Tóm lược chương
Thầy MDR cho biết buổi 52 là một thử nghiệm: thay vì các đoạn một giờ như thường lệ, Thầy dùng một cách sắp xếp khác để giảng liên tục lâu hơn, và cuối cùng buổi kéo dài khoảng hai giờ, đi từ trang 111 đến trang 117 của sách Chiêm Tinh Học Nội Môn. Thầy nhắc lại ba khía cạnh của Mặt Trời: Mặt Trời hồng trần ảnh hưởng lên Thập Giá Biến đổi và phàm ngã, tức cả thể cảm dục và hạ trí, vốn đều thuộc thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế; Tâm Mặt Trời ảnh hưởng lên Thập Giá Cố Định, thập giá của linh hồn; và Mặt Trời Tinh thần Trung Ương là khía cạnh Chân Thần, ảnh hưởng lên Thập Giá Chủ Yếu mà chúng ta chưa bước lên, tức khía cạnh sự sống.…
- Buổi giảng dài thử nghiệm và ba khía cạnh của Mặt Trời
- Năng lượng đi qua ba Thập Giá không tự động đến được với ta
- Mặt Trời du hành quanh Pleiades và các định tinh trong lá số
Esoteric-Astrology-Adventure-52
Tóm Tắt
§ Buổi giảng dài thử nghiệm và ba khía cạnh của Mặt Trời
Thầy MDR cho biết buổi 52 là một thử nghiệm: thay vì các đoạn một giờ như thường lệ, Thầy dùng một cách sắp xếp khác để giảng liên tục lâu hơn, và cuối cùng buổi kéo dài khoảng hai giờ, đi từ trang 111 đến trang 117 của sách Chiêm Tinh Học Nội Môn. Thầy nhắc lại ba khía cạnh của Mặt Trời: Mặt Trời hồng trần ảnh hưởng lên Thập Giá Biến đổi và phàm ngã, tức cả thể cảm dục và hạ trí, vốn đều thuộc thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế; Tâm Mặt Trời ảnh hưởng lên Thập Giá Cố Định, thập giá của linh hồn; và Mặt Trời Tinh thần Trung Ương là khía cạnh Chân Thần, ảnh hưởng lên Thập Giá Chủ Yếu mà chúng ta chưa bước lên, tức khía cạnh sự sống. Thầy nhấn mạnh tâm thức chỉ là một tên khác của linh hồn, và linh hồn trên cõi thượng trí không phải là trường hợp duy nhất của linh hồn: Tam Nguyên Tinh Thần và sự nhận biết của Chân Thần cũng là linh hồn, và bất cứ dạng nhận biết nào trong vũ trụ đều là một biểu hiện của linh hồn.
§ Năng lượng đi qua ba Thập Giá không tự động đến được với ta
Chân sư DK giải thích chữ “ảnh hưởng” là năng lượng từ ba khía cạnh Mặt Trời tuôn qua ba Thập Giá đến hành tinh chúng ta. Thầy MDR hiểu rằng năng lượng này không nhất thiết đi tới các chòm sao, mà đi qua các Thập Giá, vì các Thập Giá là những dấu hiệu tập trung ảnh hưởng của các chòm sao về Trái Đất; Thầy nhắc lại sự phân biệt giữa chòm sao như tập hợp các ngôi sao và dấu hiệu như ảnh hưởng tập trung của năng lượng chòm sao dành cho Trái Đất. Vì vậy, sinh ra trong một dấu hiệu chủ yếu không có nghĩa năng lượng của Mặt Trời Tinh thần Trung Ương sẽ đến với ta theo cách ta ghi nhận được, và với người trung bình, sinh trong một dấu hiệu cố định cũng không bảo đảm năng lượng của Tâm Mặt Trời chạm tới họ.
§ Mặt Trời du hành quanh Pleiades và các định tinh trong lá số
Chân sư DK nói Mặt Trời du hành trong không gian, mang theo hệ mặt trời, quanh ngôi sao trung tâm nằm trong Pleiades thuộc chòm Kim Ngưu. Thầy MDR thêm rằng Mặt Trời có chuyển động riêng theo một hướng, nên quỹ đạo của các hành tinh thành những đường xoắn ốc, đồng thời Mặt Trời lại quay quanh Pleiades, nên hệ mặt trời không bao giờ ở cùng một vùng không gian trong hai khoảnh khắc; Thầy nêu ngôi sao trung tâm ấy là Alcyone, đôi khi được gọi là ngôi sao của cá nhân, và gợi ý có thể xem Mặt Trời cùng các hệ trong “bảy hệ mặt trời” quay quanh cả nhóm Pleiades. Thầy lưu ý rằng trong lá số của đệ tử nên ghi nhận vị trí của các định tinh như vậy, các góc chiếu tới chúng hoặc vị trí trên các góc lá số, với biên độ rất hẹp, khoảng một độ; các ngôi sao này tác động từ mức rất trần tục đến rất tinh thần, nhưng Thầy cho rằng ảnh hưởng tinh thần trọn vẹn của chúng khó có trước lần điểm đạo thứ ba, tức lần điểm đạo thái dương đầu tiên, vì các ngôi sao là thể biểu hiện của các Thái dương Thượng đế.
§ Quan điểm địa tâm như biểu tượng của phàm ngã vị kỷ
Chân sư DK nói Mặt Trời dường như đi qua mười hai dấu hiệu, và đây là biểu tượng, xét theo đại thiên địa, của quan điểm tập trung đầy kịch tính của cá nhân, tiểu thiên địa. Thầy MDR nhấn mạnh chữ “dường như”: đó là ảo tưởng do Trái Đất quay quanh Mặt Trời, nó cho thấy một sự sẵn có của năng lượng nhưng thực ra không xảy ra. Chữ “kịch tính” gợi đến Sư Tử và thái độ tự lấy mình làm trung tâm ở giai đoạn đầu của kinh nghiệm Sư Tử, giai đoạn nhân loại vẫn đang trải qua, vì phần lớn con người còn chưa là những phàm ngã tập trung. Thầy so sánh quan điểm địa tâm, trong đó mọi thiên thể dường như quay quanh Trái Đất đứng yên, với quan điểm vị kỷ của phàm ngã, nơi mọi sự sống dường như xoay quanh nó, và gọi đó là quan điểm “tiền phi tập trung”.
§ Tiểu hoàng đạo, Đại Niên Platon và kỷ nguyên Bảo Bình kép
Thầy MDR giải thích tiểu hoàng đạo là sự di chuyển biểu kiến của Mặt Trời qua mười hai phần của hoàng đạo trong một năm, và lưu ý Chân sư DK định nghĩa tiểu và đại hoàng đạo theo nhiều cách khác nhau ở những chỗ khác nhau. Chu kỳ khoảng 25.000 năm, chính xác hơn là khoảng 25.920 năm khi mỗi kỷ nguyên tuế sai dài 2.160 năm, được gọi là Đại Niên Platon, gồm mười hai kỷ nguyên phân điểm, một vòng xoay trọn của trục Trái Đất. Thầy cho biết mỗi Đại Niên cũng do một dấu hiệu cai quản: chúng ta đang rời một chu kỳ 25.000 năm dưới ảnh hưởng Song Ngư để đi, theo chiều ngược, vào một chu kỳ do Bảo Bình cai quản; Chân sư DK nói ta gần tới đó, nhưng chiêm tinh học của chúng ta chưa xác định được thời điểm chính xác. Thầy thấy thật đáng kinh ngạc là sẽ có một kỷ nguyên Bảo Bình kép: ngay cả khi tiểu kỷ Bảo Bình, bắt đầu vào năm 2117, nhường chỗ cho kỷ Ma Kết, ta vẫn ở trong đại kỷ Bảo Bình. Thầy suy đoán chu kỳ lớn tiếp theo có thể là Ma Kết, và dù biết Cung bảy đi kèm kỷ nguyên Bảo Bình 2.160 năm, ta không biết Cung nào đi kèm chu kỳ 25.000 năm, có lẽ cũng là Cung bảy; các chân sư biết những chu kỳ này.
§ Hành tinh nội môn, hành tinh chính thống và ưu thế của các dấu hiệu
Chân sư DK nói hai chu kỳ này xác nhận điều Ngài đã dạy: linh hồn rốt cuộc chịu ảnh hưởng của các hành tinh nội môn, còn phàm ngã chịu ảnh hưởng của các hành tinh chính thống. Thầy MDR hiểu điều này là mỗi hành tinh có chức năng chính thống và chức năng nội môn: chẳng hạn chức năng chính thống của Sao Thủy liên quan tới trí cụ thể, lý luận và tương quan, còn chức năng nội môn của nó liên quan tới sự tiếp xúc với Thiên Trí hay sự tiếp cận trực giác sâu xa; tác động của các Cung hành tinh tùy thuộc vào phần nào trong cấu tạo của ta mà chúng chạm tới. Về câu đại hoàng đạo tượng trưng cho linh hồn, tiểu hoàng đạo cho phàm ngã, Thầy suy luận mỗi chu kỳ năm cho phàm ngã cơ hội tăng trưởng, còn sự tăng trưởng của linh hồn trên cõi riêng cần những chu kỳ dài hơn, dù Thầy nghĩ với mỗi kỷ nguyên tuế sai linh hồn cũng có một bước tăng trưởng rõ rệt, nhất là khi con người đã ở trên đường đạo.
§ Từ hoàn cảnh chi phối đến sự tách rời, và vai trò của các hành tinh ở cấp cao
Trong chu kỳ phàm ngã, tiểu hoàng đạo chi phối sự nghiệp phàm ngã và mười hai nhà giữ vai trò chủ đạo; Thầy MDR giải thích lúc ấy con người còn tập trung vào hoàn cảnh, hỏi “chuyện gì đang xảy ra quanh tôi”, còn về sau người tách rời học được rằng hoàn cảnh không còn cưỡng ép được mình, một bài học Thầy nghĩ được học ở Sư Tử, nhất là khi Sao Thiên Vương là chủ tinh bị che giấu của Sư Tử; với đệ tử, điều quan trọng là điều diễn ra bên trong bất kể bên ngoài. Chân sư DK nói về sau ảnh hưởng của mười hai dấu hiệu vượt trên ảnh hưởng của các hành tinh. Thầy lưu ý không nên nghĩ các hành tinh không liên quan đến những cuộc điểm đạo rất cao: các hành tinh là những vị thần của hệ mặt trời; chẳng hạn, Thầy không thể không nghĩ rằng ảnh hưởng rất cao của Sao Thổ, chủ tinh chính của Thiên Bình, có dự phần trong Quyết Định Lớn ở lần điểm đạo thứ sáu, khi Chân Thần chọn một trong bảy hay chín con đường. Người thường chịu ảnh hưởng hành tinh qua các nhà, còn người tiến hóa hơn chịu ảnh hưởng của các Chúa Tể hành tinh như đại diện cho các chòm sao, rồi của chính các chòm sao.
§ Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius trong mối liên hệ với chín dấu hiệu
Chân sư DK nhấn mạnh Sirius, Đại Hùng Tinh và Pleiades tác động qua mười hai chòm sao, đặc biệt qua chín chòm, nhưng không thuộc hoàng đạo mà ta quan tâm. Thầy MDR giải thích khía cạnh ý chí của bảy Cung được truyền qua Đại Hùng Tinh, có lẽ khía cạnh vật chất hay trí tuệ qua Pleiades, và khía cạnh bác ái qua Sirius, dù không rõ Sirius là một ngôi sao, vài ngôi sao hay cả một hệ; ba chòm này tượng trưng cho Cha, Mẹ và Con, tức Christ Vũ Trụ ở một tầm nhất định. Hoàng đạo mười hai là trung tâm tim và đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Dựa trên trang 50, nơi Bạch Dương và Thiên Bình gắn với Đại Hùng Tinh, Song Tử và Nhân Mã với Pleiades, Cự Giải và Ma Kết với Sirius, Kim Ngưu và Hổ Cáp với “bảy hệ mặt trời mà hệ chúng ta là một”, Thầy thử thêm mỗi nhóm một dấu hiệu: có thể Sư Tử cho Đại Hùng Tinh, Xử Nữ cho Pleiades, Song Ngư cho Sirius, và Bảo Bình cho bảy hệ mặt trời, đồng thời thừa nhận có nhiều cách khác để phân chín dấu hiệu này.
§ Hoàng đạo mười và ngôn ngữ che giấu về “bảy hệ mặt trời”
Chân sư DK nói ba chòm sao lớn cùng với bảy hệ mặt trời là mười chòm sao liên quan đến một hoàng đạo còn lớn hơn, không bị chi phối bởi con số mười hai, vì thế mười được xem là con số của sự hoàn thiện. Thầy MDR giải thích hệ mười mang tính nam, gắn với Cha (mười quy về một), còn hệ mười hai mang tính nữ, gắn với Mẹ (một cộng hai là ba). Thầy cho rằng cụm “bảy hệ mặt trời mà hệ chúng ta là một” là một bức màn che: có khi chỉ bảy Thái dương Thượng đế, có khi chỉ bảy chòm sao, với chữ “chúng ta” ám chỉ Vũ Trụ Thượng đế mà hệ mặt trời của ta là một phần; Thầy suy đoán các hệ ấy có thể gồm Draco, Tiểu Hùng Tinh, Orion và hệ của Vũ Trụ Thượng đế chúng ta, vì một chòm sao là một hệ và một hệ có thể là một chòm sao. Thầy nói rõ đây là suy đoán của mình, nhắc đến công trình của Stephen Pugh, và cho rằng nhiều bí nhiệm vẫn chưa được giải.
§ Các con số hai mươi hai, mười một và cây Sự Sống
Thầy MDR suy luận rằng cộng mười và mười hai được hai mươi hai, con số huyền bí rất quan trọng với hệ mặt trời vốn là “hai trong hai”, với linh hồn Cung hai và phàm ngã Cung hai; tương tự, năm (con người, ngôi sao năm cánh, tính nam, tương ứng với mười) cộng sáu (giới thiên thần, ngôi sao sáu cánh, hình tướng, tương ứng với mười hai) được mười một, con số của điểm đạo đồ, của Bảo Bình, của Thánh Đoàn tinh thần, hay của Song Tử. Sáu cho thấy vòng tròn đi xuống vật chất, chín là sự trở lên khỏi vật chất. Về sự lẫn lộn mà Chân sư DK nói có nơi các môn sinh kém hiểu biết, Thầy cho rằng có thể kể cả chúng ta: hoàng đạo mười hai đã hoàn chỉnh, và vì mười hai là trung tâm tim trong đầu nên không nên tìm thêm dấu hiệu thứ mười ba, mười bốn như Ophiuchus; còn việc lấp đầy hoàng đạo mười thì vẫn chưa xong. Thầy mô tả đây như cấu trúc cây Sự Sống, ba ngôi Kether, Chokmah, Binah bên trên bảy; và gợi ý rằng Tiểu Hùng Tinh có thể thế chỗ Sirius trong bộ ba cao, vì một cái nhỏ thường được dùng để đại diện cho cái lớn, như Betelgeuse đại diện Orion, Alcyone đại diện Pleiades; Chân sư DK từng gọi tam giác Đại Hùng Tinh, Tiểu Hùng Tinh và Pleiades là một tam giác phi thường. Thầy xếp loại suy đoán này vào chiêm tinh vũ trụ học, ngang tầm khó hiểu với tài liệu của Luận về Lửa Vũ Trụ.
§ Anima mundi đi thuận chiều, chỉ con người vô minh đi ngược
Chân sư DK nói khó nắm được rằng tiến trình giáng hạ tiến hóa của mọi giới trong thiên nhiên gắn với sự di chuyển của anima mundi, linh hồn thế giới, từ Bạch Dương đến Song Ngư qua Kim Ngưu, chứ không ngược lại. Thầy MDR giải thích có ba loại thực thể đi qua các dấu hiệu: anima mundi, con người chưa phát triển và con người tinh thần; linh hồn của chất liệu đi theo chiều ngược kim đồng hồ, giống như con người tinh thần, và chỉ con người vô minh, đồng hóa với vật chất và hoàn cảnh, mới đi theo chiều kim đồng hồ, ngược thớ của trật tự tự nhiên. Đi lùi như thế là như quay ngược thời gian, đồng hóa với một trật tự giáng hạ dù ta đang trên con đường tiến hóa. Thầy lý giải điều khó hiểu này bằng việc phàm ngã tự nó là một tiến trình hành khí giáng hạ đang tiến hóa nhưng vẫn gắn với hướng của các yếu tố giáng hạ bên trong nó.
§ Cự Giải, sự lựa chọn nguy hiểm của con người và việc đảo ngược sự đảo ngược
Anima mundi chuyển sang Song Ngư khi kết thúc mỗi đại chu kỳ và xuất lộ ở Cự Giải, dấu hiệu của đời sống quần chúng; Thầy MDR lưu ý quần chúng nhân loại cũng xuất lộ ở Cự Giải, và nhận xét con người ở trong tình trạng đặc biệt nguy hiểm vì có quyền lựa chọn: lúc đầu đi theo bản năng nuôi dưỡng bản chất hành khí, nhưng về sau nếu tiếp tục đi ngược chiều thì sẽ chọn sai và giam tâm thức mình trong đời sống thiên thần vĩ đại nằm dưới thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, và phải tự giành lại tự do về sau. Chân sư DK nói khi linh hồn thế giới tới Cự Giải và đến lúc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư biểu lộ qua giới thứ tư, một sự đảo ngược đã diễn ra. Thầy phân biệt điều này với bánh xe đảo ngược: bánh xe đảo ngược thực sự là đảo ngược sự đảo ngược, đưa con người trở về trật tự tự nhiên của các dấu hiệu. Thầy thừa nhận không dám tự cho là thấu hiểu các bí nhiệm này, vì Chân sư DK nói ta chưa ở vị trí cảm nhận được linh hồn của vật chất.
§ Nhân loại đi sâu vào vật chất như đứa con hoang đàng
Thầy MDR nhận định phần lớn con người không đi theo hướng tinh thần mà theo hướng đề cao bản chất hành khí, đi sâu hơn vào vật chất một cách có ý thức, như đứa con hoang đàng đi vào xứ xa mà nghĩ nơi ấy có thể thỏa mãn mình, điều không thể vì con người về bản chất là tinh thần. Tuy vậy đó là hướng đi nằm trong Thiên Cơ, vì ta phải đầu tư sâu vào chất liệu vật chất trước khi cứu chuộc nó. Thầy đặt câu hỏi liệu trên các hành tinh khác có như thế không, nhắc rằng không đâu trong hệ mặt trời có khổ đau như trên Trái Đất, ngoài khổ đau lớn trên Sao Hỏa và Sao Thổ, và suy đoán điều đó có thể liên quan đến chuyển động ngược mang tính cứu chuộc này; nay nhân loại đã đủ già để thức tỉnh và đảo ngược sự đảo ngược.
§ Ba đối tượng chịu ảnh hưởng: Tinh Linh Địa Cầu, nhân loại và Chúa Tể Hành Tinh
Chân sư DK nêu ba đối tượng mà hoàng đạo và các hành tinh tác động. Thứ nhất là Tinh Linh Địa Cầu, thể hiện của hành tinh hồng trần và tổng thể sự sống hình tướng. Thầy MDR đặt câu hỏi “hành tinh hồng trần” ở đây chỉ ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần hay cả mười tám cõi phụ thấp, gồm cõi cảm dục và hạ trí, vốn không phải là nguyên khí đối với Hành Tinh Thượng đế. Tra cứu trong sách, Thầy phân biệt Tinh Linh Địa Cầu, tức Thực Thể Hành Tinh, một thực thể giáng hạ đối với hành tinh như tinh linh thể xác đối với thể xác con người, với Chân Linh Hành Tinh, đôi khi chỉ chính Hành Tinh Thượng đế; theo Thầy, Tinh Linh Địa Cầu đối với Hành Tinh Thượng đế như phàm ngã đối với linh hồn, nên có thể bao gồm cả cõi cảm dục và hạ trí, và mối quan hệ này là phản ánh méo mó, dưới ảnh hưởng ảo cảm, của quan hệ giữa linh hồn và hành khí phàm ngã.
§ Nhân loại là một biệt hóa của linh hồn thế giới
Thứ hai là nhân loại, con người đã biệt ngã hóa và cuối cùng được điểm đạo, thể hiện của linh hồn con người hay chân ngã, một biệt hóa của linh hồn thế giới. Thầy MDR nhấn mạnh điều quan trọng là chúng ta, những hữu thể đã biệt ngã hóa, là một phần của anima mundi: khi nói linh hồn thế giới phải xét đến cấp chất liệu nào; thường là tâm thức chưa biệt ngã hóa của chất liệu, nhưng thế giới bao gồm cả các cấp cao hơn nơi sự biệt ngã hóa ngự trị. Phàm ngã tương ứng với tinh linh của hành tinh, không phải Chân Linh Hành Tinh, còn linh hồn tinh thần tương ứng với Hành Tinh Thượng đế. Như vậy năng lượng hoàng đạo và hành tinh tác động lên các thực thể chưa tự ý thức, các thực thể tự ý thức, và cả các thực thể siêu thức nhìn và hiểu theo toàn thể.
§ Hành Tinh Thượng đế, “một Thượng đế chưa hoàn hảo”
Thứ ba là Chúa Tể của Hành Tinh, hiện được xem là “một Thượng đế chưa hoàn hảo” đối với hành tinh, nhưng từ góc độ nhân loại thì thật sự hoàn hảo. Thầy MDR giải thích Ngài chưa hoàn hảo vì về mặt vũ trụ mới là điểm đạo đồ bậc một; có thể Ngài đang trải qua một kiểu điểm đạo thứ tư, nhưng đó là trong một chuỗi điểm đạo phụ, và Ngài chưa đạt mục tiêu của lần điểm đạo vũ trụ thứ hai. Đức Sanat Kumara, dù ta xưng tụng bằng những lời cao nhất, không biểu lộ trọn vẹn Hành Tinh Thượng đế mà là một sự phóng xuất của Ngài; sự hoàn hảo luôn phải xét một cách tương đối. Thầy rút ra nguyên tắc: năng lượng vũ trụ phát xuất từ các Đấng rất cao có tác động khác nhau tùy hình tướng mà chúng chạm tới, ta không đo được năng lượng tự thân mà chỉ thấy được tác động của chúng.
§ Ba phân khu của chiêm tinh học và sự vô minh của nhân loại
Chân sư DK nói sự phân chia ba phần này là ba khía cạnh chính của khoa chiêm tinh cổ và nội môn, như Thánh Đoàn nghiên cứu; Thầy MDR thêm rằng các thành viên Thánh Đoàn được phân công làm việc ở các cấp khác nhau, có vị làm việc với linh hồn của chất liệu ở giai đoạn chưa tự ý thức. Nhân loại đã mất tâm thức cho phép tiếp xúc với tinh linh hành tinh, vốn là cơ sở của thuyết vật linh, và Thầy thấy thú vị rằng những người theo thuyết vật linh cảm nhận được linh hồn trong chất liệu; nhân loại cũng chưa phát triển tâm thức để đi vào Sự Sống và Thể Trí của Hành Tinh Thượng đế, nên chỉ biết phân khu thứ hai, và ngay cả tự ý thức cũng ở các khía cạnh thấp. Thầy kết luận nhân loại còn mù mờ về các giai đoạn thấp, trung và cao nhất của linh hồn thế giới, chỉ biết đến vùng trung gian thấp của tự ý thức.
§ Chấp nhận lời Chân sư DK như giả thuyết tạm thời
Sau khi thông báo kết thúc phần một và tiếp tục buổi giảng, Thầy MDR bình về lời Chân sư DK rằng ta phải chấp nhận các phát biểu của Ngài như giả thuyết tạm thời vì chưa thể tự biết chúng là chân lý. Thầy nói đáng buồn nhưng đó là tình trạng vô minh thật của con người: có lẽ ta không thể kiểm chứng đến chín mươi lăm phần trăm điều Chân sư Tây Tạng nói; Ngài là Chân sư Minh Triết với các thần thông đã khai mở, còn ta là những môn sinh tin cậy, theo các phát biểu có thẩm quyền của Ngài như giả thuyết. Vì Ngài đã đúng trong rất nhiều điều, sáng suốt là giả định Ngài có lẽ cũng đúng, hầu hết hoặc hoàn toàn, trong những điều ta chưa kiểm chứng được; nhưng ở các giai đoạn sau của tiến hóa có thể tiến nhanh trong việc mở rộng nhận thức, và nhiều người đang đến giai đoạn ấy.
§ Các hành tinh xa và quyền cai quản các dấu hiệu
Chân sư DK nói chiêm tinh ngoại môn cho rằng Vulcan, Sao Thiên Vương, Sao Diêm Vương và Sao Hải Vương không cai quản dấu hiệu mà chỉ có ái lực với chúng, và Ngài đề cập điều này vì sắp xét Sao Diêm Vương trong liên hệ với Song Ngư. Thầy MDR nhắc rằng Sao Thiên Vương thường được chấp nhận là chủ tinh của Bảo Bình, trước kia là Sao Thổ, còn Alan Leo gần đây mới nói Sao Hải Vương cai quản Song Ngư. Sao Diêm Vương được phát hiện năm 1930, đúng lúc sách được viết, nên Chân sư Tây Tạng được phép nói về nó; Thầy lưu ý nó đã được ghi trên phim từ 1915 mà không được nhận ra, và việc phát hiện trùng với làn sóng tiêu cực của chủ nghĩa Quốc xã và phát xít. Theo Thầy, Chân sư DK muốn nói các hành tinh này thật sự cai quản dấu hiệu nhưng từ một góc độ nội môn hơn; Thánh Đoàn luôn biết các hành tinh bí mật, và còn nhiều hành tinh chưa được phát hiện gây ra những lực đẩy kéo mà ta gán nhầm nguồn. Thầy liệt kê lại các vị trí chủ tinh của Sao Diêm Vương, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Vulcan theo giáo huấn, kể cả các vị trí bị che giấu.
§ Phát hiện hành tinh theo mức đáp ứng của nhân loại
Chân sư DK nói các hành tinh như Sao Thiên Vương hay Sao Diêm Vương tác động lên đời sống linh hồn nhiều hơn phàm ngã, nên chỉ được các nhà nội môn học đã được huấn luyện biết đến cho tới khi con người đáp ứng rõ rệt với chúng. Thầy MDR lưu ý Sao Diêm Vương dù không thiêng liêng vẫn được xem là hành tinh nội môn, và có lẽ chỉ khi thật sự trên đường đạo người ta mới ghi nhận ảnh hưởng tinh thần của nó; với nhiều người, các hành tinh này chưa được “phát hiện” trong tâm thức, dù chúng vẫn tác động lên phần hành khí, dưới nhân loại trong ta, nhưng sự đáp ứng của nhân loại nói chung đã giúp chúng được phát hiện. Thầy suy luận Vulcan, hành tinh của ý chí tinh thần, sẽ được phát hiện khi nhân loại đứng lên với ý định tập thể vì điều thiện và đòi một cách quan hệ dựa trên ý chí tinh thần và nguyên tắc, cũng như Sao Thiên Vương được phát hiện giữa nhiệt tình cách mạng, Sao Hải Vương khi huyền học, gây mê và đồng cốt thịnh hành, và Sao Diêm Vương cùng lúc với sự bùng phát của các lực ngầm có thể xem là đại diện Hắc đoàn. Thầy nói các nhà chiêm tinh “không chơi với bộ bài đầy đủ”, nhưng có thể ngày càng nhạy cảm và phân biệt các ảnh hưởng, và hình dung một ngày có hơn 115 hành tinh được biết, với sức mạnh tính toán giúp ta đi qua mạng lưới năng lượng theo cách hướng về Thiên Cơ.
§ Đi ngược bánh xe để khởi đầu Song Ngư
Kết thúc Bạch Dương, Thầy MDR nhắc cần xác định các chủ âm, từ khóa và chín điểm khảo sát cho mỗi dấu hiệu, và lưu ý các trang 119 và 143 bàn về hai cách đi quanh Thập Giá Biến đổi và Thập Giá Cố Định để so sánh các dấu hiệu. Thầy giải thích Chân sư Tây Tạng đi ngược, từ Bạch Dương sang Song Ngư, theo hướng của con người vô minh chứ không theo anima mundi hay con người tinh thần, dù Ngài nói về các dấu hiệu theo cách tinh thần, để khiến ta chú ý rằng có hai bánh xe vận hành, bánh xe hình tướng và bánh xe tâm thức; hiểu điều này là một phần của nền chiêm tinh mới, giúp ta và người khác tiến theo chiều ngược kim đồng hồ, đáp ứng với tiềm năng tinh thần cao của các dấu hiệu.
§ Song Ngư là dấu hiệu kép: linh hồn và hình tướng
Thầy MDR mô tả Bạch Dương là dấu hiệu kép như sức sống phun ra như mạch nước, rẽ sang phải và trái, sự hợp nhất đi vào thế giới nhị nguyên, như cặp sừng cừu. Chân sư DK nói Song Ngư cũng kép: ở Bạch Dương là nhị nguyên của tinh thần và vật chất gặp nhau trong hoạt động sáng tạo lớn lao lúc khởi đầu chu kỳ tiến hóa, còn ở Song Ngư là sự dung hợp linh hồn và hình tướng nơi con người, tạo ra Christ nhập thế, linh hồn cá nhân hoàn thiện. Thầy nhấn mạnh sáng tạo là chủ âm của Bạch Dương, nơi Cung một và Cung bảy, cao nhất và thấp nhất, gặp nhau; cặp đối cực tinh thần–vật chất còn hơi xa tầm với người hiện nay nhưng trong tầm của điểm đạo đồ. Thầy đặt câu hỏi khởi đầu chu kỳ tiến hóa là khi nào, và chọn nhìn theo tiểu thiên địa: mỗi kiếp sống là sự tiếp nối và khởi đầu lại của chu kỳ tiến hóa dài của con người.
§ Song Ngư, Christ và các thập độ vũ trụ
Thầy MDR nói Song Ngư là dấu hiệu gắn nhiều nhất với tâm thức Christ, dù hiện nay Xử Nữ, dấu hiệu đối diện, đem Cung hai vào nhiều hơn và liên quan đến sự thai nghén, sinh ra tâm thức Christ. Song Ngư là một thập độ vũ trụ, cùng với Kim Ngưu và Hổ Cáp, và mỗi Đức Chưởng Giáo gắn với một thập độ ấy: Hercules với Hổ Cáp, Đức Phật với Kim Ngưu, Đức Christ với Song Ngư; vì vậy sự nở hoa trọn vẹn nhất của Cung hai có thể tìm thấy ở Song Ngư. Song Ngư kết hợp linh hồn và hình tướng thay vì tinh thần và vật chất, thuộc đường năng lượng mềm, biểu lộ Cung hai và Cung sáu, dù gắn nhiều với chất liệu Cung ba là nước; Thầy lý giải cả linh hồn lẫn hình tướng đều liên hệ với Cung hai, vì hình tướng là kết quả của hoạt động kiến tạo Cung hai, trong khi Bạch Dương là dấu hiệu Cung một với các Cung một và bảy thuộc đường cứng.
§ Biểu đồ Cung của các Chúa Tể chòm sao
Thầy MDR tin rằng mỗi dấu hiệu, mỗi chòm sao có đủ mọi Cung, như Trái Đất, nhưng với những nhấn mạnh ở từng thời điểm. Thầy chỉ ra điều Chân sư DK không cho biết: Ngài nêu các Cung đi qua các chòm sao nhưng không gán chúng vào các vận cụ định kỳ của các Chúa Tể chòm sao, trong khi với Trái Đất thì có Chân Thần Cung một, linh hồn Cung hai, phàm ngã Cung ba. Thầy đặt câu hỏi Bạch Dương có Chân Thần Cung một hay Cung hai, có Cung sáu hay Cung ba nào chi phối vận cụ nào, vì chỉ có hai Cung đi qua Bạch Dương mà có ba vận cụ định kỳ; và suy luận rằng nếu con người có biểu đồ Cung năm hay sáu phần thì Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế và Chúa Tể chòm sao cũng vậy. Thầy tin một ngày nào đó ta sẽ hiểu phẩm tính của các Chúa Tể chòm sao nhờ một biểu đồ Cung đầy đủ hơn; trong Song Ngư, Thầy xem linh hồn thuộc Cung hai và hình tướng thuộc Cung sáu, hai Cung đi qua Song Ngư cũng như Xử Nữ.
§ Christ bên trong và cặp đối cực lớn nhỏ
Chân sư DK nói nhờ đó cặp đối cực lớn và nhỏ, con người và Thượng đế, tiểu thiên địa và đại thiên địa, đạt được sự biểu lộ đã định. Thầy MDR hiểu cặp đối cực lớn là tinh thần và vật chất, cặp nhỏ là linh hồn và hình tướng; Thượng đế ở đây liên hệ với Bạch Dương, Đức Cha, còn con người với Song Ngư, con cá cá nhân bơi trong đại dương vật chất và các cõi thấp của Thái dương và Hành Tinh Thượng đế. Theo Thầy, về mặt thực tiễn, nhiệm vụ trước mắt là đưa Christ cá nhân trong bản chất ta đến sự biểu lộ đúng đắn, còn Christ hành tinh, Christ hệ mặt trời hay Christ vũ trụ sẽ do các thực thể ở các cấp ấy lo. Về câu “cho tới khi con người gần đến mục tiêu, những lời này ít có ý nghĩa”, Thầy cho rằng gần mục tiêu có thể là bắt đầu lần điểm đạo thứ nhất, bước vào Thiên Giới một cách nhỏ bé, hoặc có thể gần lần điểm đạo thứ tư, và các sách này được viết cho nhiều điểm đạo đồ bậc một; Song Ngư cần được nghiên cứu trên cả bánh xe hình tướng lẫn bánh xe tâm thức.
§ Song Ngư là khởi đầu và kết thúc
Thầy MDR nhận xét Song Ngư, như Bạch Dương, vừa là khởi đầu vừa là kết thúc, và một ngày Bạch Dương–Song Ngư sẽ là một dấu hiệu: theo Chân sư DK, lần lâm phàm đầu tiên theo nghĩa cá nhân được thực hiện ở Song Ngư, và lần lâm phàm cuối cùng đưa con người đến Shamballa thường được trải nghiệm ở Song Ngư.
§ Thiên Ý chỉ là đề tài suy đoán, lời nhắc khiêm tốn
Chân sư DK nói mục tiêu của Thượng đế, sự xuất lộ của Thiên Cơ và bản chất Thiên Ý vĩnh cửu đối với ta chỉ là đề tài suy đoán đầy quan tâm. Thầy MDR tự hỏi Chân sư DK có tính cả Ngài trong đó không: Ngài nói chưa lên cõi cảm dục vũ trụ; Ngài có thể nói về sự xuất lộ của Thiên Cơ vì như các chân sư khác Ngài là một phần của nó, nhưng Đức Sanat Kumara giữ riêng một số mục đích, chưa trao cho cấp chân sư; Thầy nghĩ có lẽ chân sư hiểu được âm tiết đầu tiên của danh hiệu Đức Sanat Kumara, và với mỗi bậc điểm đạo, thêm âm tiết của danh hiệu cùng với mục đích được khai lộ. Ta được biết khái quát rằng Hành Tinh Thượng đế sẽ thành một trạm ánh sáng lớn trong hệ mặt trời, và Thái dương Thượng đế là trung tâm tim của một Vũ Trụ Thượng đế nên tình thương Bồ đề phải ngày càng chi phối mọi thứ, nhưng chi tiết mục đích không được tiết lộ.
§ Hình dung về Thượng đế và chữ “vô hạn”
Chân sư DK nói Thiên Cơ và Thiên Ý có thể khác xa phỏng đoán của ta, vốn dựa trên một Thượng đế do trí năng và lý tưởng sùng tín của ta tạo ra, hai trong ba khía cạnh của phàm ngã, cùng nỗ lực hiểu các mục đích vô hạn của Ngài bằng sự hữu hạn của ta. Thầy MDR cảnh báo rằng suy đoán về Thượng đế tuyệt đối thật vô ích khi ta chưa hiểu nổi Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế. Thầy đặt vấn đề với chữ “vô hạn”: một Thượng đế hành tinh hay thái dương, thậm chí Thượng đế của vũ trụ ta, không thể có mục đích vô hạn theo nghĩa chặt chẽ, vì vũ trụ là một, một đơn nhất có giới hạn chứ không phải Vô hạn của các vô hạn; Thầy thừa nhận mình có lẽ quá khắt khe với chữ này vì đó là một đam mê của Thầy, và chữ ấy có khi chỉ một số lượng quá lớn không đếm được. Theo Thầy, đây là một lời răn về khiêm tốn và đúng tỷ lệ, vì khiêm tốn chính là ý thức đúng đắn về tỷ lệ.
§ Cơ cấu nhận thức thiêng liêng và sự nhạy cảm của Song Ngư
Chân sư DK nói cơ cấu nhận thức thiêng liêng chưa phát triển rộng rãi nơi nhân loại và chỉ bắt đầu hữu dụng nơi điểm đạo đồ bậc ba. Thầy MDR giải thích đó là các thần thông cao, và khi điểm đạo lần thứ ba, trung tâm ajna, trung tâm ở giữa đầu, con mắt thứ ba dĩ thái, được khơi hoạt; Thầy phân biệt nhận thức tinh thần, liên quan tới linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần, với nhận thức thiêng liêng thuộc các cấp cao hơn: hai cõi phụ cao của cõi Bồ đề và cõi atma, và những phương thức nhận thức chưa phân loại của cõi Chân Thần và cõi Thượng đế, nên chỉ điểm đạo đồ rất cao mới có. Theo Thầy, ở đây Chân sư DK thực ra đang nói về sự nhạy cảm, vì Song Ngư là dấu hiệu của tâm thức nhạy cảm lớn, của ấn tượng, trung gian và ở mức thấp là đồng cốt; đây là dấu hiệu rất thụ cảm, dễ bị hoàn cảnh và năng lượng thấp tràn ngập, nhưng khi vượt qua giai đoạn ấy thì có thể hòa điệu với những năng lượng cao và tinh tế mà hầu hết mọi người không nhận ra.
§ Ba chủ âm của Song Ngư
Chân sư DK nói tính nhị nguyên của Song Ngư phải được nghiên cứu theo ba chủ âm: trói buộc hay giam cầm, từ bỏ hay tách rời, hi sinh và cái chết. Thầy MDR minh họa giai đoạn trói buộc bằng hình ảnh cá voi nuốt Jonah, quái vật biển Cetus, Hydra, cơn lũ các lực hành khí dễ nhấn chìm người chưa ổn định trong tâm thức tinh thần. Ở giai đoạn từ bỏ, ta học buông sự gắn bó với các ảnh hưởng thấp, có thể đẩy lùi chúng theo Định luật Đẩy Lùi, luật thứ tư của linh hồn, quan sát mà không bị lay động. Khi đã tách rời, ta học hi sinh mọi ham muốn đối với các cấp ấy, dâng một lễ vật thiêng liêng, chết đi với các cõi thấp để sinh vào những cơ hội cao hơn; Thầy nhấn mạnh đó không phải cái chết buồn thảm mà là niềm hi vọng lớn, vì Song Ngư là dấu hiệu của hi vọng.
§ Các chủ tinh của Song Ngư và mặt tiêu cực của mọi dấu hiệu
Thầy MDR liên hệ các chủ âm với các chủ tinh: sự trói buộc có thể gắn với Sao Mộc và Sao Hải Vương, vì con người hoàn toàn đắm vào mức biểu lộ thấp; Sao Diêm Vương giúp tách rời và là hành tinh của cái chết, cắt sợi dây trói ta vào những điều nhỏ bé. Thầy lưu ý Song Ngư cai quản các động vật rất lớn như cá voi, còn Xử Nữ cai quản động vật nhỏ trong chiêm tinh nội môn, và con cá voi khổng lồ trong nước Hải Vương là hình ảnh của Sao Mộc và Sao Hải Vương, nuốt và giữ linh hồn trong trói buộc rất lâu. Thầy nhắc rằng mọi hành tinh đều là thần linh nhưng có thể biểu lộ tiêu cực tùy hình tướng chúng tác động; không nên nghĩ Bảo Bình chỉ toàn tốt, vì đảng Quốc xã lên nắm quyền ở Đức ngày 30 tháng 1, dưới Bảo Bình. Các dấu hiệu và các Cung không hoàn toàn tốt hay xấu, tùy cách được dùng; nếu quên điều này ta sẽ luôn thiên vị Bảo Bình hơn Song Ngư, Cung bảy hơn Cung sáu, Cung hai hơn Cung ba, mà không thấy chúng đều thiêng liêng như nhau.
§ Linh hồn trong nhà tù vật chất và dải băng nối hai con cá
Chân sư DK nói trong chu kỳ kinh nghiệm đầu tiên trên bánh xe, linh hồn bị giam cầm trong chất liệu, đi xuống nhà tù vật chất và gắn với hình tướng. Thầy MDR hiểu đó là khi bánh xe quay theo chiều kim đồng hồ: tâm thức chỉ thấy bên ngoài, bị mọi xung lực bên ngoài lay động, như những người trôi dạt không tự định hướng. Song Ngư là dấu hiệu thứ mười hai, gắn với nhà mười hai, cai quản nhà tù, tu viện, bệnh viện tâm thần, bệnh viện, những nơi giam giữ dù vì mục đích cứu chuộc. Những mối ràng buộc từ tính ấy chính là điều Sao Diêm Vương phải cắt, và qua con mắt của ảo cảm, những thứ vô giá trị trông rất hấp dẫn. Biểu tượng hai con cá nối bằng một dải băng, dải băng từ tính, cũng là một chòm sao liên quan, cùng Andromeda và Cepheus. Thầy nghĩ Đức Phật có lẽ không có liên hệ với Song Ngư, dù vài đoạn của Chân sư DK gợi ý Song Ngư mọc cùng Mặt Trời Kim Ngưu và Mặt Trăng Hổ Cáp, và Ngài đã dùng Hổ Cáp và ánh sáng Kim Ngưu để cắt dải băng nối con cá linh hồn, bơi thẳng đứng, với con cá hình tướng, bơi ngang.
§ Sutratma và các sợi dây gắn bó cần cắt
Chân sư DK nói một con cá tượng trưng cho linh hồn, con kia cho phàm ngã, và giữa chúng là sutratma, sợi dây bạc giữ chúng với nhau suốt chu kỳ biểu lộ. Thầy MDR lưu ý đây là sợi dây cần cắt hết sức thận trọng: sutratma chỉ bị cắt sau cùng khi mọi việc đã xong, cắt sớm là mất khả năng thực hiện mục đích của linh hồn trong hình tướng; nhưng có những sợi dây gắn bó trong tâm thức phải cắt, và ta vẫn có thể ý thức về điều mình không còn gắn bó. Cái chết cuối mỗi kiếp là sự cắt sợi dây dưới Sao Diêm Vương để tâm thức trở về với chính nó; Thầy nhận xét ta không còn gắn với các thể xác hay nguyên tử của các kiếp trước, nhưng vẫn gắn với các sự sống hành khí được tạo ra qua các nguyên tử trường tồn cho đến lần điểm đạo thứ tư.
§ Bánh xe đảo ngược và cái chết sau cùng
Chân sư DK nói trên bánh xe đảo ngược, phàm ngã bị linh hồn giam giữ, nhưng suốt nhiều đại kỷ tình thế ngược lại, linh hồn là tù nhân của phàm ngã. Thầy MDR ví von rằng khi ấy con người nuốt lại con cá voi: phàm ngã giảm ảnh hưởng, linh hồn lớn lên như ở Song Tử, và đời sống hành khí không còn được làm theo ý nó; còn ở đa số, tâm thức là nạn nhân của các sự sống hành khí lửa, đất, khí, nước. Sự trói buộc kép chấm dứt bằng cái chết sau cùng, khi khía cạnh sự sống được giải thoát hoàn toàn khỏi đời sống hình tướng; Thầy nghĩ Sao Diêm Vương và có lẽ Sao Thiên Vương dự phần ở vùng đất cháy sau cùng, và gọi đó là lần điểm đạo thứ tư và thứ năm.
§ Định luật X của Trị Liệu Huyền Môn: hai dạng giải thoát
Thầy MDR mở Định luật X trong sách Trị Liệu Huyền Môn, trang 501–502, để minh họa hai dạng cái chết. Phần đầu, tiếng gọi từ Con tới Mẹ khiến hình tướng rơi rụng và “linh hồn đứng tự do”, theo Thầy là sự cắt tạm thời tâm thức khỏi đời sống hình tướng ở cuối mỗi kiếp. Phần sau, “Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Thăng Lên”, là lời gọi chính tinh thần, Chân Thần, được Chúa Tể Sự Sống gọi từ ashram hay Phòng Hội Đồng để thoát khỏi cả hình tướng lẫn linh hồn; cả linh hồn và hình tướng cùng từ bỏ nguyên khí sự sống để Chân Thần đứng tự do. Thầy xem đây là nơi tinh thần tách khỏi không chỉ hình tướng mà cả linh hồn, một kiểu hoàn tất Song Ngư sau cùng.
§ Linh hồn cũng là hình tướng đối với Chân Thần
Chân sư DK nói linh hồn tự nó cũng thuộc bản chất hình tướng xét từ góc độ Chân Thần, dù tinh tế hơn mọi hình tướng trong ba cõi. Thầy MDR giải thích vì linh hồn vẫn ở trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, dù ở các cấp cao của thể ấy; do đó Song Ngư theo nghĩa Huyền Giai cũng cai quản sự giải thoát tinh thần khỏi thể linh hồn, tức lần điểm đạo thứ tư, và Thầy suy đoán liệu về sau Song Ngư có liên quan đến sự giải thoát tối hậu của Chân Thần khỏi Tam Nguyên Tinh Thần hay không.
§ Sự từ bỏ kép: rời nhà Cha và quay về
Chân sư DK nói có một sự từ bỏ kép: trước hết linh hồn từ bỏ sự sống và ánh sáng của Chân Thần, đi xuống đại dương vật chất; rồi quay lại, từ bỏ đời sống hình tướng, trung tâm phàm ngã. Thầy MDR giải thích linh hồn là jiva, sự nhận biết của Chân Thần phóng chiếu xuống các cõi thấp; câu “Tôi rời nhà Cha” là một thần chú Song Ngư, nói về sự giáng xuống của tâm thức jiva, một chúa tể của lòng sùng tín kiên trì không ngừng, rời thế giới ánh sáng và sự sống; tiến trình giáng hạ và các giai đoạn đầu của tiến hóa chưa có tự ý thức kéo dài rất lâu. Rồi linh hồn thức tỉnh với bản chất tinh thần thật của mình; Thầy nhấn mạnh sutratma chưa bị tách ở đây, linh hồn vẫn nối với Chân Thần bằng sự sống nhưng tách về tâm thức, hoạt động từ trung tâm riêng trong Hoa Sen Chân Ngã, thể nguyên nhân, tạo những gắn bó mới trong ba cõi thấp. Như vậy có một sự tách rời đi xuống và một sự tách rời đi lên, và Song Ngư cai quản cả hai; đứa con hoang đàng, cũng là linh hồn, thức tỉnh, rời các thế giới ngoại vi của phàm ngã, và trên bánh xe đảo ngược gắn lại với Đấng Duy Nhất đã sai nó đi; linh hồn nhìn về hai hướng như thần Janus hai mặt.
§ Các Chúa Tể Ý Chí và Hi Sinh: sứ mệnh cứu chuộc
Chân sư DK nói các Chúa Tể Ý Chí và Hi Sinh giáng xuống biểu lộ, hi sinh địa vị cao để cứu chuộc vật chất và nâng các sinh linh thuộc các Huyền Giai Sáng Tạo thấp lên ngang tầm các Ngài. Thầy MDR xác định các Ngài là các Chân Thần, tức chính chúng ta, rời các cõi dĩ thái vũ trụ để cứu chuộc chất liệu của thể xác đậm đặc của Thái dương và Hành Tinh Thượng đế; các Huyền Giai thấp, là một phần các thể biểu lộ của ta, được cứu chuộc nhờ liên kết với ta, những Chân Thần-trong-sự-mở-rộng. Thầy nhấn mạnh đây không phải điều bất hạnh dù đưa đến nhiều đau buồn và giới hạn tạm thời, mà là một sứ mệnh xuất phát từ tình thương thiêng liêng, vì Song Ngư là dấu hiệu lớn của tình thương và sự cứu chuộc.
§ Chân Thần không phải tấm bảng trắng
Chân sư DK nói các Sự Sống thiêng liêng này chính là chúng ta, mang phẩm tính tri thức, bác ái và ý chí, được thúc đẩy bởi lòng sùng tín kiên trì không ngừng. Thầy MDR lưu ý Chân Thần không phải tấm bảng trắng: Chân Thần đã có nhiều dạng kinh nghiệm, đã được trang bị tri thức, bác ái và ý chí, và ở các cõi thấp không phải để thu nhặt mà chủ yếu để phục vụ, dù không tránh khỏi việc thu thêm tri thức; lòng sùng tín của Chân Thần chiếu rạng và rung động không ngừng như một mặt trời. Các Ngài tìm cách mang lại cái chết của hình tướng theo ý nghĩa huyền bí, mà Thầy hiểu là cái chết của hình tướng chỉ sống cho chính nó thay vì theo một khuôn mẫu cao hơn có thể cứu chuộc nó, và giải phóng các sinh linh nội tại lên trạng thái tâm thức cao hơn. Thầy kết luận: cứu chuộc là nâng lên; ta nâng đỡ các sinh linh ta tiếp xúc, như những Sự Sống lớn hơn, mà đối với các Ngài ta chỉ như những thiên thần nhỏ hay hành khí, đang nâng đỡ ta qua sự liên kết.
§ Các đấng cứu thế và nguồn gốc của đời sống phụng sự
Chân sư DK nói mọi đấng cứu thế quá khứ, hiện tại và tương lai là biểu tượng và bảo chứng vĩnh cửu của tiến trình này. Thầy MDR nhắc Song Ngư là dấu hiệu của đấng cứu thế và sự cứu rỗi, đã có nhiều đấng cứu thế trước Đức Christ, và chúng ta đã lên đường hành hương như những người cứu chuộc nhưng vì trở nên ích kỷ mà quên mục đích ban đầu; khi thức tỉnh với Thiên Cơ của linh hồn và mục đích của Chân Thần, ta lại thành người cứu chuộc vô kỷ. Chân sư DK nói động lực chính của đời sống phụng sự phải được tìm trong những nhận thức như vậy; Thầy giải thích muốn phục vụ phải nhớ ta là ai, và lý do sâu xa nhất để phục vụ là nhớ lại vì sao ta lên đường hành hương.
§ Người Song Ngư phụng sự và động lực ban đầu
Chân sư DK nói người sinh trong dấu hiệu này thường phục vụ nhân loại ở một cấp tâm thức nào đó, nhờ đó chuẩn bị cho sự hi sinh sau cùng ở Song Ngư, sự hi sinh “hấp thu họ trở về Động Lực khởi nguyên”. Thầy MDR nói họ thường là những người phục vụ trong giáo hội, sống cho người khác, và kể rằng mới dự thánh lễ ở một tu viện dòng Carmel, nơi châm ngôn là “totus tuus”, trọn vẹn cho Ngài, một lòng vị tha hoàn toàn. Thầy cho rằng sự hi sinh sau cùng có thể là kiếp cuối ở lần điểm đạo thứ tư, và ta phải lấy lại động lực của mình như những Chân Thần lên đường hành hương theo lời Cổ Luận; nếu nhớ lại được, toàn bộ đời sống phụng sự sẽ được tái sinh động và định hướng khác hẳn, không còn là thu tích.
§ Phụng sự là phương pháp giải thoát khoa học
Chân sư DK nói vì vậy đời sống phụng sự và ý định phụng sự có định hướng là một phương pháp khoa học để đạt giải thoát; ở Bảo Bình, dấu hiệu của phụng sự thế gian, bài học được học xong, tạo ra đấng cứu thế ở Song Ngư, và đó là lý do Ngài luôn nhấn mạnh việc phụng sự. Thầy MDR nói phụng sự gần như mạnh hơn thiền định, và Chân sư DK có lúc nói nó mạnh hơn thiền định, vì giải thoát và cứu chuộc hơn; qua việc thực hành đời sống phụng sự, với ý định phụng sự của phàm ngã hay của linh hồn trong phàm ngã, ta được đưa trở lại nhận thức về động lực khởi nguyên, trước hết nhận ra nó, rồi được hấp thu vào nó và trở thành ý chí phụng sự thiêng liêng. Thầy nhấn mạnh sự liên tục giữa hai dấu hiệu giải thoát: Bảo Bình, nơi có thể nhận lần điểm đạo thứ ba hay thứ tư, và Song Ngư, nơi thường nhận lần điểm đạo thứ tư và có lẽ cả thứ năm, giải thoát vào Shamballa.
§ Kết thúc buổi 52
Thầy MDR tổng kết rằng buổi giảng hai giờ đã đi từ trang 111 đến 117, gồm phần kết thúc Bạch Dương và phần mở đầu Song Ngư; Thầy mong các buổi dài hơn sẽ hữu ích, dù giảng quá lâu có thể khiến đầu óc mệt. Buổi học kết thúc bằng việc cùng đọc Đại Khấn Nguyện.
Text EAA 52 – Văn bản EAA 52
[1] By the word “influencing” I here refer to the energies pouring from these three aspects of the Sun through the three Crosses to our planet. [2] Ponder on this and remember also that our Sun is traveling through space [3] (carrying our solar system along in its sphere of influence) [4] around our own central and conditioning star which it has been rightly presumed exists in the constellation Taurus, the Bull, being found in the Pleiades. [5] At the same time it appears, from the standpoint of our planet, to be passing through the twelve signs of the zodiac; [6] this is a symbol macrocosmically considered, [7] of the dramatic centralized point of view of the individual human being, [8] the microcosm. [9] It is interesting to [Page 112] compare the symbolism and the underlying truth connected with the lesser and the greater zodiacs and with their twelve month and their 25,000 year cycles. [10] They bear out [11] much that I have given you anent the soul, influenced by the esoteric planets eventually, and the personality, influenced by the orthodox planets. [12] The greater zodiac is symbolic of the soul and the lesser of the personality. [13] In the personality cycle, the lesser zodiac conditions the personality career and the twelve planetary houses are of dominant importance. [14] Later the influence of the twelve signs supersedes the influence of the planets.
[1] Ở đây, bằng từ “ảnh hưởng”, tôi muốn nói đến các năng lượng tuôn đổ từ ba phương diện này của Mặt Trời, xuyên qua ba Thập Giá, đến hành tinh chúng ta. [2] Hãy suy ngẫm điều này và cũng nên nhớ rằng Mặt Trời của chúng ta đang du hành trong không gian [3] (mang theo hệ mặt trời của chúng ta trong phạm vi ảnh hưởng của nó) [4] quanh ngôi sao trung tâm có tác động lên chúng ta; người ta đã có lý khi giả định rằng ngôi sao này tồn tại trong chòm Kim Ngưu và nằm trong cụm sao Pleiades. [5] Đồng thời, từ quan điểm của hành tinh chúng ta, dường như Mặt Trời đang đi qua mười hai dấu hiệu Hoàng đạo; [6] xét trên bình diện Đại thiên địa, điều này là một biểu tượng [7] cho quan điểm tập trung đầy kịch tính của cá nhân con người, [8] tức Tiểu thiên địa. [9] Thật lý thú khi [Trang 112] so sánh tính biểu tượng và chân lý nền tảng liên quan đến Hoàng đạo nhỏ và Hoàng đạo lớn, cùng các chu kỳ mười hai tháng và 25.000 năm của chúng. [10] Chúng xác nhận [11] phần lớn những gì tôi đã trình bày với các bạn về linh hồn, cuối cùng chịu ảnh hưởng của các hành tinh nội môn, và phàm ngã, chịu ảnh hưởng của các hành tinh chính thống. [12] Hoàng đạo lớn tượng trưng cho linh hồn, còn Hoàng đạo nhỏ tượng trưng cho phàm ngã. [13] Trong chu kỳ phàm ngã, Hoàng đạo nhỏ tác động lên tiến trình của phàm ngã, và mười hai nhà hành tinh có tầm quan trọng vượt trội. [14] Về sau, ảnh hưởng của mười hai dấu hiệu thay thế ảnh hưởng của các hành tinh.
[15] I would like also to emphasize—perhaps unnecessarily—that Sirius, the Great Bear and the Pleiades work through the medium of the twelve constellations, [16] pouring their influences through nine of them in particular, but that these major constellations are not part of the zodiac with which we are concerned. [17] They, with the seven solar systems of which ours is one, are the ten constellations connected with a still greater zodiac which is not conditioned by the numerical significance of the number twelve. [18] Hence ten is regarded as the number of perfection. [19] There is confusion in the minds of some of the less learned students (astrologically considered) on this point.
[15] Tôi cũng muốn nhấn mạnh—có lẽ là không cần thiết—rằng Sirius, Đại Hùng Tinh và cụm sao Pleiades hoạt động qua trung gian của mười hai chòm sao, [16] đặc biệt tuôn đổ ảnh hưởng của chúng qua chín chòm sao trong số đó, nhưng những chòm sao chính yếu này không thuộc Hoàng đạo mà chúng ta đang bàn đến. [17] Cùng với bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó, chúng tạo thành mười chòm sao liên hệ với một Hoàng đạo còn lớn hơn nữa, vốn không chịu tác động của thâm nghĩa số học của số mười hai. [18] Vì thế, số mười được xem là con số của sự hoàn thiện. [19] Về điểm này, thể trí của một số đạo sinh ít hiểu biết hơn về chiêm tinh học vẫn còn lẫn lộn.
[20] It is rather difficult for you also to grasp that the involutionary process for all the kingdoms of nature is related to the passage of the soul (this time the anima mundi or world soul) from Aries to Pisces, via Taurus and not vice versa. [21] The anima mundi on the involutionary arc proceeds this way and not as the personality proceeds. [22] The anima mundi passes to Pisces at the close of every great cycle and not to Taurus. [23] It emerges into outer manifestation in Cancer, [24] the sign of mass or group life, [25] of mass or [Page 113] group activity; its diffused consciousness has not yet been individualized as has the consciousness of man. [26] When the world soul [27] after having progressed around the Great Wheel, reached Cancer and the time came for the fourth Creative Hierarchy to manifest through the fourth kingdom [28] in nature, a reversal took place and then proceeded as now. It should be remembered with emphatic care that it is only man, individualized man whose progress we are studying, plus his reactions to zodiacal and planetary influences; we are dealing with his reactions, mental and emotional, to the great illusion and to spiritual reality as these two work in his life, objective and subjective. [29] We have, in the larger issue, to consider the influence of the zodiac and the planets upon:
[20] Các bạn cũng khá khó nắm bắt rằng tiến trình giáng hạ tiến hoá của mọi giới trong tự nhiên liên hệ với sự đi qua của linh hồn—lần này là linh hồn thế giới—từ Bạch Dương đến Song Ngư, qua Kim Ngưu, chứ không phải theo chiều ngược lại. [21] Trên cung giáng hạ tiến hoá, linh hồn thế giới tiến theo chiều này chứ không theo chiều mà phàm ngã tiến bước. [22] Vào cuối mỗi đại chu kỳ, linh hồn thế giới chuyển đến Song Ngư chứ không phải Kim Ngưu. [23] Nó xuất hiện trong sự biểu hiện bên ngoài ở Cự Giải, [24] dấu hiệu của sự sống quần chúng hay tập thể, [25] của hoạt động quần chúng hay [Trang 113]tập thể; tâm thức phân tán của nó chưa được biệt ngã hóa như tâm thức con người. [26] Khi linh hồn thế giới, [27] sau khi tiến quanh Đại Luân, đạt đến Cự Giải và thời điểm để Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư biểu hiện qua giới thứ tư [28] trong tự nhiên đã đến, một sự đảo chiều diễn ra, và từ đó tiến trình tiếp tục như hiện nay. Cần đặc biệt ghi nhớ rằng chúng ta chỉ nghiên cứu con người, tức con người đã được biệt ngã hóa, cùng những phản ứng của y trước các ảnh hưởng hoàng đạo và hành tinh; chúng ta đang đề cập đến những phản ứng trí tuệ và cảm xúc của y đối với đại ảo tưởng và thực tại tinh thần khi cả hai tác động trong đời sống khách quan và chủ quan của y. [29] Trong vấn đề rộng lớn hơn, chúng ta phải xem xét ảnh hưởng của Hoàng đạo và các hành tinh đối với:
[30] 1. The spirit of the Earth, the embodiment of the physical planet and the sum total of the form life in all the kingdoms of nature. These are the expression of the anima mundi or of the world soul.
[30] 1. Tinh linh địa cầu, hiện thân của hành tinh hồng trần và tổng thể sự sống hình tướng trong mọi giới của tự nhiên. Những giới này là biểu hiện của linh hồn thế giới.
[31] 2. Humanity, [32] the individualized and finally initiated man. This is the embodiment of the human soul or ego, a differentiation of the world soul, [33] which expresses itself as a personality (a correspondence to the spirit of the planet) [34] and finally as a spiritual soul (a correspondence to the planetary Logos).
[31] 2. Nhân loại, [32] tức con người đã được biệt ngã hóa và cuối cùng được điểm đạo. Đây là hiện thân của linh hồn con người hay chân ngã, một biến phân của linh hồn thế giới, [33] vốn biểu hiện thành một phàm ngã—tương ứng với tinh linh của hành tinh— [34] và cuối cùng thành một linh hồn tinh thần—tương ứng với Hành Tinh Thượng đế.
[35] 3. The Lord of the Planet, one of the great Lives or Sons of God, at present regarded as “an imperfect God” [36] as far as our planet is concerned and yet, from the angle of humanity, perfect indeed.
[35] 3. Chúa Tể Hành Tinh, một trong các Sự Sống Vĩ Đại hay các Con của Thượng đế, hiện được xem là “một Thượng đế chưa hoàn thiện” [36] xét về hành tinh chúng ta, nhưng theo quan điểm của nhân loại thì quả thật Ngài hoàn thiện.
[37] The above triple division expresses the three major aspects of the ancient and esoteric science of astrology [38] and its three divisions as the Hierarchy today studies them. [39] Humanity, [Page 114] having lost the consciousness [40] which permits contact with the spirit of the planet (sub-human consciousness, [41] and which was the basis of animism) [42] and having not yet developed the consciousness which permits him to enter into the Life and Mind of the planetary Logos, has dealt only with the second division and that in its lowest aspect.
[37] Sự phân chia tam phân trên biểu đạt ba phương diện chính yếu của khoa chiêm tinh học cổ xưa và nội môn, [38] cùng ba ngành của nó như Thánh đoàn nghiên cứu ngày nay. [39] Nhân loại, [Trang 114] vì đã mất loại tâm thức [40] cho phép tiếp xúc với tinh linh của hành tinh—tâm thức dưới nhân loại, [41] vốn là nền tảng của thuyết vật linh— [42] và chưa phát triển loại tâm thức cho phép con người đi vào Sự Sống và Trí của Hành Tinh Thượng đế, nên chỉ đề cập đến ngành thứ hai, mà lại chỉ ở phương diện thấp nhất của nó.
[43] Two other points might here be touched upon, and for their understanding you will have to accept my statements as temporary hypotheses at least, for you are in no position to know them as truth for yourselves. [44] Exoteric astrology has said and it is widely accepted that Vulcan, Uranus, Pluto and Neptune do not govern signs but only have affinity with them. [45] I am touching upon this here because we are going to consider the planet Pluto in relation to Pisces. [46] This affinity has only stated a partial truth and is only temporarily true from the standpoint of the modern astrologer. [47] Their existence has only been inferred or discovered within the last two or three centuries though it has always been known to the Hierarchy. [48] I have indicated to you the signs of which they are the rulers and the astrology of the future will accept my statement and work with these planets. Much earlier in human history, they had to accept the fact of Mars and Mercury as rulers of zodiacal signs in a hypothetical manner, and then start to prove the accuracy of the hypothesis. [49] Ancient astrology was obviously incomplete [50] but until man became patently responsive to the influences which come to him from Uranus or Pluto, for instance, which affect the soul life far more than they do the personality life, [51] they remained undiscovered except by trained esotericists. [52] Today, humanity is rapidly responding to the higher spiritual influences and, therefore, we can look for the discovery of increasingly subtle forces.
[43] Ở đây có thể đề cập đến hai điểm khác nữa, và để thấu hiểu chúng, ít nhất các bạn phải chấp nhận những phát biểu của tôi như các giả thuyết tạm thời, vì các bạn chưa có khả năng tự mình biết chúng là chân lý. [44] Chiêm tinh học ngoại môn đã nói, và người ta thừa nhận rộng rãi, rằng Vulcan, Sao Thiên Vương, Sao Diêm Vương và Sao Hải Vương không cai quản các dấu hiệu mà chỉ có mối tương ứng với chúng. [45] Tôi đề cập đến điều này ở đây vì chúng ta sắp xem xét Sao Diêm Vương trong mối liên hệ với Song Ngư. [46] Mối tương ứng này chỉ nêu lên một phần chân lý và chỉ tạm thời đúng theo quan điểm của nhà chiêm tinh hiện đại. [47] Người ta chỉ suy ra hoặc phát hiện sự tồn tại của chúng trong hai hay ba thế kỷ gần đây, mặc dù Thánh đoàn vẫn luôn biết đến chúng. [48] Tôi đã chỉ cho các bạn những dấu hiệu mà chúng là chủ tinh, và chiêm tinh học tương lai sẽ chấp nhận phát biểu của tôi và làm việc với các hành tinh này. Trước kia rất lâu trong lịch sử nhân loại, người ta đã phải giả định rằng Sao Hỏa và Sao Thủy là chủ tinh của các dấu hiệu hoàng đạo, rồi bắt đầu chứng minh tính chính xác của giả thuyết ấy. [49] Rõ ràng chiêm tinh học cổ đại chưa hoàn chỉnh, [50] nhưng cho đến khi con người trở nên đáp ứng rõ rệt với các ảnh hưởng đến từ Sao Thiên Vương hay Sao Diêm Vương chẳng hạn—những ảnh hưởng tác động đến đời sống linh hồn nhiều hơn hẳn đời sống phàm ngã— [51] thì chúng vẫn chưa được khám phá, ngoại trừ bởi các nhà bí truyền học lão luyện. [52] Ngày nay, nhân loại đang nhanh chóng đáp ứng với các ảnh hưởng tinh thần cao siêu hơn; do đó, chúng ta có thể trông đợi việc khám phá những mãnh lực ngày càng tinh tế.
[53] PISCES, THE FISHES
[53] SONG NGƯ, HAI CON CÁ
[Page 115]
[Trang 115]
[54] This sign is also dual. In Aries we have the duality which is attached to the bringing together of spirit and matter in the great creative activity [55] of manifestation at the beginning of the evolutionary cycle, [56] whilst in Pisces we have the fusion or blending of soul and form as far as man is concerned, [57] producing the manifestation of the Incarnated Christ, the perfected individual soul, the completed manifestation of the microcosm. [58] Thus the greater and the lesser polar opposites—the human being and God, the microcosm and the Macrocosm—are brought to their destined expression and manifestation. [59] Until man is nearing the goal, these words mean but little [60] though a study of the sign Pisces in the two ways intended [61] may reveal much that is significant and suggestive. [62] The goal of Deity, the emergence of God's plan and the nature of His eternal purpose is for us only a subject of interested speculation. [63] There is a possibility that this plan [64] and purpose may be vastly different to our surmise which is based upon our formulation of a Deity who is the product of our mental processes and of devoted idealism (two of the three aspects of the personality nature), [65] and the attempt to interpret His infinite purposes in terms of our own finiteness. [66] Let us always remember this. [67] The mechanism for divine perception [68] has not yet been developed in the human family on any large scale [69] and is only achieving some measure of usefulness in the initiate of the third degree.
[54] Dấu hiệu này cũng mang tính kép. Trong Bạch Dương, chúng ta có Nhị nguyên gắn liền với việc kết hợp tinh thần và vật chất trong hoạt động sáng tạo vĩ đại [55] của sự biểu hiện vào đầu chu kỳ tiến hoá, [56] trong khi ở Song Ngư, xét về con người, chúng ta có sự dung hợp hay hòa trộn giữa linh hồn và hình tướng, [57] tạo nên sự biểu hiện của Đức Christ Nhập Thể, linh hồn cá nhân đã hoàn thiện, sự biểu hiện trọn vẹn của Tiểu thiên địa. [58] Như vậy, các cặp đối cực lớn và nhỏ—con người và Thượng đế, Tiểu thiên địa và Đại thiên địa—được đưa đến sự biểu đạt và biểu hiện đã định. [59] Cho đến khi con người tiến gần mục tiêu, những lời này chỉ có rất ít ý nghĩa, [60] mặc dù việc nghiên cứu dấu hiệu Song Ngư theo hai cách được dự định [61] có thể tiết lộ nhiều điều đầy thâm nghĩa và gợi mở. [62] Mục tiêu của Thượng đế, sự xuất hiện Thiên Cơ của Thượng đế và bản chất Thiên Ý vĩnh cửu của Ngài đối với chúng ta chỉ là đề tài suy đoán đầy quan tâm. [63] Có khả năng Thiên Cơ [64] và Thiên Ý này khác xa những gì chúng ta suy đoán, vốn dựa trên quan niệm do chúng ta tạo ra về một Thượng đế là sản phẩm của các tiến trình trí tuệ và chủ nghĩa lý tưởng sùng tín của chúng ta—hai trong ba phương diện của bản chất phàm ngã— [65] cũng như dựa trên nỗ lực diễn giải những thiên ý vô hạn của Ngài theo sự hữu hạn của chính chúng ta. [66] Chúng ta hãy luôn ghi nhớ điều này. [67] Bộ máy nhận thức thiêng liêng [68] vẫn chưa phát triển trên quy mô rộng trong gia đình nhân loại [69] và chỉ đạt được một mức độ hữu dụng nào đó ở điểm đạo đồ bậc ba.
[70] This duality of Pisces must be studied in relation to its three keynotes which are
[70] Tính kép này của Song Ngư phải được nghiên cứu trong mối liên hệ với ba chủ âm sau đây:
[71] 1. Bondage or captivity.
[71] 1. Trói buộc hay giam cầm.
[72] 2. Renunciation or detachment.
[72] 2. Từ bỏ hay tách rời.
[73] 3. Sacrifice and death.
[73] 3. Hi sinh và cái chết.
[Page 116]
[Trang 116]
[74] In the first cycle of experience upon the wheel, [75] the soul itself is in captivity to substance; [76] it has come down into the prison house of matter [77] and linked itself to form. [78] Hence the symbol of Pisces, of the two fishes linked together by a band. [79] One fish stands for the soul and the other for the personality or form nature, and between them is to be found the “thread or sutratma,” the silver cord which keeps them bound to each other throughout the cycle of manifested life. [80] Later on, upon the reversed wheel, the personality is brought into captivity by the soul, [81] but for long eons the situation is reversed and the soul is the prisoner of the personality. [82] This dual bondage [83] is brought to an end by what is called the final death, [84] when the complete release of the life aspect from the life of form takes place. [85] It should be borne in mind also that the soul itself is of the nature of form [86] from the standpoint of the Monad, though it is a form far subtler than any that we know in the three worlds of human evolution. [87] There is also a dual renunciation referred to in these key words, [88] for first of all the soul renounces the life and light of the Monad, its source (symbolized by the words “the Father's home”), and descends into the ocean of matter; [89] then, reversing itself, the soul [90] renounces the life of form, the personality center. [91] The soul detaches itself (in consciousness) [92] from the Monad, the One, [93] and functions from its own center, [94] making its own new and material attachments. [95] Then, upon the reversal of the wheel, it proceeds to detach itself from the personality and re-attach itself in consciousness to the One Who sent it forth. [96] Such is the climaxing story of Pisces. The Lords of Will and Sacrifice [97] come down into manifestation, sacrificing their high position and opportunities upon the higher planes of manifestation [98] in order to redeem matter [99] and raise the lives by which it is informed (the lower Creative Hierarchies) to the [Page 117] status of Themselves in so far as They constitute the fourth Creative Hierarchy. [100] This is the subjective purpose, underlying the sacrifice of these divine Lives [101] Who are ourselves essentially, Who are qualified by knowledge, love and will, [102] and animated by ceaseless persevering devotion. [103] They seek to bring about the death of the form in its occult significance [104] and the consequent release of the indwelling lives into a higher state of consciousness. [105] Of this process, all the world Saviors [106] —past, present and to come—are the manifested symbols and the eternal guarantees. [107] It is in such recognitions as these that the mainspring to the life of service must be sought. [108] People born in this sign are frequently to be found serving the race and ministering to its needs [109] upon some level of consciousness. [110] Thus they are prepared for the final sacrifice in Pisces [111] which “absorbs them back into their originating Motive,” as the Old Commentary expresses it. [112] It is for this reason that the life of service and the directed intention to serve constitute a scientific mode of achieving release. [113] In Aquarius, the sign of world service, the lesson is finally learned which produces the world Savior in Pisces. Hence my constant emphasis upon service.
[74] Trong chu kỳ kinh nghiệm đầu tiên trên bánh xe, [75] chính linh hồn bị chất liệu giam cầm; [76] nó đã đi xuống ngục tù vật chất [77] và tự liên kết với hình tướng. [78] Vì thế có biểu tượng Song Ngư gồm hai con cá nối với nhau bằng một dải dây. [79] Một con cá tượng trưng cho linh hồn, con kia tượng trưng cho phàm ngã hay bản chất hình tướng; giữa chúng là “sợi dây hay sutratma”, tức sợi dây bạc giữ chúng ràng buộc với nhau suốt chu kỳ sự sống biểu hiện. [80] Về sau, trên bánh xe đảo chiều, linh hồn đưa phàm ngã vào cảnh giam cầm, [81] nhưng trong nhiều đại kiếp, tình thế diễn ra ngược lại và linh hồn là tù nhân của phàm ngã. [82] Sự trói buộc kép này [83] chấm dứt bởi điều được gọi là cái chết cuối cùng, [84] khi phương diện sự sống hoàn toàn giải thoát khỏi sự sống hình tướng. [85] Cũng cần ghi nhớ rằng, theo quan điểm của chân thần, chính linh hồn có bản chất hình tướng, [86] dù đó là một hình tướng tinh tế hơn nhiều so với bất kỳ hình tướng nào chúng ta biết trong ba cõi tiến hoá của nhân loại. [87] Các từ khóa này cũng đề cập đến một sự từ bỏ kép, [88] vì trước hết linh hồn từ bỏ sự sống và ánh sáng của chân thần, cội nguồn của nó—được tượng trưng bằng những lời “nhà của Cha”—và đi xuống đại dương vật chất; [89] rồi khi tự đảo chiều, linh hồn [90] từ bỏ đời sống hình tướng, tức trung tâm phàm ngã. [91] Linh hồn tách rời khỏi chân thần, Đấng Duy Nhất, trong tâm thức, [92] [93] và hoạt động từ trung tâm riêng của mình, [94] tạo nên những gắn bó vật chất mới của chính nó. [95] Sau đó, khi bánh xe đảo chiều, nó tiến đến chỗ tách rời khỏi phàm ngã và tái gắn kết trong tâm thức với Đấng đã phái nó đi. [96] Đó là câu chuyện đạt đến đỉnh điểm của Song Ngư. Các Chúa Tể của Ý Chí và Sự Hi Sinh [97] đi xuống sự biểu hiện, hi sinh địa vị cao cả và những cơ hội của Các Ngài trên các cõi biểu hiện cao hơn [98] để cứu chuộc vật chất [99] và nâng các sự sống thấm nhuần nó—các Huyền Giai Sáng Tạo thấp—lên địa vị của chính Các Ngài, trong chừng mực Các Ngài cấu thành Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. [100] Đây là mục đích chủ quan nằm sau sự hi sinh của các Sự Sống thiêng liêng này, [101] về bản chất chính là chúng ta, được định phẩm bởi tri thức, bác ái và ý chí, [102] và được làm sinh động bởi lòng sùng tín bền bỉ không ngừng. [103] Các Ngài tìm cách tạo nên cái chết của hình tướng theo thâm nghĩa huyền môn [104] và nhờ đó giải thoát các sự sống nội tại vào một trạng thái tâm thức cao hơn. [105] Mọi Đấng Cứu Thế [106] —trong quá khứ, hiện tại và tương lai—đều là những biểu tượng biểu hiện và sự bảo đảm vĩnh cửu cho tiến trình này. [107] Chính trong những nhận thức như thế, người ta phải tìm kiếm động lực chính yếu cho đời sống phụng sự. [108] Người sinh dưới dấu hiệu này thường phụng sự nhân loại và chăm lo các nhu cầu của nhân loại [109] trên một cấp độ tâm thức nào đó. [110] Nhờ vậy, họ được chuẩn bị cho sự hi sinh cuối cùng trong Song Ngư, [111] vốn “hấp thu họ trở lại Động Cơ khởi nguyên của họ”, như Cổ Luận diễn đạt. [112] Chính vì lý do này mà đời sống phụng sự và ý định phụng sự có định hướng tạo thành một phương thức khoa học để đạt được giải thoát. [113] Trong Bảo Bình, dấu hiệu của sự phụng sự thế gian, bài học cuối cùng được lĩnh hội, tạo nên Đấng Cứu Thế trong Song Ngư. Vì thế, tôi không ngừng nhấn mạnh việc phụng sự.
Esoteric Astrology Adventure 52 – Cuộc Phiêu Lưu Chiêm Tinh Học Nội Môn 52
Good morning, everyone. This is Esoteric Astrology Adventure number 52. This morning I'm going to make an experiment. I've been producing these adventures in one-hour segments, pretty much because I'm limited, when I do a solo webinar, to about an hour or a little more, and it will cut off. Now, I've tried another arrangement which will allow me to continue for a longer time and not have to use interim moments to wait for the next opportunity. In other words, I'm going to make a longer webinar this morning if it does work, and we'll see how it works for you. Hopefully, I won't get cut off. We shall see.
Chào buổi sáng mọi người. Đây là Cuộc Phiêu Lưu Chiêm Tinh Học Nội Môn số 52. Sáng nay, tôi sẽ tiến hành một thử nghiệm. Tôi vẫn thực hiện loạt phiêu lưu này thành từng phần dài một giờ, chủ yếu vì khi tự mình thực hiện một webinar, tôi bị giới hạn trong khoảng một giờ hoặc hơn một chút, rồi kết nối sẽ bị ngắt. Giờ đây, tôi đã thử một cách sắp xếp khác, cho phép tôi tiếp tục lâu hơn mà không phải tạm dừng để chờ cơ hội tiếp theo. Nói cách khác, sáng nay tôi sẽ thực hiện một webinar dài hơn nếu cách này có hiệu quả, và chúng ta sẽ xem nó phù hợp với các bạn như thế nào. Hy vọng tôi sẽ không bị ngắt kết nối. Chúng ta hãy cùng xem.
We were discussing the triple sun: the physical sun, which influences the Mutable Cross and the personality. Of course, if it influences the personality, it influences as well the astral vehicle and the lower mental vehicle, all of which are part of the dense physical body of the Solar Logos. From a certain point of view, the dense physical body of the Solar Logos will even include the ego on the higher mental plane, but we do not find that the physical sun is the influence upon that ego. Rather, it is the Heart of the Sun which influences the Fixed Cross, or the cross of the soul, and this is where the cross, or series of energies, through which the soul on the higher mental plane—or at least soul consciousness as we know it on the higher mental plane—is coming into prominence. It is the quality of consciousness, particularly, that is being dealt with here.
Chúng ta đang bàn về mặt trời tam phân: mặt trời hồng trần, vốn ảnh hưởng đến Thập Giá Biến đổi và phàm ngã. Dĩ nhiên, nếu nó ảnh hưởng đến phàm ngã thì nó cũng ảnh hưởng đến hiện thể cảm dục và hiện thể hạ trí, tất cả đều là thành phần của thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Theo một quan điểm nhất định, thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế thậm chí bao gồm cả chân ngã trên cõi thượng trí, nhưng chúng ta không thấy mặt trời hồng trần ảnh hưởng đến chân ngã ấy. Đúng hơn, chính Tâm Mặt Trời ảnh hưởng đến Thập Giá Cố Định, hay thập giá của linh hồn; và đây là nơi thập giá, hay chuỗi năng lượng mà qua đó linh hồn trên cõi thượng trí—hoặc ít nhất là tâm thức linh hồn như chúng ta biết nó trên cõi thượng trí—đang trở nên nổi bật. Đặc biệt, chính phẩm tính của tâm thức đang được đề cập ở đây.
Let's see if I can bring these all together. Yes, it is consciousness, and consciousness is simply another name for soul, as we know. The soul on the higher mental plane is not the only instance of soul. The Spiritual Triad is an instance of soul, and the awareness of the monad is also an instance of soul. Any type of awareness in cosmos is an instance of soul. The Central Spiritual Sun, then, is our Monadic aspect, and it influences the Cardinal Cross, upon which we have not yet stepped, and it is the life aspect.
Hãy xem tôi có thể tập hợp tất cả những điều này lại không. Vâng, đó là tâm thức, và như chúng ta biết, tâm thức chỉ đơn giản là một tên gọi khác của linh hồn. Linh hồn trên cõi thượng trí không phải là trường hợp duy nhất của linh hồn. Tam Nguyên Tinh Thần là một trường hợp của linh hồn, và sự nhận biết của chân thần cũng là một trường hợp của linh hồn. Bất kỳ loại nhận biết nào trong vũ trụ đều là một trường hợp của linh hồn. Vì vậy, Mặt trời Tinh thần Trung Ương là phương diện chân thần của chúng ta, và nó ảnh hưởng đến Thập Giá Chủ Yếu, nơi chúng ta chưa đặt chân lên, và đó là phương diện sự sống.
One day, I suppose, I can send this document to you. So we had ended, then, on page 111, and the Tibetan goes on to say:
Tôi nghĩ một ngày nào đó tôi có thể gửi tài liệu này cho các bạn. Vậy là chúng ta đã dừng lại ở trang 111, và Chân sư Tây Tạng tiếp tục nói:
[1] By the word “influencing” I here refer to the energies pouring from these three aspects of the Sun through the three Crosses to our planet.
[1] Ở đây, bằng từ “ảnh hưởng”, tôi muốn nói đến các năng lượng tuôn đổ từ ba phương diện này của Mặt Trời, xuyên qua ba Thập Giá, đến hành tinh chúng ta.
And I would say this would mean from the sun—not necessarily to the zodiacal constellations, but through the three Crosses—as these Crosses (let's capitalize that) are signs which concentrate the influences of the constellations to our planet. We are remembering the distinction between constellations as galaxies of stars, and signs as concentrated influences of those constellational energies made available to our earth. So even though we may be born in one of the cardinal signs, it does not necessarily mean that the energies of the Central Spiritual Sun, the Monadic aspect of our Solar Logos, will reach us in any way that we can register. And for the average individual, even though he may be born in one of the fixed signs, it does not mean that the energies of the Heart of the Sun will reach him in a way that he can register. So anyway:
Và tôi muốn nói rằng điều này có nghĩa là từ Mặt Trời—không nhất thiết đến các chòm sao hoàng đạo, mà qua ba Thập Giá—vì các Thập Giá này là những dấu hiệu tập trung các ảnh hưởng của những chòm sao đến hành tinh chúng ta. Chúng ta cần nhớ sự phân biệt giữa các chòm sao, vốn là những tập hợp sao, và các dấu hiệu, vốn là những ảnh hưởng tập trung của năng lượng chòm sao được cung ứng cho Trái Đất chúng ta. Vì vậy, ngay cả khi sinh ra trong một dấu hiệu chính yếu, điều đó không nhất thiết có nghĩa là các năng lượng của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, tức phương diện chân thần của Thái dương Thượng đế chúng ta, sẽ đến với chúng ta theo bất kỳ cách nào mà chúng ta có thể ghi nhận. Và đối với người bình thường, ngay cả khi y sinh ra trong một dấu hiệu cố định, điều đó cũng không có nghĩa là các năng lượng của Trái Tim Mặt Trời sẽ đến với y theo cách mà y có thể ghi nhận. Dù sao thì:
[2] Ponder on this and remember also that our Sun is travelling through space
[2] Hãy suy ngẫm điều này và cũng nên nhớ rằng Mặt Trời của chúng ta đang du hành trong không gian
—with its own directed motion, its own proper motion—
—với chuyển động có định hướng riêng, chuyển động riêng của nó—
[3] (carrying our solar system along in its sphere of influence)
[3] (mang theo hệ mặt trời của chúng ta trong phạm vi ảnh hưởng của nó)
And many spirals are thus created, because the rotation, the revolution of the planets around the sun becomes a spiral as that sun, through progress onward, through a type of straight-line action, creates spirals. But our sun is also in the process of revolution, and that revolution is around the Pleiades. So we have many motions simultaneously, and we are not occupying, as a solar system, the same—if we can call it—section of space in one moment as we were in the previous moment. So the sun is also travelling through space, carrying our own solar system in its sphere of influence,
Và do đó, nhiều đường xoắn ốc được tạo ra, bởi vì sự tự quay và chuyển động quay của các hành tinh quanh Mặt Trời trở thành một đường xoắn ốc khi Mặt Trời ấy, qua sự tiến tới, qua một loại chuyển động theo đường thẳng, tạo nên các đường xoắn ốc. Nhưng Mặt Trời của chúng ta cũng đang trong tiến trình quay quanh, và chuyển động ấy diễn ra quanh cụm Thất Nữ. Vì vậy, đồng thời có nhiều chuyển động, và với tư cách một hệ mặt trời, chúng ta không chiếm cùng một—nếu có thể gọi như vậy—khu vực không gian trong khoảnh khắc này như trong khoảnh khắc trước. Vì thế, Mặt Trời cũng đang du hành trong không gian, mang theo hệ mặt trời của chúng ta trong phạm vi ảnh hưởng của nó,
[4] around our own central and conditioning star which it has been rightly presumed exists in the constellation Taurus, the Bull, being found in the Pleiades.
[4] quanh ngôi sao trung tâm có tác động lên chúng ta; người ta đã có lý khi giả định rằng ngôi sao này tồn tại trong chòm Kim Ngưu và nằm trong cụm sao Pleiades.
And since those Pleiades are so concentrated, so close to each other, we might well consider the sun and its associated solar systems—in the seven solar systems of which ours is one—as revolving around the Pleiades as a whole. But that central star is Alcyone, he tells us, and that is the central star of the Pleiades. It's sometimes called the star of the individual. DK will elaborate upon this. And of course, in the charts of disciples, the locations of some of these stars should be noted, and the aspects made to them, or their position on angles and so forth, or on other astrological factors, with a very tight orb, usually given as about one degree. These stars are effective in our lives. They may be effective along an entire range of influence, from very mundane to very spiritual.
Và vì các ngôi sao trong cụm Thất Nữ tập trung đến thế, gần nhau đến thế, nên chúng ta hoàn toàn có thể xem Mặt Trời cùng các hệ mặt trời liên hệ với nó—trong bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một—đang quay quanh toàn bộ cụm Thất Nữ. Nhưng Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết ngôi sao trung tâm ấy là Alcyone, và đó là ngôi sao trung tâm của cụm Thất Nữ. Đôi khi nó được gọi là ngôi sao của cá nhân. Chân sư DK sẽ trình bày sâu hơn về điều này. Và tất nhiên, trong lá số chiêm tinh của các đệ tử, cần lưu ý vị trí của một số ngôi sao này, các góc hợp tạo với chúng, vị trí của chúng trên các góc, hoặc trên những yếu tố chiêm tinh khác, với độ lệch rất hẹp, thường được quy định là khoảng một độ. Những ngôi sao này có tác động trong đời sống của chúng ta. Chúng có thể tác động trên toàn bộ một phổ ảnh hưởng, từ rất thế tục đến rất tinh thần.
I don't think we can expect the fullness—any degree of the fullness—of the spiritual influence of such stars until after the third initiation, when we have what is called the first solar initiation. In other words, it's an initiation which relates to our Solar Logos, and stars are the bodies of manifestation of Solar Logoi. So only when we begin taking the solar initiations can the spiritual effect of the so-called fixed stars begin to apply.
Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể mong đợi sự trọn vẹn—hay bất kỳ mức độ trọn vẹn nào—của ảnh hưởng tinh thần từ những ngôi sao như thế cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, khi chúng ta trải qua điều được gọi là lần điểm đạo thái dương thứ nhất. Nói cách khác, đó là một cuộc điểm đạo liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và các ngôi sao là những thể biểu hiện của các Thái dương Thượng đế. Vì vậy, chỉ khi bắt đầu trải qua các cuộc điểm đạo thái dương, tác động tinh thần của những ngôi sao được gọi là cố định mới có thể bắt đầu áp dụng.
[5] At the same time it appears, from the standpoint of our planet, to be passing through the twelve signs of the zodiac;
[5] Đồng thời, từ quan điểm của hành tinh chúng ta, dường như Mặt Trời đang đi qua mười hai dấu hiệu Hoàng đạo;
or against the twelve constellations, or through the orbit of the earth, dividing which you have the twelve signs. But notice the word “appears”: it appears to be passing through. And that, of course, is an illusion based upon the revolution of our earth around the sun.
hoặc trên nền mười hai chòm sao, hay qua quỹ đạo của Trái Đất, mà khi phân chia quỹ đạo ấy, các bạn có mười hai dấu hiệu. Nhưng hãy lưu ý từ “dường như”: nó dường như đang đi qua. Và tất nhiên, đó là một ảo tưởng dựa trên chuyển động quay của Trái Đất quanh Mặt Trời.
[6] this is a symbol macrocosmically considered,
[6] xét trên bình diện Đại thiên địa, điều này là một biểu tượng
It reveals to the student a certain availability of energies, but it's not really happening.
Nó cho đạo sinh thấy một mức độ khả dụng nào đó của các năng lượng, nhưng điều ấy không thực sự diễn ra.
This is a symbol, macrocosmically considered,
Xét theo phương diện Đại thiên địa, đây là một biểu tượng,
[7] of the dramatic centralised point of view of the individual human being,
[7] cho quan điểm tập trung đầy kịch tính của cá nhân con người,
When the word “dramatic” is used, we immediately think of the word Leo, and the self-centered attitude which is so often found in the early stage of the Leo experience, and through which humanity is still passing, because the great majority of human beings are not yet even centralized personalities. They are on their way to becoming so.
Khi từ “kịch tính” được sử dụng, chúng ta lập tức nghĩ đến Sư Tử và thái độ tập trung vào bản thân vốn thường thấy trong giai đoạn đầu của trải nghiệm Sư Tử, và nhân loại vẫn đang trải qua giai đoạn ấy, bởi vì đại đa số con người thậm chí còn chưa trở thành những phàm ngã tập trung. Họ đang trên đường trở thành như vậy.
This is a symbol, macrocosmically considered, of the dramatic, centralised point of view of the individual human being,
Xét theo phương diện Đại thiên địa, đây là một biểu tượng cho quan điểm tập trung đầy kịch tính của cá nhân con người,
[8] the microcosm.
[8] tức Tiểu thiên địa.
It's the geocentric point of view, whereby all of the heavenly bodies appear to be revolving around the stationary earth, and it is analogous to the egoistic point of view of the individual personality, where all of life seems to be revolving around it, and where this egoistic personality is the center of the sphere of consciousness. It is the pre-decentralized point of view. Let's call it that: pre-decentralized point of view.
Đó là quan điểm địa tâm, theo đó mọi thiên thể dường như quay quanh Trái Đất đứng yên, và nó tương đồng với quan điểm vị kỷ của phàm ngã cá nhân, trong đó toàn bộ sự sống dường như xoay quanh phàm ngã ấy, và phàm ngã vị kỷ này là trung tâm của khối cầu tâm thức. Đó là quan điểm có trước sự phi tập trung vào bản thân. Hãy gọi nó như vậy: quan điểm có trước sự phi tập trung vào bản thân.
[9] It is interesting to compare the symbolism and the underlying truth connected with the lesser and the greater zodiacs and with their twelve month and their 25,000 year cycles.
[9] Thật lý thú khi [Trang 112] so sánh tính biểu tượng và chân lý nền tảng liên quan đến Hoàng đạo nhỏ và Hoàng đạo lớn, cùng các chu kỳ mười hai tháng và 25.000 năm của chúng.
This is one way he describes the greater and lesser zodiac. The lesser zodiac is the apparent passage of the sun through all of the twelve phases of the earth's orbit around the sun, the twelve divisions of the ecliptic, whereby we pass through all the twelve signs. That is the lesser zodiac. He defines them in different ways at different times. Sometimes, we will see, he will define lesser and greater zodiacs in different ways.
Đây là một cách Ngài mô tả Hoàng đạo lớn và Hoàng đạo nhỏ. Hoàng đạo nhỏ là sự đi qua biểu kiến của Mặt Trời qua tất cả mười hai giai đoạn trên quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời, tức mười hai phần của đường hoàng đạo, nhờ đó chúng ta đi qua cả mười hai dấu hiệu. Đó là Hoàng đạo nhỏ. Vào những lúc khác nhau, Ngài định nghĩa chúng theo những cách khác nhau. Đôi khi, như chúng ta sẽ thấy, Ngài định nghĩa Hoàng đạo nhỏ và Hoàng đạo lớn theo những cách khác nhau.
The 25,000-year cycle is called—and it's an approximation, because I think the actual figure, when a precessional age is measured at 2,160 years, is 25,920 years, something like that. When you multiply 2,160 by twelve, you get something like 25,920 years. I haven't got my calculator here at the moment, but I think that's about what it is. You can work it out for yourself. But anyway, this is an approximation, and overlap periods are involved and counted in a certain way. So the 25,000-year cycle is called the Great Platonic Year, and it represents one complete revolution of twelve equinoctial ages—twelve ages: an age of Pisces, of Aquarius, of Capricorn, and so forth, until twelve of these 2,160-year periods are covered. One complete revolution—or let's say one complete gyration of the Earth's axis.
Chu kỳ 25.000 năm được gọi là—và đây là con số gần đúng, bởi vì tôi nghĩ con số thực tế, khi một kỷ nguyên tuế sai được tính là 2.160 năm, là 25.920 năm, đại loại như vậy. Khi nhân 2.160 với mười hai, các bạn được khoảng 25.920 năm. Hiện giờ tôi không có máy tính ở đây, nhưng tôi nghĩ con số gần như vậy. Các bạn có thể tự tính. Dù sao, đây cũng là con số gần đúng, và các thời kỳ chồng lấn có liên quan và được tính theo một cách nhất định. Vì vậy, chu kỳ 25.000 năm được gọi là Đại Niên Platon, và nó tiêu biểu cho một vòng quay hoàn chỉnh gồm mười hai kỷ nguyên phân điểm—mười hai kỷ nguyên: một kỷ nguyên Song Ngư, Bảo Bình, Ma Kết, v.v., cho đến khi trải qua đủ mười hai thời kỳ dài 2.160 năm này. Đó là một vòng quay hoàn chỉnh—hay có thể nói là một chu kỳ đảo trọn vẹn của trục Trái Đất.
And these Great Platonic Years, or Great Platonic Ages, are also, we come to understand, ruled by one particular constellation of the zodiac, or sign of the zodiac. We are presently leaving a 25,000-year cycle which has been under the influence of Pisces, and moving retrogressively, clockwise, into a 25,000-year age which is going to be ruled by Aquarius. I don't think we're quite there yet. DK says we're almost there, but our type of astrology cannot determine the exact point of entrance into this 25,000-year period. So it's really quite an amazing idea that we will be having a double age of Aquarius, and that even after 2,160 years—beginning in the year 2117, when the lesser Aquarian age begins—even after that age gives way, in a little more than 2,000 years, to the age of Capricorn, we will still be in the greater age of Aquarius.
Và chúng ta cũng hiểu rằng các Đại Niên Platon, hay các Đại Kỷ Nguyên Platon này, chịu sự cai quản của một chòm sao hoặc dấu hiệu Hoàng đạo cụ thể. Hiện nay, chúng ta đang rời khỏi một chu kỳ 25.000 năm chịu ảnh hưởng của Song Ngư và di chuyển nghịch chiều, theo chiều kim đồng hồ, vào một kỷ nguyên 25.000 năm sẽ do Bảo Bình cai quản. Tôi không nghĩ chúng ta đã hoàn toàn bước vào đó. Chân sư DK nói rằng chúng ta gần đến đó, nhưng loại chiêm tinh học của chúng ta không thể xác định chính xác thời điểm bước vào thời kỳ 25.000 năm này. Vì vậy, quả thật đây là một ý tưởng đáng kinh ngạc rằng chúng ta sẽ có một kỷ nguyên Bảo Bình kép, và ngay cả sau 2.160 năm—bắt đầu vào năm 2117, khi kỷ nguyên Bảo Bình nhỏ khởi đầu—ngay cả sau khi kỷ nguyên ấy nhường chỗ, hơn 2.000 năm sau, cho kỷ nguyên Ma Kết, chúng ta vẫn ở trong kỷ nguyên Bảo Bình lớn.
It is interesting to compare the symbolism and the underlying truth connected with the lesser and the greater zodiacs and with their twelve month and their 25,000 year cycles.
Thật thú vị khi so sánh biểu tượng và chân lý nền tảng liên quan đến Hoàng đạo nhỏ và Hoàng đạo lớn, cùng các chu kỳ mười hai tháng và 25.000 năm của chúng.
There's a complete gyration of the Earth's axis, by means of which our planet passes through the influence of all twelve signs in a vast planetary effect. Whole ages are ruled by a particular sign, and then finally a 25,000-year period, all ruled by one sign, with many sub-signs, the twelve sun signs. And then it will give way, perhaps—it looks like—to a 25,000-year age of Capricorn, in which we may presume that a particular ray accompanies that 25,000-year period. We don't know exactly. While we do know that the seventh ray will accompany the 2,160-year period of Aquarius—sometimes rounded off to 2,500—we do not know whether that same seventh ray will accompany a 25,000-year cycle. But some ray will, and maybe the seventh. This is a tremendous study, and the Masters know these cycles.
Có một chu kỳ đảo hoàn chỉnh của trục Trái Đất, qua đó hành tinh chúng ta đi qua ảnh hưởng của cả mười hai dấu hiệu trong một tác động hành tinh bao la. Toàn bộ các kỷ nguyên chịu sự cai quản của một dấu hiệu cụ thể, rồi cuối cùng là một thời kỳ 25.000 năm, tất cả đều do một dấu hiệu cai quản, với nhiều dấu hiệu phụ, tức mười hai dấu hiệu mặt trời. Sau đó, có lẽ—dường như là vậy—nó sẽ nhường chỗ cho một kỷ nguyên Ma Kết dài 25.000 năm, và chúng ta có thể giả định rằng một cung cụ thể sẽ đồng hành với thời kỳ 25.000 năm ấy. Chúng ta không biết chính xác. Tuy biết rằng cung bảy sẽ đồng hành với thời kỳ Bảo Bình dài 2.160 năm—đôi khi được làm tròn thành 2.500 năm—nhưng chúng ta không biết liệu cùng cung bảy ấy có đồng hành với một chu kỳ 25.000 năm hay không. Tuy nhiên, một cung nào đó sẽ đồng hành, và có thể là cung bảy. Đây là một lĩnh vực nghiên cứu vô cùng lớn lao, và các Chân sư biết những chu kỳ này.
[10] They bear out
[10] Chúng xác nhận
—it is said, these two cycles. The Great Platonic Year—let's call it the greater zodiac, by one appellation. We're not sure. Later he's going to refer to the Sun sign and the rising sign, I think, as lesser and greater zodiacs. We will see.
—người ta nói như vậy về hai chu kỳ này. Hãy gọi Đại Niên Platon là Hoàng đạo lớn, theo một cách gọi. Chúng ta không chắc. Sau này, tôi nghĩ Ngài sẽ đề cập đến dấu hiệu mặt trời và dấu hiệu mọc như Hoàng đạo nhỏ và Hoàng đạo lớn. Chúng ta sẽ thấy.
They bear out
Chúng xác nhận
[11] much that I have given you anent the soul, influenced by the esoteric planets eventually, and the personality, influenced by the orthodox planets.
[11] phần lớn những gì tôi đã trình bày với các bạn về linh hồn, cuối cùng chịu ảnh hưởng của các hành tinh nội môn, và phàm ngã, chịu ảnh hưởng của các hành tinh chính thống.
Or by the planets in their esoteric and orthodox expressions. Every one of us, as a soul—a soul in incarnation—will be influenced by certain qualities of the planets when they are functioning esoterically, because all planets are simply planets, but they have orthodox and esoteric functions. So we want to note the orthodox and esoteric functions of every planet. In other words, whereas an orthodox function of Mercury can simply relate to the concrete mind and its reasoning and correlations, an esoteric function of Mercury can relate to contact with the mind of God, or with a deep intuitive access. So when the planetary rays hit our forms, as it were, depending on what area within our constitution they strike or influence, will be their particular influence.
Hoặc chịu ảnh hưởng của các hành tinh trong biểu hiện nội môn và chính thống của chúng. Mỗi người chúng ta, với tư cách một linh hồn—một linh hồn đang nhập thể—sẽ chịu ảnh hưởng của những phẩm tính nhất định của các hành tinh khi chúng hoạt động theo phương thức nội môn, bởi vì mọi hành tinh đơn giản đều là hành tinh, nhưng chúng có các chức năng chính thống và nội môn. Vì vậy, chúng ta muốn lưu ý các chức năng chính thống và nội môn của mỗi hành tinh. Nói cách khác, trong khi chức năng chính thống của Sao Thủy có thể chỉ liên quan đến trí cụ thể cùng khả năng suy luận và liên hệ của nó, thì chức năng nội môn của Sao Thủy có thể liên quan đến sự tiếp xúc với Trí của Thượng đế hoặc khả năng tiếp cận trực giác sâu sắc. Vì vậy, khi các cung hành tinh tác động lên các hình tướng của chúng ta, có thể nói như thế, ảnh hưởng cụ thể của chúng sẽ tùy thuộc vào khu vực nào trong cấu tạo của chúng ta mà chúng tác động hoặc ảnh hưởng.
[12] The greater zodiac is symbolic of the soul and the lesser of the personality.
[12] Hoàng đạo lớn tượng trưng cho linh hồn, còn Hoàng đạo nhỏ tượng trưng cho phàm ngã.
I suppose that every time we have a complete yearly zodiacal cycle, we have had the opportunity to grow within our personality. But the great soul cycles are longer, and perhaps if we're examining the growth of the soul on its own plane—if that's what this means—then we look for greater zodiacal cycles. I would think, though, that with every precessional age of even 2,160 or 2,500 years, the soul would have some kind of marked growth, especially if one is on the path.
Tôi cho rằng mỗi khi trải qua một chu kỳ hoàng đạo trọn vẹn hằng năm, chúng ta đều có cơ hội phát triển trong phàm ngã. Nhưng các chu kỳ lớn của linh hồn dài hơn, và có lẽ nếu đang xem xét sự phát triển của linh hồn trên cõi riêng của nó—nếu đây là ý nghĩa của điều này—thì chúng ta tìm đến các chu kỳ hoàng đạo lớn hơn. Tuy nhiên, tôi cho rằng trong mỗi kỷ nguyên tuế sai dài 2.160 hoặc 2.500 năm, linh hồn sẽ có một mức phát triển đáng kể nào đó, đặc biệt nếu một người đang ở trên Đường Đạo.
The greater zodiac is symbolic of the soul and the lesser of the personality.
Hoàng đạo lớn tượng trưng cho linh hồn, còn Hoàng đạo nhỏ tượng trưng cho phàm ngã.
[13] In the personality cycle, the lesser zodiac conditions the personality career and the twelve planetary houses are of dominant importance.
[13] Trong chu kỳ phàm ngã, Hoàng đạo nhỏ tác động lên tiến trình của phàm ngã, và mười hai nhà hành tinh có tầm quan trọng vượt trội.
In other words, we are still circumstantially focused. Later the detached individual learns that circumstances are non-compelling. This is learned, I think, in one instance in Leo, especially when Uranus is the veiled ruler of Leo: that one is entirely positive to circumstance, and circumstance can no longer compel. This is a condition of detachment in which the true identity is not only understood but deeply felt. But most people are caught up in circumstances, and what we say is, “Hey, what's happening around me?”, and that determines how the life goes. But it's what happens within me, regardless of what happens around me, that becomes a real moment in the case of the disciple.
Nói cách khác, chúng ta vẫn tập trung vào hoàn cảnh. Về sau, cá nhân tách rời học được rằng hoàn cảnh không có sức cưỡng bách. Tôi nghĩ điều này được học trong một trường hợp ở Sư Tử, đặc biệt khi Sao Thiên Vương là chủ tinh che khuất của Sư Tử: một người hoàn toàn chủ động trước hoàn cảnh, và hoàn cảnh không còn có thể cưỡng bách y. Đây là trạng thái tách rời, trong đó bản sắc chân thật không những được thấu hiểu mà còn được cảm nhận sâu sắc. Nhưng phần lớn mọi người bị cuốn vào hoàn cảnh, và chúng ta nói: “Này, chuyện gì đang xảy ra quanh tôi vậy?”, rồi điều đó quyết định đời sống diễn tiến ra sao. Nhưng đối với đệ tử, điều xảy ra bên trong tôi, bất kể điều gì xảy ra quanh tôi, mới trở thành một thời điểm thực sự quan trọng.
[14] Later the influence of the twelve signs supersedes the influence of the planets.
[14] Về sau, ảnh hưởng của mười hai dấu hiệu thay thế ảnh hưởng của các hành tinh.
So actually, the constellational energy through the twelve signs becomes more important than the planets. But let us still remember—I mean, we have discussed the ways in which these constellation signs influence the soul, and how they also have a Monadic influence—but let us not think that the planets themselves, though they are lesser planetary lords, do not have a lot to do with even very high initiations. So planets are gods, after all. They are solar systemic deities within the solar system, and they can have a tremendous effect even on the higher stages of human development. For instance, when I think of the Great Decision, which is taken at the sixth initiation, in which we as a monad decide which of seven or nine paths we will pursue, I cannot help but think that a very high influence of the planet Saturn, as the major ruler of Libra, is involved in that Great Decision. So although ordinary, non-aspiring individuals are much influenced by the planets as they work out through the houses, or circumstantial areas of the chart, more advanced people are indeed influenced by the lords of the planets as they represent different zodiacal constellations, and then, of course, by the constellations themselves, which have their own ray energies transmitted.
Vì vậy, trên thực tế, năng lượng chòm sao truyền qua mười hai dấu hiệu trở nên quan trọng hơn các hành tinh. Nhưng chúng ta vẫn nên nhớ—ý tôi là, chúng ta đã thảo luận những cách mà các dấu hiệu chòm sao này ảnh hưởng đến linh hồn và việc chúng cũng có ảnh hưởng chân thần—nhưng đừng nghĩ rằng bản thân các hành tinh, dù là những chúa tể hành tinh cấp thấp hơn, lại không có nhiều liên hệ ngay cả với các cuộc điểm đạo rất cao. Xét cho cùng, các hành tinh là những vị thần. Chúng là các thần linh thuộc hệ mặt trời trong hệ mặt trời và có thể tạo tác động to lớn ngay cả ở những giai đoạn cao hơn của sự phát triển con người. Chẳng hạn, khi nghĩ đến Quyết Định Vĩ Đại được đưa ra ở lần điểm đạo thứ sáu, trong đó chúng ta, với tư cách chân thần, quyết định sẽ theo đuổi con đường nào trong bảy hoặc chín con đường, tôi không thể không nghĩ rằng một ảnh hưởng rất cao của Sao Thổ, với tư cách chủ tinh chính của Thiên Bình, có liên quan đến Quyết Định Vĩ Đại ấy. Vì vậy, mặc dù những cá nhân bình thường, không có khát vọng chịu nhiều ảnh hưởng của các hành tinh khi chúng tác động qua các nhà, tức những lĩnh vực hoàn cảnh của lá số chiêm tinh, nhưng những người tiến bộ hơn thực sự chịu ảnh hưởng của các chúa tể hành tinh khi các Ngài đại diện cho các chòm sao hoàng đạo khác nhau, và rồi tất nhiên còn chịu ảnh hưởng của chính các chòm sao, vốn truyền dẫn những năng lượng cung riêng của chúng.
[15] I would like also to emphasise—perhaps unnecessarily—that Sirius, the Great Bear and the Pleiades work through the medium of the twelve constellations,
[15] Tôi cũng muốn nhấn mạnh—có lẽ là không cần thiết—rằng Sirius, Đại Hùng Tinh và cụm sao Pleiades hoạt động qua trung gian của mười hai chòm sao,
This setup is found in the diagrams we have later in Esoteric Astrology. There are different kinds of rays coming through the Great Bear, Pleiades and Sirius, and the will aspect of the seven rays is transmitted by the Great Bear; perhaps the more material or intellectual aspects by the Pleiades, and the love aspect through Sirius—whatever we do mean by Sirius, whether we mean a single star, several stars, or an entire system of stars. But these are the three great constellations, and generally, unless we get into it in too much detail, they represent the Father aspect, the Great Bear; the Mother aspect, the Pleiades; and the aspect of the Divine Son, which is Sirius, or the Cosmic Christ—although there are many Cosmic Christs, as I've said; the Cosmic Christ of a certain scope Sirius represents.
Cấu trúc này xuất hiện trong những sơ đồ mà chúng ta sẽ gặp về sau trong Chiêm Tinh Học Nội Môn. Có các loại cung khác nhau truyền qua Đại Hùng Tinh, cụm Thất Nữ và Sirius; phương diện ý chí của bảy cung được Đại Hùng Tinh truyền dẫn; có lẽ các phương diện thiên về vật chất hoặc trí tuệ hơn được truyền qua cụm Thất Nữ, còn phương diện bác ái truyền qua Sirius—dù Sirius ở đây có nghĩa là một ngôi sao, nhiều ngôi sao hay toàn bộ một hệ thống sao. Nhưng đây là ba chòm sao vĩ đại, và nói chung, nếu không đi quá sâu vào chi tiết, chúng tượng trưng cho phương diện Cha là Đại Hùng Tinh; phương diện Mẹ là cụm Thất Nữ; và phương diện Con Thiêng Liêng là Sirius, hay Đức Christ Vũ Trụ—mặc dù như tôi đã nói, có nhiều Đức Christ Vũ Trụ; Sirius đại diện cho Đức Christ Vũ Trụ thuộc một phạm vi nhất định.
[16] pouring their influences through nine of them in particular, but that these major constellations are not part of the zodiac with which we are concerned.
[16] đặc biệt tuôn đổ ảnh hưởng của chúng qua chín chòm sao trong số đó, nhưng những chòm sao chính yếu này không thuộc Hoàng đạo mà chúng ta đang bàn đến.
The zodiac with which we are concerned is the twelvefold zodiac, which is the heart and the head center of the great super-constellational Deity we call the One About Whom Naught May Be Said—at least one of the ones about whom naught may be said. These super-constellations work through nine of our constellations particularly, and we could pick and choose which we would assign to the different groupings. We already have some assignments. For instance, we already have, on page 50 of Esoteric Astrology, the fact that Aries and Libra are connected with the Great Bear. We already have Gemini and Sagittarius connected with the Pleiades. We already have Cancer and Capricorn connected with Sirius. And as well, we have Taurus and Scorpio connected with the seven solar systems of which ours is one.
Hoàng đạo mà chúng ta đang đề cập là Hoàng đạo thập nhị phân, vốn là trung tâm tim và trung tâm đầu của Thượng đế Siêu Chòm Sao vĩ đại mà chúng ta gọi là Đấng Bất Khả Tư Nghị—ít nhất là một trong những Đấng Bất Khả Tư Nghị. Các siêu chòm sao này đặc biệt hoạt động qua chín chòm sao của chúng ta, và chúng ta có thể lựa chọn cách phân chúng vào các nhóm khác nhau. Chúng ta đã có một số cách phân định. Chẳng hạn, ở trang 50 của Chiêm Tinh Học Nội Môn, chúng ta đã biết Bạch Dương và Thiên Bình liên hệ với Đại Hùng Tinh. Chúng ta đã biết Song Tử và Nhân Mã liên hệ với cụm Thất Nữ. Chúng ta đã biết Cự Giải và Ma Kết liên hệ với Sirius. Ngoài ra, Kim Ngưu và Hổ Cáp còn liên hệ với bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một.
That's one of the great blinds, the use of the words “seven solar systems of which ours is one,” because it can mean on some occasions seven major Solar Logoi and their stellar expression, or it can mean seven constellations, and it depends on the context that we are using. So for the moment, we will have to add to each one of the signs given yet another sign. We have Aries and Libra in connection with the Great Bear: could Leo be another sign? We have Gemini and Sagittarius connected with the Pleiades: could Virgo be another sign or constellation? We have Cancer and Capricorn connected with Sirius: we wonder, could Pisces possibly be another sign? Giving three each—and I can't keep it quite straight—there's one left to be connected with the seven solar systems of which ours is one. I suppose we have not yet used the constellation Aquarius. Anyway, there are a number of ways of conceiving these nine. How shall we conceive these nine? There are justifications for doing it as I have done it, but there are probably also other justifications. See EA, page 50.
Đó là một trong những màn che lớn: việc sử dụng cụm từ “bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một”, bởi vì trong một số trường hợp, nó có thể mang nghĩa bảy Thái dương Thượng đế chính cùng biểu hiện tinh tú của các Ngài, hoặc có thể mang nghĩa bảy chòm sao, tùy theo ngữ cảnh chúng ta đang sử dụng. Vì vậy, hiện giờ chúng ta sẽ phải thêm một dấu hiệu nữa vào mỗi nhóm dấu hiệu đã nêu. Chúng ta có Bạch Dương và Thiên Bình liên hệ với Đại Hùng Tinh: liệu Sư Tử có thể là một dấu hiệu khác không? Chúng ta có Song Tử và Nhân Mã liên hệ với cụm Thất Nữ: liệu Xử Nữ có thể là một dấu hiệu hay chòm sao khác không? Chúng ta có Cự Giải và Ma Kết liên hệ với Sirius: chúng ta tự hỏi liệu Song Ngư có thể là một dấu hiệu khác không? Mỗi nhóm có ba—và tôi không thể nhớ thật chính xác—còn lại một dấu hiệu để liên hệ với bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một. Tôi cho rằng chúng ta chưa dùng chòm sao Bảo Bình. Dù sao, có một số cách để hình dung về chín chòm sao này. Chúng ta sẽ hình dung chúng như thế nào? Có những cơ sở hợp lý để làm theo cách tôi đã làm, nhưng có lẽ cũng có những cơ sở hợp lý khác. Xem Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 50.
So these three major constellations are part of the zodiac with which we are concerned.
Vì vậy, ba chòm sao chính này là một phần của Hoàng đạo mà chúng ta đang đề cập.
[17] They, with the seven solar systems of which ours is one, are the ten constellations connected with a still greater zodiac which is not conditioned by the numerical significance of the number twelve.
[17] Cùng với bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó, chúng tạo thành mười chòm sao liên hệ với một Hoàng đạo còn lớn hơn nữa, vốn không chịu tác động của thâm nghĩa số học của số mười hai.
They are conditioned by the more perfect number, in a way—conditioned by the number ten. It is a more masculine system. The feminine system is conditioned by the number twelve: one and two is three; three represents the Mother aspect. The number one represents the Father aspect; ten equals one. So in this particular case, the seven solar systems of which ours is one—we can think of these systems as super-constellations, and not as they are given on Esoteric Astrology, page 50. I hope I'm being clear here; at least this is being clear about my speculation. I think there's a lot of blinded language going on here, and that there are lords of individual stars, these lords being associated with our particular Solar Logos, our Solar Logos being one of seven solar systems of which ours is one. So that's simply a constellation.
Theo một nghĩa nào đó, chúng chịu tác động của một con số hoàn hảo hơn—số mười. Đó là một hệ thống mang tính nam nhiều hơn. Hệ thống nữ chịu tác động của số mười hai: một cộng hai bằng ba; ba tượng trưng cho phương diện Mẹ. Số một tượng trưng cho phương diện Cha; mười bằng một. Vì vậy, trong trường hợp cụ thể này, bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một—chúng ta có thể xem các hệ thống này là những siêu chòm sao, chứ không phải như cách chúng được trình bày ở trang 50 của Chiêm Tinh Học Nội Môn. Tôi hy vọng mình đang nói rõ; ít nhất điều này cũng làm rõ suy đoán của tôi. Tôi nghĩ ở đây có rất nhiều ngôn ngữ che giấu, và có những chúa tể của từng ngôi sao riêng biệt; các chúa tể này liên hệ với Thái dương Thượng đế riêng của chúng ta, và Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trong bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một. Vì vậy, đó đơn giản là một chòm sao.
But there are also ways of talking about seven solar systems of which ours is one, and the “ours” will refer to the Cosmic Logos and its system, of which our solar system is a part. And that Cosmic Logos is just one of seven systems, and there are six other constellational systems consisting of Solar Logoi. Let's say that Draco would be one, and the Little Bear would be one, and the Great Bear would be one. They all have Solar Logoi within them—but we have to be careful about including the Great Bear, because it's one of the three. But anyway, Draco and Orion, and probably some other constellations, are part of these seven solar systems. In other words, a constellation is a system; a system is a constellation. This is one way of looking at it. A system is a constellation, or can be, and a constellation can be a system. So that's a blinding language, because sometimes he does refer simply to a solar system as having one star, and yet a system of stars is also a solar system.
Nhưng cũng có những cách nói về bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một, trong đó từ “của chúng ta” sẽ chỉ Thượng đế Vũ Trụ cùng hệ thống của Ngài, mà hệ mặt trời của chúng ta là một phần trong đó. Và Thượng đế Vũ Trụ ấy chỉ là một trong bảy hệ thống; còn có sáu hệ thống chòm sao khác gồm các Thái dương Thượng đế. Có thể nói Thiên Long là một, Tiểu Hùng Tinh là một và Đại Hùng Tinh là một. Tất cả đều có các Thái dương Thượng đế bên trong—nhưng chúng ta phải thận trọng khi kể cả Đại Hùng Tinh, vì nó là một trong ba chòm sao. Dù sao, Thiên Long, Lạp Hộ và có lẽ một số chòm sao khác là thành phần của bảy hệ mặt trời này. Nói cách khác, một chòm sao là một hệ thống; một hệ thống là một chòm sao. Đây là một cách nhìn nhận. Một hệ thống là, hoặc có thể là, một chòm sao; và một chòm sao có thể là một hệ thống. Vì vậy, đó là ngôn ngữ che giấu, bởi vì đôi khi Ngài chỉ nói một hệ mặt trời có một ngôi sao, tuy nhiên một hệ thống sao cũng là một hệ mặt trời.