Trích nội dung chương
Thầy MDR tóm lược hai ý nghĩa của Sao Thổ tù trong Bạch Dương: trước hết Sao Thổ rơi xuống cùng Bạch Dương vào các cõi thấp để giám sát hành trình con người qua nghiệp quả; sau đó Sao Thổ “rơi khỏi” quyền kiểm soát khi con người bước lên Thập Giá Chủ Yếu. Ở giai đoạn đầu, Sao Thổ đi xuống để bảo vệ và sửa chữa; ở giai đoạn sau, chức năng nghiệp quả thấp của nó đã hoàn tất nên không còn theo điểm đạo đồ vào phạm vi mới. Thầy nhấn mạnh chỉ phương diện thấp của Sao Thổ kết thúc, không phải mọi ý nghĩa cao của hành tinh này. [1] 1. Is the subject a personality, progressing around and around the wheel, [1b] perfecting self-consciousness and…
Thầy MDR tóm lược hai ý nghĩa của Sao Thổ tù trong Bạch Dương: trước hết Sao Thổ rơi xuống cùng Bạch Dương vào các cõi thấp để giám sát hành trình con người qua nghiệp quả; sau đó Sao Thổ “rơi khỏi” quyền kiểm soát khi con người bước lên Thập Giá Chủ Yếu. Ở giai đoạn đầu, Sao Thổ đi xuống để bảo vệ và sửa chữa; ở giai đoạn sau, chức năng nghiệp quả thấp của nó đã hoàn tất nên không còn theo điểm đạo đồ vào phạm vi mới. Thầy nhấn mạnh chỉ phương diện thấp của Sao Thổ kết thúc, không phải mọi ý nghĩa cao của hành tinh này.
Text 48
[1] 1. Is the subject a personality, progressing around and around the wheel, [1b] perfecting self-consciousness and developing a rounded out [2] personality through experience and the working of the Law of Karma, [3] subject to the Great Illusion [4] and arriving eventually at the height of personality ambition in Capricorn?
[1] 1. Đối tượng ấy có phải là một phàm ngã, đang tiến vòng quanh bánh xe hết lần này đến lần khác, [1b] hoàn thiện ngã thức và phát triển một [2] phàm ngã toàn vẹn qua kinh nghiệm và tác động của Định luật Nghiệp Quả, [3] chịu sự chi phối của Đại Ảo Tưởng [4] và cuối cùng đạt tới đỉnh cao tham vọng của phàm ngã trong Ma Kết hay không?
[5] 2. Or, is this person beginning to manifest as a soul, pouring light through dense fogs of illusion, [6] and preparing for the major tests in Scorpio, [7] to be followed by initiation in Capricorn?
[5] 2. Hay người này đang bắt đầu biểu lộ như một linh hồn, tuôn ánh sáng xuyên qua những màn sương dày đặc của ảo tưởng, [6] và chuẩn bị cho những thử thách lớn trong Hổ Cáp, [7] để sau đó bước vào điểm đạo trong Ma Kết?
[8] Subsidiary questions would, for instance be: For which death is the man preparing? [9] Is there an imminent crisis at hand which indicates a birth into some new state of consciousness? [10] The crucial question, however, to be determined in every case, is the direction in which the man is progressing around the wheel of life. [11] The orthodox horoscope concerns the personality life and the form is bound upon the “wheel of life as it turns from right to left” [12] (from Aries to Taurus via Pisces). [13] But the soul is bound to the wheel as it turns from left to right, [14] going from Aries to Pisces, [15] via Taurus. [16] It is this antagonistic movement of the wheel “turning upon itself” (as it is expressed in the Bible) [Page 104] which leads to the conflict carried on in the individual life, in the life of [17] humanity and in the life of the planet. [18] In the early stages of evolution and upon the Mutable Cross, the consciousness is entirely identified with life in form [19] and with the life of self-consciousness, self-preservation and self-enrichment. [20] Then comes an interlude wherein the consciousness begins to shift into that of the group [21] and becomes identified with the soul and with soul purpose. [22] The experience of the Fixed Cross covers this period. [23] It might here be noted that the experience of the three crosses has a Masonic significance and can be connected with the Blue Lodge:
[8] Chẳng hạn, những câu hỏi phụ sẽ là: Con người đang chuẩn bị cho cái chết nào? [9] Có phải một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra, báo hiệu sự sinh ra vào một trạng thái tâm thức mới nào đó không? [10] Tuy nhiên, câu hỏi then chốt cần được xác định trong mọi trường hợp là con người đang tiến theo hướng nào quanh bánh xe sự sống. [11] Lá số chiêm tinh chính thống liên quan đến đời sống phàm ngã, và hình tướng bị trói buộc vào “bánh xe sự sống khi nó quay từ phải sang trái” [12] (từ Bạch Dương đến Kim Ngưu qua Song Ngư). [13] Nhưng linh hồn bị ràng buộc vào bánh xe khi nó quay từ trái sang phải, [14] đi từ Bạch Dương đến Song Ngư, [15] qua Kim Ngưu. [16] Chính chuyển động đối nghịch này của bánh xe “quay trên chính nó” (như được diễn đạt trong Kinh Thánh) [Trang 104] dẫn đến cuộc xung đột diễn ra trong đời sống cá nhân, trong đời sống của [17] nhân loại và trong đời sống của hành tinh. [18] Trong những giai đoạn đầu của tiến hóa và trên Thập Giá Biến đổi, tâm thức hoàn toàn đồng hóa với sự sống trong hình tướng [19] và với đời sống của ngã thức, sự tự bảo tồn và sự tự làm giàu. [20] Rồi đến một giai đoạn chuyển tiếp, trong đó tâm thức bắt đầu chuyển sang tâm thức nhóm [21] và đồng hóa với linh hồn cùng mục đích của linh hồn. [22] Kinh nghiệm của Thập Giá Cố Định bao trùm giai đoạn này. [23] Ở đây có thể lưu ý rằng kinh nghiệm của ba Thập Giá có một thâm nghĩa thuộc Hội Tam Điểm và có thể được liên hệ với Hội Quán Xanh:
[23b] 1. The Common Cross... The E\ A\ Degree
[23b] 1. Thập Giá Thông Thường... Cấp E\ A
[23c] 2. The Fixed Cross...... The F\ C\ Degree
[23c] 2. Thập Giá Cố Định...... Cấp F\ C
[23d] 3. The Cardinal Cross.... The M\ M\ Degree
[23d] 3. Thập Giá Chủ Yếu.... Cấp M\ M\
[24] Much will come to light in Masonry when its astrological implications are studied and understood. [25] Much also will be revealed anent individual life and purpose when the fate of certain planets [26] (when in the various zodiacal signs) is properly investigated and grasped and their symbolic significances interpreted. [27] For instance, it is well known theoretically and mathematically that,
[24] Nhiều điều sẽ được làm sáng tỏ trong Hội Tam Điểm khi những hàm ý chiêm tinh của nó được nghiên cứu và thấu hiểu. [25] Nhiều điều liên quan đến đời sống và mục đích cá nhân cũng sẽ được mặc khải khi số phận của một số hành tinh [26] khi ở trong các dấu hiệu hoàng đạo khác nhau được khảo sát và nắm bắt đúng đắn, đồng thời các thâm nghĩa biểu tượng của chúng được diễn giải. [27] Chẳng hạn, về mặt lý thuyết và toán học, người ta biết rõ rằng:
[28] 1. The Sun is exalted in Aries. [29] Here the Sun stands for the life of the spirit which comes to full expression as the result of the great evolutionary process, [30] initiated in Aries. [31] The life of God which in this sign is “swung into activity” [32] eventually achieves consummation. [33] Latency becomes potency and midnight merges into midday. [34] God, the Father, rules.
[28] 1. Mặt Trời vượng trong Bạch Dương. [29] Ở đây Mặt Trời tượng trưng cho sự sống của tinh thần, vốn đạt tới sự biểu lộ viên mãn do kết quả của đại tiến trình tiến hóa, [30] được khởi đầu trong Bạch Dương. [31] Sự sống của Thượng Đế, vốn trong dấu hiệu này được “đưa vào hoạt động,” [32] cuối cùng đạt tới sự viên mãn. [33] Tiềm tàng trở thành quyền năng và nửa đêm hòa nhập vào giữa trưa. [34] Thượng Đế, Đức Cha, cai quản.
[35] 2. The power of Venus is lessened in this sign. [36] It is a detrimental sign to Venus. [37] The reason for this is that when the Sun is exalted and blazes forth in all its glory, [Page 105] [38] the other lesser luminaries [38b] fade out. [39] Just as the personality is lost sight of in the light of the soul, the solar Angel, [40] so the soul itself disappears [41] and its power and radiance fade out [41b] when the Presence, [42] which it has hitherto veiled, [43] appears and dominates the scene at the end of the greater world cycle. [44] We are told that the incarnating Minds, human beings, [45] the solar Angels, [46] came originally from Venus, [47] but they in turn give place to the monad, the One. [48] Mind gives place to intuition and [49] reason to pure perception.
[35] 2. Quyền năng của Sao Kim suy giảm trong dấu hiệu này. [36] Đây là dấu hiệu hãm địa đối với Sao Kim. [37] Lý do là khi Mặt Trời được vượng và bừng sáng trong toàn bộ vinh quang của nó, [Trang 105] [38] những nguồn sáng nhỏ hơn khác [38b] mờ dần đi. [39] Cũng như phàm ngã không còn được nhìn thấy trong ánh sáng của linh hồn, tức Thái dương Thiên Thần, [40] chính linh hồn cũng biến mất [41] và quyền năng cùng ánh sáng rực rỡ của nó mờ dần [41b] khi Sự Hiện Diện, [42] mà cho đến lúc ấy linh hồn vẫn che phủ, [43] xuất hiện và chi phối toàn bộ bối cảnh vào cuối chu kỳ thế giới lớn hơn. [44] Chúng ta được cho biết rằng các Trí đang lâm phàm, tức con người, [45] các Thái dương Thiên Thần, [46] nguyên thủy đến từ Sao Kim, [47] nhưng đến lượt mình, các Ngài nhường chỗ cho chân thần, Đấng Duy Nhất. [48] Trí tuệ nhường chỗ cho trực giác và [49] lý trí nhường chỗ cho tri giác thuần khiết.
[49b] 3. Saturn “falls” in Aries. [50] This has two meanings, for this is a dual sign. [51] First: Saturn is the Lord of Karma, [51b] the imposer of retribution [52] and the one who demands full [53] payment of all debts [54] and who therefore condemns us to the struggle for existence, [55] both from the form side and from the soul side. [55b] Saturn, therefore, “fell” when man fell into generation. [56] He “followed the sons of men down into their low place.” [57] Second: Saturn's power is completely ended [58] and his work accomplished when man (the spiritual man) has freed himself from Karma and from the power of the two Crosses—the Common and the Fixed. [59] Esoterically, Saturn cannot follow man on to the Cardinal Cross.
[49b] 3. Sao Thổ “lạc hãm” trong Bạch Dương. [50] Điều này có hai ý nghĩa, bởi đây là một dấu hiệu nhị nguyên. [51] Thứ nhất: Sao Thổ là Chúa Tể của Nghiệp Quả, [51b] Đấng áp đặt sự báo ứng [52] và Đấng đòi hỏi việc thanh toán đầy đủ [53] mọi món nợ, [54] và vì vậy buộc chúng ta phải đấu tranh để tồn tại, [55] cả từ phương diện hình tướng lẫn từ phương diện linh hồn. [55b] Vì thế, Sao Thổ đã “sa xuống” khi con người sa vào sự sinh sản. [56] Ngài “đi theo những người con của nhân loại xuống nơi thấp của họ.” [57] Thứ hai: Quyền năng của Sao Thổ hoàn toàn chấm dứt [58] và công việc của Ngài được hoàn tất khi con người, tức con người tinh thần, đã tự giải thoát khỏi Nghiệp Quả và khỏi quyền lực của hai Thập Giá—Thập Giá Thông Thường và Thập Giá Cố Định. [59] Về mặt huyền bí, Sao Thổ không thể đi theo con người lên Thập Giá Chủ Yếu.
Commentary EAA 48 — Aries
Hello everybody, this is Esoteric Astrology Adventure number 48, and we are on page 103 and we are talking about the different ways that an individual proceeds around the wheel, the wheel of rebirth. So there are two major ways of proceeding, and according to the way which the astrologer determines is correct for an individual, so will the horoscope be cast, or at least so will it be interpreted at first, and later, when we know more about casting the horoscope of the soul, so will it be cast. So our questions here:
Xin chào tất cả các bạn, đây là Cuộc Phiêu Lưu Chiêm Tinh Học Nội Môn số 48. Chúng ta đang ở trang 103 và đang bàn về những cách khác nhau mà một cá nhân tiến bước quanh bánh xe, tức bánh xe tái sinh. Có hai cách tiến bước chính, và tùy theo cách mà nhà chiêm tinh xác định là đúng đối với một cá nhân, lá số chiêm tinh sẽ được lập, hoặc ít nhất lúc đầu sẽ được diễn giải như thế; về sau, khi biết thêm về cách lập lá số chiêm tinh của linh hồn, chúng ta sẽ lập nó theo cách ấy. Những câu hỏi của chúng ta ở đây là:
[1] 1. Is the subject a personality, progressing around and around the wheel,
[1] 1. Đối tượng ấy có phải là một phàm ngã, đang tiến vòng quanh bánh xe hết lần này đến lần khác,
that gives you the idea of the millions of years that it requires to go around the wheel of rebirth until some spiritual point is reached, going
điều này giúp các bạn hình dung về hàng triệu năm cần thiết để đi quanh bánh xe tái sinh cho đến khi đạt được một điểm tinh thần nào đó,
[1b] perfecting self-consciousness, and developing a rounded out personality,
[1b] hoàn thiện ngã thức và phát triển một
so the influence of the sun is very important because that is in a way the symbol of self-consciousness, and the fullness of the sun, the rounded out personality,
vì vậy ảnh hưởng của Mặt Trời rất quan trọng, bởi theo một cách nào đó, nó là biểu tượng của ngã thức, của sự viên mãn của Mặt Trời và của phàm ngã toàn diện,
[2] through experience and the working of the Law of Karma
[2] phàm ngã toàn vẹn qua kinh nghiệm và tác động của Định luật Nghiệp Quả,
under Saturn,
dưới Sao Thổ,
[3] subject to the great illusion
[3] chịu sự chi phối của Đại Ảo Tưởng
—subject to the moon, in a sense; subject to the Great Illusion—
—theo một ý nghĩa nào đó, chịu chi phối của Mặt Trăng; chịu chi phối của Đại Ảo Tưởng—
[4] and arriving eventually at the height of personality ambition in Capricorn
[4] và cuối cùng đạt tới đỉnh cao tham vọng của phàm ngã trong Ma Kết hay không?
So is that the way the individual is proceeding clockwise, and let us say according to the sun sign, developing the three personality elementals and their union as the selfishly integrated personality, expressing through Capricorn, or is the individual not on the wheel of form but on the wheel of consciousness, and at least
Vậy cá nhân đang tiến theo chiều kim đồng hồ, và có thể nói là phù hợp với dấu hiệu mặt trời, phát triển ba hành khí phàm ngã cùng sự hợp nhất của chúng thành phàm ngã tích hợp ích kỷ biểu lộ qua Ma Kết; hay cá nhân ấy không ở trên bánh xe hình tướng mà ở trên bánh xe tâm thức, và ít nhất
[5] 2. Or, is this person beginning to manifest as a soul, pouring light through dense fogs of illusion,
[5] 2. Hay người này đang bắt đầu biểu lộ như một linh hồn, tuôn ánh sáng xuyên qua những màn sương dày đặc của ảo tưởng,
which can be found upon the cosmic physical plane, the three lower levels,
vốn có thể được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ, tức ba cấp độ thấp,
[6] and preparing for the major tests in Scorpio,
[6] và chuẩn bị cho những thử thách lớn trong Hổ Cáp,
with the first, second and third initiation,
cùng lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba,
[7] to be followed by initiation in Capricorn?
[7] để sau đó bước vào điểm đạo trong Ma Kết?
And by initiation in this case is meant the third initiation. Let us say that
Trong trường hợp này, điểm đạo có nghĩa là lần điểm đạo thứ ba. Có thể nói rằng
[Both Scorpio and Capricorn are involved in the third initiation….
[Cả Hổ Cáp lẫn Ma Kết đều liên quan đến lần điểm đạo thứ ba….
Actually you know it really is possible for people to take initiation in and under many signs. They have a full opportunity, if they are ready, and ingresses—the change of sign of a progressing planet, such as the sun or such as the ascendant—well, they really shouldn't be called planets.
Thật ra, như các bạn biết, người ta thực sự có thể trải qua điểm đạo trong và dưới nhiều dấu hiệu. Nếu đã sẵn sàng, họ có đầy đủ cơ hội; và các lần nhập dấu—sự đổi dấu hiệu của một hành tinh tiến trình, chẳng hạn Mặt Trời hoặc điểm mọc—thật ra chúng không nên được gọi là các hành tinh.
But those changes of the major points, the changes of the angles, give new energy to which the individual can respond and in relation to which he or she can take initiation. So initiation in this case is really the first of the solar initiations, that is the third initiation. The preeminent test in Scorpio is found in relation to the astral body in the second initiation, but Scorpio is also active at the first degree and active at the third degree, with a peculiar testing influence, which then ceases at the third degree and perhaps Scorpio can be applied in a different way, contributing to the death of the causal body at the fourth initiation.
Nhưng những thay đổi của các điểm chính, những thay đổi của các góc, mang lại năng lượng mới mà cá nhân có thể đáp ứng và có thể trải qua điểm đạo trong mối liên hệ với nó. Vì vậy, trong trường hợp này, điểm đạo thực sự là lần đầu tiên trong các cuộc điểm đạo thái dương, tức lần điểm đạo thứ ba. Thử thách nổi bật trong Hổ Cáp được thấy trong mối liên hệ với thể cảm dục ở lần điểm đạo thứ hai, nhưng Hổ Cáp cũng hoạt động ở cấp độ thứ nhất và cấp độ thứ ba với một ảnh hưởng thử thách đặc thù; ảnh hưởng này chấm dứt ở cấp độ thứ ba, và có lẽ Hổ Cáp có thể được áp dụng theo một cách khác, góp phần vào cái chết của thể nguyên nhân ở lần điểm đạo thứ tư.
Because we are told that Scorpio stages the release of Leo. The ultimate release of Leo is the release from Ahamkara through the destruction of the body of individuality, the supra-personality, the causal body, the egoic body.
Bởi chúng ta được dạy rằng Hổ Cáp tạo điều kiện cho sự giải thoát Sư Tử. Sự giải thoát tối hậu của Sư Tử là giải thoát khỏi ahamkara thông qua việc hủy diệt thể biệt ngã, siêu phàm ngã, thể nguyên nhân, thể chân ngã.
[8] Subsidiary questions would, for instance, be: For which death is the man preparing?
[8] Chẳng hạn, những câu hỏi phụ sẽ là: Con người đang chuẩn bị cho cái chết nào?
Well, we had the death in relation to drowning of Pisces, the death in relation to fire of Aries, the death in relation to suffocation of Scorpio, we had no death by air. So for which change of state, change of dimension, for which relinquishment is the man preparing? What type of experience is he willing to give up in the great and general process of detachment?
Chúng ta đã có cái chết do chìm trong nước của Song Ngư, cái chết do lửa của Bạch Dương, cái chết do ngạt thở của Hổ Cáp; chúng ta chưa có cái chết do khí. Vậy con người đang chuẩn bị cho sự thay đổi trạng thái nào, sự thay đổi chiều kích nào, sự từ bỏ nào? Y sẵn lòng từ bỏ loại kinh nghiệm nào trong tiến trình tách rời lớn lao và phổ quát?
[9] Is there an imminent crisis at hand which indicates a birth into some new state of consciousness?
[9] Có phải một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra, báo hiệu sự sinh ra vào một trạng thái tâm thức mới nào đó không?
Well, signs of crisis, you know, we have listed the signs of crisis, the Crisis of the Burning Ground, the crisis in Virgo, the Crisis of the Birth Hour, we have the Crisis of the Battlefield, and if we look at Esoteric Astrology page 472, we see all these different crises listed which are good to have in mind, and these are the crises of the souls, we have crisis of incarnation under Cancer, crisis of orientation and reorientation under Aries, crisis of initiation under Capricorn, crisis of renunciation under Gemini.
Về các dấu hiệu khủng hoảng, như các bạn biết, chúng ta đã liệt kê chúng: Cuộc Khủng Hoảng của Vùng Đất Cháy, cuộc khủng hoảng trong Xử Nữ, Cuộc Khủng Hoảng của Giờ Sinh; chúng ta có Cuộc Khủng Hoảng của Chiến Trường. Nếu xem trang 472 của Chiêm Tinh Học Nội Môn, chúng ta thấy tất cả những cuộc khủng hoảng khác nhau này được liệt kê; sẽ hữu ích nếu ghi nhớ chúng. Đây là những cuộc khủng hoảng của linh hồn: cuộc khủng hoảng nhập thể dưới Cự Giải, cuộc khủng hoảng định hướng và tái định hướng dưới Bạch Dương, cuộc khủng hoảng điểm đạo dưới Ma Kết, cuộc khủng hoảng từ bỏ dưới Song Tử.
That's interesting, related to crucifixion. Crisis of the battlefield under Scorpio—that's already been listed. Crisis of the birthplace under Virgo—that's been listed. Crisis of the burning ground, that is the final burning ground before the fifth initiation, I would expect. And that is under Leo. So Leo, Libra and Capricorn are signs of crisis. Let's look this up to test it.
Điều đó thật thú vị và có liên quan đến sự đóng đinh trên thập giá. Cuộc Khủng Hoảng của Chiến Trường dưới Hổ Cáp—đã được liệt kê. Cuộc Khủng Hoảng của Nơi Sinh dưới Xử Nữ—đã được liệt kê. Cuộc Khủng Hoảng của Vùng Đất Cháy, tức vùng đất cháy cuối cùng trước lần điểm đạo thứ năm, theo tôi dự đoán. Và điều đó thuộc Sư Tử. Như vậy, Sư Tử, Thiên Bình và Ma Kết là các dấu hiệu khủng hoảng. Hãy tra cứu để kiểm chứng điều này.
From this group of signs and their attendant constellations, three are omitted. These are Leo, Libra and Capricorn. These three signs are all signs of crisis and indicate the progressive influence of the other nine and the situations which evolve out of their activity. They are the testing points in the process of the play of energies from the other nine signs as these energies affect individual aspirants. They are:
Trong nhóm các dấu hiệu này và những chòm sao đi kèm, có ba dấu hiệu bị lược bỏ. Đó là Sư Tử, Thiên Bình và Ma Kết. Cả ba đều là những dấu hiệu khủng hoảng và biểu thị ảnh hưởng tiến triển của chín dấu hiệu kia cùng những tình huống phát sinh từ hoạt động của chúng. Chúng là các điểm thử thách trong tiến trình tương tác của những năng lượng đến từ chín dấu hiệu kia khi các năng lượng này tác động đến từng người chí nguyện. Đó là:
Because we have a previous grouping of nine signs, and some have been omitted, and they are called signs of crisis. These three signs are all signs of crisis and indicate progressive influence of the other nine and the situations which evolve out of their activity. They are testing points in the process of the play of energies from the other nine signs, and these are Leo, the Crisis of Individualization, Libra, the Crisis of Balance, and Capricorn, the Crisis of Initiation. So let's add to page 472, page 265 from the same book, and we can call this indicate the birth of some new state of consciousness, and let's say, pages on which of the different crises are listed. Okay, page 472 and 265, the crises are listed as well as the several crises which are listed before in the book, in the in the pages that we are now studying.
Bởi trước đó chúng ta có một nhóm gồm chín dấu hiệu, còn một số dấu hiệu đã bị lược bỏ và được gọi là các dấu hiệu khủng hoảng. Cả ba dấu hiệu này đều là các dấu hiệu khủng hoảng và biểu thị ảnh hưởng tiến triển của chín dấu hiệu kia cùng những tình huống phát sinh từ hoạt động của chúng. Chúng là các điểm thử thách trong tiến trình tương tác của những năng lượng đến từ chín dấu hiệu kia. Đó là Sư Tử, Cuộc Khủng Hoảng Biệt Ngã Hóa; Thiên Bình, Cuộc Khủng Hoảng Quân Bình; và Ma Kết, Cuộc Khủng Hoảng Điểm Đạo. Vậy hãy bổ sung trang 265 của cùng cuốn sách vào trang 472; chúng ta có thể nói rằng điều này biểu thị sự khai sinh của một trạng thái tâm thức mới nào đó, và đây là những trang liệt kê các cuộc khủng hoảng khác nhau. Ở trang 472 và 265, các cuộc khủng hoảng được liệt kê, cùng với một số cuộc khủng hoảng đã được nêu trước đó trong những trang sách mà chúng ta hiện đang nghiên cứu.
Yeah, here they are: the crisis of the battlefield in Scorpio, the Crisis of the Birthplace in Virgo, and the Crisis of the Burning Ground, which is related to Uranus, and that's also related to Leo. Leo is very powerfully related to Uranus, because Uranus is the veiled hierarchical ruler.
Phải, đây rồi: Cuộc Khủng Hoảng của Chiến Trường trong Hổ Cáp, Cuộc Khủng Hoảng của Nơi Sinh trong Xử Nữ và Cuộc Khủng Hoảng của Vùng Đất Cháy, vốn liên quan đến Sao Thiên Vương và cũng liên quan đến Sư Tử. Sư Tử có mối liên hệ rất mạnh mẽ với Sao Thiên Vương, bởi Sao Thiên Vương là chủ tinh huyền giai bị che khuất.
So as esotericists in training, we are always looking out for crisis. Crisis is that through which we should be passing. The personality doesn't really want to pass through it, but we should be passing through this, and this will give the consciousness the opportunity to liberate itself from normal conditions.
Vì vậy, với tư cách những nhà bí truyền học đang được huấn luyện, chúng ta luôn trông đợi khủng hoảng. Khủng hoảng là điều chúng ta nên trải qua. Phàm ngã thật sự không muốn trải qua nó, nhưng chúng ta nên làm vậy, và điều này sẽ trao cho tâm thức cơ hội tự giải thoát khỏi những điều kiện thông thường.
So, Is there an imminent crisis at hand? Well, usually in your horoscope, when Saturn is becoming powerful, when Pluto is getting into aspect, when Uranus is crossing the angles or some other important point, or aspecting some important point, we can expect some sort of crisis which forces—like a good square does, an astrological square—it forces decision upon us, oftentimes very hard decisions. So, is there an imminent crisis at hand which indicates a birth into some new state of consciousness?
Vậy, có một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra không? Thông thường, trong lá số chiêm tinh của các bạn, khi Sao Thổ trở nên mạnh mẽ, khi Sao Diêm Vương bắt đầu tạo góc hợp, khi Sao Thiên Vương đi qua các góc hoặc một điểm quan trọng nào khác, hay tạo góc hợp với một điểm quan trọng nào đó, chúng ta có thể trông đợi một dạng khủng hoảng buộc chúng ta phải quyết định—như tác động của một góc vuông mạnh trong chiêm tinh—và thường đó là những quyết định rất khó khăn. Vậy, có một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra cho thấy sự khai sinh vào một trạng thái tâm thức mới nào đó không?
So here is the key: that crisis offers a birth opportunity. Usually, people think of it as the end, some sort of death. It is a death in a way, but every birth is a death. So
Đây là chìa khóa: khủng hoảng đem lại cơ hội khai sinh. Thông thường, người ta coi nó là sự kết thúc, một dạng cái chết nào đó. Theo một cách nào đó, nó quả là cái chết, nhưng mọi sự khai sinh đều là một cái chết.
[10] The crucial question, however, to be determined in every case, is the direction in which the man is progressing around the wheel of life.
[10] Tuy nhiên, câu hỏi then chốt cần được xác định trong mọi trường hợp là con người đang tiến theo hướng nào quanh bánh xe sự sống.
What is the direction? And basically what that means is, in what way is the man responding to the different signs, constellations which may be influential in his life? Is he responding as an elemental being, a personality, or is he responding as the soul in incarnation gradually becoming consciously the soul on its own plane? And a lot of people are sort of in between, but even if they are in between and are beginning to progress towards the realization of that higher power, the esoteric rulers can be used because the man is in fact reorienting himself.
Phương hướng ấy là gì? Về cơ bản, điều đó có nghĩa là: con người đang đáp ứng như thế nào với những dấu hiệu và chòm sao khác nhau có thể gây ảnh hưởng trong đời y? Y đáp ứng như một sinh linh hành khí, một phàm ngã, hay đáp ứng như linh hồn đang nhập thể, dần dần trở thành linh hồn trên cõi riêng của nó một cách hữu thức? Nhiều người ở khoảng giữa hai trạng thái này, nhưng ngay cả khi họ ở khoảng giữa và đang bắt đầu tiến đến việc nhận biết quyền năng cao siêu ấy, vẫn có thể sử dụng các chủ tinh nội môn, bởi con người thực sự đang tái định hướng chính mình.
It is when reorientation occurs that the esoteric rulers can be used. Let's see, we saw this earlier, and do we find it here? Well, perhaps, perhaps not. It is here, and we did discuss it, that when there is reorientation, the reversal of the wheel does occur, and it is possible to use a higher ruler. At least when the process of reversing the wheel begins, one can use a higher ruler. The important thing is not to apply these higher rulers to ordinary personal circumstances.
Chính khi sự tái định hướng diễn ra, các chủ tinh nội môn mới có thể được sử dụng. Hãy xem, chúng ta đã thấy điều này trước đó, và liệu có tìm thấy nó ở đây không? Có lẽ có, có lẽ không. Nó ở đây, và chúng ta đã bàn rằng khi có sự tái định hướng, bánh xe thực sự đảo chiều và có thể sử dụng một chủ tinh cao hơn. Ít nhất khi tiến trình đảo chiều bánh xe bắt đầu, người ta có thể sử dụng một chủ tinh cao hơn. Điều quan trọng là không áp dụng các chủ tinh cao hơn này vào những hoàn cảnh phàm ngã thông thường.
So, what is the direction in which the man is progressing around the wheel of life? And let us all hope that those who are serious students of this treatise are progressing counterclockwise. We should be progressing counterclockwise.
Vậy phương hướng mà con người đang tiến quanh bánh xe sự sống là gì? Mong rằng tất cả những người nghiêm túc nghiên cứu khảo luận này đều đang tiến ngược chiều kim đồng hồ. Chúng ta nên tiến ngược chiều kim đồng hồ.
[11] The orthodox horoscope concerns the personality life and the form is bound upon the “wheel of life as it turns from right to left”
[11] Lá số chiêm tinh chính thống liên quan đến đời sống phàm ngã, và hình tướng bị trói buộc vào “bánh xe sự sống khi nó quay từ phải sang trái”
So, let's see, from right to left, and that means
Hãy xem, từ phải sang trái, và điều đó có nghĩa là
[12] (from Aries to Taurus via Pisces).
[12] (từ Bạch Dương đến Kim Ngưu qua Song Ngư).
This is the clockwise direction. Of course, we can debate whether this really looks like right to left, but this is the way DK defines it. It turns, in a way, into matter. The direction left indicates matter.
Đây là chiều kim đồng hồ. Dĩ nhiên, chúng ta có thể tranh luận liệu điều này có thực sự giống từ phải sang trái hay không, nhưng đây là cách Chân sư DK định nghĩa nó. Theo một cách nào đó, nó quay vào vật chất. Hướng sang trái biểu thị vật chất.
{The direction left indicates matter and personality.
{Hướng sang trái biểu thị vật chất và phàm ngã.
[13] But the soul is bound to the wheel as it turns from left to right,
[13] Nhưng linh hồn bị ràng buộc vào bánh xe khi nó quay từ trái sang phải,
out of form, matter, personality, into soul spirit,
ra khỏi hình tướng, vật chất và phàm ngã để đi vào linh hồn và tinh thần,
[14] going from Aries to Pisces,
[14] đi từ Bạch Dương đến Song Ngư,
the counterclockwise direction
theo hướng ngược chiều kim đồng hồ
[15] via Taurus.
[15] qua Kim Ngưu.
And this is very important:
Và điều này rất quan trọng:
[16] It is this antagonistic movement of the wheel “turning upon itself” (as it is expressed in the Bible) [Page 104] which leads to the conflict carried on in the individual life,
[16] Chính chuyển động đối nghịch này của bánh xe “quay trên chính nó” (như được diễn đạt trong Kinh Thánh) [Trang 104] dẫn đến cuộc xung đột diễn ra trong đời sống cá nhân, trong đời sống của
Yes, very important, because for so many of us, the wheel is turning in two directions simultaneously and we have not yet finally reversed the wheel so that we do not feel the friction of the turning towards the left while we, in our consciousness, are attempting to turn towards the right. So we have a mixed method of responding to the various signs. Sometimes we respond in a personal manner and sometimes we respond in a manner which is of the soul and aligns us with the soul purpose and plan.
Phải, rất quan trọng, bởi đối với rất nhiều người trong chúng ta, bánh xe đồng thời quay theo hai hướng, và chúng ta vẫn chưa hoàn toàn đảo chiều bánh xe để không còn cảm thấy sự ma sát của chuyển động sang trái trong khi tâm thức của chúng ta đang cố gắng quay sang phải. Vì vậy, chúng ta có một cách đáp ứng pha trộn đối với các dấu hiệu khác nhau. Đôi khi chúng ta đáp ứng theo cách của phàm ngã, và đôi khi theo cách của linh hồn, chỉnh hợp chúng ta với Thiên Ý và Thiên Cơ của linh hồn.
So we are in the midst of a rending process which creates friction, creates fire, creates a kind of burning ground. The more intent we are deliberately to move from left to right, symbolically, the more we instigate this burning ground, this friction, this contrary movement against the natural elemental tendency of things. So there is the wheel turning upon itself. This sometimes indicates the fourth dimensional rotation of the chakra, but DK is applying it to the zodiacal wheel and perhaps the zodiacal wheel of constellations does in a way turn upon itself and there will come a day when at least etherically or in terms of the subjective planes we do have a wheel of fire and even the zodiac itself will turn fourth-dimensionally.
Như vậy, chúng ta đang ở giữa một tiến trình xé giằng tạo ra ma sát, tạo ra lửa và tạo ra một dạng vùng đất cháy. Chúng ta càng chủ tâm và có ý thức di chuyển từ trái sang phải theo nghĩa biểu tượng, chúng ta càng khơi dậy vùng đất cháy, sự ma sát và chuyển động đối nghịch với khuynh hướng hành khí tự nhiên của vạn vật. Vì vậy, bánh xe tự quay trên chính nó. Đôi khi điều này biểu thị chuyển động xoay bốn chiều của luân xa, nhưng Chân sư DK đang áp dụng nó cho bánh xe hoàng đạo. Có lẽ bánh xe chòm sao hoàng đạo, theo một cách nào đó, quả thật tự quay trên chính nó; rồi sẽ đến một ngày, ít nhất về mặt dĩ thái hoặc xét theo các cõi chủ quan, chúng ta thực sự có một bánh xe lửa, và ngay cả Hoàng đạo cũng sẽ quay theo chiều thứ tư.
This would be equivalent to a fourth dimensional rotation of the heart in the head center because the zodiac is, as we have been stating, the heart in the head of that great deity we call the One About Whom Naught May Be Said.
Điều này sẽ tương đương với chuyển động xoay bốn chiều của trái tim trong trung tâm đầu, bởi như chúng ta đã nói, Hoàng đạo là trái tim trong đầu của Thượng đế vĩ đại mà chúng ta gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị.
It is this antagonistic movement of the wheel “turning upon itself” (as it is expressed in the Bible) [Page 104] which leads to the conflict carried on in the individual life,
Chính chuyển động đối nghịch này của bánh xe “tự quay trên chính nó” (như cách diễn đạt trong Kinh Thánh) [Page 104] dẫn đến cuộc xung đột diễn ra trong đời sống cá nhân,
and all of us know of these conflicts between the pairs of opposites, between right and wrong, between higher and lower, between spiritual and material, between the demands of the personality and the demands of the soul, between fragmentation and unity, between separativeness and union. So the wheel turning upon itself is the condition of many of us. It is not fully turning upon itself, it is not fully a globe of fire or turning in all directions simultaneously, not yet, but for most of us we are going against the natural elemental grain and we are swimming upstream and we are aware that there is a current facing us which would sweep us back into elemental life unless we really exert ourselves as we will under Mars. Leads to the conflict carried on in the individual life, in the life of humanity,
và tất cả chúng ta đều biết những xung đột này giữa các cặp đối cực, giữa đúng và sai, giữa cao và thấp, giữa tinh thần và vật chất, giữa các đòi hỏi của phàm ngã và các đòi hỏi của linh hồn, giữa sự phân mảnh và hợp nhất, giữa tính chia rẽ và sự kết hợp. Vì vậy, bánh xe tự quay trên chính nó là tình trạng của nhiều người trong chúng ta. Nó chưa hoàn toàn tự quay trên chính nó, chưa hoàn toàn là một bầu lửa hoặc đồng thời quay theo mọi hướng; chưa phải lúc này. Nhưng phần lớn chúng ta đang đi ngược khuynh hướng hành khí tự nhiên, đang bơi ngược dòng và nhận biết rằng có một dòng nước đối đầu với mình, có thể cuốn chúng ta trở lại đời sống hành khí nếu chúng ta không thực sự nỗ lực như dưới ảnh hưởng của Sao Hỏa. Dẫn đến cuộc xung đột diễn ra trong đời sống cá nhân, trong đời sống nhân loại,
yes, because humanity also is becoming the world disciple and trying to move forward against the elemental order of things
phải, bởi nhân loại cũng đang trở thành đệ tử thế giới và cố gắng tiến lên, chống lại trật tự hành khí của vạn vật,
[17] and in the life of the planet.
[17] nhân loại và trong đời sống của hành tinh.
as well. The soul of the planet is turning against the tendency of the planetary entity which is the life of the lower three vehicles, the life of the very lowest planes of the planetary Logos, what we call the three lower worlds or the eighteen lower sub-planes. So our life will be one of strain and cross-currents, and if we deliberately decide to move forward it will be as if we are on a cross and as if we are experiencing many squares and oppositions from cross-currents and counter-currents.
cũng vậy. Linh hồn của hành tinh đang chống lại khuynh hướng của Thực Thể Hành Tinh, vốn là sự sống của ba hiện thể thấp, sự sống của các cõi thấp nhất của Hành Tinh Thượng Đế, tức điều chúng ta gọi là ba cõi thấp hay mười tám cõi phụ thấp. Vì vậy, đời sống của chúng ta sẽ đầy căng thẳng và các dòng chảy giao cắt; nếu chủ tâm quyết định tiến lên, chúng ta sẽ như đang ở trên một thập giá và trải nghiệm nhiều góc vuông cùng các đối vị phát sinh từ những dòng chảy giao cắt và ngược chiều.
This is actually promoting crisis, and it is a good thing because definitely difficulties will appear when we set our will, our determination, our effort to move towards the expression of the soul. We will invoke crisis, we will experience the friction of running counter to the elemental order of things. We will find ourselves against the elements, as it were.
Điều này thực sự thúc đẩy khủng hoảng, và đó là điều tốt, bởi khó khăn chắc chắn sẽ xuất hiện khi chúng ta vận dụng ý chí, quyết tâm và nỗ lực để tiến đến sự biểu lộ của linh hồn. Chúng ta sẽ khẩn cầu khủng hoảng và trải nghiệm sự ma sát do đi ngược trật tự hành khí của vạn vật. Có thể nói, chúng ta sẽ thấy mình đối đầu với các hành.
[18] In the early stages of evolution and upon the Mutable Cross, the consciousness is entirely identified with life in form
[18] Trong những giai đoạn đầu của tiến hóa và trên Thập Giá Biến đổi, tâm thức hoàn toàn đồng hóa với sự sống trong hình tướng
It doesn't know there is anything else. It just thinks this is it, only this is it.
Nó không biết còn có bất kỳ điều gì khác. Nó chỉ nghĩ rằng đây là tất cả, chỉ có thế này mà thôi.
[19] and with the life of self-consciousness, self-preservation and self-enrichment.
[19] và với đời sống của ngã thức, sự tự bảo tồn và sự tự làm giàu.
These are all the early tendencies of the soul in incarnation to misidentify itself with the objects of its perception. So that self-consciousness we call that ahamkara. Self-preservation is one of the major instinctual drives. Self-enrichment is, let's call it, self-aggrandizement. Because when you think you are a particular center, you seek to increase the scope and power of that center, so you grasp to yourself that which will enlarge or inflate that center. So you are in a way nurturing the very center of your consciousness; you are nurturing your lower ego.
Đây đều là những khuynh hướng ban đầu khiến linh hồn đang nhập thể đồng hoá sai lầm với các đối tượng mà nó nhận thức. Ngã thức ấy được chúng ta gọi là ahamkara. Tự bảo tồn là một trong những động lực bản năng chủ yếu. Hãy gọi tự làm giàu là sự tự đề cao. Bởi khi nghĩ mình là một trung tâm riêng biệt, các bạn tìm cách gia tăng phạm vi và quyền năng của trung tâm đó, nên các bạn thu gom về mình những gì sẽ mở rộng hoặc thổi phồng trung tâm ấy. Theo một cách nào đó, các bạn đang nuôi dưỡng chính trung tâm tâm thức của mình; các bạn đang nuôi dưỡng phàm ngã của mình.
And this is life upon the mutable cross, and people who are found in that very egoistic stage, they are recognizable. They don't think there's anything wrong with simply enlarging, aggrandizing, enriching the illusory self; they don't know it's illusory. But other people are divided, and they have conflicts about what is good and what is bad and what is for the unity and what is for the separate self. They have their eyes on their separate self sometimes, but they have their eyes on the soul at other times.
Đây là đời sống trên Thập Giá Biến đổi, và người ta có thể nhận ra những người đang ở giai đoạn rất vị kỷ ấy. Họ không nghĩ rằng việc đơn thuần mở rộng, đề cao và làm giàu cho cái ngã hư ảo có gì sai; họ không biết nó là hư ảo. Nhưng những người khác bị phân đôi và có những xung đột về điều gì là tốt, điều gì là xấu, điều gì phục vụ sự hợp nhất và điều gì phục vụ cái ngã chia rẽ. Đôi khi họ hướng mắt đến cái ngã chia rẽ của mình, nhưng lúc khác lại hướng mắt đến linh hồn.
That's kind of a Leo ahamkara phase. Then comes an interlude. When you ever see the word interlude, just suspect the sign Libra that is in a way the lord of the interludes.
Đó phần nào là giai đoạn ahamkara của Sư Tử. Sau đó đến một khoảng chuyển tiếp. Bất cứ khi nào thấy từ khoảng chuyển tiếp, các bạn hãy nghĩ đến dấu hiệu Thiên Bình, vốn theo một cách nào đó là chúa tể của các khoảng chuyển tiếp.
[20] Then comes an interlude wherein the consciousness begins to shift into that of the group
[20] Rồi đến một giai đoạn chuyển tiếp, trong đó tâm thức bắt đầu chuyển sang tâm thức nhóm
The lower hemisphere of astrological signs gives way to the upper hemisphere beginning with Libra, suggesting group consciousness
Bán cầu dưới của các dấu hiệu chiêm tinh nhường chỗ cho bán cầu trên, bắt đầu với Thiên Bình, gợi lên tâm thức nhóm,
[21] and becomes identified with the soul and with soul purpose.
[21] và đồng hóa với linh hồn cùng mục đích của linh hồn.
Eventually one becomes not just the man for himself, but ultimately the man for others, of which the Christ is the great example. Living a life for others and realizing, of course, that the others are oneself. This realization is sometimes realized under Gemini, sometimes under Libra. There is this sense—Pythagoras talked about it: what is a friend? A friend is another self. So there is the recognition of the higher self, but there's the recognition of the other self equal to oneself on the horizontal plane, and the self that one is no longer is the very center of attention, but one feels into the other self, the self of others as if it was their own self.
Cuối cùng, một người không còn chỉ sống cho chính mình mà trở thành người sống vì kẻ khác, mà Đức Christ là tấm gương vĩ đại. Y sống một đời vì người khác và dĩ nhiên nhận ra rằng những người khác chính là mình. Nhận thức này đôi khi xuất hiện dưới Song Tử, đôi khi dưới Thiên Bình. Có cảm nhận này—Pythagoras đã nói về nó: bạn hữu là gì? Bạn hữu là một cái ngã khác. Như vậy, có sự nhận biết chân ngã, nhưng cũng có sự nhận biết cái ngã khác ngang bằng với mình trên bình diện nằm ngang; cái ngã của một người không còn là trung tâm chú ý, mà người ấy cảm nhận cái ngã khác, cái ngã của những người khác, như thể đó là cái ngã của chính mình.
Ultimately it is one self, one feeling of being, if you will. I sometimes question myself as to what selfhood is, and it is this intuitive registration of being. It doesn't have to be a limited thing; it can be an unlimited, infinite thing. It's still a self, at least in the words of the ancient Hindus, but there are other Buddhists that deny, of course, the existence of self. I think it's just a question of how we define our terms.
Cuối cùng chỉ có một cái ngã, một cảm nhận duy nhất về sự hiện tồn, nếu các bạn muốn gọi như vậy. Đôi khi tôi tự hỏi ngã tính là gì, và đó là sự ghi nhận trực giác về Bản Thể. Nó không nhất thiết phải là một điều hữu hạn; nó có thể là điều vô hạn, vô biên. Ít nhất theo ngôn từ của người Ấn Độ cổ đại, đó vẫn là một cái ngã, nhưng dĩ nhiên có những Phật tử khác phủ nhận sự tồn tại của cái ngã. Tôi nghĩ đây chỉ là vấn đề chúng ta định nghĩa các thuật ngữ của mình như thế nào.
So then comes this interlude. You know, we're on the mutable cross, we're very much an egoic self in the lower sense. We're following the instinctual life. Form is very real to us; there are no other alternatives. Then comes the interlude when some inner registration or influence is received and the higher of the pairs of opposites comes into the field of consciousness, and we begin to call it by various names, including that of the soul, and we begin to realize that it has a purpose which is different from the purpose we had been following when we were thoroughly identified with form.
Rồi khoảng chuyển tiếp này xuất hiện. Như các bạn biết, chúng ta đang ở trên Thập Giá Biến đổi và phần lớn là một cái ngã vị kỷ theo nghĩa thấp. Chúng ta đi theo đời sống bản năng. Hình tướng rất thực đối với chúng ta; không có lựa chọn nào khác. Sau đó đến khoảng chuyển tiếp, khi chúng ta tiếp nhận một sự ghi nhận hoặc ảnh hưởng bên trong nào đó, và phương diện cao hơn của các cặp đối cực đi vào trường tâm thức. Chúng ta bắt đầu gọi nó bằng nhiều tên khác nhau, trong đó có linh hồn, và bắt đầu nhận ra nó có một Thiên Ý khác với mục đích mà chúng ta từng theo đuổi khi hoàn toàn đồng hoá với hình tướng.
[22] The experience of the Fixed Cross covers this period.
[22] Kinh nghiệm của Thập Giá Cố Định bao trùm giai đoạn này.
This shifting of consciousness into the group. Okay, the fixed cross covers the experience of shifting individual consciousness into group consciousness.
Đó là sự chuyển dịch tâm thức vào nhóm. Thập Giá Cố Định bao trùm kinh nghiệm chuyển dịch tâm thức cá nhân vào tâm thức nhóm.
[23] It might here be noted that the experience of the three crosses has a Masonic significance and can be connected with the Blue Lodge.
[23] Ở đây có thể lưu ý rằng kinh nghiệm của ba Thập Giá có một thâm nghĩa thuộc Hội Tam Điểm và có thể được liên hệ với Hội Quán Xanh:
The blue lodge in a way is a reflection. It represents the first three degrees of Masonry, and some extend it to consider the first five degrees, borrowing some degrees from the York Rite, the so-called Christian Rite. Masonry is very, very important in the A.U.M.—Ancient Universal Mysteries—which is an attempt to reformulate Masonry on an entirely higher and more spiritual standard undertaken by the A.U.M. Lodge with Brother Keith Bailey as the Venerable Master, the chief principal officer of that lodge.
Theo một cách nào đó, Chi Bộ Xanh là một phản ảnh. Nó đại diện cho ba cấp bậc đầu tiên của Tam Điểm, và một số người mở rộng nó để bao gồm năm cấp bậc đầu tiên, vay mượn vài cấp bậc từ Nghi Thức York, còn gọi là Nghi Thức Cơ Đốc. Tam Điểm rất quan trọng trong A.U.M.—Các Bí Nhiệm Phổ Quát Cổ Xưa—một nỗ lực tái trình bày Tam Điểm theo một tiêu chuẩn hoàn toàn cao hơn và tinh thần hơn, do Chi Bộ A.U.M. đảm nhiệm, với Huynh đệ Keith Bailey là Đại Sư Đáng Kính, viên chức chủ chốt cao nhất của chi bộ ấy.
We have a real movement towards the new Masonry, so I would strongly recommend that those of you who have an interest in what Masonry can bring to you and to humanity, you investigate the A.U.M. Lodge and contact Keith, Brother Bailey. Contact him and see what is possible with affiliation with that very considerable movement. A movement which is a continuation of that which Alice Bailey and her associates attempted in the 1930s with the help of Foster Bailey and certainly with the support of the Tibetan Master who wrote "The Spirit of Masonry" under Foster Bailey's name, and Alice Bailey took it down.
Chúng ta có một phong trào thực sự hướng đến Tam Điểm mới, nên tôi tha thiết khuyên những ai quan tâm đến điều Tam Điểm có thể mang lại cho mình và cho nhân loại hãy tìm hiểu Chi Bộ A.U.M. và liên hệ với Huynh đệ Keith Bailey. Hãy liên hệ với ông và xem có thể gia nhập phong trào rất đáng kể ấy như thế nào. Đó là phong trào tiếp nối điều Bà Alice Bailey và các cộng sự đã cố gắng thực hiện trong thập niên 1930 với sự trợ giúp của Ông Foster Bailey, và chắc chắn với sự hỗ trợ của Chân sư Tây Tạng, Ngài đã viết “Tinh Thần của Tam Điểm” dưới tên Ông Foster Bailey, còn Bà Alice Bailey ghi chép lại.
Foster Bailey gave his name for the publishing, and the Tibetan is really the author. So if we want to understand what the rites of initiation are all about, Masonry is the way to do it. One of the great ways of doing it, anyway. A way which is often for the training of first-ray people, the training of the will, but using a seventh-ray form and with a fourth-ray purpose.
Ông Foster Bailey cho phép dùng tên mình để xuất bản, còn Chân sư Tây Tạng mới thực sự là tác giả. Vì vậy, nếu muốn thấu hiểu bản chất của các nghi thức điểm đạo, Tam Điểm là một con đường để thực hiện điều đó. Dù sao, đó cũng là một trong những con đường lớn lao. Đây thường là con đường huấn luyện người cung một, rèn luyện ý chí, nhưng sử dụng một hình thức cung bảy và có mục đích cung bốn.
[23b] 1. The Common Cross... The E\ A\ Degree
[23b] 1. Thập Giá Thông Thường... Cấp E\ A
Everybody knows what these things mean. The Entered Apprentice degree. The Entered Apprentice degree in relation to Sirius is the fifth initiation, but it's the first initiation which finally for man represents the Entered Apprentice degree of just learning about the ways of the soul. So for a long time you have to struggle on the common cross, really, for millions and millions of years. Let's just say, as I have sometimes said, suppose it takes 25 million years to make a master. It's not an unreasonable figure, and the number 25 can be connected with humanity and with mastership. Then just so many millions of those years, even into the twenties, are dealing with the common cross.
Mọi người đều biết những điều này có nghĩa gì. Đó là cấp bậc Học Viên Nhập Môn. Trong mối liên hệ với Sirius, cấp bậc Học Viên Nhập Môn là lần điểm đạo thứ năm, nhưng đối với con người, lần điểm đạo thứ nhất mới là cấp bậc Học Viên Nhập Môn, khi y vừa bắt đầu tìm hiểu những đường lối của linh hồn. Vì vậy, các bạn thực sự phải phấn đấu rất lâu trên Thập Giá Thông Thường, suốt hàng triệu năm. Như đôi khi tôi từng nói, hãy giả sử cần 25 triệu năm để trở thành một Chân sư. Đó không phải con số vô lý, và số 25 có thể liên hệ với nhân loại cùng địa vị Chân sư. Thế thì rất nhiều triệu năm trong số đó, thậm chí hơn hai mươi triệu năm, được dành cho Thập Giá Thông Thường.
[23c] 2. The Fixed Cross...... The F\ C\ Degree
[23c] 2. Thập Giá Cố Định...... Cấp F\ C
The mind is being trained. Remember what happens at the second initiation. You develop the spiritual intelligence and the illumined mind. So education becomes of the utmost importance, and so does group fellowship and relation. We begin to realize we are not living unto ourselves alone, but we are progressing with the group. And then
Thể trí đang được huấn luyện. Hãy nhớ điều xảy ra ở lần điểm đạo thứ hai. Các bạn phát triển trí tuệ tinh thần và thể trí được soi sáng. Vì vậy, giáo dục trở nên vô cùng quan trọng, tình huynh đệ và mối quan hệ nhóm cũng vậy. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mình không sống riêng cho bản thân mà đang tiến bước cùng nhóm. Và rồi
[23d] 3. The Cardinal Cross.... The M\ M\ Degree
[23d] 3. Thập Giá Chủ Yếu.... Cấp Bậc M\ M\
indicates the Master Mason degree. That's the third degree. Sometimes this term has been borrowed to represent the kind of grilling or examination that someone under suspicion may get. "We gave him the third degree," meaning we questioned him mercilessly under the heated lamp, you know, until he began to sweat and finally admitted the truth. But this idea of going deeply into one's consciousness in life and dying and being resurrected—all of this is contained in the Master Mason degree, and there are other degrees to be interspersed here.
biểu thị cấp bậc Bậc Thầy Tam Điểm. Đó là cấp bậc thứ ba. Đôi khi thuật ngữ này được vay mượn để chỉ kiểu thẩm vấn hoặc tra xét mà một người bị tình nghi có thể phải chịu. “Chúng tôi đã thẩm vấn y ở cấp độ thứ ba”, nghĩa là chúng tôi hỏi cung y không chút khoan nhượng dưới ngọn đèn nóng cho đến khi y bắt đầu toát mồ hôi và cuối cùng thú nhận sự thật. Nhưng ý tưởng đi sâu vào tâm thức của mình trong đời sống, chết đi rồi phục sinh—tất cả đều hàm chứa trong cấp bậc Bậc Thầy Tam Điểm, và có những cấp bậc khác được xen vào đây.
One before the Master Mason degree, which is called the Mark degree, and another after the Master Mason degree, which is the H.R.A. degree. That's a final sublime degree. Five degrees leading, representing five initiations and telling the story of the birth of the Christ and its cultivation and its testing and its apparent defeat at the hands of the elemental life and its resurrection unto freedom. So it's amazing how much DK has sprinkled the discussion of Masonry throughout his works.
Một cấp bậc trước cấp Bậc Thầy Tam Điểm được gọi là cấp bậc Dấu Ấn, và một cấp bậc khác sau cấp Bậc Thầy Tam Điểm là cấp H.R.A. Đó là cấp bậc cao cả cuối cùng. Năm cấp bậc dẫn dắt, đại diện cho năm cuộc điểm đạo và kể lại câu chuyện về sự giáng sinh của Đức Christ, sự nuôi dưỡng, thử thách, thất bại bề ngoài của Ngài dưới tay đời sống hành khí, rồi sự phục sinh của Ngài vào tự do. Thật đáng kinh ngạc khi thấy Chân sư DK đã rải rác biết bao luận bàn về Tam Điểm trong các tác phẩm của Ngài.
He considered it very important for the training of humanity in the Aquarian age, just the way the new church will be very important and just the way the banded esoteric organisms will be very important. Masonry, archetypally at least, training those upon the first ray; the church training those upon the second ray; and the banded esoteric organisms training those upon the third ray. And I think when I mention these rays, I mean the general monadic ray.
Ngài xem Tam Điểm là điều rất quan trọng đối với việc huấn luyện nhân loại trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, cũng như giáo hội mới và các tổ chức bí truyền liên kết sẽ rất quan trọng. Ít nhất về mặt nguyên mẫu, Tam Điểm huấn luyện người thuộc cung một; giáo hội huấn luyện người thuộc cung hai; và các tổ chức bí truyền liên kết huấn luyện người thuộc cung ba. Khi đề cập đến những cung này, tôi nghĩ mình muốn nói đến cung chân thần tổng quát.
[24] Much will come to light in Masonry when its astrological implications are studied and understood,
[24] Nhiều điều sẽ được làm sáng tỏ trong Hội Tam Điểm khi những hàm ý chiêm tinh của nó được nghiên cứu và thấu hiểu.
and DK does give these—he gives important astrological relations to Masonry. In the conventional Masonry, maybe none of this is much known. In the new A.U.M. reformulation of Masonry, the formulators, Brother Bailey and the masters of the various lodges, are astrologically aware and are bringing these astrological points forward. So
và Chân sư DK quả thực đưa ra những điều này—Ngài nêu các mối liên hệ chiêm tinh quan trọng với Tam Điểm. Trong Tam Điểm truyền thống, có lẽ phần lớn những điều này không được biết đến. Trong sự tái trình bày mới về Tam Điểm của A.U.M., những người xây dựng nó, Huynh đệ Bailey và các bậc thầy của những chi bộ khác nhau, đều am hiểu chiêm tinh và đang đưa các điểm chiêm tinh này ra trước mọi người. Vì vậy,
[25] Much also will be revealed anent individual life and purpose when the fate of certain planets
[25] Nhiều điều liên quan đến đời sống và mục đích cá nhân cũng sẽ được mặc khải khi số phận của một số hành tinh
— the fate, the tendency, the influence,
—số phận, khuynh hướng, ảnh hưởng—
[26] (when in the various zodiacal signs) is properly investigated and grasped and their symbolic significances interpreted.
[26] khi ở trong các dấu hiệu hoàng đạo khác nhau được khảo sát và nắm bắt đúng đắn, đồng thời các thâm nghĩa biểu tượng của chúng được diễn giải.
And he does, although DK tends not to give us the conventional astrological reading whereby a planet in a sign means this, he does occasionally talk about such things: what Mars in Scorpio could represent, what Venus in Cancer could represent, what Saturn in Libra could represent. He doesn't go through the entire gamut of every planet and every sign, but he does give us the hints as to how we can do this. So we do want to reveal individual life and purpose.
Ngài quả thực có làm vậy, dù Chân sư DK thường không đưa ra cách luận giải chiêm tinh truyền thống, theo đó một hành tinh trong một dấu hiệu có nghĩa này hay nghĩa kia. Thỉnh thoảng Ngài vẫn bàn về những điều như Sao Hỏa trong Hổ Cáp có thể đại diện cho điều gì, Sao Kim trong Cự Giải có thể đại diện cho điều gì, Sao Thổ trong Thiên Bình có thể đại diện cho điều gì. Ngài không xét toàn bộ mọi hành tinh trong mọi dấu hiệu, nhưng cho chúng ta những gợi ý về cách thực hiện điều đó. Vì vậy, chúng ta thực sự muốn mặc khải đời sống và mục đích cá nhân.
There's nothing quite so dreadful as living a purposeless life, and of course there's something equally dreadful: knowing your purpose and not being able to fulfill it, or not managing to at least be on the right track to fulfill it. So this greatest and oldest of all the sciences, in its esoteric aspect, wants to make of us happier people who recognize our purpose and have a plan or a program for the fulfillment of that purpose, and can use astrology to help us understand, step by step, how we might fulfill that deep soul purpose and eventually even a deeper monadic purpose.
Không gì đáng sợ bằng sống một đời không có mục đích, và dĩ nhiên có một điều cũng đáng sợ không kém: biết mục đích của mình nhưng không thể hoàn thành nó, hoặc chí ít không thể đi đúng đường để hoàn thành nó. Vì vậy, trong phương diện nội môn, ngành khoa học vĩ đại nhất và cổ xưa nhất trong mọi ngành khoa học này muốn khiến chúng ta trở thành những người hạnh phúc hơn, nhận biết mục đích của mình, có Thiên Cơ hoặc chương trình để hoàn thành mục đích ấy, đồng thời có thể dùng chiêm tinh học để từng bước thấu hiểu cách chúng ta có thể hoàn thành Thiên Ý sâu xa của linh hồn và cuối cùng là Thiên Ý chân thần còn sâu xa hơn.
[27] For instance, it is well known theoretically and mathematically that,
[27] Chẳng hạn, về mặt lý thuyết và toán học, người ta biết rõ rằng:
[28] 1. The Sun is exalted in Aries.
[28] 1. Mặt Trời vượng trong Bạch Dương.
Yes, I think there are some mathematical derivations for the exaltations of the various planets, and they do occur in specific degrees. I could look that up at the moment —which particular degrees — but just running down the list: the Sun is exalted in Aries, the Moon is exalted in Taurus, Mercury is — DK says — exalted in Virgo, though normally we're not given an exaltation position for it. Venus is exalted in Pisces. The Earth is not given an exaltation position, but it is the hierarchical ruler of Gemini — but that's not the same as exaltation. Mars is exalted in Capricorn, Jupiter is exalted in Cancer. See, the pairs seem to go opposite each other. The Venus — the Mercury-Venus pair, for instance — we have Virgo and Pisces, opposites. The Mars and Jupiter pair: we have Capricorn and Cancer, opposites. Uranus is exalted in Scorpio, and Saturn is exalted in Libra — and Uranus in Scorpio — so we don't have a pair there.
Phải, tôi nghĩ có một số phép suy diễn toán học dành cho các vị trí vượng của những hành tinh khác nhau, và chúng xuất hiện ở các độ cụ thể. Lúc này tôi có thể tra cứu những độ cụ thể đó, nhưng nếu xem nhanh danh sách: Mặt Trời vượng trong Bạch Dương, Mặt Trăng vượng trong Kim Ngưu, Sao Thủy—Chân sư DK nói—vượng trong Xử Nữ, mặc dù thông thường chúng ta không được cho một vị trí vượng của nó. Sao Kim vượng trong Song Ngư. Trái Đất không được cho một vị trí vượng, nhưng là chủ tinh huyền giai của Song Tử—tuy nhiên, điều đó không giống với vượng. Sao Hỏa vượng trong Ma Kết, Sao Mộc vượng trong Cự Giải. Các cặp dường như đối nhau. Chẳng hạn, cặp Sao Thủy–Sao Kim có Xử Nữ và Song Ngư đối nhau. Cặp Sao Hỏa và Sao Mộc có Ma Kết và Cự Giải đối nhau. Sao Thiên Vương vượng trong Hổ Cáp, còn Sao Thổ vượng trong Thiên Bình—và Sao Thiên Vương trong Hổ Cáp—nên ở đó chúng ta không có một cặp.
Neptune is considered to be exalted in Cancer, but there is also a special relationship of Neptune in Pisces — a very high spiritual relationship — which DK tells us Alan Leo intuited. And let's see: yes, mostly yes, Cancer and Pisces. But he says there's a special type of exaltation of both Jupiter and Neptune in the sign Capricorn, which normally would be considered the sign of their fall, where they would come under detriment.
Sao Hải Vương được xem là vượng trong Cự Giải, nhưng Sao Hải Vương cũng có một mối liên hệ đặc biệt với Song Ngư—một mối liên hệ tinh thần rất cao—mà Chân sư DK cho biết Ông Alan Leo đã trực nhận. Hãy xem: phải, chủ yếu là Cự Giải và Song Ngư. Nhưng Ngài nói rằng cả Sao Mộc lẫn Sao Hải Vương đều có một kiểu vượng đặc biệt trong dấu hiệu Ma Kết, nơi thông thường được xem là dấu hiệu lạc hãm và hãm địa của chúng.
Well, their expression could be hampered in some ways initially, but later in Capricorn, a very high form of psychism could occur for Neptune and a high achievement of consciousness for Jupiter, and so forth. When it comes to — I said Uranus in Scorpio — when it comes to Pluto, we don't really have a place for its exaltation, but we have a — maybe in Aries? I'm not sure. We have a rulership of a kind both in Scorpio and definitely in Pisces.
Ban đầu, sự biểu lộ của chúng có thể bị cản trở theo một số cách; nhưng về sau trong Ma Kết, Sao Hải Vương có thể đem lại một hình thức thông linh rất cao, còn Sao Mộc đem lại một thành tựu tâm thức cao, và vân vân. Về Sao Thiên Vương—tôi đã nói Sao Thiên Vương trong Hổ Cáp—còn đối với Sao Diêm Vương, chúng ta thật sự không có nơi vượng của nó, nhưng có thể là trong Bạch Dương? Tôi không chắc. Chúng ta có một dạng quyền chủ quản của nó cả trong Hổ Cáp và chắc chắn trong Song Ngư.
So exaltation is a very special type of expression. I think it's even a higher type of expression than rulership, in a way. When we come to Libra, we have Saturn not only exalted in Libra but the hierarchical ruler, so we see a tremendous emphasis upon Saturn in this sign of justice and equilibrium, Libra. So here, the Sun — the exaltation
Vì vậy, vượng là một kiểu biểu lộ rất đặc biệt. Theo một cách nào đó, tôi nghĩ đó thậm chí còn là một kiểu biểu lộ cao hơn quyền chủ quản. Khi đến Thiên Bình, Sao Thổ không chỉ vượng trong Thiên Bình mà còn là chủ tinh huyền giai, nên chúng ta thấy Sao Thổ được đặc biệt nhấn mạnh trong dấu hiệu công lý và quân bình này, tức Thiên Bình. Vì vậy, ở đây, Mặt Trời—sự vượng
[29] Here the Sun stands for the life of the spirit which comes to full expression as the result of the great evolutionary process,
[29] Ở đây Mặt Trời tượng trưng cho sự sống của tinh thần, vốn đạt tới sự biểu lộ viên mãn do kết quả của đại tiến trình tiến hóa,
So finally, at the end of it all, the life of spirit—maybe on the Logoic plane at the seventh initiation—shines forth
Cuối cùng, khi mọi sự kết thúc, sự sống của tinh thần—có lẽ trên cõi Thượng đế ở lần điểm đạo thứ bảy—tỏa sáng,
[30] initiated in Aries.
[30] được khởi đầu trong Bạch Dương.
the great evolutionary process, probably from the will aspect of the monad and also from the soul on its own plane, descending into the lower three worlds. And finally, there is a great consummation after seven initiations where the spirit in the sea of fire blazes forth, and the monadic vehicle itself from the sixth plane is destroyed or compromised, or at least not considered an obstacle or a containment.
Tiến trình tiến hoá vĩ đại có lẽ khởi đầu từ phương diện ý chí của chân thần và cũng từ linh hồn trên cõi riêng của nó, hạ xuống ba cõi thấp. Cuối cùng, sau bảy cuộc điểm đạo, có một sự viên thành vĩ đại, nơi tinh thần trong biển lửa bừng cháy; chính hiện thể chân thần từ cõi thứ sáu bị hủy diệt hoặc suy giảm, hoặc ít nhất không còn được xem là một chướng ngại hay vật chứa.
[31] The life of God which in this sign is "swung into activity."
[31] Sự sống của Thượng Đế, vốn trong dấu hiệu này được “đưa vào hoạt động,”
Notice Aries and the life
Hãy lưu ý Bạch Dương và sự sống
[32] eventually achieves consummation.
[32] cuối cùng đạt tới sự viên mãn.
Consummation here is not the usual fourth degree consummation or even mastership, but that which lies on the plane of life, on the logoic plane. There is a consummation, and that is the real resurrection, the seventh degree connected with Aries and the exaltation of the Sun.
Sự viên thành ở đây không phải sự viên thành thông thường của cấp độ thứ tư, thậm chí cũng không phải địa vị Chân sư, mà là điều nằm trên cõi sự sống, tức cõi Thượng đế. Có một sự viên thành, và đó là sự phục sinh đích thực, cấp độ thứ bảy gắn với Bạch Dương và sự vượng của Mặt Trời.
[33] Latency becomes potency and midnight merges into midday.
[33] Tiềm tàng trở thành quyền năng và nửa đêm hòa nhập vào giữa trưa.
Now, sometimes midnight is a very high thing. You know, there is an initiation at the midnight Sun, so to speak, but sometimes midnight is darkness and obscurity, and it comes into the full light of day, the high noon of midday.
Đôi khi nửa đêm là một điều rất cao siêu. Như các bạn biết, có một cuộc điểm đạo dưới Mặt Trời lúc nửa đêm, có thể nói như vậy; nhưng đôi khi nửa đêm là bóng tối và sự mờ mịt, rồi nó đi vào ánh sáng trọn vẹn ban ngày, chính ngọ giữa trưa.
[34] God, the Father, rules.
[34] Thượng Đế, Đức Cha, cai quản.
When finally does God the Father rule? Well, you know, not even—not even for a master does God the Father completely rule. And for a liberated Chohan of the sixth degree, is God the Father ruling? Well, one is a member of Shamballa, and in a way God the Father rules, but how much more so for a Chohan of the seventh degree who, like the Christ or the Buddha, is focused upon the highest of the etheric sub-planes, the logoic plane.
Cuối cùng, khi nào Thượng đế, Đức Chúa Cha, cai quản? Như các bạn biết, ngay cả đối với một Chân sư, Thượng đế, Đức Chúa Cha, cũng chưa hoàn toàn cai quản. Còn đối với một Chohan đã giải thoát ở cấp độ thứ sáu, Thượng đế, Đức Chúa Cha, có cai quản không? Người ấy là một thành viên của Shamballa, và theo một cách nào đó, Thượng đế, Đức Chúa Cha, cai quản; nhưng điều đó càng đúng biết bao đối với một Chohan cấp độ thứ bảy, vị giống như Đức Christ hay Đức Phật, tập trung trên cõi phụ cao nhất trong các cõi phụ dĩ thái, tức cõi Thượng đế.
There indeed God the Father rules. Okay, let's go on. We're talking about exaltations. We're talking about certain falls and detriments and empowerments. Exaltation is a great empowerment of that which the planet represents. A detriment is a weakening. A fall is a severe weakening. A rulership is a compatibility or a harmonious expression of the Lord of the planet in relation to the Lord of the sign.
Quả thật, ở đó Thượng đế, Đức Chúa Cha, cai quản. Hãy tiếp tục. Chúng ta đang bàn về các vị trí vượng. Chúng ta đang bàn về một số vị trí lạc hãm, hãm địa và gia tăng quyền năng. Vượng là sự gia tăng mạnh mẽ quyền năng của điều mà hành tinh đại diện. Hãm địa là sự suy yếu. Lạc hãm là sự suy yếu nghiêm trọng. Quyền chủ quản là sự tương hợp hoặc sự biểu lộ hài hòa của Chúa Tể hành tinh trong mối liên hệ với Chúa Tể dấu hiệu.
[35] 2. The power of Venus is lessened in this sign
[35] 2. Quyền năng của Sao Kim suy giảm trong dấu hiệu này.
because Venus rules in Libra, and then all you have to do is go to the opposite sign and find where the detriment or the lessening of power occurs. The opposite sign of Libra is Aries, and that's where the detriment occurs.
bởi Sao Kim cai quản Thiên Bình, và các bạn chỉ cần đi đến dấu hiệu đối diện để tìm nơi xảy ra sự hãm địa hay suy giảm quyền năng. Dấu hiệu đối diện Thiên Bình là Bạch Dương, và đó là nơi xảy ra sự hãm địa.
[36] It is a detrimental sign to Venus
[36] Đây là dấu hiệu hãm địa đối với Sao Kim.
Now, in a way—I mean, you can get good out of any planet in any sign, and oftentimes, since the opposites can be turned, detriments are like rulerships. Detriments can be made harmonious, and falls can be rendered into exaltations. For instance, you know, think of—think of this: the moon is exalted in Taurus. Is that necessarily a good thing? The mother of the form may become so dominant that the exaltation represents a compromising of the spirit.
Theo một cách nào đó, các bạn có thể thu được điều tốt từ bất kỳ hành tinh nào trong bất kỳ dấu hiệu nào; và thường vì các đối cực có thể đảo ngược, những vị trí hãm địa giống như quyền chủ quản. Các vị trí hãm địa có thể trở nên hài hòa, và các vị trí lạc hãm có thể chuyển thành vượng. Chẳng hạn, hãy nghĩ về điều này: Mặt Trăng vượng trong Kim Ngưu. Điều đó nhất thiết là tốt sao? Người mẹ của hình tướng có thể trở nên thống trị đến mức vị trí vượng ấy biểu thị sự phương hại đến tinh thần.
Then the moon is said to fall in Scorpio. Well, is that such a bad thing? Yes, it's uncomfortable for the personality elementals and the personality as a whole. It is uncomfortable, but the lunar tendencies are then defeated. The moon falls away, and the higher life is no longer obscured by these lunar tendencies and by the ancient patterns. So is a fall necessarily bad? So exaltations are not necessarily good, and falls are not necessarily bad.
Sau đó, Mặt Trăng được cho là lạc hãm trong Hổ Cáp. Điều đó có tệ đến thế không? Phải, nó gây khó chịu cho các hành khí phàm ngã và toàn thể phàm ngã. Nó gây khó chịu, nhưng các khuynh hướng thái âm khi ấy bị đánh bại. Mặt Trăng suy tàn, và sự sống cao không còn bị những khuynh hướng thái âm cùng các mô hình cổ xưa này che khuất. Vậy lạc hãm có nhất thiết là xấu không? Do đó, vượng không nhất thiết là tốt, và lạc hãm không nhất thiết là xấu.
We're told about how Mars is exalted in Capricorn. You think that's a wonderful thing? Well, maybe for an advancing individual it is a wonderful thing, but what about for a warlike, selfish, greedy individual? It would be constant warfare for the sake of the lower ego, and people would be playing king of the mountain all the time and knocking others off of these pedestals because they themselves seek power over others—Mars in Capricorn.
Chúng ta được dạy rằng Sao Hỏa vượng trong Ma Kết. Các bạn nghĩ đó là điều tuyệt vời sao? Có lẽ đối với một cá nhân đang tiến bước, đó là điều tuyệt vời; nhưng còn một cá nhân hiếu chiến, ích kỷ và tham lam thì sao? Đó sẽ là cuộc chiến không ngừng vì phàm ngã; người ta sẽ luôn tranh nhau làm vua trên đỉnh núi và hất kẻ khác khỏi những bệ cao ấy, bởi chính họ tìm kiếm quyền lực đối với người khác—Sao Hỏa trong Ma Kết.
So is the exaltation necessarily a good thing? What about Mars in Cancer? It's a fall, isn't it? Well, you know, it is a source of irritation for the individual. It can lead to solar plexus activity—excessive—and it can lead to a defensiveness and kind of fear and wariness, but it also is a tremendous ability to reduce the power of Mars so that, as symbolizing the united personality elemental, it no longer gets in the way, and it can be a great effort of the personality aspirationally to rise out of its own lower nature.
Vậy vượng có nhất thiết là điều tốt không? Còn Sao Hỏa trong Cự Giải thì sao? Nó lạc hãm, đúng không? Điều đó là nguồn gây bực bội cho cá nhân. Nó có thể dẫn đến hoạt động thái quá của tùng thái dương, đồng thời dẫn đến tâm thế phòng vệ, một dạng sợ hãi và dè chừng; nhưng nó cũng có khả năng lớn lao làm suy giảm quyền năng của Sao Hỏa, để Sao Hỏa, với tư cách biểu tượng của hành khí phàm ngã hợp nhất, không còn cản đường. Nó cũng có thể tạo nên nỗ lực lớn lao của phàm ngã nhằm vươn lên khỏi bản chất thấp của chính mình bằng khát vọng.
So, you know, in a Geminian manner, you have to look at everything from both angles simultaneously, and there's no absolute statement. You know, the Sun falls—you know, the Sun is exalted in Aries. Well, what if that— and so that's great, right? But what if that Sun represents the ahamkara principle, and there is a complete type of selfish identification with one's own lower ego and the tendency to force everyone else into one's own way?
Vì vậy, theo cách của Song Tử, các bạn phải đồng thời xem xét mọi điều từ cả hai góc độ, và không có khẳng định tuyệt đối nào. Mặt Trời lạc hãm—Mặt Trời vượng trong Bạch Dương. Điều đó thật tuyệt, đúng không? Nhưng nếu Mặt Trời ấy đại diện cho nguyên khí ahamkara, có sự đồng hoá hoàn toàn ích kỷ với phàm ngã của một người và khuynh hướng buộc mọi người khác phải đi theo đường lối của y thì sao?
One becomes the exalted Sun in the middle of everybody else, and there is no consideration of the other. Is that a good thing? So always look at things from both perspectives, that the high can be low and the low can be high, depending on the perspective. So why is the power of Venus lessened in this sign?
Một người trở thành Mặt Trời được đề cao giữa mọi người khác và không hề quan tâm đến tha nhân. Đó có phải điều tốt không? Vì vậy, hãy luôn nhìn mọi điều từ cả hai quan điểm: cái cao có thể là thấp và cái thấp có thể là cao, tùy theo quan điểm. Vậy tại sao quyền năng của Sao Kim suy giảm trong dấu hiệu này?
[37] The reason for this is that when the Sun is exalted and blazes forth in all its glory,
[37] Lý do là khi Mặt Trời được vượng và bừng sáng trong toàn bộ vinh quang của nó, [Trang 105]
which is, let us say,
có thể nói đó là
[Father aspect blazes forth… spirit, life…
[Phương diện Cha bừng sáng… tinh thần, sự sống…
[38] The other lesser luminaries,
[38] những nguồn sáng nhỏ hơn khác
those close to the Sun like Mercury and Venus,
những nguồn sáng gần Mặt Trời như Sao Thủy và Sao Kim,
[38b] fade out.
[38b] mờ dần đi.
So Venus is— a luminary as far as the Earth is concerned, Venus is the brightest planet relatively. It's not absolutely the brightest planet, but relatively it is so for us Earth beings. It represents a Solar Angel. The solar angel fades out when the monad comes into full power. So let's see what he says: "
Vì vậy, đối với Trái Đất, Sao Kim là một nguồn sáng; xét tương đối, Sao Kim là hành tinh sáng nhất. Nó không phải hành tinh sáng nhất theo nghĩa tuyệt đối, nhưng xét tương đối, nó là như vậy đối với những sinh linh Trái Đất chúng ta. Nó đại diện cho một Thái dương Thiên Thần. Thái dương Thiên Thần lu mờ khi chân thần đạt đến quyền năng viên mãn. Hãy xem Ngài nói gì: “
[39] Just as the personality is lost sight of in the light of the soul, the solar Angel,
[39] Cũng như phàm ngã không còn được nhìn thấy trong ánh sáng của linh hồn, tức Thái dương Thiên Thần,
so the Moon fades out in the light of Venus. Let us say a Moon-Venus conjunction will give us the opportunity to allow the moon to fade and Venus to rise.
thì Mặt Trăng cũng lu mờ trong ánh sáng của Sao Kim. Có thể nói rằng một đồng vị Mặt Trăng–Sao Kim sẽ trao cho chúng ta cơ hội để Mặt Trăng lu mờ và Sao Kim vươn lên.
[40] So the soul itself disappears
[40] chính linh hồn cũng biến mất
at the fourth initiation,
ở lần điểm đạo thứ tư,
[41] and its power and radiance fade out,
[41] và quyền năng cùng ánh sáng rực rỡ của nó mờ dần
returning to the heart of the Sun or the central spiritual Sun
trở về trái tim của Mặt Trời hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương,
[41b] when the Presence—
[41b] khi Sự Hiện Diện,
i.e., the Monad—
tức chân thần—
[42] which it has hitherto veiled
[42] mà cho đến lúc ấy linh hồn vẫn che phủ,
as the Angel of the Presence, the Solar Angel is the Angel of the Presence. It's veiled the Presence,
với tư cách Thiên Thần của Hiện Diện; Thái dương Thiên Thần chính là Thiên Thần của Hiện Diện. Nó đã che khuất Hiện Diện,
[43] appears and dominates the scene at the end of the greater world cycle.
[43] xuất hiện và chi phối toàn bộ bối cảnh vào cuối chu kỳ thế giới lớn hơn.
So what do we have here? We have the monad in ascendancy, and so Venus, which is the solar angel, which is a very bright light and certainly a very bright light when compared to the light of the personality, is found to be a lesser light. So we have some rules in the 14 rules—advanced rules for disciples and initiates— which point to this: Rule 5 and Rule Number 9. And I will—I will turn to these just here, and let us see what we have. I think we will see this. Rule Number 5 goes like this:
Vậy ở đây chúng ta có gì? Chúng ta có chân thần ở thế thượng phong, và vì thế Sao Kim, tức Thái dương Thiên Thần, vốn là một ánh sáng rất rực rỡ và chắc chắn vô cùng rực rỡ khi so với ánh sáng của phàm ngã, lại trở thành một ánh sáng yếu hơn. Trong 14 quy luật—các quy luật cao cấp dành cho đệ tử và điểm đạo đồ—có một số quy luật chỉ rõ điều này: Quy luật 5 và Quy luật số 9. Tôi sẽ chuyển sang những quy luật này ngay đây, và chúng ta hãy xem có gì. Tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy điều này. Quy luật số 5 như sau:
Rule V.
Quy luật V.
For Applicants: Let the applicant see to it that the Solar Angel dims the light of the lunar angels, remaining the sole luminary in the microcosmic sky.
Dành cho Người Thỉnh nguyện: Hãy để người thỉnh nguyện bảo đảm rằng Thái dương Thiên Thần làm lu mờ ánh sáng của các thái âm thiên thần, và vẫn là nguồn sáng duy nhất trên bầu trời tiểu thiên địa.
For Disciples and Initiates: In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought "My soul and thine." RI 20
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Trong sự hòa hợp, hãy để cả nhóm nhận biết Tam Nguyên Tinh Thần đang tỏa sáng, làm lu mờ ánh sáng của linh hồn và xóa nhòa ánh sáng của hình tướng. Tổng Thể Đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để cả nhóm nhận biết Tổng Thể ấy và rồi không còn dùng tư tưởng “Linh hồn của tôi và của bạn.” RI 20
Rule IX.
Quy luật IX.
For Applicants: Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated.
Dành cho Người Thỉnh nguyện: Hãy để đệ tử hòa mình vào vòng tròn của những bản ngã khác. Hãy để chỉ một màu sắc dung hòa họ và làm cho sự hợp nhất của họ hiển lộ. Chỉ khi nhóm được nhận biết và cảm nhận, năng lượng mới có thể được phát xạ một cách minh triết.
For Disciples and Initiates: Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. RI 22
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để cả nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác. Hãy để cả nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che khuất mọi khác biệt, xóa nhòa mọi hình tướng. Bấy giờ—tại điểm tập trung nhất tâm và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để cả nhóm thấy một điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo, và trong ngọn lửa ấy (ngay chính tâm điểm của nó), hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng có ngôi sao đã tỏa sáng khi Cánh Cửa được vượt qua lần đầu tiên. RI 22
I think we will see this in rule number five, it goes like this.
Tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy điều này trong Quy luật số 5; quy luật ấy như sau.
In unison let the group perceive the Triad shining forth as the expression of the Monad,
Trong sự hòa hợp, hãy để cả nhóm nhận biết Tam Nguyên Tinh Thần đang tỏa sáng như biểu hiện của Chân thần,
So, the middle light, the light of the Son, is blotted out in the light of the Father which the triad represents.
Vì vậy, ánh sáng ở giữa, ánh sáng của Con, bị xóa nhòa trong ánh sáng của Cha mà Tam Nguyên Tinh Thần đại diện.
dimming the light of the soul and blotting out the light of form. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought "My soul and thine."
làm lu mờ ánh sáng của linh hồn và xóa nhòa ánh sáng của hình tướng. Tổng Thể Đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để cả nhóm nhận biết Tổng Thể ấy và rồi không còn dùng tư tưởng “Linh hồn của tôi và của bạn.”
because we're seeing in wholeness now, which is the prerogative of the Monad or the Father aspect.
bởi giờ đây chúng ta đang thấy trong tính toàn thể, vốn là đặc quyền của Chân thần hay phương diện Cha.
When we turn here to rule number nine, also important that, Let the group know there are no other selves, not even soul selves,
Khi chuyển sang Quy luật số 9, một điều cũng quan trọng là: Hãy để cả nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác, thậm chí không có cả những bản ngã linh hồn,
Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form.
Hãy để cả nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che khuất mọi khác biệt, xóa nhòa mọi hình tướng.
So the soul is—the perception of the soul, which still is a perception of multiplicity and unity, is blotted out, and we have the homogeneity of synthesis. Form is blotted out, difference is blotted out, and this is a perception of the Father aspect. So, okay, so that's the Venus— that's the Venus detriment. Of course, you know, that's not how ordinary astrology interprets it. When Venus is—Venus is in detriment in the ordinary sense, Venus is the planet of values.
Vì vậy, linh hồn—sự nhận thức về linh hồn, vốn vẫn là nhận thức về tính đa tạp và sự hợp nhất—bị xóa nhòa, và chúng ta có tính đồng nhất của sự tổng hợp. Hình tướng bị xóa nhòa, khác biệt bị xóa nhòa, và đây là sự nhận thức về phương diện Cha. Vậy đó là sự hãm địa của Sao Kim. Dĩ nhiên, đó không phải cách chiêm tinh học thông thường diễn giải điều này. Theo nghĩa thông thường, khi Sao Kim hãm địa, Sao Kim là hành tinh của các giá trị.
Aries is the sign of hasty action and impulse, and it is a leaping towards that which is of lesser value—a fairly non-discriminating outreach towards beauty or what you desire— and it tends to be cruder and less refined. That is the fall of beautiful, refining Venus in hasty Aries. This is the way it could be interpreted in a lesser sense. But DK, always talking about soul astrology, lets us understand Venus as the solar angel and lets us understand what happens when soul perception—which so many of us have yet to perceive—is itself superseded.
Bạch Dương là dấu hiệu của hành động vội vàng và xung động, và đó là sự lao về phía điều có giá trị thấp hơn—một sự vươn tới khá thiếu phân biện đối với vẻ đẹp hay điều các bạn ham muốn—nên nó có khuynh hướng thô sơ hơn và kém tinh tế hơn. Đó là sự lạc hãm của Sao Kim đẹp đẽ, tinh luyện trong Bạch Dương vội vàng. Theo nghĩa thấp hơn, có thể diễn giải như vậy. Nhưng Chân sư DK, vốn luôn bàn về chiêm tinh học linh hồn, giúp chúng ta hiểu Sao Kim là Thái dương Thiên Thần và hiểu điều xảy ra khi chính sự nhận thức của linh hồn—điều mà rất nhiều người trong chúng ta vẫn chưa nhận biết—bị vượt qua.
Okay, so the Father aspect—the presence veiled by the angel of the presence—dominates the scene at the end of the greater world cycle when the monad flourishes. What is the greater world cycle? Is this the solar system itself? Is the greater world cycle the cycle of the solar system? Perhaps. DK is vague about these periods of time. He speaks about eons and cycles and greater cycles and so forth, and one day exactly what they are will be filled in. Right now we just have some fragments, and from them we can speculate.
Vậy phương diện Cha—Hiện Diện bị Thiên Thần của Hiện Diện che phủ—chi phối toàn cảnh vào cuối chu kỳ thế giới lớn hơn, khi chân thần hưng thịnh. Chu kỳ thế giới lớn hơn là gì? Có phải chính hệ mặt trời này không? Chu kỳ thế giới lớn hơn có phải là chu kỳ của hệ mặt trời không? Có lẽ vậy. Chân sư DK nói khá mơ hồ về những thời kỳ này. Ngài nói về các đại kiếp, các chu kỳ, những chu kỳ lớn hơn, vân vân; rồi một ngày nào đó, người ta sẽ bổ sung chính xác chúng là gì. Hiện giờ chúng ta chỉ có một số mảnh rời rạc và có thể suy đoán từ đó.
[44] We are told that the incarnating Minds, human beings,
[44] Chúng ta được cho biết rằng các Trí đang lâm phàm, tức con người,
on their own high plane
trên cõi cao của chính họ,
[45] the solar Angels,
[45] các Thái dương Thiên Thần,
See, here he's kind of mixing what a solar angel and what a human being is. A human being becomes a human being because of the intervention of the solar angels, at least that's the way in our present solar system and on our present planet. There were other methods of becoming a human being on the Moon chain and in the earlier solar system, but the incarnating minds are, in a way, solar angels, and they are responsible for creating the human being. That these solar angels
Hãy xem, ở đây Ngài phần nào trộn lẫn khái niệm Thái dương Thiên Thần với khái niệm con người. Một con người trở thành con người nhờ sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần; ít nhất đó là cách diễn ra trong hệ mặt trời hiện tại và trên hành tinh hiện tại của chúng ta. Trên Dãy Mặt Trăng và trong hệ mặt trời trước kia từng có những phương pháp khác để trở thành con người, nhưng theo một nghĩa nào đó, các trí đang nhập thể là các Thái dương Thiên Thần, và các Ngài chịu trách nhiệm tạo nên con người. Các Thái dương Thiên Thần này
[46] came originally from Venus,
[46] nguyên thủy đến từ Sao Kim,
That is, DK elaborates in "A Treatise on Cosmic Fire" and tells us they didn't really come from Venus, but they came under the Venusian influence. They came under the solar influence; they came under the Venusian influence and really didn't come from Venus at all, but they came from the Venus chain of the Earth scheme and from the Venus globe of the Earth scheme. How we would look at this is as follows:
Nghĩa là, trong “Luận về Lửa Vũ Trụ”, Chân sư DK trình bày chi tiết và cho chúng ta biết rằng thật ra các Ngài không đến từ Sao Kim, nhưng chịu ảnh hưởng của Sao Kim. Các Ngài chịu ảnh hưởng của mặt trời; các Ngài chịu ảnh hưởng của Sao Kim và thật ra hoàn toàn không đến từ Sao Kim, mà đến từ Dãy Sao Kim thuộc hệ hành tinh Trái Đất và từ bầu Sao Kim thuộc hệ hành tinh Trái Đất. Chúng ta có thể hình dung điều này như sau:
Here is Earth scheme—yes, there it is—and the solar angels are basically coming from the second chain, which is the Venus chain, and they're coming from the sixth or second globe, which is the Venus globe. Then they're coming down into the Earth chain to the Venus globe of the Earth chain until finally they arrive at our Earth globe. That is the true and more elaborated descent of the solar angels. But wherever they came from, they are certainly allied to Venus; they are Venusian beings, and their real origin is as follows: from Sirius to the heart of the Sun and some to the central spiritual Sun, and thence to Venus—and perhaps Neptune is involved—and thence to the Earth and to the different parts of the Earth scheme, such as the Venus chain and the Venus globe and the Earth chain and the Earth and the Venus globe of the Earth chain, and then the Earth globe of the Earth chain.
Đây là hệ hành tinh Trái Đất—đúng vậy, nó ở đó—và về cơ bản, các Thái dương Thiên Thần đến từ Dãy thứ hai, tức Dãy Sao Kim, và các Ngài đến từ bầu thứ sáu hay thứ hai, tức bầu Sao Kim. Sau đó, các Ngài đi xuống Dãy Địa Cầu, đến bầu Sao Kim của Dãy Địa Cầu, cho đến cuối cùng tới bầu Trái Đất của chúng ta. Đó là tiến trình giáng hạ chân thực và chi tiết hơn của các Thái dương Thiên Thần. Nhưng dù đến từ đâu, chắc chắn các Ngài cũng liên kết với Sao Kim; các Ngài là những Đấng thuộc Sao Kim, và nguồn gốc thực sự của các Ngài như sau: từ Sirius đến tâm Mặt Trời, một số đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, rồi từ đó đến Sao Kim—và có lẽ Sao Hải Vương cũng có liên quan—sau đó đến Trái Đất và các phần khác nhau của hệ hành tinh Trái Đất, như Dãy Sao Kim, bầu Sao Kim, Dãy Địa Cầu, Trái Đất, bầu Sao Kim của Dãy Địa Cầu, rồi đến bầu Trái Đất của Dãy Địa Cầu.
So there, the line of the descent of the solar angels is pretty well mapped out, although, you know, for us that's just a model. We don't really understand how it was—how it was accomplished, how long it took, this psychic transference over vast periods, vast areas of space. We don't understand how it happens.
Vậy là dòng giáng hạ của các Thái dương Thiên Thần đã được phác họa khá rõ, mặc dù đối với chúng ta, đó chỉ là một mô hình. Chúng ta không thật sự hiểu nó đã được thực hiện như thế nào, mất bao lâu, hay sự chuyển dịch thông linh này đã diễn ra ra sao qua những thời kỳ mênh mông và những vùng không gian bao la. Chúng ta không hiểu nó diễn ra như thế nào.
We are told that the incarnating minds—the human beings, the solar angels—
Chúng ta được cho biết rằng các trí đang nhập thể—những con người, các Thái dương Thiên Thần—
see, there he really gives an equivalence of human beings and solar angels, but it's not exactly so. But here he's not attempting to be exact. The human being comes to birth because of the underlay by the Solar Angels,
hãy xem, ở đây Ngài thật sự xem con người và các Thái dương Thiên Thần là tương đương, nhưng không hoàn toàn như vậy. Tuy nhiên, ở đây Ngài không cố trình bày thật chính xác. Con người ra đời nhờ nền tảng do các Thái dương Thiên Thần tạo nên,
who came originally from Venus.
các Đấng nguyên thủy đến từ Sao Kim.
Well, not all human beings came from Venus, but certainly the solar angels came under the Venusian impulse.
Không phải mọi con người đều đến từ Sao Kim, nhưng chắc chắn các Thái dương Thiên Thần đã chịu xung động của Sao Kim.
[47] But they in turn give place to the monad, the One.
[47] nhưng đến lượt mình, các Ngài nhường chỗ cho chân thần, Đấng Duy Nhất.
There are many monads, and yet there's only one Monad. There are many apparent instantiations of spirit, many emanations, many depths of immersion of spirit along the emanated stream, as I've sometimes called it, but there's really only one. There's one Monad in all of cosmos, and the divisibility of the Monad is one of the great mysteries—how that occurs. And Master M. calls it—the Master M. calls it the divisibility of the spirit. He calls it that. Now, does he mean this emanative divisibility? Perhaps he does.
Có nhiều chân thần, tuy nhiên chỉ có một Chân Thần. Có nhiều trường hợp biểu hiện bề ngoài của tinh thần, nhiều lần xuất lộ, nhiều mức độ đắm chìm của tinh thần dọc theo dòng xuất lộ, như đôi khi tôi gọi, nhưng thật ra chỉ có một. Chỉ có một Chân Thần trong toàn vũ trụ, và tính khả phân của Chân Thần là một trong những đại huyền nhiệm—điều ấy diễn ra như thế nào. Chân sư M. gọi nó—Chân sư M. gọi nó là tính khả phân của tinh thần. Ngài gọi như vậy. Ngài có muốn nói đến tính khả phân do xuất lộ này không? Có lẽ là vậy.
[48] Mind gives place to intuition and reason
[48] Trí tuệ nhường chỗ cho trực giác và
Venus is the mind giving, and the reason of the mental plane
Sao Kim là đấng ban trí tuệ, cùng lý trí của cõi trí,
[49] to pure perception.
[49] lý trí nhường chỗ cho tri giác thuần khiết.
Pure perception is pure reason. So Venus is not so much connected with pure reason, even though as a planet it is buddhic in nature and is working upon pure reason in the cosmic sense. But in the horoscope of man, it is more Mercury and Neptune which are related to pure reason, and Venus is related to higher manas. Particularly, probably the reading of Alan Leo's "Esoteric Astrology" would be important. I remember I read it years and years ago, and being new to theosophy, maybe I couldn't make so much sense out of it.
Sự nhận thức thuần khiết là lý trí thuần khiết. Vì vậy, Sao Kim không liên hệ nhiều với lý trí thuần khiết, mặc dù xét như một hành tinh, bản chất của nó thuộc Bồ đề và nó đang tác động lên lý trí thuần khiết theo nghĩa vũ trụ. Nhưng trong lá số chiêm tinh của con người, Sao Thủy và Sao Hải Vương liên hệ với lý trí thuần khiết nhiều hơn, còn Sao Kim liên hệ với manas cao. Có lẽ việc đọc “Chiêm Tinh Học Nội Môn” của Alan Leo sẽ đặc biệt quan trọng. Tôi nhớ mình đã đọc cuốn sách ấy từ rất nhiều năm trước, và vì khi đó còn mới làm quen với Thông Thiên Học, có lẽ tôi chưa thể hiểu rõ nó.
It was a book written, I think, around 1917 or so—very prescient in a way, preceding the Tibetan's Esoteric Astrology by at least 15 years and bringing theosophy into astrology. So, in a way, esoteric—yes, indeed—but it was difficult to understand at the time. And now I think, having read the Tibetan's Esoteric Astrology, Alan Leo's book would be easier to understand. Now we have Saturn—it's a fall.
Tôi nghĩ cuốn sách được viết vào khoảng năm 1917—về một phương diện, nó rất có tính tiên tri, ra đời trước “Chiêm Tinh Học Nội Môn” của Chân sư Tây Tạng ít nhất 15 năm và đưa Thông Thiên Học vào chiêm tinh học. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, quả thật nó mang tính nội môn, nhưng khi ấy rất khó hiểu. Giờ đây, sau khi đã đọc “Chiêm Tinh Học Nội Môn” của Chân sư Tây Tạng, tôi nghĩ cuốn sách của Alan Leo sẽ dễ hiểu hơn. Bây giờ chúng ta có Sao Thổ—đó là một vị trí lạc hãm.
[49b] 3. Saturn falls in Aries.
[49b] 3. Sao Thổ “lạc hãm” trong Bạch Dương.
Is this good or bad? Well, it can be both.
Điều này tốt hay xấu? Nó có thể là cả hai.
[50] This has two meanings for this is a dual sign.
[50] Điều này có hai ý nghĩa, bởi đây là một dấu hiệu nhị nguyên.
He talks about this. The signs—we have the two horns of the Ram, making this a dual sign. Whenever the glyph demonstrates duality, we have a dual sign with dual potentials—usually a right and a left and a higher and a lower—things apparently going in opposite directions.
Ngài bàn về điều này. Các dấu hiệu—chúng ta có hai chiếc sừng của con Cừu, khiến đây trở thành một dấu hiệu kép. Bất cứ khi nào biểu tượng thể hiện tính nhị nguyên, chúng ta có một dấu hiệu kép với những tiềm năng kép—thường là bên phải và bên trái, cao và thấp—những điều dường như đi theo các hướng đối nghịch.
[51] First: Saturn is the Lord of karma,
[51] Thứ nhất: Sao Thổ là Chúa Tể của Nghiệp Quả,
the most powerful of the karmic Lords. He kind of gives names to these karmic Lords, and Saturn is maybe associated with that karmic Lord called Pain. Yeah, that's— you know, hate to digress, but here we go. You know, digression becomes almost a duty. It's The Externalisation of the Hierarchy, and he has here Pain, Return. This is where this is found on page 117, 116:
Đấng quyền năng nhất trong các Chúa Tể Nghiệp Quả. Ngài có phần nêu tên các Chúa Tể Nghiệp Quả này, và Sao Thổ có lẽ liên hệ với Chúa Tể Nghiệp Quả mang tên Đau Khổ. Phải, tôi không muốn lạc đề, nhưng chúng ta vẫn sẽ đi theo hướng này. Dường như lạc đề gần như đã trở thành một bổn phận. Điều này nằm trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, và tại đây Ngài nêu Đau Khổ, Hoàn Trả. Nội dung này được tìm thấy ở trang 117, 116:
"The names of the Lords of Karma signify symbolically, from the angle of their inner meaning, Relationship, Enlightenment, Pain, and Return."
“Tên của các Chúa Tể Nghiệp Quả, xét theo nội nghĩa của chúng, mang ý nghĩa biểu tượng là Mối Quan Hệ, Giác Ngộ, Đau Khổ và Hoàn Trả.”
So we could find Lords of planets who are associated with these names, and I believe the Lord of the planet Saturn is associated with Pain, and Enlightenment would be Mercury, and Relationship would be Venus. And we will have to determine what Return might mean—something cyclic, you know, something where you're retracing your steps, perhaps in spiral cyclic motion. Perhaps it's Jupiter. Anyway, there are different karmic Lords in our solar system, and the Lords of the planets are those karmic Lords.
Vì vậy, chúng ta có thể tìm các Chúa Tể hành tinh liên hệ với những danh xưng này, và tôi tin rằng Chúa Tể của hành tinh Sao Thổ liên hệ với Đau Khổ, Giác Ngộ là Sao Thủy, còn Mối Quan Hệ là Sao Kim. Chúng ta sẽ phải xác định Hoàn Trả có thể hàm ý gì—một điều gì đó có tính chu kỳ, một điều gì đó trong đó các bạn lần lại những bước chân của mình, có lẽ theo chuyển động chu kỳ xoắn ốc. Có lẽ đó là Sao Mộc. Dù sao, trong hệ mặt trời của chúng ta có các Chúa Tể Nghiệp Quả khác nhau, và các Chúa Tể của các hành tinh chính là những Chúa Tể Nghiệp Quả ấy.
Saturn is the greatest and most powerful of the karmic Lords in our solar system. There's certainly karma beyond Saturn. Sirius is a great karmic Lord. Well, the solar angel is a karmic dispenser. Our Sun, our planetary Logos, is a karmic Lord, and there are these Lipika Lords and Maharajas in our solar system, which represent Sirius ultimately. For us, Sirius is the dispenser of the Law of Karma. So, First, Saturn is the Lord of Karma,
Sao Thổ là Đấng vĩ đại nhất và quyền năng nhất trong các Chúa Tể Nghiệp Quả thuộc hệ mặt trời của chúng ta. Chắc chắn có nghiệp quả vượt ngoài Sao Thổ. Sirius là một Chúa Tể Nghiệp Quả Vĩ Đại. Thái dương Thiên Thần là Đấng phân phối nghiệp quả. Mặt Trời của chúng ta, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, là một Chúa Tể Nghiệp Quả, và trong hệ mặt trời của chúng ta có các Chúa Tể Lipika và các Maharaja, rốt cuộc đại diện cho Sirius. Đối với chúng ta, Sirius là Đấng phân phối Định luật Nghiệp Quả. Vì vậy, Thứ nhất, Sao Thổ là Chúa Tể của nghiệp quả,
[51b] the imposer of retribution,
[51b] Đấng áp đặt sự báo ứng
which is the payback with a purpose of balancing—
tức sự hoàn trả nhằm mục đích tạo quân bình—
[52] and the one who demands full payment
[52] và Đấng đòi hỏi việc thanh toán đầy đủ
Like one of my old friends says, "Pay in full! Pay in full! Painful!" Okay, Saturn is Pain—the one who demands full payment
Như một người bạn cũ của tôi thường nói: “Trả đủ! Trả đủ! Đau khổ!” Sao Thổ là Đau Khổ—Đấng đòi hỏi phải thanh toán đầy đủ
[53] of all debts
[53] mọi món nợ,
in order to equilibrize,
để thiết lập quân bình,
[54] and who therefore condemns us to the struggle for existence.
[54] và vì vậy buộc chúng ta phải đấu tranh để tồn tại,
So Saturn is labor; it's work. It's work against the energies of the Moon chain and of the previous solar system. It takes effort under Saturn to deal with those energies, to swim against the stream. So struggle for existence,
Vì vậy, Sao Thổ là lao động; đó là công việc. Đó là công việc chống lại các năng lượng của Dãy Mặt Trăng và hệ mặt trời trước kia. Dưới Sao Thổ, cần có nỗ lực để xử lý những năng lượng ấy, để bơi ngược dòng. Vì vậy, đó là cuộc đấu tranh sinh tồn,
[55] both from the form side and from the soul side.
[55] cả từ phương diện hình tướng lẫn từ phương diện linh hồn.
Saturn rules in Capricorn in two areas—both form and soul. So
Sao Thổ cai quản trong Ma Kết ở hai lĩnh vực—cả hình tướng lẫn linh hồn. Vì vậy,
[55b] Saturn therefore “fell” when man fell into generation,
[55b] Vì thế, Sao Thổ đã “sa xuống” khi con người sa vào sự sinh sản.
and remember, Aries initiated generation, or the movement into generation and the lower worlds.
và hãy nhớ rằng Bạch Dương khởi đầu sự sinh hóa, hay sự chuyển động vào quá trình sinh hóa và các cõi thấp.
[56] He followed the sons of men down into their low place,
[56] Ngài “đi theo những người con của nhân loại xuống nơi thấp của họ.”
which was an act of great mercy, actually. Saturn turns out to be a very merciful God. So that is a fall—he falls into the lower worlds in order to officiate over the conduct of the human being so that the law may be observed and the human being may not be lost, but by the imposition of karma, man is corrected so that he may rise into his proper state and not be forever lost in the maze of the lower worlds.
mà thật ra đó là một hành động từ bi vĩ đại. Hóa ra Sao Thổ là một Thượng đế rất từ bi. Vì vậy, đó là một sự lạc hãm—Ngài đi xuống các cõi thấp để chủ trì hành vi của con người, sao cho định luật được tuân giữ và con người không bị lạc mất; qua sự áp đặt nghiệp quả, con người được uốn nắn để có thể vươn lên trạng thái thích hợp của mình và không mãi mãi lạc lối trong mê cung của các cõi thấp.