entity known now as [390].

Bởi, những ảnh hưởng chiêm tinh khác mang tính từ ái hơn sẽ đi vào trải nghiệm của thực thể vào phần cuối năm hiện tại và đầu năm tới. Vì, khi ấy Thổ Tinh, Mộc Tinh, Kim Tinh và Thủy Tinh sẽ đều (đối với thực thể) ở trong ảnh hưởng từ ái cho trải nghiệm của thực thể hiện được biết là [390].

As to the influences innate that these sojourns make in the experience of the entity:

Về các ảnh hưởng bẩm sinh mà những lần lưu trú này tạo nên trong trải nghiệm của thực thể:

One that finds it often a real job to, as it were, hold the temper.

Một người thường thấy việc, như thể, giữ cơn nóng giận là một công việc thật sự.

One that finds in the associations with those that are spiritual-minded, and that think and speak often of such influences in the activities of individuals in the daily life, the easier to deal with; and greater opportunities come to the entity through such associations.

Một người cảm thấy, trong kết giao với những người có tâm hướng tinh thần, và thường nghĩ—thường nói—về những ảnh hưởng như thế trong hoạt động của cá nhân trong đời sống hằng ngày, thì dễ xử sự hơn; và nhiều cơ hội lớn hơn đến với thực thể qua những mối kết giao như thế.

While there are those influences that make for the desire for changes in surroundings (material), in the associations in material affairs, these all—as we find—will come to the experience of the entity when the self is understood, and the relationships in the various activities of the experiences of the entity may be made to become more worthwhile.

Dẫu có những ảnh hưởng khiến khởi lên mong muốn đổi thay hoàn cảnh (vật chất), đổi thay các mối kết giao trong sự vụ vật chất, thì tất cả những điều này—như chúng tôi thấy—sẽ đến trong trải nghiệm của thực thể khi cái tôi được thấu hiểu, và các mối quan hệ trong những hoạt động khác nhau của trải nghiệm của thực thể có thể được khiến trở nên đáng giá hơn.

Those things, then, that have to do with individuals and the home—in the culinary arts, and in the preparations of home in associations with many—are the fortes or the fields of activity, in the material sense, that bring the greater satisfaction to the entity in its present experience, to the present

Những điều liên quan đến con người và mái ấm—trong nghệ thuật ẩm thực, và trong việc chuẩn bị mái ấm trong kết giao với nhiều người—là những sở trường hay lĩnh vực hoạt động, theo nghĩa vật chất, đem lại thỏa mãn lớn hơn cho thực thể trong trải nghiệm hiện tại, tính đến hiện tại.

As to the appearances, then, and their influences upon the entity, [390]—as called in the present:

Về các lần xuất hiện, và ảnh hưởng của chúng lên thực thể, [390]—như gọi trong hiện tại:

In the one before this we find the entity was during those periods when there were those who journeyed from the Fatherland to the Holy Land, and those that made for preparations in the sojourn.

Trong lần ngay trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở vào những thời kỳ khi có những người lữ hành từ Đất Cha đến Đất Thánh, và những người chuẩn bị cho cuộc hành trình.

The entity then was among those that made this trip, as would be termed in the present, and among those that went as Crusaders; yet was of the same sex as in the present. For, the material love—or the heart—then prompted the body not to be separated from those that were held near and dear to the body in that experience.

Thực thể khi đó ở trong số những người đã thực hiện cuộc hành trình này, như cách gọi hiện nay, và trong số những người ra đi như các Thập Tự quân; tuy vậy vẫn cùng giới tính như hiện tại. Bởi khi ấy, tình ái vật chất—hay trái tim—đã thúc đẩy thân thể không muốn xa lìa những người được thân thể yêu mến và coi là gần gũi trong trải nghiệm ấy.

However, there came many disappointments—many disillusionments that the body then suffered in body, in mind; and in such made for self such resentments, such feelings in these disappointments, as to bring retardments. For, the body allowed self to be drawn away from those purposes, desires, ideals, in the experience; then in the name Elsa Claupenheiseur.

Tuy nhiên, có nhiều thất vọng—nhiều vỡ mộng mà thân thể khi đó đã chịu đựng trong thân, trong trí; và qua đó đã tạo nên nơi chính mình những mối oán hờn, những cảm xúc trong các thất vọng ấy khiến đưa tới trì trệ. Vì thân thể đã để mình bị lôi khỏi các mục đích, ước muốn, lý tưởng trong trải nghiệm; khi đó mang tên Elsa Claupenheiseur.

In the present are the influences felt and manifested; for in the losing of self in that sojourn or experience, there was the sojourn to Saturn for the cleansing of all those things that hindered.

Trong hiện tại, những ảnh hưởng này được cảm nhận và biểu lộ; vì trong việc đánh mất bản thân trong lần lưu trú hay trải nghiệm ấy, đã có lần lưu trú nơi Thổ Tinh để tẩy rửa tất cả những điều cản trở.

Hence, in the present every experience is as but new, yet the more often those things that are held as near and dear—in material conditions, material relations—seem to fade, falter; or confidences are not as they should be kept. The little things seem the more often to interfere.

Do vậy, trong hiện đời, mọi trải nghiệm đều như mới, tuy nhiên thường thì những điều được giữ là gần gũi và yêu quý—trong điều kiện vật chất, quan hệ vật chất—dường như phai nhạt, chao đảo; hoặc niềm tin không được giữ như lẽ ra phải giữ. Những điều nhỏ nhặt thường hay chen ngang nhiều hơn.

Yet, if there will be found first in the present that stabilizing of self, self’s desires—in the mental, in the spiritual realm—in those things that partake of the spirit influences in the life, with the ideals held in the Creative Influences and trusting in those guidances that come with the belief in the power of Him that is the Prince of the World—not of darkness but of light, there will come a peace, a harmony, during those periods when the activities of the entity throughout the material and spiritual realms will bring joy, contentment, harmony, understanding, and that which maketh not afraid.

Tuy nhiên, nếu trước hết trong hiện tại sẽ tìm được sự vững tâm của bản thân, các ước muốn của bản thân—trong lĩnh vực tâm trí, trong lĩnh vực tinh thần—nơi những điều thấm nhuần ảnh hưởng của tinh thần trong đời sống, với những lý tưởng đặt trong Các Ảnh Hưởng Sáng Tạo và tin cậy những dẫn dắt đến cùng với đức tin vào quyền năng của Ngài, Đấng là Vị Chúa Tể của Thế Gian—không phải của bóng tối mà của ánh sáng, thì sẽ đến một bình an, một hòa điệu, trong những thời kỳ mà hoạt động của thực thể suốt lĩnh vực vật chất và tinh thần sẽ mang lại hoan lạc, mãn nguyện, hòa hợp, thấu hiểu, và điều khiến không còn sợ hãi.

Fear is the greater stumbling block, ever, in the entity’s experience in the present.

Nỗi sợ luôn là hòn đá vấp lớn nhất trong trải nghiệm hiện tại của thực thể.

Before this we find the entity was in that period when there were the gatherings of many in the ‘city on the hills,’ when there were those that were persecuted for their beliefs in the tenets of the Galilean.

Trước đó nữa, chúng tôi thấy thực thể ở vào thời các cuộc quy tụ của nhiều người nơi “thành trên đồi”, khi có những người bị bách hại vì niềm tin của họ vào các tín điều của Người Galilê.

The entity then was among those of the court who made jeers and, as it were, made light and sport of those for their beliefs. Yet, with the sincerities that were shown, the entity came to the point of one halting between those that would join with these of the hated class; yet faltered and gained, faltered and lost—and gained. Yet, the entity suffered much in the disappointments of those that made sport and light of the determinations that were set in the activities of the entity in that experience, in the name Veldejui.

Thực thể khi đó ở trong số những người của triều đình, kẻ đã chế giễu và, như thể, làm trò cười, bỡn cợt những người ấy vì niềm tin của họ. Tuy nhiên, trước sự chân thành được bày tỏ, thực thể đi đến chỗ lưỡng lự giữa việc gia nhập với thành phần bị căm ghét ấy; rồi lại chao đảo và thu hoạch, chao đảo và đánh mất—và rồi lại thu hoạch. Tuy nhiên, thực thể đã chịu nhiều trong những thất vọng vì những kẻ đã coi thường và bỡn cợt những quyết tâm được đặt ra trong hoạt động của thực thể trong trải nghiệm ấy, mang tên Veldejui.

And the entity was among those that came to know Titus, as the emissary or instructor for those that were or had been under the teachings of both Peter and Paul.

Và thực thể ở trong số những người đến biết Titus, như là sứ giả hoặc người giáo huấn cho những người đã hoặc từng ở dưới sự dạy dỗ của cả Phêrô và Phaolô.

Hence, the entity found contentment and peace in the latter portion of the experience.

Bởi thế, thực thể đã tìm được mãn nguyện và bình an trong phần cuối của trải nghiệm ấy.

Hence, the more easily will the entity find in the present that which will bring joy, comfort, peace and understanding, especially when reading the letters to the Romans—and those of John and James in the latter portions of their chapters or books.

Do đó, trong hiện tại, thực thể sẽ dễ dàng hơn để tìm thấy điều mang lại hoan lạc, an ủi, bình an và thấu hiểu, đặc biệt khi đọc các thư gửi tín hữu Rôma—và các thư của Gioan và Giacôbê ở phần cuối các chương hay sách của họ.

Before this, we find the entity was in that land now known as the Egyptian, during those periods when there were the turmoils and the strifes among those that were sent with the priest into banishment.

Trước đó nữa, chúng tôi thấy thực thể ở vùng đất nay gọi là Ai Cập, trong những thời kỳ có hỗn loạn và xung đột giữa những kẻ bị sai đi cùng vị tư tế vào lưu đày.

The entity then was among those who had come into the land with the peoples of the north, and was of the household of those that labored with the king; and taking sides with the king when the counsellor (in whose household the entity was) chose to send the priest into banishment. Yet, those whom the entity loved—in the material sense—joined rather with those that went into banishment.

Thực thể khi đó ở trong số những người đã đi vào vùng đất cùng dân phương bắc, và thuộc gia thất của những người làm việc với nhà vua; và đã đứng về phía nhà vua khi vị cố vấn (trong gia thất của ông ta thực thể cư ngụ) chọn gửi vị tư tế vào lưu đày. Dẫu vậy, những người mà thực thể yêu—theo nghĩa vật chất—lại cùng về với những người đi vào lưu đày.

Hence, the material distresses in the entity’s experience; and these to the entity outweighed any of the questions that dealt with the spiritual or mental life of the peoples in the period.

Do vậy, những khốn khó vật chất trong trải nghiệm của thực thể; và đối với thực thể, những điều này nặng ký hơn bất cứ câu hỏi nào liên quan đến đời sống tinh thần hay tâm trí của dân chúng trong thời kỳ ấy.

Then the entity was in the name Rel-Elo.

Khi đó thực thể mang tên Rel-Elo.

In the experience the entity lost and gained: for with the return of the priest, and with those raised in power again (in the material sense), as there was the rebuilding, the entity was shown that the activities in the material must have their impulse and their foundations in the spiritual life—and the spiritual things of life, if they are to be such as to bring peace, harmony, understanding and contentment; or, as was termed in those periods by him who had come as an emissary, a teacher and a builder from the Atlantean land (with whom the entity became associated), the law of one must rule. For, there cannot be a separation of the spiritual and mental life from the material things, without becoming stumbling blocks in thine own house, in thine own understanding.

Trong trải nghiệm ấy, thực thể vừa mất vừa được: vì khi vị tư tế trở về, và khi những người nắm quyền lại (theo nghĩa vật chất), lúc công cuộc tái thiết diễn ra, thực thể được chỉ cho thấy rằng các hoạt động trong vật chất phải có xung lực và nền tảng của chúng nơi đời sống tinh thần—và nơi những điều tinh thần của đời sống, nếu chúng là những điều có thể mang lại bình an, hòa hợp, thấu hiểu và mãn nguyện; hay, như được gọi trong thời kỳ ấy bởi người đã đến như một sứ giả, một vị thầy và một nhà kiến thiết từ xứ Atlantis (với người ấy thực thể đã kết giao), rằng luật của Một phải cai quản. Bởi không thể tách biệt đời sống tinh thần và tâm trí ra khỏi những điều vật chất, mà không trở thành hòn đá vấp trong chính mái nhà của ngươi, trong chính sự thấu hiểu của ngươi.

In the present, as will be found, the adhering closer and closer to those activities that deal with the constructive in Creative Influences—which arise from the mental’s activity, or mental’s feeding upon the spiritual lessons that may come from the directing influences in a life attuned to the Creative Influences—will bring those understandings that make life, in the physical sense, become worthwhile in the earth’s plane.

Trong hiện tại, như sẽ thấy, việc càng gắn bó với những hoạt động mang tính xây dựng trong Các Ảnh Hưởng Sáng Tạo—vốn nảy sinh từ hoạt động của tâm trí, hay việc tâm trí bồi dưỡng mình nơi những bài học tinh thần có thể đến từ các ảnh hưởng dẫn dắt trong một đời sống hòa điệu với Các Ảnh Hưởng Sáng Tạo—sẽ mang đến những thấu hiểu khiến đời sống, theo nghĩa thể chất, trở nên xứng đáng trên cõi trần.

Before this we find the entity was in the Atlantean period before the second of the turmoils that separated the islands or broke up the land into islands; and in the city of Eden in Poseidia did the entity then dwell.

Trước đó nữa, chúng tôi thấy thực thể ở thời Atlantis trước cuộc hỗn loạn thứ hai đã chia tách các đảo hoặc bẻ gãy vùng đất thành các đảo; và trong thành Eden tại Poseidia, thực thể lúc ấy cư trú.

The entity was among the Atlan [?] lands and peoples, and in the same sex, and of those that served in the temple during the building of the temple to the One, the law of the One, the understanding of the law of the One.

Thực thể thuộc các vùng và dân Atlan [?], cùng giới tính, và ở trong số những người phụng sự trong đền, trong thời xây dựng đền thờ Đấng Duy Nhất, luật của Một, sự hiểu biết về luật của Một.

Then the entity became enamored with those of the house of Baalilal, and faltered in the experience; yet it was forgiven much through those sojournings in the understandings of that given through Quoauda in the land. The entity was in the name Emmelza.

Khi đó thực thể đã si mê những người của nhà Baalilal, và đã chao đảo trong trải nghiệm; tuy nhiên thực thể được tha thứ nhiều qua những lần lưu trú trong các thấu hiểu về điều đã được ban qua Quoauda trong vùng đất ấy. Thực thể mang tên Emmelza.

As to the abilities of the entity in the present, and that to which it may attain—and how:

Về các khả năng của thực thể trong hiện tại, và điều nó có thể đạt tới—và bằng cách nào:

As is seen from the experiences, while much must be determined in the present—both from the mental and material aspects, and mental and material associations and relations of the entity, in finding self in the law—the understanding of Him that will guide, guard and direct those that put their trust in Him, and not of themselves nor in the activities of individuals that partake more and more of the material forces in the earth—may the entity find in self the ability to become a channel of blessings to others; through the trust, the love that is shown in service to the Creative Forces found in Him that gave, “Come ye that are weak and heavy- laden with the cares of this world that have been builded in thine experience throughout the ages in the earth, and put thy trust in me; for my burden is easy to those that love the Lord’s way.” His arms are not short as men’s arms, nor are his promises short as men’s promises. For, His love endureth to those that despise the shame but remain true throughout every trial, every test that may come. And, it is only the little things that build in the heart and soul; just the kind word, the gentleness of manner, the meekness that gives peace, the patience that maketh for the soul’s happiness in His ways.

Như thấy từ các trải nghiệm, tuy trong hiện tại phải quyết định nhiều điều—cả về mặt tâm trí lẫn vật chất, và các kết giao, quan hệ tâm trí và vật chất của thực thể—thì bằng cách tìm thấy bản thân trong luật—trong sự hiểu biết về Ngài, Đấng sẽ hướng dẫn, gìn giữ và dẫn dắt những ai đặt lòng tin nơi Ngài, chứ không nơi chính họ, cũng không nơi các hoạt động của những cá nhân vốn càng lúc càng thuộc về các lực vật chất trên trần—thực thể có thể tìm thấy nơi mình khả năng trở thành một kênh ban phước cho người khác; qua lòng tin cậy, Tình thương bày tỏ trong phụng sự đối với Các Lực Sáng Tạo được tìm thấy nơi Ngài, Đấng đã phán, “Hỡi những ai yếu đuối và nặng gánh với những lo toan của thế gian đã được chất chứa trong trải nghiệm của ngươi suốt các thời đại trên trần, hãy đến cùng Ta và đặt lòng tin nơi Ta; vì gánh Ta thì nhẹ cho những ai yêu đường lối của Chúa.” Cánh tay của Ngài không ngắn như cánh tay người phàm, lời hứa của Ngài cũng không ngắn như lời hứa của loài người. Vì Tình thương của Ngài bền vững cho những ai khinh điều ô nhục nhưng vẫn trung tín trong mọi thử thách, mọi khảo nghiệm có thể đến. Và, chỉ những điều nhỏ bé mới đắp xây trong tim và linh hồn; chỉ là lời thiện lành, sự dịu dàng trong cung cách, đức khiêm nhu đem lại bình an, sự nhẫn nại tạo nên hạnh phúc của linh hồn trong các nẻo đường của Ngài.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Would it be better if I gave up all thoughts of marriage and children?

(H) Sẽ tốt hơn không nếu tôi từ bỏ mọi ý nghĩ về hôn nhân và con cái?

(A) The opportunity will come; for, to build the home—those that make for the cherishing and directing of the lives of those that may be lent to a union of love in the body—is to be a handmaid to the Creator.

(Đ) Cơ hội sẽ đến; vì xây dựng mái ấm—những điều làm nên sự nâng niu và hướng dẫn đời sống của những người có thể được trao phó cho một cuộc kết hợp trong tình yêu nơi thân thể—là làm thị nữ cho Đấng Sáng Tạo.

For, the home becomes—to such that conduct their lives in that direction—as an outer door to the heavenly home.

Vì mái ấm trở nên—đối với những ai an bài đời sống mình theo hướng ấy—như cánh cửa ngoài của ngôi nhà thiên thượng.

For, as man and woman pass through God’s other door from experience to experience, those that have been directed by thine hand will make for the blessings of the efforts put forth in the home.

Vì, khi người nam và người nữ bước qua cánh cửa khác của Thượng đế từ trải nghiệm này sang trải nghiệm khác, những người đã được bàn tay ngươi dẫn dắt sẽ mang lại phước lành cho các nỗ lực đã đặt ra trong mái ấm.

(Q) Are Joe [...] and I spiritually fitted to be married?

(H) Joe [...] và tôi có phù hợp về mặt tinh thần để kết hôn không?

(A) This may best be determined in self by taking that which is the desire in the heart of each to Him that giveth light and understanding, through prayer and meditation in His ways.

(Đ) Điều này tốt nhất nên tự quyết định bằng cách đem điều vốn là ước muốn trong lòng mỗi người đến cùng Ngài, Đấng ban ánh sáng và thấu hiểu, qua cầu nguyện và tham thiền trong các nẻo đường của Ngài.

For, let thy going ins, thine coming outs, be founded in the ways He would direct, in thine meditations.

Vì, hãy để cho những lần ngươi vào, những lần ngươi ra, được đặt nền trong các nẻo đường Ngài muốn dẫn dắt, trong các buổi tham thiền của ngươi.

We are through for the present.

Hiện tại, chúng tôi xin dừng.

Editor’s Note: This next reading reveals an incarnation in Atlantis and Egypt, with many visits to Poseidia.

Ghi chú của Biên tập: Bài đọc tiếp theo hé lộ một lần lâm phàm ở Atlantis và Ai Cập, với nhiều chuyến viếng thăm Poseidia.

TEXT OF READING 423-3 M 46

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 423-3 M 46

(Executive, Spiritualist)

(Giám đốc điều hành, Nhà thần linh học)

This psychic reading given by Edgar Cayce at the home of Mr. and Mrs. Carl Percy, 10 Park Avenue, New York City, this 22nd day of January, 1934, in accordance with request made by self—Mr. [423], Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc tâm linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà của Ông và Bà Carl Percy, 10 Park Avenue, Thành phố New York, ngày 22 tháng 1 năm 1934, theo yêu cầu do chính đương sự—Ông [423], Hội viên Liên kết của Hiệp hội Nghiên cứu & Khai Minh, Inc.—đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mr. [423] and wife.

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Tốc ký. Ông [423] và phu nhân.

READING

BÀI ĐỌC

Born January 29, 1887, one minute after midnight, Ogdensburg, New York.

Sinh ngày 29 tháng 1 năm 1887, một phút sau nửa đêm, Ogdensburg, New York.

Time of Reading 2:30 to 3:15 P. M. Eastern Standard Time. New York City.

Thời gian Bài Đọc 2:30 đến 3:15 CH, Giờ Miền Đông. Thành phố New York.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Bài đọc Đời sống)

EC: Yes, we have the entity here and those relations with the universe and universal forces, that are latent and manifested in the personalities of the entity now known as [423].

EC: Vâng, chúng tôi có thực thể ở đây và những mối liên hệ với vũ trụ và các lực vũ trụ, vốn tiềm ẩn và biểu lộ trong các cá tính của thực thể hiện nay được biết là [423].

In entering, we find the astrological aspects—that there are those influences in same, but rather as to the application the entity has made respecting its sojourn in astrological environs than as to the position of the planets or of the various conditions in the astrological chart. Hence we will find that the variations that may occur depend upon what the entity has done respecting such conditions, and as to urges that are existent in the mental body. Hence we find these as the astrological urges in the mental aspects of the body:

Khi bước vào, chúng tôi thấy các khía cạnh chiêm tinh—rằng có các ảnh hưởng trong đó, nhưng đúng hơn là về việc thực thể đã áp dụng thế nào liên quan đến những lần lưu trú của mình trong các môi trường chiêm tinh, hơn là về vị trí của các hành tinh hay của nhiều điều kiện trong lá số chiêm tinh. Do vậy chúng ta sẽ thấy rằng những biến thiên có thể xảy ra tùy thuộc vào việc thực thể đã làm gì liên quan tới những điều kiện như thế, và các xung động đang hiện hữu trong thể trí. Vậy nên chúng tôi ghi nhận những điều này như là các xung động chiêm tinh trong các phương diện tâm trí của thân thể:

Uranus being an influence in the experience of the entity in its last sojourn, brings the periods of particular interest in certain lines of endeavor, lines of activity, and makes for that tendency that at times is to the entity ascribed—as to the entity being very warm or very cold on any subject, any given subject, whether pertaining to the occult influences or dealing with the more secular things in life. Hence at times the entity is called an extremist, and making for periods when there are certain changes or definite changes in the attitude of the entity respecting that which may be requiring the interest of the entity at that time; making for abilities in the entity’s development in the mental influence in this particular field of activity.

Thiên Vương Tinh là một ảnh hưởng trong trải nghiệm của thực thể ở lần lưu trú sau cùng, tạo nên những giai đoạn đặc biệt quan tâm trong một số lĩnh vực nỗ lực, lĩnh vực hoạt động, và làm nảy sinh xu hướng đôi khi được gán cho thực thể—rằng thực thể rất nồng nhiệt hoặc rất lạnh lùng đối với bất kỳ đề tài nào, một đề tài bất kỳ, dù liên quan đến các ảnh hưởng huyền bí hay xử lý những điều thế tục hơn trong đời sống. Do đó đôi khi thực thể bị gọi là người thiên cực, và khiến cho có những giai đoạn khi có những thay đổi nào đó hay thay đổi dứt khoát trong thái độ của thực thể đối với điều có thể khi ấy đòi hỏi sự quan tâm của thực thể; qua đó tạo nên các khả năng trong sự phát triển của thực thể về mặt ảnh hưởng trí tuệ trong lĩnh vực hoạt động đặc thù này.

And also, with those sojourns in the Jupiterian influence, makes for a great scope of vision to the entity, in its abilities to grasp the activities in many fields in a material world that deal rather with the basic principles or the mental attitudes of individuals. And a judge of human nature, and individuals’ reactions to the various attitudes, whether of the psychological effect or the more material aspects as related to their mental capacities or abilities. Hence the entity may at all times be considered rather as one that would be able to convene with others respecting determining abilities in mental fields of activity of other individuals, bringing in more the material experiences in the present earth’s sojourn of periods when there has been considered very much ups and downs in the material affairs of the entity. And save for those saving graces that may be considered from the sojourn in Venus, would make for some real antagonistic influences in the mental experience and attitude of the entity respecting disappointments in individuals who through their activities brought much in the experience of the entity as related to confidences that have apparently been misplaced. Yet these make for rather—if they are applied in the mental forces of the entity—steppingstones for an advancement in the mental and spiritual field of activity.

Và cũng vậy, với những lần lưu trú trong ảnh hưởng Mộc Tinh, điều này tạo nên một tầm nhìn rất rộng cho thực thể, trong các khả năng nắm bắt hoạt động trong nhiều lĩnh vực của thế giới vật chất, những lĩnh vực xử lý đúng hơn các nguyên lý nền tảng hoặc các thái độ tâm trí của cá nhân. Và là một vị thẩm định bản tính con người, và phản ứng của các cá nhân trước nhiều thái độ, dù là về tác động tâm lý hay những phương diện vật chất hơn khi liên hệ với năng lực hay khả năng tâm trí của họ. Do đó, thực thể có thể ở mọi lúc được coi như là người có thể hội bàn với người khác liên quan đến việc xác định các khả năng trong các lĩnh vực hoạt động tâm trí của những cá nhân khác, đưa vào nhiều hơn các trải nghiệm vật chất trong lần lưu trú trần gian hiện tại những thời kỳ mà người ta từng xem là có rất nhiều thăng trầm trong sự vụ vật chất của thực thể. Và nếu không có những ân điển cứu rỗi có thể xem là đến từ lần lưu trú nơi Kim Tinh, thì điều đó đã tạo nên những ảnh hưởng đối kháng thật sự trong trải nghiệm và thái độ tâm trí của thực thể đối với những thất vọng nơi các cá nhân mà qua hoạt động của họ đã mang đến nhiều điều trong trải nghiệm của thực thể khi liên quan đến những niềm tin tưởng dường như đã đặt sai chỗ. Tuy vậy, nếu được ứng dụng trong các lực tâm trí của thực thể, chúng lại trở thành các bậc thang cho sự thăng tiến trong lĩnh vực hoạt động tâm trí và tinh thần.

Hence we find from this Venus sojourn also that wherein the entity is at times quick of temper, in the more sober judgements there is much of mercy, patience exhibited regarding the activities of its fellow man, that would not be tempered so without the use of will towards the entity’s developments. And, as we shall see, great has been the development of the entity through the earth’s sojourns, though some under very trying experiences—as would be called—in the material affairs of individuals.

Bởi vậy, chúng tôi cũng thấy từ lần lưu trú nơi Kim Tinh rằng, tuy đôi khi thực thể nóng tính, thì trong những phán đoán điềm tĩnh hơn lại có rất nhiều lòng xót thương, kiên nhẫn bộc lộ đối với hoạt động của đồng loại mình, điều mà sẽ không được nhu nhuyến như thế nếu không có việc sử dụng ý chí cho hướng phát triển của thực thể. Và, như chúng ta sẽ thấy, thực thể đã phát triển rất nhiều qua các lần lưu trú trần gian, dẫu một số là dưới những trải nghiệm rất thử thách—như người ta vẫn gọi—trong sự vụ vật chất của các cá nhân.

As to the sojourns in the earth, then, as we find them, that influence in this particular period of the entity’s environs:

Về các kỳ lâm phàm nơi trần thế, như chúng ta thấy, ảnh hưởng trong giai đoạn đặc thù này của hoàn cảnh quanh hữu thể:

Before this we find the entity was in and during those periods in England when there were being the gatherings of many peoples that were expressing themselves in material activity regarding the overrunning of others in a land that had—to that belief in the experience—become as a people being overridden.

Trước đó chúng ta thấy hữu thể ở Anh quốc trong những thời kỳ có các đoàn tụ của nhiều dân tộc biểu lộ mình bằng hoạt động vật chất liên quan đến việc tràn lấn kẻ khác trên một xứ sở mà—theo niềm tin trong kinh nghiệm ấy—đã trở thành một dân tộc bị chèn lấn.

Then, in the name Carlin, the entity went with and among the Crusaders to the Holy Land, and during those experiences gained much in the application of that which may be held as an ideal that may indeed run to seed if there is not made the practical application of the ideal in the daily relationships of individuals.

Rồi, với tên Carlin, hữu thể đi cùng và ở giữa những người Thập tự chinh đến Thánh Địa, và trong những kinh nghiệm ấy đã thu nạp nhiều điều trong sự áp dụng cái có thể được giữ như một lý tưởng—một lý tưởng thật sự có thể thành “thoái hóa” nếu không được ứng dụng thiết thực trong các mối liên hệ hằng ngày của từng cá nhân.

And much of that experienced in the present entity’s sojourn, or experience of being able to be a good listener without condemning even those that are in error according to the ideas and ideals of self, arises from that period. Hence tolerance in the present may be said to be a virtue of the entity from that sojourn.

Và nhiều điều đã kinh nghiệm trong kỳ lữ hành hiện tại của hữu thể, hay kinh nghiệm có thể làm một người biết lắng nghe tốt mà không kết án ngay cả những người đang sai lầm theo các ý tưởng và lý tưởng của bản thân, bắt nguồn từ thời kỳ đó. Do vậy, có thể nói lòng khoan dung trong hiện tại là một đức hạnh của hữu thể từ kỳ lữ hành ấy.

Before this we find the entity under very trying experiences in the forests of that land above or about the Roman land, when there were the hunters of the kings and those in high positions; and the entity was given charge concerning the activities of those in power.

Trước đó chúng ta thấy hữu thể trải qua những kinh nghiệm rất thử thách trong các khu rừng của xứ sở ở phía trên hoặc quanh đất La Mã, khi có những thợ săn của các vua và những người ở các địa vị cao; và hữu thể được giao coi sóc các hoạt động của những kẻ nắm quyền.

And the experiences of the entity as related to the animal kingdom, as to the forest and to the peoples of the forest in that period, have brought much of the love in the present of those things that partake of the natural forces in their activity.

Và các kinh nghiệm của hữu thể liên quan đến giới động vật, đến rừng và đến những cư dân của rừng trong thời kỳ ấy, đã đem lại nhiều tình thương trong hiện tại đối với những điều thuộc phần tham dự của các lực thiên nhiên trong hoạt động của chúng.

Then in the name Catalineu, the entity lost and gained. Gained through gathering from nature and its surroundings the understandings of the expressions that might be found in the living influences, though considered in a different kingdom, as to be a manifestation of life in a material plane. Losing in the grudges, in the feelings of the determinations to protect, or to proclaim rather as to slaughter, as to the unkindly feelings as were given. Hence we find in the present a feeling as of a gentleness to the animal kingdom, to that in nature in the great outdoors, that brings to the entity the illustrations of how the finer things in man’s experience may be used as illustrations of man’s activity as relating to those things that come into man’s experience. Hence this may be said to be rather also a period of development in the entity’s experience, for again there was gained not only tolerance but mercy, patience, and the beauties that come in nature itself. And in proclaiming same in any field of activity may be a portion of the entity’s gaining that position in the affairs of men, or in a material world, as to bring those powers or those positions for activities to become more in line with which is the desire innately and manifestedly in the present experience of the entity.

Rồi với tên Catalineu, hữu thể có chỗ được, chỗ mất. Được là nhờ thu góp từ thiên nhiên và hoàn cảnh chung quanh những hiểu biết về các biểu hiện có thể tìm thấy trong các ảnh hưởng sống động, tuy được xem như thuộc một giới khác, như là một sự biểu lộ của sự sống trên cõi hồng trần. Mất là ở những hiềm hận, ở những cảm xúc do quyết tâm bảo vệ, hay đúng hơn là tuyên bố bằng sự tàn sát, bằng các cảm xúc khắc nghiệt đã được bộc lộ. Do đó chúng ta thấy trong hiện tại một cảm thức như là sự dịu hiền đối với giới động vật, đối với những gì thuộc thiên nhiên ngoài trời rộng lớn, mang đến cho hữu thể những minh họa về cách các điều tốt đẹp tinh tế trong kinh nghiệm của con người có thể được dùng như những minh họa cho hoạt động của con người trong mối liên hệ với những điều đi vào kinh nghiệm của con người. Vì vậy có thể nói đây cũng là một thời kỳ phát triển trong kinh nghiệm của hữu thể, vì một lần nữa không chỉ lòng khoan dung mà cả lòng từ bi, nhẫn nại, và những vẻ đẹp phát xuất ngay trong thiên nhiên đã được thu nạp. Và việc tuyên dương những điều ấy trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào có thể là một phần giúp hữu thể đạt địa vị trong các sinh hoạt của loài người, hay trong thế giới vật chất, để đưa các quyền năng hay các vị thế cho những hoạt động trở nên tiệm cận hơn với điều vốn là ước muốn bẩm sinh và đã biểu lộ trong kinh nghiệm hiện tại của hữu thể.

Before this we find the entity in that land when there were those activities known as the buildings in the plains of the Arabian land, when the leaders of a tribe—or tribes—had brought an understanding to the peoples of the application of the spiritual truths in the affairs of individuals in the earth.

Trước đó chúng ta thấy hữu thể ở xứ sở khi có những hoạt động được biết đến như các công trình xây dựng trên đồng bằng xứ Ả Rập, khi các thủ lĩnh của một bộ tộc—hoặc nhiều bộ tộc—đã đem đến cho dân chúng sự thấu hiểu về việc áp dụng các chân lý tinh thần vào sinh hoạt của từng cá nhân nơi trần thế.

The entity then was among the Grecian peoples that came as aids to those things that were being presented by Uhjltd, the leader, in that sojourn; aiding the leader in the establishing of that as to how the tenets and truths might be spread into other lands, as to how they might be an aid to those that were seeking to find a truer relationship with the Creative influences in the experiences of individuals.

Hữu thể khi ấy ở giữa người Hy Lạp, những người đến để trợ giúp cho các điều đang được trình bày bởi Uhjltd, vị thủ lĩnh, trong kỳ lữ hành đó; trợ giúp vị thủ lĩnh trong việc thiết lập cách thức nhờ đó các giáo điều và chân lý có thể được truyền bá sang các xứ khác, cách thức nhờ đó chúng có thể là sự trợ giúp cho những ai đang tìm kiếm một mối liên hệ chân thực hơn với các Ảnh hưởng Sáng Tạo trong kinh nghiệm của từng cá nhân.

In the name Uljdui, the entity brought to self and to many another the influence in individual and in group life that made for an advancement in the experiences of the entity and those the entity influenced by the building up of co-relationships between groups; though their tenets and their lessons to be learned were under varied circumstances and divers activities among other groups.

Với tên Uljdui, hữu thể đã đem đến cho bản thân và cho nhiều người khác ảnh hưởng trong đời sống cá nhân và tập thể vốn tạo nên sự thăng tiến trong kinh nghiệm của hữu thể và của những người chịu ảnh hưởng của hữu thể bằng việc gây dựng các mối tương liên giữa các nhóm; dù rằng giáo điều và bài học cần được học của họ diễn ra dưới các hoàn cảnh đa dạng và các hoạt động khác biệt giữa những nhóm khác.

The entity gained in the experience throughout, and in the present there are the judgments as to the material things that relate to the activities in peoples’ affairs, that which will influence them in the activities in their mental beings as well as to cause them to act in material way. These are found in the applications in the experience of the entity in the present.

Hữu thể đã thu hoạch được trong suốt kinh nghiệm, và trong hiện tại có những phán đoán về các điều vật chất liên quan đến hoạt động trong sinh hoạt của con người, tức những điều sẽ ảnh hưởng đến họ trong các hoạt động của hiện thể trí tuệ của họ cũng như khiến họ hành động theo cách vật chất. Những điều này được thấy trong các áp dụng trong kinh nghiệm của hữu thể ở hiện tại.

Before this we find the entity during those periods when there were those sojournings of groups and individuals from the Atlantean land to the periods of activities in that now known as the Egyptian land, when a turmoil and a strife was in progress.

Trước đó chúng ta thấy hữu thể trong những thời kỳ có các đoàn nhóm và cá nhân từ xứ Atlantis du hành đến các thời kỳ hoạt động nơi xứ mà nay được biết là xứ Ai Cập, khi một cơn rối loạn và tranh chấp đang diễn tiến.

The entity made many trips to and from Egypt to the Atlantean land, to Poseidia, where the activities of a peoples in a commercial way and manner, in a spiritual way and manner, had brought a high order of civilization—as would be termed in the present.

Hữu thể đã thực hiện nhiều chuyến đi tới lui giữa Ai Cập và vùng đất Atlantis, đến Poseidia, nơi các hoạt động của một dân tộc về phương diện thương mại, về phương diện tinh thần, đã đưa đến một trật tự văn minh rất cao—như cách gọi trong hiện tại.

Finally settling in the Egyptian land when there had been the restoration of the priest Ra-Ta, the entity—given into the activities of the commercial forces of the land—aided in bringing much to a peoples, to break down the conditions that arose from the rebellions between the natives and those who sojourned there for their own development and for the maintaining of those influences whereunto there might be given greater expression to the manifestations of the relationships between man and man, and between the Creative Influences, and how that the application of a soul to its fellow man made for manifestation of the spiritual and soul forces in the earth.

Sau cùng định cư ở xứ Ai Cập khi có sự phục vị của vị tư tế Ra-Ta, hữu thể—được giao vào các hoạt động của các lực thương mại của xứ—đã trợ giúp đem đến cho một dân tộc nhiều điều, để phá vỡ các điều kiện phát sinh từ các cuộc nổi loạn giữa người bản xứ và những kẻ lữ hành đến đó vì sự phát triển của riêng họ và để duy trì những ảnh hưởng mà ở đó có thể dành cho một sự biểu lộ lớn hơn về các mối liên hệ giữa người với người, và giữa Các Ảnh Hưởng Sáng Tạo, và về cách thức việc một linh hồn áp dụng với đồng loại làm nên sự biểu lộ của các lực tinh thần và linh hồn trên trần thế.

Then in the name Ptl-carl, the entity gained and lost. Gained in those activities in the temples in the Atlantean land, as to the orders, as to the priests, as to the initiates that aided in establishing the law of One. Losing in the turmoils that arose in self. Gaining again in aiding those to build up in a material way and manner the manners of expressing those things that had been gained from the spiritual associations in the Atlantean land, and in those that were builded in the various offices in the Egyptian land.

Rồi với tên Ptl-carl, hữu thể được và mất. Được trong các hoạt động nơi các đền ở xứ Atlantis, về các đoàn thể, về các tư tế, về các vị điểm đạo đã trợ giúp trong việc thiết lập luật của Đấng Duy Nhất. Mất trong những dao động rối bời nảy sinh trong tự ngã. Lại được khi trợ giúp người khác xây dựng theo phương diện vật chất các cách thức biểu lộ những điều đã được lĩnh hội từ các mối liên hệ tinh thần ở xứ Atlantis, và trong những điều đã được xây dựng trong các công sở khác nhau nơi xứ Ai Cập.

Becoming, as it were, the Prince of Egypt when the king and the priest began the establishing of the relationships with others, the entity—appointed to the office of the director of these conditions that were to be given out to others—brought much development to self and to those whom the entity spent its experience in attempting to aid.

Trở thành, như thể nói, Vương tử Ai Cập khi nhà vua và vị tư tế khởi sự thiết lập các mối liên hệ với những kẻ khác, hữu thể—được bổ nhiệm vào chức vụ điều phối những điều kiện sẽ được ban hành cho kẻ khác—đã mang đến nhiều phát triển cho bản thân và cho những người mà hữu thể đã dành kinh nghiệm của mình để cố gắng trợ giúp.

As to the abilities in the present, and that to which it may attain, and how:

Về các khả năng trong hiện tại, và điều mà hữu thể có thể đạt, và cách thức:

As has been seen from the experiences, whenever there have been those activities that have made for the exemplification of the so-called virtues in man’s activities, there have been brought for the entity developments mentally, spiritually, in its relationships for its own soul’s activity. For, only by aiding others may the soul within itself advance for its development towards filling that purpose for which it came into material experience in the earth (and as the entity finds, and as the entity seeks to know for what purpose it entered into this present sojourn in its present surroundings): That there might be manifest in the flesh those things in the mental and soul body that have been gained throughout the sojourns in the earth. For, only by manifested acts that make for a closer relationship of the soul to that source from which it sojourns, may there come the consciousness of self—and in self—being at an at-onement with the Creative Forces or God in the earth.

Như đã thấy từ các kinh nghiệm, hễ khi nào có những hoạt động nhằm nêu gương các đức hạnh được gọi là đức hạnh trong các hoạt động của con người, thì đều mang lại cho hữu thể những phát triển về trí tuệ, về tinh thần, trong các mối liên hệ phục vụ cho hoạt động của chính linh hồn mình. Bởi, chỉ bằng cách trợ giúp người khác, linh hồn mới có thể tự thăng tiến trong đường phát triển để hoàn thành mục đích mà vì đó nó đến với kinh nghiệm vật chất trên trần thế (và như hữu thể nhận ra, và như hữu thể tìm biết mục đích vì sao nó bước vào kỳ lữ hành hiện tại trong hoàn cảnh hiện nay): Hầu cho những điều trong thể trí và thể linh hồn đã thu được xuyên suốt các kỳ lữ hành nơi trần thế có thể được biểu lộ trong xác phàm. Vì chỉ bằng những hành động biểu lộ khiến mối liên hệ của linh hồn gần gũi hơn với nguồn mà từ đó nó lữ hành, mới có thể xuất hiện tâm thức về tự ngã—và trong tự ngã—đang ở trong trạng thái hợp nhất với Các Lực Sáng Tạo hay Thượng đế nơi trần thế.

In the present, then, there are those abilities to influence groups, influence individuals, as to their proper relationships to the material conditions in the earth as related to their mental and soul development also, as well as to the more material things of life. Yet the greater joy, the greater development may come in making manifest those virtues that have been manifest in the earth by the entity in tolerance, in a closer sojourn of the manifesting of love and patience, and truth, and life, and light; for life and light are the manifestations of God in the earth.

Trong hiện tại, vậy thì, có các năng lực để ảnh hưởng các nhóm, ảnh hưởng các cá nhân, về mối liên hệ đúng đắn của họ với các điều kiện vật chất nơi trần thế liên quan đến sự phát triển trí tuệ và linh hồn của họ nữa, cũng như với những điều vật chất hơn của đời sống. Tuy nhiên niềm hoan lạc lớn hơn, sự phát triển lớn hơn có thể đến bằng việc biểu lộ những đức hạnh đã được hữu thể biểu lộ nơi trần thế trong lòng khoan dung, trong một kỳ lữ hành gần gũi của việc biểu lộ tình thương và nhẫn nại, và chân lý, và sự sống, và ánh sáng; vì sự sống và ánh sáng là những biểu lộ của Thượng đế nơi trần thế.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho câu hỏi.

(Q) Please give name and history of highest spirit guide assigned to my wife and me?

(H) Xin cho biết tên và lịch sử của vị linh hướng cao nhất được phân công cho vợ chồng tôi?

(A) These had best be sought in self. Not that these may not be given, for they are present with thee in thy activities; but “What is thy name?” that has been sought by others, and as the answer came then, “What meanest these experiences in thy life?” so may the name come to thee, even as it did to Elkannah [Elkanah-1 Sam. 1:21; husband of Hannah, father of Samuel] as he offered the sacrifice, as he offered meat—for he is thy guide.

(Đ) Tốt nhất là hãy tìm trong chính bản thân. Không phải là không thể nói ra, vì Các Ngài hiện diện với ngươi trong các hoạt động của ngươi; nhưng “Tên của ngươi là gì?” điều ấy đã được những người khác hỏi, và như câu trả lời đã đến khi ấy, “Những kinh nghiệm này trong đời ngươi muốn nói điều gì?” thì tên cũng có thể đến với ngươi, như nó đã đến với Elkannah [Elkanah—1 Sam. 1:21; chồng của Hannah, cha của Samuel] khi ông dâng sinh tế, khi ông dâng của ăn—vì ông ấy là linh hướng của ngươi.

(Q) Has he any instructions as for our contact with him?

(H) Ngài có chỉ dẫn nào về cách chúng tôi liên lạc với Ngài không?

(A) Seek and ye shall find. Put into application that thou knowest day by day, for it is line upon line, precept upon precept, here a little and there a little that ye gather together those forces that make for the greater material manifestation of those influences in thy daily experience that may bring thee to the consciousness, to the understanding of those forces that would aid thee.

(Đ) Hãy tìm thì sẽ thấy. Hãy đem áp dụng điều ngươi đã biết từng ngày, vì ấy là “dòng nối dòng, điều răn chồng điều răn, chỗ này một ít chỗ kia một ít” mà các ngươi gom góp lại những lực khiến cho sự biểu lộ vật chất lớn hơn của các ảnh hưởng ấy trong kinh nghiệm hằng ngày của ngươi, hầu đem ngươi đến tâm thức, đến sự thấu hiểu về những lực sẽ trợ giúp ngươi.

For, as has been given, when thou hast shown in thine heart thy willingness to be guided and directed by His force, He gives His angels charge concerning thee that they bear thee up and prevent the stumblings that come to the sons of the Creative Forces in and among the sons of men.

Bởi, như đã được ban, khi ngươi đã tỏ bày trong lòng mình ý sẵn sàng được dẫn dắt và chỉ đạo bởi Quyền năng của Ngài, Ngài giao cho các thiên sứ của Ngài coi sóc ngươi để các thiên sứ nâng đỡ ngươi và ngăn các vấp ngã vốn đến với những người con của Các Lực Sáng Tạo ở trong và giữa những người con của nhân loại.

Hence keep—keep—true to self and to that thou knowest, for the way is open before thee. Seek rather to show thyself as one worthy of acceptance to the God influence that is shown in man’s experience through the manifestations of His Son in the earth; for He is thy guide, He will show thee the way. His brethren, His brothers in the activities in the earth, may show thee thy way.

Vậy hãy giữ—giữ—trung thực với bản thân và với điều ngươi biết, vì con đường đang mở ra trước ngươi. Hãy tìm cách bày tỏ chính mình như một người xứng đáng được đón nhận đối với ảnh hưởng của Thượng đế vốn được biểu lộ trong kinh nghiệm của con người qua sự biểu hiện của Con Ngài nơi trần thế; vì Ngài là linh hướng của ngươi, Ngài sẽ chỉ cho ngươi con đường. Các huynh đệ của Ngài, những anh em của Ngài trong các hoạt động nơi trần thế, có thể chỉ cho ngươi con đường của ngươi.

(Q) What is the sign of his presence?

(H) Dấu hiệu về sự hiện diện của Ngài là gì?

(A) The circle with the Cross; these make for the sign that all thou hast heard is fulfilled in Him.

(Đ) Vòng tròn với Thập Giá; đó là dấu hiệu cho thấy mọi điều ngươi đã nghe được ứng nghiệm trong Ngài.

(Q) Who is A-z-u-a-b?

(H) A-z-u-a-b là ai?

(A) One that would make known much, but seek—seek—seek; yet thou knowest, as in thine earthly experience, knowledge without the use of that thou knowest comes to naught. He will be near, but let him make manifest—let him speak the name; for He, He, will guide when thou hast prepared thine self for the greater work that lies just ahead.

(Đ) Một đấng muốn cho biết nhiều điều, nhưng hãy tìm—tìm—tìm; tuy vậy ngươi biết đấy, như trong kinh nghiệm trần thế của ngươi, tri thức mà không dùng đến điều ngươi biết thì thành vô ích. Y sẽ ở gần, nhưng hãy để y biểu lộ—hãy để y xưng danh; vì Ngài, Ngài sẽ dẫn dắt khi ngươi đã chuẩn bị bản thân cho công việc lớn hơn đang ở ngay phía trước.

Give glory, then, to the Father through His Son, that He hast thought, He hast shown, He hast manifest in His relationships with thee that thou art worthy of acceptation for a definite activity in thine experience. And, as thou hast hated in thine brother the faults, the fault-findings, the untrue to their obligations, the untrue to their relationships with thee, so let this attitude make thee ever humble in His presence; for His law, His Cross, His arms may sustain thee; for it is given thee in His name, the Christ, the Lord of all, that His ways are not past finding out, His love is not past being given in thine own experience with thy brothers day by day. For, as thou walkest in the way that brings life, light and hope into the experience of thy brother, so may His joy—that passeth understanding—be in thine heart and quicken thy soul as to being near with Him.

Vậy hãy tôn vinh Cha qua Con Ngài, rằng Ngài đã nghĩ, Ngài đã chỉ dạy, Ngài đã biểu lộ trong các mối liên hệ của Ngài với ngươi rằng ngươi xứng đáng được tiếp nhận để thực hiện một hoạt động xác định trong kinh nghiệm của ngươi. Và, như ngươi đã từng ghét nơi huynh đệ mình những lỗi lầm, thói bắt bẻ lỗi người, sự bất trung với bổn phận, sự bất trung với các mối liên hệ với ngươi, thì hãy để thái độ này làm cho ngươi luôn khiêm nhu trong sự Hiện Diện của Ngài; vì Luật của Ngài, Thập Giá của Ngài, cánh tay của Ngài có thể nâng đỡ ngươi; vì điều này được ban cho ngươi trong Danh Ngài, Đấng Christ, Chúa Tể muôn loài, rằng đường lối của Ngài không vượt ngoài tầm kiếm tìm, tình thương của Ngài không vượt ngoài sự ban cho trong chính kinh nghiệm của ngươi với các huynh đệ mình ngày qua ngày. Bởi, khi ngươi bước đi trong con đường đem sự sống, ánh sáng và hy vọng vào kinh nghiệm của huynh đệ ngươi, thì niềm hoan lạc của Ngài—vượt quá sự hiểu biết—sẽ ở trong lòng ngươi và làm bừng sinh linh hồn ngươi như thể gần gũi với Ngài.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm dừng tại đây.

[GD’s note: Suggestion given to Edgar Cayce for his own betterment on waking. Answer, “A very much better attitude exists from this experience.” He had been saying all morning that his disposition was very bad, etc.]

[Ghi chú của GD: Gợi ý được đưa cho Edgar Cayce để tự cải thiện khi tỉnh dậy. Trả lời, “Một thái độ tốt hơn rất nhiều được hình thành từ kinh nghiệm này.” Buổi sáng ông cứ nói tâm tính của mình rất tệ, v.v.]

TEXT OF READING 961-1 M 55

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 961-1 M 55

(Writer, Agnostic, Psychic Researcher)

(Nhà văn, Bất khả tri, Nhà nghiên cứu Thông linh)

This psychic reading given by Edgar Cayce at his home on Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 25th day of July, 1935, in accordance with request made by the self—Dr. [961], Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài đọc thông linh này được Edgar Cayce đưa ra tại nhà riêng của ông ở Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 25 tháng Bảy, 1935, theo yêu cầu do chính đương sự—Bác sĩ [961], Hội viên Liên kết của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.—đưa ra.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Gladys and Charles Dillman, L.B. and Hugh Lynn Cayce.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Gladys và Charles Dillman, L.B. và Hugh Lynn Cayce.

READING

BÀI ĐỌC

Born October 17, 1880, about 4:00 A. M., at Gore, Jersey Isle, Channel Isles, Great Britain.

Sinh ngày 17 tháng Mười, 1880, khoảng 4:00 A.M., tại Gore, Jersey Isle, Channel Isles, Great Britain.

Time of Reading 10:55 to 11:35 A. M. Eastern Standard Time. New York City.

Thời gian Bài đọc 10:55 đến 11:35 A.M. Giờ Chuẩn Miền Đông. New York City.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Bài đọc về Đời sống)

EC: (In going back over years to birth date, “-’85, a change. Yes. Of the family of Charringtons, Isle of Man—as the records thereof.”)

EC: (Khi lần theo các năm trở về đến ngày sinh, “-’85, một thay đổi. Vâng. Thuộc gia đình Charringtons, Isle of Man—như hồ sơ ghi.”)

We have the entity now known as or called [961], and those records that have been made by the entity through the experiences in the earth, as well as the astrological aspects of the entity’s sojourns in those environs.

Chúng tôi có hữu thể hiện được biết hay gọi là [961], và những ghi chép đã được hữu thể tạo ra qua các kinh nghiệm nơi trần thế, cũng như các phương diện chiêm tinh của các kỳ lữ hành của hữu thể trong những hoàn cảnh ấy.

For the entity has in many of the experiences in the earth altered, through the application of the will, urges that arose from other sojourns. So the astrological aspects are not as impelling in the present experience as they might be in some.

Vì trong nhiều kinh nghiệm nơi trần thế, hữu thể đã biến cải—thông qua sự áp dụng ý chí—những xung lực nảy sinh từ các kỳ lữ hành khác. Do đó, các phương diện chiêm tinh không thúc bách trong kinh nghiệm hiện tại như chúng có thể đã thúc bách ở một số người.

Hence we find that if the activities were judged only from the astrological aspects at the time of the birth, we would have little that would coordinate with the experiences or the application of the entity in its relations to its fellow man.

Vì thế, chúng ta thấy rằng nếu các hoạt động chỉ được phán đoán dựa trên các phương diện chiêm tinh vào lúc sinh ra, thì chúng ta sẽ có rất ít điều tương hợp với các kinh nghiệm hay sự áp dụng của hữu thể trong các mối liên hệ với đồng loại.

Yet innate urges, without respect to the will, are apparent; as seen from sojourns in particular or individual experiences through astrological influences.

Tuy nhiên các xung lực bẩm sinh, không kể đến ý chí, vẫn hiển lộ; như thấy từ các kỳ lữ hành trong các kinh nghiệm riêng biệt hay cá thể qua các ảnh hưởng chiêm tinh.

These, as indicated from the entity’s experience, are as signs, indications. Yet that which the entity does or has done about same alters, has altered or changed, these much.

Những điều này, như chỉ ra từ kinh nghiệm của hữu thể, là những dấu hiệu, chỉ dẫn. Nhưng điều hữu thể làm hay đã làm về chúng thì biến cải, đã biến cải hay thay đổi, chúng rất nhiều.

We find the Mercurian influence makes for a high mental ability that tends towards the analytical mind; yet this has been altered in the aspects from Jupiterian influences, so that at times the judgments have been rather governed by the aspects of the individuals’ or group activity in respect to same than by that which has been held to by the entity itself.

Chúng ta thấy ảnh hưởng của Sao Thủy tạo nên một năng lực trí tuệ cao khuynh về thể trí phân tích; song điều này đã được biến cải trong các phương diện bởi các ảnh hưởng Sao Mộc, đến nỗi đôi khi các phán đoán lại được chi phối nhiều hơn bởi các phương diện hoạt động của cá nhân hay của nhóm liên quan đến điều đó, hơn là bởi điều mà chính hữu thể đã bền bỉ giữ lấy.

Yet the abilities in the analyzing of experience, conditions, the prompting influence in the experience of individuals, are as high in the present entity as may be experienced in scarcely another

Tuy nhiên, các khả năng trong việc phân tích kinh nghiệm, điều kiện, ảnh hưởng thúc đẩy trong kinh nghiệm của từng cá nhân, là cao nơi hữu thể hiện tại đến mức khó ai khác có thể đạt tới.

These have made for those periods when in the present experience there have been turmoils, not only with self but questionings by and of others as to the activity of the entity.

Những điều này đã tạo nên những thời kỳ trong kinh nghiệm hiện tại khi có các xáo trộn, không chỉ với bản thân mà còn cả những chất vấn của kẻ khác và bởi kẻ khác về hoạt động của hữu thể.

The Venus influence has also made for changes in the relationships with friends, in marital influences, in the activities respecting sentiment and those attributes of a human experience. In this portion of the experience has been where the entity has through the will force changed, as may be termed from the mental standard, the environs in which the entity has been and may be drawn.

Ảnh hưởng của Sao Kim cũng gây nên thay đổi trong các mối quan hệ với bạn bè, trong ảnh hưởng hôn nhân, trong các hoạt động liên quan đến tình cảm và những thuộc tính của một kinh nghiệm con người. Ở phần này của kinh nghiệm là nơi mà hữu thể, bằng sức mạnh ý chí, đã thay đổi—có thể gọi là từ chuẩn mực trí tuệ—các hoàn cảnh mà hữu thể đã và có thể bị cuốn vào.

Then, there is the innate ability for the entity to make friends, but as easily to lose them.

Vì vậy, hữu thể có năng lực bẩm sinh để kết bạn, nhưng cũng dễ mất bạn.

For while contention is not a portion of the entity’s experience, it is a part of the entity’s development in or upon questions that arise in the experience through the activities of individuals in their relationships to the fact or the possibilities in hand.

Bởi tuy tranh chấp không phải là một phần trong kinh nghiệm của hữu thể, nó lại là một phần phát triển của hữu thể trong hay về các vấn đề nảy sinh trong kinh nghiệm thông qua hoạt động của các cá nhân trong mối liên hệ của họ với sự kiện hay các khả thể đang có.

As to the appearances in the earth, then, and those that make for an influence in the experience of the entity in the present; while all may not be given in the present, these, as we find, have their greater influence in the experience of the entity in the present:

Về những lần lâm phàm nơi trần thế, và những điều tạo nên ảnh hưởng trong kinh nghiệm của hữu thể hiện tại; tuy không thể nói hết trong hiện tại, những điều này, như chúng ta thấy, có ảnh hưởng lớn hơn trong kinh nghiệm của hữu thể lúc này:

Before this we find the entity was in the earth during those periods when the land of the entity’s present nativity was being expanded, or making for expansions in explorations and in fields of activity that brought about many changes in the land.

Trước đó chúng ta thấy hữu thể ở trần thế trong những thời kỳ xứ sở nơi hữu thể sinh ra trong hiện tại đang mở rộng, hoặc tạo ra các cuộc mở rộng trong những cuộc thám hiểm và trong những lĩnh vực hoạt động đã mang đến nhiều thay đổi trong xứ sở.

The entity then in the name Geane Cabot (related to John, yet not of the same family or of the same father) was a seaman in the greater portion of the experience; making observations pertaining to the activities in sailing and in maritime activities.

Khi ấy với tên Geane Cabot (có liên hệ với John, nhưng không cùng gia tộc hay cùng cha), hữu thể là một thủy thủ trong phần lớn thời gian; thực hiện các quan sát liên quan đến hoạt động hải hành và các hoạt động hàng hải.

Hence the sea, the oceans and sailings have had both an aversion for the entity and yet something that has drawn the entity towards being in close relation especially to those who have gone, do go, on long journeys that are both material and mental, and spiritual.

Vì vậy, biển cả, đại dương và những chuyến đi đã vừa tạo nên mối ác cảm nơi hữu thể vừa là điều lôi kéo hữu thể hướng đến sự gần gũi đặc biệt với những người đã đi, đang đi, trên các hành trình dài vừa thuộc vật chất vừa thuộc trí tuệ và tinh thần.

Or there naturally arises innate within the experience of the entity in the present, from those activities, the tendency to deal or to delve into the mysteries; not only of material life, not only those things that pertain to the mental experiences of individuals, but those things that deal with the first causes or the primate influences in the activities.

Hay nói cách khác, tự nhiên nảy sinh bẩm sinh trong kinh nghiệm hiện tại của hữu thể, từ các hoạt động ấy, xu hướng giải quyết hay đào sâu vào các điều huyền bí; không chỉ của đời sống vật chất, không chỉ những điều liên quan đến các kinh nghiệm trí tuệ của từng người, mà cả những điều liên can đến các nguyên nhân đầu tiên hay các ảnh hưởng nguyên sơ trong các hoạt động.

The entity gained during the experience, also lost. It gained in that which was given in service that others might be the safer in their material associations. It lost when much of that in the material manner was turned into self-indulgence, self-aggrandizement.

Hữu thể đã được trong kinh nghiệm ấy, và cũng mất. Được trong những gì được cống hiến trong phụng sự để những người khác có thể an toàn hơn trong các mối liên hệ vật chất của họ. Mất khi nhiều điều trong phương diện vật chất bị chuyển vào sự hưởng thụ bản thân, tự tôn bản ngã.

Hence we find those experiences rising in the activities of the entity in the present when self is misjudged in abilities by self, as well as being censured by others as to what have been or are the promptings for the entity’s indulgences in given directions.

Cho nên chúng ta thấy những kinh nghiệm ấy trỗi dậy trong các hoạt động của hữu thể ở hiện tại khi bản thân tự lượng sai khả năng của mình, cũng như bị những người khác khiển trách về các động cơ đã khiến hữu thể buông thả theo những hướng nhất định.

These are the innate influences and the manifested activities from the experiences of the entity in that sojourn.

Đó là các ảnh hưởng bẩm sinh và các hoạt động được biểu lộ từ các kinh nghiệm của hữu thể trong kỳ lữ hành ấy.

The making for the betterment of these, as we will see, will arise from the setting of a spiritual ideal.

Cách để cải thiện các điều này, như chúng ta sẽ thấy, sẽ khởi lên từ việc thiết lập một lý tưởng tinh thần.

Before that we find the entity was in those periods when there were the questionings among the Jews, the laity, the Roman activities.

Trước đó nữa chúng ta thấy hữu thể ở trong những thời kỳ có các vấn nạn giữa người Do Thái, hàng giáo dân, các hoạt động của La Mã.

For the entity was a Roman soldier in the service of one Pontius; not Pilate, but under the supervision of Pilate during those periods of the sojourn of the Son of man or Jesus of Nazareth (so called; should be Nazarite!), in that experience in Galilee, Judea, and the lands thereabout.

Vì hữu thể là một người lính La Mã phục vụ cho một vị tên Pontius; không phải Pilate, nhưng dưới sự giám sát của Pilate trong những thời kỳ Con Người hay Đức Jesus xứ Nazareth (gọi thế; lẽ ra phải là Nazarite!) lưu lại trong kinh nghiệm ấy ở Galilee, Judea, và các xứ quanh đó.

The entity came under the activities wherein much was experienced by the entity because of those activities of that Man during the sojourn there.

Hữu thể bước vào các hoạt động mà trong đó có nhiều điều đã được kinh nghiệm bởi hữu thể vì những hoạt động của Con Người ấy trong kỳ lữ hành tại đó.

Thus in the present the entity may do well, may find the greater aid and help, to harken to those promptings that were the experience of the entity during that sojourn, as Ponticalos.

Do vậy trong hiện tại hữu thể có thể làm tốt, có thể tìm thấy sự trợ giúp lớn hơn, nếu lắng nghe những thúc giục vốn là kinh nghiệm của hữu thể trong kỳ lữ hành ấy, với tên Ponticalos.

In the experience the entity may be said to have gained in the material, the mental and the spiritual aspects of its sojourn through those activities.

Trong kinh nghiệm ấy, có thể nói hữu thể đã đạt được trong phương diện vật chất, trí tuệ và tinh thần qua những hoạt động ấy.

While the entity was in the capacity of a soldier that took orders, that gave commands, that made for the keeping of peace in the physical sense; yet those things that pertain to the varied forms of law as under the various types or characters of activities, penal law, moral law, religious law or the theological understanding (which arose as turmoils during that experience), are experiences in the present sojourn by the very associations of ideas and the relations they have from that which prompts individuals’ activity.

Tuy hữu thể là người lính ở vai trò nhận lệnh, ra lệnh, làm cho hòa bình được giữ vững theo nghĩa vật lý; nhưng những điều thuộc các dạng khác nhau của luật pháp dưới các loại hình hay tính cách hoạt động khác nhau, luật hình sự, luật đạo đức, luật tôn giáo hay sự thấu hiểu thần học (vốn trỗi dậy như các xáo trộn trong kinh nghiệm đó), đều là các kinh nghiệm trong kỳ lữ hành hiện tại do chính mối liên hệ của các ý niệm và những tương quan của chúng với điều thúc đẩy hoạt động của từng cá nhân.

If through the activities of the entity there is first set not a material ideal, but rather a spiritual ideal, there will be found—with the mental capacities and mental abilities—that the entity may turn within oft for that which will become more and more the ruling influence in the present experience of the entity.

Nếu qua các hoạt động của hữu thể trước hết không đặt một lý tưởng vật chất, mà là một lý tưởng tinh thần, thì sẽ thấy—với các năng lực và khả năng trí tuệ—rằng hữu thể có thể quay vào bên trong thường xuyên để tìm điều sẽ ngày càng trở thành ảnh hưởng chủ đạo trong kinh nghiệm hiện tại của hữu thể.

And as more and more of this is correlated with the various facts that were gained by the entity during that contact and that experience with the Son of man, Jesus the Nazarite, ye may come more and more to understand what may be the promptings of each and every individual who in a service to his fellow man may be as He; not regarding self but being of a service to his fellow man.

Và khi càng ngày càng có sự đối chiếu giữa điều này với các sự kiện khác nhau đã được hữu thể thu hoạch trong cuộc tiếp xúc và trong kinh nghiệm với Con Người, Đức Jesus người Nazarite, các ngươi có thể càng ngày càng hiểu điều có thể là những thúc đẩy của từng cá nhân đang phụng sự đồng loại mình như Ngài; không màng bản thân mà phục vụ đồng loại.

For as He gave, “As ye do it unto the least of these, thy brethren, ye do it unto thy God.”

Vì như Ngài đã phán, “Hễ các ngươi làm điều đó cho một người nhỏ mọn nhất trong anh em mình, ấy là các ngươi làm cho Thượng đế của các ngươi.”

For that creative force, that spirit that prompts the activities in a material world, arises within the heart, the soul of each individual in meting out to its fellow man. For one may not hate his brother and love his God; one may not worship his God and hold malice or envy against his brother. For these are of One, and the Law of One must carry through.

Vì lực sáng tạo ấy, tinh thần thúc đẩy các hoạt động trong một thế giới vật chất, trỗi dậy trong con tim, trong linh hồn của từng người khi đối đãi với đồng loại. Bởi không ai có thể ghét huynh đệ mình mà lại yêu Thượng đế của mình; cũng không thể thờ phượng Thượng đế mà lòng còn ôm oán hờn hay ganh tị với huynh đệ mình. Vì những điều ấy là của Một, và Luật của Một phải xuyên suốt.

As ye sow in spirit, so may the mind build that ye reap in materiality. As ye sow in materiality, so may that mind build to make for dissension or a paralleling of an activity in the spiritual import. They are interchangeable.

Như các ngươi gieo trong tinh thần, thì thể trí có thể xây dựng để các ngươi gặt trong vật chất. Như các ngươi gieo trong vật chất, thì thể trí cũng có thể kiến tạo nên sự bất thuận hay song hành một hoạt động mang ý nghĩa tinh thần. Chúng có thể hoán chuyển cho nhau.

Keep the faith that thou didst make in thine experience in that sojourn.

Hãy giữ vững đức tin mà ngươi đã lập trong kinh nghiệm của ngươi ở kỳ lữ hành đó.

Before that we find the entity was in that land now known as the Egyptian, during those periods when there were the incomings of those from other lands for those activities that were begun by the Priest there.

Trước đó nữa chúng ta thấy hữu thể ở xứ nay gọi là Ai Cập, trong những thời kỳ có những người từ các xứ khác đến vì những hoạt động được khởi xướng bởi Vị Tư Tế tại đó.

The entity was a sojourner from Atlantis, or from the temple in Poseidia.

Hữu thể là một kẻ lữ hành từ Atlantis, hay từ ngôi đền ở Poseidia.

During the sojourn in Atlantis it made for an advancement. But with the changes that came about, and because of the suppressing of the entity, as Ajalaten, by Axtell and others from Atlantis, by those chosen in power in the Egyptian land, the entity turned within self; making for destructive forces for self and contention among some of those that would make for aids in the Egyptian dispensation of those tenets and truths that were correlated by or from the other lands during the latter portion of the experience there.

Trong kỳ lữ hành nơi Atlantis, hữu thể đã tạo được bước thăng tiến. Nhưng với những thay đổi nảy sinh, và vì bị đè nén, với tên Ajalaten, bởi Axtell và những người khác từ Atlantis, bởi những kẻ được chọn nắm quyền ở xứ Ai Cập, hữu thể hướng vào bên trong bản thân; tạo nên các lực tự hủy hại và gây tranh chấp giữa một số người vốn có thể là trợ lực trong sự phân phát tại Ai Cập những giáo điều và chân lý đã được đối chiếu từ hay bởi các xứ khác trong giai đoạn sau của kinh nghiệm tại đó.

Hence we find in the present experience of the entity the questioning ever of many of those that are put in authority, whether political, commercial, social, or of the spiritual order.

Do vậy trong kinh nghiệm hiện tại của hữu thể, chúng ta thấy hữu thể hầu như luôn chất vấn nhiều người được đặt vào địa vị có thẩm quyền, dù là chính trị, thương mại, xã hội, hay bậc trật tinh thần.

Yet the entity is not as communistic as it would have others often believe, innately within self; yet sufficient to make for disruptions oft in the experience of the entity.

Tuy nhiên hữu thể không “cộng sản” đến mức như y thường muốn người khác tin, sâu thẳm bên trong; song cũng đủ để thường xuyên tạo ra các đổ vỡ trong kinh nghiệm của y.

But if there will be more and more the correlating of those tenets which the entity gained later, in the experience that followed, as we have indicated, more and more will there come in the present experience that which will bring not only material harmonies but mental and spiritual justices in the activities of the entity.

Nhưng nếu càng ngày càng có việc đối chiếu những giáo điều mà hữu thể đã lĩnh hội về sau, trong kinh nghiệm tiếp theo, như chúng ta đã chỉ ra, thì càng ngày càng sẽ có trong kinh nghiệm hiện tại những điều không chỉ mang lại hòa điệu vật chất mà còn cả công chính về trí tuệ và tinh thần trong các hoạt động của hữu thể.

In that Egyptian experience the entity copied or wrote much, most as a contradiction to much that was being sent or attempted to be sent out from the Egyptian activity.

Trong kinh nghiệm Ai Cập đó, hữu thể sao chép hay biên chép nhiều điều, phần nhiều là để phản bác nhiều điều đang được gửi đi hay đang được tìm cách gửi đi từ hoạt động Ai Cập.

Yet later, coming more and more in accord with those pressures brought to bear from the sojourns or activities of those with whom the entity became the more materially associated (among the peoples of the Egyptian natives), greater and greater became the power for good in the experience of the entity.

Tuy vậy về sau, càng ngày càng hòa hợp với những sức ép được áp đặt từ các kỳ lữ hành hay hoạt động của những người mà hữu thể trở nên gắn bó vật chất hơn (giữa người dân Ai Cập bản địa), quyền năng vì thiện trong kinh nghiệm của hữu thể càng ngày càng lớn.

And in the latter portion the entity had seen, had gained, something of an awakening as to what had been lost by its own—as would be termed in the present—hardheadedness.

Và về cuối, hữu thể đã thấy, đã lĩnh hội, phần nào một sự thức tỉnh về những gì đã đánh mất do chính sự—như cách gọi hiện tại—cứng đầu của mình.

As to the abilities of the entity in the present, and that to which it may attain and how:

Về các khả năng của hữu thể trong hiện tại, và điều y có thể đạt tới cùng cách thức:

As the abilities lie in being rather the investigator, the analyst; able to depict by writing, exhortation, lectures, that which may be the help, the aid for many who stumble here or there in their confusion of the mental and spiritual attributes of their inner selves; so may the entity aid and gain the greater understanding and soul development in such activities in the present.

Vì khả năng nằm ở chỗ làm nhà điều tra, nhà phân tích; có thể trình bày bằng trước tác, khuyến giáo, thuyết giảng, những điều có thể là sự trợ giúp, cứu giúp cho nhiều người vấp ngã chỗ này chỗ kia trong cơn hỗn loạn giữa những thuộc tính trí tuệ và tinh thần của nội ngã họ; vì thế hữu thể có thể trợ giúp và thu hoạch sự thấu hiểu lớn hơn cùng sự phát triển của linh hồn trong những hoạt động như vậy ở hiện tại.

But keep that faith thou didst learn in those halls about Jerusalem and about Caesarea Philippi, and along the Jordan; for these have a drawing upon thy inner self so that, if ye will but respond, hope may spring anew and an understanding and an awakening may come that will bless thee!

Nhưng hãy giữ đức tin mà ngươi đã học trong những giảng đường quanh Jerusalem và quanh Caesarea Philippi, và dọc theo sông Jordan; vì những điều này có một lực lôi kéo nơi nội ngã ngươi đến mức, nếu ngươi chỉ cần đáp ứng, hy vọng có thể trỗi dậy mới mẻ và một sự thấu hiểu cùng một sự thức tỉnh có thể đến để chúc phúc cho ngươi!

Ready for questions.

Sẵn sàng cho câu hỏi.

(Q) Am I engaged in the proper life work?

(H) Tôi đang theo đuổi công việc đời sống đúng đắn chứ?

(A) Engaged in the proper life work; if an ideal of a spiritual nature, as gained in that Roman land, is adhered closer to.

(Đ) Đang theo đuổi công việc đời sống đúng đắn; nếu một lý tưởng mang tính tinh thần, như đã lĩnh hội ở xứ La Mã, được bám giữ chặt chẽ hơn.

(Q) Will there be new and important discoveries made, and when?

(H) Có các khám phá mới và quan trọng sẽ được thực hiện không, và khi nào?

(A) As there is more and more understanding, and the searching for the spiritual aspects, the spiritual promptings of individuals’ activities.

(Đ) Khi có sự thấu hiểu ngày càng nhiều, và việc tìm kiếm các phương diện tinh thần, những thúc giục tinh thần của các hoạt động của từng người.

(Q) How can the work of the American Psychical Institute be best carried on, and in what locality?

(H) Công việc của American Psychical Institute có thể được triển khai tốt nhất bằng cách nào, và ở địa điểm nào?

(A) As we find, in the present surroundings or environs; yet with a constant drawing upon those of other fields, as establishing in varied centers where interest in such kindred subjects may be used as regular meetings or places for the entity or body to discuss these findings of the Institute.

(Đ) Như chúng ta thấy, trong hoàn cảnh hay môi trường hiện tại; nhưng đồng thời không ngừng kết nối với những người ở các lĩnh vực khác, như thiết lập ở các trung tâm khác nhau nơi mối quan tâm đối với các chủ đề cùng loại có thể được dùng làm các buổi sinh hoạt định kỳ hay nơi chốn để cơ quan thảo luận các phát hiện của Viện.

As would be a group in Philadelphia, in Washington, in Cleveland, in Detroit, in Hammond (not Chicago), in St. Louis, in Kansas City, in Salt Lake City, in San Francisco or in Los Angeles or San Diego.

Như có thể là một nhóm ở Philadelphia, ở Washington, ở Cleveland, ở Detroit, ở Hammond (không phải Chicago), ở St. Louis, ở Kansas City, ở Salt Lake City, ở San Francisco hay ở Los Angeles hay ở San Diego.

(Q) Will it be possible to do the proposed work in California this summer?

(H) Mùa hè này có thể thực hiện công việc dự định ở California không?

(A) Be well!

(Đ) Sẽ tốt!

(Q) What was my paternal grandfather’s name, and where can records of his life be found?

(H) Tên của ông nội bên nội tôi là gì, và có thể tìm hồ sơ về đời ông ở đâu?

(A) Sylvester; or as has been indicated—Isle of Man.

(Đ) Sylvester; hay như đã được chỉ ra—Isle of Man.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm dừng tại đây.

Editor’s Note: David Kahn, at whose home this next reading was given, was a close friend and major supporter of Edgar Cayce and his work.

Ghi chú của Biên tập: David Kahn, tại nhà của ông mà bài đọc kế tiếp được đưa ra, là một người bạn thân và là một nhà bảo trợ lớn của Edgar Cayce và công trình của ông.

TEXT OF READING 615-1 M 24

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 615-1 M 24

(Executive)

(Nhà điều hành)

This psychic reading given by Edgar Cayce at the David E. Kahn home, 44 West 77th St., Apt. 14-W, New York City, this 24th day of July, 1934, in accordance with request made by the self—Mr. [615], new Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., recommended by [257].

Bài đọc thông linh này được Edgar Cayce đưa ra tại nhà David E. Kahn, 44 West 77th St., Căn hộ 14-W, New York City, ngày 24 tháng Bảy, 1934, theo yêu cầu do chính đương sự—Ông [615], Hội viên Liên kết mới của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., do [257] giới thiệu.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mr. [615], Mrs. [4633], a Mr. Haltz, and Mr. [257].

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Ông [615], Bà [4633], một ông Haltz, và Ông [257].

READING

BÀI ĐỌC

Born May 15, 1910, in Allentown, Penna.

Sinh ngày 15 tháng Năm, 1910, tại Allentown, bang Pennsylvania.

Time of Reading 5:10 to 6:05 P. M. Eastern Daylight Savings Time. N.Y.C.

Thời gian Bài đọc 5:10 đến 6:05 P.M. Giờ Tiết Kiệm Ban Ngày Miền Đông. N.Y.C.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Bài đọc về Đời sống)

EC: Yes, we have the entity and those relations with the universe and universal forces, that are latent and manifested in the personalities of the present entity, now known as [615].

EC: Vâng, chúng tôi có hữu thể và những mối liên hệ với vũ trụ và các lực phổ quát, vốn tiềm ẩn và biểu lộ trong các phàm ngã của hữu thể hiện tại, nay được biết là [615].

In giving that which may be helpful for the entity in the mental and soul development, first it would be well to repeat what we have given heretofore through these channels; that those entities who have entered the earth’s experience during the period between 1909 and 1912 are to be the rulers, the guiding factors, or those that bring the greater consternation in the affairs of those with whom they are associated in any walk of life. For these are in the main not only Uranians but Atlanteans also; hence are particularly endowed—through that which has been builded by the experience of the entity in the astrological sojourn, as well as in the earth’s sojourn—as leaders that are to many eccentric in their activities, whether they be for weal or woe; and are those that are of high mental efficiency. As to whether this ability is to be guided in constructive forces, or into influences that will wield destructive activities, is to the entity the entity’s problem.

Khi đưa ra điều có thể hữu ích cho hữu thể trong sự phát triển trí tuệ và linh hồn, trước hết sẽ tốt nếu nhắc lại điều chúng tôi đã nói trước đây qua các kênh này; rằng những hữu thể đã bước vào kinh nghiệm trần thế trong giai đoạn từ 1909 đến 1912 sẽ là những người cai quản, những yếu tố dẫn dắt, hay những người mang đến nỗi hoang mang lớn hơn trong công việc của những người mà họ kết giao trên bất cứ nẻo đời nào. Vì phần đông họ không chỉ mang sắc ảnh Sao Thiên Vương mà còn là người Atlantis nữa; do đó họ đặc biệt được phú bẩm—qua cái đã được xây đắp bởi kinh nghiệm của hữu thể trong kỳ lữ hành chiêm tinh, cũng như trong kỳ lữ hành nơi trần thế—làm những nhà lãnh đạo mà đối với nhiều người thì lập dị trong các hoạt động của họ, dù là cho phúc hay cho họa; và là những người có hiệu suất trí tuệ cao. Việc năng lực này sẽ được dẫn dắt theo chiều hướng xây dựng, hay vào những ảnh hưởng sẽ tạo nên các hoạt động hủy hoại, là vấn đề của chính hữu thể.

The astrological sojourns, then, are rather innate, or give to the entity itself those things upon which the entity or body-mind dwells in its individual thought and the expressions of same. And rather than from that often given in astrological aspects, is from the entity’s or soul’s indwelling in the environ of the planetary or astrological influences about the earth. For the earth, upon which the entity resides as a separate individual in the present, is only a portion of a great solar system, which in turn is a small portion of other great systems. Thus it is the gift to an individual, that is an integral entity; a soul, a body, endowed with those attributes of the Creator of life, light, immortality, the worlds and all that be therein. Each soul, then, is a material (in the body) manifestation of that Spirit, that First Cause of man’s separation from the whole.

Các kỳ lữ hành chiêm tinh, vậy thì, là bẩm sinh hơn, hay trao cho chính hữu thể những điều mà thân-trí của hữu thể suy tư trong ý niệm riêng và cách biểu lộ các ý niệm ấy. Và đúng hơn là từ cái thường được nêu trong các phương diện chiêm tinh, xuất phát từ sự cư trú của chính hữu thể hay linh hồn trong hoàn cảnh của các ảnh hưởng hành tinh hay chiêm tinh quanh Địa cầu. Vì Địa cầu, nơi hữu thể hiện cư mang tư cách một cá thể riêng biệt, chỉ là một phần của một hệ mặt trời lớn, vốn lại là một phần nhỏ của những hệ thống vĩ đại khác. Thế nên đó là ân ban cho một cá nhân, vốn là một hữu thể toàn vẹn; một linh hồn, một thân, được phú các thuộc tính của Đấng Tạo Hóa của sự sống, ánh sáng, bất tử, các thế giới và mọi điều trong đó. Mỗi linh hồn, vậy thì, là một sự biểu lộ vật chất (trong thân) của Tinh thần, của Nguyên nhân Đầu Tiên của sự phân ly của con người khỏi Toàn Thể.

This entity has as its greatest factor, then, from the astrological aspect, the Uranian with Saturn influence; making for these as the factors in the entity’s thought:

Hữu thể này xét về phương diện chiêm tinh, có yếu tố lớn nhất là ảnh hưởng của Sao Thiên Vương cùng với Sao Thổ; tạo nên những điều này như những yếu tố trong tư tưởng của hữu thể:

That which is of the mysterious appeals to the entity; those elements that are not underhand, though they may be developed in the experience to the entity—to use the knowledge. For knowledge in itself is only valuable when put to work; and whether constructive or destructive depends upon what the soul does with same through the will, that may make for a development or retardment in the experience.

Cái thuộc về điều huyền nhiệm hấp dẫn hữu thể; những yếu tố không mờ ám, dù chúng có thể được phát triển trong kinh nghiệm để hữu thể—sử dụng tri thức. Vì tri thức tự thân chỉ có giá trị khi được đem vào công việc; và mang tính xây dựng hay hủy hoại tùy thuộc vào việc linh hồn làm gì với nó thông qua ý chí, thứ có thể tạo nên sự phát triển hay trì trệ trong kinh nghiệm.

Also there is the tendency for trying something new; changing in its aspects or views respecting things, conditions, people, or associations even. Not necessarily unstable in self, but a “tryer”; or, as would be termed in the aspects of some phraseology, one that may be induced to try most anything once.

Cũng có khuynh hướng muốn thử điều mới; thay đổi trong các phương diện hay quan điểm liên quan đến sự vật, điều kiện, con người, hay thậm chí các mối liên kết. Không nhất thiết là bất ổn trong tự thân, mà là một kẻ “ưa thử”; hay, như sẽ gọi theo một cách nói nào đó, một người có thể bị thuyết phục để thử gần như bất cứ điều gì một lần.

As to the abilities in this, not only does the entity become a natural leader himself but leads and influences others through he may not be associated in body or in person with the individual in his or her activity.

Về khả năng trong điểm này, hữu thể không chỉ tự thân trở thành một nhà lãnh đạo bẩm sinh mà còn dẫn dắt và ảnh hưởng đến người khác dù có thể không hiện diện bằng thân hay bằng người với cá nhân trong hoạt động của y hay của cô ấy.

Influences from the Jupiterian sojourn, combined with the Uranian and Saturn, make for those activities in association with large numbers, large groups of people. The activities of the body must be, then, constructive for self—in the first thought of self—with those things that pertain to the largest group of activity, the larger association of places, the larger association of things. Hence, in the whole association, these make the entity one wherein during the present sojourn it must, for its own soul’s development, for its own better contentment, keep a watch upon self. For it, this entity, may not do anything in moderation. He must be either hot or cold, no—or seldom any—middle ground can be taken. Not that he becomes hardheaded, yet he’s very often very set as to that he determines to do—as to whether this is to use or abuse the privileges that are accorded the entity in the associations. At times he may ride roughshod over others. At others it may be seen that he will go to the extreme of being as tender, as patient, as long-suffering as one of the more gentle mien; yet the purpose in self is to be carried out. Hence the greater warning that may be given to the entity in the present is:

Ảnh hưởng từ kỳ lữ hành Sao Mộc, kết hợp với Sao Thiên Vương và Sao Thổ, tạo nên những hoạt động gắn với số đông, các nhóm người lớn. Hoạt động của thân phải, vậy thì, mang tính xây dựng cho bản thân—trong ý niệm đầu tiên về bản thân—với những điều liên quan đến nhóm hoạt động lớn nhất, các liên kết rộng lớn hơn về địa điểm, các liên kết rộng lớn hơn về sự vật. Do đó, trong toàn bộ liên kết, những điều này làm cho hữu thể trở thành người mà trong kỳ lữ hành hiện tại y phải, vì sự phát triển của chính linh hồn mình, vì sự mãn nguyện tốt hơn của chính mình, luôn để mắt đến bản thân. Vì hữu thể này không làm điều gì ở mức điều độ. Y phải hoặc nóng hoặc lạnh, không—hoặc hiếm khi—có chỗ cho trung dung. Không phải là y trở nên cứng đầu, tuy thường rất kiên quyết về điều đã quyết định làm—liệu đó là dùng hay lạm dụng những đặc quyền được dành cho hữu thể trong mối liên hệ. Đôi khi y có thể “cưỡi thô bạo” lên người khác. Khi khác có thể thấy y đi đến cực độ của sự dịu dàng, nhẫn nại, nhẫn chịu lâu dài như một người có diện mạo ôn hòa hơn; tuy vậy mục đích trong tự thân vẫn phải được thực hiện. Bởi vậy, lời cảnh tỉnh lớn nhất có thể dành cho hữu thể hiện tại là:

First know that which is chosen to be the activities in this appearance, in this experience, is constructive; not only from the spiritual sense but from that which creates or makes for or would eventually bring harmonious experiences in the activity of the body-mind.

Trước hết hãy biết điều được chọn làm hoạt động trong lần xuất hiện này, trong kinh nghiệm này, là mang tính xây dựng; không chỉ từ nghĩa tinh thần mà còn từ điều kiến tạo hay tạo ra hay rốt cuộc sẽ mang lại những kinh nghiệm hòa điệu trong hoạt động của thân-trí.

First, then, study to know self and that which prompts self in its activity. From what standard, qualifications of associations in the commercial world, in the moral world, in the spiritual world, does the entity choose its ideal? For this is the basis from which the entity must choose its activities, if it would make of this experience a contribution in this sojourn that will develop or build into the soul for going in that direction it must go for the necessary creating of the longings that each soul finds in its journey through materiality.

Trước nhất, vậy thì, hãy học để biết bản thân và điều gì thúc đẩy bản thân trong hoạt động. Từ tiêu chuẩn nào, những phẩm tính của các mối liên hệ trong thế giới thương mại, trong thế giới đạo đức, trong thế giới tinh thần, mà hữu thể chọn lý tưởng của mình? Vì đó là nền tảng từ đó hữu thể phải chọn các hoạt động, nếu y muốn biến kinh nghiệm này thành một cống hiến trong kỳ lữ hành này nhằm phát triển hay xây vào linh hồn để tiến theo hướng y buộc phải đi vì sự tạo thành các khát vọng mà mỗi linh hồn tìm thấy trong chuyến du hành qua cõi vật chất.

Then, as to the influences from these astrological influences (that are innate, to be sure), they are as follows:

Vậy, về các ảnh hưởng từ những ảnh hưởng chiêm tinh này (chắc chắn là bẩm sinh), chúng như sau:

One of exceptional mental abilities.

Một người có năng lực trí tuệ xuất chúng.

One that is very strong or very weak in its choosing of directions for activity.

Một người rất mạnh hoặc rất yếu khi chọn hướng hoạt động.

One very set when it has chosen.

Một người rất kiên định khi đã chọn.

One that is naturally in itself, and in its associations, a leader.

Một người vốn là nhà lãnh đạo bẩm sinh trong tự thân và trong các mối liên kết.

One that may make a success of things that are new, especially in the mechanical or in the scientific or in the commercial world; one that may use things that are new and make the success, financially or materially or socially, when others would fail. Choose not, then, those that are old and staid; for the entity chooses rather those things that show activity. There must be pep, there must be change, there must be alterations, if the entity would find that even which holds the attention—or that which to the entity is even worthy of real serious consideration!

Một người có thể làm nên thành công với những điều mới, đặc biệt trong lãnh vực cơ khí hay khoa học hay thương mại; một người có thể dùng những điều mới và làm nên thành công, về tài chính hay vật chất hay xã hội, khi kẻ khác sẽ thất bại. Vậy đừng chọn những thứ cũ kỹ trì trệ; vì hữu thể chọn những điều cho thấy hoạt động. Phải có sức sống, phải có thay đổi, phải có biến chuyển, nếu hữu thể muốn tìm thấy điều đủ sức nắm giữ sự chú ý—hay điều mà đối với hữu thể đáng để cân nhắc thật sự nghiêm túc!

But know the basis for that ye choose as the ideal, in whatever direction or association may be taken.

Nhưng hãy biết nền tảng cho điều ngươi chọn làm lý tưởng, trong bất cứ hướng đi hay mối liên kết nào được chọn.

Then, as to the appearances in the earth, and those things that come more into the material things as to the character of associations in the present:

Rồi, về các lần lâm phàm nơi trần thế, và những điều đi vào phần vật chất hơn liên quan đến tính cách của các mối liên hệ trong hiện tại:

Before this we find the entity was during those periods when there was the choosing of those that were to guide the policies and the future of the new government in this particular environ in which the entity finds expression in the present; during that period when Washington was made President.

Trước đó chúng ta thấy hữu thể ở trong những thời kỳ có việc lựa chọn những người sẽ dẫn dắt đường lối và tương lai của chính quyền mới trong hoàn cảnh đặc thù mà hữu thể bày tỏ trong hiện tại; trong giai đoạn Washington được làm Tổng thống.

The entity then was among those in the banking or financing in that city now known as Philadelphia, the name then being Goldestein. And with the activities that were then brought about with the establishing of the banking interests presented by the ones first set in charge of the treasury activities, the entity then aided in forming the policies of the various centers as they associated with the Federal or the first Government. And there still may be seen in those connections and associations some of the activities of the entity during that experience.

Khi ấy hữu thể ở giữa những người làm ngân hàng hay tài chính tại thành phố nay gọi là Philadelphia, khi đó có tên Goldestein. Và với các hoạt động bấy giờ được đem lại cùng với việc thiết lập các lợi ích ngân hàng do những người đầu tiên được đặt phụ trách các hoạt động kho bạc trình bày, hữu thể đã trợ giúp trong việc hình thành chính sách của các trung tâm khác nhau khi họ liên hệ với Liên bang hay với Chính phủ đầu tiên. Và vẫn có thể thấy trong các kết nối và liên hệ ấy vài hoạt động của hữu thể trong kỳ lữ hành đó.

In the material world the entity did not rise to notoriety in the commercial or in the spiritual and soul development during that sojourn, yet the entity gained; for much of that experienced was in setting self in those relationships to his own peoples that brought the consideration of the peoples’ activities during that sojourn.

Trong thế giới vật chất, hữu thể không đạt danh tiếng trong thương trường hay trong sự phát triển tinh thần và linh hồn trong kỳ lữ hành đó, nhưng y đã thu hoạch; vì phần lớn kinh nghiệm khi ấy là đặt bản thân vào các mối liên hệ với cộng đồng mình vốn mang lại sự cân nhắc đến các hoạt động của cộng đồng trong kỳ lữ hành ấy.

From that experience in the present, the entity has at periods defended—yes, even with the hands—his own people; and slights and slurs to people of his own race are scarcely tolerable or tolerated by the entity. Yet tolerance as to abilities in others is a virtue to which the entity gained in that experience; as an advisor then to Hamilton in that sojourn.

Từ kinh nghiệm đó trong hiện tại, hữu thể đôi khi đã bảo vệ—vâng, ngay cả bằng đôi tay—dân tộc mình; và những lời miệt thị và xỉ nhục nhắm vào người cùng chủng tộc hầu như không thể chấp nhận hay bị y dung thứ. Tuy vậy lòng khoan dung đối với khả năng nơi người khác là một đức hạnh mà hữu thể đã thu được trong kinh nghiệm ấy; như một cố vấn cho Hamilton trong kỳ lữ hành đó.

Before that we find the entity was during those periods when there were many called on to go in defense of a cause in the Holy Land.

Trước đó nữa chúng ta thấy hữu thể ở trong những thời kỳ có nhiều người được kêu gọi đi bảo vệ một nghĩa vụ ở Thánh Địa.

The entity then was in that land now known as the Fatherland, or Germany. And when this was brought about, by decree, those activities in what is known as those periods when they banded—or men banded themselves together to defend a cause, the entity—though not of that cause, not of that purpose—joined in the Crusade that went as the Second Crusade from the German land.

Khi ấy hữu thể ở xứ nay gọi là Tổ quốc, tức Đức. Và khi điều này được đem lại, theo sắc lệnh, những hoạt động trong giai đoạn được biết đến như những lúc họ—hay người—kết hội để bảo vệ một nghĩa vụ, hữu thể—tuy không thuộc nghĩa vụ đó, không thuộc mục đích đó—đã gia nhập cuộc Thập tự chinh đi với tư cách Cuộc Thập tự thứ Hai từ xứ Đức.

In these activities then the entity, known as Reuen, was among those that entered into the activities of the people in what is now known as a portion of the Turkish land. And though among those that lost their lives during that sojourn, the entity established during that experience what may be said to have been the first trade relations between that land and what is now known as the German land.

Trong các hoạt động ấy, hữu thể, được biết với tên Reuen, ở giữa những người đã can dự vào các hoạt động của dân chúng tại vùng nay là một phần của xứ Thổ Nhĩ Kỳ. Và tuy ở giữa những người mất mạng trong kỳ lữ hành đó, hữu thể đã thiết lập trong kinh nghiệm ấy điều có thể gọi là những quan hệ thương mại đầu tiên giữa xứ đó và xứ nay gọi là Đức.

The entity gained in material things rather than in the soul or spiritual developments, and must meet much of that experienced during that sojourn in the present. For it is not as to how much an entity or soul has that counts, or as to the knowledge, but what is the purpose, the aim, the desire.

Hữu thể thu được trong phương diện vật chất hơn là trong sự phát triển linh hồn hay tinh thần, và phải đối diện nhiều điều đã kinh nghiệm trong kỳ lữ hành ấy ở hiện tại. Vì không phải là hữu thể hay linh hồn có bao nhiêu mà là điều quan trọng, hay tri thức là bao nhiêu, mà là mục đích, đích nhắm, ước muốn là gì.

Hence, because of self-aggrandizement the entity lost during that sojourn; yet in the present those things in which the entity may deal—with foreign lands, or the present activities that may deal with foreign exchange or foreign conditions and associations—may bring in the material or commercial world the greater sources for returns for that in which the entity may engage.

Bởi thế, vì tự tôn bản ngã, hữu thể đã đánh mất trong kỳ lữ hành đó; tuy nhiên trong hiện tại những điều mà hữu thể có thể giao dịch—với các xứ ngoài, hay các hoạt động hiện tại có thể liên quan đến ngoại hối hay các điều kiện và liên hệ nước ngoài—có thể mang lại trong thế giới vật chất hay thương mại những nguồn lợi lớn hơn cho điều mà hữu thể có thể dấn thân.

Before that we find the entity was during those periods when there was the return of the peoples from the Chaldean land to the Holy Land, when the temple was to be rebuilded.

Trước đó nữa chúng ta thấy hữu thể ở trong những thời kỳ có việc dân chúng trở về từ xứ Chaldea về Thánh Địa, khi ngôi đền được tái thiết.

During that trek under Zerubbabel did the entity set then as an aide to those that counseled, not only with the rulers or those in power but in those lands through which these peoples were forces to pass, and in making the associations and connections with the people roundabout the city.

Trong cuộc hành trình dưới sự lãnh đạo của Zerubbabel, thực thể khi ấy đảm trách vai trò phụ tá cho những người tham mưu, không chỉ với các nhà cai trị hay những người cầm quyền mà còn ở các miền đất mà đoàn người buộc phải đi qua, và trong việc thiết lập các mối liên hệ, kết nối với dân cư quanh thành.

The entity then, in the name Hezkiel, gained mentally, spiritually, morally; for the purposes were for the reestablishing of those activities that have kept, will keep, the name of Jehovah as the rule among men in the earth’s plane.

Thực thể khi ấy, với tên Hezkiel, đã gặt hái những thành tựu về trí tuệ, tinh thần, đạo hạnh; vì mục đích là tái lập những sinh hoạt vốn đã gìn giữ, sẽ còn gìn giữ, danh xưng Jehovah như quy luật giữa loài người trên cõi trần.

The abilities of the entity in that experiences were to make for the helpful and hopeful associations and connections, for these were much of the activities of the entity. And though the peoples journeyed without escort, though they journeyed without the defenses roundabout, the entity was able to create hopefulness within the minds and the hearts of those that followed in that return to their purposes of worship, their purposes of activity. The entity gained by being able to implant in the hearts and minds of those that they were in the Lord’s hands.

Năng lực của thực thể trong những trải nghiệm ấy là kiến tạo các mối liên hệ và kết nối đầy hữu ích và kỳ vọng, vì đó là phần chính trong hoạt động của thực thể. Và dẫu đoàn người hành trình không có hộ tống, dẫu họ đi không có hàng lũy che chở chung quanh, thực thể vẫn có thể gieo niềm hy vọng trong tâm trí và trái tim những người đi theo trong cuộc trở về với mục đích lễ bái, mục đích hành động của họ. Thực thể gặt hái được là vì có thể khắc ghi vào lòng dạ và tư tưởng của những người ấy rằng họ đang ở trong tay Chúa.

Much may the entity gain in the present, in making for that balance necessary for his activities in the earth, from not only those things that were given by Zerubbabel but Ezra and Nehemiah—as counsel to those; that those who know God have a mind and a purpose to work for the good of their fellow man.

Nhiều điều trong hiện tại thực thể có thể gặt hái, để kiến lập thế cân bằng cần thiết cho các hoạt động của y nơi trần thế, không chỉ từ những điều do Zerubbabel truyền lại mà cả Ezra và Nehemiah—như các vị cố vấn—rằng những kẻ biết Thượng đế có một trí và một mục đích là làm việc cho điều thiện của đồng loại mình.

Before that we find the entity was during that period when there was the breaking up of that land now known as the Atlantean, when those people journeyed from Poseidia and Atlantis to that now known as the Egyptian land.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể sống trong thời kỳ tan rã của miền đất nay gọi là Atlantis, khi những người dân ấy rời Poseidia và Atlantis đến miền đất nay gọi là Ai Cập.

The entity was the king or the leader, Axtel, that worshipped the One, or the Law of One, and led in gathering and taking care of those records of the Atlanteans as to the abilities to use the unseen forces in the activities as related to the material things of man.

Thực thể là vị vua hay người lãnh đạo, Axtel, thờ Đấng Duy Nhất, tức Luật của Đấng Duy Nhất, và dẫn dắt việc thu thập, gìn giữ các hồ sơ của người Atlantis về khả năng sử dụng các mãnh lực vô hình trong các hoạt động liên hệ đến những sự vật vật chất của con người.

Hence in the present from that sojourn we may find that those things pertaining to electrical forces, those things pertaining to the communications of individuals in various portions of the land, those things that delve into the innermost portions of the earth, are always of interest to the entity.

Vì thế, trong hiện kiếp, từ cuộc ngụ cư ấy, chúng ta có thể thấy những điều liên quan đến các lực điện, những điều liên quan đến truyền thông của các cá nhân ở nhiều miền trong xứ sở, những điều thâm nhập vào tận cùng lòng đất, luôn luôn gây hứng thú với thực thể.

Then, as to the abilities of the entity in the present, and that to which it may attain, and how:

Vậy, xét về các năng lực của thực thể trong hiện tại, về những gì y có thể đạt đến và cách thức:

As may be seen not only from the warnings but from the virtues of the entity or that which has been developed in the soul of the entity now known as [615], it depends most upon self as to how high it may rise or as to how low the entity may sink in its dealings with its fellow man, in its activities that may bring about those things that will create for the greater number peace, harmony or joy. For the abilities are there, whether chosen in this or that field; yet that which deals most with the associations of groups or nations with the activities of other nations offers for the entity the field of service or activity in which the soul, the entity, the body in the present may bring to self, to its fellow man, the greater service.

Như có thể thấy không chỉ từ các lời cảnh báo mà còn từ những đức hạnh của thực thể, tức điều đã được phát triển trong linh hồn của thực thể nay được biết là [615], thì điều đó phần lớn tùy thuộc vào tự thân y: y có thể vươn cao đến đâu hoặc sa thấp đến mức nào trong việc đối đãi với đồng loại, trong các hoạt động có thể mang lại những điều tạo dựng cho số đông sự bình an, hòa điệu hay hoan lạc. Vì các năng lực đều đã ở đó, dẫu chọn lĩnh vực này hay lĩnh vực khác; tuy nhiên, lĩnh vực liên quan nhất tới các mối liên hệ của tập thể hay các quốc gia với hoạt động của những quốc gia khác lại mở ra cho thực thể một cánh đồng phụng sự hay hành động, trong đó linh hồn, thực thể, thân xác trong hiện kiếp có thể mang đến cho chính mình, cho đồng loại mình, sự phụng sự lớn lao hơn.

As to how this may be attained; first in the inner man study to show thyself approved unto that God thou didst choose to serve as thou aided in leading thy people back to thy Holy Land to the reestablishing of the temple there. Establish first that temple in self, to keep body, mind, soul, clean in the relationships with thy fellow man; and that power, that force, that influence that guided thee aright in rebuilding the temple, in rebuilding what was a destructive force in the minds of many, will guide thee in directing in the present.

Về cách đạt được điều này; trước hết, trong nội nhân, hãy học để chứng tỏ mình được chấp thuận trước Thượng đế mà con đã chọn phụng sự, như khi con đã trợ giúp dẫn dắt dân mình trở về Thánh Địa để tái lập đền thờ ở đó. Hãy lập trước ngôi đền ấy trong tự thân, giữ thân, trí, hồn thanh sạch trong các mối liên hệ với đồng loại; và quyền lực, mãnh lực, ảnh hưởng đã dẫn dắt con đi đúng hướng trong việc kiến thiết lại đền thờ, phục hưng điều vốn là lực phá hoại trong tâm trí nhiều người, sẽ dẫn dắt con trong sự chỉ đạo ở hiện tại.

For, as given, the way is before thee. Choose thou. “This day there is set before thee good and evil. Choose thou.” For, “If ye will be my son, I will be thy God.”

Vì, như đã nói, con đường ở ngay trước mặt con. Hãy chọn đi. “Hôm nay đã đặt trước mặt con điều thiện và điều ác. Hãy chọn đi.” Vì rằng, “Nếu con sẽ là con trai của Ta, Ta sẽ là Thượng đế của con.”

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Am I as present in the right line of business?

(H) Hiện nay tôi có đang đi đúng hướng nghề nghiệp không?

(A) If this in made to deal with foreign nations rather than the more local commodities or conditions, it would be the better; or to associate self with those fields of activity where there would be the dealing with the commercial activities in the foreign shores would be nearer in the line of activity in which the greater success may be made.

(Đ) Nếu việc này được hướng đến giao dịch với các quốc gia ngoại quốc hơn là những hàng hóa hay điều kiện mang tính địa phương, thì sẽ tốt hơn; hoặc liên kết bản thân với những lĩnh vực hoạt động có giao dịch thương mại ở bờ biển ngoại quốc sẽ gần với tuyến hoạt động mà ở đó có thể đạt thành công lớn hơn.

But first, as has been given, find self; for thou wilt make either a great success or a miserable failure. But dost thou hold to the purposes that are set in self, that are before each soul that knows the spirit of truth, thou may lead many in many lands to know that thou, thyself first, hast chosen well, and that thou guidest others to do is well also for them.

Nhưng trước hết, như đã nói, hãy tìm lại chính mình; vì con sẽ hoặc là thành công lớn, hoặc là thất bại thảm hại. Song nếu con kiên trì với những mục đích đã đặt trong tự thân, vốn là điều ở trước mỗi linh hồn biết tinh thần của chân lý, thì con có thể dẫn dắt nhiều người ở nhiều xứ sở biết rằng trước hết chính con đã chọn lựa khôn ngoan, và những gì con dẫn dắt người khác làm cũng là điều tốt cho họ.

(Q) What is the outlook for me in this business?

(H) Triển vọng của tôi trong công việc này ra sao?

(A) As we have given, if it is directed more into those things that deal with the associations of others in foreign shores, as foreign exchange, as foreign commodities in exchange or the like, rather than local, it may be built to make the greater success.

(Đ) Như chúng tôi đã nói, nếu nó được định hướng nhiều hơn vào những điều liên quan đến các mối liên hệ với người khác ở bờ biển ngoại quốc, như hối đoái, như hàng hóa ngoại quốc trong trao đổi hay tương tự, hơn là địa phương, thì có thể xây dựng để đạt thành công lớn hơn.

(Q) Why do I like the wheat market more so than stocks?

(H) Vì sao tôi thích thị trường lúa mì hơn cổ phiếu?

(A) Because this has been the activity of the entity throughout the ages in its experience in the earth, dealing with the very lives and souls of men. As this represents the staff of life as in the material things, naturally it has its attraction; though it would be better for this to deal with those things of even greater extent.

(Đ) Bởi vì đây đã là hoạt động của thực thể qua bao thời đại trong kinh nghiệm nơi trần, giao tiếp với chính sự sống và linh hồn của con người. Vì điều này đại diện cho cây gậy của sự sống trong phương diện vật chất, nên tự nhiên nó có sức hấp dẫn; dẫu vậy sẽ tốt hơn nếu con giao dịch với những thứ có quy mô còn lớn hơn thế nữa.

(Q) Why have I the tendency to gamble?

(H) Vì sao tôi có xu hướng đánh bạc?

(A) Take a chance! As it was even when leading into the wilderness, through those forces that did surround the body and those that journeyed with same. As the entity did as it journeyed from that land in which it held sway and power, taking the chance—or seeking that which is unseen. Beware; but know that thou choosest to do has a constructive influence in thine self and those about thee; also beware.

(Đ) Hãy mạo hiểm đi! Như đã từng vậy ngay cả khi dẫn dắt vào hoang mạc, qua những lực bao quanh thân thể và những người cùng hành trình. Như thực thể đã làm khi rời miền đất mà y có uy quyền và thế lực, chọn mạo hiểm—tức tìm kiếm điều chưa thấy. Hãy thận trọng; nhưng cũng hãy biết rằng điều con chọn làm có ảnh hưởng xây dựng trong chính con và những người quanh con; cũng hãy thận trọng.

(Q) Why am I more tended to listen at other peoples’ advice and readily grasp at it than to use my own judgement?

(H) Tại sao tôi lại có khuynh hướng nghe theo lời khuyên của người khác và nắm lấy chúng hơn là dùng phán đoán của chính mình?

(A) Those tendencies are the lack of the judgements that have been indicated by those who came from the Atlantean experience; for it was as one—and hence not only self, and the tolerance the inner self has to others to listen. This with age will change, or age as known in material things; or age first in analyzing self. What prompts the activity? If it is not of the constructive nature, withdraw hastily. Be slow to wrath. Be stern in that thou knowest for thyself, first that will make for creative constructive influences in thy experience. This is not for Sunday or for the Sabbath or for the new moon, or for some periods when there may be the turning away for the moment; for it is today—“if ye will hear my voice”—always, ever!

(Đ) Những khuynh hướng ấy là do thiếu những phán đoán mà những người đi ra từ kinh nghiệm Atlantis đã nêu: vì đó vốn là như một—và do đó không chỉ bản thân, và lòng dung thứ của nội ngã đối với người khác khi lắng nghe. Điều này sẽ thay đổi theo tuổi tác, theo tuổi đời như được biết trong phương diện vật chất; hoặc trưởng thành trước hết trong việc tự phân tích bản thân. Điều gì thúc đẩy hành động? Nếu không mang tính xây dựng, hãy rút lui mau chóng. Hãy chậm nổi giận. Hãy nghiêm nghị trong điều con biết cho chính mình, trước hết là điều sẽ tạo nên những ảnh hưởng sáng tạo, xây dựng trong kinh nghiệm của con. Điều này không dành cho Chủ nhật hay ngày Sa-bát hay ngày sóc vọng, hoặc cho một vài thời điểm tạm quay lưng; bởi vì đó là hôm nay—“nếu các con sẽ nghe tiếng Ta”—luôn luôn, mãi mãi!

(Q) Why am I so good natured and easy going?

(H) Vì sao tôi lại dễ mến và dễ tính như vậy?

(A) Everyone doesn’t think as you do of yourself! But rather the abilities are there. The bigness of the soul; the abilities of the soul. For there has been no great soul that was not mindful of his fellow man.

(Đ) Không phải ai cũng nghĩ về con như chính con nghĩ về mình đâu! Nhưng đúng là các năng lực có ở đó. Sự quảng đại của linh hồn; các năng lực của linh hồn. Vì chưa từng có linh hồn vĩ đại nào mà không lưu tâm đến đồng loại mình.

Follow ye in the way that is given as that which prompted thine leader that ye sent for in Atlantis, and made manifest more when ye called the cupbearer of the king Nehemiah, and ye will find in this material experience that which will not only bring to thee joy in thine inner self but a blessing to thine own peoples and to thine own house. For the way is open. It is not hard, but ye must control self.

Hãy bước theo con đường đã được ban như điều đã thúc đẩy người lãnh đạo mà các con đã cử đi ở Atlantis, và được biểu lộ nhiều hơn khi các con gọi là người dâng rượu của vua Nehemiah, thì con sẽ thấy trong kinh nghiệm vật chất này điều không chỉ mang lại cho con niềm vui trong nội ngã mà còn là phước lành cho dân tộc con và cho chính nhà con. Vì con đường đã mở. Nó không khó, nhưng con phải tự chế.

We are through.

Chúng tôi đã xong.

TEXT OF READING 3184-1 F 30

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 3184-1 N 30

(Pilot, Catholic Background)

(Phi công, Nền tảng Công giáo)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the office of the Association, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., this 28th day of August, 1943, in accordance with request made by the self—Miss [3184], new Associate Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., recommended by the book, There Is a River.

Bài Đọc Thông Linh này do Edgar Cayce thực hiện tại văn phòng của Hiệp hội, Arctic Crescent, Virginia Beach, Va., ngày 28 tháng 8 năm 1943, theo yêu cầu của đương sự—Cô [3184], Hội viên Liên kết mới của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., được giới thiệu bởi cuốn sách There Is a River.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. (Notes read to and transcribed by Jeanette Fitch.) Miss [3184] and mother.

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. (Ghi chú được đọc cho và ghi chép lại bởi Jeanette Fitch.) Cô [3184] và mẹ.

READING

BÀI ĐỌC

Born April 15, 1913, in New York City.

Sinh ngày 15 tháng 4 năm 1913, tại Thành phố New York.

Time of Reading 10:45 to 11:40 A. M. Eastern War Time. New York City.

Thời điểm Bài Đọc từ 10:45 đến 11:40 sáng, Giờ Chiến Tranh Miền Đông. Thành phố New York.

GC: You will give the relations of this entity and the universe, and the universal forces; giving the conditions which are as personalities, latent and exhibited in the present life; also the former appearances in the earth plane; giving time, place and the name, and that in each life which built or retarded the development for the entity; giving the abilities of the present entity, that to which it may attain, and how. You will answer the questions, as I ask them:

GC: Ông sẽ trình bày mối liên hệ của thực thể này với vũ trụ, và các lực vũ trụ; nêu các điều kiện vốn là phàm ngã, tiềm ẩn và biểu lộ trong đời sống hiện tại; cũng như những lần xuất hiện trước đây trên cõi trần; cho biết thời gian, địa điểm và tên gọi, và điều trong mỗi đời đã xây dựng hay kìm hãm sự phát triển của thực thể; nêu các năng lực của thực thể hiện tại, điều y có thể đạt tới, và cách thức. Ông sẽ trả lời các câu hỏi, khi tôi nêu:

EC: (In going back over years from the present—“-′42—yes, changes—′39—awakenings [See 3184-1, Par. R1]—′34—preparations—” etc., on back to birth date.)

EC: (Ngược dòng các năm từ hiện tại—“-′42—vâng, những thay đổi—′39—sự thức tỉnh [Xem 3184-1, Khoản R1]—′34—những chuẩn bị—” v.v., ngược về ngày sinh.)

Yes, we have the records here of that entity now known as or called [3184].

Vâng, chúng tôi có hồ sơ ở đây về thực thể nay được gọi là [3184].

In giving the interpretations of the records as we find them, these we choose with the desire and purpose that this may be a helpful influennce in the experience of the entity; thus enabling the entity to better fulfill those purposes for which it entered this material sojourn.

Khi diễn giải các hồ sơ như chúng tôi thấy, chúng tôi chọn với ước muốn và mục đích rằng điều này có thể là ảnh hưởng hữu ích trong kinh nghiệm của thực thể; nhờ đó giúp thực thể chu toàn tốt hơn những mục đích vì đó y bước vào cuộc ngụ cư vật chất này.

The entity is an Atlantean. Thus—as we have oft indicated regarding individuals born under such an influence—the entity is one of exceptional abilities, either for weal or woe. Thus the experience in the earth’s plane at this period will have far-reaching effects upon many. As to whether for good or bad will depend upon the manner in which the entity uses its opportunities.

Thực thể là người Atlantis. Do vậy—như chúng tôi thường đã chỉ ra về những người sinh dưới ảnh hưởng như thế—thực thể là người có năng lực phi thường, hoặc cho điều lành hoặc cho điều dữ. Vì thế kinh nghiệm trong cõi trần ở thời kỳ này sẽ có tác động sâu rộng đến nhiều người. Còn là tốt hay xấu sẽ tùy thuộc vào cách thức thực thể sử dụng các cơ hội.

As will be seen from the sojourns in the earth, these have been in periods when there were the needs for activities that had purpose and not selfishness in the minds and activities of individuals directing conditions in that particular period.

Như sẽ thấy từ những lần ngụ cư nơi trần, chúng diễn ra vào các thời kỳ khi cần đến những hoạt động có mục đích chứ không phải vị kỷ trong tâm trí và hành động của những cá nhân đang điều hướng các điều kiện ở thời đoạn ấy.

When the records here are viewed in the manner as of a oneness of the universal energies, as of material sojourns and the interims between these, we find a composite of these influences giving these characteristics:

Khi nhìn các hồ sơ ở đây trong tư thế của tính nhất thể của các năng lượng vũ trụ, như các lần ngụ cư vật chất và các khoảng giữa những lần ấy, chúng tôi thấy một tổng hòa các ảnh hưởng này tạo nên những đặc trưng sau:

One that often in its experience has been confused.

Một người thường bị bối rối trong kinh nghiệm của mình.

One that often is very determined in self when it is convinced in self that it, the entity, is correct in its conclusions.

Một người thường rất, rất quyết đoán nơi tự thân khi y xác tín trong chính mình rằng y, thực thể, đúng với các kết luận của mình.

One that often is very, very, lonesome; a longing for something within self that has in most instances defied answering and it has required and does require adventure, the seeming unreal things.

Một người thường rất, rất cô đơn; khao khát một điều gì đó nơi nội tâm mà phần nhiều chưa có lời giải đáp, và điều ấy đã đòi hỏi, đang đòi hỏi những cuộc phiêu lưu, những điều tưởng như không thực.

The entity in many respects is very, very practical; yet interests in the unusual, the psychic, or things of the spirit keep presenting themselves in a most unusual manner.

Về nhiều phương diện, thực thể rất, rất thực tế; tuy nhiên các mối quan tâm đến điều dị thường, điều thông linh, hay những điều thuộc tinh thần không ngừng tự trình hiện theo cách rất đặc biệt.

Oft, when in those moods of loneliness or longings the entity finds itself moving almost out of itself.

Nhiều khi, trong những tâm trạng cô đơn hay khát khao ấy, thực thể thấy mình gần như rời khỏi chính mình.

Astrologically, we find these influences; not because the sun or the moon, Mercury or Mars, Jupiter or Uranus, was in this or that position or house at the time of the entity’s birth, but because of the consciousness of the soul-entity in those environs to which certain influences are accredited. We find these as the soul or real self urges latent and manifested:

Về chiêm tinh, chúng tôi thấy những ảnh hưởng này; không phải vì mặt trời hay mặt trăng, Sao Thủy hay Sao Hỏa, Sao Mộc hay Sao Thiên Vương, ở vị trí hay cung (nhà) này hay kia vào lúc thực thể sinh ra, mà vì tâm thức của thực thể linh hồn trong những môi trường mà người ta quy gán cho một số ảnh hưởng nhất định. Chúng tôi coi đó là những thôi thúc của linh hồn hay chân ngã tiềm ẩn và đã biểu lộ:

In Mercury we find the high mental abilities of the entity, the attraction to problems that others have questioned—and the entity may find the answer. Mathematical precision, minute detail, those things pertaining to machinery; not merely a motor or the like but the machinery of political, economic, or social orders of groups or individuals. The entity is attracted to or spends time wondering about these.

Ở Sao Thủy, chúng tôi thấy các năng lực trí tuệ cao của thực thể, sức hấp dẫn với những vấn đề mà kẻ khác còn hoài nghi—và thực thể có thể tìm ra lời giải. Tính chuẩn xác toán học, chi li từng chi tiết, những điều liên quan đến máy móc; không chỉ một động cơ hay tương tự mà còn là “bộ máy” của các trật tự chính trị, kinh tế, hay xã hội của tập thể hay cá nhân. Thực thể bị cuốn hút vào hay tiêu thời gian suy tư về những điều ấy.

Then, these are the things the entity should analyze the more in self—as will be seen from the periods of expression in the earth—as to what are the promptings of the individual’s urges. For each individual finds the motivative influence of its life within its own self, and that is correct—as was stated of old by the lawgiver; Think not as to who will descend from heaven to give a message or who would come from over the sea that ye might learn and understand. For lo it is within thine own heart, thine own mind. Thy body is indeed the temple of the living God. He has promised to meet thee and, know that all in the mental, all in the material, has its inception, it conception, in spirit, in purpose, in hope, in desire. Know thy relationship, then, first, with that ye hope for. For life (or God), immortality of the soul, is real; as may be seen from thine own urges—if ye analyze them correctly.

Vậy nên, đây là những điều thực thể nên tự phân tích nhiều hơn—như sẽ thấy từ các thời kỳ biểu lộ nơi trần—về việc những gì là động cơ của các thôi thúc cá nhân. Vì mỗi cá nhân tìm thấy ảnh hưởng thúc động của đời mình ở trong chính tự thân, và điều đó là đúng—như đã được vị ban luật thuở xưa phán: Chớ nghĩ ai sẽ từ trời xuống để mang sứ điệp, hay ai sẽ từ bên kia biển đến để các ngươi có thể học hỏi và thấu hiểu. Vì này, nó ở trong chính trái tim ngươi, trong chính trí ngươi. Thân thể ngươi quả là đền thờ của Thượng đế hằng sống. Ngài đã hứa sẽ gặp ngươi và, hãy biết rằng mọi điều trong phương diện trí tuệ, mọi điều trong phương diện vật chất, đều khởi nguyên, đều thụ thai, trong tinh thần, trong mục đích, trong hy vọng, trong ước muốn. Vậy trước hết, hãy biết mối liên hệ của ngươi với điều ngươi hy vọng. Vì sự sống (hay Thượng đế), sự bất tử của linh hồn, là thực; như có thể thấy từ các thôi thúc riêng của ngươi—nếu ngươi phân tích chúng cho đúng.

We find in Jupiter that universal consciousness, that longing for the knowledge of something outside of self. In that we find the universal desire or the desire to be of help to many irrespective of the cost to self—if correct. Let that motivating force be of the spirit and not merely of the own ego to hide thing own loneliness. For if He, the spirit of purpose, the spirit of hope, the spirit of universal love be with thee, He shall free thee indeed—and all will call thee blessed.

Chúng tôi thấy ở Sao Mộc tâm thức phổ quát, khát vọng tri thức về điều gì đó ngoài bản thân. Ở đó, chúng tôi thấy ước muốn phổ quát hay ước muốn được giúp đỡ nhiều người không kể đến cái giá cho tự thân—nếu điều đó là đúng đắn. Hãy để động cơ ấy là của tinh thần chứ không chỉ của bản ngã để che giấu nỗi cô đơn riêng. Vì nếu Ngài, tinh thần của mục đích, tinh thần của hy vọng, tinh thần của bác ái phổ quát, ở cùng ngươi, Ngài sẽ giải phóng ngươi thật sự—và mọi người sẽ gọi ngươi là kẻ có phúc.

In Uranus we find the extremes that have been a part of the entity’s experience. The demands of the entity in affection are strong, but when not always supplied—know that self-love, self-egotism will never answer.

Ở Sao Thiên Vương, chúng tôi thấy những cực đoan vốn đã là một phần kinh nghiệm của thực thể. Đòi hỏi của thực thể về tình cảm rất mạnh, nhưng khi không phải lúc nào cũng được đáp ứng—hãy biết rằng ái kỷ, tính tự ngã sẽ không bao giờ là câu trả lời.

If ye would have friends be friendly. If ye would have love, love others. If ye would have hope manifest same in thy dealings with others. Though there may be periods when hope seems abandoned, when oppression seems to be on self, look not upon same for condemnations. For, as ye are forgiving, so are ye forgiven; as ye hope, as ye work, as ye manifest, this, that or the other characteristic, it brings its reward—if done in the spirit of truth.

Nếu con muốn có bạn bè, hãy thân thiện. Nếu con muốn có tình thương, hãy yêu thương người khác. Nếu con muốn có hy vọng, hãy biểu lộ điều ấy trong cách con đối đãi với người khác. Dẫu có những thời kỳ hy vọng dường như bị bỏ rơi, khi áp lực dường như đè nặng lên bản thân, đừng xem đó là điều để kết án. Vì như con biết tha thứ, con sẽ được tha thứ; như con hy vọng, như con làm việc, như con biểu lộ đặc trưng này hay đặc trưng kia, điều ấy mang lại phần thưởng của nó—nếu được làm trong tinh thần của chân lý.

Individual personality demands that time be considered; yet know, too, in self that time and space are also manifestations of that universal consciousness ye know as God. In patience ye may find that relationship.

Phàm ngã cá nhân đòi hỏi phải tính đến thời gian; nhưng cũng hãy biết, nơi tự thân, rằng thời gian và không gian cũng là những biểu hiện của tâm thức phổ quát mà các con biết là Thượng đế. Trong nhẫn nại, con có thể tìm thấy mối liên hệ ấy.

Learn patience, which at times is far from thee. In those periods especially of loneliness or of turmoil.

Hãy học nhẫn nại, điều đôi lúc cách xa con. Nhất là vào những thời kỳ cô đơn hay rối bời.

In Jupiter with Venus we find that pleasing personality, that ability to get what you want—not always when you want it, but in time, in patience, and in using that thou hast developed as thy activity in the virtue that is eternal. Pleasing, ye may attain same.

Ở Sao Mộc cùng với Sao Kim, chúng tôi thấy nhân cách dễ mến, khả năng đạt được điều con muốn—không phải lúc nào cũng đúng lúc con muốn, mà đúng thời, trong nhẫn nại, và bằng cách sử dụng điều con đã phát triển như hoạt động của mình trong đức hạnh vĩnh cửu. Làm cho mình dễ mến, con sẽ đạt điều ấy.

As to the experience in the earth, all may not be given; yet these indicate the pattern, and that arising in the emotions of the body. As astrology is that influence in the mind of the entity, so the appearances in the earth influence the emotions—or those things that are “sensed” by the body.

Về các kinh nghiệm nơi trần, không thể nói hết; tuy vậy chúng chỉ ra mô thức, và điều phát sinh trong các cảm xúc của thân thể. Như chiêm tinh là ảnh hưởng trong tâm trí của thực thể, thì các lần xuất hiện nơi trần ảnh hưởng đến cảm xúc—hay những điều được thân cảm nhận.

These may not always be in order. For as indicated there is naught that may separate thee from the knowledge of the eternal save self. If self finds the emotions at times injected in the mental, turn it over—look at the other side. For, upon the side marked end, on the other is marked go—go do the biddings as may be the prompting of the eternal influences within; and ye will find peace and harmony in thy undertakings.

Những điều này có thể không luôn theo trật tự. Vì như đã chỉ ra, không có gì có thể tách ngươi khỏi tri thức về cõi vĩnh cửu ngoại trừ tự thân. Nếu tự thân thấy các cảm xúc đôi lúc chen vào bình diện trí tuệ, hãy lật nó lại—nhìn sang phía bên kia. Vì, ở mặt ghi “hết”, thì ở mặt kia ghi “đi”—hãy đi làm điều được lệnh như có thể là sự thúc giục của các ảnh hưởng vĩnh cửu bên trong; và ngươi sẽ tìm thấy bình an, hòa điệu trong mọi nỗ lực.

Before this the entity was a messenger to those in authority in various portions of the land during those periods during the following the reconstruction periods of the Revolution, as so called.

Trước đó, thực thể là một sứ giả cho những người có thẩm quyền ở nhiều miền trong xứ sở trong thời kỳ sau khi tái thiết sau Cách Mạng, như người ta gọi.

Certain portions of the land, then, become rather as something which the entity has felt rather than seen. Thus those portions of Jersey, Maryland and Virginia will be unusual experiences for the entity if it will allow itself to dwell on same.

Một vài phần đất ấy trở thành điều mà thực thể cảm thấy hơn là thấy. Do đó các vùng của Jersey, Maryland và Virginia sẽ là những kinh nghiệm khác thường với thực thể nếu y cho phép mình nghĩ ngợi về chúng.

As a messenger the entity acquainted those leaders with those happenings; not as a spy, no; rather as a messenger—secret messenger. The name then was Margaret Angel. The entity gained, and yet found disappointments in that the individual entity felt its efforts were not fully appreciated by those in power.

Với vai trò sứ giả, thực thể báo cho các lãnh tụ những biến cố xảy ra; không phải là gián điệp, không; đúng hơn là sứ giả—sứ giả bí mật. Khi ấy tên là Margaret Angel. Thực thể đã gặt hái, nhưng rồi thất vọng vì cá nhân y cảm thấy nỗ lực của mình không được những người cầm quyền đánh giá đúng mức.

Do not in the present make the same sort of error. Do thy biddings, do thy purposes to be seen of God, not of man. Let thine inner soul, that communes with Him, be satisfied; and condemn not others nor self because of their short-sightedness.

Đừng lặp lại cùng loại sai lầm trong hiện tại. Hãy làm điều con phải làm, hãy thực thi các mục đích của con để được Thượng đế thấy, chứ không phải để người đời thấy. Hãy để linh hồn bên trong con, linh hồn hiệp thông với Ngài, được mãn ý; và đừng kết án người khác hay tự mình vì sự thiển cận của họ.

Before that the entity was in the Roman land when there were those periods of expansion as an empire; when the thoughts of the leaders in those periods were for the good of all rather than the gratifying of personal desires.

Trước đó, thực thể ở xứ La Mã khi đế quốc bành trướng; khi tư tưởng của các lãnh đạo trong thời ấy hướng đến lợi ích của tất cả chứ không phải thỏa mãn dục vọng cá nhân.

The entity was among those that planned the manner or means of communications with other lands; thus in what might be called today a diplomatic service.

Thực thể ở trong số những người hoạch định cách thức hay phương tiện truyền thông với các miền khác; tức trong cái mà ngày nay có thể gọi là ngạch ngoại giao.

Here, too, again may the entity in the present use those abilities in those directions of making connections and associations with those of various lands. For, there will be the needs for the use of many in these directions in the reconstruction days to come. When communications with other lands are so established, by those means of activity, the entity may have an important place in some of these connections; especially with those such as the coast of the Mediterranean, the coast of the Iberian Peninsula. These especially will be fields, for, to these—as we will see—the entity has come oft.

Ở đây nữa, một lần nữa, trong hiện tại thực thể có thể sử dụng các năng lực theo hướng thiết lập những kết nối và liên hệ với người ở nhiều miền đất khác nhau. Vì trong những ngày tái thiết sắp tới sẽ cần đến nhiều người trong các hướng đi như thế. Khi mối liên lạc với các miền khác được thiết lập, bằng những phương tiện hoạt động như vậy, thực thể có thể giữ một vị thế quan trọng trong một số mối kết nối này; đặc biệt với các vùng bờ Địa Trung Hải, bờ bán đảo Iberia. Đây đặc biệt sẽ là các lĩnh vực, vì với các nơi ấy—như chúng ta sẽ thấy—thực thể đã đến nhiều lần.

The name then was Gialdo, and the entity then was not in the present sex but a man.

Khi ấy tên là Gialdo, và thực thể khi đó không cùng giới tính như hiện tại mà là nam nhân.

The entity applied self well; and in the latter portion doubting some of its best friends. Hence in the present the entity finds hardships at times in trusting those whom the entity feels are much indebted to the entity. Remember the first principles—do not that in any activity to be seen of men; rather with that purpose to be seen of thy Maker (as we will interpret further).

Thực thể áp dụng bản thân rất tốt; và về sau hoài nghi một số bạn bè thân tín nhất. Bởi vậy trong hiện tại thực thể thấy khó khăn đôi lúc khi đặt lòng tin vào những người mà y cảm thấy mang ơn y rất nhiều. Hãy nhớ những nguyên tắc đầu tiên—đừng làm điều gì trong bất cứ hoạt động nào để người đời thấy; đúng hơn là với mục đích để Đấng Tạo Hóa thấy (như chúng tôi sẽ giải thích thêm).

Before that the entity was in the Grecian land, in those activities in the ‘city in the hills and the plains,’ when the peoples of Greece undertook the subtle manner of meeting those activities in the ‘city in the hills.’

Trước đó nữa thực thể ở xứ Hy Lạp, trong những hoạt động ở “thành phố trong đồi núi và đồng bằng,” khi người Hy Lạp áp dụng cách thức tinh tế để đối phó với những hoạt động ở “thành phố trong đồi núi.”

The entity was among those maidens sent to that land, first as an emissary to direct or control the activities of the many that had been sent to undermine the activities in that ‘city in the hills.’ Yet the entity in the means of establishing communications brought a forward development, in the manners in which steerings for the ships were used in that period, as well as the compass, as to its manner of being installed in the means of communication.

Thực thể ở trong số những thiếu nữ được sai tới miền đất ấy, trước hết như một sứ giả để hướng dẫn hay kiểm soát hoạt động của nhiều người vốn đã được gửi đến nhằm làm suy yếu các hoạt động trong “thành phố trên đồi.” Tuy thế, thực thể nhờ phương tiện thiết lập truyền thông đã góp phần thúc đẩy tiến bộ, về cách thức sử dụng bánh lái cho tàu thuyền trong thời ấy, cũng như về la bàn, tức cách lắp đặt nó trong phương tiện liên lạc.

Hence, as has been seen, the communications of every nature will be a part of the entity’s consciousness; and it’s in and through these that the entity may find the outlet for self and self’s abilities. The name then was Cercema.

Bởi vậy, như đã thấy, truyền thông mọi thể cách sẽ là một phần trong tâm thức của thực thể; và chính trong và qua những điều này mà thực thể có thể tìm thấy lối thoát cho bản thân và các năng lực của mình. Khi ấy tên là Cercema.

Before that (and that which the entity is meeting most in self in the present), the entity was in Atlantis during those periods when there were the separations, just before the breaking up of Poseidia.

Trước đó (và đó là điều thực thể đang đối diện nhiều nhất trong tự thân ở hiện tại), thực thể ở Atlantis trong những thời kỳ chia tách, ngay trước khi Poseidia tan rã.

The entity then controlled those activities where communications had been established with other lands, and the flying boats that moved through air or water were the means by which the entity carried many of those to the Iberian land, as well as later those groups in the Egyptian land—when there had been the determining that the records should be kept there.

Khi ấy, thực thể điều phối các hoạt động nơi truyền thông đã được thiết lập với những miền khác, và các thuyền bay di chuyển qua không khí hay mặt nước là phương tiện nhờ đó thực thể đưa nhiều người đến xứ Iberia, cũng như sau đó là các nhóm ở xứ Ai Cập—khi đã quyết định rằng các hồ sơ phải được lưu giữ ở đó.

Thus we find the entity in the capacity, of the leader in making overtures in the Egyptian land. Finding the land in turmoil because of rebellions, the entity—with one Ax-Tell—undertook to set up the own activities. For the entity then was an associate of Ax-Tell, not a companion but a fellow worker with that leader Ax-Tell in Egypt.

Vì thế, chúng tôi thấy thực thể trong vai trò lãnh đạo dàn xếp các tiếp xúc mở đầu ở đất Ai Cập. Khi thấy xứ sở rối loạn vì các cuộc nổi dậy, thực thể—cùng một người tên Ax-Tell—đảm đương thiết lập các hoạt động riêng. Vì khi ấy thực thể là cộng sự của Ax-Tell, không phải bạn đồng hành mà là người cộng tác với vị lãnh đạo Ax-Tell ở Ai Cập.

With the return of the Priest, by the edicts, and then the establishing of the groups that controlled the religious and the political and the varied activities in that land with the return of the Priest. The entity first became sullen; then joined in with those movements for the preparation of people for the regeneration of the bodies of things in that period.

Khi vị Tư Tế trở về, theo các sắc lệnh, rồi thiết lập các đoàn thể kiểm soát đời sống tôn giáo, chính trị và các sinh hoạt đa dạng trong xứ sở với sự hồi quy của vị Tư Tế. Thực thể ban đầu sinh ra bất mãn; rồi tham gia các vận động chuẩn bị dân chúng cho sự tái sinh hầu hết các hình tướng trong thời kỳ ấy.

Again the entity was in communication activities. Those influences that prompted the entity’s abilities in the present arise from that experience.

Một lần nữa, thực thể lại làm việc trong các hoạt động truyền thông. Những ảnh hưởng thôi thúc các năng lực của thực thể trong hiện tại bắt nguồn từ kinh nghiệm đó.

The name then was Ae-Ne-An.

Khi ấy tên là Ae-Ne-An.

As to the abilities of the entity in the present, that to which it may attain and how:

Về các năng lực của thực thể trong hiện tại, điều y có thể đạt và cách thức:

These are limited only by the manner in which the entity approaches or uses its abilities, especially in the establishing of communications with other lands.

Chúng chỉ bị giới hạn bởi cách thực thể tiếp cận hay sử dụng các năng lực của mình, đặc biệt trong việc thiết lập truyền thông với các miền đất khác.

Languages that have been and are at times the disturbing element with individuals, may easily be put aside—if there is the application of the special service in the lands or areas indicated.

Ngôn ngữ—điều đã từng và đôi khi là yếu tố gây nhiễu cho người khác—có thể dễ dàng gác qua—nếu có sự dấn thân phụng sự đặc biệt ở những xứ sở hay khu vực đã nêu.

Then, do, assist in establishing the airways with those peninsulas or lands of North Africa and the Iberian Peninsula.

Vậy thì, hãy làm đi, hãy trợ giúp thiết lập các đường hàng không với các bán đảo hay miền đất Bắc Phi và bán đảo Iberia.

Do keep self first in that attitude and purpose of a universal consciousness for the good of all.

Hãy giữ bản thân trước hết trong thái độ và mục đích của một tâm thức phổ quát vì thiện ích của mọi người.

Keep the faith in self and in self’s abilities. But let that faith be guided by the divine and not of self or selfish interests. The law of the Lord is perfect; so may be thy purposes with thy brother. These keep.

Giữ vững đức tin nơi bản thân và nơi các năng lực của chính mình. Nhưng hãy để đức tin ấy được dẫn dắt bởi điều thiêng liêng chứ không phải bởi tự thân hay lợi ích vị kỷ. Luật của Chúa là hoàn hảo; mục đích của con với anh em con cũng có thể như vậy. Hãy gìn giữ những điều ấy.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Should I go to England to fly?

(H) Tôi có nên sang Anh để bay không?

(A) May in England, but better in North Africa and in the establishing of the routes between Africa and the Iberian Peninsula, or Portugal and Spain.

(Đ) Có thể ở Anh, nhưng tốt hơn là ở Bắc Phi và trong việc thiết lập các tuyến giữa châu Phi và bán đảo Iberia, hoặc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

(Q) Should or will I be able to make flying my life work?

(H) Tôi có nên, hay tôi sẽ có thể, biến việc bay thành sự nghiệp trọn đời không?

(A) You can will to do whatever you like. Whether you want to or not, or whether others want you to or not, you will make it a life’s work. It can be most worthwhile to self and to many others, if an association in the establishing of such communications; but let it be with those portions of the land indicated.

(Đ) Con có thể tự ý làm điều gì mình thích. Dù con hay người khác có muốn hay không, con sẽ biến nó thành công việc đời con. Nó có thể rất hữu ích cho bản thân và cho nhiều người khác, nếu gắn với việc thiết lập những kênh liên lạc như thế; nhưng hãy để nó ở những miền đất đã nêu.

(Q) Is there anything I can do to help other girls who want to fly?

(H) Tôi có thể làm gì để giúp những cô gái khác muốn bay?

(A) Only interest them and instruct them in the first things necessary—the confidence in self, but the trust in the Lord.

(Đ) Chỉ cần gây hứng thú cho họ và chỉ dẫn họ điều thiết yếu đầu tiên—sự tự tin, nhưng là sự tín thác nơi Chúa.

(Q) Should I plan to marry in this life or devote my entire time to a career?

(H) Tôi nên dự tính kết hôn trong đời này hay dành trọn thời gian cho sự nghiệp?

(A) This will come later in the experience, after or when a career is at its height. About eight years from now you will be married, or you will refuse several times at least.

(Đ) Điều này sẽ đến muộn hơn trong kinh nghiệm, sau khi hoặc khi sự nghiệp ở đỉnh cao. Chừng tám năm nữa con sẽ kết hôn, hoặc ít nhất sẽ từ chối nhiều lần.

(Q) If marry, advise as to the type of person I should marry?

(H) Nếu kết hôn, xin khuyên về kiểu người tôi nên lấy?

(A) That ye will find most within self. For, here you will find, there must be the association not as of opposites but those that would be attracted to and for the same purposes and causes.

(Đ) Điều đó con sẽ tìm thấy nhiều nhất trong tự thân. Vì ở đây con sẽ thấy, cần có mối liên hệ không phải như những đối nghịch mà là những người được hấp dẫn đến và vì cùng mục đích, cùng lý tưởng.

(Q) Is it indicated that I will have children?

(H) Có chỉ dấu rằng tôi sẽ có con không?

(A) We do not find it such. This is not impossible or impracticable but other things are first to the self in the present.

(Đ) Chúng tôi không thấy như vậy. Điều này không phải không thể hay không thực tiễn, nhưng những điều khác hiện là ưu tiên trước với con.

(Q) How and where have I been associated in the past with my present mother, [...]; what are the present urges and how may we use them for our mutual benefit?

(H) Tôi đã từng có liên hệ trong quá khứ thế nào và ở đâu với người mẹ hiện tại của tôi, [...]; các thôi thúc hiện tại là gì và chúng tôi có thể sử dụng chúng thế nào để cùng có lợi?

(A) These have been in more than one and oft the conditions have been very much as they have arisen in the present. Before this, very closely associated; but ye mistrusted the entity who is now the mother, and in the present you find at times you wonder whether that’s best or not.

(Đ) Những mối liên hệ ấy đã diễn ra hơn một lần và thường các điều kiện rất giống như đang nảy sinh trong hiện tại. Trước đó, rất gần gũi; nhưng con đã bất tín với thực thể nay là mẹ, và trong hiện tại đôi khi con tự hỏi điều ấy có phải là tốt nhất hay không.

In Atlantis you were in the same positions as in the present. The closer association brought the unfolding of the entity’s abilities in Egypt after the great disappointment.

Ở Atlantis, các con ở cùng vị trí như hiện nay. Sự gắn bó gần hơn đã mở ra các năng lực của thực thể ở Ai Cập sau nỗi thất vọng lớn.

Use these associations in the present—you can each learn much from the other but do not try to control either. Keep first those things that are first. Let the spirit and purpose guide. For, as indicated, the intenseness that is the natural heritage of Atlanteans that were thwarted in some period of activity, is such that they will have their way. Do not do so to your own undoing.

Hãy tận dụng những mối liên hệ này trong hiện tại—cả hai có thể học được nhiều từ nhau nhưng đừng cố gắng kiểm soát lẫn nhau. Hãy giữ trước hết những điều phải là đầu tiên. Hãy để tinh thần và mục đích dẫn đường. Vì như đã chỉ ra, cường độ—vốn là gia sản tự nhiên của người Atlantis bị cản trở ở một số thời đoạn hoạt động nào đó—là như vậy khiến họ sẽ muốn theo cách của mình. Đừng làm như thế để rồi tự hủy hoại mình.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm xong cho hiện tại.

TEXT OF READING 1486-1 M 55

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 1486-1 N 55

(Protestant, Writer of Religious Music)

(Tin Lành, Nhà viết Nhạc Tôn giáo)

This Psychic Reading given by Edgar Cayce at the David E. Kahn home, 20 Woods Lane, Scarsdale, N.Y., this 26th day of November, 1937, in accordance with request made by the self—Mr. [1486], through recommendation and sponsorship of Mrs. [1158], Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bài Đọc Thông Linh này do Edgar Cayce thực hiện tại nhà David E. Kahn, 20 Woods Lane, Scarsdale, N.Y., ngày 26 tháng 11 năm 1937, theo yêu cầu của đương sự—Ông [1486], theo sự giới thiệu và bảo trợ của Bà [1158], Hội viên Tích cực của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

HIỆN DIỆN

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mr. [1486] and wife, and [1158].

Edgar Cayce; Gertrude Cayce, Người điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Ông [1486] và vợ, và [1158].

READING

BÀI ĐỌC

Born February 2, 1882, in Chatham, Ontario, Canada.

Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1882, tại Chatham, Ontario, Canada.

Time of Reading 12:10 to 12:50 Noon—Eastern Standard Time...., N.Y.

Thời điểm Bài Đọc từ 12:10 đến 12:50 trưa—Giờ Chuẩn Miền Đông...., N.Y.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Bài Đọc Đời Sống)

EC: Yes, we have the records here of that entity now called [1486].

EC: Vâng, chúng tôi có các hồ sơ ở đây về thực thể nay được gọi là [1486].

In giving the interpretations of the records as we find, much might be said as to the long lapses in material experiences, owing to the purposes innate—and the development of the entity during material sojourns.

Khi diễn giải các hồ sơ như chúng tôi thấy, có thể nói nhiều về những khoảng gián đoạn dài trong các kinh nghiệm vật chất, do các mục đích vốn có—và sự phát triển của thực thể trong các lần ngụ cư vật chất.

For oft, the longer the periods between the earthly sojourns the greater has been—or may be—the development of the soul entity to that which each soul is to attain through its appearances among men.

Bởi vì thường, khoảng cách giữa các lần ngụ cư trần gian càng dài thì sự phát triển của linh hồn càng lớn—hoặc có thể lớn—để đạt đến điều mà mỗi linh hồn phải đạt qua những lần xuất hiện giữa loài người.

Hence we find, as have been the purposes of the entity’s appearances in the earth, there have been definite periods of advancement in the thoughts of man—as in its relationships to its fellow man or in the activities of the individual in its expressions towards Creative Forces in the relationships to man.

Do đó chúng tôi thấy, như đã là mục đích của các lần xuất hiện nơi trần của thực thể, rằng đã có những giai đoạn tiến bộ rõ rệt trong tư tưởng của con người—như trong các mối liên hệ của y với đồng loại hay trong hoạt động của cá nhân y khi biểu lộ hướng về Các Mãnh Lực Sáng Tạo trong mối liên hệ với con người.

Hence the activities of the entity have been, as manifested in the present, the pointing out or directing the influences for man in its associations one with another.

Vì vậy các hoạt động của thực thể—như biểu lộ trong hiện tại—là chỉ lối hay định hướng ảnh hưởng cho con người trong các mối tương giao với nhau.

Hence the entity may be considered—and in the present—a great propagandist; or one whose experience, or one whose life may be employed in directing the thoughts of the masses, as well as individuals, in some specific purpose as to relations of nations, or groups, or classes—as their relationships may bear to their fellow man, either in different climes or in different relationships, respecting any phase of man’s experience, or man’s association, as one to another.

Do đó, thực thể có thể được xem—và trong hiện tại—là một nhà truyền bá lớn; hay một người có kinh nghiệm, có đời sống có thể được dùng để hướng dẫn tư tưởng quần chúng, cũng như từng cá nhân, vào một mục đích đặc thù nào đó liên quan đến mối quan hệ của các quốc gia, hay các tập thể, hay các giai tầng—khi các mối quan hệ của họ liên hệ đến đồng loại, dù ở xứ sở khác hay trong những mối liên hệ khác, liên quan tới bất cứ phương diện nào trong kinh nghiệm của con người, hay trong mối liên hệ của người này với người kia.

Whether in natures that today would be termed commercial, or as related to laws that would be enterchanging [?] in nature between other nations or similar activities, or even those that would pertain to the relationships of groups as to their activity in the air, upon the ocean; or as would be termed natures pertaining to interstate, inter-nation, interactivities that bear upon such.

Dù trong các lĩnh vực mà hôm nay người ta gọi là thương mại, hay liên quan đến các luật lệ có tính enterchanging [?] giữa các quốc gia hoặc các hoạt động tương tự, hoặc thậm chí những điều liên quan đến mối quan hệ của các tập thể trong hoạt động trên không, trên biển; hay những gì được gọi là các mối quan hệ liên bang, liên quốc, các tương tác liên hệ đến như vậy.

In these fields may the entity’s abilities be directed, as may be seen from not only the material sojourns but from the very influences of the astrological aspects that point to the directing of the entity’s experiences in those directions.

Trong những lĩnh vực này, các năng lực của thực thể có thể được định hướng, như có thể thấy không chỉ từ các lần ngụ cư vật chất mà còn từ chính các ảnh hưởng của các phương diện chiêm tinh vốn chỉ về việc định hướng kinh nghiệm của thực thể theo các hướng ấy.

The astrological aspects, as has so oft been indicated, are rather as signs, or omens; and not that the entity is influenced because Mercury or Jupiter or Venus or Saturn might have been in certain positions in the heavens at the moment or time of birth. But rather as has been given, He hath given the souls of men the abilities to subdue not only the earth but the universe. For man in the soul force is a portion of same; hence has his relative relationships to same by activities.

Các phương diện chiêm tinh, như đã thường chỉ ra, là như những dấu chỉ, hay điềm báo; chứ không phải vì thực thể bị ảnh hưởng do Sao Thủy hay Sao Mộc hay Sao Kim hay Sao Thổ ở những vị trí nhất định trên trời vào lúc hay thời điểm sinh. Mà đúng hơn như đã nêu, Ngài đã ban cho linh hồn loài người khả năng khuất phục không chỉ trái đất mà cả vũ trụ. Bởi con người trong lực linh hồn là một phần của chính cái đó; vì vậy con người có quan hệ tương liên với nó qua các hoạt động.

For as there is indicated, it is the movement of spirit upon things that do not appear that has brought into being the things that do appear; not of things that do appear.

Vì như được chỉ ra, chính là sự chuyển động của tinh thần trên những điều chưa hiển lộ đã mang vào hiện hữu những điều đã hiển lộ; chứ không phải từ những điều đã hiển lộ.

Thus man’s influence upon such or from such is because—as there are the cycles of influence, in the activity through the relationships of what ye call planetary forces or the vibrations about the earth—there are periods when the influence is felt because of the very activity of the entity in that environment, or action, or force.

Do đó, ảnh hưởng của con người đối với những điều như thế hay từ những điều như thế là vì—khi có những chu kỳ ảnh hưởng, trong hoạt động qua các mối tương quan của những gì các ngươi gọi là các lực hành tinh hay các rung động quanh trái đất—sẽ có những thời kỳ khi ảnh hưởng được cảm nhận do chính hoạt động của thực thể trong môi trường đó, hay hành động, hay mãnh lực đó.

Hence as we find, these become then as intuitive influences; or the higher force of the mental self with which the entity may find contact or be in relationship with by the deep meditative forces.

Bởi vậy, những điều ấy trở thành như các ảnh hưởng trực giác; hay là lực cao hơn của tự ngã trí tuệ mà thực thể có thể tìm thấy sự tiếp xúc hay tương thông qua các lực tham thiền sâu.

But the influences from the sojourns in a material or physical environment make for the emotions that arise.

Nhưng các ảnh hưởng từ những lần ngụ cư trong môi trường vật chất hay thể xác tạo nên những cảm xúc nảy sinh.

These may at times be parallel or be in sympathy, dependent upon the activity or the choice made by the soul-entity through the will—that which makes each soul aware of its being at-one with the Creative Forces or God, or of directing for self in its activities.

Đôi khi chúng có thể song hành hoặc cộng hưởng, tùy thuộc vào hoạt động hay chọn lựa của thực thể linh hồn qua ý chí—điều làm cho mỗi linh hồn ý thức mình hợp nhất với Các Mãnh Lực Sáng Tạo hay Thượng đế, hoặc chủ động hướng cho riêng mình trong các hành động.

As has been indicated, the entity here—as we find—has developed rather than retarded through its appearances in the earth; hence we find these vary—in their relationships to the development or appearances in the affairs of men in the earth.

Như đã nêu, ở đây—như chúng tôi thấy—thực thể đã phát triển hơn là trì trệ qua những lần xuất hiện nơi trần; vì vậy chúng tôi thấy chúng đa dạng—trong mối liên hệ với sự phát triển hay các lần xuất hiện trong sinh hoạt của loài người nơi trần.

Before this we find the entity was in the earth during that period now called King Alfred’s reign in what is known as the English land, when there were those attempts by that ruler or director to make for the better relationships as for judgements by courts or by the choice of the twelve, or by jury trials.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở trần vào thời kỳ nay gọi là triều Vua Alfred ở miền đất Anh, khi vị vua hay nhà cầm quyền ấy tìm cách cải thiện các mối quan hệ trong việc xét xử bởi tòa hay bởi chọn lựa của mười hai người, hay bởi các phiên tòa bồi thẩm.

The entity then was in close associations with that experience, and one that acted in the capacity to induce—not by force of power but by the pointing out to the various groups, in the various associations of the land, in that experience—the betterment, the more unity, the more action that might be had; than by or from imperial activity, or that as considered from a lording by the individual direction.

Khi ấy thực thể có mối liên hệ gần gũi với trải nghiệm đó, và là người đóng vai trò cảm hóa—không bằng sức mạnh quyền lực mà bằng cách chỉ ra cho các tập thể khác nhau, trong các mối liên hệ khác nhau của xứ sở ở trải nghiệm ấy—những cải thiện, sự hợp nhất lớn hơn, hành động hiệu quả hơn; hơn là dựa vào hoạt động mang tính đế quyền, hay điều được xem là sự cai trị bởi ý chí cá nhân.

Then the name was Chatham, and in the experience the entity gained—for there were the abilities to make for those associations and those activities among the affairs of men for the meeting as individuals for comparison of wrongs or rights, or judgements by groups rather than the individual that might be swayed by personal interests.

Khi ấy tên là Chatham, và trong trải nghiệm đó thực thể đã gặt hái—vì y có khả năng tạo nên các mối liên hệ và những hoạt động trong sinh hoạt của con người để mọi người gặp gỡ như những cá nhân nhằm so sánh điều sai hay đúng, hay phán quyết bởi tập thể thay vì bởi một cá nhân có thể bị chi phối bởi lợi ích riêng.

These have become and remain in the present as a part innate of the entity’s experiences, and in these as we find—through its abilities in its writing, in its counseling, in its making for its association or contacts with others in every walk of life, as has been indicated—is the field of service or activity; or that in which the entity may find not that merely gratifying but that which is a growth in grace, in knowledge, in understanding.

Những điều này đã trở thành và vẫn còn trong hiện tại như phần vốn có của kinh nghiệm thực thể, và trong đó—như chúng tôi thấy—thông qua năng lực viết, tư vấn, tạo dựng mối liên hệ hay tiếp xúc với người khác trong mọi nẻo đời, như đã chỉ ra—là cánh đồng phụng sự hay hoạt động; hay là nơi thực thể có thể tìm thấy không chỉ sự thỏa mãn mà còn là tăng trưởng trong ân điển, tri thức, sự thấu hiểu.

Before that, then, we find the entity was in the experience during that period when the Master walked in the earth, during those periods also when there were the turmoils and the strifes that arose among those sects that were as the political factors during that experience.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở trần trong thời khi Đức Thầy bước đi trên đất, cũng trong thời khi có những rối ren và tranh chấp nảy sinh giữa các giáo phái vốn là yếu tố chính trị trong trải nghiệm ấy.

The entity was among those natives of the Grecian land that made for activities through the Roman rule in those portions about the capitals or the larger cities of the provinces of the Palestine land.

Khi ấy thực thể ở trong số những người bản địa xứ Hy Lạp làm những hoạt động qua sự cai trị của La Mã ở những vùng chung quanh kinh đô hay các thành phố lớn của các tỉnh thuộc xứ Palestine.

During that particular experience the entity, as Philos, was active in inducing those political lands to accept a single standard, especially as related to the calendar, the judgement of time and activities.

Trong trải nghiệm riêng ấy thực thể, với tên Philos, đã tích cực cổ vũ cho việc các miền chính trị chấp nhận một chuẩn mực thống nhất, nhất là liên quan đến lịch pháp, phép định thời gian và các hoạt động.

For there had been through the Jewish peoples the reckoning of time from the exodus, while through the Romans it had been counted from the establishing of Roman rule and power. Thus in each generation there had been many varied experiences in the rulers to have time reckoned by, or from, some definite activity of the ruler—as of themselves or those just preceding them in rule or generations.

Bởi đã có, nơi người Do Thái, cách tính thời gian từ cuộc Xuất Hành, trong khi nơi người La Mã thì tính từ khi thiết lập quyền lực và thế lực La Mã. Do đó trong mỗi thế hệ đã có nhiều trải nghiệm khác nhau khi các vị cai trị muốn thời gian được tính từ một sự kiện nhất định nào đó của vị vua—là chính họ hoặc người ngay trước họ trong quyền lực hay theo dòng thế hệ.

Hence the entity joined with the Romans in sympathy with the reckoning from the Christian era.

Vì vậy thực thể liên kết với người La Mã theo cách đồng cảm với cách tính theo Kỷ nguyên Kitô giáo.

Hence the entity had much to do in aiding those in the church, first in those about the Essene associations in Carmel, where such data began to be set—as from the birth. Hence A.D. and B.C. were begun as a part of the activity of the entity during those experiences.

Do đó thực thể đã đóng góp nhiều trong việc trợ giúp những người trong giáo hội, đầu tiên là những người thuộc tu hội Essene ở Carmel, nơi dữ liệu như vậy bắt đầu được thiết lập—tính từ khi sinh ra. Từ đó, cách tính “sau Công Nguyên” và “trước Công Nguyên” được khởi lập như một phần hoạt động của thực thể trong những trải nghiệm ấy.

And as we find there may be an activity of the entity in the present from those experiences, of judging not only as to relationships of groups or classes or masses but as to special character of data as related to the cycle of experiences as to the rise and fall not only of countries but of nations—and the activities as relate one to another.

Và như chúng tôi thấy, trong hiện tại thực thể có thể hoạt động từ những trải nghiệm đó, không chỉ phán đoán về mối quan hệ của các tập thể, các giai tầng, quần chúng mà còn về đặc trưng dữ liệu liên quan đến chu kỳ trải nghiệm về thăng trầm không chỉ của xứ sở mà còn của các quốc gia—và các hoạt động liên hệ giữa nhau.

Before that we find the entity was in the Atlantean land, during those periods when there was the knowledge—through the teachers or leaders in the Law of One—as related to the destruction of the Atlantean or Poseidon land.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở xứ Atlantis, trong thời khi có tri thức—qua các vị thầy hay lãnh đạo theo Luật của Đấng Duy Nhất—liên quan đến sự hủy diệt xứ Atlantis hay Poseidon.

And the entity was among those who journeyed from Atlantis or Poseidia itself, first to the Pyrenees or Portugese land and later into what would be called in the present the Egyptian land—during those periods after the recall of Ra-Ta, when he with Saneid and the activities from the land of On and Oz and those from what is now known as the Gobi land attempted to make for a unification of the knowledge.

Và thực thể ở trong số những người rời Atlantis hay chính Poseidia, trước hết đến dãy Pyrenees hay xứ Bồ Đào Nha và sau đó vào miền mà hiện nay gọi là xứ Ai Cập—trong những thời kỳ sau khi Ra-Ta được triệu hồi về, khi Ngài cùng Saneid và những người hoạt động từ xứ On và Oz và những người từ miền nay gọi là sa mạc Gobi nỗ lực kiến tạo sự thống nhất tri thức.

Hence we find the entity then, Ax-Ten-tna, as would be said in the present, was the first to set the records that are yet to be discovered, or yet to be had of those activities in the Atlantean land, and for the preservation of the data, that as yet to be found from the chambers of the way between the sphinx and the pyramid of records.

Bởi vậy chúng tôi thấy thực thể khi ấy, Ax-Ten-tna—nói theo nay—là người đầu tiên thiết lập các hồ sơ vốn còn chưa được khám phá, hay chưa được lấy ra về những hoạt động ở xứ Atlantis, và để bảo tồn dữ liệu ấy, điều mà đến nay vẫn phải tìm thấy trong các hành lang lối đi giữa Nhân Sư và Kim Tự Tháp lưu trữ hồ sơ.

Hence is it a wonder in the present that the entity is in this experience under the symbol and the sign of both the sphinx and the pyramid, when there is to be given a new awakening in many portions of the earth?

Vậy, có lạ gì trong hiện tại khi thực thể ở trong trải nghiệm này dưới biểu tượng và dấu hiệu của cả Nhân Sư lẫn Kim Tự Tháp, vào lúc sẽ có một cuộc thức tỉnh mới ở nhiều miền trên địa cầu?

The activities of the entity then had much to do not only with the historic reaction but the developments for individual activities of groups, as the classifications came, were the order of the entity as related to the King, as related to the Priest, and those that were sent or came as emissaries or teachers or representatives of those tenets that were gathered during that experience in the Egyptian land.

Các hoạt động của thực thể khi ấy không chỉ ảnh hưởng đến phản ứng mang tính lịch sử mà còn đến sự phát triển cho hoạt động cá nhân của các tập thể, khi các phân loại hình thành, theo trật tự của thực thể trong mối liên hệ với Vua, với Tư Tế, và những người được sai đi hay đến như sứ giả hay giáo sư hay đại diện của những tín điều được kết tập trong trải nghiệm ấy ở xứ Ai Cập.

As to the abilities of the entity in the present, then, and that to which it may attain, and how:

Về các năng lực của thực thể trong hiện tại, điều y có thể đạt tới và cách thức:

Who is to set a limit upon that as may be accomplished by the entity in the hearts and minds of men—everywhere—through keeping attune or in accord with the knowledge of the spirit within that moves upon the influences from within as well as from without, to bring to pass the greater knowledge of the associations of Creative Forces in the lives and experiences of men—and how and why man must exemplify same in his relationships to his fellow man?

Ai có thể đặt ra giới hạn cho những gì thực thể có thể thành tựu trong tâm trí và trái tim của con người—khắp nơi—qua việc giữ cho hòa điệu hay hợp nhất với tri thức về tinh thần bên trong vốn vận hành trên các ảnh hưởng từ nội giới cũng như ngoại giới, để làm hiển lộ tri thức lớn hơn về mối tương giao của Các Mãnh Lực Sáng Tạo trong đời sống và kinh nghiệm của con người—và vì sao, thế nào con người phải làm gương điều ấy trong các mối liên hệ với đồng loại?

These, as we find, have been, still are, the labors of the entity.

Đó, như chúng tôi thấy, đã là, vẫn là, lao tác của thực thể.

Be true. Keep the faith thou hast set before thyself, thy brethren; yea, thy Creator.

Hãy trung tín. Giữ vững đức tin mà con đã đặt ra trước chính mình, trước huynh đệ của con; vâng, trước Đấng Tạo Hóa của con.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) Did I have personal contact with Jesus, the Master?

(H) Tôi có tiếp xúc cá nhân với Đức Jesus, Đức Thầy, không?

(A) Personal contact, especially as Jesus the Child taught or reasoned with the rulers in the temple. Later when there were those activities as a teacher, and the entity then—associated with the Roman as well as the Jewish leaders—taught or heard taught those things the Master gave just before the period of Crucifixion.

(Đ) Có tiếp xúc cá nhân, nhất là khi Hài Nhi Jesus dạy dỗ hay biện luận với các vị lãnh đạo trong đền thờ. Về sau, khi có các hoạt động như một vị thầy, và thực thể khi ấy—liên hệ với cả các lãnh đạo La Mã lẫn Do Thái—đã dạy hoặc nghe dạy những điều Đức Thầy ban ngay trước thời kỳ Đóng Đinh.

Hence these two definite periods have been and are a portion of the entity’s inner consciousness.

Vì vậy hai thời đoạn xác định này đã là và là một phần của tâm thức nội tại nơi thực thể.

(Q) Was I among the “Faithisto” of Jesus during his incarnation in the earth?

(H) Tôi có thuộc nhóm “Faithisto” của Jesus trong lần Ngài nhập thế nơi trần không?

(A) Among those that watched rather on that period when from the mount He took the ways towards the heavenly hosts.

(Đ) Thuộc về những người canh giữ, đúng hơn là trong thời đoạn khi từ ngọn núi Ngài bước theo con đường hướng về đoàn thiên binh.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm xong cho hiện tại.

TEXT OF READING 436-2 M 28

VĂN BẢN BÀI ĐỌC 436-2 N 28

(Elevator Boy, Christian with East Indian Leaning)

(Cậu bé thang máy, tín hữu Cơ Đốc có khuynh hướng Đông Ấn)

This psychic reading given by Edgar Cayce at Lillian Edgerton, Inc., 267 Fifth Ave., N.Y.C., this 10th day of November, 1933, in accordance with request made by self—Mr. [436], Active Member of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

Bản đọc tâm linh này do Edgar Cayce thực hiện tại Lillian Edgerton, Inc., 267 Đại lộ Năm, Thành phố New York, ngày 10 tháng Mười Một, 1933, theo đề nghị của chính đương sự—Ông [436], Hội viên Tích cực của Ass’n for Research & Enlightenment, Inc.

PRESENT

CÓ MẶT

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Conductor; Gladys Davis, Steno. Mr. [436].

Edgar Cayce; Hugh Lynn Cayce, Người điều phối; Gladys Davis, Thư ký tốc ký. Ông [436].

READING

LỜI ĐỌC

Born March 29, 1905, (11:30 P.M.) in Midland, Virginia.

Sinh ngày 29 tháng Ba, 1905, (11:30 đêm) tại Midland, Virginia.

Time of Reading 3:00 to 3:50 P. M. Eastern Standard Time...., D.C.

Thời gian Lời Đọc từ 3:00 đến 3:50 chiều, Giờ Chuẩn Miền Đông...., D.C.

(Life Reading Suggestion)

(Đề nghị Đọc về Tiền kiếp)

EC: Yes, we have the entity and those relations with the universe and universal forces, that are latent and exhibited in the personalities of the present entity, [436].

EC: Vâng, chúng ta có thực thể này và những liên hệ của y với vũ trụ cùng các mãnh lực vũ trụ, vốn tiềm ẩn và được biểu lộ trong các phương diện phàm ngã của thực thể hiện tại, [436].

It would be well to comment upon the oldness of this soul, especially in its activities—as will be seen—in periods when the occult and mystic influences were manifested in the experience of the entity in the earth; and make for influences that have been (or may be made) very good or very bad in the experience of the entity. Hence, this is an old soul.

Sẽ thích đáng khi bình luận về sự cổ lão của linh hồn này, nhất là trong các hoạt động của nó—như sẽ thấy—trong các thời kỳ mà những ảnh hưởng huyền bí và thần bí đã biểu lộ trong kinh nghiệm của thực thể ở trần; và tạo thành những ảnh hưởng đã từng (hoặc có thể được làm thành) rất tốt hoặc rất xấu trong kinh nghiệm của thực thể. Do đó, đây là một linh hồn cổ lão.

In giving the personalities and the individuality of the entity in the present experience, we must approach same from the astrological, though these in the very fact of that given respecting its activities in the earth during such periods when such changes or activities were manifested in the material affairs of individuals, make for little that may be compulsory in astrological influence. Yet impulses arise from these influences.

Khi nêu các phương diện phàm ngã và chân ngã của thực thể trong kinh nghiệm hiện tại, chúng ta phải tiếp cận từ phương diện chiêm tinh, dù rằng chính các dữ kiện về những hoạt động của y trên trần trong các thời kỳ có biến chuyển hay hoạt động như thế nơi các việc thế tục của cá nhân khiến cho ảnh hưởng chiêm tinh ít có tính cưỡng bức. Dẫu vậy, các xung lực vẫn khởi lên từ những ảnh hưởng ấy.

As in passing from Pisces into Aries, there are those influences innately and manifested in the mental forces of the body; much of both of these, and they become conflicting in the experience at times of the entity.

Như khi chuyển từ Song Ngư sang Bạch Dương, có những ảnh hưởng bẩm sinh và được biểu lộ trong các lực trí tuệ của thân thể; rất nhiều yếu tố của cả hai, và chúng đôi khi trở nên xung đột trong kinh nghiệm của thực thể.

Pisces brings rather the mystery and creative forces, and magnanimous aspects in students of—or in the thought of—influences in the active principles of individual impulse; with Aries bringing reason, or air, or airy actions, yet reason, more than Pisces would make the demands in the self at time for reasons for every manifestation, whether material conditions, mental or spiritual conditions in the experience of the entity. And at other periods it may be said that the entity becomes rather susceptible to influences about the body, without considering seriously the sources of the information and as to whether same is able to be verified by others or not. Feelings of same impress the entity from this astrological influence, which—as we see—does not only control earth’s sojourn but the position of the entity in this sojourn through the planetary influences in the earth’s solar system.

Song Ngư đem lại tính huyền nhiệm và các lực sáng tạo, cùng khía cạnh rộng lượng nơi người học—hoặc trong tư tưởng về—những ảnh hưởng thuộc các nguyên lý chủ động của xung động cá thể; còn Bạch Dương mang đến lý trí, hay khí, hay những hành động có phần phù phiếm, nhưng là lý trí, nhiều hơn điều Song Ngư thường đòi hỏi, nơi cái tôi vào lúc đó muốn có lý do cho mọi biểu hiện, dù là điều kiện vật chất, điều kiện trí tuệ hay điều kiện tinh thần trong kinh nghiệm của thực thể. Và vào những thời kỳ khác, có thể nói thực thể trở nên khá dễ bị ảnh hưởng bởi những gì quanh thân, mà không cân nhắc nghiêm túc nguồn thông tin và liệu điều ấy có thể được người khác kiểm chứng hay không. Cảm thụ về điều đó gây ấn tượng lên thực thể từ ảnh hưởng chiêm tinh này, vốn—như chúng ta thấy—không chỉ chi phối cuộc lữ trú nơi trần mà cả vị thế của thực thể trong cuộc lữ trú này qua các ảnh hưởng hành tinh trong hệ mặt trời của Trái Đất.

As to the sojourns in the astrological influences then, we find these are the ruling; not from their position at the birth, but rather from the position of the entity’s activities in that environ.

Về những cuộc lữ trú trong các ảnh hưởng chiêm tinh, chúng ta thấy những ảnh hưởng này đang chi phối; không phải từ vị trí vào lúc sinh, mà đúng hơn từ vị trí hoạt động của thực thể trong môi trường ấy.

Mars is an influence rather from the associations then, in self’s own experience. Or when dissensions, distrust, dissatisfaction, madness, wars, arise; these come about the entity rather than influencing the activities of the entity, other than through the associations with individuals that make demands upon the entity and its activities in these directions. These become at times concrete experiences in the entity’s activities in the present experience; yet these, as we find, for many a year now (and these began some three years ago) will be less in the experience until Mars in ′38 or ′39 becomes nearer in its influence upon the sojourners of those in the earth that have experienced a sojourn in that environ.

Sao Hỏa là một ảnh hưởng đến từ các kết giao trong kinh nghiệm của chính y. Khi có bất hòa, bất tín, bất mãn, cuồng nộ, chiến tranh nổi lên; thì những điều này kéo đến quanh thực thể hơn là trực tiếp chi phối các hoạt động của y, ngoại trừ qua sự liên hệ với những cá nhân đặt yêu cầu lên thực thể và hoạt động của y theo những hướng đó. Đôi khi những điều này trở thành các trải nghiệm cụ thể trong hoạt động của thực thể ở hiện kiếp; tuy nhiên, như chúng ta thấy, trong nhiều năm nay (và điều này bắt đầu cách đây độ ba năm) chúng sẽ giảm đi trong kinh nghiệm, cho đến khi Sao Hỏa vào ’38 hay ’39 đến gần hơn trong ảnh hưởng của nó lên những kẻ lữ trú nơi trần từng có một cuộc lữ trú trong môi trường ấy.

Hence this may be said, in a manner, to be of little influence then in the period, or during that period, when the entity should make for a stabilization in self’s experience of that to which it may develop its better abilities in this present sojourn in the earth.

Vì vậy có thể nói, theo một nghĩa nào đó, rằng ảnh hưởng này ít tác động trong giai đoạn, hay trong thời kỳ mà thực thể nên tạo lập một sự ổn định trong kinh nghiệm của chính mình đối với điều y có thể phát triển những khả năng tốt hơn của y trong cuộc lữ trú hiện tại nơi trần.

From Venus rather a complex position or condition comes to the experience of the entity, where filial or marital or such relations as of loves in the material earth come in the experience. Not that there hasn’t been, nor won’t be, nor isn’t existent, that which is pure, elevating and helpful in the experience of the entity in its relationships with individuals of both sexes in this way and manner; yet these have brought some very pleasant experiences and some very contrary and contradictory influences in the activities and in the experience of the entity in the present.

Từ Sao Kim thì một thế đứng hay tình trạng khá phức tạp đến với kinh nghiệm của thực thể, ở chỗ các mối quan hệ hiếu thảo, hôn phối hay những quan hệ thuộc tình ái trên trần xen vào kinh nghiệm. Không phải là đã không có, hay sẽ không có, hay không đang hiện hữu, điều gì đó thanh khiết, nâng cao và hữu ích trong kinh nghiệm của thực thể khi liên hệ với các cá nhân của cả hai giới theo cách như vậy; nhưng những điều này đã mang đến một số trải nghiệm rất thú vị và một số ảnh hưởng rất trái ngược và mâu thuẫn trong hoạt động và trong kinh nghiệm của thực thể hiện tại.

Hence it may be given in passing, to the entity, that the love of and for a pure body is the most sacred experience in an entity’s earth sojourn; yet these conditions soured, these conditions turned into vitriol, may become the torments of an exemplary body, and one well-meaning, and make for loss of purposes.

Vì vậy, có thể nói lướt qua với thực thể rằng tình yêu đối với một thân thể thanh khiết là kinh nghiệm thiêng liêng nhất trong một cuộc lữ trú nơi trần; nhưng nếu những điều kiện ấy bị chua chát hóa, những điều kiện ấy biến thành phẫn độc, chúng có thể thành nỗi dày vò của một thân thể gương mẫu và có thiện chí, và khiến mục đích bị đánh mất.

Keep the friendships, then. Keep those relationships that are founded upon all that is constructive in earth, in the mind, in the spirit.

Vậy hãy giữ gìn tình bằng hữu. Hãy giữ những mối liên hệ được đặt nền trên mọi điều mang tính xây dựng ở trần, trong trí, trong tinh thần.

As to those influences from the sojourn of the entity in Uranian forces, as may be indicated from that given as to the oldness and as to the delving into the occult and mystic and the application in the experience, the entity has sojourned more than once in this environ and under quite varied or different experiences and manifestations. Hence there are periods when earthly conditions, mental conditions, spiritual conditions, are very good; and others when all are very bad in the experience of the entity in the present. Yet, as we find, in the application of self as related to the impulses that may rise in the consciousness of the entity in the present experience from those impulses received from the sojourns, these may be made the strong fort in the activities of self in the present. But they must be tempered, from the very experiences in the sojourn, to making for not an active force in those experiences from planetary influences in a weak body, but turn to strengthening the body-physical for the manifestations of the correct raising of those vital energies in the material body, through which such influences may make for manifestations and experiences in the earth’s sojourn. These influences from Uranus make for many of the ills that have been in the experience in the body, in the nervous reactions to the physical body, to the weak experiences to the physical body, when the very vital life force of a material body was in danger of being separated from physical for an ethereal sojourn.

Về những ảnh hưởng từ cuộc lữ trú của thực thể trong các lực Sao Thiên Vương, như có thể chỉ ra từ điều đã nói về tính cổ lão và về việc đào sâu huyền bí, thần bí cũng như việc ứng dụng trong kinh nghiệm, thực thể đã hơn một lần lữ trú trong môi trường này và dưới những trải nghiệm và biểu hiện khá đa dạng hay khác biệt. Bởi vậy có những thời kỳ khi những điều kiện trần thế, điều kiện trí tuệ, điều kiện tinh thần rất tốt; và những lúc khác thì tất cả đều rất tệ trong kinh nghiệm của thực thể hiện tại. Tuy nhiên, như chúng ta thấy, trong việc vận dụng tự thân liên hệ với các xung lực có thể dấy lên trong tâm thức của thực thể hiện tại từ các xung lực tiếp nhận từ những cuộc lữ trú, các xung lực này có thể được làm thành thành lũy vững mạnh trong hoạt động của tự thân ở hiện tại. Nhưng chúng phải được tôi luyện, từ chính những kinh nghiệm trong cuộc lữ trú, để không biến thành một mãnh lực tác động trong các kinh nghiệm đến từ ảnh hưởng hành tinh trên một thân thể yếu, mà chuyển sang việc tăng cường thân thể-vật lý để có thể biểu lộ việc nâng đúng đắn các năng lượng sinh mệnh trong thân thể vật chất, hầu những ảnh hưởng như vậy có thể tạo nên các biểu lộ và trải nghiệm trong cuộc lữ trú nơi trần. Những ảnh hưởng từ Sao Thiên Vương gây ra nhiều chứng tật từng có trong kinh nghiệm của thân thể, trong các phản ứng thần kinh đối với thân xác, trong những trải nghiệm suy nhược của thân xác, khi mà chính sinh lực của một thân thể vật chất đã đứng trước nguy cơ tách lìa khỏi thể xác để đi vào một cuộc lữ trú cõi thanh.

As to the appearances, then, and their influence in the present, these are given as the ones influencing the activities of the present body; rather than numbers, we give those that make for the greater activity in the present:

Về các lần xuất hiện, và ảnh hưởng của chúng trong hiện tại, những điều sau đây được nêu như các yếu tố tác động đến hoạt động của thân thể hiện tại; thay vì các con số, chúng tôi nêu những gì tạo nên hoạt động lớn hơn trong hiện tại:

Before this we find the entity was in the land of nativity, and about those places, those peoples, where the first settlings were—and the first sojournings that spread beyond the mere force builded; or about that town that was the first capitol of this new land, or this portion of same. And among the activities there are many of those things being reconstructed, re-enacted, that will be not only of physical interest but will, with the application of the abilities within self, recall to the entity many of the associations that the entity had with the peoples of the land (native). While the entity did not go what is proverbially called “native” in the experience, the associations were such, with those that acted in the capacity of the spiritual leaders (or with what were termed the medicine men of the period), and with those that later attempted to set themselves as leaders of this people, that the entity made friends both with the natives and the colonists, aiding the colonists in the period to establish better relations; in the name then Edward Compton, a distant family name even that may be found among those that sojourned in the peninsula land of that portion of the country.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở vùng đất khai sinh, và quanh những nơi chốn, những dân tộc, nơi có các đợt định cư đầu tiên—và những cuộc lữ trú đầu tiên lan rộng ra ngoài lực lượng thuần túy được xây dựng; hoặc quanh thị trấn từng là kinh đô đầu tiên của miền đất mới này, hay phần đất ấy. Và giữa những hoạt động ở đó, có nhiều điều đang được tái thiết, tái hiện, không chỉ có ý nghĩa vật chất mà—với việc ứng dụng các khả năng sẵn có—sẽ gợi lại cho thực thể nhiều mối liên hệ mà y đã có với các dân bản địa. Dẫu thực thể không trở thành “bản địa” theo nghĩa tục ngữ trong kinh nghiệm ấy, nhưng các mối giao du với những người đóng vai trò là các lãnh đạo tinh thần (hay những người được gọi là thầy thuốc của thời đó), và với những kẻ sau này tìm cách tự lập mình làm lãnh đạo dân tộc này, khiến thực thể kết thân được với cả thổ dân lẫn dân định cư, giúp dân định cư khi ấy thiết lập các mối quan hệ tốt hơn; khi đó y mang tên Edward Compton, một họ xa mà thậm chí còn có thể được tìm thấy giữa những người đã lữ trú nơi vùng đất bán đảo thuộc phần đất nước ấy.

The entity lost and gained through the experience; gained in the application of self for the benefiting of those with whom the entity sojourned, and the natives also whom the entity aided in making better cooperative relationships in the activities of the people of the period and time. The entity aided in establishing such relationships that there was the trading of the native peoples in distant lands. One particular period of interest, that may be noted in history, was when the entity aided in bringing to the peoples corn from the western portion of their native land, that sustained those peoples through a very bad period.

Thực thể vừa mất vừa được qua kinh nghiệm ấy; được—nhờ áp dụng tự thân—cho lợi ích của những người mà y cùng lữ trú, và cả những thổ dân mà y giúp đỡ trong việc tạo lập các mối quan hệ hợp tác tốt hơn trong các hoạt động của dân chúng thời ấy. Thực thể đã hỗ trợ thiết lập những mối quan hệ khiến có sự buôn bán của các bộ tộc thổ dân với những miền đất xa. Một thời đoạn đặc biệt đáng chú ý—có thể ghi lại trong sử—là khi thực thể giúp mang bắp từ phần phía tây của quê hương họ về cho dân chúng, nhờ đó họ cầm cự qua một giai đoạn rất khắc nghiệt.

From that period there is the influence oft in the present in those activities when studies of those peoples are the experience of the entity, and there are both confusing and constructive influences. Yet, when about many of a mediumistic turn, many of those with whom the entity engaged in life and activity would attempt to speak to the entity; especially one that termed himself Big Rock, Black Rock.

Từ thời đoạn đó, thường xuyên có ảnh hưởng trong hiện tại vào những hoạt động khi việc nghiên cứu về những dân này là trải nghiệm của thực thể, và vừa có ảnh hưởng gây rối vừa có ảnh hưởng xây dựng. Tuy nhiên, khi ở quanh nhiều người có khuynh hướng đồng tử, nhiều người trong số những kẻ cùng y dấn thân vào đời sống và hoạt động sẽ tìm cách nói chuyện với y; đặc biệt có một người tự xưng là Tảng Đá Lớn, Đá Đen.

Before this we find the entity was during that period when there were the returnings of those peoples in the land now called Greece, from the rebellions that had been active in Mesopotamia and in the regions about what is known as Turkey and those lands; during those periods of Xenophon’s activities and those wars.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở trong thời kỳ có sự hồi hương của những dân ở miền đất nay gọi là Hy Lạp, sau các cuộc nổi dậy từng diễn ra tại vùng Lưỡng Hà và các khu vực quanh nơi được biết là Thổ Nhĩ Kỳ và những xứ sở ấy; trong những thời kỳ hoạt động của Xenophon và các cuộc chiến ấy.

The entity was among the few of these natives, strong in body, purposeful in intent, to return to the native land; and the entity gained through the experience but lost in the latter portion of the sojourn when returning to the native land, when power was entrusted in the activities of the entity; and while the purposefulness was correct, there arose those that distrusted and brought contentions by the accusations brought against the entity, in the name Xerxion. Then Xerxion lost in faith in his fellow man, and the faith in the purposefulness of those that were attributing to the gods, or the powers and forces as they were named and termed, the elements to maintain the equilibrium. Hence in that the entity lost, and in the present—while there are those abilities in self to lead for a purposefulness in its activity, too oft has the entity become discouraged when accusations of unkind things were brought, or when experiences made for the losing of confidences in friends and associates it has made discouragements too easily in the experience in the present. This (in passing, may be said) is a test period for the entity in its relationship, particularly. Hence the entity should turn to the abilities within and find self first, knowing in what, in whom the entity has believed; knowing He is able to keep that which is committed unto Him against any experience that may arise in the lives or activities of those who are His loved ones, His chosen. Who has He chosen? They that do His biddings. What are His biddings? Love the Lord thy God with all thine heart (and thy God meaning Him that in Spirit is the Creative Forces of all that is manifested), keeping self unspotted from the world or any smirch of activity, and loving thy neighbor, thy brother, as thine self. These will make for the relieving of all those influences in the experience, and bring harmony, peace, joy, understanding, in the experience of the entity; and will enable the entity to not only study, not only to understand, but—best of all—to comprehend from what source many of those influences arise, as we will see has to do upon the mental body of the entity, and become active oft in the physical forces or the physical activities through their nerve reflexes in a material body.

Thực thể thuộc số ít những người bản xứ, cường tráng về thân, có mục đích nơi ý định, trở về quê hương; và y đã được—qua kinh nghiệm—nhưng lại mất trong phần cuối cuộc lữ trú khi trở về quê nhà, khi quyền lực được giao phó vào hoạt động của y; và dẫu mục đích là đứng đắn, vẫn nổi lên những kẻ bất tín và đưa đến hiềm khích bởi các cáo buộc chống lại y, khi ấy mang tên Xerxion. Rồi Xerxion đã đánh mất niềm tin nơi đồng loại, và niềm tin nơi tính mục đích của những kẻ đang gán cho các thần linh, hay cho những quyền năng và lực lượng như chúng được gọi, các yếu tố để duy trì quân bình. Do đó, trong điều ấy y đã mất; và trong hiện tại—dù có những năng lực trong chính mình để dẫn dắt cho một mục đích trong hoạt động—quá thường khi thực thể trở nên nản chí khi bị mang tiếng những điều thiếu nhân ái, hoặc khi những trải nghiệm khiến y đánh mất niềm tin nơi bạn bè và cộng sự, điều ấy đã làm nản chí quá dễ dàng trong kinh nghiệm hiện tại. Đây (nói thêm) là một giai đoạn thử thách đối với thực thể trong các mối liên hệ của y, đặc biệt là. Vì thế y nên quay vào khả năng bên trong và trước hết tìm lại chính mình, biết rõ mình tin vào điều chi, vào ai; biết rằng Ngài có thể gìn giữ điều được phó thác cho Ngài trước mọi trải nghiệm có thể nảy sinh trong đời sống hay hoạt động của những ai là người yêu dấu của Ngài, kẻ được Ngài chọn. Ngài chọn ai? Những kẻ làm theo điều Ngài truyền. Ngài truyền điều gì? Hãy yêu Chúa là Đức Chúa Trời của ngươi hết lòng ngươi (mà Chúa của ngươi, với nghĩa là Đấng trong Tinh thần chính là các Lực Sáng tạo của mọi điều được biểu lộ), giữ mình khỏi mọi vết nhơ của đời hay bất kỳ vết ô nào của hành động, và yêu người lân cận, huynh đệ của ngươi như chính mình. Những điều này sẽ khiến mọi ảnh hưởng trong kinh nghiệm được giải tỏa, và mang lại hòa điệu, bình an, hoan lạc, thấu hiểu trong kinh nghiệm của thực thể; và sẽ khiến thực thể không chỉ học, không chỉ hiểu, mà—tốt nhất là—thấu đạt nguồn gốc từ đâu mà rất nhiều những ảnh hưởng ấy dấy lên, như chúng ta sẽ thấy có liên quan đến thể trí của thực thể, và thường hoạt hóa trong các mãnh lực hay hoạt động thể chất qua những phản xạ thần kinh trong một thân thể vật chất.

Before this we find the entity was in that land now known as the Egyptian, during that period when there was the returning of those that had been astrayed through the sending away of the priest of the land.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở nơi nay gọi là Ai Cập, trong thời kỳ có sự hồi quy của những kẻ đã lầm đường lạc lối do lệnh đày ải vị tư tế của xứ sở.

The entity was among those that were banished with the priest, being with the priest Ra-Ta in the association and in the activities of gathering together the tenets that the scribe—in a way; rather the one gathering the data than one scribing or protecting the data—collected. The entity aided the priest specifically in some of the associations and connections with those of the temple gatherers to whom the priest gave heart and mind; and for the act among those the entity was severely punished when banished by the natives, rather than the king. Yet, being healed by the priest in the foreign land, the entity came again into Egypt when there was the re-establishing, and aided in rebuilding the temples of service; being active then in what today would be called the preparations for those things that kept the cleansings of the temple after use of individual in body, or as a caretaker (termed in the present) of offices, temples, churches or buildings. Then the entity was in the name Pth-Lerr. The entity gained and gained, and much that is suffered in body is as a bringing to bear of that which may make the mental contact with the tenets of the experience.

Thực thể thuộc số những người bị đày cùng vị tư tế, đồng hành với tư tế Ra-Ta trong mối liên hệ và các hoạt động gom góp các giáo điều mà vị ký lục—theo một nghĩa; đúng hơn là người thu thập dữ liệu chứ không phải người chép hay gìn giữ dữ liệu—đã thu thập. Thực thể đã trợ giúp vị tư tế một cách đặc biệt trong vài mối liên hệ và kết nối với những người chuyên thu thập cho đền thờ mà vị tư tế dốc lòng và trí; và vì hành động giữa những người ấy, thực thể đã bị trừng phạt nặng khi bị người bản địa đày ải, chứ không phải bởi nhà vua. Tuy nhiên, được vị tư tế chữa lành ở đất khách, thực thể trở lại Ai Cập khi có sự tái lập, và trợ giúp xây dựng lại các đền phục vụ; khi ấy hoạt động trong những gì ngày nay gọi là các chuẩn bị cho những điều giữ sạch đền sau khi cá nhân sử dụng thân thể, hay như một người trông nom (theo cách gọi hiện tại) các công sở, đền đài, nhà thờ hay công trình. Khi đó thực thể mang tên Pth-Lerr. Thực thể được và được, và nhiều điều nay thân thể chịu là như sự dồn lực của cái có thể tạo lập tiếp xúc trí tuệ với các giáo điều của kinh nghiệm.

One might ask (this aside, please), why would such be brought to bear? Because, with the experience of the entity in the period, seeing the developments and the activities, there was set within the soul that desire: “Come what may, whatever is necessary in my whole experience of my soul, make me to know again the joys of the tenets of Ra-Ta.”

Có thể có người hỏi (xin phép nói ngoài lề), vì sao lại đem những điều như vậy đến? Bởi với kinh nghiệm của thực thể trong thời kỳ ấy, chứng kiến các phát triển và hoạt động, đã được khắc vào linh hồn ước nguyện này: “Dầu có ra sao, bất cứ điều gì cần thiết trong trọn kinh nghiệm của linh hồn tôi, xin cho tôi lại được biết niềm vui của các giáo điều của Ra-Ta.”

In the present these may mean much, if they are builded for a soul development in the present; for these needs be to overcome those experiences in the sojourn just previous in the Atlantean land.

Trong hiện tại, những điều ấy có thể có ý nghĩa rất lớn, nếu được xây dựng cho sự phát triển của linh hồn hiện tiền; vì cần phải vượt thắng những trải nghiệm trong cuộc lữ trú ngay trước đó tại xứ Atlantis.

Before this we find the entity in the Atlantean land rather rebelled with those forces of Baalilal, with those activities in the electrical appliances, when these were used by those peoples to make for beautiful buildings without but temples of sin within.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở xứ Atlantis đã phần nào nổi loạn với các lực của Baalilal, với những hoạt động trong các thiết bị điện lực, khi những thứ này được người ta dùng để xây những tòa nhà tuyệt mỹ bên ngoài nhưng là các đền của tội lỗi bên trong.

The entity, in the name Saail, was a priest (demoted) in the Temple of Oz in Atlantis, and lost from soul development, gained from material things; yet these fade, these make raids upon the body in physical manifestations. These make for hindrances in activity in that known within the innate self. For, rather were the mysteries of the black arts as applied in the experience practiced by Saail, yet these in the present may be turned into account in material things in making material connections; but use or apply same in the experience rather in the mental and spiritual manner for the soul development of the entity, rather than for materiality in the present. These are weaknesses, then, yet weakness is only strength misapplied or used in vain ways.

Thực thể, với tên Saail, là một tư tế (bị giáng cấp) trong Đền Oz ở Atlantis, và đã mất về phương diện phát triển linh hồn, được về phương diện vật chất; nhưng những thứ ấy phai tàn, và chúng tàn phá thân thể qua các biểu hiện vật chất. Chúng cản trở hoạt động trong điều vốn được biết ở nơi tự thân bẩm sinh. Bởi lẽ, Saail đã hành trì những huyền bí của hắc thuật trong kinh nghiệm, tuy vậy trong hiện tại có thể chuyển những điều ấy thành lợi ích trong các vấn đề vật chất khi kết nối vật chất; nhưng hãy dùng hay áp dụng điều ấy trong kinh nghiệm theo chiều hướng trí tuệ và tinh thần cho sự phát triển linh hồn của thực thể, hơn là cho vật chất trong hiện tại. Những điều này là yếu kém, và yếu kém chỉ là sức mạnh bị dùng sai chỗ hay phung phí.

Before this we find the entity was in that land that has been termed Zu, or Lemuria, or Mu. This was before the sojourn of peoples in perfect body form; rather when they may be said to have been able to—through those developments of the period—be in the body or out of the body and act upon materiality. In the spirit or in flesh these made those things, those influences, that brought destruction; for the atmospheric pressure in the earth in the period was quite different from that experienced by the physical being of today.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở miền đất đã được gọi là Zu, hay Lemuria, hay Mu. Đây là trước thời kỳ nhân loại lữ trú trong dạng thân thể hoàn chỉnh; đúng hơn là khi có thể nói rằng, qua những phát triển của thời kỳ, họ có thể—ở trong thân hay ngoài thân—tác động lên vật chất. Trong tinh thần hay trong xác phàm, những điều này đã tạo nên các sự vật, những ảnh hưởng, dẫn đến hủy diệt; vì áp suất khí quyển trên Trái Đất khi ấy khác xa so với điều mà con người ngày nay trải nghiệm.

The entity then was in the name Mmuum, or rather those calls that make easy the mysteries of words as related to sounds and rote that bring to the consciousness, in those that have indwelled in those lands, that activity that merits (not the word), that brings, that impulse that urges that those forces from without act upon the elements in whatever sphere they may bring a material manifestation. This must be controlled within self, from those influences in [436]; for these are those things at times that hinder.

Khi đó thực thể mang tên Mmuum, hay đúng hơn là những tiếng gọi khiến các huyền nhiệm của ngôn từ—liên quan đến âm và niệm—trở nên dễ dàng, những tiếng gọi đưa đến tâm thức, nơi những kẻ từng cư ngụ tại các miền đất ấy, hoạt động đưa đến (không hẳn là từ này) xứng công, cái mang đến, cái xung động thúc bách để những lực từ bên ngoài tác động lên các nguyên tố trong bất kỳ tầng giới nào chúng có thể đưa ra một biểu hiện vật chất. Điều này phải được khắc chế bên trong tự thân, từ những ảnh hưởng nơi [436]; vì đó là những điều đôi khi gây cản trở.

Let self, then, be grounded rather in the faith of that which is, was, and ever will be, the source of all spirit, all thought all mind, all physical manifestation—the one God, as called in this period. In that period he was called Zu-u-u-u-u; in the next Ohm—Oh-u-m; in the next (now known as Egypt) with Ra-Ta, He was called God—G-o-r-r-d!

Vậy, hãy đặt nền mình trong đức tin nơi cái là, cái đã là, và cái sẽ mãi là, cội nguồn của mọi tinh thần, mọi tư tưởng, mọi thể trí, mọi biểu hiện vật chất—Đấng Thượng đế duy nhất, như được gọi trong thời này. Ở thời ấy, Ngài được gọi là Zu-u-u-u-u; kế đó là Ôm—Ô-u-m; kế nữa (nay biết là Ai Cập) cùng với Ra-Ta, Ngài được gọi là Chúa—G-o-r-r-d!

As to the abilities of the entity, and that to which it may attain, and how, in the present:

Về các năng lực của thực thể, và điều y có thể đạt tới, cũng như cách thức, trong hiện tại:

First it may be said, study—through that known in self of the spiritual and mental forces active in the experience of the body—to show self approved unto an ideal that is set in the Son, the Christ, knowing that in possessing the consciousness of His love, His manifestation, all is well; for, as is known, without that love as He manifested among men, nothing can, nothing did, nothing will come into consciousness of matter. Not that we may deny evil and banish it, but supplanting and rooting out evil in the experience, replacing same with the love that is in the consciousness of the body Jesus, the Christ, we may do all things in His name; and using those opportunities in whatsoever sphere of activity the entity may find to show forth those commands He gave, “If ye love me, keep my commandments.” What, ye ask, are His commandments? “A new commandment give I unto you, that ye love one another.” What, then, are the fruits of love? The fruits of the spirit; which are kindness, hope, fellowship, brotherly love, friendship, patience; these are the fruits of the spirit; these are the commands of Him that ye manifest them in whatsoever place ye find yourself, and your soul shall grow in grace, in knowledge, in understanding, and that joy that comes with a perfect knowledge in Him brings the joys of earth, the joys of the mental mind, or joys of the spheres, and the glory of the Father in thine experience.

Trước hết có thể nói, hãy học—thông qua điều đã biết nơi mình về các mãnh lực tinh thần và trí tuệ đang hoạt hóa trong kinh nghiệm của thân—để tỏ mình được chấp thuận trước một lý tưởng đặt nơi Con, Đức Christ, biết rằng khi sở hữu tâm thức về Tình thương của Ngài, về biểu hiện của Ngài, mọi sự đều ổn; vì, như đã biết, không có Tình thương ấy như Ngài đã biểu hiện giữa loài người, thì không có gì có thể, không có gì đã, không có gì sẽ đi vào tâm thức của vật chất. Không phải chúng ta có thể phủ nhận ác và đuổi nó đi, nhưng bằng cách thay thế và nhổ bật ác ra khỏi kinh nghiệm, đặt vào đó Tình thương vốn ở trong tâm thức của thân thể Đức Jesus, Đức Christ, chúng ta có thể làm mọi sự nhân Danh Ngài; và dùng những cơ hội trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào mà thực thể có thể gặp để tỏ ra những điều Ngài đã truyền: “Nếu các ngươi yêu Ta, hãy giữ các điều răn của Ta.” Các ngươi hỏi, điều răn của Ngài là gì? “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, ấy là các ngươi yêu thương nhau.” Vậy, hoa trái của Tình thương là gì? Hoa trái của Thần Linh; tức là nhân hậu, hy vọng, hiệp thông, tình huynh đệ, tình bạn hữu, kiên nhẫn; đó là hoa trái của Thần Linh; đó là các điều răn của Ngài rằng các ngươi biểu lộ chúng ở bất cứ nơi nào các ngươi thấy mình hiện diện, và linh hồn các ngươi sẽ lớn lên trong ân điển, trong hiểu biết, trong thấu đạt, và niềm vui đi kèm với tri thức trọn vẹn trong Ngài sẽ mang đến hoan lạc của trần gian, hoan lạc của trí tuệ, hay hoan lạc của các tầng giới, và vinh quang của Cha trong kinh nghiệm của ngươi.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) When will adverse planetary change for better influences in my life?

(H) Khi nào sự thay đổi hành tinh bất lợi sẽ chuyển thành những ảnh hưởng tốt hơn trong đời tôi?

(A) As indicated, the receding of Mars brings, and has brought, better planetary influences; as the mental activities and applications in the light of the love in Christ brings with those activities in the coming closer and closer of Venus with Uranus; which begins in December, present year, for the approach, reaching nearer conjunction in May or June of the coming year better conditions, mentally, materially, financially.

(Đ) Như đã chỉ ra, sự lùi xa của Sao Hỏa mang lại, và đã mang lại, các ảnh hưởng hành tinh tốt hơn; cũng như các hoạt động trí tuệ và việc ứng dụng trong ánh sáng của Tình thương trong Đức Christ mang đến, cùng với những hoạt động đó, việc Sao Kim đến gần hơn và gần hơn với Sao Thiên Vương; điều này bắt đầu vào tháng Mười Hai, năm nay, cho cuộc tiếp cận, đạt đến gần giao hội hơn vào tháng Năm hay tháng Sáu của năm tới—những điều kiện tốt hơn về mặt trí tuệ, vật chất, tài chính.

(Q) What is the main purpose of this incarnation?

(H) Mục đích chính của lần nhập thể này là gì?

(A) To set self aright as respecting the variations in those tenets in the first two experiences in the sojourn, tempered in those tenets given in Ra-Ta—that, “The Lord Thy God is One!” And manifesting of that oneness in the little things makes the soul grow in His grace!

(Đ) Để chỉnh đốn chính mình liên quan đến các biến thiên trong những giáo điều ở hai kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc lữ trú, được tiết chế bởi các giáo điều đã được ban qua Ra-Ta—rằng, “Chúa là Đức Chúa Trời của ngươi là Một!” Và biểu lộ sự Nhất ấy trong những điều nhỏ bé khiến linh hồn lớn lên trong Ân điển của Ngài!

[Questions eliminated from original reading by request: (Q) Where and in what manner have I been previously associated with Miss [524]?

[Các câu hỏi bị loại khỏi bản đọc gốc theo yêu cầu: (H) Tôi đã từng liên hệ trước đây với Cô [524] ở đâu và theo cách nào?

(A) Mu. In Mu. Not so good. An association again in Virginia. [2/26/34 He obtained 524-1.]

(Đ) Mu. Ở Mu. Không được tốt lắm. Sẽ có một mối liên hệ nữa ở Virginia. [2/26/34 Anh ta đã nhận được 524-1.]

(Q) With Mrs. [Mother of Miss [524]]?

(H) Còn với Bà [Mẹ của Cô [524]]?

(A) Better Associations, here in Egypt.]

(Đ) Những mối liên hệ tốt hơn, ở đây tại Ai Cập.]

We are through for the present.

Hiện tại chúng tôi tạm xong.