Tóm lược chương
Thầy MDR nhắc lại ba nguồn lực lớn đang tác động vào hệ mặt trời là Đại Hùng Tinh, Thất Nữ Tinh và Sirius, cùng với bảy hệ mặt trời; Thầy lưu ý chưa chắc “bảy hệ mặt trời” là các Thái dương Thượng đế trong một Thượng đế Vũ Trụ hay là các nguồn chòm sao lớn hơn, nhưng dù hiểu theo cách nào thì các lực ấy vẫn thấm nhập vào hệ mặt trời chúng ta. Thầy MDR giải thích con người bình thường không thể ghi nhận các tác động này, cũng như một tế bào nơi ngón tay út không thể hữu thức trước một khoảnh khắc tham thiền cao của toàn thể con người. Ngay cả linh hồn cũng chưa đủ để ghi nhận, mà phải là tinh thần; vì thế chỉ từ lần điểm đạo thứ ba trở lên…
Esoteric Astrology Adventure 14
Tóm Tắt
Tóm tắt Webinar: Commentary EAA 14b marked
Các nguồn lực vũ trụ xa xăm và giới hạn nhận biết của con người
Thầy MDR nhắc lại ba nguồn lực lớn đang tác động vào hệ mặt trời là Đại Hùng Tinh, Thất Nữ Tinh và Sirius, cùng với bảy hệ mặt trời; Thầy lưu ý chưa chắc “bảy hệ mặt trời” là các Thái dương Thượng đế trong một Thượng đế Vũ Trụ hay là các nguồn chòm sao lớn hơn, nhưng dù hiểu theo cách nào thì các lực ấy vẫn thấm nhập vào hệ mặt trời chúng ta. Thầy MDR giải thích con người bình thường không thể ghi nhận các tác động này, cũng như một tế bào nơi ngón tay út không thể hữu thức trước một khoảnh khắc tham thiền cao của toàn thể con người. Ngay cả linh hồn cũng chưa đủ để ghi nhận, mà phải là tinh thần; vì thế chỉ từ lần điểm đạo thứ ba trở lên, khi antahkarana được xây dựng đủ mạnh, ấn tượng từ các nguồn này mới bắt đầu được cảm nhận.
Cách Chân sư DK trình bày theo “nét lớn” và các ngoại lệ
Thầy MDR nhấn mạnh Chân sư DK luôn trình bày theo các tổng quát lớn nhưng kèm nhiều dè dặt, vì thực tại luôn có những ngoại lệ không khớp hoàn toàn với mô hình chung. Thầy lấy ví dụ về các loại linh hồn cung hai để minh họa rằng có thể nhận ra các khuynh hướng chủ đạo như minh triết, bác ái thuần túy hay tính toàn vẹn tỉ mỉ, nhưng không được biến chúng thành công thức cứng. Theo Thầy MDR, phần này của Chân sư DK nhằm cho thấy những loại người khác nhau đáp ứng với những loại ảnh hưởng khác nhau trong tiến hóa.
Nhân loại chưa phát triển và “hoàng đạo nhỏ” của hoàn cảnh
Đối với nhân loại chưa phát triển, đời sống chủ yếu bị điều kiện hóa bởi “hoàng đạo nhỏ”, tức ảnh hưởng của các hành tinh trong mười hai nhà. Thầy MDR nhận xét đây là một loại hoàng đạo của hoàn cảnh và kinh nghiệm, thuộc phạm vi hình tướng đậm đặc, phản ánh đời sống của nhân loại còn sống dưới cơ hoành và bị chi phối bởi tùng thái dương. Thầy lưu ý loại đáp ứng này mang tính gần như tự động, dù mọi người vẫn còn chịu ảnh hưởng hành tinh trong các nhà ở nhiều mức độ khác nhau.
Nhân loại thông minh trung bình, người dự bị và đệ tử dự bị
Thầy MDR giải thích loại người này đã trải qua hàng triệu năm tiến hóa; Thầy còn nêu con số ước lượng khoảng 25 triệu năm từ lúc biệt ngã hóa đến khi thành chân sư để gợi ý tầm dài của tiến trình. Ở giai đoạn này, con người bắt đầu có quyền kiểm soát nào đó trên trí cụ thể, có khát vọng, có kỷ luật, và đáp ứng hữu thức với ba yếu tố: các hành tinh tác động lên phàm ngã, dấu hiệu Mặt Trời, và trong một mức nhỏ là dấu hiệu mọc. Thầy MDR nhấn mạnh ảnh hưởng hành tinh không chỉ thuộc giai đoạn thấp, vì ngay cả ở các bậc cao hơn các hành tinh vẫn là kênh chuyển tải các năng lượng Cung và các năng lượng khác.
Dấu hiệu Mặt Trời và con đường ít trở ngại nhất
Theo Thầy MDR, dấu hiệu Mặt Trời biểu thị các xu hướng đời sống đã được thiết lập sẵn và tạo thành con đường ít trở ngại nhất, nhất là theo nghĩa hữu thức: con người biết mình thích gì, thấy cái gì dễ dàng, tự nhiên, hợp với mình. Thầy MDR bình luận rằng đây là sự tiếp nối tính xây dựng từ kiếp trước sang kiếp này, bởi con người được sinh vào cùng loại dấu hiệu mà mình đã “rời hình tướng” trong chu kỳ trước. Thầy nhận xét Mặt Trời liên hệ đến việc tiếp tục xây dựng phàm ngã và tính cách, duy trì đà phát triển đã có.
Dấu hiệu mọc như mục tiêu đời sống qua một hay nhiều kiếp
Thầy MDR đặc biệt chú ý đến câu Chân sư DK nói dấu hiệu mọc chỉ mục tiêu đời sống cho một chu kỳ sống cụ thể hoặc “trong một giai đoạn bảy kiếp”. Thầy sửa cách hiểu hời hợt rằng không phải chỉ hoặc một kiếp hoặc bảy kiếp, mà có thể được giữ lặp lại qua 1, 2, 3, 4, 5, 6 hay tối đa 7 kiếp liên tiếp, tùy nhu cầu xây dựng do Thái dương Thiên Thần định hướng. Thầy MDR cũng lưu ý người chí nguyện và đệ tử đã bắt đầu đáp ứng với dấu hiệu mọc theo nghĩa tinh thần, nhưng vẫn chỉ “trong một mức nhỏ”, và đặt câu hỏi thực nghiệm: mục tiêu đời sống thực tế của mỗi người khớp đến đâu với dấu hiệu mọc của mình.
“Hoàng đạo lớn” theo nghĩa vi mô
Thầy MDR giải thích “hoàng đạo lớn” (greater zodiac) ở đây nên được hiểu theo nghĩa vi mô, gồm dấu hiệu Mặt Trời và dấu hiệu mọc, chứ không phải các hoàng đạo vũ trụ lớn hơn như những hệ mười chòm sao. Ngược lại, “hoàng đạo nhỏ” là các hành tinh trong nhà, biểu thị đời sống hoàn cảnh, kể cả hoàn cảnh trong thể cảm dục và thể trí. Thầy MDR nhận xét ngay cả thể nguyên nhân cũng có thể được xem như một loại “hoàn cảnh” bao quanh điểm tâm thức, nên cần thấy sự phân tầng giữa hoàn cảnh, xu hướng kiến tạo và mục tiêu tiến hóa.
Đệ tử và điểm đạo đồ: khả năng đáp ứng toàn bộ trường lực
Với đệ tử và điểm đạo đồ, Thầy MDR nói họ bắt đầu đáp ứng hữu thức với tất cả các ảnh hưởng vừa nêu, đồng thời có thể xử lý chúng một cách xây dựng vì đã có “điểm tựa” và năng lực quan sát. Ngoài ra họ còn bắt đầu đáp ứng với các lực cực kỳ vi tế tuôn vào từ ba chòm sao lớn; ở giai đoạn đầu phản ứng diễn ra trong các thể vi tế nhưng bộ não chưa ghi nhận được. Sau lần điểm đạo thứ ba, các ảnh hưởng này mới được ghi nhận trên cõi hồng trần trong tâm thức phàm ngã bình thường.
Trọng tâm của bộ sách là bảy Cung hơn là chiêm tinh thuần túy
Thầy MDR nhắc rằng đây vẫn là tập ba của giáo lý về bảy Cung, nên Chân sư DK đưa vấn đề trở về Cung như nguyên lý nền. Thầy nhận xét chiêm tinh liên hệ mạnh với cung ba, còn giáo lý về các Cung gắn với cung hai là cung thiêng liêng đang được phát triển trong hệ mặt trời hiện tại; vì vậy chiêm tinh quan trọng nhưng không phải tầng giải thích tối hậu. Theo Thầy MDR, Chân sư DK muốn người học thấy rằng phía sau các cơ chế chiêm tinh là các dòng Cung sâu hơn và quyết định hơn.
Đại Hùng Tinh là nguồn thực hành của bảy Cung
Thầy MDR nói vì mục đích thực hành, bảy sao chính của Đại Hùng Tinh được xem là nguồn của bảy Cung. Thầy nêu cụ thể chuỗi sao: Alkaid hay Benetnash cho cung một, Mizar cho cung hai, Alioth cho cung ba, Megrez cho cung bốn, Dubhe cho cung năm, Merak cho cung sáu, và Phecda cho cung bảy. Thầy cũng giải thích biểu tượng gáo của Big Dipper: phần “bầu” tượng trưng cho bốn Cung Thuộc Tính, còn phần “cán” tượng trưng cho ba Cung Trạng Thái, với đầu xa nhất của cán tương ứng cung một.
Đại Hùng Tinh, Thất Nữ Tinh và cấu trúc 4–3 / 3–4
Thầy MDR dành nhiều bình luận cho mô thức bốn và ba, lúc thì bốn ở trên ba, lúc thì ba ở trên bốn tùy bình diện xem xét. Nếu xét các cõi, bốn cõi dĩ thái ở trên ba cõi thuộc phần đậm đặc; nếu xét phàm ngã và linh hồn thì Tam Nguyên Tinh Thần hoặc ba phương diện linh hồn ở trên, còn bốn hiện thể ở dưới. Thầy đề xuất hình ảnh tam giác trên hình vuông, có một bề mặt chung, như biểu tượng cho cung ba nối phần trên và phần dưới.
Thất Nữ Tinh như một bí ẩn liên quan trung tâm đầu hoặc cổ họng
Thầy MDR suy đoán Thất Nữ Tinh có thể gồm hàng trăm sao, thậm chí hơn 800 đã được nhận diện, và đặt câu hỏi liệu có sự tương ứng nào với hoa sen ngàn cánh nơi trung tâm đầu của con người hay không. Thầy nêu hai khả năng: Thất Nữ Tinh như toàn bộ trung tâm đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị, hoặc như một cấu trúc ngọc báu trong hoa sen ấy; đồng thời Thầy cũng ghi nhận có học thuyết khác xem Thất Nữ Tinh liên hệ với trung tâm cổ họng. Thầy MDR lưu ý tên gọi “jewel box” khiến Thất Nữ Tinh mang tính chất bảo ngọc, gợi một cấu trúc bảy mặt quý báu ở cấp siêu vũ trụ.
Đại Hùng Tinh là cực dương, Thất Nữ Tinh là cực âm
Theo Thầy MDR, Chân sư DK trình bày Đại Hùng Tinh như tác nhân của mãnh lực dương đối với các Hành Tinh Thượng Đế, còn Thất Nữ Tinh như trạm chuyển tiếp của phương diện âm. Thầy liên hệ điều này với biểu tượng nam tính–nữ tính: Đại Hùng Tinh gắn với khẳng định và các Rishi vĩ đại, còn Thất Nữ Tinh gắn với hình tướng và tính nữ, nhưng cả hai đều cần nhau. Thầy cũng xen vào giả thuyết về Tiểu Hùng Tinh như trung gian bảy phân giữa hai nhóm này, tạo thành 21 và nếu tính toàn bộ đơn vị thì thành con số huyền bí 22.
Trao đổi năng lượng giữa bảy Hành Tinh Thượng Đế và các chòm sao lớn
Thầy MDR nhấn mạnh có sự trao đổi trực tiếp giữa sự sống của bảy Hành Tinh Thượng Đế lớn và các Sự Sống “khôn dò, vô lượng” đang phú linh các chòm sao như Đại Hùng Tinh và Thất Nữ Tinh. Thầy gợi ý cũng có thể tồn tại các ngôi sao “phi thiêng liêng” tương tự các hành tinh chưa thiêng liêng trong hệ mặt trời, và suy đoán có thể về sau sẽ có đủ 12 hành tinh thiêng liêng cũng như 12 Rishi thiêng liêng và 12 thực thể Thất Nữ Tinh thiêng liêng. Đây là phần Thầy MDR tự suy luận nhằm “xếp hàng các con số” theo định luật tương ứng, chứ không khẳng định như giáo lý đã hoàn tất.
Các tam giác thiêng liêng giữa hành tinh, Đại Hùng Tinh và Thất Nữ Tinh
Thầy MDR nhấn mạnh một trong những bí mật nội môn lớn nhất của chiêm tinh hành tinh là các tam giác giữa mỗi hành tinh thiêng liêng với một sao của Đại Hùng Tinh và một sao của Thất Nữ Tinh. Theo Thầy, chính các tam giác sao–sao–hành tinh này mới tiết lộ tiến trình nội tại của một Hành Tinh Thượng Đế, sâu hơn nhiều so với chiêm tinh thông thường. Thầy cũng lưu ý Chân sư DK nói các tam giác ấy được phản chiếu trong các tam giác dịch chuyển giữa bảy trung tâm của con người.
Tam giác trung tâm trong thể dĩ thái như phản chiếu của các tam giác vũ trụ
Thầy MDR dùng định luật tương ứng để suy luận rằng trong các tam giác trung tâm của con người có thể có một lực dương, một lực âm và một lực hành tinh tương ứng với ba đỉnh vũ trụ. Thầy đề nghị có thể xem Đại Hùng Tinh tương ứng đỉnh cung một, Thất Nữ Tinh tương ứng đỉnh trung gian có phẩm tính Bồ đề và cung hai, còn hành tinh là đỉnh thứ ba. Thầy dựa thêm vào Luận về Lửa Vũ Trụ, nhất là đoạn nói các Hành Tinh Thượng Đế là nơi hội tụ của hai loại lực: lực từ bảy Rishi Đại Hùng Tinh và lực Bồ đề truyền qua Thất Nữ Tinh từ chòm Rồng của Minh Triết.
Thất Nữ Tinh như trung gian Bồ đề và chòm Rồng của Minh Triết
Thầy MDR nhấn mạnh một điểm Thầy cho là quan trọng: Thất Nữ Tinh không chỉ mang phẩm tính cung ba hay hình tướng mà còn mang chức năng trung gian Bồ đề, tức liên hệ đến cung hai. Thầy viện dẫn rằng nếu chòm Rồng không có cung hai thì các chân sư và các Hành Tinh Thượng Đế đã không thể được gọi là “Rồng của Minh Triết”. Từ đó Thầy đề xuất trong tam giác biểu tượng, Đại Hùng Tinh là đầu, Thất Nữ Tinh là tim, còn hành tinh là trung tâm thứ ba biểu thị phương diện biểu hiện.
Liên hệ với các nhóm hạt giống trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới
Thầy MDR sáng tạo áp dụng mô hình tam giác này vào các nhóm hạt giống: nhóm giao tiếp viễn cảm dùng đầu–tim–cổ họng; nhóm xua tan ảo cảm dùng đầu–tim–tùng thái dương; nhóm trị liệu dùng đầu–tim–ajna; nhóm giáo dục dùng đầu–ajna–cổ họng; nhóm chính trị dùng đầu–tim–đáy cột sống; nhóm tôn giáo lại dùng đầu–tim–tùng thái dương; nhóm khoa học dùng đầu–tim–cổ họng–xương cùng nhưng Thầy chỉ xét các tam giác trong đó. Trong các gán ghép này, Thầy MDR thường đặt Đại Hùng Tinh vào đầu, Thất Nữ Tinh vào tim hoặc ajna như trung gian, còn một hành tinh thiêng liêng như Sao Hải Vương, Sao Thủy, Sao Thổ, Sao Diêm Vương hay Sao Thiên Vương vào trung tâm còn lại. Thầy lưu ý đây là các suy luận có tính gợi mở để người học nhìn lá số chiêm tinh song hành với sự vận hành thực của thể dĩ thái.
Chiêm tinh của hành tinh và vai trò của bộ phận chiêm tinh trong Thánh đoàn