← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

chapter 003 04

Trích nội dung chương

372. The Master seeks to have CDP believe in herself, and in the effectiveness of her radiation. By His words, He seems to remove the objections which her personal psyche might throw up as resistance. 372. Chân sư tìm cách giúp CDP tin vào bản thân và hiệu quả của sự tỏa chiếu nơi bà. Qua những lời của mình, Ngài dường như loại bỏ những phản đối mà tâm lý phàm ngã của bà có thể đưa ra để kháng cự.


372. The Master seeks to have CDP believe in herself, and in the effectiveness of her radiation. By His words, He seems to remove the objections which her personal psyche might throw up as resistance.

372. Chân sư tìm cách giúp CDP tin vào bản thân và hiệu quả của sự tỏa chiếu nơi bà. Qua những lời của mình, Ngài dường như loại bỏ những phản đối mà tâm lý phàm ngã của bà có thể đưa ra để kháng cự.

373. One can feel the positive impulsion of the Master’s words. He assumes (for the sake of blessing) the reality of that which for many years He has labored to build in CDP’s consciousness.

373. Người ta có thể cảm nhận sức thúc đẩy tích cực trong lời Chân sư. Vì mục đích ban phúc, Ngài xem là hiện thực điều mà Ngài đã dày công xây dựng trong tâm thức CDP suốt nhiều năm.

I will give you the following eight sentences as seed thoughts for your meditation and would ask you to ponder them with care during the next eight months:

Tôi sẽ trao cho em tám câu sau đây làm tư tưởng hạt giống cho việc tham thiền, và yêu cầu em suy ngẫm kỹ về chúng trong tám tháng tới:

1st month — Upon my tower I stand and naught can reach me here. Thus to the work which comes my way I dedicate myself.

Tháng thứ nhất—Tôi đứng trên tháp của mình, và không gì có thể chạm đến tôi nơi đây. Vì vậy, tôi hiến mình cho công việc đến với tôi.

374. The long-accumulated energies of the personal psyche cannot reach her when she ‘stands in the energies of her tower’.

374. Những năng lượng tích tụ lâu ngày trong tâm lý phàm ngã không thể chạm đến bà khi bà “đứng trong những năng lượng của ngọn tháp mình”.

375. She acts as a magnet, not going forth to seek service, but recognizing those whom she may serve as they come to her — entering her garden.

375. Bà hành động như một nam châm, không đi ra tìm công việc phụng sự, mà nhận ra những người bà có thể phụng sự khi họ đến với bà — bước vào khu vườn của bà.

2nd month — Only my soul can reach the point of strength whereon I stand and to my soul that way is always open. To the task my soul assigns, I dedicate myself.

Tháng thứ hai—Chỉ linh hồn tôi mới có thể đến được điểm sức mạnh nơi tôi đứng, và con đường ấy luôn rộng mở cho linh hồn tôi. Tôi hiến mình cho nhiệm vụ linh hồn giao phó.

376. The tower has nothing to do with elevated personality attitudes. The tower is a place for soul identification and soul impression, and there the soul can reach her. In fact, there she can know herself as a soul.

376. Ngọn tháp không liên quan gì đến những thái độ tự tôn của phàm ngã. Ngọn tháp là nơi đồng hoá với linh hồn và tiếp nhận ấn tượng từ linh hồn, và tại đó linh hồn có thể đến với bà. Thực ra, tại đó bà có thể biết mình là một linh hồn.

377. The tower is a “tower of strength”. We note how DK is building the first ray into His chela. She needs both the first ray and the seventh.

377. Ngọn tháp là một “ngọn tháp sức mạnh”. Chúng ta lưu ý cách Chân sư DK đang bồi đắp cung một nơi đệ tử của Ngài. Bà cần cả cung một lẫn cung bảy.

378. Her sixth ray will now serve soul purposes and not personality desires and conditioning.

378. Giờ đây, cung sáu của bà sẽ phụng sự những mục đích của linh hồn thay vì những dục vọng và ảnh hưởng định hình của phàm ngã.

379. The line of inspiration and salvation is assured. The way to the soul is “always open”. The use of this seed-thought will continue to build her confidence.

379. Con đường cảm hứng và cứu rỗi được bảo đảm. Con đường đến linh hồn “luôn rộng mở”. Việc sử dụng tư tưởng hạt giống này sẽ tiếp tục bồi đắp sự tự tin của bà.

3rd month — From the high point I oft come down and walk the ways of life and beauty with my brothers. To the task of helping them I dedicate myself.

Tháng thứ ba—Từ điểm cao, tôi thường đi xuống và cùng các huynh đệ bước trên những nẻo đường của sự sống và vẻ đẹp. Tôi hiến mình cho nhiệm vụ trợ giúp họ.

380. She may “come down” but, as she descends, she is to preserve the quality of energy and the perspective which she experiences when in her tower.

380. Bà có thể “đi xuống”, nhưng khi đi xuống, bà phải giữ gìn phẩm tính năng lượng và tầm nhìn mà bà trải nghiệm khi ở trong ngọn tháp của mình.

381. She is not to isolate herself in her “ivory tower” but to be strengthened by it so she can serve her brothers below.

381. Bà không được tự cô lập trong “tháp ngà” của mình, mà phải nhờ đó trở nên mạnh mẽ để có thể phụng sự các huynh đệ ở bên dưới.

382. We remember that Cancer (in a sense, her soul-indicator) is the sign of “mass consciousness”, so surely she must descend and walk among those she must serve. She walks the ways of beauty with her brothers. By creating and perfecting her garden she has learned to do so.

382. Chúng ta nhớ rằng Cự Giải (theo một nghĩa nào đó, dấu hiệu chỉ linh hồn của bà) là dấu hiệu của “tâm thức quần chúng”, nên chắc chắn bà phải đi xuống và bước giữa những người bà phải phụng sự. Bà cùng các huynh đệ bước trên những nẻo đường của vẻ đẹp. Qua việc tạo ra và hoàn thiện khu vườn của mình, bà đã học được cách làm điều đó.

4th month — The radiance of love I seek to shower on all I meet and to this life of radiant love, I dedicate myself.

Tháng thứ tư—Tôi tìm cách tuôn rải ánh rạng ngời của tình thương lên tất cả những người tôi gặp, và tôi hiến mình cho đời sống yêu thương rạng ngời ấy.

383. DK has often spoken of the beauty of CDP’s inner nature, of her selflessness and love.

383. Chân sư DK đã thường nói về vẻ đẹp trong bản chất bên trong của CDP, về lòng vị tha và tình thương của bà.

384. He seeks to affirm her in these beautiful qualities and to empower them until they become radiant.

384. Ngài tìm cách giúp bà vững tin vào những phẩm tính đẹp đẽ này và tăng sức mạnh cho chúng cho đến khi chúng tỏa rạng.

385. He has sought to have her be more dynamic in service. It is not enough that she love. Her love must become radiant. He seeks that she shall live a “life of radiant love”.

385. Ngài đã tìm cách giúp bà phụng sự năng động hơn. Chỉ yêu thương thôi thì chưa đủ. Tình thương của bà phải trở nên tỏa rạng. Ngài mong bà sống một “cuộc đời tình thương tỏa rạng”.

386. She is becoming a ‘distributing center’. It is significant to note that, during this period, the progressing Moon is moving through distributive and radiatory Aquarius and that Jupiter (the planet which emits her soul ray, the second) has moved by progression into the group sign Aquarius, which it esoterically rules.

386. Bà đang trở thành một “trung tâm phân phối”. Điều đáng chú ý là trong giai đoạn này, Mặt Trăng tiến trình đang di chuyển qua Bảo Bình, dấu hiệu có tính phân phối và tỏa chiếu, và Sao Mộc (hành tinh phát ra cung linh hồn của bà, cung hai) đã di chuyển theo tiến trình vào Bảo Bình, dấu hiệu nhóm mà hành tinh này cai quản về mặt nội môn.

387. We note that this seed thought contains qualities of both the second and sixth rays. Radiant love is a quality of the second ray; He calls for her to dedicate herself (a sixth ray act) to that radiant love. The sixth ray severs the second — as it should, given her ray formula.

387. Chúng ta lưu ý rằng tư tưởng hạt giống này chứa những phẩm tính của cả cung hai lẫn cung sáu. Tình thương tỏa rạng là một phẩm tính của cung hai; Ngài kêu gọi bà hiến mình (một hành động cung sáu) cho tình thương tỏa rạng ấy. Cung sáu phụng sự cung hai — đúng như điều cần có, xét theo công thức cung của bà.

5th month — With carelessness divine, I face my daily life, knowing that all is well. To the aid of those I serve, the Masters of the Way, I dedicate myself.

Tháng thứ năm—Với sự vô ưu thiêng liêng, tôi đối diện đời sống hằng ngày, biết rằng mọi sự đều tốt lành. Tôi hiến mình để trợ giúp những Đấng tôi phụng sự, các Chân sư của Đường Đạo.

388. For so earnest a disciple, it must have been an unusual and productive experience to meditate upon “carelessness divine”.

388. Với một đệ tử tha thiết đến thế, tham thiền về “sự vô lo thiêng liêng” hẳn phải là một trải nghiệm khác thường và mang lại nhiều kết quả.

389. For one so much given to worry and the sense of imminent disaster, the reassuring thought at “all is well” serves as a great corrective.

389. Với một người dễ lo âu và có cảm giác tai họa sắp xảy ra đến thế, tư tưởng trấn an rằng “mọi sự đều tốt lành” có tác dụng điều chỉnh rất lớn.

390. DK’s planned reconditioning of CDP’s psyche continues. This seed-thought will inspire her.

390. Việc Chân sư DK định hình lại tâm lý CDP theo kế hoạch vẫn tiếp tục. Tư tưởng hạt giống này sẽ truyền cảm hứng cho bà.

391. Frequently the term “dedicate” is used. This is important for it enlists the potencies of the sixth ray and directs them to higher objectives. The sixth ray influence in her life is being lifted away from a focus upon the personality.

391. Từ “hiến mình” được dùng thường xuyên. Điều này quan trọng vì nó huy động những tiềm năng của cung sáu và hướng chúng đến những mục tiêu cao hơn. Ảnh hưởng cung sáu trong đời bà đang được nâng lên, rời khỏi sự tập trung vào phàm ngã.

6th month — With true divine indifference I shoulder every load that comes my way, for naught can touch my soul. To manifest this confidence, I dedicate myself.

Tháng thứ sáu—Với sự điềm nhiên thiêng liêng chân thật, tôi gánh vác mọi trọng trách đến với mình, bởi không gì có thể chạm đến linh hồn tôi. Tôi hiến mình để biểu lộ niềm tin vững chắc này.

392. A link is made between the fruits of “divine indifference” and disciplic strength.

392. Một mối liên hệ được thiết lập giữa những thành quả của “điềm nhiên thiêng liêng” và sức mạnh của người đệ tử.

393. DK strengthens His disciple by giving her thoughts which militate against devitalizing thoughtforms and feelings. He finds resourceful ways to separate her from all that hitherto has weakened her.

393. Chân sư DK tăng sức mạnh cho đệ tử Ngài bằng cách trao cho bà những tư tưởng chống lại các hình tư tưởng và cảm xúc làm suy giảm sinh lực. Ngài tìm ra những cách tài tình để tách bà khỏi tất cả những gì từ trước đến nay đã làm bà suy yếu.

394. He seeks to see her as a confident, radiant center of service.

394. Ngài mong thấy bà trở thành một trung tâm phụng sự tự tin, tỏa rạng.

7th month — Those who are given to me to love, upon the ways of life, I love and serve. I gaze upon them free from fear. To strengthen them within their souls, I dedicate myself.

Tháng thứ bảy—Những người được trao cho tôi để yêu thương trên các nẻo đường đời, tôi yêu thương và phụng sự họ. Tôi nhìn họ mà không sợ hãi. Tôi hiến mình để củng cố họ trong linh hồn họ.

395. DK asks her to be alert to those who are “given” to her “to love”.

395. Chân sư DK yêu cầu bà chú tâm nhận biết những người “được trao” cho bà “để yêu thương”.

396. She is asked to see with the clarity of the soul — free from fear.

396. Ngài yêu cầu bà nhìn bằng sự sáng tỏ của linh hồn — không chút sợ hãi.

397. She is asked to strengthen not their personalities, but their souls.

397. Ngài yêu cầu bà củng cố linh hồn họ, thay vì phàm ngã họ.

398. She has built a “tower” and is to become, increasingly, a “tower of strength” — primarily through the instrumentality of love.

398. Bà đã xây dựng một “ngọn tháp” và phải ngày càng trở thành một “ngọn tháp sức mạnh” — chủ yếu qua phương tiện tình thương.

399. If CDP finds ways to strengthen others, she will surely overcome her own weaknesses.

399. Nếu CDP tìm được những cách tăng sức mạnh cho người khác, chắc chắn bà sẽ khắc phục được những yếu đuối của chính mình.

8th month — Upon my tower, in the high place of vision, now I stand and from that point I live and love and work. To this high destiny I dedicate myself.

Tháng thứ tám—Giờ đây tôi đứng trên tháp của mình, nơi cao của tầm nhìn, và từ điểm ấy tôi sống, yêu thương và làm việc. Tôi hiến mình cho vận mệnh cao cả này.

400. The images are ones of strength and achievement.

400. Những hình ảnh này thể hiện sức mạnh và thành tựu.

401. The three aspects of divinity are integrated (life, love and work).

401. Ba phương diện của thiên tính được tích hợp (sự sống, tình thương và công việc).

402. She is being called to acknowledge the monad which is the source of destiny.

402. Bà đang được kêu gọi nhận biết chân thần, vốn là cội nguồn của vận mệnh.

403. We can see how far the use of this seed-thought will abstract CDP from her personality and lift her towards the realm of the spirit.

403. Chúng ta có thể thấy việc sử dụng tư tưởng hạt giống này sẽ đưa CDP rút xa khỏi phàm ngã và nâng bà hướng đến lĩnh vực tinh thần đến mức nào.

If you can grasp the reality of the service and the usefulness of the service that you can render, you will have made much progress when next I instruct you. [524]

Nếu em có thể nắm bắt thực tại của sự phụng sự và tính hữu ích của việc phụng sự mà em có thể thực hiện, em sẽ tiến bộ nhiều khi Tôi huấn thị em lần tới. [524]

404. We gather that CDP had not really found an absorbing direction of service during her life.

404. Chúng ta hiểu rằng trong đời mình, CDP chưa thực sự tìm được một hướng phụng sự cuốn hút trọn vẹn tâm trí bà.

405. But one can feel that Master DK has been helping her build her mode of service. That service now exists for her and the Master has been strengthening her to perform it.

405. Nhưng có thể cảm thấy rằng Chân sư DK đã và đang giúp bà xây dựng phương thức phụng sự của mình. Công việc phụng sự ấy giờ đây đã hiện hữu đối với bà, và Chân sư đã tăng sức mạnh cho bà để thực hiện nó.

406. In what is her progress to consist? In the recognition of the reality of her service and its usefulness. The Master is establishing her in a service orientation which will be satisfying, liberating and useful to others. Further, it is clear that her service has been more of an esoteric nature than objective, but no less powerful for being subtle.

406. Sự tiến bộ của bà sẽ nằm ở đâu? Ở việc nhận ra thực tại và tính hữu ích của công việc phụng sự nơi bà. Chân sư đang giúp bà đứng vững trong một định hướng phụng sự sẽ đem lại sự mãn nguyện, giải thoát và hữu ích cho người khác. Hơn nữa, rõ ràng công việc phụng sự của bà thiên về nội môn hơn là biểu hiện khách quan, nhưng tính vi tế không làm nó kém mạnh mẽ.

January 1939 – Tháng Một năm 1939

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You have made real progress. That is the first thing I wish to say to you. A little more clear thinking and acceptance of the facts which you know about yourself will set you free. Your problem is difficult. It is not based upon the difficulties of your life, for your life problem is not at all unusual — though you have given unusual attention to it. It is based upon the fact that you have a sixth ray personality, a sixth ray astral body and a sixth ray physical body. This constitutes a terrific combination of forces, but you assumed the responsibility of handling these forces in order to break the sixth ray hold which that type of energy has had on you for three lives in sequence. You have reached the age of sixty (or is it a little more, my brother?) and have not yet broken it. Therefore, your soul purpose has not yet been fulfilled. The differences between your attitude now and your attitude thirty years ago is that then you did not realise what it was all about and now you do. Then you had, in reality, no responsibility for you did not know the nature of the task to be done. But, through soul contact, you do know now what the problem is and your responsibility to do something definite is, consequently, heavy. The glamour of ties and relationships has held you for years. The personality umbilical cord still links you to your children and it should have been severed (and rightly severed) several years ago. It would have been of real benefit both to you and to them. This, you know well when the glamour of the responsibilities of motherhood is not upon you. You have to realise now that you have no such responsibility.

Em đã thực sự tiến bộ. Đó là điều đầu tiên Tôi muốn nói với em. Thêm một chút suy nghĩ sáng rõ và sự chấp nhận những sự thật em biết về chính mình sẽ giải thoát em. Vấn đề của em khó khăn. Nó không bắt nguồn từ những khó khăn trong đời em, bởi vấn đề đời sống của em hoàn toàn không khác thường—dù em đã dành cho nó sự chú ý khác thường. Nó bắt nguồn từ sự thật rằng em có một phàm ngã cung sáu, một thể cảm dục cung sáu và một thể xác cung sáu. Điều này tạo thành một tổ hợp mãnh lực ghê gớm, nhưng em đã nhận trách nhiệm xử lý những mãnh lực này để phá vỡ sự khống chế mà năng lượng cung sáu ấy đã áp đặt lên em trong ba kiếp liên tiếp. Em đã đến tuổi sáu mươi (hay hơn một chút, huynh đệ của tôi?) mà vẫn chưa phá vỡ được nó. Vì vậy, mục đích linh hồn của em vẫn chưa hoàn thành. Sự khác biệt giữa thái độ hiện nay và thái độ của em ba mươi năm trước là khi ấy em chưa nhận ra tất cả những điều này có nghĩa gì, còn giờ đây em đã nhận ra. Khi ấy, thực ra em chưa có trách nhiệm, bởi em chưa biết bản chất nhiệm vụ cần thực hiện. Nhưng, thông qua tiếp xúc linh hồn, giờ đây em đã biết vấn đề là gì, và do đó trách nhiệm phải làm một điều cụ thể của em là rất lớn. Ảo cảm của những ràng buộc và các mối quan hệ đã níu giữ em suốt nhiều năm. Dây rốn phàm ngã vẫn nối em với các con, trong khi lẽ ra nó phải được cắt đứt (và cắt đứt đúng cách) từ vài năm trước. Điều ấy hẳn đã thực sự có lợi cho cả em lẫn các con. Em biết rõ điều này khi ảo cảm về những trách nhiệm làm mẹ không bao phủ em. Giờ đây em phải nhận ra rằng em không có trách nhiệm như thế.

407. The Master acknowledges progress towards freedom, but the state of freedom which the Master envisions for CDP has not yet been achieved.

407. Chân sư ghi nhận sự tiến bộ hướng đến tự do, nhưng trạng thái tự do mà Chân sư hình dung cho CDP vẫn chưa đạt được.

408. The incarnational intention of the soul/Solar Angel is now suggested. The three sixth ray vehicles are not ‘accidentally’ assembled. CDP assumed the responsibility of handling this “terrific combination of forces” in order to break the hold which sixth ray energy has had upon her for three lives in sequence.

408. Giờ đây, ý định lâm phàm của linh hồn/Thái dương Thiên Thần được gợi mở. Ba hiện thể cung sáu không “tình cờ” tập hợp lại. CDP đã nhận trách nhiệm xử lý “tổ hợp mãnh lực ghê gớm” này để phá vỡ sự kìm giữ mà năng lượng cung sáu đã duy trì đối với bà trong ba kiếp liên tiếp.

409. This probably means that she has had a sixth ray personality for the three previous lives.

409. Điều này có lẽ hàm ý rằng bà đã có phàm ngã cung sáu trong ba kiếp trước.

410. The years from fifty-six to sixty-three are decisive for the soul. CDP is almost sixty-three. Of this DK says the following to other disciples in a similar position:

410. Những năm từ năm mươi sáu đến sáu mươi ba tuổi có tính quyết định đối với linh hồn. CDP đã gần sáu mươi ba tuổi. Về điều này, Chân sư DK nói những lời sau với các đệ tử khác ở hoàn cảnh tương tự:

“You are nearly sixty years old, my brother. The sixty-third year of your life, as in the life of all disciples, will be one of crisis and of supreme opportunity, and towards that point you should look and for it you should make preparation.” (DINA II 636)

“Huynh đệ của tôi, em đã gần sáu mươi tuổi. Năm thứ sáu mươi ba trong đời em, cũng như trong đời mọi đệ tử, sẽ là một năm khủng hoảng và cơ hội tối thượng; em nên hướng tới thời điểm ấy và chuẩn bị cho nó.” (DINA II 636)

“For the remaining years of life, there should be an increasingly strong relationship between the soul and its vehicles, leading to another crisis between the fifty-sixth or the sixty-third years. According to that crisis will depend the future usefulness of the person and whether the ego continues to use the vehicles on into old age, or whether there is a gradual withdrawal of the indwelling entity.” (EP II 53)

“Trong những năm còn lại của cuộc đời, mối quan hệ giữa linh hồn và các hiện thể của nó cần ngày càng bền chặt, dẫn đến một cuộc khủng hoảng khác vào năm thứ năm mươi sáu hoặc sáu mươi ba. Cuộc khủng hoảng ấy sẽ quyết định khả năng hữu ích trong tương lai của người đó, cũng như việc chân ngã tiếp tục sử dụng các hiện thể cho đến tuổi già hay Thực Thể nội tại dần dần rút lui.” (EP II 53)

411. DK has been encouraging her to freedom, but she has not yet broken the hold of the sixth ray upon her personality. Towards the later part of an incarnation, if there is to be a different personality ray in the next life, that personality ray should be in evidence. Apparently, for CDP, this is not the case.

411. Chân sư DK đã khuyến khích bà tiến tới tự do, nhưng bà vẫn chưa phá vỡ sự chi phối của cung sáu đối với phàm ngã mình. Vào giai đoạn cuối của một kiếp nhập thể, nếu kiếp sau sẽ có một cung phàm ngã khác, thì cung phàm ngã ấy nên bắt đầu biểu lộ rõ. Dường như với CDP, điều này chưa xảy ra.

412. DK speaks of her “heavy” responsibility, for now she knows about her problem and the consequences of failing to manage it; earlier in life she did not and, therefore, had no such responsibility.

412. Chân sư DK nói đến trách nhiệm “nặng nề” của bà, vì giờ đây bà biết vấn đề của mình và những hậu quả nếu không xử lý được nó; trước kia trong đời, bà chưa biết, nên không có trách nhiệm như vậy.

413. The Master becomes very specific, using images like “the personality umbilical cord”. CDP is definitely tied to her children. This glamorous tie should have ended (“several years ago”), but has not.

413. Chân sư trở nên hết sức cụ thể, sử dụng những hình ảnh như “dây rốn phàm ngã”. CDP rõ ràng bị ràng buộc với các con mình. Mối ràng buộc đầy ảo cảm này lẽ ra đã phải chấm dứt (“vài năm trước”), nhưng vẫn chưa chấm dứt.

414. DK seeks to disabuse His chela of the so-called “responsibilities of motherhood”. In fact, He says, “you have no such responsibilities”.

414. Chân sư DK tìm cách giúp đệ tử của Ngài thoát khỏi quan niệm sai lầm về cái gọi là “trách nhiệm làm mẹ”. Thực ra, Ngài nói: “em không có những trách nhiệm như thế”.

415. We can understand how (proposed) Cancer and a tremendous sixth ray potency have led to this form of psychological bondage.

415. Chúng ta có thể thấu hiểu vì sao Cự Giải (theo giả thuyết) cùng sức mạnh vô cùng lớn của cung sáu đã dẫn đến hình thức trói buộc tâm lý này.

Forgive me for my plain speaking, my brother, but I seek to see you free before the time of passing over into the "clear cold light" comes to you. I know whereof you are capable. You are not using the power of your second ray soul which can love and sever at the same time; which can convey the deepest love, subjectively and protectingly, and yet — on the outer plane — can set people free. Let me repeat again: You have no responsibility for your children and never have had since they reached maturity and the right to live their own lives. You have earned the right to your own soul's freedom and expression. [525] Will you take it now and free yourself, or will you muddle through the remainder of this incarnation and, in another life, have to face the identical problem of family relationships and financial responsibility? As yet, you have solved nothing but you have made progress and your eyes are open. Only fear, plus the deliberate refusal to take the strong and right steps, holds you back from a full participation in the service of humanity and in my work....

Hãy tha thứ cho lời nói thẳng của Tôi, huynh đệ của tôi, nhưng Tôi mong thấy em tự do trước khi đến lúc em bước sang “ánh sáng trong trẻo lạnh lùng”. Tôi biết em có khả năng làm gì. Em chưa sử dụng quyền năng của linh hồn cung hai, vốn có thể vừa yêu thương vừa cắt đứt; có thể truyền đạt tình thương sâu sắc nhất một cách chủ quan và chở che, mà vẫn—trên cõi bên ngoài—để người khác tự do. Hãy để Tôi nhắc lại lần nữa: Em không có trách nhiệm đối với các con, và đã không còn trách nhiệm ấy từ khi các con trưởng thành và có quyền sống cuộc đời riêng. Em đã giành được quyền tự do và biểu lộ của linh hồn mình. [525] Giờ đây em sẽ nhận lấy quyền ấy và giải thoát mình, hay sẽ sống lần hồi cho hết kiếp này rồi trong một kiếp khác lại phải đối diện đúng vấn đề ấy về các mối quan hệ gia đình và trách nhiệm tài chính? Cho đến nay, em chưa giải quyết được điều gì, nhưng em đã tiến bộ và mắt em đã mở. Chỉ có sợ hãi, cộng với việc cố tình từ chối thực hiện những bước đi mạnh mẽ và đúng đắn, đang ngăn em tham gia trọn vẹn vào việc phụng sự nhân loại và công việc của Tôi....

416. It is clear that DK, Who has been so gentle with CDP, now feels that He must speak more directly. We note that this happens when His disciples do not respond to His gentler promptings.

416. Rõ ràng Chân sư DK, vốn đã rất dịu dàng với CDP, giờ đây cảm thấy Ngài phải nói thẳng hơn. Chúng ta lưu ý rằng điều này xảy ra khi các đệ tử của Ngài không đáp ứng những lời thúc giục nhẹ nhàng hơn.

417. DK now speaks directly of CDP’s impending passing. The “clear cold light” encountered after death is something He would have her experience more directly here and now.

417. Giờ đây Chân sư DK nói thẳng về sự ra đi sắp tới của CDP. “Ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo” gặp sau khi chết là điều Ngài muốn bà trải nghiệm trực tiếp hơn ngay tại đây và lúc này.

418. DK focuses on the power of the second ray soul which can “love and sever at the same time”, which can love deeply and protectingly and yet set people free. It is surely the responsibility of the Master to encourage the use of the soul ray (the ‘ray of contribution’) rather than the continuing focus upon the personality ray — long after it has outlived its usefulness.

418. Chân sư DK tập trung vào quyền năng của linh hồn cung hai, vốn có thể “vừa yêu thương vừa cắt đứt”, có thể yêu thương sâu sắc và che chở mà vẫn giải phóng con người. Chắc chắn trách nhiệm của Chân sư là khuyến khích việc sử dụng cung linh hồn (‘cung đóng góp’), thay vì tiếp tục tập trung vào cung phàm ngã khi nó đã hết hữu ích từ lâu.

419. This is indeed plain speaking. Finally and directly, DK seeks to help CDP let go of her children.

419. Đây quả thực là lời nói thẳng. Cuối cùng, Chân sư DK trực tiếp tìm cách giúp CDP buông bỏ các con mình.

420. Further, He points the finger at the impediments of fear and “a deliberate refusal to take the strong and right steps needed”. Because of these conditions, CDP is not serving humanity to her full capacity nor aiding in the Master’s work as she could.

420. Hơn nữa, Ngài chỉ rõ những chướng ngại là nỗi sợ hãi và “việc cố tình từ chối thực hiện những bước đi mạnh mẽ và đúng đắn cần thiết”. Vì những tình trạng này, CDP chưa phụng sự nhân loại hết khả năng, cũng chưa trợ giúp công việc của Chân sư như bà có thể làm.

421. The Master is definitely asking for a choice. Either be free, or muddle on through the remainder of the incarnation and face the very same circumstances in the next.

421. Chân sư rõ ràng đang yêu cầu một sự lựa chọn. Hoặc tự do, hoặc tiếp tục sống lúng túng qua phần còn lại của kiếp nhập thể và đối diện với chính những hoàn cảnh ấy trong kiếp sau.

422. While understanding has grown, no solution to the problem has been forthcoming.

422. Dù sự thấu hiểu đã tăng trưởng, vẫn chưa có giải pháp nào cho vấn đề.

423. All this is said in a year of crisis, with a solar eclipse on natal Jupiter and one, a little later than the date of this instruction, on natal Chiron and, hence, connected to the natal Sun.

423. Tất cả những điều này được nói trong một năm khủng hoảng, khi có một nhật thực trên Sao Mộc bản mệnh và một nhật thực khác, xảy ra ít lâu sau ngày ban huấn thị này, trên Chiron bản mệnh, do đó có liên hệ với Mặt Trời bản mệnh.

You have so much to give. I refer not here to money though that too must be included in the life offering of a disciple, at this time of world stress, I refer to greater and deeper gifts which you possess and are apt to refuse to recognise — a loving heart, a mind enriched by years of study and lives of service, and by a loyalty and a gift for friendship which is rare, indeed, to find.

Em có rất nhiều điều để trao tặng. Ở đây Tôi không nói đến tiền bạc, dù trong thời kỳ thế giới căng thẳng này, tiền bạc cũng phải nằm trong sự hiến dâng đời sống của một đệ tử; Tôi nói đến những món quà lớn lao hơn, sâu sắc hơn mà em sở hữu và thường không chịu thừa nhận—một trái tim yêu thương, một thể trí phong phú nhờ bao năm học hỏi và nhiều kiếp phụng sự, cùng lòng trung thành và khả năng kết bạn quả thực hiếm có.

424. DK exhorts His disciple. He plainly identified the fault and now affirms the gifts which could be given, if CDP willed to do so.

424. Chân sư DK khích lệ đệ tử của Ngài. Ngài đã chỉ rõ khuyết điểm, và giờ đây khẳng định những tặng phẩm có thể được trao đi nếu CDP quyết chí làm như vậy.

425. She has given money, in support of the work and of Alice Bailey personally. DK does not discount the value of this contribution.

425. Bà đã đóng góp tiền bạc để hỗ trợ công việc và riêng Alice Bailey. Chân sư DK không xem nhẹ giá trị của sự đóng góp này.

426. But He has other and subtler gifts in mind. CDP, glamorized by the ‘humble’ second and sixth rays, often, it seems, refuses to recognize her gifts. The word “refuse” is strong.

426. Nhưng Ngài đang nghĩ đến những tặng phẩm khác, tinh tế hơn. Dường như CDP, chịu ảo cảm từ các cung hai và sáu ‘khiêm nhường’, thường từ chối nhận ra những tặng phẩm của mình. Từ “từ chối” có ý nghĩa mạnh mẽ.

427. She possesses “a loving heart, a mind enriched by years of study and lives of service, and by a loyalty and a gift for friendship which is rare, indeed, to find.” As DK recounts her potential gifts, we see CDP’s prominent rays emerge: the second, the sixth and the fifth.

427. Bà có “một trái tim yêu thương, một thể trí phong phú nhờ nhiều năm học hỏi và nhiều kiếp phụng sự, cùng lòng trung thành và khả năng kết tình bằng hữu quả thực hiếm có.” Khi Chân sư DK kể lại những tặng phẩm tiềm tàng của bà, chúng ta thấy các cung nổi bật của CDP hiện ra: cung hai, cung sáu và cung năm.

428. The soul is, shall we say, ‘desperate to give’. Its ‘instinct’, if we can call it that, is service. DK is representing CDP’s soul and seeks to see the soul-contribution fully given. One can sense some degree of urgency in His words.

428. Có thể nói, linh hồn ‘tha thiết muốn trao đi’. ‘Bản năng’ của nó, nếu có thể gọi như vậy, là phụng sự. Chân sư DK đại diện cho linh hồn của CDP và mong thấy sự đóng góp của linh hồn được trao đi trọn vẹn. Người ta có thể cảm nhận một mức độ khẩn thiết nào đó trong lời Ngài.

Your soul contact is established and this is a fact upon which you can count. Devitalisation of your physical life is due to the cramping to which you have subjected yourself and your pronounced, inner, subjective withdrawal to the mental and astral worlds. You do not express the reality which you are, upon the physical plane. The thoughtforms which surround you drain you of vital force and yet, physically speaking, you have no organic trouble or disease. These thoughtforms sap your vitality and are definitely destructive — to yourself and to others. Of these thoughtforms there are three....

Sự tiếp xúc linh hồn của em đã được thiết lập, và đây là một sự thật em có thể tin cậy. Sự suy giảm sinh lực trong đời sống hồng trần của em là do sự gò bó em tự áp đặt lên mình và sự thu rút mạnh mẽ vào bên trong, vào các thế giới trí tuệ và cảm dục mang tính chủ quan. Trên cõi hồng trần, em không biểu lộ thực tại vốn là chính em. Những hình tư tưởng bao quanh em rút cạn sinh lực của em, trong khi xét về thể chất, em không có tổn thương hay bệnh lý thực thể nào. Những hình tư tưởng này làm hao mòn sinh lực và rõ ràng mang tính phá hoại—đối với chính em và người khác. Có ba hình tư tưởng như thế....

429. Soul contact is real and can be relied upon.

429. Sự tiếp xúc với linh hồn là có thật và có thể tin cậy.

430. But the personality life is not in good shape. DK uses the word “cramping” to describe a condition which CDP has inflicted upon herself. She has refused to expand and radiate as she might. In fact, she has withdrawn.

430. Nhưng đời sống phàm ngã không ở trong tình trạng tốt. Chân sư DK dùng từ “gò bó” để mô tả một tình trạng mà CDP tự gây ra cho mình. Bà đã từ chối mở rộng và tỏa sáng như bà có thể. Thực ra, bà đã rút lui.

431. DK addresses the causes of the devitalization which militates against full service. Unfortunately, the three thoughtforms which are largely responsible for sapping CDP’s vitality are edited out of the manuscript.

431. Chân sư DK đề cập đến những nguyên nhân làm suy giảm sinh lực, cản trở việc phụng sự trọn vẹn. Đáng tiếc, ba hình tư tưởng chịu trách nhiệm chính trong việc làm hao mòn sinh lực của CDP đã bị lược khỏi bản thảo.

432. We do remember CDP’s glamorous liabilities and can imagine that these thoughtforms have to do with children, with feelings of inadequacy and self-depreciation, and, in general, with the three causes of glamor which DK earlier detailed: self-pity, criticism, suspicion.

432. Chúng ta quả có nhớ những nhược điểm do ảo cảm của CDP và có thể hình dung rằng các hình tư tưởng này liên quan đến con cái, đến cảm giác bất xứng và tự hạ thấp mình, và nói chung, đến ba nguyên nhân gây ảo cảm mà Chân sư DK đã trình bày chi tiết trước đó: tự thương hại, chỉ trích, nghi ngờ.

433. The Master wants this chela to “come through” — to manifest outwardly what she is inwardly. The signs Aries and Cancer are most suitable for this kind of expression, but something is holding back the process.

433. Chân sư muốn đệ tử này “vượt thoát” — biểu lộ ra bên ngoài những gì bà vốn là ở bên trong. Các dấu hiệu Bạch Dương và Cự Giải rất thích hợp cho kiểu biểu lộ này, nhưng có điều gì đó đang kìm hãm tiến trình.

434. We can see that no progress attained is easily immune from relapse.

434. Chúng ta có thể thấy rằng không một bước tiến nào đã đạt được lại dễ dàng tránh khỏi sự thoái lui.

435. We are also reminded that the sign Cancer is related to the third ray and to “rotary motion”, repetitious motion. DK seeks progressive movement — the mode of motion of the first ray, which CDP seems not to apply to herself and the problems which she, by now, rather clearly perceives.

435. Chúng ta cũng được nhắc rằng dấu hiệu Cự Giải có liên hệ với cung ba và “chuyển động quay”, chuyển động lặp đi lặp lại. Chân sư DK tìm kiếm chuyển động tiến tới — phương thức chuyển động của cung một, mà dường như CDP chưa áp dụng cho bản thân và cho những vấn đề giờ đây bà đã nhận thấy khá rõ.

I am giving you a special exercise. Go into your garden twice a week and meet me there. Discover first of all the point within the garden which I have magnetised. At that spot within your garden, talk your problems aloud to me, pausing at intervals and listening for my replies or the replies of your soul. We shall speak when the silence of the outer life and of the personality has been achieved. Keep nothing back but talk aloud to me. Do this with a listening and attentive ear and, by the May Full Moon, you may find that we may have talked the matter out, the glamour may have dissipated, the thoughtforms be destroyed and the path shine clear before your eyes.

Tôi trao cho em một bài tập đặc biệt. Hãy vào khu vườn của em hai lần mỗi tuần và gặp Tôi ở đó. Trước hết, hãy tìm ra điểm trong khu vườn mà Tôi đã từ hóa. Tại điểm ấy trong khu vườn, hãy nói những vấn đề của em thành tiếng với Tôi, thỉnh thoảng dừng lại và lắng nghe lời đáp của Tôi hay lời đáp của linh hồn em. Chúng ta sẽ nói chuyện khi đời sống bên ngoài và phàm ngã đã đạt đến sự im lặng. Đừng giữ lại điều gì, mà hãy nói thành tiếng với Tôi. Hãy làm điều này với đôi tai chăm chú lắng nghe, và đến kỳ Trăng Tròn tháng Năm, em có thể thấy rằng chúng ta đã nói cho thấu suốt vấn đề, ảo cảm có thể đã tiêu tan, những hình tư tưởng đã bị phá hủy và con đường tỏa sáng rõ ràng trước mắt em.

436. DK continues to deepen His occult approach to His chela. The garden is now to become a place where she deliberately meets the master, talking her problems aloud to him and listening for His replies.

436. Chân sư DK tiếp tục làm sâu sắc cách tiếp cận huyền bí của Ngài đối với đệ tử. Giờ đây khu vườn sẽ trở thành nơi bà chủ động gặp Chân sư, nói thành tiếng với Ngài về những vấn đề của mình và lắng nghe lời đáp của Ngài.

437. There is to be found a “magnetized spot” in the garden, specially dedicated to the task which DK now assigns. Perhaps, DK, Himself, has magnetized such a spot within the garden-thoughtform.

437. Trong khu vườn có một “điểm đã được từ hóa”, dành riêng cho nhiệm vụ mà Chân sư DK đang giao. Có lẽ chính Chân sư DK đã từ hóa một điểm như thế trong hình tư tưởng khu vườn.

438. CDP is strongly in need of the Master’s advice and, equally, of the opportunity to reveal to herself what she really thinks about a number of problems in her life.

438. CDP rất cần lời khuyên của Chân sư, và cũng cần không kém cơ hội tự khám phá xem mình thực sự nghĩ gì về một số vấn đề trong đời.

439. In this case (and it is an interesting possibility) dialogue with the Master is to aid in the destruction of the devitalizing, hindering thoughtforms.

439. Trong trường hợp này (và đây là một khả năng thú vị), việc đối thoại với Chân sư sẽ giúp phá hủy những hình tư tưởng gây suy giảm sinh lực và cản trở.

440. Soul contact will be required for the success of this exercise (but that, at least, CDP has achieved). Since the Master is to be ‘found’ upon the buddhic plane, some use of the antahkarana may also be involved.

440. Sự tiếp xúc với linh hồn là điều cần thiết để bài tập này thành công (nhưng ít nhất CDP đã đạt được điều đó). Vì Chân sư sẽ được ‘tìm thấy’ trên cõi Bồ đề, nên việc này cũng có thể bao hàm phần nào việc sử dụng antahkarana.

441. We see how strenuously DK labors to see His chela set free by the time of her passing. It is always interesting to see when, and under what circumstances, the Master seems to take unusually strong measures. It seems that it is usually when an imminent break-through is possible but is in danger of not occurring through some liability from which the disciple cannot seem to free himself/herself. We see a similar urgency occurring in relation to ISG-L in the DINA II instructions.

441. Chúng ta thấy Chân sư DK nỗ lực mãnh liệt biết bao để thấy đệ tử của Ngài được tự do trước lúc bà ra đi. Luôn thú vị khi nhận thấy vào lúc nào và trong những hoàn cảnh nào Chân sư dường như sử dụng các biện pháp mạnh mẽ khác thường. Dường như điều này thường xảy ra khi một bước đột phá sắp tới là có thể, nhưng có nguy cơ không thành vì một nhược điểm nào đó mà người đệ tử dường như không thể tự giải thoát khỏi. Chúng ta thấy sự khẩn thiết tương tự trong mối liên hệ với ISG-L qua các huấn thị trong DINA II.

May the rest and peace of consecration be yours, and my blessing rests upon you. It is not in appreciation of you that I take this time with you. Ancient karmic ties with me, your [526] Elder Brother, and the deep love which D.R.S. unchangingly bears for you are reasons adequate to me. Besides — my love is yours. We are on the same soul ray.

Cầu mong em có được sự an nghỉ và bình an của sự thánh hiến, và phúc lành của Tôi ở cùng em. Không phải vì sự quý trọng dành cho em mà Tôi dành thời gian này cho em. Những liên hệ nghiệp quả từ xa xưa với Tôi, [526] Huynh Trưởng của em, cùng tình thương sâu sắc mà D.R.S. vẫn không đổi dành cho em là những lý do đủ đối với Tôi. Hơn nữa—tình thương của Tôi thuộc về em. Chúng ta cùng chung một cung linh hồn.

442. The Master approaches this disciple in an attitude of blessing more often than He does so for others — at least the instructions lead to this conclusion.

442. Chân sư đến với người đệ tử này trong tâm thế ban phúc lành thường xuyên hơn so với những người khác — ít nhất các huấn thị dẫn đến kết luận này.

443. “Consecration” is an important term for CDP. Her garden has become a “shrine of consecration”. In this instruction, DK wishes that the peace of consecration may be hers. The realization that she is completely consecrated may bring both peace and rest.

443. “Thánh hiến” là một thuật ngữ quan trọng đối với CDP. Khu vườn của bà đã trở thành một “đền thờ thánh hiến”. Trong huấn thị này, Chân sư DK mong bà có được sự bình an của sự thánh hiến. Việc nhận ra rằng mình đã hoàn toàn thánh hiến có thể mang lại cả bình an lẫn an nghỉ.

444. The Master speaks of ancient karmic ties to CDP. Why does He do this? Surely it is a teaching-point both for her and for the other disciples. Indeed the Master has taken much time writing CDP in great detail. He explains why He has done so, revealing to us that, when He works, a Master is cognizant of the nature of His former karmic ties (though, at His stage of development, we could not say that He was “bound” by karma to CDP).

444. Chân sư nói đến những mối liên hệ nghiệp quả từ xa xưa với CDP. Tại sao Ngài làm vậy? Chắc chắn đây là một điểm giáo huấn cho cả bà lẫn những đệ tử khác. Quả thực, Chân sư đã dành nhiều thời gian viết cho CDP hết sức chi tiết. Ngài giải thích lý do mình làm vậy, cho chúng ta thấy rằng khi làm việc, một Chân sư nhận biết bản chất những mối liên hệ nghiệp quả trước kia của Ngài (dù ở giai đoạn phát triển của Ngài, chúng ta không thể nói rằng Ngài bị nghiệp quả “ràng buộc” với CDP).

445. As well, the love of Alice Bailey (DRS) for CDP is a motivating factor in DK’s choice to give her what seems like unusually close attention. DK honors the love of AAB for CDP and expends, it seems, extra effort on CDP’s behalf, partially because of that reason.

445. Đồng thời, tình thương của Alice Bailey (DRS) dành cho CDP là một yếu tố thúc đẩy Chân sư DK lựa chọn dành cho bà sự quan tâm dường như sâu sát khác thường. Chân sư DK trân trọng tình thương của AAB dành cho CDP và dường như nỗ lực thêm vì CDP, một phần vì lý do ấy.

446. As well, the note of impersonality (a necessary note for CDP) enters, as DK explains that the love He bears her comes to her (also) because they share the same soul ray — the second. “Appreciation” of CDP (as that orientation might be interpreted by the personality) is not the reason.

446. Đồng thời, âm điệu vô ngã (một âm điệu cần thiết cho CDP) xuất hiện khi Chân sư DK giải thích rằng tình thương Ngài dành cho bà đến với bà (cũng) vì hai người cùng một cung linh hồn — cung hai. Sự “quý trọng” CDP (theo cách phàm ngã có thể diễn giải thái độ ấy) không phải là lý do.

447. On can, can one not, sense the kind of ‘extra effort’ which DK seems to be making on CDP’s behalf and the rather close personal attention He offers. It is important for students of this these instructions to know the reasons for the Master’s approach. Such reasons, in sum, are: special need, karmic ties, and soul love.

447. Chẳng phải người ta có thể cảm nhận được kiểu ‘nỗ lực thêm’ mà Chân sư DK dường như đang thực hiện vì CDP, cùng sự quan tâm khá sâu sát đến cá nhân bà hay sao? Điều quan trọng đối với các đạo sinh nghiên cứu những huấn thị này là biết được lý do cho cách tiếp cận của Chân sư. Tựu trung, những lý do ấy là: nhu cầu đặc biệt, các mối liên hệ nghiệp quả và tình thương của linh hồn.

January 1940 – Tháng Một năm 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You have no particular glamour, for you live in a perfect sea of glamour. Hence the difficulty of your problem, for had you (for instance) one major glamour, as has D.E.I., it would be (for one of your devotion and mental capacity) a relatively easy thing to break down, and so walk in the light. But you have surrounded yourself with a myriad glamours of no great importance but, in their aggregate, they tend to make you walk continuously in a fog. You have the capacity to walk constantly in the light. Your glamours come to you from two sources. Your reactions to all life's happenings and to your environment are those of a superficial fluidity; it is not basic or fundamental, for your life purpose is undeflectable (is there such a word, my brother?) and your life tendency is firmly and unchangeably oriented. But in dealing with circumstance and people, you are pre-occupied with the effect this may have upon you and with your failure to handle them as should a disciple. Your inferiority complex keeps you in a state of glamour and is purely a personality reaction. As a soul, you are strong in knowledge; as a soul, you love all beings; as a soul, there are no circumstances which you cannot handle; as a soul, you can dominate dynamically your environment. But the glamour of inferiority (which is the result of numerous little glamours) controls your life expression on the physical plane, plus the second glamour of physical disability. Upon that, I will not enlarge beyond pointing out that pre-occupation with the work you could do for us, carried down from the mental level of awareness (where you always truly live in spite of many excursions on to the astral plane!) to the physical plane would release you physically.

Em không có một ảo cảm riêng biệt nào, bởi em sống trong cả một biển ảo cảm. Vì thế vấn đề của em mới khó khăn, bởi nếu em có (chẳng hạn) một ảo cảm chủ yếu như D.E.I., thì đối với một người có lòng sùng tín và năng lực trí tuệ như em, việc phá vỡ nó để bước đi trong ánh sáng sẽ tương đối dễ dàng. Nhưng em đã bao quanh mình bằng vô số ảo cảm không mấy quan trọng, song khi kết hợp lại, chúng có xu hướng khiến em liên tục bước trong sương mù. Em có khả năng luôn bước đi trong ánh sáng. Những ảo cảm của em đến từ hai nguồn. Các phản ứng của em đối với mọi biến cố cuộc đời và môi trường xung quanh mang tính linh động ở bề mặt; đó không phải điều thuộc về nền tảng hay căn bản, bởi mục đích đời em không thể bị chệch hướng (có từ nào như thế chăng, huynh đệ của tôi?) và khuynh hướng đời em đã được định hướng vững chắc, không thay đổi. Nhưng khi ứng phó với hoàn cảnh và con người, em bận tâm về ảnh hưởng mà điều ấy có thể gây ra cho mình và về việc mình chưa xử lý chúng như một đệ tử nên làm. Phức cảm tự ti giữ em trong trạng thái ảo cảm và thuần túy là một phản ứng phàm ngã. Với tư cách linh hồn, em mạnh mẽ trong tri thức; với tư cách linh hồn, em yêu thương mọi sinh linh; với tư cách linh hồn, không có hoàn cảnh nào em không thể xử lý; với tư cách linh hồn, em có thể làm chủ môi trường của mình một cách đầy uy lực. Nhưng ảo cảm tự ti (là kết quả của nhiều ảo cảm nhỏ), cùng với ảo cảm thứ hai về sự bất lực thể chất, đang chi phối sự biểu lộ đời sống của em trên cõi hồng trần. Về điều này, Tôi sẽ không nói thêm ngoài việc chỉ ra rằng sự chuyên tâm vào công việc em có thể làm cho chúng tôi, nếu được đưa từ cấp độ nhận biết trí tuệ (nơi em luôn thực sự sống, bất chấp nhiều chuyến du ngoạn sang cõi cảm dục!) xuống cõi hồng trần, sẽ giải thoát em về thể chất.

448. CDP is in an astrologically difficult period. In October of 1939 there was a solar eclipse quite closely opposite her Aries Sun-sign, and in April of 1940, a solar eclipse within a few degree of her Sun. Such eclipses (in one who is debilitated or has passed the second Saturn-return) can signal the end of the incarnation.

448. CDP đang ở trong một giai đoạn khó khăn về chiêm tinh. Tháng Mười năm 1939, có một nhật thực gần như đối vị chính xác với Mặt Trời Bạch Dương của bà; và tháng Tư năm 1940, có một nhật thực cách Mặt Trời của bà chỉ vài độ. Những nhật thực như thế (ở một người suy yếu hoặc đã qua lần Sao Thổ hồi vị thứ hai) có thể báo hiệu sự kết thúc của kiếp nhập thể.

449. Accentuating these difficulties, we find transiting Saturn conjuncting the natal Aries Sun.

449. Làm những khó khăn này thêm trầm trọng, chúng ta thấy Sao Thổ quá cảnh đồng vị với Mặt Trời Bạch Dương bản mệnh.

450. The Master is expanding on His theme and describing with considerable honesty the glamored condition in which CDP finds herself. She lives in a “perfect sea of glamour”. Neptune and Cancer can indicate the ‘ocean of glamor’ as well as the higher light (the “Sea of Light”) of the buddhic plane.

450. Chân sư đang khai triển chủ đề của Ngài và mô tả hết sức thẳng thắn tình trạng đầy ảo cảm mà CDP đang trải qua. Bà sống giữa “cả một biển ảo cảm”. Sao Hải Vương và Cự Giải có thể chỉ ‘đại dương ảo cảm’, cũng như ánh sáng cao hơn (“Biển Ánh sáng”) của cõi Bồ đề.

451. She has devotion (ray six) and mental capacity (aided by ray five), and were there simply a major glamor, it could be more easily broken.

451. Bà có lòng sùng tín (cung sáu) và năng lực trí tuệ (được cung năm hỗ trợ); nếu chỉ có một ảo cảm chủ yếu, bà có thể phá vỡ nó dễ dàng hơn.

452. It is clear, however, that she has not broken through. The Tibetan says she walks “continuously in a fog”.

452. Tuy nhiên, rõ ràng bà chưa vượt thoát. Chân sư Tây Tạng nói bà bước đi “liên tục trong sương mù”.

453. Yet as ever, He asserts her soul-strengths and still enjoins her to live as soul.

453. Tuy nhiên, như mọi khi, Ngài khẳng định những sức mạnh của linh hồn bà và vẫn khuyên bà sống như linh hồn.

“As a soul, you are strong in knowledge; as a soul, you love all beings; as a soul, there are no circumstances which you cannot handle; as a soul, you can dominate dynamically your environment.”

“Là linh hồn, em mạnh mẽ về tri thức; là linh hồn, em yêu thương mọi sinh linh; là linh hồn, không có hoàn cảnh nào em không thể xử lý; là linh hồn, em có thể làm chủ môi trường xung quanh một cách đầy năng lực.”

Master DK sees her in this far more spiritually-favorable light and hopes that she can see herself likewise, and then take action based upon the confidence which would be hers could she so see.

Chân sư DK nhìn bà dưới ánh sáng thuận lợi hơn nhiều về mặt tinh thần này và hy vọng bà có thể nhìn nhận bản thân tương tự, rồi hành động dựa trên sự tự tin mà bà sẽ có nếu nhìn nhận được như vậy.

454. In the earlier instructions, DK mentioned CDP’s tendency towards self-depreciation. Now, He openly calls it an “inferiority complex” (always a tendency in the second ray type). The sign Cancer contributes to it and so does the sixth ray.

454. Trong các huấn thị trước, Chân sư DK đã nhắc đến xu hướng tự hạ thấp mình của CDP. Giờ đây, Ngài công khai gọi đó là một “phức cảm tự ti” (luôn là một xu hướng ở người cung hai). Dấu hiệu Cự Giải góp phần tạo nên điều đó, và cung sáu cũng vậy.

455. Is it not surprising that one so rich in soul attainments should be afflicted by such personality glamors (in this case, an inferiority complex and the glamor of physical disability)? Yet, this is often the case. Inner attainments will not necessarily (or immediately) rid one of glamors of an often incapacitating nature.

455. Chẳng phải đáng ngạc nhiên sao khi một người có nhiều thành tựu linh hồn đến thế lại khổ sở vì những ảo cảm phàm ngã như vậy (trong trường hợp này là phức cảm tự ti và ảo cảm về sự bất lực thể chất)? Tuy nhiên, điều này thường xảy ra. Những thành tựu bên trong không nhất thiết (hoặc ngay lập tức) giúp người ta thoát khỏi các ảo cảm thường mang tính làm tê liệt khả năng.

456. DK gives CDP a hint for revitalization; it is applicable to us all. He states,

456. Chân sư DK gợi ý cho CDP cách phục hồi sinh lực; điều này áp dụng cho tất cả chúng ta. Ngài nói,

“that pre-occupation with the work you could do for us, carried down from the mental level of awareness . . .to the physical plane would release you physically.”

“rằng sự chuyên tâm vào công việc em có thể làm cho chúng tôi, nếu được đưa từ cấp độ nhận biết trí tuệ . . . xuống cõi hồng trần, sẽ giải phóng em về thể chất.”

457. Hierarchical work carries with it tremendous inspiration and illumination for the mind. This would offset the devitalization caused by a wrongly directed sixth ray.

457. Công việc của Thánh đoàn mang lại cảm hứng và sự soi sáng vô cùng lớn cho thể trí. Điều này sẽ hóa giải sự suy giảm sinh lực do cung sáu bị định hướng sai gây ra.

458. It would seem that there is something yet to be achieved in the area of personality integration. The united soul and mind are in a potentially luminous condition, but the alignment of personality, astral and physical bodies creates a cleavage from the more luminous aspects her nature. The eight “dedications” (eight seed-thoughts) seem intended to align the sixth ray elements of the personality and commit them to the soul — thus ending the cleavage.

458. Dường như vẫn còn điều gì đó cần đạt được trong lĩnh vực tích hợp phàm ngã. Linh hồn và thể trí hợp nhất ở trong một trạng thái tiềm tàng ánh sáng, nhưng sự chỉnh hợp của phàm ngã, thể cảm dục và thể xác tạo nên một sự chia cắt với những phương diện sáng hơn trong bản chất bà. Tám “lời hiến dâng” (tám tư tưởng hạt giống) dường như nhằm chỉnh hợp các yếu tố cung sáu của phàm ngã và hiến dâng chúng cho linh hồn — nhờ đó chấm dứt sự chia cắt.

459. Disciples have to realize the reality of the thought, “Those who wait upon the Lord shall run and shall not faint”. The potency of the higher planes is much greater than that of the lower, and when the energy of those higher worlds is carried into the lunar spheres, empowerment is the result. The initiate of the third degree (quite usually) has all the energy needed, if he can just continually access the soul (which he can do with much more facility than the probationary initiate).

459. Các đệ tử phải nhận ra thực tại của tư tưởng: “Những ai trông đợi Chúa sẽ chạy mà không ngất xỉu”. Sức mạnh của các cõi cao lớn hơn nhiều so với các cõi thấp, và khi năng lượng của những cõi cao ấy được đưa vào các khối cầu thái âm, kết quả là sự tăng cường quyền năng. Điểm đạo đồ bậc ba (khá thường xuyên) có mọi năng lượng cần thiết, chỉ cần y có thể liên tục tiếp cận linh hồn (điều y có thể làm dễ dàng hơn nhiều so với điểm đạo đồ dự bị).

460. AAB was very reasonably an initiate of the third degree. Despite her very real health problems, she worked with tremendous vitality throughout her career.

460. Có cơ sở vững chắc để cho rằng AAB là một điểm đạo đồ bậc ba. Dù có những vấn đề sức khỏe rất thực, Bà đã làm việc với sinh lực vô cùng lớn suốt sự nghiệp.

I ask you not to work as does A.A.B. who chooses with deliberation to work in our "suicide band" (as it has been laughingly called by one of M.'s group of disciples) but I would ask you to cease from the glamour of inferiority and [527] pre-occupation with details which keep you always devitalised. Enter into the joy and strength of non-frustrated service. I will know better what to say to you when I note what conclusions you come to in this connection, prior to May.

Tôi không yêu cầu em làm việc như A.A.B., người chủ tâm chọn làm việc trong “đội cảm tử” của chúng tôi (như một đệ tử trong nhóm của Chân sư M. đã gọi đùa), nhưng Tôi yêu cầu em chấm dứt ảo cảm tự ti và [527] sự bận tâm đến những chi tiết khiến em luôn suy kiệt sinh lực. Hãy bước vào sự hoan hỉ và sức mạnh của sự phụng sự không bị cản trở.Tôi sẽ biết rõ hơn phải nói gì với em khi nhận thấy những kết luận em đạt đến về điều này trước tháng Năm.

461. That humorous disciple of Master M. must almost certainly be Foster Bailey (JWK-P).

461. Người đệ tử hài hước ấy của Chân sư M. gần như chắc chắn phải là Foster Bailey (JWK-P).

462. Some may be horrified by the thought that advanced discipleship may necessitate that one joins a “suicide band” or “suicide squad”. BY the time the consciousness reaches initiate status, however, few other options are seen. The driving potency of the spiritual will becomes so irresistible that the initiate cannot and will not release himself/herself from its grip.

462. Một số người có thể kinh hãi trước ý nghĩ rằng địa vị đệ tử tiến bộ có thể đòi hỏi người ta gia nhập một “đội cảm tử” hay “biệt đội cảm tử”. Tuy nhiên, khi tâm thức đạt đến địa vị điểm đạo đồ, người ta thấy chẳng còn mấy lựa chọn khác. Sức thúc đẩy của ý chí tinh thần trở nên mãnh liệt đến mức không thể cưỡng lại, khiến điểm đạo đồ không thể và không muốn thoát khỏi sự nắm giữ của nó.

463. DK is perhaps revealing to CDP, that although she is physically distressed and fatigued, she is carrying nowhere near the burden of those who are not showing signs of incapacitating distress and fatigue.

463. Có lẽ Chân sư DK đang tiết lộ cho CDP rằng, mặc dù bà đang đau đớn và mệt mỏi về thể xác, gánh nặng bà mang vẫn còn kém xa gánh nặng của những người không biểu lộ dấu hiệu đau đớn và mệt mỏi đến mức mất khả năng hoạt động.

464. DK names causes for devitalization: the glamor of inferiority and preoccupation with detail. The glamor of inferiority holds down energies which should rise and invigorate. Preoccupation with detail also suppresses the rising fire, which has constantly to be restrained while the demands of pettiness are fulfilled.

464. Chân sư DK nêu những nguyên nhân gây suy giảm sinh lực: ảo cảm tự ti và sự bận tâm đến tiểu tiết. Ảo cảm tự ti kìm hãm những năng lượng lẽ ra phải vươn lên và tiếp thêm sức sống. Sự bận tâm đến tiểu tiết cũng đè nén ngọn lửa đang vươn lên; ngọn lửa ấy phải liên tục bị kiềm chế trong khi những đòi hỏi vụn vặt được đáp ứng.

465. DK offers tremendously inspiring advice, almost as a command: “Enter into the joy and strength of non-frustrated service”. It is clear that for various self-induced reasons, CDP lives in a condition of continual frustration. Her radiation is blocked by this frustration. The frustration, itself, has become an obstacle.

465. Chân sư DK đưa ra lời khuyên đầy cảm hứng, gần như một mệnh lệnh: “Hãy bước vào niềm hoan hỉ và sức mạnh của sự phụng sự không bị cản trở”. Rõ ràng, vì nhiều nguyên nhân do chính mình gây ra, CDP sống trong tình trạng bất mãn liên tục. Sự bất mãn này ngăn chặn sự tỏa chiếu của bà. Chính sự bất mãn đã trở thành một chướng ngại.

466. DK wants her to serve as if frustration did not exist. If she could work internally, lovingly and radiantly without attachment to results, the frustration would necessarily disappear. She would feel effective and unthwarted. He almost commands her to get rid of the sense of frustration.

466. Chân sư DK muốn bà phụng sự như thể sự bất mãn không tồn tại. Nếu bà có thể hoạt động bên trong, đầy tình thương và tỏa sáng mà không chấp trước vào kết quả, sự bất mãn tất yếu sẽ biến mất. Bà sẽ cảm thấy mình làm việc có hiệu quả và không bị ngăn trở. Ngài gần như ra lệnh cho bà loại bỏ cảm giác bất mãn.

467. We do note, however, that Saturn has been conjuncting her Sun in Aries, hence the proclivity towards frustration.

467. Tuy nhiên, chúng ta quả có lưu ý rằng Sao Thổ đã và đang đồng vị với Mặt Trời của bà trong Bạch Dương, do đó có khuynh hướng bất mãn.

468. A principle emerges: realization of our internal freedom strengthens that freedom and extends its influence to the outer planes as well.

468. Một nguyên lý hiện ra: việc nhận biết sự tự do bên trong của chúng ta củng cố sự tự do ấy và mở rộng ảnh hưởng của nó đến cả các cõi bên ngoài.

August 1940 – Tháng Tám năm 1940

I have for you the briefest message, my brother. You are today in a condition of physical distress and you, at the same time, are emerging out of a life crisis into greater surety, light, knowledge and usefulness. You have naught to do now but relinquish all anxiety and rest back upon those realities which life has convinced you exist. Of certain things you are unalterably sure — of love, courage and the soul. Use not the mind just now but simply be and let the love of all who know you, which, my brother, includes mine, flow through you; permit the courage of your soul to strengthen you. This courage is not a fighting courage or any sort of struggle to be what is called "brave." It is the courage of sure knowledge, held steadily and unquestioning in the midst of difficulty and discomfort.

Tôi có một thông điệp hết sức ngắn gọn dành cho em, huynh đệ của tôi. Hôm nay em đang trong tình trạng đau đớn về thể chất, đồng thời đang vượt ra khỏi một cuộc khủng hoảng đời sống để bước vào sự vững tin, ánh sáng, tri thức và tính hữu ích lớn lao hơn. Giờ đây em không có gì phải làm ngoài việc buông bỏ mọi lo âu và an tâm tựa vào những thực tại mà cuộc sống đã khiến em tin chắc là hiện hữu. Có những điều em tin chắc không lay chuyển—tình thương, lòng can đảm và linh hồn. Lúc này đừng dùng thể trí, mà chỉ hãy hiện tồn và để tình thương của tất cả những người biết em, trong đó, huynh đệ của tôi, có cả tình thương của Tôi, tuôn chảy qua em; hãy để lòng can đảm của linh hồn củng cố em. Lòng can đảm này không phải lòng can đảm chiến đấu hay bất kỳ sự gắng sức nào để trở thành người được gọi là “dũng cảm”. Đó là lòng can đảm của tri thức chắc chắn, được giữ vững không nghi ngờ giữa khó khăn và đau đớn.

469. This is a period following a solar eclipse on CDP’s natal sun. In two months following there will be a lunar eclipse very close to the Sun.

469. Đây là giai đoạn sau một nhật thực trên Mặt Trời bản mệnh của CDP. Hai tháng sau sẽ có một nguyệt thực ở rất gần Mặt Trời.

470. DK is brief because He seeks not to burden CDP’s distressed condition.

470. Chân sư DK nói ngắn gọn vì Ngài không muốn chất thêm gánh nặng lên tình trạng đau đớn của CDP.

471. As always, the positive side is shown. Despite the severe distress, CDP is emerging out of a life crisis into greater surety, light, knowledge and usefulness — perhaps an emergence leading to life the other side of the veil.

471. Như mọi khi, mặt tích cực được nêu ra. Bất chấp sự đau đớn trầm trọng, CDP đang thoát khỏi một cuộc khủng hoảng trong đời để bước vào sự vững tin, ánh sáng, tri thức và khả năng hữu ích lớn lao hơn — có lẽ đó là một sự vượt thoát dẫn đến cuộc sống bên kia bức màn.

472. The Master is teaching His chela release. He affirms all that is good — the realities of which she may be sure — and draws the attention away from all anxieties.

472. Chân sư đang dạy đệ tử của Ngài buông bỏ. Ngài khẳng định tất cả những gì tốt đẹp — những thực tại mà bà có thể tin chắc — và hướng sự chú ý ra khỏi mọi lo âu.

473. There are three divine aspects — being, love and intelligence. The Master emphasizes only the first two, enjoining his disciple to “simply be” and allow into her nature the love flowing towards her (including the love of the Master).

473. Có ba phương diện thiêng liêng — hiện hữu, tình thương và trí thông tuệ. Chân sư chỉ nhấn mạnh hai phương diện đầu, khuyên đệ tử của Ngài “chỉ đơn giản hiện hữu” và đón nhận vào bản chất mình tình thương đang tuôn chảy đến bà (kể cả tình thương của Chân sư).

474. A strengthening is possible — not through brave resistance, but through the “courage of sure knowledge, held steadily and unquestioning in the midst of difficulty and discomfort”.

474. Có thể được tiếp thêm sức mạnh — không phải qua sự chống chọi dũng cảm, mà qua “lòng can đảm của sự hiểu biết chắc chắn, được giữ vững và không chút hoài nghi giữa khó khăn và đau đớn”.

475. It seems there is nothing further that DK can do but offer comfort and assurance. There has been a gradual expansion of consciousness and an improvement in the ability to dissipate glamor, but the soul-intended breakthrough (so it seems) has not occurred. The hold of the sixth ray upon the incarnating soul has apparently not been broken, and, it would seem, the experience will, in some measure, have to be repeated in the next incarnation — though with the probability of a relatively early break-through based upon the lessons learned through the struggles of this incarnation.

475. Dường như Chân sư DK không thể làm gì thêm ngoài việc đem lại sự an ủi và bảo đảm. Tâm thức đã dần mở rộng và khả năng làm tiêu tan ảo cảm đã được cải thiện, nhưng bước đột phá mà linh hồn dự định (có vẻ như vậy) vẫn chưa xảy ra. Dường như sự nắm giữ của cung sáu đối với linh hồn đang nhập thể vẫn chưa bị phá vỡ, và có vẻ như trải nghiệm này, ở một mức độ nào đó, sẽ phải lặp lại trong lần lâm phàm kế tiếp — tuy có khả năng một bước đột phá sẽ xảy ra tương đối sớm, dựa trên những bài học đã học được qua những cuộc đấu tranh của lần lâm phàm này.

One thought only will I give you to repeat whene'er you are discouraged, tired or weak: "At the centre of all love I stand and naught can touch me here and from that centre I shall go forth to love and serve."

Tôi chỉ trao cho em một tư tưởng để lặp lại mỗi khi em nản lòng, mệt mỏi hay yếu đuối: “ Tôi đứng ở trung tâm của mọi tình thương, và không gì có thể chạm đến tôi nơi đây; từ trung tâm ấy, tôi sẽ bước ra để yêu thương và phụng sự.”

476. Insufficient strength remains to anything but hold the ground gained — if possible.

476. Sức lực còn lại chỉ đủ để giữ vững những gì đã đạt được — nếu có thể.

477. This mantram is a modification of the Mantram of Love. If offers assurance within the field of love, and seeks to establish CDP solidly within soul consciousness.

477. Mantram này là một biến thể của Mantram Tình Thương. Nó đem lại sự bảo đảm trong trường tình thương và tìm cách giúp CDP an trụ vững chắc trong tâm thức linh hồn.

478. We see that there is a hint contained in this mantram. Whoever wrote the final “Note” to CDP’s instructions was aware of this hint, seeing its applicability to CDP’s transfer to the inner planes.

478. Chúng ta thấy trong mantram này có một gợi ý. Người viết phần “Ghi chú” cuối các huấn thị dành cho CDP đã nhận biết gợi ý ấy, thấy nó phù hợp với sự chuyển dịch của CDP sang các cõi bên trong.

NOTE: Four months later this disciple went forth "to love and serve" on the inner side of life. Though out of the physical body, she is active in the Tibetan's Ashram.

GHI CHÚ: Bốn tháng sau, người đệ tử này đã ra đi “để yêu thương và phụng sự” ở phía bên trong của sự sống. Dù đã rời thể xác, bà vẫn hoạt động trong ashram của Chân sư Tây Tạng.

479. In the following section we learn of CDP’s beautiful work on the inner planes.

479. Trong phần tiếp theo, chúng ta biết được công việc tốt đẹp của CDP trên các cõi bên trong.

C.D.P. is working continuously with the children of the world (including those who died victims of the horrors of war), preserving inviolate her affiliation with my Ashram but working in a group composed of disciples upon all the rays and whose personalities — in their last incarnation — were upon all the many nationalities; they are doing what they can and must be done to salvage the consciousness of the children and to preserve them from complete disintegration. (DINA II 33)

C.D.P. đang liên tục làm việc với trẻ em trên thế giới (kể cả những em đã chết vì những nỗi kinh hoàng của chiến tranh), vẫn giữ nguyên vẹn mối liên kết với ashram của Tôi nhưng hoạt động trong một nhóm gồm các đệ tử thuộc mọi cung, có phàm ngã — trong lần lâm phàm cuối cùng — thuộc đủ mọi quốc tịch; họ đang làm những gì có thể và cần phải làm để cứu vãn tâm thức của trẻ em và bảo vệ các em khỏi sự tan rã hoàn toàn. (DINA II 33)

480. We note the dedication of her work on the inner planes. The Tibetan reports that she is “working continuously with the children of the world” — apparently both the living and the dead. Her loyal and devoted second and sixth rays were being put to good use.

480. Chúng ta ghi nhận sự tận tâm của bà trong công việc trên các cõi bên trong. Chân sư Tây Tạng cho biết bà đang “liên tục làm việc với trẻ em trên thế giới” — dường như cả những em còn sống lẫn những em đã qua đời. Cung hai và cung sáu trung thành, tận tụy của bà đang được vận dụng hữu ích.

481. It is a work of salvage and saviorship, requiring her great maternal instinct, her loving heart and her tremendous persistence.

481. Đó là công việc cứu vãn và cứu độ, đòi hỏi bản năng làm mẹ mạnh mẽ, trái tim đầy tình thương và sự kiên trì phi thường của bà.

482. We noted that the planet of healing, Chiron, was during the incarnation conjunct the Sun. The effects of that horoscope may well persist in the post-incarnational period.

482. Chúng ta đã lưu ý rằng hành tinh của sự chữa lành, Chiron, đã đồng vị với Mặt Trời trong lần lâm phàm ấy. Những tác động của lá số chiêm tinh đó rất có thể vẫn tiếp tục trong giai đoạn sau lâm phàm.

483. For four incarnations then, CDP has most probably had a sixth ray personality (counting the most recent incarnation as the fourth). Since the hold of the sixth ray had not been broken in that last life, the possibility exists that again, in the following incarnation, the personality ray will be the sixth.

483. Như vậy, rất có thể trong bốn lần lâm phàm, CDP đã có phàm ngã cung sáu (tính lần lâm phàm gần nhất là lần thứ tư). Vì sự nắm giữ của cung sáu chưa bị phá vỡ trong kiếp sống cuối cùng ấy, nên có khả năng trong lần lâm phàm tiếp theo, cung phàm ngã lại sẽ là cung sáu.

484. We do not yet know exactly when, in December of 1940, she died, but if it were in the first two-thirds of the month, the Sun would be in Sagittarius paving the way for a Sagittarius birth in the next incarnation. We must note (as one of my colleagues has suggested with respect to CDP) that Sagittarius is the sign through which the sixth ray is transmitted in greatest strength.

484. Chúng ta chưa biết chính xác bà qua đời vào ngày nào trong tháng Mười Hai năm 1940, nhưng nếu vào hai phần ba đầu tháng, Mặt Trời sẽ ở Nhân Mã, mở đường cho việc sinh ra dưới dấu hiệu Nhân Mã trong lần lâm phàm kế tiếp. Chúng ta phải lưu ý (như một đồng nghiệp của tôi đã gợi ý về CDP) rằng Nhân Mã là dấu hiệu qua đó cung sáu truyền đến với sức mạnh lớn nhất.

485. There is always, however, the possibility that she died in Capricorn, which would present entirely other possibilities. It is still, of course, possible to have a sixth ray personality when born in Capricorn (as in the case of LTS-K).

485. Tuy nhiên, luôn có khả năng bà qua đời khi Mặt Trời ở Ma Kết, điều này sẽ mở ra những khả năng hoàn toàn khác. Dĩ nhiên, người sinh dưới dấu hiệu Ma Kết vẫn có thể có phàm ngã cung sáu (như trường hợp LTS-K).

486. If CDP’s passing occurred in December, in Sagittarius, it would be, coincidentally, in the same month and sign as AAB’s passing in 1949. AAB and CDP were, as we know from reading AAB’s Unfinished Autobiography, very close friends.

486. Nếu CDP qua đời vào tháng Mười Hai, khi Mặt Trời ở Nhân Mã, thì thật trùng hợp, bà qua đời vào cùng tháng và cùng dấu hiệu với AAB năm 1949. Như chúng ta biết qua việc đọc Tự Truyện Chưa Hoàn Tất của AAB, AAB và CDP là những người bạn rất thân thiết.

Other References to CDP

Những Đề Cập Khác đến CDP

The problems of the etheric body will yield to treatment if the suggestions made to C.D.P. are noted and if the diet (in your case) is carefully controlled and regulated.... It is not my intention to indicate to those who work in my group the methods they should follow as regards diet. Such things differ for each individual. (DINA I 139)

Những vấn đề của thể dĩ thái sẽ đáp ứng với việc điều trị nếu em lưu ý những gợi ý đã đưa ra cho C.D.P. và nếu chế độ ăn uống (trong trường hợp của em) được kiểm soát và điều chỉnh cẩn thận.... Tôi không có ý chỉ định cho những người hoạt động trong nhóm của Tôi các phương pháp họ nên theo về chế độ ăn uống. Những điều như vậy khác nhau tùy từng cá nhân. (DINA I 139)

487. This paragraph harkens back to the advice given to CDP regarding the vitalization of the etheric spleen. Water signs are often involved in devitalization, especially the sign Cancer which does not easily specialize prana.

487. Đoạn này nhắc lại lời khuyên dành cho CDP về việc tiếp sinh lực cho lá lách dĩ thái. Các dấu hiệu hành thủy thường liên quan đến sự suy giảm sinh lực, đặc biệt là dấu hiệu Cự Giải, vốn không dễ chuyên biệt hóa prana.

Have you ever noticed that I am training you to come out of your tower of isolation, and yet at the same time I am training C.D.P. to stay up on the summit of her tower? But yours has been a tower of isolated personality, and she has had to learn (and is still learning) to create a tower of strength and of resistance to calls of a lower kind. Her tower has naught to do with the personality. Forget not, my brother, that when you have learned to leave your tower it does not mean that you must range the levels of personality life with no true direction. (DINA I 634)

Em có bao giờ nhận thấy rằng Tôi đang huấn luyện em bước ra khỏi ngọn tháp cô lập của mình, nhưng đồng thời Tôi lại huấn luyện C.D.P. ở lại trên đỉnh ngọn tháp của bạn ấy không? Nhưng ngọn tháp của em là ngọn tháp của phàm ngã cô lập, còn bạn ấy đã phải học (và vẫn đang học) cách tạo dựng một ngọn tháp của sức mạnh và khả năng chống lại những lời kêu gọi thuộc loại thấp hơn. Ngọn tháp của bạn ấy chẳng liên quan gì đến phàm ngã. Huynh đệ của tôi, đừng quên rằng khi em đã học cách rời ngọn tháp của mình, điều đó không có nghĩa là em phải lang thang qua các cấp độ của đời sống phàm ngã mà không có phương hướng đích thực. (DINA I 634)

488. DK recommended that CDP build an “ivory tower”, but noted that BSW had already built one, for entirely different reasons. CDP’s tower was erected to facilitate an escape from glamor and promote contact with the soul (as well as with the Master). BSW had built his tower for personality reasons. It reinforced (through his personality) the isolative first ray attitudes natural to his soul.

488. Chân sư DK khuyên CDP xây một “tháp ngà”, nhưng lưu ý rằng BSW đã xây một ngọn tháp như vậy vì những lý do hoàn toàn khác. Ngọn tháp của CDP được dựng lên để tạo điều kiện thoát khỏi ảo cảm và thúc đẩy sự tiếp xúc với linh hồn (cũng như với Chân sư). BSW đã xây ngọn tháp của mình vì những lý do thuộc phàm ngã. Qua phàm ngã của ông, ngọn tháp ấy củng cố những thái độ cô lập của cung một vốn tự nhiên đối với linh hồn ông.

P.D.W., though the latest to pass over, was held by the handicap of the astral body for an exceedingly brief time; he is now focussed and working in connection with my Ashram, upon the mental plane. C.D.P. is now in process of freeing herself from astral limitations, and by the time the sun moves northward she too will be working entirely mentally. They are both of them of real service to me at this time of world need, one owing to her understanding heart and utter selflessness, the other because of his outstanding wisdom. (DINA II 28)

P.D.W., dù là người qua đời gần đây nhất, chỉ bị trở ngại của thể cảm dục níu giữ trong một thời gian hết sức ngắn ngủi; hiện nay ông đang tập trung và hoạt động trong mối liên hệ với ashram của Tôi trên cõi trí. C.D.P. hiện đang trong tiến trình tự giải thoát khỏi những giới hạn cảm dục, và đến khi Mặt Trời chuyển động về phương bắc, bà cũng sẽ hoạt động hoàn toàn bằng trí tuệ. Cả hai đều thực sự phụng sự Tôi trong thời điểm thế giới đang cần được giúp đỡ này, một người nhờ trái tim thấu hiểu và sự hoàn toàn vị tha, người kia nhờ minh triết nổi bật của mình. (DINA II 28)

489. A very interesting hint is contained in the paragraph above. The group instruction from which this excerpt was taken was written in August of 1942. CDP had died probably in December of 1940. Not quite two years had elapsed. She had apparently been working for that time to free herself from “astral limitations” and would be free to work “entirely mentally” by the time the Sun would be moving northward. This would just about two years after her death.

489. Đoạn trên chứa đựng một gợi ý rất thú vị. Phần huấn thị nhóm có trích đoạn này được viết vào tháng Tám năm 1942. Có lẽ CDP đã qua đời vào tháng Mười Hai năm 1940. Chưa đầy hai năm đã trôi qua. Dường như trong thời gian ấy bà đã nỗ lực tự giải thoát khỏi những “giới hạn cảm dục” và sẽ được tự do hoạt động “hoàn toàn bằng trí tuệ” vào lúc Mặt Trời chuyển động về phương bắc. Thời điểm ấy sẽ vào khoảng hai năm sau khi bà qua đời.

490. It may not be possible to generalize about the time spent on the astral plane after death, but DK’s comments allow us to see the approximate duration in this particular instance.

490. Có lẽ không thể khái quát về thời gian lưu lại trên cõi cảm dục sau khi chết, nhưng những nhận xét của Chân sư DK cho phép chúng ta thấy được khoảng thời gian gần đúng trong trường hợp cụ thể này.

491. It is also interesting to note that DINA I was first published in 1944. That would have been at least a bit more than a year after the Sun moved northward in 1942, and probably longer. This means that when CDP was doing all that work with the consciousness of children, she would have been working from the mental plane — presumably not exclusively upon the higher mental plane.

491. Cũng thú vị khi lưu ý rằng DINA I xuất bản lần đầu vào năm 1944. Như vậy, đó là ít nhất hơn một năm sau khi Mặt Trời chuyển động về phương bắc năm 1942, và có lẽ còn lâu hơn. Điều này có nghĩa là khi CDP thực hiện tất cả công việc ấy với tâm thức của trẻ em, bà hẳn đã hoạt động từ cõi trí — có lẽ không chỉ riêng trên cõi thượng trí.

492. If, therefore, we wish to know the plane upon which those who have ‘transitioned’ may continue their work in affiliation with the Ashram (as CDP and PDW) were doing after their deaths, it is very probably the mental plane, after a greater or lesser time spent freeing themselves from astral limitations. Probably CDP — because of her proposedly Cancerian nature and her tremendous sixth ray (itself correlated with the astral plane) — spent longer in the astral worlds than other types of disciples might. “Forty-days” of “wandering in the wilderness” is the time symbolically assigned for working one’s way through the astral plane, though that number is largely symbolic.

492. Do đó, nếu chúng ta muốn biết những người đã “chuyển tiếp” có thể tiếp tục công việc của mình trong mối liên kết với ashram trên cõi nào (như CDP và PDW đã làm sau khi qua đời), thì rất có thể đó là cõi trí, sau một thời gian dài hay ngắn tự giải thoát khỏi những giới hạn cảm dục. Có lẽ CDP — do bản chất Cự Giải được giả định của bà và cung sáu hết sức mạnh mẽ (vốn cũng tương ứng với cõi cảm dục) — đã lưu lại trong các cõi cảm dục lâu hơn những kiểu đệ tử khác. “Bốn mươi ngày” “lang thang trong hoang địa” là thời gian được ấn định theo nghĩa biểu tượng cho việc vượt qua cõi cảm dục, mặc dù con số ấy phần lớn mang tính biểu tượng.

493. From the more psychological perspective,, we note DK speaking of CDP in glowing terms for her “understanding heart and utter selflessness”. One has the impression that this utter selflessness will be responsible for her very rapid progress once she has freed herself from personality ties to near ones.

493. Từ góc nhìn thiên về tâm lý học hơn, chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về CDP bằng những lời ca ngợi “trái tim thấu hiểu và sự hoàn toàn vị tha” của bà. Người ta có ấn tượng rằng chính sự hoàn toàn vị tha này sẽ giúp bà tiến bộ rất nhanh một khi bà đã tự giải thoát khỏi những ràng buộc phàm ngã với những người thân cận.

So, my brothers, we face a new cycle of work and one in which C.D.P. and P.D.W. — working on the inner side of life — are definitely sharing. (DINA II 33)

Vì vậy, các huynh đệ của Tôi, chúng ta đứng trước một chu kỳ hoạt động mới, trong đó C.D.P. và P.D.W. — đang hoạt động ở phía bên trong của sự sống — chắc chắn cùng tham gia. (DINA II 33)

494. This paragraph confirms that the continuity of group participation is not broken by death.

494. Đoạn này xác nhận rằng cái chết không làm gián đoạn sự tham gia liên tục vào nhóm.

It is valuable to note a most significant point of interest: All those who passed through the gates of death passed to a [93] definitely closer relationship; they had earned this reward and have availed themselves of that which I had taught them. They are, as you know, C.D.P., K.E.S., D.P.R. (DINA II 92-93)

Thật hữu ích khi lưu ý một điểm hết sức có ý nghĩa: Tất cả những người đã bước qua cánh cổng tử đều đã bước vào một [93] mối quan hệ chắc chắn gần gũi hơn; họ đã xứng đáng nhận phần thưởng này và đã tận dụng những điều Tôi dạy họ. Như các bạn biết, đó là C.D.P., K.E.S., D.P.R. (DINA II 92-93)

495. In fact, we see that those group members who have passed over are involved in a “definitely closer relationship”. The post-incarnational state is, if anything, more potent for service and more rewarding.

495. Quả thật, chúng ta thấy những thành viên nhóm đã qua đời đang ở trong một “mối quan hệ chắc chắn gần gũi hơn”. Nếu có gì khác biệt, thì trạng thái sau lâm phàm còn có tiềm năng phụng sự mạnh mẽ hơn và đem lại nhiều thành quả hơn.

To D.I.J. DK say.: Two there are upon the inward way whom you must carry in your heart and seek to reach. C.D.P. is one; the other is more easily attained. (DINA II 688)

Chân sư DK nói với D.I.J.: Có hai người trên con đường hướng nội mà em phải ôm giữ trong tim và tìm cách tiếp cận. C.D.P. là một người; người kia dễ tiếp cận hơn. (DINA II 688)

496. This little sentence is important as it emphasizes that DK often asked his certain disciples to help certain other disciples — psychologically and spiritually.

496. Câu ngắn này rất quan trọng vì nhấn mạnh rằng Chân sư DK thường yêu cầu một số đệ tử của Ngài giúp đỡ những đệ tử khác — về mặt tâm lý và tinh thần.

497. A Few Points re “My Garden”

497. Một Vài Điểm về “Khu Vườn của Tôi”

498. The whole description of the garden has the quality of purity induced by a high sixth ray attitude. It is a “high and fair plateau”.

498. Toàn bộ phần mô tả khu vườn mang phẩm tính thanh khiết do một thái độ cung sáu cao cả khơi dậy. Đó là một “cao nguyên cao và đẹp”.

499. There is great precision and concretion of description, especially of the various kinds of flowers. The exactitude of the fifth ray mind is evident.

499. Sự mô tả hết sức chính xác và cụ thể, đặc biệt về các loài hoa khác nhau. Tính chính xác của thể trí cung năm thể hiện rõ ràng.

500. We also note the use of exact numbers: fourteen feet, fifteen feet, twenty-five feet. Such descriptions are also evidences of the fifth ray at work.

500. Chúng ta cũng lưu ý việc sử dụng những con số chính xác: mười bốn bộ, mười lăm bộ, hai mươi lăm bộ. Những mô tả như vậy cũng là bằng chứng cho thấy cung năm đang hoạt động.

501. The keynotes of the garden seem to be “Peace, Rest and Service” — a bend of second and sixth ray qualities.

501. Các chủ âm của khu vườn dường như là “Bình An, Nghỉ Ngơi và Phụng Sự” — sự hòa trộn những phẩm tính của cung hai và cung sáu.

502. While CDP has no fourth ray in her actual ray formula, her sixth ray is “devoted to beauty and colour and all things lovely” (EP I 209) and obviously contributes to her descriptions of the garden’s beauty.

502. Tuy CDP không có cung bốn trong công thức cung thực tế của mình, cung sáu của bà “tận hiến cho vẻ đẹp, màu sắc và mọi điều đẹp đẽ” (EP I 209) và hiển nhiên góp phần vào những mô tả của bà về vẻ đẹp khu vườn.

503. One senses coolness, clarity, purity — qualities which lift above the heated turmoil of the astral plane. One senses that this refuge is not far from the “clear cold light”.

503. Người ta cảm nhận sự mát mẻ, trong trẻo, thanh khiết — những phẩm tính nâng con người lên trên sự náo động nóng bỏng của cõi cảm dục. Người ta cảm thấy nơi nương náu này không xa “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo”.

504. In the last paragraph we read that she has planted certain kinds of flowers for “childhood memory”. Then still more flowers, again for memory. This seems to reinforce the importance of the sign Cancer. Perhaps her Venus (planet of flowers) in Cancer is finding expression through the creation of her garden.

504. Trong đoạn cuối, chúng ta đọc thấy bà đã trồng một số loài hoa vì “ký ức tuổi thơ”. Rồi lại thêm nhiều hoa nữa, cũng vì ký ức. Điều này dường như củng cố tầm quan trọng của dấu hiệu Cự Giải. Có lẽ Sao Kim của bà (hành tinh của các loài hoa) trong Cự Giải đang tìm được cách biểu lộ qua việc tạo dựng khu vườn.

MY GARDEN

KHU VƯỜN CỦA TÔI