← Autobiography of a Yogi (used) song ngữ_split

Table of Contents

Table of Contents

Mục Lục

Title Page

Trang Nhan Đề

Copyright Page

Trang Bản Quyền

The Spiritual Legacy of Paramahansa Yogananda

Di Sản Tinh Thần của Paramahansa Yogananda

Dedication

Đề Tặng

Author’s Acknowledgments

Lời Cảm Tạ của Tác Giả

Contents

Nội Dung

Illustrations

Minh Họa

Preface

Lời Nói Đầu

Introduction

Giới Thiệu

1. My Parents and Early Life

1. Cha Mẹ Tôi và Thời Niên Thiếu

2. My Mother’s Death and the Mystic Amulet

2. Cái Chết của Mẹ Tôi và Lá Bùa Thần Bí

3. The Saint With Two Bodies

3. Vị Thánh Có Hai Thân Thể

4. My Interrupted Flight Toward the Himalayas

4. Chuyến Bay Bị Gián Đoạn của Tôi Hướng Về Dãy Himalaya

5. A “Perfume Saint” Displays His Wonders

5. Một “Vị Thánh Hương Thơm” Phô Bày Những Điều Kỳ Diệu của Mình

6. The Tiger Swami

6. Swami Cọp

7. The Levitating Saint

7. Vị Thánh Bay Lơ Lửng

8. India’s Great Scientist, J. C. Bose

8. Nhà khoa học vĩ đại của Ấn Độ, J. C. Bose

9. The Blissful Devotee and His Cosmic Romance

9. Người sùng tín chí phúc và mối tình vũ trụ của ông

10. I Meet My Master, Sri Yukteswar

10. Tôi gặp Chân sư của tôi, Sri Yukteswar

11. Two Penniless Boys in Brindaban

11. Hai cậu bé không xu dính túi ở Brindaban

12. Years in My Master’s Hermitage

12. Những năm tháng trong ẩn thất của Chân sư tôi

13. The Sleepless Saint

13. Vị thánh không ngủ

14. An Experience in Cosmic Consciousness

14. Một trải nghiệm trong tâm thức vũ trụ

15. The Cauliflower Robbery

15. Vụ trộm súp lơ

16. Outwitting the Stars

16. Vượt qua các vì sao

17. Sasi and the Three Sapphires

17. Sasi và ba viên ngọc bích

18. A Mohammedan Wonder-Worker

18. Một người Hồi giáo làm phép lạ

19. My Master, in Calcutta, Appears in Serampore

19. Chân sư tôi, ở Calcutta, hiện ra tại Serampore

20. We Do Not Visit Kashmir

20. Chúng tôi không đến thăm Kashmir

21. We Visit Kashmir

21. Chúng tôi đến thăm Kashmir

22. The Heart of a Stone Image

22. Trái tim của một pho tượng đá

23. I Receive My University Degree

23. Tôi nhận bằng đại học

24. I Become a Monk of the Swami Order

24. Tôi trở thành tu sĩ thuộc dòng Swami

25. Brother Ananta and Sister Nalini

25. Huynh Ananta và tỷ Nalini

26. The Science of Kriya Yoga

26. Khoa học Kriya Yoga

27. Founding a Yoga School in Ranchi

27. Thành lập một trường Yoga ở Ranchi

28. Kashi, Reborn and Discovered

28. Kashi, tái sinh và được tìm thấy

29. Rabindranath Tagore and I Compare Schools

29. Rabindranath Tagore và tôi so sánh các trường học

30. The Law of Miracles

30. Định luật của các phép lạ

31. An Interview With the Sacred Mother

31. Một cuộc phỏng vấn với Thánh Mẫu

32. Rama Is Raised From the Dead

32. Rama được làm cho sống lại từ cõi chết

33. Babaji, Yogi-Christ of Modern India

33. Babaji, Yogi-Christ của Ấn Độ hiện đại

34. Materializing a Palace in the Himalayas

34. Hiện hình một cung điện ở Himalaya

35. The Christlike Life of Lahiri Mahasaya

35. Cuộc đời giống Đức Christ của Lahiri Mahasaya

36. Babaji’s Interest in the West

36. Sự quan tâm của Babaji đối với phương Tây

37. I Go to America

37. Tôi đi Mỹ

38. Luther Burbank — A Saint Amid the Roses

38. Luther Burbank — Một vị thánh giữa những đóa hồng

39. Therese Neumann, the Catholic Stigmatist

39. Therese Neumann, người Công giáo mang dấu thánh

40. I Return to India

40. Tôi trở về Ấn Độ

41. An Idyl in South India

41. Một khúc điền viên ở Nam Ấn

42. Last Days With My Guru

42. Những ngày cuối cùng bên Guru của tôi

43. The Resurrection of Sri Yukteswar

43. Sự phục sinh của Sri Yukteswar

44. With Mahatma Gandhi at Wardha

44. Cùng Mahatma Gandhi tại Wardha

45. The Bengali “Joy-Permeated Mother”

45. “Người Mẹ thấm đẫm hoan hỉ” xứ Bengal

46. The Woman Yogi Who Never Eats

46. Nữ yogi không bao giờ ăn

47. I Return to the West

47. Tôi trở lại phương Tây

48. At Encinitas in California

48. Tại Encinitas ở California

49. The Years 1940 – 1951

49. Những năm 1940 – 1951

Paramahansa Yogananda: A Yogi in Life and Death

Paramahansa Yogananda: Một yogi trong sự sống và cái chết

Additional Resources on the Kriya Yoga Teachings of Paramahansa Yogananda

Các nguồn tài liệu bổ sung về giáo lý Kriya Yoga của Paramahansa Yogananda

Self-Realization Fellowship Lessons

Các bài học của Self-Realization Fellowship

Other Books by Paramahansa Yogananda

Các sách khác của Paramahansa Yogananda

Audio Recordings of Paramahansa Yogananda

Các bản ghi âm của Paramahansa Yogananda

Other Publications From Self-Realization Fellowship

Các ấn phẩm khác của Self-Realization Fellowship

The Line of Gurus

Dòng truyền các Guru

Aims and Ideals of Self-Realization Fellowship

Mục tiêu và lý tưởng của Self-Realization Fellowship

Index

Mục lục tra cứu

Title Page – Trang nhan đề

Copyright © 1946 Paramahansa Yogananda

Bản quyền © 1946 Paramahansa Yogananda

(renewed 1974 Self-Realization Fellowship);

(gia hạn năm 1974 bởi Self-Realization Fellowship);

© 1981, 1998, 2007 Self-Realization Fellowship

© 1981, 1998, 2007 Self-Realization Fellowship

All rights in this digital edition of

Mọi quyền đối với ấn bản kỹ thuật số này của

Autobiography of a Yogi

Tự truyện của một Yogi

are reserved by Self-Realization Fellowship.

đều do Self-Realization Fellowship bảo lưu.

Notice to the Reader

Thông báo gửi độc giả

Subject only to any conditions established by the distributor from which you obtained this book, Self-Realization Fellowship welcomes you to download this edition onto any number of your own devices for your individual, non-commercial use; and to print excerpts for your own reference.

Chỉ tùy thuộc vào bất kỳ điều kiện nào do nhà phân phối nơi các bạn nhận được sách này thiết lập, Self-Realization Fellowship hoan nghênh các bạn tải ấn bản này xuống bất kỳ số lượng thiết bị cá nhân nào của mình để sử dụng riêng, phi thương mại; và in các đoạn trích để tham khảo riêng.

Kindly note, however, that upon acquiring this edition the reader agrees to abide by applicable national and international copyright laws; and to abstain from distributing, reproducing, or transmitting the contents to other individuals or entities, by any means (electronic, mechanical, or otherwise) without the publisher’s prior written consent. We appreciate your cooperation in respecting the author’s work and in helping to preserve its integrity by upholding these principles.

Tuy nhiên, xin lưu ý rằng khi nhận ấn bản này, độc giả đồng ý tuân thủ các luật bản quyền quốc gia và quốc tế hiện hành; đồng thời tránh phân phối, sao chép hoặc truyền tải nội dung cho các cá nhân hay thực thể khác, bằng bất kỳ phương tiện nào (điện tử, cơ học hoặc cách khác) nếu không có sự chấp thuận trước bằng văn bản của nhà xuất bản. Chúng tôi trân trọng sự hợp tác của các bạn trong việc tôn trọng tác phẩm của tác giả và giúp gìn giữ tính toàn vẹn của tác phẩm bằng cách tuân giữ những nguyên tắc này.

Thank you for supporting our non-profit publishing endeavors in connection with the legacy of Paramahansa Yogananda.

Xin cảm ơn các bạn đã ủng hộ những nỗ lực xuất bản phi lợi nhuận của chúng tôi liên quan đến di sản của Paramahansa Yogananda.

Authorized by the International Publications Council of

Được Hội đồng Ấn phẩm Quốc tế của

SELF-REALIZATION FELLOWSHIP

SELF-REALIZATION FELLOWSHIP

3880 San Rafael Avenue

3880 San Rafael Avenue

Los Angeles, California 90065-3219

Los Angeles, California 90065-3219

The Self-Realization Fellowship name and emblem (shown above) appear on all SRF books, recordings, and other publications, as an assurance that a work originates with the society established by Paramahansa Yogananda and faithfully conveys his teachings.

Tên gọi và biểu tượng của Self-Realization Fellowship (hiển thị ở trên) xuất hiện trên tất cả sách, bản ghi âm và các ấn phẩm khác của SRF, như một bảo chứng rằng tác phẩm xuất phát từ hội do Paramahansa Yogananda thành lập và truyền đạt trung thành giáo lý của Ngài.

Thirteenth edition, 1998. Ebook edition, 2019.

Ấn bản thứ mười ba, 1998. Ấn bản sách điện tử, 2019.

Autobiography of a Yogi has been published in English, Assamese, Bengali, Gujarati, Hindi, Kannada, Marathi, Malayalam, Nepali, Odia, Punjabi, Sanskrit, Tamil, Telugu, Urdu, Albanian, Arabic, Armenian, Bulgarian, Chinese, Croatian, Danish, Dutch, Estonian, Farsi, Filipino, Finnish, French, German, Greek, Hebrew, Hungarian, Icelandic, Indonesian, Italian, Japanese, Kazakh, Korean, Latvian, Lithuanian, Norwegian, Polish, Portuguese, Romanian, Russian, Serbian, Spanish, Swedish, Thai, Turkish, Ukrainian, and Vietnamese.

Tự truyện của một Yogi đã được xuất bản bằng tiếng Anh, Assamese, Bengal, Gujarati, Hindi, Kannada, Marathi, Malayalam, Nepal, Odia, Punjabi, Sanskrit, Tamil, Telugu, Urdu, Albania, Ả Rập, Armenia, Bulgaria, Trung Quốc, Croatia, Đan Mạch, Hà Lan, Estonia, Farsi, Filipino, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hebrew, Hungary, Iceland, Indonesia, Ý, Nhật, Kazakh, Hàn Quốc, Latvia, Lithuania, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Nga, Serbia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraina và Việt Nam.

Audiobook editions are available in English, German, and Italian.

Các ấn bản sách nói hiện có bằng tiếng Anh, Đức và Ý.

Library of Congress Catalog Card Number: 80-52927

Số thẻ mục lục Thư viện Quốc hội: 80-52927

ISBN: 978-0-87612-082-8 (hardcover)

ISBN: 978-0-87612-082-8 (bìa cứng)

ISBN: 978-0-87612-083-5 (quality paperback)

ISBN: 978-0-87612-083-5 (bìa mềm chất lượng cao)

ISBN: 978-0-87612-079-8 (paperback)

ISBN: 978-0-87612-079-8 (bìa mềm)

ISBN: 978-0-87612-238-9 (large print)

ISBN: 978-0-87612-238-9 (chữ lớn)

ISBN: 978-0-87612-419-2 e-book (Kindle edition)

ISBN: 978-0-87612-419-2 sách điện tử (ấn bản Kindle)

ISBN: 978-0-87612-420-8 e-book (ePub edition)

ISBN: 978-0-87612-420-8 sách điện tử (ấn bản ePub)

The Spiritual Legacy of – Di sản tinh thần của

Paramahansa Yogananda – Paramahansa Yogananda

His Complete Writings, Lectures, and Informal Talks

Toàn bộ trước tác, bài giảng và những buổi nói chuyện thân mật của Ngài

Paramahansa Yogananda founded Self-Realization Fellowship in 1920 to disseminate his teachings worldwide and to preserve their purity and integrity for generations to come. A prolific writer and lecturer from his earliest years in America, he created a renowned and voluminous body of works on the yoga science of meditation, the art of balanced living, and the underlying unity of all great religions. Today this unique and far-reaching spiritual legacy lives on, inspiring millions of truth-seekers all over the world.

Paramahansa Yogananda thành lập Self-Realization Fellowship vào năm 1920 để truyền bá giáo lý của Ngài trên toàn thế giới và để gìn giữ sự thuần khiết cùng tính toàn vẹn của giáo lý ấy cho các thế hệ mai sau. Là một nhà văn và diễn giả sung mãn ngay từ những năm đầu ở Mỹ, Ngài đã tạo nên một kho tác phẩm nổi tiếng và đồ sộ về khoa học yoga của tham thiền, nghệ thuật sống quân bình, và sự thống nhất nền tảng của mọi tôn giáo lớn. Ngày nay, di sản tinh thần độc đáo và rộng khắp này vẫn tiếp tục sống động, truyền cảm hứng cho hàng triệu người tìm chân lý trên khắp thế giới.

In accord with the express wishes of the great master, Self-Realization Fellowship has continued the ongoing task of publishing and keeping permanently in print The Complete Works of Paramahansa Yogananda. These include not only the final editions of all the books he published during his lifetime, but also many new titles — works that had remained unpublished at the time of his passing in 1952, or which had been serialized over the years in incomplete form in Self-Realization Fellowship’s magazine, as well as hundreds of profoundly inspiring lectures and informal talks recorded but not printed before his passing.

Phù hợp với những nguyện vọng được bày tỏ rõ ràng của vị Chân sư vĩ đại, Self-Realization Fellowship đã tiếp tục nhiệm vụ lâu dài là xuất bản và giữ cho Toàn tập Paramahansa Yogananda luôn có mặt trên thị trường. Những tác phẩm này không chỉ bao gồm các ấn bản cuối cùng của tất cả những cuốn sách Ngài đã xuất bản trong đời, mà còn có nhiều nhan đề mới — những tác phẩm vẫn chưa được xuất bản vào thời điểm Ngài viên tịch năm 1952, hoặc đã được đăng nhiều kỳ qua nhiều năm dưới hình thức chưa trọn vẹn trong tạp chí của Self-Realization Fellowship, cũng như hàng trăm bài giảng và buổi nói chuyện thân mật đầy cảm hứng sâu xa đã được ghi âm nhưng chưa được in trước khi Ngài viên tịch.

Paramahansa Yogananda personally chose and trained those close disciples who formed the Self-Realization Fellowship Publications Council giving them specific guidelines for the preparation and publishing of his teachings. The members of the SRF Publications Council (monks and nuns who have taken lifelong vows of renunciation and selfless service) honor these guidelines as a sacred trust, in order that the universal message of this beloved world teacher will live on in its original power and authenticity.

Paramahansa Yogananda đích thân lựa chọn và đào tạo những đệ tử thân cận đã hình thành Hội đồng Ấn phẩm Self-Realization Fellowship, ban cho họ những chỉ dẫn cụ thể về việc chuẩn bị và xuất bản giáo lý của Ngài. Các thành viên của Hội đồng Ấn phẩm SRF (những nam tu sĩ và nữ tu sĩ đã phát nguyện suốt đời về sự từ bỏ và phụng sự vô vị kỷ) tôn trọng các chỉ dẫn này như một sự phó thác thiêng liêng, để thông điệp phổ quát của vị Đức Chưởng Giáo yêu dấu này sẽ tiếp tục sống động trong quyền năng nguyên thủy và tính xác thực của nó.

The Self-Realization Fellowship emblem (shown above) was designated by Paramahansa Yogananda to identify the nonprofit society he founded as the authorized source of his teachings. The SRF name and emblem appear on all Self-Realization Fellowship publications and recordings, assuring the reader that a work originates with the organization founded by Paramahansa Yogananda and conveys his teachings as he himself intended they be given.

Biểu tượng của Self-Realization Fellowship (hiển thị ở trên) được Paramahansa Yogananda chỉ định để nhận diện hội phi lợi nhuận do Ngài thành lập như nguồn được ủy quyền cho giáo lý của Ngài. Tên gọi và biểu tượng SRF xuất hiện trên tất cả các ấn phẩm và bản ghi âm của Self-Realization Fellowship, bảo đảm với độc giả rằng tác phẩm xuất phát từ tổ chức do Paramahansa Yogananda thành lập và truyền đạt giáo lý của Ngài đúng như chính Ngài đã dự định trao truyền.

— Self-Realization Fellowship

— Self-Realization Fellowship

Dedicated to the Memory of

Kính dâng để tưởng nhớ

LUTHER BURBANK

LUTHER BURBANK

“An American Saint”

“Một vị thánh Mỹ”

Author’s Acknowledgments – Lời tri ân của tác giả

I am deeply indebted to Miss L. V. Pratt [Tara Mata] for her long editorial labors over the manuscript of this book. My thanks are due also to Mr. C. Richard Wright for permission to use extracts from his Indian travel diary. To Dr. W. Y. Evans-Wentz I am grateful not only for his Preface, but also for suggestions and encouragement.

Tôi mang ơn sâu sắc cô L. V. Pratt [Tara Mata] vì công lao biên tập lâu dài của cô đối với bản thảo cuốn sách này. Tôi cũng xin cảm ơn ông C. Richard Wright vì đã cho phép sử dụng các đoạn trích từ nhật ký du hành Ấn Độ của ông. Với tiến sĩ W. Y. Evans-Wentz, tôi biết ơn không chỉ vì Lời tựa của ông, mà còn vì những gợi ý và sự khích lệ.

Paramahansa Yogananda

Paramahansa Yogananda

October 28, 1945

Ngày 28 tháng 10 năm 1945

Contents – Mục lục

List of Illustrations

Danh sách minh họa

Preface, by W. Y. Evans-Wentz

Lời tựa, của W. Y. Evans-Wentz

Introduction

Dẫn nhập

1. My Parents and Early Life

1. Cha mẹ tôi và thời thơ ấu

2. My Mother’s Death and the Mystic Amulet

2. Cái chết của mẹ tôi và lá bùa thần bí

3. The Saint With Two Bodies

3. Vị thánh với hai thân thể

4. My Interrupted Flight Toward the Himalayas

4. Cuộc trốn đi đến Himalaya bị gián đoạn của tôi

5. A “Perfume Saint” Displays His Wonders

5. Một “vị thánh hương thơm” hiển bày các điều kỳ diệu của ông

6. The Tiger Swami

6. Vị Swami hổ

7. The Levitating Saint

7. Vị thánh bay bổng

8. India’s Great Scientist, J. C. Bose

8. Nhà khoa học vĩ đại của Ấn Độ, J. C. Bose

9. The Blissful Devotee and His Cosmic Romance (Master Mahasaya)

9. Người sùng tín chí phúc và mối tình vũ trụ của ông (Master Mahasaya)

10. I Meet My Master, Sri Yukteswar

10. Tôi gặp Chân sư của tôi, Sri Yukteswar

11. Two Penniless Boys in Brindaban

11. Hai cậu bé không xu dính túi ở Brindaban

12. Years in My Master’s Hermitage

12. Những năm tháng trong ẩn thất của Chân sư tôi

13. The Sleepless Saint

13. Vị thánh không ngủ

14. An Experience in Cosmic Consciousness

14. Một trải nghiệm trong tâm thức vũ trụ

15. The Cauliflower Robbery

15. Vụ trộm súp lơ

16. Outwitting the Stars

16. Vượt qua các vì sao

17. Sasi and the Three Sapphires

17. Sasi và ba viên ngọc bích

18. A Mohammedan Wonder-Worker

18. Một người Hồi giáo làm phép lạ

19. My Master, in Calcutta, Appears in Serampore

19. Chân sư tôi, ở Calcutta, hiện ra tại Serampore

20. We Do Not Visit Kashmir

20. Chúng tôi không đến thăm Kashmir

21. We Visit Kashmir

21. Chúng tôi đến thăm Kashmir

22. The Heart of a Stone Image

22. Trái tim của một pho tượng đá

23. I Receive My University Degree

23. Tôi nhận bằng đại học

24. I Become a Monk of the Swami Order

24. Tôi trở thành tu sĩ thuộc dòng Swami

25. Brother Ananta and Sister Nalini

25. Huynh Ananta và tỷ Nalini

26. The Science of Kriya Yoga

26. Khoa học Kriya Yoga

27. Founding a Yoga School in Ranchi

27. Thành lập một trường Yoga ở Ranchi

28. Kashi, Reborn and Discovered

28. Kashi, tái sinh và được tìm thấy

29. Rabindranath Tagore and I Compare Schools

29. Rabindranath Tagore và tôi so sánh các trường học

30. The Law of Miracles

30. Định luật của các phép lạ

31. An Interview With the Sacred Mother (Kashi Moni Lahiri)

31. Một cuộc phỏng vấn với Thánh Mẫu (Kashi Moni Lahiri)

32. Rama Is Raised From the Dead

32. Rama được làm cho sống lại từ cõi chết

33. Babaji, Yogi-Christ of Modern India

33. Babaji, Yogi-Christ của Ấn Độ hiện đại

34. Materializing a Palace in the Himalayas

34. Hiện hình một cung điện ở Himalaya

35. The Christlike Life of Lahiri Mahasaya

35. Cuộc đời giống Đức Christ của Lahiri Mahasaya

36. Babaji’s Interest in the West

36. Sự quan tâm của Babaji đối với phương Tây

37. I Go to America

37. Tôi đi Mỹ

38. Luther Burbank — A Saint Amid the Roses

38. Luther Burbank — Một vị thánh giữa những đóa hồng

39. Therese Neumann, the Catholic Stigmatist

39. Therese Neumann, người Công giáo mang dấu thánh

40. I Return to India

40. Tôi trở về Ấn Độ

41. An Idyl in South India

41. Một khúc điền viên ở Nam Ấn

42. Last Days With My Guru

42. Những ngày cuối cùng bên Guru của tôi

43. The Resurrection of Sri Yukteswar

43. Sự phục sinh của Sri Yukteswar

44. With Mahatma Gandhi at Wardha

44. Cùng Mahatma Gandhi tại Wardha

45. The Bengali “Joy-Permeated Mother” (Ananda Moyi Ma)

45. “Người Mẹ thấm đẫm hoan hỉ” xứ Bengal (Ananda Moyi Ma)

46. The Woman Yogi Who Never Eats

46. Nữ yogi không bao giờ ăn

47. I Return to the West

47. Tôi trở lại phương Tây

48. At Encinitas in California

48. Tại Encinitas ở California

49. The Years 1940–1951

49. Những năm 1940–1951

Paramahansa Yogananda: A Yogi in Life and Death

Paramahansa Yogananda: Một yogi trong sự sống và cái chết

Additional Resources on the Kriya Yoga Teachings of Paramahansa Yogananda

Các nguồn tài liệu bổ sung về giáo lý Kriya Yoga của Paramahansa Yogananda

Self-Realization Fellowship Lessons

Các bài học của Self-Realization Fellowship

Other Books by Paramahansa Yogananda

Các sách khác của Paramahansa Yogananda

Audio Recordings of Paramahansa Yogananda

Các bản ghi âm của Paramahansa Yogananda

Other Publications From Self-Realization Fellowship

Các ấn phẩm khác của Self-Realization Fellowship

The Line of Self-Realization Fellowship Gurus

Dòng truyền các Guru của Self-Realization Fellowship

Aims and Ideals of Self-Realization Fellowship

Mục tiêu và lý tưởng của Self-Realization Fellowship

Index

Mục lục tra cứu

Illustrations – Minh họa

The author (frontispiece)

Tác giả (ảnh đầu sách)

Sri Yogananda’s mother, Gurru (Gyana Prabha) Ghosh

Mẹ của Sri Yogananda, Gurru (Gyana Prabha) Ghosh

Sri Yogananda’s father, Bhagabati Charan Ghosh

Cha của Sri Yogananda, Bhagabati Charan Ghosh

Yoganandaji at age of six

Yoganandaji lúc sáu tuổi

Ananta, Yoganandaji’s elder brother

Ananta, anh trai của Yoganandaji

Yoganandaji’s elder sister Uma as a young girl, Gorakhpur

Chị gái của Yoganandaji, Uma, khi còn nhỏ, Gorakhpur

Sri Yogananda’s sisters: Roma and Nalini

Các chị em gái của Sri Yogananda: Roma và Nalini

Swami Pranabananda, the Banaras “saint with two bodies”

Swami Pranabananda, “vị thánh với hai thân thể” ở Banaras

Swami Kebalananda, Yogananda’s Sanskrit tutor

Swami Kebalananda, gia sư tiếng Sanskrit của Yogananda

Nagendra Nath Bhaduri, “the levitating saint”

Nagendra Nath Bhaduri, “vị thánh bay bổng”

Jagadis Chandra Bose, great Indian scientist

Jagadis Chandra Bose, nhà khoa học vĩ đại của Ấn Độ

Master Mahasaya (Mahendra Nath Gupta)

Master Mahasaya (Mahendra Nath Gupta)

The Divine Mother

Thánh Mẫu

Swami Gyanananda and Sri Yogananda

Swami Gyanananda và Sri Yogananda

Sri Yukteswar, guru of Yogananda

Sri Yukteswar, guru của Yogananda

Sri Yogananda, 1915

Sri Yogananda, 1915

Lord Krishna, India’s greatest prophet

Đức Krishna, vị tiên tri vĩ đại nhất của Ấn Độ

Jitendra Mazumdar, companion in Brindaban

Jitendra Mazumdar, bạn đồng hành ở Brindaban

Sri Yukteswar Meditation Temple, Serampore

Đền Tham thiền Sri Yukteswar, Serampore

Ram Gopal Muzumdar, the “sleepless saint”

Ram Gopal Muzumdar, “vị thánh không ngủ”

Sri Yukteswar in lotus posture

Sri Yukteswar trong tư thế hoa sen

Sri Yukteswar’s seaside ashram, Puri, Orissa

Ashram bên bờ biển của Sri Yukteswar, Puri, Orissa

Yoganandaji at age of sixteen

Yoganandaji lúc mười sáu tuổi

The Lord as Shiva, “King of Yogis”

Đức Chúa Tể trong hình tướng Shiva, “Vua của các Yogi”

International Headquarters, Self-Realization Fellowship/Yogoda Satsanga Society of India

Trụ sở Quốc tế, Self-Realization Fellowship/Yogoda Satsanga Society of India

Sri Rajarsi Janakananda, past president (1952–55), SRF/YSS

Sri Rajarsi Janakananda, cựu chủ tịch (1952–55), SRF/YSS

Sri Daya Mata, past president (1955–2010), SRF/YSS

Sri Daya Mata, cựu chủ tịch (1955–2010), SRF/YSS

Sri Mrinalini Mata, past president (2011–2017), SRF/YSS

Sri Mrinalini Mata, cựu chủ tịch (2011–2017), SRF/YSS

Yoganandaji and his cousin, Prabhas Chandra Ghosh

Yoganandaji và em họ của Ngài, Prabhas Chandra Ghosh

Sri Yogananda’s family home, Calcutta

Nhà gia đình của Sri Yogananda, Calcutta

Sri Jagadguru Shankaracharya at SRF/YSS headquarters, 1958

Sri Jagadguru Shankaracharya tại trụ sở SRF/YSS, 1958

Sri Daya Mata in divine communion

Sri Daya Mata trong sự hiệp thông thiêng liêng

A Westerner in samadhi — Sri Rajarsi Janakananda (Mr. J. J. Lynn)

Một người phương Tây trong samadhi — Sri Rajarsi Janakananda (ông J. J. Lynn)

Yogoda Branch Math and Ashram, Ranchi

Yogoda Branch Math and Ashram, Ranchi

Kashi, student at Ranchi school

Kashi, học sinh tại trường Ranchi

Rabindranath Tagore

Rabindranath Tagore

Shankari Mai Jiew, disciple of Trailanga Swami

Shankari Mai Jiew, đệ tử của Trailanga Swami

Lahiri Mahasaya

Lahiri Mahasaya

Mahavatar Babaji, guru of Lahiri Mahasaya

Mahavatar Babaji, guru của Lahiri Mahasaya

Cave occasionally occupied by Mahavatar Babaji

Hang động thỉnh thoảng được Mahavatar Babaji cư ngụ

Lahiri Mahasaya, guru of Sri Yukteswar

Lahiri Mahasaya, guru của Sri Yukteswar

Panchanon Bhattacharya, disciple of Lahiri Mahasaya

Panchanon Bhattacharya, đệ tử của Lahiri Mahasaya

Sri Yogananda’s passport photo, 1920

Ảnh hộ chiếu của Sri Yogananda, 1920

Delegates, Congress of Religions, Boston, 1920

Các đại biểu, Đại hội Tôn giáo, Boston, 1920

Sri Yogananda en route to Alaska, summer of 1924

Sri Yogananda trên đường đến Alaska, mùa hè 1924

Yoga class in Denver

Lớp yoga ở Denver

A class of yoga students, Los Angeles

Một lớp đạo sinh yoga, Los Angeles

Easter sunrise service, SRF/YSS International Headquarters, 1925

Lễ bình minh Phục Sinh, Trụ sở Quốc tế SRF/YSS, 1925

Sri Yogananda at George Washington’s crypt, 1927

Sri Yogananda tại hầm mộ của George Washington, 1927

Sri Yogananda at the White House

Sri Yogananda tại Nhà Trắng

Emilio Portes Gil, president of Mexico, with Sri Yogananda

Emilio Portes Gil, tổng thống Mexico, cùng Sri Yogananda

Yoganandaji at Lake Xochimilco, Mexico, 1929

Yoganandaji tại hồ Xochimilco, Mexico, 1929

Luther Burbank and Yoganandaji, Santa Rosa, 1924

Luther Burbank và Yoganandaji, Santa Rosa, 1924

Therese Neumann, C. R. Wright, and Yoganandaji

Therese Neumann, C. R. Wright và Yoganandaji

Sri Yukteswar and Sri Yogananda, Calcutta, 1935

Sri Yukteswar và Sri Yogananda, Calcutta, 1935

Group on dining balcony of Serampore ashram, 1935

Nhóm trên ban công ăn uống của ashram Serampore, 1935

Sri Yogananda and companions on Yamuna River at Mathura, 1935

Sri Yogananda và các bạn đồng hành trên sông Yamuna tại Mathura, 1935

Sri Yogananda at Damodar, India, 1935

Sri Yogananda tại Damodar, Ấn Độ, 1935

Sri Yogananda at School for Aborigine Girls, 1936

Sri Yogananda tại Trường dành cho các cô gái thổ dân, 1936

Yogoda Satsanga school for boys, Ranchi

Trường Yogoda Satsanga dành cho nam sinh, Ranchi

Yogoda Satsanga schools in Ranchi

Các trường Yogoda Satsanga ở Ranchi

Yogoda Math, Dakshineswar, India

Yogoda Math, Dakshineswar, Ấn Độ

Ramana Maharshi and Yoganandaji

Ramana Maharshi và Yoganandaji

Sri Yukteswar and Yoganandaji in religious procession, 1935

Sri Yukteswar và Yoganandaji trong cuộc rước tôn giáo, 1935

Krishnananda with tame lioness at Kumbha Mela

Krishnananda với sư tử cái đã thuần hóa tại Kumbha Mela

Sri Yogananda and C. Richard Wright, his secretary, with Swami Keshabananda, Brindaban, 1936

Sri Yogananda và C. Richard Wright, thư ký của Ngài, cùng Swami Keshabananda, Brindaban, 1936

Group in courtyard of Serampore ashram, 1935

Nhóm trong sân của ashram Serampore, 1935

Yoga class in Calcutta, 1935

Lớp yoga ở Calcutta, 1935

Sri Yukteswar Memorial Temple in Puri

Đền Tưởng niệm Sri Yukteswar ở Puri

Mahatma Gandhi and Sri Yogananda, Wardha ashram, 1935

Mahatma Gandhi và Sri Yogananda, ashram Wardha, 1935

Ananda Moyi Ma, “Joy-Permeated Mother,” and Paramahansa Yogananda

Ananda Moyi Ma, “Người Mẹ thấm đẫm hoan hỉ,” và Paramahansa Yogananda

Sri Yogananda at the Taj Mahal, Agra, 1936

Sri Yogananda tại Taj Mahal, Agra, 1936

Giri Bala, non-eating saint of Bengal

Giri Bala, vị thánh không ăn của Bengal

Paramahansa Yogananda and Sri Rajarsi Janakananda, 1933

Paramahansa Yogananda và Sri Rajarsi Janakananda, 1933

Paramahansa Yogananda and Sri Daya Mata, 1939

Paramahansa Yogananda và Sri Daya Mata, 1939

Self-Realization Fellowship Hermitage, Encinitas, California

Ẩn thất Self-Realization Fellowship, Encinitas, California

Sri Yogananda on grounds of SRF Encinitas Hermitage, 1940

Sri Yogananda trong khuôn viên Ẩn thất SRF Encinitas, 1940

Paramahansa Yogananda at dedication of SRF Lake Shrine, 1950

Paramahansa Yogananda tại lễ khánh thành Đền Hồ SRF, 1950

Self-Realization Fellowship Lake Shrine and Gandhi World Peace Memorial

Đền Hồ Self-Realization Fellowship và Đài Tưởng niệm Hòa bình Thế giới Gandhi

Hon. Goodwin J. Knight, Lt. Governor of California, with Yoganandaji at India Center opening, 1951

Ngài Goodwin J. Knight, Phó Thống đốc California, cùng Yoganandaji tại lễ khai trương Trung tâm Ấn Độ, 1951

Self-Realization Fellowship Temple, Hollywood, California

Đền Self-Realization Fellowship, Hollywood, California

Sri Yogananda, Encinitas, California, 1950

Sri Yogananda, Encinitas, California, 1950

Ambassador of India, Mr. B. R. Sen, at SRF International Headquarters

Đại sứ Ấn Độ, ông B. R. Sen, tại Trụ sở Quốc tế SRF

Sri Yogananda, one hour before his mahasamadhi, March 7, 1952

Sri Yogananda, một giờ trước mahasamadhi của Ngài, ngày 7 tháng 3 năm 1952

Commemorative stamp issued by the Government of India in Paramahansa Yogananda’s honor

Tem kỷ niệm do Chính phủ Ấn Độ phát hành để vinh danh Paramahansa Yogananda

Preface – Lời tựa

By W. Y. Evans-Wentz, M.A., D.Litt., D.Sc.

Bởi W. Y. Evans-Wentz, M.A., D.Litt., D.Sc.

Jesus College, Oxford

Jesus College, Oxford

Author and translator of many classic works on yoga and the wisdom traditions of the East, including Tibetan Yoga and Secret Doctrines, Tibet’s Great Yogi Milarepa, and The Tibetan Book of the Dead.

Tác giả và dịch giả của nhiều tác phẩm kinh điển về yoga và các truyền thống minh triết phương Đông, bao gồm Tibetan Yoga and Secret Doctrines, Tibet’s Great Yogi Milarepa, và The Tibetan Book of the Dead.

The value of Yogananda’s Autobiography is greatly enhanced by the fact that it is one of the few books in English about the wise men of India which have been written, not by a journalist or foreigner, but by one of their own race and training — in short, a book about yogis by a yogi. As an eyewitness recountal of the extraordinary lives and powers of modern Hindu saints, the book has importance both timely and timeless. To its illustrious author, whom I have had the pleasure of knowing in both India and America, may every reader render due appreciation and gratitude. His unusual life document is certainly one of the most revealing of the depths of the Hindu mind and heart, and of the spiritual wealth of India, ever to be published in the West.

Giá trị của Tự truyện của Yogananda được nâng cao rất nhiều bởi sự kiện rằng đây là một trong số ít sách bằng tiếng Anh viết về các bậc hiền triết của Ấn Độ mà không do một nhà báo hay người ngoại quốc viết, mà do một người thuộc chính nhân loại và sự đào tạo của họ — nói ngắn gọn, một cuốn sách về các yogi do một yogi viết. Là một bản tường thuật của nhân chứng tận mắt về đời sống và quyền năng phi thường của các vị thánh Hindu hiện đại, cuốn sách có tầm quan trọng vừa hợp thời vừa vượt thời gian. Với tác giả lừng danh của nó, người mà tôi đã có hân hạnh quen biết cả ở Ấn Độ lẫn Mỹ, mong rằng mọi độc giả đều dành cho ông sự trân trọng và lòng biết ơn xứng đáng. Văn kiện đời sống khác thường của ông chắc chắn là một trong những tác phẩm từng được xuất bản ở phương Tây có sức mặc khải sâu xa nhất về chiều sâu của trí tuệ và trái tim Hindu, cũng như về sự giàu có tinh thần của Ấn Độ.

It has been my privilege to meet one of the sages whose life history is herein narrated — Sri Yukteswar Giri. A likeness of the venerable saint appeared as part of the frontispiece of my Tibetan Yoga and Secret Doctrines.1 It was at Puri, in Orissa, on the Bay of Bengal, that I encountered Sri Yukteswar. He was then the head of a quiet ashrama near the seashore there, and was chiefly occupied in the spiritual training of a group of youthful disciples. He expressed keen interest in the welfare of the people of the United States and of all the Americas, and of England, too, and questioned me concerning the distant activities, particularly those in California, of his chief disciple, Paramahansa Yogananda, whom he dearly loved, and whom he had sent, in 1920, as his emissary to the West.

Tôi đã có đặc ân gặp một trong những bậc hiền triết mà tiểu sử được thuật lại trong sách này — Sri Yukteswar Giri. Chân dung của vị thánh đáng kính ấy xuất hiện như một phần của ảnh đầu sách trong tác phẩm Tibetan Yoga and Secret Doctrines của tôi.1 Chính tại Puri, thuộc Orissa, bên vịnh Bengal, tôi đã gặp Sri Yukteswar. Khi ấy Ngài là vị đứng đầu một ashrama yên tĩnh gần bờ biển nơi đó, và chủ yếu chuyên tâm vào việc huấn luyện tinh thần cho một nhóm đệ tử trẻ. Ngài bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đến phúc lợi của nhân dân Hoa Kỳ, của toàn châu Mỹ, và cả nước Anh, đồng thời hỏi tôi về các hoạt động xa xôi, đặc biệt là những hoạt động ở California, của đệ tử chính của Ngài, Paramahansa Yogananda, người mà Ngài hết lòng thương mến, và người mà Ngài đã phái đi, vào năm 1920, làm sứ giả của Ngài đến phương Tây.

Sri Yukteswar was of gentle mien and voice, of pleasing presence, and worthy of the veneration that his followers spontaneously accorded to him. Every person who knew him, whether of his own community or not, held him in the highest esteem. I vividly recall his tall, straight, ascetic figure, robed in the saffron-colored garb of one who has renounced worldly quests, as he stood at the entrance of the hermitage to give me welcome. His hair was long and somewhat curly, and his face bearded. His body was muscularly firm, but slender and well-formed, and his step energetic. He had chosen as his place of earthly abode the holy city of Puri, whither multitudes of pious Hindus, representative of every province of India, come daily on pilgrimage to the famed Temple of Jagannath, “Lord of the World.” It was at Puri that Sri Yukteswar closed his mortal eyes, in 1936, to the scenes of this transitory state of being and passed on, knowing that his incarnation had been carried to a triumphant completion.

Sri Yukteswar có phong thái và giọng nói dịu dàng, sự hiện diện dễ mến, và xứng đáng với lòng tôn kính mà các môn đồ của ông tự nhiên dành cho ông. Mọi người từng biết ông, dù thuộc cộng đồng của ông hay không, đều hết sức kính trọng ông. Tôi còn nhớ rõ dáng người cao, thẳng, khổ hạnh của ông, khoác y phục màu vàng nghệ của người đã từ bỏ những cuộc tìm kiếm thế tục, khi ông đứng ở lối vào ẩn thất để chào đón tôi. Tóc ông dài và hơi quăn, khuôn mặt có râu. Thân thể ông rắn chắc về cơ bắp, nhưng thanh mảnh và cân đối, bước đi đầy sinh lực. Ông đã chọn thánh đô Puri làm nơi cư ngụ trên trần thế, nơi hằng ngày vô số tín đồ Hindu mộ đạo, đại diện cho mọi tỉnh của Ấn Độ, đến hành hương tại Đền Jagannath nổi danh, “Chúa Tể Thế Giới.” Chính tại Puri, vào năm 1936, Sri Yukteswar đã khép đôi mắt phàm trần trước những cảnh tượng của trạng thái hiện tồn phù du này và ra đi, biết rằng cuộc lâm phàm của ông đã được đưa đến sự hoàn tất khải hoàn.

I am glad, indeed, to be able to record this testimony to the high character and holiness of Sri Yukteswar. Content to remain afar from the multitude, he gave himself unreservedly and in tranquillity to that ideal life which Paramahansa Yogananda, his disciple, has now described for the ages.

Quả thật, tôi vui mừng vì có thể ghi lại lời chứng này về phẩm cách cao cả và sự thánh thiện của Sri Yukteswar. Bằng lòng đứng xa quần chúng, ông hiến mình trọn vẹn và trong sự tĩnh lặng cho đời sống lý tưởng mà Paramahansa Yogananda, đệ tử của ông, nay đã mô tả cho muôn đời.

1 Oxford University Press, 1958.

1 Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1958.

Introduction – Giới thiệu

“The experience of meeting Paramahansa Yogananda is etched in my memory as one of the unforgettable events of my life….As I looked into his face, my eyes were almost dazzled by a radiance — a light of spirituality that literally shone from him. His infinite gentleness, his gracious kindliness, enveloped me like warm sunshine….I could see that his understanding and insight extended to the most mundane of problems, even though he was a man of Spirit. In him I found a true ambassador of India, carrying and spreading the essence of India’s ancient wisdom to the world.”

“Kinh nghiệm gặp Paramahansa Yogananda đã khắc sâu trong ký ức tôi như một trong những biến cố không thể nào quên của đời tôi…. Khi tôi nhìn vào gương mặt ông, đôi mắt tôi gần như choáng ngợp bởi một vẻ rạng rỡ — một ánh sáng tinh thần thật sự tỏa chiếu từ ông. Sự dịu dàng vô hạn, lòng nhân ái khoan hòa của ông bao bọc tôi như ánh nắng ấm áp…. Tôi có thể thấy rằng sự thấu hiểu và minh kiến của ông vươn tới cả những vấn đề trần tục nhất, dù ông là một con người của Tinh thần. Nơi ông, tôi tìm thấy một đại sứ đích thực của Ấn Độ, mang và truyền bá tinh hoa minh triết cổ xưa của Ấn Độ cho thế giới.”

— Dr. Binay R. Sen, former Ambassador of India to the United States

— Tiến sĩ Binay R. Sen, cựu Đại sứ Ấn Độ tại Hoa Kỳ

To those who were personally acquainted with Paramahansa Yogananda, his own life and being were convincing testimony to the power and authenticity of the ancient wisdom he presented to the world. Countless readers of his autobiography have attested to the presence in its pages of that same light of spiritual authority that radiated from his person. Hailed as a masterpiece when it first appeared in print more than sixty years ago, the book sets forth not only the story of a life of unmistakable greatness but a fascinating introduction to the spiritual thought of the East — especially its unique science of direct personal communion with God — opening up to the Western public a realm of knowledge hitherto accessible only to a few.

Đối với những ai từng quen biết Paramahansa Yogananda, chính đời sống và hiện tồn của ông là lời chứng thuyết phục về quyền năng và tính xác thực của minh triết cổ xưa mà ông trình bày với thế giới. Vô số độc giả của quyển tự truyện của ông đã xác nhận sự hiện diện trong những trang sách ấy của cùng một ánh sáng uy quyền tinh thần đã tỏa rạng từ con người ông. Được ca ngợi là một kiệt tác khi lần đầu xuất hiện trên sách in hơn sáu mươi năm trước, quyển sách không chỉ trình bày câu chuyện về một đời sống có tầm vóc vĩ đại không thể nhầm lẫn, mà còn là một phần giới thiệu hấp dẫn về tư tưởng tinh thần của phương Đông — đặc biệt là khoa học độc đáo về sự hiệp thông trực tiếp, cá nhân với Thượng đế — mở ra cho công chúng phương Tây một lĩnh vực tri thức trước đó chỉ một số ít người có thể tiếp cận.

Today Autobiography of a Yogi is recognized around the world as a classic of spiritual literature. In this introduction, we would like to share some of the book’s extraordinary history.

Ngày nay Tự Truyện của một Yogi được công nhận khắp thế giới như một tác phẩm kinh điển của văn học tinh thần. Trong phần giới thiệu này, chúng tôi muốn chia sẻ đôi nét về lịch sử phi thường của quyển sách.

The writing of the work had been prophesied long ago. One of the seminal figures in the renaissance of yoga in modern times, the revered nineteenth-century master Lahiri Mahasaya, had foretold: “About fifty years after my passing, an account of my life will be written because of a deep interest in yoga that will arise in the West. The message of yoga will encircle the globe. It will aid in establishing the brotherhood of man: a unity based on humanity’s direct perception of the One Father.”

Việc viết tác phẩm này đã được tiên tri từ lâu. Một trong những nhân vật khai mở trong thời phục hưng yoga vào thời hiện đại, vị chân sư thế kỷ mười chín được tôn kính Lahiri Mahasaya, đã báo trước: “Khoảng năm mươi năm sau khi tôi ra đi, một bản tường thuật về đời tôi sẽ được viết do mối quan tâm sâu sắc về yoga sẽ phát sinh ở phương Tây. Thông điệp của yoga sẽ bao quanh địa cầu. Nó sẽ trợ giúp thiết lập tình huynh đệ của con người: một sự hợp nhất đặt nền trên nhận thức trực tiếp của nhân loại về Người Cha Duy Nhất.”

Many years later, Lahiri Mahasaya’s exalted disciple Swami Sri Yukteswar related this prophecy to Sri Yogananda. “You must do your part in spreading that message,” he declared, “and in writing that sacred life.”

Nhiều năm sau, đệ tử cao quý của Lahiri Mahasaya, Swami Sri Yukteswar, kể lại lời tiên tri này cho Sri Yogananda. “Con phải làm phần việc của con trong việc truyền bá thông điệp ấy,” ông tuyên bố, “và trong việc viết cuộc đời thiêng liêng ấy.”

It was in 1945, exactly fifty years after Lahiri Mahasaya’s passing, that Paramahansa Yogananda completed his Autobiography of a Yogi, which amply fulfilled both of his guru’s injunctions: providing the first detailed presentation in English of Lahiri Mahasaya’s remarkable life, and introducing to a world audience India’s age-old science of the soul.

Chính vào năm 1945, đúng năm mươi năm sau khi Lahiri Mahasaya ra đi, Paramahansa Yogananda hoàn tất Tự Truyện của một Yogi, tác phẩm đã hoàn thành đầy đủ cả hai huấn lệnh của guru ông: cung cấp bản trình bày chi tiết đầu tiên bằng tiếng Anh về cuộc đời phi thường của Lahiri Mahasaya, và giới thiệu với độc giả thế giới khoa học lâu đời của Ấn Độ về linh hồn.

The creation of Autobiography of a Yogi was a project that Paramahansa Yogananda worked on over a period of many years. Sri Daya Mata, one of his earliest and closest disciples,2 recalls:

Việc sáng tạo Tự Truyện của một Yogi là một dự án mà Paramahansa Yogananda đã thực hiện trong nhiều năm. Sri Daya Mata, một trong những đệ tử sớm nhất và gần gũi nhất của ông,2 hồi tưởng:

“When I came to Mount Washington in 1931, Paramahansaji had already begun to work on the Autobiography. Once when I was in his study attending to some secretarial duties, I was privileged to see one of the first chapters he wrote — it was on ‘The Tiger Swami.’ He asked me to save it, and explained that it would be going into a book he was writing. Most of the book was composed later, between 1937 and 1945.”

“Khi tôi đến Mount Washington vào năm 1931, Paramahansaji đã bắt đầu làm việc với quyển Tự Truyện. Một lần, khi tôi ở trong phòng làm việc của ông để lo một số nhiệm vụ thư ký, tôi có đặc ân được xem một trong những chương đầu tiên ông viết — chương ấy nói về ‘Vị Swami Hổ.’ Ông bảo tôi cất giữ nó, và giải thích rằng nó sẽ được đưa vào một quyển sách ông đang viết. Phần lớn quyển sách được soạn thảo về sau, từ năm 1937 đến năm 1945.”

From June 1935 through October 1936, Sri Yogananda had made a return trip to India (via Europe and Palestine) for a last visit with his guru, Swami Sri Yukteswar. While there, he had compiled much factual data for the Autobiography, as well as stories about some of the saints and sages whom he had known and whose lives he was to describe so memorably in the book. “I had never forgotten Sri Yukteswar's request that I write the life of Lahiri Mahasaya,” he later wrote. “During my stay in India I was taking every opportunity to contact direct disciples and relatives of the Yogavatar. Recording their conversations in voluminous notes, I verified facts and dates, and collected photographs, old letters, and documents.”

Từ tháng Sáu năm 1935 đến tháng Mười năm 1936, Sri Yogananda đã thực hiện chuyến trở về Ấn Độ qua châu Âu và Palestine để thăm lần cuối guru của ông, Swami Sri Yukteswar. Trong thời gian ở đó, ông đã thu thập nhiều dữ kiện thực tế cho quyển Tự Truyện, cũng như những câu chuyện về một số vị thánh và hiền triết mà ông từng biết và sẽ mô tả thật đáng nhớ trong quyển sách. Về sau ông viết: “Tôi chưa bao giờ quên lời yêu cầu của Sri Yukteswar rằng tôi viết cuộc đời Lahiri Mahasaya. Trong thời gian lưu lại Ấn Độ, tôi đã tận dụng mọi cơ hội để tiếp xúc với các đệ tử trực tiếp và thân quyến của Yogavatar. Ghi lại những cuộc trò chuyện của họ thành những ghi chú dày đặc, tôi kiểm chứng các sự kiện và ngày tháng, và sưu tầm hình ảnh, thư từ cũ, cùng tài liệu.”

Upon his return to the United States at the end of 1936, he began to spend much of his time at the hermitage that had been built for him in his absence, in Encinitas on the southern California coast. It proved to be an ideal place to concentrate on completing the book he had begun years before.

Khi trở lại Hoa Kỳ vào cuối năm 1936, ông bắt đầu dành nhiều thời gian tại ẩn thất đã được xây dựng cho ông trong thời gian ông vắng mặt, ở Encinitas trên bờ biển miền nam California. Nơi ấy chứng tỏ là một địa điểm lý tưởng để tập trung hoàn tất quyển sách ông đã bắt đầu nhiều năm trước.

“Still vivid in my memory are the days spent in that peaceful seaside hermitage,” recounts Sri Daya Mata. “He had so many other responsibilities and commitments that he was not able to work on the Autobiography every day; but in general he devoted the evenings to it, and whatever free time he could spare. Beginning around 1939 or ’40, he was able to concentrate full time on the book. And full time it was — from early morning until early morning! A small group of us disciples — Tara Mata; my sister, Ananda Mata; Sraddha Mata; and myself — were present to assist him. After each part was typed, he would give it to Tara Mata, who served as his editor.

“Những ngày tháng ở ẩn thất yên bình bên bờ biển ấy vẫn còn sống động trong ký ức tôi,” Sri Daya Mata kể lại. “Ông có rất nhiều trách nhiệm và cam kết khác nên không thể làm việc với quyển Tự Truyện mỗi ngày; nhưng nói chung, ông dành các buổi tối cho nó, và bất cứ thời gian rảnh nào ông có thể dành ra. Bắt đầu khoảng năm 1939 hoặc 1940, ông có thể tập trung toàn thời gian vào quyển sách. Và đó thật sự là toàn thời gian — từ sáng sớm cho đến sáng sớm! Một nhóm nhỏ chúng tôi, các đệ tử — Tara Mata; chị tôi, Ananda Mata; Sraddha Mata; và chính tôi — có mặt để trợ giúp ông. Sau khi mỗi phần được đánh máy, ông đưa nó cho Tara Mata, người phụ trách biên tập cho ông.

“What treasured memories! As he wrote he relived inwardly the sacred experiences he was recording. His divine intent was to share the joy and revelations encountered in the company of saints and great masters and in one’s own personal realization of the Divine. Often he would pause for a time, his gaze uplifted and his body motionless, rapt in the samadhi state of deep communion with God. The whole room would be filled with a tremendously powerful aura of divine love. For us disciples, merely to be present at such times was to be lifted into a higher state of consciousness.

“Những ký ức quý báu biết bao! Khi viết, ông sống lại trong nội tâm những kinh nghiệm thiêng liêng mà ông đang ghi chép. Ý định thiêng liêng của ông là chia sẻ niềm vui và những mặc khải gặp được trong sự đồng hành với các thánh nhân và các chân sư vĩ đại, cũng như trong sự chứng nghiệm cá nhân của chính mình về Thiêng Liêng. Thường khi ông dừng lại một lúc, ánh nhìn hướng lên cao và thân thể bất động, say đắm trong trạng thái samadhi của sự hiệp thông sâu xa với Thượng đế. Cả căn phòng sẽ tràn đầy một hào quang cực kỳ mạnh mẽ của tình thương thiêng liêng. Đối với chúng tôi, các đệ tử, chỉ cần có mặt vào những lúc như thế cũng đủ được nâng lên một trạng thái tâm thức cao hơn.

“Finally, in 1945, came the jubilant day of the book’s completion. Paramahansaji wrote the last words, ‘Lord, Thou hast given this monk a large family’; then laid down his pen and joyously exclaimed:

“Cuối cùng, vào năm 1945, ngày hân hoan hoàn tất quyển sách đã đến. Paramahansaji viết những lời cuối cùng, ‘Lạy Chúa, Ngài đã ban cho nhà sư này một đại gia đình’; rồi đặt bút xuống và vui mừng thốt lên:

“‘All done; it is finished. This book will change the lives of millions. It will be my messenger when I am gone.’”

“‘Tất cả đã xong; nó đã hoàn tất. Quyển sách này sẽ thay đổi đời sống của hàng triệu người. Nó sẽ là sứ giả của tôi khi tôi ra đi.’”

It then became Tara Mata’s responsibility to find a publisher. Paramahansa Yogananda had met Tara Mata while conducting a series of lectures and classes in San Francisco in 1924. Possessed of rare spiritual insight, she became one of the small circle of his most advanced disciples. He held her editorial abilities in highest esteem, and used to say that she had one of the most brilliant minds of anyone he had ever met. He appreciated her vast knowledge and understanding of India’s scriptural wisdom, and remarked on one occasion: “Excepting my great guru, Sri Yukteswarji, there is no one with whom I have more enjoyed talking of Indian philosophy.”

Kế đó, trách nhiệm tìm nhà xuất bản thuộc về Tara Mata. Paramahansa Yogananda đã gặp Tara Mata khi thực hiện một loạt bài giảng và lớp học tại San Francisco vào năm 1924. Sở hữu minh kiến tinh thần hiếm có, bà trở thành một trong nhóm nhỏ các đệ tử tiến bộ nhất của ông. Ông hết sức kính trọng khả năng biên tập của bà, và thường nói rằng bà có một trong những trí tuệ xuất sắc nhất trong số những người ông từng gặp. Ông trân trọng tri thức rộng lớn và sự thấu hiểu của bà về minh triết kinh điển Ấn Độ, và trong một dịp đã nhận xét: “Ngoại trừ vị đại guru của tôi, Sri Yukteswarji, không có ai mà tôi vui thích trò chuyện về triết học Ấn Độ hơn.”

Tara Mata took the manuscript to New York City. But finding a publisher was not an easy task. As can often be observed, the true stature of a great work may not at first be recognized by those of a more conventional cast of mind. Despite the newly born atomic age having enlarged the collective consciousness of humanity with a growing understanding of the subtle unity of matter, energy, and thought, the publishers of the day were hardly ready for such chapters as “Materializing a Palace in the Himalayas” and “The Saint With Two Bodies”!

Tara Mata mang bản thảo đến Thành phố New York. Nhưng tìm nhà xuất bản không phải là việc dễ dàng. Như thường có thể quan sát, tầm vóc đích thực của một tác phẩm lớn ban đầu có thể không được những người có khuynh hướng tư duy quy ước hơn nhận ra. Dù thời đại nguyên tử mới sinh đã mở rộng tâm thức tập thể của nhân loại bằng sự thấu hiểu ngày càng tăng về tính hợp nhất vi tế của vật chất, năng lượng và tư tưởng, các nhà xuất bản thời ấy hầu như chưa sẵn sàng cho những chương như “Hiện Hình một Cung Điện trên dãy Himalaya” và “Vị Thánh Có Hai Thân Thể”!

For a year, Tara Mata lived in a sparsely furnished, unheated cold-water flat while making the rounds of publishing houses. At last she was able to send a cable with news of success. The Philosophical Library, a respected New York publisher, had accepted the Autobiography for publication. “What [she] has done for this book I cannot begin to describe…,” Sri Yogananda said. “But for her, the book would never have gone through.”

Trong một năm, Tara Mata sống trong một căn hộ ít đồ đạc, không có sưởi và chỉ có nước lạnh, trong khi đi khắp các nhà xuất bản. Cuối cùng bà có thể gửi một bức điện báo tin thành công. Philosophical Library, một nhà xuất bản uy tín ở New York, đã chấp nhận xuất bản quyển Tự Truyện. Sri Yogananda nói: “Những gì [bà] đã làm cho quyển sách này, tôi không thể bắt đầu mô tả được…. Nếu không có bà, quyển sách sẽ không bao giờ vượt qua được.”

Shortly before Christmas 1946, the long-awaited books reached Mount Washington.

Không lâu trước Giáng sinh năm 1946, những quyển sách được mong đợi từ lâu đã đến Mount Washington.

The book was greeted by readers and by the world press with an outpouring of appreciative praise. “There has been nothing before, written in English or in any other language, like this presentation of Yoga,” wrote Columbia University Press in its Review of Religions. The New York Times proclaimed it “a rare account.” Newsweek reported, “Yogananda’s book is rather an autobiography of the soul than of the body…. It is a fascinating and clearly annotated study of a religious way of life, ingenuously described in the lush style of the Orient.”

Quyển sách được độc giả và báo chí thế giới chào đón bằng một làn sóng ca ngợi đầy trân trọng. “Trước đây chưa từng có điều gì, được viết bằng tiếng Anh hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác, giống như bản trình bày này về Yoga,” Nhà xuất bản Đại học Columbia viết trong Review of Religions. The New York Times tuyên bố đây là “một tường thuật hiếm có.” Newsweek nhận xét: “Quyển sách của Yogananda đúng hơn là một tự truyện của linh hồn hơn là của thể xác…. Đây là một khảo cứu hấp dẫn và được chú giải rõ ràng về một lối sống tôn giáo, được mô tả một cách chân chất trong văn phong phong phú của phương Đông.”

Following are excerpts from some of the other reviews that appeared:

Sau đây là những trích đoạn từ một số bài điểm sách khác đã xuất hiện:

San Francisco Chronicle: “In a very readable style … Yogananda presents a convincing case for yoga, and those who ‘came to scoff’ may remain ‘to pray.’”

San Francisco Chronicle: “Trong một văn phong rất dễ đọc … Yogananda trình bày một luận chứng thuyết phục cho yoga, và những ai ‘đến để chế giễu’ có thể ở lại ‘để cầu nguyện.’”

United Press: “Yogananda expounds the so-called esoteric doctrines of the East with the utmost frankness and good humor. His book is rewarding for its account of a life filled with spiritual adventure.”

United Press: “Yogananda trình bày những giáo lý được gọi là huyền bí của phương Đông với sự thẳng thắn và óc hài hước tối đa. Quyển sách của ông đáng đọc vì tường thuật về một đời sống đầy phiêu lưu tinh thần.”

The Times of India: “The autobiography of this sage makes captivating reading.”

The Times of India: “Tự truyện của vị hiền triết này là một tác phẩm cuốn hút khi đọc.”

Saturday Review: “… cannot but impress and interest the Western reader.”

Saturday Review: “… không thể không gây ấn tượng và khơi dậy hứng thú nơi độc giả phương Tây.”

Grandy’s Syndicated Book Reviews: “Engrossing, inspiring; a ‘literarity’!”

Grandy’s Syndicated Book Reviews: “Lôi cuốn, truyền cảm hứng; một ‘hiện tượng văn học’!”

West Coast Review of Books: “Whatever your own religious beliefs, you’ll find Autobiography of a Yogi a joyous affirmation of the power of the human soul.”

West Coast Review of Books: “Dù niềm tin tôn giáo của chính bạn là gì, bạn sẽ thấy Tự Truyện của một Yogi là một sự khẳng định hân hoan về quyền năng của linh hồn con người.”

News-Sentinel, Fort Wayne, Indiana: “Sheer revelation…. intensely human account …. should help the human race to understand itself better …. autobiography at its best …. breathtaking …. told with delightful wit and compelling sincerity …. as fascinating as any novel.”

News-Sentinel, Fort Wayne, Indiana: “Một mặc khải thuần túy…. tường thuật hết sức nhân bản …. nên giúp nhân loại thấu hiểu chính mình tốt hơn …. tự truyện ở mức hay nhất …. ngoạn mục …. được kể với nét dí dỏm thú vị và sự chân thành đầy sức thuyết phục …. hấp dẫn như bất kỳ tiểu thuyết nào.”

Sheffield Telegraph, England: “… a monumental work.”

Sheffield Telegraph, Anh: “… một tác phẩm đồ sộ.”

With the translation of the book into other languages, many more reviews began appearing in newspapers and periodicals around the world.

Khi quyển sách được dịch sang các ngôn ngữ khác, nhiều bài điểm sách hơn nữa bắt đầu xuất hiện trên báo chí và tạp chí khắp thế giới.

Il Tempo del Lunedì, Rome: “Pages that will enthrall the reader, because they appeal to the aspiration and longing that slumber in the heart of every man.”

Il Tempo del Lunedì, Rome: “Những trang sách sẽ làm say mê độc giả, vì chúng đánh động khát vọng và niềm mong mỏi đang ngủ yên trong trái tim mỗi con người.”

China Weekly Review, Shanghai: “The contents of this book are unusual…particularly to the contemporary Christian whose comfortable habit is to relegate miracles to past centuries.…The philosophical passages are extremely interesting. Yogananda is on a spiritual plane above religious differences.…The book is well worth reading.”

China Weekly Review, Shanghai: “Nội dung quyển sách này khác thường… đặc biệt đối với người Kitô hữu đương thời vốn có thói quen dễ chịu là đẩy các phép lạ về những thế kỷ đã qua.… Các đoạn triết học cực kỳ thú vị. Yogananda ở trên một cõi tinh thần vượt khỏi những khác biệt tôn giáo.… Quyển sách rất đáng đọc.”

Haagsche Post, Holland: “… fragments of a wisdom so deep that one feels spellbound, permanently moved.”

Haagsche Post, Holland: “… những mảnh của một minh triết sâu xa đến mức người ta cảm thấy bị mê hoặc, xúc động mãi.”

Welt und Wort, German literary monthly: “Extremely impressive.…The singular value of Autobiography of a Yogi is that here, for the first time, a yogi breaks his silence and tells of his spiritual experiences. Heretofore, such an account would have been viewed with skepticism. But today the world situation is such that one is forced to acknowledge the value of such a book. …The whole aim of the author is not to present Indian Yoga in opposition to the Christian teaching, but as allied with it — as companions traveling toward the same great goal.”

Welt und Wort, nguyệt san văn học Đức: “Cực kỳ ấn tượng.… Giá trị độc đáo của Tự Truyện của một Yogi là ở đây, lần đầu tiên, một yogi phá vỡ sự im lặng và kể về những kinh nghiệm tinh thần của mình. Trước đây, một tường thuật như thế hẳn sẽ bị nhìn bằng hoài nghi. Nhưng ngày nay tình hình thế giới đã đến mức người ta buộc phải thừa nhận giá trị của một quyển sách như vậy. … Toàn bộ mục đích của tác giả không phải là trình bày Yoga Ấn Độ như đối lập với giáo huấn Kitô giáo, mà như liên minh với giáo huấn ấy — như những bạn đồng hành cùng đi về một mục tiêu vĩ đại.”

Eleftheria, Greece: “It is a book by which a reader…will see his horizon of thoughts enlarged to the infinite, and will realize that his heart is capable of beating for all human beings, irrespective of color and race. It is a book that can be called inspired.”

Eleftheria, Hy Lạp: “Đây là một quyển sách nhờ đó độc giả… sẽ thấy chân trời tư tưởng của mình mở rộng đến vô hạn, và sẽ nhận ra rằng trái tim mình có khả năng đập vì tất cả con người, bất kể màu da và chủng tộc. Đây là một quyển sách có thể gọi là được cảm hứng.”

Neue Telta Zeitung, Austria: “One of the deepest and most important messages of this century.”

Neue Telta Zeitung, Áo: “Một trong những thông điệp sâu sắc và quan trọng nhất của thế kỷ này.”

La Paz, Bolivia: “The reader of our present times will seldom find such a beautiful, deep, and truthful book as Autobiography of a Yogi….Full of knowledge and rich in personal experiences.…One of the most dazzling chapters of the book is one that deals with the mysteries of life beyond physical death.”

La Paz, Bolivia: “Độc giả thời đại chúng ta hiếm khi tìm thấy một quyển sách đẹp, sâu sắc và chân thật như Tự Truyện của một Yogi…. Đầy tri thức và phong phú kinh nghiệm cá nhân.… Một trong những chương chói sáng nhất của quyển sách là chương đề cập đến những bí nhiệm của sự sống sau cái chết hồng trần.”

Schleswig-Holsteinische Tagespost, Germany: “These pages reveal, with incomparable strength and clarity, a fascinating life, a personality of such unheard-of greatness that from beginning to end the reader is left breathless.…We must credit this important biography with the power to bring about a spiritual revolution.”

Schleswig-Holsteinische Tagespost, Đức: “Những trang này mặc khải, với sức mạnh và sự rõ ràng không gì sánh được, một đời sống hấp dẫn, một phàm ngã có tầm vóc vĩ đại chưa từng nghe nói đến, khiến độc giả từ đầu đến cuối phải nín thở.… Chúng ta phải ghi nhận cho tiểu sử quan trọng này quyền năng đem lại một cuộc cách mạng tinh thần.”

A second edition was quickly prepared, and in 1951 a third. In addition to revising and updating portions of the text, and deleting some passages describing organizational activities and plans that were no longer current, Paramahansa Yogananda added a final chapter — one of the longest in the book — covering the years 1940–1951. In a footnote to the new chapter, he wrote, “Much new material in Chapter 49 has been added to the third edition of this book (1951). In response to requests made by a number of readers of the first two editions, I have answered, in this chapter, various questions about India, yoga, and Vedic philosophy.”3

Ấn bản thứ hai nhanh chóng được chuẩn bị, và năm 1951 có ấn bản thứ ba. Ngoài việc sửa đổi và cập nhật một số phần của văn bản, và loại bỏ vài đoạn mô tả các hoạt động và kế hoạch tổ chức không còn hiện hành, Paramahansa Yogananda đã thêm một chương cuối — một trong những chương dài nhất của quyển sách — bao quát các năm 1940–1951. Trong một chú thích cho chương mới, ông viết: “Nhiều tài liệu mới trong Chương 49 đã được thêm vào ấn bản thứ ba của quyển sách này (1951). Đáp lại những yêu cầu của một số độc giả của hai ấn bản đầu, trong chương này tôi đã trả lời nhiều câu hỏi khác nhau về Ấn Độ, yoga, và triết học Vệ Đà.”3

“I have been intensely moved,” Sri Yogananda wrote in an Author’s Note to the 1951 edition, “to receive letters from thousands of readers. Their comments, and the fact that the book has been translated into many languages, encourages me to believe that the West has found in these pages an affirmative answer to the question: ‘Has the ancient science of yoga any worthwhile place in the life of the modern man?’”

“Tôi đã vô cùng xúc động,” Sri Yogananda viết trong Lời Ghi của Tác giả cho ấn bản năm 1951, “khi nhận được thư từ hàng ngàn độc giả. Những nhận xét của họ, và sự kiện quyển sách đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ, khích lệ tôi tin rằng phương Tây đã tìm thấy trong những trang này một câu trả lời khẳng định cho câu hỏi: ‘Khoa học cổ xưa của yoga có vị trí đáng giá nào trong đời sống con người hiện đại hay không?’”

With the passing years “thousands of readers” became millions, and the enduring and universal appeal of Autobiography of a Yogi has become increasingly apparent. Sixty years after the book was first published, it is still appearing on metaphysical and inspirational best-seller lists. A rare phenomenon! Available in many translations, it is now being used in colleges and universities all over the world in courses ranging from Eastern philosophy and religion to English literature, psychology, sociology, anthropology, history, and even business management. As predicted more than a century ago by Lahiri Mahasaya, the message of yoga and its ancient tradition of meditation has indeed encircled the globe.

Theo năm tháng, “hàng ngàn độc giả” trở thành hàng triệu, và sức hấp dẫn bền vững, phổ quát của Tự Truyện của một Yogi ngày càng trở nên rõ rệt. Sáu mươi năm sau khi quyển sách được xuất bản lần đầu, nó vẫn xuất hiện trong danh sách sách bán chạy về siêu hình học và truyền cảm hứng. Một hiện tượng hiếm có! Có sẵn trong nhiều bản dịch, hiện nay nó được dùng tại các trường cao đẳng và đại học khắp thế giới trong các khóa học trải rộng từ triết học và tôn giáo phương Đông đến văn học Anh, tâm lý học, xã hội học, nhân học, lịch sử, và cả quản trị kinh doanh. Như Lahiri Mahasaya đã tiên đoán hơn một thế kỷ trước, thông điệp của yoga và truyền thống tham thiền cổ xưa của nó quả thật đã bao quanh địa cầu.

“Perhaps best known for his Autobiography of a Yogi, which has inspired countless millions around the world,” writes the metaphysical journal New Frontier (October 1986), “Paramahansa Yogananda, like Gandhi, brought spirituality into the mainstream of society. It is reasonable to say that Yogananda did more to put the word ‘yoga’ into our vocabulary than any other person.”

“Có lẽ được biết đến nhiều nhất nhờ quyển Tự Truyện của một Yogi, vốn đã truyền cảm hứng cho vô số triệu người khắp thế giới,” tạp chí siêu hình New Frontier viết vào tháng Mười năm 1986, “Paramahansa Yogananda, giống như Gandhi, đã đưa tinh thần vào dòng chính của xã hội. Có thể nói một cách hợp lý rằng Yogananda đã làm nhiều hơn bất kỳ ai khác trong việc đưa từ ‘yoga’ vào vốn từ vựng của chúng ta.”

The respected scholar Dr. David Frawley, Director of the American Institute of Vedic Studies, writing in the bimonthly journal Yoga International (October/November 1996), states, “Yogananda can be said to be the father of yoga in the West — not the mere physical yoga that has become popular, but the spiritual yoga, the science of Self-realization that is the real meaning of yoga.”

Học giả được kính trọng, Tiến sĩ David Frawley, Giám đốc Viện Nghiên cứu Vệ Đà Hoa Kỳ, viết trong tạp chí hai tháng một kỳ Yoga International tháng Mười và tháng Mười Một năm 1996, tuyên bố: “Có thể nói Yogananda là cha đẻ của yoga ở phương Tây — không phải thứ yoga hồng trần đơn thuần đã trở nên phổ biến, mà là yoga tinh thần, khoa học về chứng ngộ Chân Ngã, vốn là ý nghĩa thật sự của yoga.”

Professor Ashutosh Das, Ph.D., D.Litt., of Calcutta University, declares, “Autobiography of a Yogi is regarded as an Upanishad of the new age….It has satisfied the spiritual thirst of truth-seekers throughout the world. We in India have watched with wonder and fascination the phenomenal spread of the popularity of this book about India’s saints and philosophy. We have felt great satisfaction and pride that the immortal nectar of India’s Sanatana Dharma, the eternal laws of truth, has been stored in the golden chalice of Autobiography of a Yogi.”

Giáo sư Ashutosh Das, Tiến sĩ, Tiến sĩ Văn chương, thuộc Đại học Calcutta, tuyên bố: “Tự Truyện của một Yogi được xem như một Upanishad của thời đại mới…. Nó đã thỏa mãn cơn khát tinh thần của những người tìm kiếm chân lý trên khắp thế giới. Chúng tôi ở Ấn Độ đã dõi theo với sự kinh ngạc và say mê sự lan rộng phi thường của mức độ phổ biến của quyển sách này về các thánh nhân và triết học Ấn Độ. Chúng tôi cảm thấy vô cùng mãn nguyện và tự hào rằng thần tửu bất tử của Sanatana Dharma Ấn Độ, những định luật vĩnh cửu của chân lý, đã được chứa trong chiếc chén vàng của Tự Truyện của một Yogi.”

Even in the former Soviet Union, the book apparently made a deep impression on the relative few who had access to it under the communist regime. Justice V. R. Krishna Iyer, former judge of India’s Supreme Court, tells of visiting a town near St. Petersburg (then Leningrad) and asking a group of professors there “whether they had thought about what happens when man dies….One of the professors quietly went inside and came out with a book — Autobiography of a Yogi. I was surprised. In a country ruled by the materialistic philosophy of Marx and Lenin, here is an official of a government institute showing me Paramahansa Yogananda’s book! ‘Please realize that the spirit of India is not alien to us,’ he said. ‘We accept the authenticity of everything recorded in this book.’”

Ngay cả tại Liên Xô cũ, quyển sách dường như đã gây ấn tượng sâu sắc đối với số ít tương đối những người có thể tiếp cận nó dưới chế độ cộng sản. Thẩm phán V. R. Krishna Iyer, cựu thẩm phán Tòa án Tối cao Ấn Độ, kể về việc đến thăm một thị trấn gần St. Petersburg, lúc ấy là Leningrad, và hỏi một nhóm giáo sư ở đó “liệu họ có từng nghĩ về điều xảy ra khi con người chết hay không…. Một trong các giáo sư lặng lẽ đi vào trong rồi bước ra với một quyển sách — Tự Truyện của một Yogi. Tôi ngạc nhiên. Trong một quốc gia do triết học duy vật của Marx và Lenin cai trị, ở đây lại có một viên chức của một viện chính phủ đưa cho tôi xem quyển sách của Paramahansa Yogananda! ‘Xin hãy nhận ra rằng tinh thần của Ấn Độ không xa lạ với chúng tôi,’ ông nói. ‘Chúng tôi chấp nhận tính xác thực của mọi điều được ghi lại trong quyển sách này.’”

“Among the thousands of books that are published each year,” concluded an article in India Journal (April 21, 1995), “there are those that entertain, those that instruct, those that edify. A reader can consider himself fortunate if he finds one that does all three. Autobiography of a Yogi is rarer still — it is a book that opens windows of the mind and spirit.”

“Trong số hàng ngàn quyển sách được xuất bản mỗi năm,” một bài viết trên India Journal ngày 21 tháng Tư năm 1995 kết luận, “có những quyển giải trí, những quyển giáo huấn, những quyển nâng cao tâm hồn. Một độc giả có thể xem mình là may mắn nếu tìm được một quyển làm được cả ba điều. Tự Truyện của một Yogi còn hiếm hơn nữa — đó là một quyển sách mở ra những cửa sổ của thể trí và tinh thần.”

In recent years, the book has been hailed by booksellers, reviewers, and readers alike as one of the most influential spiritual books of modern times. In a 1999 HarperCollins panel of authors and scholars, Autobiography of a Yogi was selected as one of the “100 Best Spiritual Books of the Century,” and in his 50 Spiritual Classics which was released in 2005, Tom Butler-Bowdon wrote that the book was “justifiably celebrated as one of the most entertaining and enlightening spiritual books ever written.”

Trong những năm gần đây, quyển sách đã được các nhà bán sách, nhà điểm sách và độc giả cùng ca ngợi như một trong những quyển sách tinh thần có ảnh hưởng nhất của thời hiện đại. Trong một hội đồng năm 1999 của HarperCollins gồm các tác giả và học giả, Tự Truyện của một Yogi được chọn là một trong “100 Quyển Sách Tinh Thần Hay Nhất của Thế Kỷ,” và trong quyển 50 Tác Phẩm Kinh Điển Tinh Thần phát hành năm 2005, Tom Butler-Bowdon viết rằng quyển sách “được tôn vinh một cách chính đáng như một trong những quyển sách tinh thần thú vị và soi sáng nhất từng được viết.”

In the book’s final chapter, Paramahansa Yogananda writes of the profound assurance which has been affirmed by saints and sages of all the world’s religions down through the ages:

Trong chương cuối của quyển sách, Paramahansa Yogananda viết về sự bảo chứng sâu xa đã được các thánh nhân và hiền triết của mọi tôn giáo trên thế giới khẳng định suốt các thời đại:

“God is Love; His plan for creation can be rooted only in love. Does not that simple thought, rather than erudite reasonings, offer solace to the human heart? Every saint who has penetrated to the core of Reality has testified that a divine universal plan exists and that it is beautiful and full of joy.”

“Thượng đế là Tình thương; Thiên Cơ của Ngài dành cho tạo vật chỉ có thể bắt nguồn từ tình thương. Chẳng phải tư tưởng đơn giản ấy, hơn là những lập luận uyên bác, đem lại niềm an ủi cho trái tim con người sao? Mọi thánh nhân đã thâm nhập đến cốt lõi của Thực Tại đều chứng nhận rằng có một Thiên Cơ phổ quát thiêng liêng hiện hữu, và rằng Thiên Cơ ấy đẹp đẽ, tràn đầy sự hoan hỉ.”

As Autobiography of a Yogi continues in its second half-century, it is our hope that all readers of this inspiring work — those who are encountering it for the first time as well as those for whom it has become a long-cherished companion on life’s path — will find their own souls opening to a deeper faith in the transcendent truth that lies at the heart of life’s seeming mysteries.

Khi Tự Truyện của một Yogi tiếp tục bước vào nửa thế kỷ thứ hai của nó, chúng tôi hy vọng rằng mọi độc giả của tác phẩm đầy cảm hứng này — những người lần đầu gặp gỡ nó cũng như những người mà đối với họ nó đã trở thành người bạn đồng hành được trân quý từ lâu trên đường đời — sẽ thấy linh hồn mình mở ra với một đức tin sâu xa hơn vào chân lý siêu việt nằm nơi trái tim của những bí nhiệm có vẻ như của đời sống.

Self-Realization Fellowship

Hội Tự Chứng Ngộ

Los Angeles, California

Los Angeles, California

July 2007

Tháng Bảy năm 2007

2 Sri Daya Mata joined the monastic community Paramahansa Yogananda had established atop Mount Washington, overlooking the city of Los Angeles, in 1931. She served as president of Self-Realization Fellowship from 1955 until her passing in 2010.

2 Sri Daya Mata gia nhập cộng đồng tu viện mà Paramahansa Yogananda đã thiết lập trên đỉnh Mount Washington, nhìn xuống thành phố Los Angeles, vào năm 1931. Bà phục vụ với tư cách chủ tịch Hội Tự Chứng Ngộ từ năm 1955 cho đến khi bà qua đời vào năm 2010.

3 Additional revisions made by Paramahansa Yogananda were included in the seventh edition (1956), as described in a Publisher’s Note to this edition:

3 Những sửa đổi bổ sung do Paramahansa Yogananda thực hiện đã được đưa vào ấn bản thứ bảy năm 1956, như được mô tả trong Lời Ghi của Nhà Xuất Bản cho ấn bản này:

“This 1956 American edition contains revisions made by Paramahansa Yogananda in 1949 for the London, England, edition; and additional revisions made by the author in 1951. In a ‘Note to the London Edition,’ dated October 25, 1949, Paramahansa Yogananda wrote: ‘The arrangement for a London edition of this book has given me an opportunity to revise, and slightly to enlarge, the text. Besides new material in the last chapter, I have added a number of footnotes in which I have answered questions sent me by readers of the American edition.’

“Ấn bản Hoa Kỳ năm 1956 này chứa những sửa đổi do Paramahansa Yogananda thực hiện năm 1949 cho ấn bản London, Anh; và những sửa đổi bổ sung do tác giả thực hiện năm 1951. Trong ‘Lời Ghi cho Ấn bản London,’ đề ngày 25 tháng Mười năm 1949, Paramahansa Yogananda viết: ‘Việc sắp xếp cho một ấn bản London của quyển sách này đã cho tôi cơ hội sửa đổi, và mở rộng đôi chút, văn bản. Ngoài tài liệu mới trong chương cuối, tôi đã thêm một số chú thích, trong đó tôi trả lời các câu hỏi độc giả của ấn bản Hoa Kỳ gửi cho tôi.’

“Later revisions, made by the author in 1951, were intended to appear in the fourth (1952) American edition. At that time the rights in Autobiography of a Yogi were vested in a New York publishing house. In 1946 in New York each page of the book had been made into an electrotype plate. Consequently, to add even a comma requires that the metal plate of an entire page be cut apart and resoldered with a new line containing the desired comma. Because of the expense involved in resoldering many plates, the New York publisher did not include in the fourth edition the author’s 1951 revisions.

“Những sửa đổi về sau, do tác giả thực hiện năm 1951, dự định sẽ xuất hiện trong ấn bản Hoa Kỳ thứ tư năm 1952. Vào thời điểm ấy, bản quyền Tự Truyện của một Yogi thuộc về một nhà xuất bản ở New York. Năm 1946 tại New York, mỗi trang của quyển sách đã được làm thành một bản kẽm in điện. Do đó, để thêm dù chỉ một dấu phẩy cũng đòi hỏi bản kim loại của cả một trang phải được cắt rời và hàn lại với một dòng mới chứa dấu phẩy mong muốn. Vì chi phí liên quan đến việc hàn lại nhiều bản kẽm, nhà xuất bản New York đã không đưa các sửa đổi năm 1951 của tác giả vào ấn bản thứ tư.

“In late 1953 Self-Realization Fellowship (SRF) bought from the New York publisher all rights in Autobiography of a Yogi. SRF reprinted the book in 1954 and 1955 (fifth and sixth editions); but during those two years other duties prevented the SRF editorial department from undertaking the formidable task of incorporating the author’s revisions on the electrotype plates. The work, however, has been accomplished in time for the seventh edition.”

“Cuối năm 1953, Hội Tự Chứng Ngộ đã mua từ nhà xuất bản New York mọi bản quyền đối với Tự Truyện của một Yogi. Hội Tự Chứng Ngộ tái bản quyển sách vào các năm 1954 và 1955, tức ấn bản thứ năm và thứ sáu; nhưng trong hai năm ấy, các nhiệm vụ khác đã ngăn ban biên tập của Hội Tự Chứng Ngộ đảm nhận công việc khó khăn là đưa các sửa đổi của tác giả vào các bản kẽm in điện. Tuy nhiên, công việc ấy đã hoàn tất kịp cho ấn bản thứ bảy.”

After 1956, some further editorial revisions were made, in accordance with guidance Tara Mata had received from Paramahansa Yogananda before his passing.

Sau năm 1956, một số sửa đổi biên tập thêm nữa đã được thực hiện, phù hợp với sự hướng dẫn mà Tara Mata đã nhận từ Paramahansa Yogananda trước khi ông qua đời.

Early editions of Autobiography of a Yogi gave the author’s title as “Paramhansa,” reflecting the common Bengali practice of omitting silent or near-silent a’s in spelling. To ensure that the sacred significance of this Veda-based title would be conveyed, in later editions the standard Sanskrit transliteration has been used: “Paramahansa,” from parama, “highest or supreme” and hansa, “swan” — signifying one who has attained highest realization of his true divine Self, and of the unity of that Self with Spirit.

Các ấn bản đầu của Tự Truyện của một Yogi ghi danh hiệu của tác giả là “Paramhansa,” phản ánh tập quán Bengal thông thường là bỏ những chữ a câm hoặc gần như câm trong chính tả. Để bảo đảm rằng thâm nghĩa thiêng liêng của danh hiệu dựa trên Vệ Đà này được truyền đạt, trong các ấn bản về sau, lối chuyển tự Sanskrit chuẩn đã được dùng: “Paramahansa,” từ parama, “cao nhất hoặc tối thượng” và hansa, “thiên nga” — biểu thị một người đã đạt chứng nghiệm cao nhất về Chân Ngã thiêng liêng đích thực của mình, và về sự hợp nhất của Chân Ngã ấy với Tinh thần.

THE ETERNAL LAW OF RIGHTEOUSNESS

ĐỊNH LUẬT VĨNH CỬU CỦA SỰ CÔNG CHÍNH

The flag of a newly independent India (1947) has bands of deep saffron, white, and dark green. The navy blue Dharma Chakra (“Wheel of the Law”) is a reproduction of the design appearing on the Sarnath Stone Pillar erected in the third century B.C. by Emperor Asoka.

Quốc kỳ của Ấn Độ mới độc lập năm 1947 có các dải màu vàng nghệ đậm, trắng, và xanh lục sẫm. Dharma Chakra màu xanh hải quân, “Bánh Xe của Định Luật,” là bản tái hiện thiết kế xuất hiện trên Trụ Đá Sarnath được Hoàng đế Asoka dựng lên vào thế kỷ thứ ba B.C.

The wheel was chosen as a symbol of the eternal law of righteousness; and, incidentally, as an honor to the memory of the world’s most illustrious monarch. “His reign of forty years is without a parallel in history,” writes the English historian, H. G. Rawlinson. “He has been compared at various times to Marcus Aurelius, St. Paul, and Constantine....250 years before Christ, Asoka had the courage to express his horror and remorse at the results of a successful campaign, and deliberately to renounce war as a means of policy.”

Bánh xe được chọn làm biểu tượng của định luật vĩnh cửu của sự công chính; và, nhân tiện, như một sự tôn vinh ký ức về vị quân vương lừng lẫy nhất thế giới. Sử gia Anh H. G. Rawlinson viết: “Triều đại bốn mươi năm của ông không có gì sánh ngang trong lịch sử. Ông đã từng được so sánh vào nhiều thời điểm khác nhau với Marcus Aurelius, Thánh Paul, và Constantine.... 250 năm trước Đức Christ, Asoka đã có can đảm bày tỏ nỗi kinh hoàng và hối hận trước kết quả của một chiến dịch thành công, và chủ ý từ bỏ chiến tranh như một phương tiện chính sách.”

Asoka’s inherited dominions included India, Nepal, Afghanistan, and Baluchistan. The first internationalist, he sent religious and cultural missions, with many gifts and blessings, to Burma, Ceylon, Egypt, Syria, and Macedonia.

Các lãnh thổ Asoka thừa hưởng bao gồm Ấn Độ, Nepal, Afghanistan, và Baluchistan. Là nhà quốc tế chủ nghĩa đầu tiên, ông gửi các phái đoàn tôn giáo và văn hóa, cùng nhiều tặng phẩm và phúc lành, đến Burma, Ceylon, Ai Cập, Syria, và Macedonia.

“Asoka, the third king of the Maurya line, was one...of the great philosopher-kings of history,” the scholar P. Masson-Oursel observed. “No one has combined energy and benevolence, justice and charity, as he did. He was the living embodiment of his own time, and he comes before us as quite a modern figure. In the course of a long reign he achieved what seems to us to be a mere aspiration of the visionary: enjoying the greatest possible material power, he organized peace. Far beyond his own vast dominions he realized what has been the dream of some religions — universal order, an order embracing mankind.”

“Asoka, vị vua thứ ba của dòng Maurya, là một trong… những vị vua-triết gia vĩ đại của lịch sử,” học giả P. Masson-Oursel nhận xét. “Không ai đã kết hợp năng lực và lòng nhân từ, công lý và bác ái, như ông đã làm. Ông là hiện thân sống động của thời đại mình, và ông hiện ra trước chúng ta như một nhân vật rất hiện đại. Trong suốt một triều đại dài, ông đạt được điều đối với chúng ta dường như chỉ là khát vọng của người mộng tưởng: trong khi hưởng quyền lực vật chất lớn nhất có thể, ông đã tổ chức hòa bình. Vượt xa các lãnh thổ rộng lớn của chính mình, ông chứng nghiệm điều từng là giấc mơ của một số tôn giáo — trật tự phổ quát, một trật tự bao trùm nhân loại.”

“Dharma (cosmic law) aims at the happiness of all creatures.” In his rock edicts and stone pillars, surviving to this day, Asoka lovingly advises the subjects of his far-flung empire that happiness is rooted in morality and godliness.

“Dharma, định luật vũ trụ, nhắm đến hạnh phúc của mọi sinh linh.” Trong các sắc dụ khắc trên đá và các trụ đá còn tồn tại đến ngày nay, Asoka trìu mến khuyên thần dân trong đế quốc rộng khắp của ông rằng hạnh phúc bắt nguồn từ đạo đức và lòng hướng về Thượng đế.

Modern India, aspiring to renew the eminence and prosperity that for millenniums enveloped the land, pays homage in her new flag to the memory of Asoka, sovereign “dear to the gods.”

Ấn Độ hiện đại, khát vọng khôi phục sự ưu việt và thịnh vượng từng bao phủ đất nước trong nhiều thiên niên kỷ, đã tỏ lòng tôn kính ký ức Asoka, vị quân vương “thân yêu với các thần,” trong quốc kỳ mới của mình.

(Prior to 1947. Sections in the northwest now compose Pakistan; in the northeast, Bangladesh.)

(Trước năm 1947. Các vùng ở tây bắc nay hợp thành Pakistan; ở đông bắc là Bangladesh.)

AUTOBIOGRAPHY OF A YOGI

TỰ TRUYỆN CỦA MỘT YOGI

CHAPTER 1 — CHƯƠNG 1

My Parents and Early Life — Cha Mẹ Tôi và Đời Sống Đầu Đời

The characteristic features of Indian culture have long been a search for ultimate verities and the concomitant disciple-guru1 relationship.

Những nét đặc trưng của văn hóa Ấn Độ từ lâu là cuộc tìm kiếm các chân lý tối hậu và mối quan hệ đệ tử-guru1 đi kèm.

My own path led to a Christlike sage; his beautiful life was chiseled for the ages. He was one of the great masters who are India’s truest wealth. Emerging in every generation, they have bulwarked their land against the fate of ancient Egypt and Babylonia.

Con đường của chính tôi đã dẫn đến một hiền triết giống như Đức Christ; đời sống đẹp đẽ của ông đã được khắc tạc cho muôn đời. Ông là một trong những chân sư vĩ đại, vốn là sự giàu có chân thật nhất của Ấn Độ. Xuất hiện trong mỗi thế hệ, các Ngài đã bảo vệ đất nước của các Ngài khỏi số phận của Ai Cập và Babylonia cổ đại.

I find my earliest memories covering the anachronistic features of a previous incarnation. Clear recollections came to me of a distant life in which I had been a yogi2 amid the Himalayan snows. These glimpses of the past, by some dimensionless link, also afforded me a glimpse of the future.

Tôi thấy những ký ức sớm nhất của mình bao trùm những nét có vẻ sai thời của một cuộc lâm phàm trước. Những hồi ức rõ ràng đến với tôi về một đời sống xa xưa, trong đó tôi từng là một yogi2 giữa tuyết trắng dãy Himalaya. Những thoáng nhìn về quá khứ ấy, bằng một mối liên kết không chiều kích nào đó, cũng đem lại cho tôi một thoáng nhìn về tương lai.

I still remember the helpless humiliations of infancy. I was resentfully conscious of being unable to walk and to express myself freely. Prayerful surges arose within me as I realized my bodily impotence. My strong emotional life was mentally expressed in words of many languages. Amid the inward confusion of tongues, I gradually became accustomed to hearing the Bengali syllables of my people. The beguiling scope of an infant’s mind! adultly considered to be limited to toys and toes.

Tôi vẫn còn nhớ những nỗi nhục bất lực của thời thơ ấu. Tôi có ý thức đầy bực bội về việc không thể đi lại và tự diễn đạt một cách tự do. Những đợt dâng trào cầu nguyện khởi lên trong tôi khi tôi nhận ra sự bất lực thân xác của mình. Đời sống cảm xúc mạnh mẽ của tôi được biểu đạt bằng trí tuệ trong lời nói của nhiều ngôn ngữ. Giữa sự hỗn loạn nội tâm của các thứ tiếng, dần dần tôi quen với việc nghe những âm tiết Bengal của dân tộc tôi. Phạm vi quyến rũ của thể trí trẻ thơ! khi người lớn xem nó như chỉ giới hạn trong đồ chơi và ngón chân.

Psychological ferment and my unresponsive body brought me to many obstinate crying spells. I recall the general family bewilderment at my distress. Happier memories, too, crowd in on me: my mother’s caresses, and my first attempts at lisping phrase and toddling step. These early triumphs, usually forgotten quickly, are yet a natural basis of self-confidence.

Sự lên men tâm lý và thân thể không đáp ứng đã đưa tôi đến nhiều cơn khóc bướng bỉnh. Tôi nhớ sự bối rối chung của gia đình trước nỗi khổ của tôi. Những ký ức hạnh phúc hơn cũng ùa đến với tôi: những vuốt ve của mẹ tôi, và những nỗ lực đầu tiên của tôi trong lời nói bập bẹ và bước đi chập chững. Những chiến thắng ban đầu này, thường nhanh chóng bị quên lãng, lại là nền tảng tự nhiên của lòng tự tin.

My far-reaching memories are not unique. Many yogis are known to have retained their self-consciousness without interruption by the dramatic transition to and from “life” and “death.” If man be solely a body, its loss indeed ends his identity. But if prophets down the millenniums spake with truth, man is essentially a soul, incorporeal and omnipresent.

Những ký ức vươn xa của tôi không phải là độc nhất. Nhiều yogi được biết là đã giữ được ngã thức của mình không gián đoạn qua cuộc chuyển tiếp đầy kịch tính đến và đi từ “sự sống” và “cái chết.” Nếu con người chỉ là một thân thể, thì sự mất đi của nó quả thật kết thúc bản sắc của y. Nhưng nếu các nhà tiên tri qua nhiều thiên niên kỷ đã nói đúng sự thật, con người về bản chất là một linh hồn, phi vật thể và hiện diện khắp nơi.

Although odd, clear memories of infancy are not extremely rare. During travels in numerous lands, I have heard very early recollections from the lips of veracious men and women.

Dù kỳ lạ, những ký ức rõ ràng về thời thơ ấu không phải là cực kỳ hiếm. Trong các chuyến đi qua nhiều xứ sở, tôi đã nghe những hồi ức rất sớm từ môi miệng của những người nam và nữ chân thật.

I was born on January 5, 1893, in Gorakhpur in northeastern India near the Himalaya Mountains. There my first eight years were passed. We were eight children: four boys and four girls. I, Mukunda Lal Ghosh,3 was the second son and the fourth child.

Tôi sinh ngày 5 tháng Một năm 1893, tại Gorakhpur ở đông bắc Ấn Độ gần dãy Himalaya. Tám năm đầu đời của tôi trôi qua ở đó. Chúng tôi có tám người con: bốn trai và bốn gái. Tôi, Mukunda Lal Ghosh,3 là con trai thứ hai và là người con thứ tư.

Father and Mother were Bengalis, of the Kshatriya caste.4 Both were blessed with saintly nature. Their mutual love, tranquil and dignified, never expressed itself frivolously. A perfect parental harmony was the calm center for the revolving tumult of eight young lives.

Cha và Mẹ là người Bengal, thuộc giai cấp Kshatriya.4 Cả hai đều được phúc có bản chất thánh thiện. Tình thương giữa hai người, tĩnh lặng và trang nghiêm, không bao giờ biểu lộ một cách phù phiếm. Sự hòa hợp hoàn hảo của cha mẹ là trung tâm bình lặng cho vòng xoay huyên náo của tám đời sống trẻ thơ.

Father, Bhagabati Charan Ghosh, was kind, grave, at times stern. Loving him dearly, we children yet observed a certain reverential distance. An outstanding mathematician and logician, he was guided principally by his intellect. But Mother was a queen of hearts, and taught us only through love. After her death, Father displayed more of his inner tenderness. I noticed then that his gaze often seemed to be metamorphosed into my mother’s gaze.

Cha tôi, Bhagabati Charan Ghosh, nhân hậu, nghiêm trang, đôi khi nghiêm khắc. Dù vô cùng yêu thương ông, anh chị em chúng tôi vẫn giữ một khoảng cách kính cẩn nhất định. Là một nhà toán học và luận lý học xuất sắc, ông chủ yếu được dẫn dắt bởi trí năng. Nhưng Mẹ là nữ hoàng của những trái tim, và chỉ dạy chúng tôi qua tình thương. Sau khi bà qua đời, Cha biểu lộ nhiều hơn sự dịu dàng bên trong của ông. Khi ấy tôi nhận thấy ánh nhìn của ông thường dường như biến đổi thành ánh nhìn của mẹ tôi.

In Mother’s presence we children made an early bittersweet acquaintance with the scriptures. Mother would resourcefully summon from the Mahabharata and the Ramayana5 suitable tales to meet the exigencies of discipline; on these occasions chastisement and instruction went hand in hand.

Trong sự hiện diện của Mẹ, anh chị em chúng tôi sớm làm quen một cách vừa đắng vừa ngọt với kinh điển. Mẹ khéo léo lấy từ Mahabharata và Ramayana5 những câu chuyện thích hợp để đáp ứng các nhu cầu của kỷ luật; trong những dịp ấy, khiển trách và giáo huấn đi đôi với nhau.

As a gesture of respect for Father, in the afternoons Mother would dress us children carefully to welcome him home from the office. He held a position, similar to that of a vice-president, in one of India’s large companies: Bengal-Nagpur Railway. His work involved traveling; our family lived in several cities during my childhood.

Như một cử chỉ tôn trọng Cha, vào buổi chiều Mẹ sẽ mặc đẹp cẩn thận cho chúng tôi để đón ông về nhà từ sở làm. Ông giữ một chức vụ tương tự phó chủ tịch trong một trong những công ty lớn của Ấn Độ: Đường sắt Bengal-Nagpur. Công việc của ông đòi hỏi đi lại; gia đình chúng tôi sống ở nhiều thành phố trong thời thơ ấu của tôi.

Mother held an open hand toward the needy. Father was also kindly disposed, but his respect for law and order extended to the budget. One fortnight Mother spent, in feeding the poor, more than Father’s monthly income.

Mẹ rộng tay với người thiếu thốn. Cha cũng có lòng nhân hậu, nhưng sự tôn trọng luật lệ và trật tự của ông kéo dài đến cả ngân sách. Có một nửa tháng, Mẹ đã dùng để nuôi người nghèo một số tiền lớn hơn thu nhập hằng tháng của Cha.

“All I ask, please,” Father said, “is that you keep your charities within a reasonable limit.” Even a gentle rebuke from her husband was grievous to Mother. Not hinting to the children at any disagreement, she ordered a hackney carriage.

“Tất cả những gì tôi xin, làm ơn,” Cha nói, “là bà giữ việc bố thí của mình trong một giới hạn hợp lý.” Ngay cả một lời quở trách dịu dàng từ chồng cũng khiến Mẹ đau lòng. Không hé lộ với các con về bất kỳ bất đồng nào, bà gọi một chiếc xe ngựa thuê.

“Good-bye, I am going away to my mother’s home.” Ancient ultimatum!

“Tạm biệt, tôi sẽ về nhà mẹ tôi.” Tối hậu thư cổ xưa!

We broke into astounded lamentations. Our maternal uncle arrived opportunely; he whispered to Father some sage counsel, garnered no doubt from the ages. After Father had made a few conciliatory remarks, Mother happily dismissed the cab. Thus ended the only trouble I ever noticed between my parents. But I recall a characteristic discussion.

Chúng tôi bật lên những tiếng than khóc kinh ngạc. Cậu của chúng tôi đến đúng lúc; ông thì thầm với Cha vài lời khuyên khôn ngoan, chắc hẳn được góp nhặt từ muôn đời. Sau khi Cha nói vài lời hòa giải, Mẹ vui vẻ cho chiếc xe đi. Như thế kết thúc rắc rối duy nhất tôi từng thấy giữa cha mẹ tôi. Nhưng tôi nhớ một cuộc trao đổi đặc trưng.

“Please give me ten rupees for a hapless woman who has just arrived at the house.” Mother’s smile had its own persuasion.

“Xin cho em mười rupee cho một phụ nữ khốn khổ vừa đến nhà.” Nụ cười của Mẹ có sức thuyết phục riêng.

“Why ten rupees? One is enough.” Father added a justification: “When my father and grandparents died suddenly, I had my first experience of poverty. My only breakfast, before walking miles to my school, was a small banana. Later, at the university, I was in such need that I applied to a wealthy judge for aid of one rupee per month. He declined, remarking that even a rupee is important.”

“Tại sao mười rupee? Một là đủ.” Cha thêm một lời biện minh: “Khi cha và ông bà tôi đột ngột qua đời, tôi đã có trải nghiệm đầu tiên về nghèo khó. Bữa sáng duy nhất của tôi, trước khi đi bộ nhiều dặm đến trường, là một quả chuối nhỏ. Về sau, ở đại học, tôi túng thiếu đến mức phải xin một vị thẩm phán giàu có trợ giúp một rupee mỗi tháng. Ông từ chối, nhận xét rằng ngay cả một rupee cũng quan trọng.”

“How bitterly you recall the denial of that rupee!” Mother’s heart had an instant logic. “Do you want this woman also to remember painfully your refusal of ten rupees, which she needs urgently?”

“Ông nhớ lời từ chối một rupee ấy cay đắng biết bao!” Trái tim Mẹ có luận lý tức thì. “Ông có muốn người phụ nữ này cũng đau đớn nhớ lời từ chối mười rupee của ông, số tiền bà ấy đang cần khẩn cấp, hay không?”

“You win!” With the immemorial gesture of vanquished husbands, he opened his wallet. “Here is a ten-rupee note. Give it to her with my goodwill.”

“Bà thắng!” Với cử chỉ muôn thuở của những người chồng bại trận, ông mở ví. “Đây là tờ mười rupee. Hãy đưa cho bà ấy với thiện chí của tôi.”

Father tended first to say “No” to any new proposal. His attitude toward the stranger who so readily had won Mother’s sympathy was an example of his customary caution. An aversion to instant acceptance is really only honoring the principle of “due reflection.” I always found Father reasonable and evenly balanced in his judgments. If I could bolster up my numerous requests with one or two good arguments, he would invariably put within my reach the coveted goal — whether a vacation trip or a new motorcycle.

Cha thường trước hết nói “Không” với bất kỳ đề nghị mới nào. Thái độ của ông đối với người lạ đã dễ dàng giành được lòng cảm thông của Mẹ là một ví dụ về sự thận trọng quen thuộc của ông. Sự không thích chấp nhận ngay thật ra chỉ là tôn trọng nguyên khí “suy xét đúng mức.” Tôi luôn thấy Cha hợp lý và cân bằng trong các phán đoán của ông. Nếu tôi có thể củng cố nhiều yêu cầu của mình bằng một hoặc hai lý lẽ tốt, ông luôn luôn đặt trong tầm tay tôi mục tiêu khao khát — dù là một chuyến đi nghỉ hay một chiếc xe máy mới.

Father was a strict disciplinarian to his children in their early years, but his attitude toward himself was truly Spartan. He never visited the theater, for instance, but sought his recreation in various spiritual practices and in reading the Bhagavad Gita.6 Shunning all luxuries, he would cling to one old pair of shoes until they were useless. His sons bought automobiles after they came into popular use, but Father was content with the trolley car for his daily ride to the office.

Cha là người giữ kỷ luật nghiêm khắc đối với con cái trong những năm đầu của chúng, nhưng thái độ của ông đối với chính mình thật sự khắc khổ. Chẳng hạn, ông không bao giờ đến rạp hát, mà tìm sự giải trí trong nhiều thực hành tinh thần khác nhau và trong việc đọc Bhagavad Gita.6 Tránh xa mọi xa hoa, ông cứ dùng một đôi giày cũ cho đến khi chúng không còn dùng được. Các con trai của ông mua ô tô sau khi chúng trở nên phổ biến, nhưng Cha bằng lòng với xe điện cho chuyến đi hằng ngày đến sở làm.

GURRU (Gyana Prabha) GHOSH (1868–1904)

GURRU (Gyana Prabha) GHOSH (1868–1904)

Mother of Yoganandaji; disciple of Lahiri Mahasaya

Mẹ của Yoganandaji; đệ tử của Lahiri Mahasaya

BHAGABATI CHARAN GHOSH (1853–1942)

BHAGABATI CHARAN GHOSH (1853–1942)

Father of Yoganandaji; disciple of Lahiri Mahasaya

Cha của Yoganandaji; đệ tử của Lahiri Mahasaya

Father was not interested in the accumulation of money for the sake of power. On one occasion, after he had organized the Calcutta Urban Bank, he refused to benefit himself by holding any of its shares. He had simply wished to perform a civic duty in his spare time.

Cha không quan tâm đến việc tích lũy tiền bạc vì quyền lực. Trong một dịp, sau khi ông tổ chức Ngân hàng Đô thị Calcutta, ông từ chối làm lợi cho mình bằng cách nắm giữ bất kỳ cổ phần nào của ngân hàng. Ông chỉ đơn giản muốn thực hiện một bổn phận công dân trong thời gian rảnh rỗi.

Several years after Father had retired on a pension, an accountant from England came to India to examine the books of Bengal-Nagpur Railway. The amazed investigator discovered that Father had never applied for overdue bonuses.

Vài năm sau khi Cha đã nghỉ hưu và hưởng lương hưu, một kế toán viên từ Anh đến Ấn Độ để kiểm tra sổ sách của Đường sắt Bengal-Nagpur. Người điều tra kinh ngạc phát hiện rằng Cha chưa bao giờ xin nhận các khoản tiền thưởng quá hạn.

“He did the work of three men!” the accountant told the company. “He has rupees 125,000 ($41,250) owing to him as back compensation.” The treasurer sent Father a check for that amount. My parent thought so little about the matter that he forgot to mention it to the family. Much later he was questioned by my youngest brother Bishnu, who had noticed the large deposit on a bank statement.

“Ông ấy đã làm công việc của ba người!” người kế toán nói với công ty. “Công ty còn nợ ông 125.000 rupee (41.250 đô la) như khoản bồi hoàn.” Viên thủ quỹ gửi cho Cha một tấm ngân phiếu với số tiền ấy. Cha tôi xem nhẹ việc này đến nỗi ông quên nhắc với gia đình. Mãi về sau, ông mới bị người em út của tôi là Bishnu hỏi đến, vì em đã thấy khoản tiền gửi lớn trên một bản sao kê ngân hàng.

“Why be elated by material profit?” Father replied. “The one who pursues a goal of evenmindedness is neither jubilant with gain nor depressed by loss. He knows that man arrives penniless in this world, and departs without a single rupee.”

“Tại sao lại hân hoan vì lợi lộc vật chất?” Cha đáp. “Người theo đuổi mục tiêu bình thản thì không vui mừng trước lợi lộc, cũng không buồn nản vì mất mát. Y biết rằng con người đến thế gian này tay trắng, và ra đi không mang theo một đồng rupee nào.”

Early in their married life, my parents became disciples of a great master, Lahiri Mahasaya of Banaras. This association strengthened Father’s naturally ascetical temperament. Mother once made a remarkable admission to my eldest sister Roma: “Your father and I sleep together as man and wife only once a year, for the purpose of having children.”

Ngay từ những năm đầu đời sống hôn nhân, cha mẹ tôi đã trở thành đệ tử của một Chân sư vĩ đại, Lahiri Mahasaya ở Banaras. Mối liên hệ này củng cố tính khí khổ hạnh vốn có nơi Cha. Một lần, Mẹ đã thú nhận một điều đáng chú ý với chị cả của tôi là Roma: “Cha con và mẹ chỉ ngủ với nhau như vợ chồng mỗi năm một lần, vì mục đích sinh con.”

Father met Lahiri Mahasaya through Abinash Babu,7 an employee of a branch line of Bengal-Nagpur Railway. In Gorakhpur, Abinash Babu instructed my young ears with engrossing tales of many Indian saints. He invariably concluded with a tribute to the superior glories of his own guru.

Cha gặp Lahiri Mahasaya qua Abinash Babu,7 một nhân viên của một tuyến nhánh thuộc Đường sắt Bengal-Nagpur. Ở Gorakhpur, Abinash Babu thường kể cho đôi tai non trẻ của tôi nghe những câu chuyện cuốn hút về nhiều vị thánh Ấn Độ. Ông luôn kết thúc bằng một lời tán dương những vinh quang siêu việt của chính vị guru của mình.

“Did you ever hear of the extraordinary circumstances under which your father became a disciple of Lahiri Mahasaya?” It was on a lazy summer afternoon, as Abinash and I sat together in the compound of my home, that he put this intriguing question. I shook my head with a smile of anticipation.

“Cậu đã bao giờ nghe về những hoàn cảnh phi thường khiến cha cậu trở thành đệ tử của Lahiri Mahasaya chưa?” Vào một buổi chiều mùa hè uể oải, khi Abinash và tôi cùng ngồi trong sân nhà tôi, ông đặt câu hỏi hấp dẫn ấy. Tôi mỉm cười mong đợi và lắc đầu.

“Years ago, before you were born, I asked my superior officer — your father — to give me a week’s leave from my office duties in order to visit my guru in Banaras. Your father ridiculed my plan.

“Nhiều năm trước, trước khi cậu ra đời, tôi đã xin cấp trên của tôi — tức cha cậu — cho tôi nghỉ phép một tuần khỏi công việc văn phòng để đi thăm guru của tôi ở Banaras. Cha cậu chế giễu kế hoạch của tôi.

“‘Are you going to become a religious fanatic?’ he inquired. ‘Concentrate on your office work if you want to forge ahead.’

“‘Anh định trở thành một kẻ cuồng tín tôn giáo sao?’ ông hỏi. ‘Hãy tập trung vào công việc văn phòng nếu anh muốn tiến thân.’

“Sadly walking home along a woodland path that day, I met your father in a palanquin. He dismissed his servants and conveyance, and fell into step beside me. Seeking to console me, he pointed out the advantages of striving for worldly success. But I heard him listlessly. My heart was repeating: ‘Lahiri Mahasaya! I cannot live without seeing you!’

“Chiều hôm ấy, tôi buồn bã đi bộ về nhà trên một lối mòn xuyên rừng thì gặp cha cậu trong một chiếc kiệu. Ông cho người hầu và kiệu lui đi, rồi đi bộ bên cạnh tôi. Muốn an ủi tôi, ông chỉ ra những lợi ích của việc phấn đấu để thành công nơi đời. Nhưng tôi nghe một cách thờ ơ. Tim tôi cứ lặp đi lặp lại: ‘Lahiri Mahasaya! Con không thể sống nếu không được gặp Ngài!’

“Our path took us to the edge of a tranquil field, where the rays of the late afternoon sun were crowning the tall ripple of the wild grass. We paused in admiration. There in the field, only a few yards from us, the form of my great guru suddenly appeared!8

“Con đường đưa chúng tôi đến rìa một cánh đồng yên tĩnh, nơi những tia nắng cuối chiều đang đội vương miện lên ngọn sóng cao của đám cỏ hoang. Chúng tôi dừng lại, trầm trồ. Ở đó, trong cánh đồng, chỉ cách chúng tôi vài thước, hình tướng của vị guru vĩ đại của tôi đột nhiên xuất hiện!8

“‘Bhagabati, you are too hard on your employee!’ His voice was resonant in our astounded ears. He vanished as mysteriously as he had come. On my knees I was exclaiming, ‘Lahiri Mahasaya! Lahiri Mahasaya!’ For a few moments your father was motionless with stupefaction.

“‘Bhagabati, ông quá nghiêm khắc với nhân viên của mình!’ Giọng Ngài vang dội trong đôi tai sửng sốt của chúng tôi. Ngài biến mất huyền bí như khi Ngài đã đến. Quỳ gối xuống, tôi kêu lên: ‘Lahiri Mahasaya! Lahiri Mahasaya!’ Trong vài khoảnh khắc, cha cậu đứng bất động vì sững sờ.

“‘Abinash, not only do I give you leave, but I give myself leave to start for Banaras tomorrow. I must know this great Lahiri Mahasaya, who is able to materialize himself at will in order to intercede for you! I will take my wife and ask this master to initiate us in his spiritual path. Will you guide us to him?’

“‘Abinash, tôi không chỉ cho anh nghỉ phép, mà tôi còn cho chính tôi nghỉ phép để ngày mai lên đường đi Banaras. Tôi phải biết vị Lahiri Mahasaya vĩ đại này, người có thể tùy ý hiện hình để can thiệp cho anh! Tôi sẽ đưa vợ tôi đi và xin vị Chân sư này điểm đạo chúng tôi vào con đường tinh thần của Ngài. Anh sẽ dẫn chúng tôi đến gặp Ngài chứ?’

“‘Of course.’ Joy filled me at the miraculous answer to my prayer, and the quick, favorable turn of events.

“‘Dĩ nhiên.’ Sự hoan hỉ tràn ngập trong tôi trước lời đáp kỳ diệu cho lời cầu nguyện của mình, và trước sự xoay chuyển nhanh chóng, thuận lợi của các biến cố.

“The next evening your parents and I entrained for Banaras. Reaching there on the following day, we took a horse cart for some distance, then had to walk through narrow lanes to my guru’s secluded home. Entering his little parlor, we bowed before the master, enlocked in his habitual lotus posture. He blinked his piercing eyes and leveled them on your father. ‘Bhagabati, you are too hard on your employee!’ His words were the same as those he had used two days before in the grassy field. He added, ‘I am glad that you have permitted Abinash to visit me, and that you and your wife have accompanied him.’

“Tối hôm sau, cha mẹ cậu và tôi lên tàu đi Banaras. Đến nơi vào ngày kế tiếp, chúng tôi đi xe ngựa một đoạn, rồi phải đi bộ qua những ngõ hẹp để đến ngôi nhà hẻo lánh của guru tôi. Bước vào phòng khách nhỏ của Ngài, chúng tôi cúi lạy trước Chân sư, đang an tọa trong tư thế hoa sen quen thuộc. Ngài chớp đôi mắt sắc bén và nhìn thẳng vào cha cậu. ‘Bhagabati, ông quá nghiêm khắc với nhân viên của mình!’ Lời Ngài giống hệt những lời Ngài đã dùng hai ngày trước trong cánh đồng cỏ. Ngài thêm: ‘Tôi vui vì ông đã cho phép Abinash đến thăm tôi, và vì ông cùng vợ đã đi theo anh ấy.’

“To their joy, he initiated your parents in the spiritual practice of Kriya Yoga.9 Your father and I, as brother disciples, have been close friends since the memorable day of the vision. Lahiri Mahasaya took a definite interest in your own birth. Your life shall surely be linked with his own; the master’s blessing never fails.”

“Trước niềm vui của họ, Ngài điểm đạo cha mẹ cậu vào pháp môn tinh thần Kriya Yoga.9 Cha cậu và tôi, với tư cách huynh đệ đồng môn, đã là bạn thân từ ngày linh ảnh đáng nhớ ấy. Lahiri Mahasaya đặc biệt quan tâm đến chính sự ra đời của cậu. Chắc chắn đời cậu sẽ gắn liền với đời Ngài; phúc lành của Chân sư không bao giờ sai chạy.”

Lahiri Mahasaya left this world shortly after I had entered it. His picture, in an ornate frame, always graced our family altar in the various cities to which Father was transferred by his office. Many a morning and evening found Mother and me meditating before an improvised shrine, offering flowers dipped in fragrant sandalwood paste. With frankincense and myrrh as well as our united devotions, we honored the divinity that had found full expression in Lahiri Mahasaya.

Lahiri Mahasaya rời thế gian này không lâu sau khi tôi bước vào đời. Bức ảnh của Ngài, đặt trong một khung trang trí, luôn làm đẹp bàn thờ gia đình chúng tôi tại các thành phố khác nhau mà Cha được cơ quan thuyên chuyển đến. Nhiều buổi sáng và tối, Mẹ và tôi tham thiền trước một điện thờ tạm, dâng những bông hoa nhúng trong hồ đàn hương thơm ngát. Bằng nhũ hương, một dược và lòng sùng kính hợp nhất của chúng tôi, chúng tôi tôn vinh thiên tính đã tìm được sự biểu lộ trọn vẹn nơi Lahiri Mahasaya.

His picture had a surpassing influence over my life. As I grew, the thought of the master grew with me. In meditation I would often see his photographic image emerge from its small frame and, taking a living form, sit before me. When I attempted to touch the feet of his luminous body, it would change and again become the picture. As childhood slipped into boyhood, I found Lahiri Mahasaya transformed in my mind from a little image, cribbed in a frame, to a living, enlightening presence. I frequently prayed to him in moments of trial or confusion, finding within me his solacing direction.

Bức ảnh của Ngài có ảnh hưởng vượt trội đối với đời tôi. Khi tôi lớn lên, ý nghĩ về Chân sư cũng lớn lên cùng tôi. Trong tham thiền, tôi thường thấy hình ảnh chụp của Ngài bước ra khỏi khung nhỏ và, mang một hình tướng sống động, ngồi trước tôi. Khi tôi cố chạm vào đôi chân của thể rạng sáng của Ngài, nó lại biến đổi và trở thành bức ảnh như cũ. Khi tuổi thơ trôi sang thời niên thiếu, trong trí tôi, Lahiri Mahasaya đã chuyển đổi từ một hình ảnh nhỏ bé bị giam trong khung thành một sự hiện diện sống động, soi sáng. Tôi thường cầu nguyện với Ngài trong những lúc thử thách hoặc rối bời, và tìm thấy trong tôi sự hướng dẫn an ủi của Ngài.

At first I grieved because he was no longer physically living. As I began to discover his secret omnipresence, I lamented no more. He had often written to those of his disciples who were over-anxious to see him: “Why come to view my flesh and bones, when I am ever within range of your kutastha (spiritual sight)?”

Ban đầu tôi đau buồn vì Ngài không còn sống về mặt hồng trần. Khi tôi bắt đầu khám phá sự hiện diện khắp nơi bí mật của Ngài, tôi không còn than khóc nữa. Ngài thường viết cho những đệ tử quá nóng lòng muốn gặp Ngài: “Tại sao đến để nhìn xương thịt của tôi, khi tôi luôn ở trong tầm kutastha (linh thị tinh thần) của các con?”

At about the age of eight I was blessed with a wonderful healing through the photograph of Lahiri Mahasaya. This experience gave intensification to my love. While at our family estate in Ichapur, Bengal, I was stricken with Asiatic cholera. My life was despaired of; the doctors could do nothing. At my bedside, Mother frantically motioned me to look at Lahiri Mahasaya’s picture on the wall above my head.

Vào khoảng tám tuổi, tôi được ban phúc bằng một sự chữa lành kỳ diệu qua bức ảnh của Lahiri Mahasaya. Kinh nghiệm này làm tình thương của tôi thêm mãnh liệt. Khi ở điền trang gia đình tại Ichapur, Bengal, tôi mắc bệnh dịch tả châu Á. Mạng sống của tôi bị xem là tuyệt vọng; các bác sĩ không thể làm gì. Bên giường tôi, Mẹ hối hả ra hiệu cho tôi nhìn bức ảnh Lahiri Mahasaya trên tường phía trên đầu tôi.

“Bow to him mentally!” She knew I was too feeble even to lift my hands in salutation. “If you really show your devotion and inwardly kneel before him, your life will be spared!”

“Hãy cúi lạy Ngài trong trí!” Bà biết tôi quá yếu, ngay cả nhấc tay chào cũng không nổi. “Nếu con thật sự bày tỏ lòng sùng kính và trong lòng quỳ trước Ngài, mạng sống của con sẽ được giữ lại!”

I gazed at his photograph and saw there a blinding light, enveloping my body and the entire room. My nausea and other uncontrollable symptoms disappeared; I was well. At once I felt strong enough to bend over and touch Mother’s feet in appreciation of her immeasurable faith in her guru. Mother pressed her head repeatedly against the little picture.

Tôi nhìn chăm chú vào bức ảnh của Ngài và thấy ở đó một luồng ánh sáng chói lòa, bao trùm thể tôi và toàn bộ căn phòng. Cơn buồn nôn và các triệu chứng không kiểm soát khác biến mất; tôi khỏe lại. Ngay lập tức, tôi cảm thấy đủ mạnh để cúi xuống chạm vào chân Mẹ, tỏ lòng biết ơn đối với đức tin vô lượng của bà nơi guru của mình. Mẹ liên tục áp đầu vào bức ảnh nhỏ.

“O Omnipresent Master, I thank thee that thy light hath healed my son!”

“Ôi Chân sư Hiện Diện Khắp Nơi, con cảm tạ Ngài vì ánh sáng của Ngài đã chữa lành con trai con!”

I realized that she too had witnessed the luminous blaze through which I had instantly recovered from a usually fatal disease.

Tôi nhận ra rằng bà cũng đã chứng kiến ngọn lửa rạng sáng nhờ đó tôi tức khắc phục hồi khỏi một căn bệnh thường gây tử vong.

One of my most precious possessions is that same photograph. Given to Father by Lahiri Mahasaya himself, it carries a holy vibration. The picture had a miraculous origin. I heard the story from Father’s brother disciple, Kali Kumar Roy.

Một trong những sở hữu quý giá nhất của tôi chính là bức ảnh ấy. Được chính Lahiri Mahasaya trao cho Cha, nó mang một rung động thiêng liêng. Bức ảnh có một nguồn gốc kỳ diệu. Tôi nghe câu chuyện từ huynh đệ đồng môn của Cha, Kali Kumar Roy.

It appears that the master had an aversion to being photographed. Over his protest, a picture was once taken of him and a group of devotees, including Kali Kumar Roy. It was an amazed photographer who discovered that the plate, which had clear images of all the disciples, revealed nothing more than a blank space in the center where he had reasonably expected to find the outlines of Lahiri Mahasaya. The phenomenon was widely discussed.

Dường như Chân sư không thích được chụp ảnh. Bất chấp sự phản đối của Ngài, một bức ảnh từng được chụp Ngài cùng một nhóm người sùng kính, trong đó có Kali Kumar Roy. Người nhiếp ảnh gia kinh ngạc phát hiện rằng tấm phim, vốn có hình ảnh rõ ràng của tất cả các đệ tử, lại chẳng cho thấy gì ngoài một khoảng trống ở trung tâm, nơi ông có lý do để chờ đợi thấy đường nét của Lahiri Mahasaya. Hiện tượng ấy được bàn tán rộng rãi.

A student who was an expert photographer, Ganga Dhar Babu, boasted that the fugitive figure would not escape him. The next morning, as the guru sat in lotus posture on a wooden bench with a screen behind him, Ganga Dhar Babu arrived with his equipment. Taking every precaution for success, he greedily exposed twelve plates. On each one he soon found the imprint of the wooden bench and screen, but once again the master’s form was missing.

Một đạo sinh là nhiếp ảnh gia lão luyện, Ganga Dhar Babu, khoe rằng hình bóng hay lẩn tránh ấy sẽ không thoát khỏi ông. Sáng hôm sau, khi guru ngồi trong tư thế hoa sen trên một băng ghế gỗ, phía sau có một tấm bình phong, Ganga Dhar Babu đến với thiết bị của mình. Thực hiện mọi sự phòng bị để thành công, ông háo hức chụp mười hai tấm phim. Trên mỗi tấm, chẳng bao lâu ông thấy dấu ấn của băng ghế gỗ và tấm bình phong, nhưng một lần nữa hình tướng của Chân sư lại vắng mặt.

With tears and shattered pride, Ganga Dhar Babu sought out his guru. It was many hours before Lahiri Mahasaya broke his silence with a pregnant comment:

Với nước mắt và lòng kiêu hãnh tan vỡ, Ganga Dhar Babu tìm đến guru của mình. Nhiều giờ trôi qua trước khi Lahiri Mahasaya phá vỡ sự im lặng bằng một nhận xét đầy hàm ý:

“I am Spirit. Can your camera reflect the omnipresent Invisible?”

“Ta là Tinh Thần. Máy ảnh của con có thể phản chiếu Đấng Vô Hình hiện diện khắp nơi sao?”

“I see it cannot! But, Holy Sir, I lovingly desire a picture of your bodily temple. My vision has been narrow; until today I did not realize that in you the Spirit fully dwells.”

“Con thấy là không thể! Nhưng, thưa Bậc Thánh, con tha thiết mong có một bức ảnh của ngôi đền thân xác của Ngài. Tầm nhìn của con đã hẹp hòi; cho đến hôm nay, con chưa nhận ra rằng nơi Ngài, Tinh Thần ngự trọn vẹn.”

“Come, then, tomorrow morning. I will pose for you.”

“Vậy thì sáng mai hãy đến. Ta sẽ ngồi cho con chụp.”

Again the photographer focused his camera. This time the sacred figure, not cloaked with mysterious imperceptibility, was sharp on the plate. The master never posed for another picture; at least, I have seen none.

Một lần nữa người nhiếp ảnh gia lấy nét máy ảnh. Lần này, hình bóng thiêng liêng, không bị che phủ bởi sự bất khả tri giác huyền bí, hiện rõ trên tấm phim. Chân sư không bao giờ ngồi chụp một bức ảnh nào khác; ít nhất, tôi chưa thấy bức nào.

The photograph is reproduced in this book.10 Lahiri Mahasaya’s fair features, of a universal cast, hardly suggest to what race he belonged. The joy of God-communion is slightly revealed in his enigmatic smile. His eyes, half open to denote a nominal interest in the outer world, are also half closed, indicating his absorption in inner bliss. Oblivious of the poor lures of the earth, he was fully awake at all times to the spiritual problems of seekers who approached for his bounty.

Bức ảnh được in lại trong quyển sách này.10 Những nét mặt sáng sủa của Lahiri Mahasaya, mang dáng vẻ phổ quát, hầu như không gợi cho thấy Ngài thuộc nhân loại nào. Niềm hoan hỉ của sự hiệp thông với Thượng đế được hé lộ nhẹ trong nụ cười bí ẩn của Ngài. Đôi mắt Ngài, nửa mở để biểu thị một sự quan tâm danh nghĩa đến thế giới bên ngoài, cũng nửa khép, cho thấy sự chìm đắm của Ngài trong chí phúc bên trong. Không màng đến những cám dỗ nghèo nàn của trái đất, Ngài luôn hoàn toàn tỉnh thức trước các vấn đề tinh thần của những người tìm đạo đến gần để nhận ân huệ của Ngài.

Shortly after my healing through the potency of the guru’s picture, I had an influential spiritual vision. Sitting on my bed one morning, I fell into a deep reverie.

Không lâu sau khi tôi được chữa lành nhờ quyền năng trong bức ảnh của guru, tôi có một linh ảnh tinh thần đầy ảnh hưởng. Một buổi sáng, ngồi trên giường, tôi rơi vào một cơn mơ màng sâu.

“What is behind the darkness of closed eyes?” This probing thought came powerfully into my mind. An immense flash of light at once manifested to my inner gaze. Divine shapes of saints, sitting in meditation posture in mountain caves, formed like miniature cinema pictures on the large screen of radiance within my forehead.

“Điều gì ở phía sau bóng tối của đôi mắt khép?” Ý nghĩ dò hỏi này mạnh mẽ đi vào trí tôi. Ngay lập tức, một tia sáng mênh mông biểu lộ trước cái nhìn bên trong của tôi. Những hình dạng thiêng liêng của các vị thánh, ngồi trong tư thế tham thiền trong các hang núi, hiện thành những bức ảnh điện ảnh thu nhỏ trên màn hình rạng rỡ lớn trong trán tôi.