← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

Commentary on Instruction to FCD – Bình giảng Huấn thị dành cho FCD

Trích nội dung chương

1. The meaning of the ‘Developmental Formula’, “FCD”, is “Freedom from Ties”, “Chelaship” and “Detachment. We note that “Freedom from Ties” is placed in italics for emphasis and thus it was the most important developmental keynote. 1. Ý nghĩa của ‘Công thức Phát triển’ “FCD” là “Tự do khỏi những Ràng buộc”, “Địa vị Đệ tử” và “Sự Tách rời”. Chúng ta lưu ý rằng “Tự do khỏi những Ràng buộc” được in nghiêng để nhấn mạnh, và do đó đây là chủ âm phát triển quan trọng nhất.


Commentary on Instruction to FCD – Bình giảng Huấn thị dành cho FCD

1. The meaning of the ‘Developmental Formula’, “FCD”, is “Freedom from Ties”, “Chelaship” and “Detachment. We note that “Freedom from Ties” is placed in italics for emphasis and thus it was the most important developmental keynote.

1. Ý nghĩa của ‘Công thức Phát triển’ “FCD” là “Tự do khỏi những Ràng buộc”, “Địa vị Đệ tử” và “Sự Tách rời”. Chúng ta lưu ý rằng “Tự do khỏi những Ràng buộc” được in nghiêng để nhấn mạnh, và do đó đây là chủ âm phát triển quan trọng nhất.

2. FCD was Dr. Roberto Assagioli, an important Italian psychiatrist who founded Psychosynthesis—a system of psychological analysis, synthesis and therapy which is best understood within the context of Transpersonal Psychology—the “fourth force” in the modern psychological science. He was also an early pioneer in the popularization of Freud’s Psychoanalysis.

2. FCD là Tiến sĩ Roberto Assagioli, một bác sĩ tâm thần người Ý có tầm ảnh hưởng, người sáng lập ngành Tổng hợp Tâm lý—một hệ thống phân tích, tổng hợp và trị liệu tâm lý mà chúng ta có thể thấu hiểu rõ nhất trong bối cảnh Tâm lý học Siêu cá nhân—“mãnh lực thứ tư” trong khoa học tâm lý hiện đại. Ông cũng là một trong những người tiên phong thời kỳ đầu trong việc phổ biến Phân tâm học của Freud.

3. Roberto Assagioli is the author of two major books, The Act of Will, and the Psychosynthesis Manual, as well as numerous articles and monographs. Ever seeking anonymity in relation to his esoteric interests, he also wrote (under pseudonyms) books on the Seven Rays and Esoteric Astrology.

3. Roberto Assagioli là tác giả của hai cuốn sách lớn, Hành động của Ý chí, và Cẩm nang Tổng hợp Tâm lý, cùng nhiều bài viết và chuyên khảo. Vì luôn muốn giữ kín danh tính trong những hoạt động liên quan đến các mối quan tâm huyền bí của mình, ông cũng dùng bút danh để viết các sách về Bảy Cung và Chiêm Tinh Học Nội Môn.

4. Roberto Assagioli, FCD, was one of the more advanced disciples who worked with the Tibetan as He attempted to establish various specialized groups of servers for the purpose of world redemption. FCD’s deeply esoteric roots have been emerging into the light in recent years. A pioneer in the field of the new psychology, he derived much strength and guidance from his association with the Inner Ashram and as a result of his chelaship under the supervision of Master DK. His true Master, however, was the Master KH.

4. Roberto Assagioli, FCD, là một trong những đệ tử tiến hóa hơn đã cộng tác với Chân sư Tây Tạng khi Ngài nỗ lực thành lập nhiều nhóm người phụng sự chuyên biệt nhằm cứu chuộc thế gian. Trong những năm gần đây, cội nguồn huyền bí sâu xa của FCD đã dần được đưa ra ánh sáng. Là người tiên phong trong lĩnh vực tâm lý học mới, ông nhận được nhiều sức mạnh và sự hướng dẫn từ mối liên hệ với Ashram bên trong và từ địa vị đệ tử của mình dưới sự giám sát của Chân sư DK. Tuy nhiên, Chân sư thực sự của ông là Chân sư KH.

5. FCD’s rays were 24-127: a second ray soul, a fourth ray personality, a first ray mind, a second ray astral vehicle and a seventh ray etheric-physical vehicle.

5. Các cung của FCD là 24-127: linh hồn cung hai, phàm ngã cung bốn, thể trí cung một, hiện thể cảm dục cung hai và hiện thể dĩ thái–hồng trần cung bảy.

6. The birth data for Dr. Assagioli rectified by Elena Dramchini from the frequently given time of twelve noon is as follows: February 27, 1888, Florence, Italy, 12:12:29 pm, CET (note that true local time is not used in this rectification). She calculates an Ascendant of 0 Cancer 27 and 4 Pisces 13 on the Midheaven.

6. Dữ liệu sinh của Tiến sĩ Assagioli, do Elena Dramchini hiệu chỉnh từ giờ sinh mười hai giờ trưa thường được nêu, như sau: ngày 27 tháng 2 năm 1888, Florence, Ý, 12:12:29 chiều, giờ Trung Âu (lưu ý rằng lần hiệu chỉnh này không sử dụng giờ địa phương thực). Bà tính được Điểm mọc ở 0° Cự Giải 27′ và Thiên Đỉnh ở 4° Song Ngư 13′.

7. The chart derived by ED is as follows:

7. Lá số do ED lập như sau:

8. In the Astro-Databank of Lois Rodden, an AA horoscope (“AA” is the highest rating for accuracy) is given for 11:59 am , yielding an Ascendant of 02º Can24’, with Geocentric Latitude Correction (02º Can 34’ without Geocentric Latitude Correction).We note that the place of birth given by Rodden is Venice , indicating that Florence is not the proper place of birth. This confusion arose because of an interview with someone who knew Roberto Assagioli well. This individual gave Florence as the place of birth. However, a certain Mr. “Bordini” presented Assagioli’s birth certificate to Lois Rodden. The chart derived is as follows.

8. Trong cơ sở dữ liệu chiêm tinh của Lois Rodden, một lá số được xếp hạng AA (“AA” là mức xếp hạng cao nhất về độ chính xác) được lập cho 11:59 sáng , cho Điểm mọc ở 02° Cự Giải 24′, có hiệu chỉnh vĩ độ địa tâm (02° Cự Giải 34′ không có hiệu chỉnh vĩ độ địa tâm). Chúng ta lưu ý rằng nơi sinh do Rodden nêu là Venice , cho thấy Florence không phải là nơi sinh đúng. Sự nhầm lẫn này nảy sinh từ một cuộc phỏng vấn với người biết rõ Roberto Assagioli. Người này nêu Florence là nơi sinh. Tuy nhiên, một ông tên “Bordini” đã đưa giấy khai sinh của Assagioli cho Lois Rodden. Lá số được lập như sau.

9. The astrologer Niklas Nihlen worked independently on rectifying the chart of FCD and determined to his satisfaction that the time should be 12:03 LMT, Venice , Italy . The chart derived by NN is as follows:

9. Nhà chiêm tinh Niklas Nihlen đã độc lập hiệu chỉnh lá số của FCD và xác định, theo kết quả mà ông thấy thỏa đáng, rằng giờ sinh phải là 12:03 giờ trung bình địa phương, Venice , Ý . Lá số do NN lập như sau:

In this chart we note the slightly later Ascending degree and Midheaven.

Trong lá số này, chúng ta lưu ý độ số của Điểm mọc và Thiên Đỉnh hơi muộn hơn.

10. We must note that for these various charts, slightly different adjustments for true local time (TLT) are used and, accordingly, there will be slight discrepancies. Such discrepancies are rather negligible in the work we are doing. Only for the closest work in timing would they be significant, and we lack sufficient external data on the life of FCD to make such close work really possible.

10. Chúng ta phải lưu ý rằng các lá số này sử dụng những điều chỉnh hơi khác nhau đối với giờ địa phương thực, vì thế sẽ có những sai biệt nhỏ. Những sai biệt ấy hầu như không đáng kể đối với công việc chúng ta đang làm. Chúng chỉ có ý nghĩa khi xác định thời điểm với độ chính xác cao nhất, mà chúng ta lại thiếu dữ liệu ngoại tại đầy đủ về cuộc đời FCD để thực sự có thể thực hiện công việc tỉ mỉ đến vậy.

11. For the kind of work we are doing (i.e., analyzing the personal instructions given by the Tibetan to FCD), we are within an acceptable range of accuracy. As we proceed through the chart and the instructions, we will see which if any of the various charts proposed (four charts) comes closest to accuracy.

11. Đối với loại công việc chúng ta đang làm (tức là phân tích những huấn thị riêng mà Chân sư Tây Tạng dành cho FCD), chúng ta đang ở trong phạm vi chính xác có thể chấp nhận được. Khi lần lượt xem xét lá số và các huấn thị, chúng ta sẽ thấy lá số nào, nếu có, trong số những lá số được đề xuất (bốn lá số) đạt gần nhất với độ chính xác.

12. The important features of this chart are the early Cancer Ascendant, the Sun in Pisces and the Moon in Virgo. Mercury is retrograde in Pisces, Venus is placed in Aquarius and Mars has just entered Scorpio. Jupiter is in Sagittarius, Saturn retrograde in the first degree of Leo, Uranus in Libra, and Neptune conjunct Pluto in Gemini.

12. Những đặc điểm quan trọng của lá số này là Điểm mọc ở đầu Cự Giải, Mặt Trời ở Song Ngư và Mặt Trăng ở Xử Nữ. Sao Thủy nghịch hành ở Song Ngư, Sao Kim ở Bảo Bình và Sao Hỏa vừa đi vào Hổ Cáp. Sao Mộc ở Nhân Mã, Sao Thổ nghịch hành ở độ đầu tiên của Sư Tử, Sao Thiên Vương ở Thiên Bình, và Sao Hải Vương đồng vị Sao Diêm Vương ở Song Tử.

13. An astrologically detailed analysis of FCD’s chart vis-à-vis the personal instructions to him will be given by Elena Dramchini in an accompanying document. This analysis presented in this document has a different and more general purpose and, accordingly, the astrological work will be less exacting.

13. Elena Dramchini sẽ trình bày trong một tài liệu đi kèm bản phân tích chiêm tinh chi tiết về lá số của FCD, đối chiếu với những huấn thị riêng dành cho ông. Bản phân tích trình bày trong tài liệu này có một mục đích khác, khái quát hơn; vì vậy, việc phân tích chiêm tinh sẽ ít đòi hỏi sự chính xác tỉ mỉ hơn.

14. A few important immediate features of the astrological chart are as follows:

14. Một vài đặc điểm quan trọng có thể nhận thấy ngay trong lá số chiêm tinh như sau:

a. The Cancer Ascendant shows the close ties which FCD experienced throughout his life, and points to the first term in his ‘Developmental Formula’—“Freedom from Ties”. As well, his great tendency to guard, cherish, protect, and to express sheltering love is related to the Cancerian energy—at once a great asset and also a liability to one so prominently upon the second ray. The Cancer Ascendant is also related to the necessity for the third term of the ‘Developmental Formula’—“Detachment”.

a. Điểm mọc Cự Giải cho thấy những mối ràng buộc chặt chẽ mà FCD đã trải nghiệm suốt đời, đồng thời chỉ đến yếu tố thứ nhất trong ‘Công Thức Phát Triển’ của ông—“Tự Do Khỏi Những Ràng Buộc”. Khuynh hướng mạnh mẽ của ông trong việc gìn giữ, nâng niu, bảo vệ và biểu lộ tình thương chở che cũng liên quan đến năng lượng Cự Giải—vừa là một ưu thế lớn, vừa là một bất lợi đối với người chịu ảnh hưởng nổi trội của cung hai đến vậy. Điểm mọc Cự Giải cũng liên quan đến sự cần thiết của yếu tố thứ ba trong ‘Công Thức Phát Triển’—“Tách Rời”.

b. The Sun in Pisces contributes to FCD’s compassion, unusual depth of understanding, psychological skill and “pervasiveness of wisdom” (EA 136). Placed conjuncting the MC, the Sun demonstrates the distinctiveness FCD achieved in his career as a prominent psychiatrist and psychotherapist. This position (in relation to house ten—a significant number of initiation) may also have relevance to his acknowledged status as a “pledged initiate-disciple” (DINA II 465)

b. Mặt Trời ở Song Ngư góp phần tạo nên lòng từ bi, chiều sâu thấu hiểu khác thường, kỹ năng tâm lý và “tính thấm nhuần của minh triết” nơi FCD (EA 136). Nằm đồng vị với Thiên Đỉnh, Mặt Trời cho thấy sự nổi bật mà FCD đạt được trong sự nghiệp với tư cách một bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý trị liệu danh tiếng. Vị trí này (trong mối liên hệ với nhà mười—một con số có ý nghĩa đối với điểm đạo) cũng có thể liên quan đến địa vị được thừa nhận của ông là một “đệ tử–điểm đạo đồ đã phát nguyện” (DINA II 465)

c. The Moon in Virgo confers practicality and an innate understanding of the healing arts. It contributes to his life demonstration as a humble servant of the Ashram despite his prominence in the worlds of psychiatry and psychology.

c. Mặt Trăng ở Xử Nữ ban cho ông tính thực tiễn và sự thấu hiểu bẩm sinh về các nghệ thuật chữa lành. Vị trí này góp phần giúp ông thể hiện trong cuộc sống vai trò người phụng sự khiêm nhường của Ashram, dù ông nổi bật trong các lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học.

d. Mercury retrograde in Pisces contributes to his power of imagination, so prominent in the techniques of “Psychosynthesis”—the school of psychology which he founded. The retrogradation signals, in his case, the originality and self-reliance of his mind

d. Sao Thủy nghịch hành ở Song Ngư góp phần tạo nên năng lực tưởng tượng của ông, vốn nổi bật trong các kỹ thuật “Tâm Lý Tổng Hợp”—trường phái tâm lý học do ông sáng lập. Trong trường hợp của ông, sự nghịch hành biểu thị tính độc đáo và khả năng tự chủ của thể trí ông

e. Venus in Aquarius confers his ability to evoke the soul of the several groups and organizations he originated. He is said to have played a prominent part in the founding of Meditation Mount in Ojai California, and of course, of numerous Psychosynthesis Institutes.

e. Sao Kim ở Bảo Bình ban cho ông khả năng gợi lên linh hồn của nhiều nhóm và tổ chức do ông khởi lập. Người ta nói rằng ông đã đóng vai trò nổi bật trong việc thành lập Núi Tham Thiền tại Ojai, California, và dĩ nhiên, trong việc thành lập nhiều Viện Tâm Lý Tổng Hợp.

f. Mars in Scorpio speaks of his own struggles with his instinctual nature, and his determination to achieve victory over the same. It may also demonstrate the loss of his son, Ilario (when Ilario was still a young man) and FCD’s suffering over this loss. Mars is placed in the fifth house of “children” as is Uranus.

f. Sao Hỏa ở Hổ Cáp nói lên những cuộc đấu tranh của chính ông với bản chất bản năng của mình, cùng quyết tâm chiến thắng bản chất ấy. Vị trí này cũng có thể cho thấy việc ông mất người con trai Ilario (khi Ilario còn trẻ) và nỗi đau khổ của FCD trước mất mát này. Sao Hỏa nằm trong nhà năm của “con cái”, cũng như Sao Thiên Vương.

g. Jupiter in Sagittarius contributes to his “avidity for knowledge and information”, his foresight and the vast perspective of his mind. Placed in the sixth house and arm of the chart, this position adds the ingredient of philosophical wisdom to his psychotherapeutic approaches. It also promoted his tireless pursuit of esoteric wisdom, and, increasingly, his international (Sagittarius) influence.

g. Sao Mộc ở Nhân Mã góp phần tạo nên “lòng khao khát tri thức và thông tin”, khả năng nhìn xa và tầm nhìn bao quát của thể trí ông. Nằm ở nhà sáu và nhánh thứ sáu của lá số, vị trí này bổ sung yếu tố minh triết triết học vào các phương pháp tâm lý trị liệu của ông. Nó cũng thúc đẩy ông không mệt mỏi theo đuổi minh triết huyền bí và ngày càng mở rộng ảnh hưởng quốc tế (Nhân Mã) của mình.

h. Saturn in first ray Leo is one of the first ray combinations in the chart; it is useful in the regulation of the lower ego (Leo), and its trine to Jupiter (and its contraparallel to Jupiter) contribute to his emphasis upon the structured integration and synthesis of the human energy system.

h. Sao Thổ ở Sư Tử cung một là một trong những tổ hợp cung một của lá số; tổ hợp này hữu ích trong việc điều tiết phàm ngã (Sư Tử), còn góc tam hợp của Sao Thổ với Sao Mộc (và thế đối song song xích vĩ của nó với Sao Mộc) góp phần khiến ông nhấn mạnh sự tích hợp có cấu trúc và sự tổng hợp hệ thống năng lượng con người.

i. This Saturn position also shows the conditions of privation which he was forced to experience at various points in his life, especially during the Second World War when his life was frequently in danger.

i. Vị trí này của Sao Thổ cũng cho thấy những hoàn cảnh thiếu thốn mà ông buộc phải trải qua vào nhiều thời điểm trong đời, đặc biệt trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi tính mạng ông thường xuyên gặp nguy hiểm.

j. Chiron in Gemini in the twelfth house of healing adds to his power as a healer of mind and emotions. We remember that the Centaur Chiron directed Hercules on his quest for the Golden Apples of the Hesperides; this occurred in the Gemini Labor of Hercules.

j. Chiron ở Song Tử trong nhà mười hai của sự chữa lành làm tăng năng lực của ông với tư cách người chữa lành thể trí và cảm xúc. Chúng ta nhớ rằng nhân mã Chiron đã hướng dẫn Hercules trong hành trình tìm những Quả Táo Vàng của các Hesperides; điều này diễn ra trong kỳ công Song Tử của Hercules.

k. The Pluto/Neptune conjunction, also in the twelfth house, is a potent combination for deep psychological therapy and the destruction (Pluto) of glamor (Neptune). This conjunction contributes to his rare and penetrating insight into the human psyche. Among his other accomplishments, FCD was acknowledged as a “depth psychologist”—one deeply concerned with the dynamics of the subconscious (and, in his case, the superconscious) psyche. This conjunction is a key significator of his profound approach to psychological understanding and therapy. It also helped to fashion him as an early advocate of Psychoanalysis.

k. Góc đồng vị Sao Diêm Vương/Sao Hải Vương, cũng nằm trong nhà mười hai, là một tổ hợp mạnh mẽ cho trị liệu tâm lý chiều sâu và việc phá hủy (Sao Diêm Vương) ảo cảm (Sao Hải Vương). Góc đồng vị này góp phần tạo nên khả năng thấu suốt hiếm có và sâu sắc của ông về tâm lý con người. Bên cạnh những thành tựu khác, FCD được thừa nhận là một “nhà tâm lý học chiều sâu”—người quan tâm sâu sắc đến động lực của tâm lý tiềm thức (và, trong trường hợp của ông, cả tâm lý siêu thức). Góc đồng vị này là một chỉ báo then chốt cho cách tiếp cận sâu sắc của ông trong việc thấu hiểu và trị liệu tâm lý. Nó cũng góp phần định hình ông thành một người sớm ủng hộ Phân Tâm Học.

l. We find Uranus placed in Libra, the position of its esoteric rulership. Accompanying Mars in the fifth house, it may have contributed to the sad experiences surrounding the death of his son. On a higher turn of the spiral, this position signaled creativity of an unusual and unsuspected kind. It also shows him to be an innovator in the field of understanding human identity and self-expression.

l. Chúng ta thấy Sao Thiên Vương nằm ở Thiên Bình, vị trí mà hành tinh này cai quản về mặt nội môn. Cùng với Sao Hỏa trong nhà năm, nó có thể đã góp phần vào những trải nghiệm đau buồn quanh cái chết của con trai ông. Trên một vòng xoắn cao hơn, vị trí này báo hiệu khả năng sáng tạo khác thường và bất ngờ. Nó cũng cho thấy ông là người đổi mới trong lĩnh vực thấu hiểu bản sắc con người và sự tự biểu đạt.

m. We find the second ray signs strongly accented, with the Sun in second ray Pisces, the Moon in second ray Virgo, and Chiron and Pluto in second ray Gemini.

m. Chúng ta thấy các dấu hiệu cung hai được nhấn mạnh rõ rệt, với Mặt Trời ở Song Ngư cung hai, Mặt Trăng ở Xử Nữ cung hai, cùng Chiron và Sao Diêm Vương ở Song Tử cung hai.

n. Although the sixth ray is not found in his ray makeup in the incarnation under discussion, it is astrologically ‘delivered’ through the Sun in sixth ray Pisces, the Moon in sixth ray Virgo and Jupiter (planet of the second ray) places in sixth ray Sagittarius. Second ray Jupiter is FCD’s “soul-ray ruler”, placed in a sign transmitting the sixth, fifth and fourth rays, in a house associated with discipleship, health and labor.

n. Mặc dù cung sáu không có trong cấu tạo cung của ông ở kiếp sống đang được bàn đến, về mặt chiêm tinh, nó được ‘truyền đến’ qua Mặt Trời ở Song Ngư cung sáu, Mặt Trăng ở Xử Nữ cung sáu và Sao Mộc (hành tinh cung hai) nằm ở Nhân Mã cung sáu. Sao Mộc cung hai là “chủ tinh cung linh hồn” của FCD, nằm trong một dấu hiệu truyền dẫn các cung sáu, năm và bốn, tại một nhà gắn với địa vị đệ tử, sức khỏe và lao động.

o. Each of the three fourth ray signs, correlated with his fourth ray personality, is tenanted. Jupiter is placed in fourth ray Sagittarius, Mars in fourth ray Scorpio, and Neptune, a critical ruling planet (esoterically and hierarchically of his Cancer Ascendant, and, in a special manner, of his Pisces Sun-sign) in fourth ray Taurus.

o. Cả ba dấu hiệu cung bốn, tương ứng với phàm ngã cung bốn của ông, đều có hành tinh cư ngụ. Sao Mộc nằm ở Nhân Mã cung bốn, Sao Hỏa ở Hổ Cáp cung bốn, và Sao Hải Vương, một hành tinh cai quản then chốt (về mặt nội môn và huyền giai đối với Điểm mọc Cự Giải của ông, và theo một cách đặc biệt, đối với dấu hiệu Mặt Trời Song Ngư của ông), ở Kim Ngưu cung bốn.

p. The fifth ray signs are also astrologically delivered through Jupiter in fifth ray Sagittarius, fifth ray Venus in fifth ray Aquarius and Saturn in fifth ray Leo.

p. Các dấu hiệu cung năm cũng được truyền đến về mặt chiêm tinh qua Sao Mộc ở Nhân Mã cung năm, Sao Kim cung năm ở Bảo Bình cung năm và Sao Thổ ở Sư Tử cung năm.

q. As FCD was an “initiate-disciple”, the hierarchical rulers of the Ascendant, Sun and MC may be appropriately used. These rulers are Pluto (hierarchical ruler of the Pisces Sun and MC) and Neptune (hierarchical ruler of the Cancer Ascendant). Their conjunction in the twelfth house of therapy and of the unconscious and super-conscious mind, is unusually potent.

q. Vì FCD là một “đệ tử–điểm đạo đồ”, việc sử dụng các chủ tinh huyền giai của Điểm mọc, Mặt Trời và Thiên Đỉnh là thích hợp. Các chủ tinh này là Sao Diêm Vương (chủ tinh huyền giai của Mặt Trời và Thiên Đỉnh ở Song Ngư) và Sao Hải Vương (chủ tinh huyền giai của Điểm mọc Cự Giải). Góc đồng vị của hai hành tinh này trong nhà mười hai của trị liệu và của thể trí vô thức cùng siêu thức, có sức mạnh khác thường.

r. If, as one may suspect with reason, that FCD’s monadic ray was principally the second, then the point opposite the Sun-sign, Virgo, is to be considered the “monadic point” and the hierarchical ruler of Virgo is seen to be second ray Jupiter in the sixth house and arm of service. FCD would, then, have the same monadic and souls rays, and Jupiter would be the significator of both.

r. Nếu, như người ta có thể có lý do để suy đoán, cung chân thần của FCD chủ yếu là cung hai, thì điểm đối diện dấu hiệu Mặt Trời, Xử Nữ, cần được xem là “điểm chân thần”, và có thể thấy chủ tinh huyền giai của Xử Nữ là Sao Mộc cung hai trong nhà sáu và nhánh thứ sáu của phụng sự. Khi đó, FCD sẽ có cùng cung chân thần và cung linh hồn, và Sao Mộc sẽ là hành tinh chỉ báo cho cả hai.

s. Jupiter’s position (square to the Pisces Sun and MC) is important as it indicates FCD (from the soul perspective and perhaps monadically) as one of those commissioned to help externalize the second ray Ashram.

s. Vị trí của Sao Mộc (tạo góc vuông với Mặt Trời và Thiên Đỉnh ở Song Ngư) rất quan trọng, vì nó cho thấy FCD (từ góc nhìn linh hồn và có lẽ cả chân thần) là một trong những người được giao nhiệm vụ hỗ trợ ngoại hiện Ashram cung hai.

15. One or two physiognomical comments may be in place:

15. Có thể đưa ra một vài nhận xét về diện mạo:

a. It is clear from the beautiful and benign expression on his face that the second ray of love-wisdom radiates through the physiognomy of FCD—especially in the later portraits.

a. Qua vẻ mặt đẹp đẽ và nhân từ của ông, rõ ràng cung hai Bác Ái – Minh Triết tỏa chiếu qua diện mạo FCD—đặc biệt trong những bức chân dung về sau.

b. One also finds the bowed-nose frequently found when Pisces is prominent (though the tip of the nose reflects a form common to Virgo, his Moon sign and prominent as the orthodox ruler of the Cancer Ascendant). This bowing of the nose may correlate to the powerful presence of Neptune and may not be so prominent is the other two decanates. FCD is born in the first decanate of Pisces ruled, according to the Tibetan, by Jupiter.

b. Người ta cũng nhận thấy sống mũi cong thường gặp khi Song Ngư nổi trội (dù chóp mũi phản ánh một hình dạng thường thấy ở Xử Nữ, dấu hiệu Mặt Trăng của ông, vốn nổi bật với vai trò chủ tinh ngoại môn của Điểm mọc Cự Giải). Độ cong này của sống mũi có thể tương ứng với sự hiện diện mạnh mẽ của Sao Hải Vương và có thể không nổi bật đến vậy ở hai thập độ còn lại. FCD sinh trong thập độ thứ nhất của Song Ngư, do Sao Mộc cai quản theo Chân sư Tây Tạng.

c. Although the later pictures disguise the matter somewhat, we see in earlier portraits a fullness of lips which is associated with Cancer rising. We also see a broadening of the mouth, characteristic of this sign.

c. Mặc dù những bức ảnh về sau phần nào che khuất đặc điểm này, trong các bức chân dung trước đó, chúng ta thấy đôi môi đầy đặn gắn với Điểm mọc Cự Giải. Chúng ta cũng thấy khuôn miệng rộng, một đặc điểm của dấu hiệu này.

d. Close examination will also reveal a certain flatness of the cheeks under the eyes. This, again, is characteristic of Pisces.

d. Quan sát kỹ cũng sẽ nhận ra vùng má dưới mắt hơi phẳng. Đây cũng là một đặc điểm của Song Ngư.

e. Physiognomical analysis is useful in broad questions of rectification.

e. Phân tích diện mạo hữu ích đối với những vấn đề tổng quát trong việc hiệu chỉnh giờ sinh.

16. One or two biographical points can be seen as contributing to the rectification of the chart.

16. Có thể xem một vài chi tiết tiểu sử là những yếu tố góp phần hiệu chỉnh lá số.

a. FCD was married to Nella Ciapetti in 1922. The date of the marriage has, so far, not been located but there are convincing aspects in 1922 to signal this event. Throughout August of 1922, solar arc directed Venus (a planet of marriage) is conjuncting the natal Sun in Pisces. At the same time, solar arc directed Saturn is conjuncting the IC (in the 11:59:24 am chart) which symbolizes the home and the establishment of the home.

a. FCD kết hôn với Nella Ciapetti vào năm 1922. Cho đến nay vẫn chưa tìm được ngày kết hôn, nhưng có những góc hợp thuyết phục trong năm 1922 báo hiệu sự kiện này. Trong suốt tháng 8 năm 1922, Sao Kim nhật cung tiến trình (một hành tinh của hôn nhân) đồng vị với Mặt Trời bản mệnh ở Song Ngư. Đồng thời, Sao Thổ nhật cung tiến trình đồng vị với Thiên Đế (trong lá số 11:59:24 sáng ), điểm tượng trưng cho mái ấm và việc thiết lập mái ấm.

b. In FCD’s natal chart, Saturn and Venus are in opposition. From reports of those informed about the situation, the marriage proved to be very much a Saturn/Venus marriage, with rather more of Saturn in evidence, for it appeared that FCD came to consider it a great restriction.

b. Trong lá số bản mệnh của FCD, Sao Thổ và Sao Kim đối vị nhau. Theo lời kể của những người am hiểu tình hình, cuộc hôn nhân này thể hiện rất rõ tính chất Sao Thổ/Sao Kim, trong đó Sao Thổ biểu lộ rõ hơn, vì dường như FCD dần xem đó là một sự hạn chế lớn.

c. The chart for Florence cannot be strictly correct. Even using its MC, 4º Pisces 13’ the marriage would have to have occurred at the very beginning of the year for Saturn to Cross the IC, and then SA-Venus would be less in aspect with the natal Sun than later in the year. The actual date of the marriage must be researched but the astrological probability is that it is closer to the middle of the year 1922 than towards the very beginning.

c. Lá số lập cho Florence không thể hoàn toàn chính xác. Ngay cả khi dùng Thiên Đỉnh của lá số ấy, 4° Song Ngư 13′, cuộc hôn nhân cũng phải diễn ra ngay đầu năm thì Sao Thổ mới đi qua Thiên Đế; khi đó, Sao Kim nhật cung tiến trình lại tạo góc hợp với Mặt Trời bản mệnh kém sát hơn so với thời điểm muộn hơn trong năm. Cần nghiên cứu ngày kết hôn thực tế, nhưng xét về xác suất chiêm tinh, ngày đó gần giữa năm 1922 hơn là ngay đầu năm.

d. An alternative chart erected for 11:59:35 am, demonstrates a slightly earlier MC than the Astrodatabank chart. It is as follows:

d. Một lá số khác được lập cho 11:59:35 sáng, cho thấy Thiên Đỉnh hơi sớm hơn so với lá số của cơ sở dữ liệu chiêm tinh. Lá số ấy như sau:

This chart has one advantage over the ADB chart of 11:59:24 am—namely, that we find transiting Jupiter stationary on the progressing IC in early June of 1922, at the same time that solar arc directed Saturn is crossing the natal IC. Jupiter (in FCD’s case sextile Venus) is frequently a significator of marriage, especially when related to the IC with its ‘home and family’ connotation.

Lá số này có một ưu điểm so với lá số ADB lúc 11:59:24 sáng—đó là chúng ta thấy Sao Mộc quá cảnh đứng yên trên Thiên Đế tiến trình vào đầu tháng 6 năm 1922, đồng thời Sao Thổ nhật cung tiến trình đi qua Thiên Đế bản mệnh. Sao Mộc (trong trường hợp FCD, tạo góc lục hợp với Sao Kim) thường là hành tinh chỉ báo hôn nhân, đặc biệt khi liên hệ với Thiên Đế cùng hàm nghĩa ‘mái ấm và gia đình’ của điểm này.

a. For some reason (probably the use of different local time settings for Venice) the ADB chart set for the time 11:59:24 am has a later MC (by 12 minutes of arc) than a chart derived for the time 11:59:35 am. The advantages of the 11:59:35 am chart are to be seen in that both ICs, the natal and progressed, are contacted by significant planets in the middle of the year 1922, around early June—June 5th through 10th or so. Discovery of the actual date of the marriage will set the matter straight. Whatever the exact truth, the year 1922 gives significant indications for marriage in the proposed charts.

a. Vì một lý do nào đó (có lẽ do sử dụng các thiết lập giờ địa phương khác nhau cho Venice), lá số ADB lập cho thời điểm 11:59:24 sáng có Thiên Đỉnh muộn hơn (12 phút cung) so với lá số lập cho thời điểm 11:59:35 sáng. Những ưu điểm của lá số 11:59:35 sáng thể hiện ở chỗ cả hai Thiên Đế, bản mệnh và tiến trình, đều tiếp xúc với những hành tinh có ý nghĩa vào giữa năm 1922, khoảng đầu tháng Sáu—từ ngày 5 đến khoảng ngày 10. Việc tìm ra ngày kết hôn thực tế sẽ làm sáng tỏ vấn đề này. Dù sự thật chính xác là gì, năm 1922 cũng cho thấy những chỉ báo đáng kể về hôn nhân trong các lá số được đề xuất.

b. In any case, with either of these charts ( the 11:59:24 am chart derived by ABD or 11:59:35 am chart derived through Solar Fire) we are very close.

b. Dù sao đi nữa, với một trong hai lá số này (lá số 11:59:24 sáng do ABD lập hoặc lá số 11:59:35 sáng lập bằng Solar Fire), chúng ta đều đã tiến rất gần đến giờ sinh chính xác.

c. Another date at our disposal is of significance. In 1951 (again on an undisclosed date) his son, Ilario died. Both (11:59 plus) charts are indicative and could be justified. In both charts, mid year, we find the solar arc directed Ascendant coming to conjunction with the natal IC (home, family, intimate matters). There is also a solar eclipse in September, 1951, exactly opposite the degree of his natal Sun, and thus, on his heliocentric Earth, and also on his Moon (orthodoxly ruling the Ascendant)—all this, again in the family-related fourth house. The Moon, conventionally, is related to close family members. Earlier in the year, February, there is a lunar eclipse within two degrees of the natal MC/IC axis of both pre-noon charts under consideration.

c. Một niên đại khác mà chúng ta có được cũng có ý nghĩa. Năm 1951 (một lần nữa, vào một ngày chưa được tiết lộ), con trai ông, Ilario, qua đời. Cả hai lá số (sau 11:59 một chút) đều có những chỉ báo phù hợp và đều có cơ sở để chấp nhận. Trong cả hai lá số, vào giữa năm, chúng ta thấy Điểm mọc nhật cung tiến trình tiến đến đồng vị với Thiên Đế bản mệnh (mái ấm, gia đình, những vấn đề riêng tư). Cũng có một nhật thực vào tháng Chín năm 1951, đối vị chính xác với độ số Mặt Trời bản mệnh của ông, và do đó nằm trên Trái Đất nhật tâm của ông, đồng thời cũng nằm trên Mặt Trăng của ông (chủ tinh ngoại môn của Điểm mọc)—tất cả những điều này một lần nữa đều ở nhà thứ tư, vốn liên quan đến gia đình. Theo cách hiểu thông thường, Mặt Trăng liên quan đến những người thân gần gũi trong gia đình. Trước đó trong năm, vào tháng Hai, có một nguyệt thực nằm trong phạm vi hai độ tính từ trục Thiên Đỉnh/Thiên Đế bản mệnh của cả hai lá số trước buổi trưa đang được xem xét.

d. As well, at the seventh house cusp there is a transit of Chiron (dealing the wound) and the passage of solar arc directed Mars over the same point, such that Mars and Chiron (indicating, potentially, a very wounding situation in the area of relationship) are conjoined.

d. Đồng thời, tại đỉnh nhà thứ bảy có Chiron quá cảnh (gây ra vết thương) và Sao Hỏa nhật cung tiến trình đi qua cùng điểm ấy, khiến Sao Hỏa và Chiron (có khả năng chỉ báo một tình huống gây tổn thương rất nặng nề trong lĩnh vực quan hệ) đồng vị với nhau.

e. We also learn that FCD was arrested in 1940 and spent (according to reports) about one month in prison. Any of the charts in use will demonstrate the correlations to this event as transiting Saturn in Aries was conjuncting both the progressing MC and Sun in the early part of 1940. Transiting Jupiter, however, followed Saturn’s trail and release from prison came shortly after. As Saturn continued is long transit through the eleventh and twelfth houses, FCD was hounded by the fascists, and even had to go into hiding (in caves, it is reported) to save his life and the life of his son).

e. Chúng ta cũng biết rằng FCD bị bắt vào năm 1940 và ở tù khoảng một tháng (theo các bản tường thuật). Bất kỳ lá số nào đang được sử dụng cũng cho thấy những tương ứng với sự kiện này, vì Sao Thổ quá cảnh ở Bạch Dương đã đồng vị với cả Thiên Đỉnh và Mặt Trời tiến trình vào đầu năm 1940. Tuy nhiên, Sao Mộc quá cảnh đi theo đường của Sao Thổ, và chẳng bao lâu sau ông được trả tự do. Khi Sao Thổ tiếp tục đợt quá cảnh dài qua nhà thứ mười một và thứ mười hai, FCD bị những người phát xít truy lùng, thậm chí phải lẩn trốn (theo tường thuật là trong các hang động) để bảo toàn tính mạng của mình và con trai).

f. One can decide reasonably for either the 11:59:24 am chart (with its slightly later MC) or the 11:59:35 am chart (strangely, with its slightly later MC), as both carry strongly the major astrological correlations with available events.

f. Có thể lựa chọn một cách hợp lý lá số 11:59:24 sáng (với Thiên Đỉnh muộn hơn đôi chút) hoặc lá số 11:59:35 sáng (lạ thay, cũng với Thiên Đỉnh muộn hơn đôi chút), vì cả hai đều thể hiện rõ những tương ứng chiêm tinh chính với các sự kiện đã biết.

g. It would appear, then, that FCD was born slightly before noon.

g. Như vậy, dường như FCD sinh ra vào lúc hơi trước buổi trưa.

h. There are other techniques of rectification which the astrologer Niklas Nihlen may have used to justify a later time of birth—about four minutes later (12:03 pm ), but the later chart does not seem to work as well as the two earlier Venice charts, because SA-Mars and transiting Chiron do not cross the seventh house cusp during the year of FCD’s son’s death.

h. Có những kỹ thuật hiệu chỉnh giờ sinh khác mà nhà chiêm tinh Niklas Nihlen có thể đã sử dụng để biện minh cho một giờ sinh muộn hơn—muộn hơn khoảng bốn phút (12:03 trưa), nhưng lá số muộn hơn dường như không phù hợp bằng hai lá số Venice sớm hơn, vì Sao Hỏa nhật cung tiến trình và Chiron quá cảnh không đi qua đỉnh nhà thứ bảy trong năm con trai FCD qua đời.

i. If we decide to use any of the three Venice charts (which seems accurate given the birth certificate of which we have been made aware and the testimony of other astrologers who have done FCD’s chart) and if we ignore the well-meaning but erroneous information we received from an interview with someone who knew him well, we shall find that we are certainly with four minutes of his birth time. The three Venice charts under consideration range from 11:59:24 am to 12:03 pm .

i. Nếu chúng ta quyết định sử dụng bất kỳ lá số nào trong ba lá số Venice (điều này có vẻ chính xác xét theo giấy khai sinh mà chúng ta được biết và lời chứng của những nhà chiêm tinh khác đã lập lá số cho FCD), và nếu chúng ta bỏ qua thông tin có thiện ý nhưng sai lệch nhận được qua một cuộc phỏng vấn với người từng biết rõ ông, chúng ta sẽ thấy rằng chắc chắn sai số của chúng ta so với giờ sinh của ông nằm trong vòng bốn phút. Ba lá số Venice đang được xem xét trải từ 11:59:24 sáng đến 12:03 trưa .

j. As FCD was an astrologer and as his birth certificate gave 11:59 am , and as both 11:59 charts ( 11:59:24 am and 11:59:35 am ) work well, it seems best to default in the direction of a birth slightly before noon .

j. Vì FCD là một nhà chiêm tinh, giấy khai sinh của ông ghi 11:59 sáng , và cả hai lá số 11:59 ( 11:59:24 sáng và 11:59:35 sáng ) đều phù hợp, có lẽ tốt nhất là mặc định nghiêng về giờ sinh hơi trước buổi trưa .

Part I—Phần I

January 1933- Tháng Một 1933

To my fellow disciple, F.C.D., who works in that loneliness which is so difficult for the second ray type, I would say the following: Your problem is twofold and when it yields to solution then your field of service—already large—will increase. You have the problem of a devitalised etheric body and also of a heart attached to many and hence unduly strained and taxed by others. There are many demands upon your sympathies. By the time you have reached the age of fifty years you should have achieved the difficult undertaking of becoming the sannyasin [139] in the Western world. This B.S.W. has already achieved and could help you if you, with frankness, cared to correspond with him. You have somewhat to give him too.

Với đệ tử đồng môn của Tôi, F.C.D., người đang làm việc trong sự cô độc vốn rất khó chịu đựng đối với người cung hai, Tôi muốn nói những điều sau: Vấn đề của em mang tính nhị phân, và khi giải quyết được vấn đề ấy, lĩnh vực phụng sự của em—vốn đã rộng lớn—sẽ còn mở rộng hơn nữa. Em gặp vấn đề với một thể dĩ thái suy giảm sinh lực, đồng thời với một trái tim gắn bó với nhiều người, vì thế phải chịu căng thẳng và gánh nặng quá mức do những người khác gây ra. Có nhiều người trông cậy vào lòng cảm thông của em. Khi đến tuổi năm mươi, em cần hoàn thành công việc khó khăn là trở thành người xuất ly [139] trong thế giới phương Tây. B.S.W. đã đạt được điều này và có thể giúp em nếu em sẵn lòng trao đổi thư từ một cách thẳng thắn với bạn ấy. Em cũng có đôi điều để trao tặng bạn ấy.

14. We note that Master DK addresses FCD as “my fellow disciple”. This immediately tells us something of FCD’s relatively advanced level of unfoldment. The Master treats him as something of a friend and comrade.

14. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK gọi FCD là “đệ tử đồng môn của Tôi”. Điều này lập tức cho chúng ta biết đôi điều về cấp độ khai mở tương đối cao của FCD. Chân sư đối đãi với ông phần nào như một người bạn và người đồng chí.

15. The second ray is the “Ray of Attractive Coherency” (EA 411). It is a ray of union and fusion preferring affiliation to solitariness.

15. Cung hai là “Cung Cố Kết Hấp Dẫn” (EA 411). Đó là cung của sự hợp nhất và dung hợp, ưa gắn kết hơn là đơn độc.

16. Yet there is much in FCD’s chart which conduces to isolation: the Pluto/Neptune conjunction in the isolative, hidden twelfth house; the strength of the reclusive Piscean energy (although the Sun is highly elevated and prominent—forcing upon his somewhat reclusive nature an often unwanted exposure to the public eye); and first ray, separative Pluto squaring both the MC and the Sun. We also have to remember that this personal instruction was written in 1933 at which time the Fascists in Italy were fully in power, though the anti-Semitic policies later adopted by Mussolini were not yet in place.

16. Tuy nhiên, trong lá số của FCD có nhiều yếu tố dẫn đến sự cô lập: đồng vị Sao Diêm Vương/Sao Hải Vương trong nhà thứ mười hai biệt lập, ẩn khuất; sức mạnh của năng lượng Song Ngư ưa ẩn dật (mặc dù Mặt Trời ở vị trí rất cao và nổi bật—buộc bản chất có phần ẩn dật của ông thường phải lộ diện trước công chúng ngoài ý muốn); và Sao Diêm Vương cung một, mang tính chia rẽ, tạo góc vuông với cả Thiên Đỉnh lẫn Mặt Trời. Chúng ta cũng phải nhớ rằng huấn thị riêng này được viết vào năm 1933, khi những người phát xít ở Ý đã hoàn toàn nắm quyền, dù các chính sách bài Do Thái mà Mussolini áp dụng về sau vẫn chưa được thực thi.

17. There are two solar eclipses prominent during this period, one occurring in August of 1932 almost exactly on FCD’s Moon in one of the ‘hidden’ houses, the fourth, and the other, about a month after this instruction was written, conjuncting both the MC and the Sun in Pisces. The first eclipse emphasizes isolation and hidden work; the second emphasizes prominence, but the kind of isolation-within-prominence that Pisces confers.

17. Có hai nhật thực nổi bật trong thời kỳ này: một xảy ra vào tháng Tám năm 1932, gần như nằm chính xác trên Mặt Trăng của FCD trong một trong những nhà “ẩn khuất”, tức nhà thứ tư; nhật thực kia xảy ra khoảng một tháng sau khi huấn thị này được viết, đồng vị với cả Thiên Đỉnh lẫn Mặt Trời ở Song Ngư. Nhật thực thứ nhất nhấn mạnh sự cô lập và công việc ẩn khuất; nhật thực thứ hai nhấn mạnh sự nổi bật, nhưng là kiểu cô lập ngay giữa sự nổi bật mà Song Ngư mang lại.

18. The natural isolation to which the chart inclines is increased at this time by the conjunction of transiting Saturn (a planet of isolation) with the natal position of affiliative Venus. This means that Saturn is also in opposition to its natal position increasing the isolative tendencies.

18. Khuynh hướng cô lập tự nhiên của lá số gia tăng vào lúc này do Sao Thổ quá cảnh (một hành tinh của sự cô lập) đồng vị với vị trí bản mệnh của Sao Kim, hành tinh mang tính gắn kết. Điều này có nghĩa là Sao Thổ cũng đối vị với vị trí bản mệnh của chính nó, làm gia tăng các khuynh hướng cô lập.

19. FCD, we learn has a field of service which is “already large”. This we might expect from the prominence of his Pisces Sun on the MC. The Institute of Culture and of Psychological Therapy had been founded as early as 1926.

19. Chúng ta được biết FCD có một lĩnh vực phụng sự “vốn đã rộng lớn”. Chúng ta có thể dự đoán điều này từ sự nổi bật của Mặt Trời Song Ngư trên Thiên Đỉnh của ông. Viện Văn Hóa và Trị Liệu Tâm Lý đã được thành lập từ năm 1926.

20. DK cites two problems which, when solved, will increase the scope of FCD’s service: a devitalised etheric body and a heart that is attached too many and thus unduly taxed and strained.

20. Chân sư DK nêu hai vấn đề mà khi giải quyết được sẽ mở rộng phạm vi phụng sự của FCD: một thể dĩ thái suy giảm sinh lực và một trái tim gắn bó với quá nhiều người, nên phải chịu gánh nặng và căng thẳng quá mức.

21. The Neptune-ruled signs of Pisces and Cancer are both known for their difficulty in specializing prana. Neptune is the veiled esoteric ruler of the third house (which correlates with the etheric body). Neptune’s conjunction with Pluto in a house generically ruled by both Neptune and Pluto (namely, the twelfth) depresses vitality still further.

21. Hai dấu hiệu do Sao Hải Vương cai quản là Song Ngư và Cự Giải đều được biết đến với khó khăn trong việc chuyên biệt hóa prana. Sao Hải Vương là chủ tinh nội môn ẩn sau một hành tinh che phủ của nhà thứ ba (nhà tương ứng với thể dĩ thái). Đồng vị của Sao Hải Vương với Sao Diêm Vương trong một nhà mà xét về tính chất chung do cả Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương cai quản (tức nhà thứ mười hai) càng làm suy giảm sinh lực.

22. We learn of the many “demands” upon FCD’s sympathies; this we would expect through the prominence of the sympathetic signs, Cancer and Pisces, and the signal importance of empathic Neptune in the chart. Pisces is sympathetic but not necessarily attached because Pluto (a planet of detachment) is a co-ruler, esoterically and hierarchically, of Pisces. Cancer, however, is the most attached of all the twelve signs—especially emotionally attached.

22. Chúng ta được biết có nhiều “đòi hỏi” đặt lên sự cảm thông của FCD; chúng ta có thể dự đoán điều này qua sự nổi bật của các dấu hiệu giàu cảm thông, Cự Giải và Song Ngư, cùng tầm quan trọng đặc biệt của Sao Hải Vương giàu đồng cảm trong lá số. Song Ngư giàu cảm thông nhưng không nhất thiết gắn bó vì Sao Diêm Vương (một hành tinh của sự tách rời) là đồng chủ tinh của Song Ngư, về mặt nội môn và huyền giai. Tuy nhiên, Cự Giải là dấu hiệu gắn bó nhất trong cả mười hai dấu hiệu—đặc biệt là gắn bó về cảm xúc.

23. FCD would be fifty years of age in 1938. This instruction is sent to him in 1933 when he was forty-five. We have studied BSW, who already achieved the status of sannyasin. Unfortunately, we do not know the birthday of BSW, but have good reason to believe that he was born in 1877, and would thus be some eleven or so years older that FCD.

23. FCD sẽ tròn năm mươi tuổi vào năm 1938. Huấn thị này được gửi cho ông vào năm 1933, khi ông bốn mươi lăm tuổi. Chúng ta đã nghiên cứu BSW, người đã đạt địa vị của người từ bỏ thế tục. Đáng tiếc là chúng ta không biết ngày sinh của BSW, nhưng có cơ sở vững chắc để tin rằng ông sinh năm 1877, và do đó lớn hơn FCD khoảng mười một tuổi.

24. The age, fifty, signals the Chiron return. It is interesting that the stage of sannyasin (emphasizing detachment from the usual worldly attachments and the focused pursuit of wisdom) should be correlated with the Chiron return. Chiron is a planetoid much associated with the second ray and with wisdom (Chiron was the “Wise Centaur”) so the conclusion of this approximately fifty year cycle is fitting for entry upon such a stage of life. As well, the number fifty is associated with the cycle of Sirius B in relation to Sirius A. Further, since the number five is correlated with the second ray, so is fifty. We would presume, then, that for a second ray soul, the onset of the second Chiron cycle at the age of fifty is very significant.

24. Tuổi năm mươi báo hiệu kỳ hồi vị Chiron. Thật thú vị khi giai đoạn của người từ bỏ thế tục (nhấn mạnh việc tách rời những ràng buộc thế gian thông thường và tập trung theo đuổi minh triết) lại tương ứng với kỳ hồi vị Chiron. Chiron là một tiểu hành tinh có liên hệ mật thiết với cung hai và minh triết (Chiron là “Nhân Mã Minh Triết”), nên sự kết thúc của chu kỳ khoảng năm mươi năm này thích hợp để bước vào một giai đoạn sống như vậy. Đồng thời, con số năm mươi liên quan đến chu kỳ của Sirius B đối với Sirius A. Hơn nữa, vì số năm tương ứng với cung hai, nên số năm mươi cũng vậy. Do đó, chúng ta có thể cho rằng đối với một linh hồn cung hai, sự khởi đầu chu kỳ Chiron thứ hai ở tuổi năm mươi có ý nghĩa rất lớn.

25. At that time (1938) Saturn will just have moved out of the sign Pisces into Aries, signaling the beginning of a new zodiacal cycle. Chiron will also be crossing the Ascendant and the progressing Ascendant will have reached the natal North Node, signaling a soul-alignment with a necessary emphasis. This would not be the case in the chart erected for Florence , Italy . The progressing Ascendant would not yet have reached the North Node. A chart with an Ascendant of at least 2º of Cancer rising is necessary for the progressing Ascendant and North Node to conjoin in 1938.

25. Vào lúc ấy (1938), Sao Thổ sẽ vừa rời dấu hiệu Song Ngư để đi vào Bạch Dương, báo hiệu sự khởi đầu của một chu kỳ hoàng đạo mới. Chiron cũng sẽ đi qua Điểm mọc, và Điểm mọc tiến trình sẽ đến Nút Bắc bản mệnh, báo hiệu sự chỉnh hợp với linh hồn cùng một trọng tâm cần thiết. Điều này sẽ không xảy ra trong lá số lập cho Florence , Ý . Điểm mọc tiến trình khi ấy vẫn chưa đến Nút Bắc. Cần có một lá số với Điểm mọc ít nhất ở 2º Cự Giải để Điểm mọc tiến trình và Nút Bắc đồng vị vào năm 1938.

26. We have noticed that DK on occasion puts the disciples in his groups into correspondence with each other. The rays of BSW are very different from those of FCD: 17-467 compared to 24-127. They do, however, share the first, fourth and seventh rays. BSW had, apparently, achieved much detachment, although the record we are researching shows him married with a daughter (no doubt grown up at the time this instruction was written). Perhaps FCD’s psychological understanding would have been useful to BSW, as BSW seemed to lack a full understanding of his not-yet-entirely integrated personality nature.

26. Chúng ta đã nhận thấy rằng đôi khi Chân sư DK sắp xếp cho các đệ tử trong những nhóm của Ngài trao đổi thư từ với nhau. Các cung của BSW rất khác với các cung của FCD: 17-467 so với 24-127. Tuy nhiên, họ cùng có cung một, cung bốn và cung bảy. Dường như BSW đã đạt được mức độ tách rời đáng kể, dù hồ sơ chúng ta đang nghiên cứu cho thấy ông đã kết hôn và có một con gái (chắc hẳn đã trưởng thành vào lúc huấn thị này được viết). Có lẽ sự thấu hiểu tâm lý của FCD sẽ hữu ích cho BSW, vì BSW dường như chưa thấu hiểu đầy đủ bản chất phàm ngã chưa hoàn toàn tích hợp của mình.

The problems of the etheric body will yield to treatment if the suggestions made to C.D.P. are noted and if the diet (in your case) is carefully controlled and regulated.... It is not my intention to indicate to those who work in my group the methods they should follow as regards diet. Such things differ for each individual.

Những vấn đề của thể dĩ thái sẽ đáp ứng với việc điều trị nếu em lưu ý những gợi ý đã đưa ra cho C.D.P. và nếu chế độ ăn uống (trong trường hợp của em) được kiểm soát và điều chỉnh cẩn thận.... Tôi không có ý định chỉ dẫn cho những người hoạt động trong nhóm của Tôi các phương pháp họ nên theo về chế độ ăn uống. Những điều ấy khác nhau ở mỗi cá nhân.

27. The disciple CDP was also devitalized. She too was a relatively older disciple—some twelve years older that FCD.

27. Đệ tử CDP cũng bị suy giảm sinh lực. Bà cũng là một đệ tử tương đối lớn tuổi—lớn hơn FCD khoảng mười hai tuổi.

28. CDP’s strong emotional body (she had three sixth rays in her personality and personality vehicles) contributed to her condition of devitalization. FCD also had a strong astral body, though on the second ray rather than the sixth. The relationship between his second ray soul and second ray astral body strengthened the astral nature.

28. Thể cảm xúc mạnh của CDP (bà có ba cung sáu trong phàm ngã và các hiện thể phàm ngã) góp phần gây nên tình trạng suy giảm sinh lực của bà. FCD cũng có một thể cảm dục mạnh, dù thuộc cung hai thay vì cung sáu. Mối liên hệ giữa linh hồn cung hai và thể cảm dục cung hai của ông làm tăng sức mạnh của bản chất cảm dục.

29. Interestingly, for all his mental accomplishment, FCD was considered to be astrally polarized (probably for purposes of his therapeutic, salvaging work). Both his soul nature and personality nature worked through his astral body. This polarization, bringing him into contact with many people who drew upon his sympathies, no doubt contributed to his condition of devitalization.

29. Điều thú vị là, dù có nhiều thành tựu trí tuệ, FCD vẫn được xem là phân cực cảm dục (có lẽ nhằm phục vụ công việc trị liệu, cứu giúp của ông). Cả bản chất linh hồn lẫn bản chất phàm ngã của ông đều hoạt động qua thể cảm dục. Sự phân cực này đưa ông tiếp xúc với nhiều người cần đến sự cảm thông của ông, và chắc hẳn đã góp phần gây nên tình trạng suy giảm sinh lực của ông.

30. No word of the suggested diet is in our possession, but we can see that with a Cancer Ascendant and its orthodox ruler, the Moon, in diet-conscious, discriminative Virgo, and in the fourth house (related to Cancer, the stomach and the home), diet would be an important consideration for FCD.

30. Chúng ta không có thông tin nào về chế độ ăn uống được đề nghị, nhưng có thể thấy rằng với Điểm mọc Cự Giải và chủ tinh ngoại môn của nó là Mặt Trăng ở Xử Nữ—dấu hiệu chú trọng chế độ ăn uống và có tính phân biện—đồng thời ở nhà thứ tư (liên quan đến Cự Giải, dạ dày và mái ấm), chế độ ăn uống hẳn là một điều quan trọng cần cân nhắc đối với FCD.

31. DK, as in other instructions for other disciples, draws the line at suggesting too much about the handling of the physical nature. Diet is a personal matter and is, in general, to be handled by each disciple individually. We do note, however, that in the case of RSU, he emphasized her undesirable physical condition constantly, probably because it was such an obstacle to her immediately possible spiritual advancement. While usually He does not focus on such matters, no hard and fast rule can be laid down concerning the type of advice which the Master will, at times, see fit to impart.

31. Cũng như trong những huấn thị khác dành cho các đệ tử khác, Chân sư DK giữ giới hạn trong việc đưa ra quá nhiều đề nghị về cách chăm sóc bản chất thể xác. Chế độ ăn uống là vấn đề cá nhân và nhìn chung mỗi đệ tử phải tự lo liệu. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng trong trường hợp RSU, Ngài liên tục nhấn mạnh tình trạng thể xác không tốt của bà, có lẽ vì đó là một trở ngại lớn đối với sự tiến bộ tinh thần mà bà có thể đạt được ngay lúc ấy. Dù thường Ngài không tập trung vào những vấn đề như vậy, chúng ta không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc về loại lời khuyên mà đôi khi Chân sư thấy thích hợp để truyền đạt.

32. It is interesting and probably important to note (vis-à-vis the question of vitality) that both CDP and FCD had early Cancer rising. Her proposed rectified Ascendant puts the second degree of Cancer on the Ascendant; for FCD it is the third degree in three of the four charts under consideration.

32. Liên quan đến vấn đề sinh lực, có một điều thú vị và có lẽ quan trọng cần lưu ý: cả CDP lẫn FCD đều có Điểm mọc ở đầu Cự Giải. Điểm mọc hiệu chỉnh được đề xuất cho bà đặt độ thứ hai của Cự Giải tại Điểm mọc; với FCD, đó là độ thứ ba trong ba trên bốn lá số đang được xem xét.

You have necessarily at this stage the vices of your second ray virtues. You suffer from attachment and from a too rapid identification with other people. This can be handled if you stand steadfast as a soul and do not focus as a personality in dealing with people—both in your home circle and in your world service. You need to bear in mind that your relation is with souls and not with temporary forms and so you must live detached from personalities, serving them but living ever in the consciousness of the soul—the true sannyasin.

Ở giai đoạn này, tất nhiên em có những khuyết điểm đi kèm với các đức tính cung hai của mình. Em khổ vì sự quyến luyến và vì quá nhanh chóng đồng hoá với người khác. Em có thể xử lý điều này nếu đứng vững như một linh hồn và không tập trung nơi phàm ngã khi giao tiếp với mọi người—cả trong gia đình lẫn trong công việc phụng sự thế gian. Em cần ghi nhớ rằng em liên hệ với các linh hồn chứ không phải với những hình tướng tạm thời, vì vậy em phải sống tách rời khỏi các phàm ngã, phụng sự họ nhưng luôn sống trong tâm thức của linh hồn—như một người xuất gia chân chính.

33. We see how vice and virtue are necessarily combined. Our virtues, if taken to excess, prove to be vices.

33. Chúng ta thấy khuyết điểm và đức tính tất yếu kết hợp với nhau như thế nào. Các đức tính của chúng ta, nếu bị đẩy đến mức thái quá, sẽ trở thành khuyết điểm.

34. Usually identification is considered an advanced and desirable state of awareness. For FCD, however, it is a liability, especially since the identification seems to focus upon the personality nature of the one for whom empathy exists.

34. Thông thường, sự đồng hoá được xem là một trạng thái nhận biết cao và đáng mong muốn. Tuy nhiên, đối với FCD, đó lại là một bất lợi, đặc biệt vì sự đồng hoá dường như tập trung vào bản chất phàm ngã của người mà ông đồng cảm.

35. The rapidity of identification, while astrologically supported by a grand trine in water signs, is probably very much the liability of an advanced, overly-sympathetic second ray soul. There are tendencies derived from the ray chart and those derived from the astrological chart. In the case of this problem with identification, both types of charts reinforce each other.

35. Sự đồng hoá nhanh chóng, tuy được hỗ trợ về mặt chiêm tinh qua một đại tam hợp trong các dấu hiệu hành thủy, có lẽ phần lớn là một bất lợi của linh hồn cung hai tiến hóa cao nhưng quá giàu cảm thông. Có những khuynh hướng bắt nguồn từ biểu đồ cung và những khuynh hướng bắt nguồn từ lá số chiêm tinh. Trong vấn đề đồng hoá này, cả hai loại biểu đồ đều củng cố lẫn nhau.

36. The liability of rapidity of identification is present for FCD both at home (where there were definite marital problems) and in his work as a psychotherapist and author.

36. Bất lợi do đồng hoá quá nhanh hiện diện ở FCD cả trong gia đình (nơi có những vấn đề hôn nhân rõ rệt) lẫn trong công việc của ông với tư cách nhà tâm lý trị liệu và tác giả.

37. DK is counseling FCD on the requirements of a sannyasin. To stand “steadfast as a soul” requires the utilization of the first ray, with which FCD is both rayologically and astrologically endowed. If he succeeds in such a stance, he will be fulfilling the second term in his ‘Developmental Formula’—“Chelaship”.

37. Chân sư DK đang khuyên bảo FCD về những yêu cầu đối với một người từ bỏ thế tục. Để đứng “vững với tư cách một linh hồn”, ông cần vận dụng cung một, vốn là cung mà FCD có được cả về cấu trúc cung lẫn chiêm tinh. Nếu thành công trong tư thế ấy, ông sẽ hoàn thành yếu tố thứ hai trong “Công Thức Phát Triển” của mình—“Địa vị đệ tử”.

38. The problem for FCD is partially one of discrimination. Pisces and Cancer are both inclusive (inclusive Jupiter rules in Pisces and is exalted in Cancer). Indiscriminate Neptune, ever blurring the boundaries, is powerful in both signs. The Moon, however, is in discriminative Virgo, showing a past in which an emphasis may have been placed upon this quality. The Moon, as esoteric ruler of Virgo, veils either Vulcan or Neptune. In the case of FCD, there is good reason to believe that it may be Neptune, which, if so, would add considerably to the already powerful Neptune presence. Neptune, then, would be a ruler, on some level, of the Ascendant, Sun and Moon.

38. Vấn đề của FCD một phần là vấn đề phân biện. Song Ngư và Cự Giải đều có tính bao gồm (Sao Mộc có tính bao gồm cai quản Song Ngư và được tôn vượng ở Cự Giải). Sao Hải Vương không phân biện, luôn làm nhòe các ranh giới, có sức mạnh trong cả hai dấu hiệu. Tuy nhiên, Mặt Trăng ở Xử Nữ có tính phân biện, cho thấy một quá khứ trong đó phẩm tính này có thể từng được nhấn mạnh. Mặt Trăng, với tư cách chủ tinh nội môn của Xử Nữ, che phủ Vulcan hoặc Sao Hải Vương. Trong trường hợp FCD, có cơ sở vững chắc để tin rằng đó có thể là Sao Hải Vương; nếu đúng như vậy, điều này sẽ làm tăng đáng kể ảnh hưởng vốn đã mạnh của Sao Hải Vương . Khi ấy, Sao Hải Vương sẽ là chủ tinh, ở một cấp độ nào đó, của Điểm mọc, Mặt Trời và Mặt Trăng.

39. Depending on how one interprets the final sentence of the paragraph under consideration, it is possible to gather the idea that the soul (on its own plane, presumably) is the true sannyasin. The more, therefore, one is identified as the soul and with other souls (not personalities) the more one is the sannyasin.

39. Tùy cách diễn giải câu cuối của đoạn đang xem xét, chúng ta có thể rút ra ý tưởng rằng linh hồn (có lẽ trên cõi riêng của nó) là người từ bỏ thế tục chân chính. Vì vậy, càng đồng hoá mình là linh hồn và đồng hoá với các linh hồn khác (không phải các phàm ngã), người ta càng trở thành người từ bỏ thế tục.

Carry your meditations forward exclusively in the head, therefore, except for some incidental practice in connection with the spleen (which I will give you to follow) with a view to etheric vitalisation. Your heart centre is sufficiently awakened for this life and greater sensitivity would be a handicap. The perfect fulfilment of your duty and your freedom inwardly from ties will spell for you that measure of liberation which will release you to fuller service. If you have questions which you seek to ask me, brother of old, I will with gladness reply.

Do đó, hãy tiến hành việc tham thiền hoàn toàn trong đầu, ngoại trừ một vài thực hành phụ liên quan đến lá lách (mà Tôi sẽ trao cho em thực hiện) nhằm tiếp sinh lực cho thể dĩ thái. Trung tâm tim của em đã thức tỉnh đủ cho kiếp sống này, và sự nhạy cảm lớn hơn sẽ là một trở ngại. Việc chu toàn bổn phận và sự tự do bên trong khỏi những ràng buộc sẽ mang lại cho em mức độ giải thoát giúp em phụng sự trọn vẹn hơn. Hỡi huynh đệ của ngày xưa, nếu em có điều gì muốn hỏi Tôi, Tôi sẽ vui lòng trả lời.

40. DK recommends a type of meditation which focusses in the head. It is clear that FCD needs to emphasize the hard-line rays in order to correct his overly inclusive, overly identificatory tendencies. The only hard line rays in the ray make-up given by the Tibetan are the first ray mind and the seventh ray brain. It is possible that even the monad is upon the second ray (as was suggested by an esoteric psychologist who knew FCD well). If so, the over-balance of soft-line energies would be extreme.

40. Chân sư DK khuyến nghị một hình thức tham thiền tập trung trong đầu. Rõ ràng FCD cần nhấn mạnh các cung thuộc tuyến cứng để điều chỉnh những khuynh hướng bao gồm và đồng hoá quá mức của ông. Những cung thuộc tuyến cứng duy nhất trong cấu trúc cung mà Chân sư Tây Tạng nêu ra là thể trí cung một và bộ não cung bảy. Có thể ngay cả chân thần cũng thuộc cung hai (như một nhà tâm lý học nội môn hiểu rõ FCD đã gợi ý). Nếu vậy, sự vượt trội của các năng lượng thuộc tuyến mềm sẽ ở mức cực độ.

41. DK intends to work with FCD’s spleen in the interests of promoting etheric vitalization. We note, however, that He calls such work “incidental”. The vitalization is important, in a way, but secondary.

41. Chân sư DK dự định tác động lên lá lách của FCD nhằm thúc đẩy việc tiếp sinh lực dĩ thái. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng Ngài gọi công việc ấy là “phụ”. Theo một phương diện nào đó, việc tiếp sinh lực là quan trọng, nhưng vẫn là thứ yếu.

42. Most disciples need a further awakening of their heart center; this is not the case for FCD. We learn from what is said that to awaken his heart center still further would constitute a handicap. This should cause us to reflect upon the issue of balance with respect to the centers. It is possible to have “too much of a good thing”.

42. Đa số đệ tử cần trung tâm tim thức tỉnh thêm; điều này không đúng với FCD. Qua lời dạy, chúng ta biết rằng việc làm trung tâm tim của ông thức tỉnh hơn nữa sẽ tạo thành một trở ngại. Điều này hẳn phải khiến chúng ta suy ngẫm về vấn đề quân bình giữa các trung tâm. Một “điều tốt” cũng có thể trở nên “quá nhiều”.

43. Three planets related to the heart center (by various means) are the Sun, Jupiter and Venus. They are all in aspect with each other; Jupiter and Venus in sextile, Jupiter square the Sun, and Venus, by translation of light (for it is semi-sextile the MC) semi-sextile also to the Sun.

43. Ba hành tinh liên quan đến trung tâm tim (theo nhiều cách khác nhau) là Mặt Trời, Sao Mộc và Sao Kim. Cả ba đều tạo góc hợp với nhau; Sao Mộc và Sao Kim tạo góc lục hợp, Sao Mộc tạo góc vuông với Mặt Trời, còn Sao Kim, qua sự chuyển ánh sáng (vì tạo góc bán lục hợp với Thiên Đỉnh), cũng tạo góc bán lục hợp với Mặt Trời.

44. Master DK enjoins upon FCD a “perfect fulfillment of duty” and a “freedom from ties”. We note how the first phrase of FCD’s ‘Developmental Formula’ is, thus, stated. As these terms of the ‘Developmental Formula’ are unobtrusively imbedded in the text, it is hard to say whether they would be readily recognized had they not been given to us explicitly.

44. Chân sư DK yêu cầu FCD “chu toàn bổn phận” và “tự do khỏi những ràng buộc”. Chúng ta lưu ý rằng qua đó, cụm từ đầu tiên trong ‘Công Thức Phát Triển’ của FCD đã được nêu ra. Vì những từ ngữ này của ‘Công Thức Phát Triển’ được lồng vào văn bản một cách kín đáo, khó có thể nói liệu chúng ta có dễ dàng nhận ra chúng hay không nếu chúng không được chỉ rõ cho chúng ta.

45. Fulfillment of duty correlates with the planet Saturn, which during the year in which this first instruction is written, is opposing its own natal position, conjuncting natal Venus in Aquarius, conjuncting the natal South Node, and conjuncting the progressing Descendant (thus opposing the progressing Ascendant). Saturn, therefore, is prominent at the time of this writing.

45. Việc chu toàn bổn phận tương ứng với Sao Thổ; trong năm huấn thị đầu tiên này được viết, Sao Thổ đang đối vị với chính vị trí bản mệnh của nó, đồng vị với Sao Kim bản mệnh ở Bảo Bình, đồng vị với Nút Nam bản mệnh và đồng vị với Điểm lặn tiến trình (do đó đối vị với Điểm mọc tiến trình). Vì vậy, Sao Thổ nổi bật vào thời điểm viết huấn thị này.

46. The Tibetan’s goal for His disciples is ever liberation for the sake of widened service. His technique is to point out those liabilities which prevent this expanded service and to point the way to the correction of those liabilities.

46. Mục tiêu của Chân sư Tây Tạng dành cho các đệ tử của Ngài luôn là sự giải thoát để mở rộng phụng sự. Kỹ thuật của Ngài là chỉ ra những nhược điểm ngăn cản việc mở rộng phụng sự này và chỉ đường để sửa chữa những nhược điểm ấy.

47. Thus far, the exact methods of achieving liberation are left to the discretion of this advanced disciple. The requirement to “stand steadfast as a soul” is, however, ringingly clear.

47. Cho đến lúc này, người đệ tử tiến bộ ấy vẫn được tự quyết định những phương pháp cụ thể để đạt đến giải thoát. Tuy nhiên, yêu cầu “đứng vững như một linh hồn” thì hết sức rõ ràng.

June 1933—Tháng Sáu 1933

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Your period of difficulty and of loneliness has not lessened for you and you have found it hard to struggle along. I have not much to say to you at this time; you are coming closer to your Master and in such cases fellow disciples may not interfere. The greatest help that I can give you at this time is to make the above statement to you and this I do. You have the persistence and the will (like tempered steel) of the second [140] ray and can dismiss all fear as to your capacity to weather the storm and difficulty and to win through. Nothing can stop you....

Thời kỳ khó khăn và cô đơn của em vẫn chưa dịu bớt, và em nhận thấy thật khó nhọc khi phải tiếp tục gắng sức vượt qua. Lúc này, Tôi không có nhiều điều để nói với em; em đang đến gần Chân sư của mình hơn, và trong những trường hợp như vậy, các đệ tử đồng môn không được can thiệp. Sự giúp đỡ lớn nhất mà Tôi có thể dành cho em lúc này là nói với em điều vừa nêu, và Tôi đang làm như vậy. Em có sự kiên trì và ý chí (như thép đã tôi luyện) của cung hai [140] và có thể gạt bỏ mọi nỗi sợ về khả năng vượt qua giông bão, khó khăn và đi đến thành công của mình. Không gì có thể ngăn em lại....

48. Difficulty and loneliness suggest the first ray, as well as both Saturn and Pluto. At the time this second letter was written, transiting Pluto continues to remain in association with the Equatorial Ascendant of the 11:59:24 am chart; transiting Neptune, bringing reclusiveness, is conjuncting the natal Moon, sometimes-first-ray-Uranus is conjuncting the progressing Sun by transit, and transiting Chiron is just leaving natal Neptune.

48. Khó khăn và cô đơn gợi đến cung một, cũng như cả Sao Thổ lẫn Sao Diêm Vương. Vào thời điểm bức thư thứ hai này được viết, Sao Diêm Vương quá cảnh vẫn tiếp tục liên kết với Điểm mọc Xích đạo của lá số lúc 11:59:24 sáng; Sao Hải Vương quá cảnh, mang đến khuynh hướng sống ẩn dật, đang đồng vị với Mặt Trăng bản mệnh; Sao Thiên Vương, đôi khi thuộc cung một, đang quá cảnh đồng vị với Mặt Trời tiến trình; còn Chiron quá cảnh đang vừa rời khỏi Sao Hải Vương bản mệnh.

49. The struggle is accentuated by the progressed positions of both Venus and Mercury in the last degrees of Pisces. The last degrees of Pisces, preparatory to new initiatives in Aries, are peculiarly difficult.

49. Cuộc đấu tranh càng gay gắt hơn do vị trí tiến trình của cả Sao Kim và Sao Thủy ở những độ cuối của Song Ngư. Những độ cuối của Song Ngư, chuẩn bị cho các khởi đầu mới ở Bạch Dương, đặc biệt khó khăn.

50. We note that Master DK considers Himself a “fellow disciple”, presumably (from the wording) of the Master Who is also FCD’s Master. In fact, this Master is Master KH, the Master, for many lives, of Master DK, and, presently, FCD’s Master as well.

50. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK xem chính Ngài là một “đệ tử đồng môn”, có lẽ (theo cách diễn đạt) của vị Chân sư cũng là Chân sư của FCD. Thực ra, vị Chân sư này là Chân sư KH, Chân sư của Chân sư DK qua nhiều kiếp, và hiện cũng là Chân sư của FCD.

51. We are learning why Master DK, from the first, addressed FCD as “my fellow disciple”. DK’s relationship to FCD is thus made more apparent. He is there to help and assist, but is not allowed to take the place of FCD’s Master, KH.

51. Chúng ta đang hiểu vì sao ngay từ đầu Chân sư DK đã gọi FCD là “đệ tử đồng môn của tôi”. Qua đó, mối quan hệ giữa Chân sư DK và FCD trở nên rõ ràng hơn. Ngài ở đó để giúp đỡ và hỗ trợ, nhưng không được phép thay thế Chân sư của FCD là Chân sư KH.

52. We learn that FCD is “coming closer” to His Master. This may have been an occult hint to FCD, perhaps indicating to him the stage of discipleship which he was approaching. DK tells us that He has offered FCD great help by writing the sentence describing, at once, FCD’s approach to His Master and the scope of DK’s allowable assistance.

52. Chúng ta biết rằng FCD đang “đến gần” Chân sư của ông hơn. Đây có thể là một gợi ý huyền bí dành cho FCD, có lẽ chỉ cho ông biết giai đoạn địa vị đệ tử mà ông đang tiến đến. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng Ngài đã giúp đỡ FCD rất nhiều khi viết câu vừa mô tả việc FCD tiến gần Chân sư của ông, vừa nêu phạm vi hỗ trợ mà Chân sư DK được phép dành cho ông.

53. Then comes an important sentence. FCD is said to have “the will (like tempered-steel) of the second ray…” We note that the will referenced is like tempered steel because it has been through many extremes of ‘hot’ and ‘cold’. FCD’s is an experience-tested will. He is possessed of the power of endurance (Vulcan as a veiled ruler of his Virgo Moon, and the first ray placed in his mind).

53. Tiếp đó là một câu quan trọng. FCD được nói là có “ý chí (như thép đã tôi luyện) của cung hai…” Chúng ta lưu ý rằng ý chí được nhắc đến giống như thép đã tôi luyện vì đã trải qua nhiều cực điểm ‘nóng’ và ‘lạnh’. Ý chí của FCD đã được kinh nghiệm thử thách. Ông có sức chịu đựng bền bỉ (Vulcan là chủ tinh được che giấu của Mặt Trăng Xử Nữ của ông, và cung một nằm trong thể trí của ông).

54. There is “storm and difficulty” in FCD’s struggle. His Mars position in Scorpio and in the fifth house of personal self-expression will guarantee that. There is also a grand cross involving Sun, Pluto, Moon and Jupiter. His personal nature (Sun and Moon) will be defeated (Pluto) and he will rise to great heights via Jupiter in Sagittarius.

54. Có “giông bão và khó khăn” trong cuộc đấu tranh của FCD. Vị trí Sao Hỏa ở Hổ Cáp và trong nhà 5 của sự biểu đạt cá nhân sẽ bảo đảm điều đó. Cũng có một đại thập giá gồm Mặt Trời, Sao Diêm Vương, Mặt Trăng và Sao Mộc. Bản chất cá nhân của ông (Mặt Trời và Mặt Trăng) sẽ bị khuất phục (Sao Diêm Vương), và ông sẽ vươn lên những tầm cao lớn lao nhờ Sao Mộc ở Nhân Mã.

55. Perhaps, we do not usually think of the second ray as having a “will like tempered steel”, but elsewhere in the Teaching we learn of the ability of the second ray work with no let up:

55. Có lẽ chúng ta thường không nghĩ cung hai có một “ý chí như thép đã tôi luyện”, nhưng ở nơi khác trong Giáo Huấn, chúng ta biết đến khả năng làm việc không ngơi nghỉ của cung hai:

56.

56.

57. “The will which brings fulfilment demonstrates through the second ray by the means of that driving force which enables the second ray soul steadily to achieve its goal, relentlessly pushing forward, permitting itself no let-up or leeway until the desired goal is reached. This is a different expression to the will of the first ray which is dynamic and which crashes forward in spite of all obstacles; the latter does not require the slower methods of the steady drive.” (EA 624)

57. “Ý chí mang lại sự hoàn thành biểu lộ qua cung hai bằng mãnh lực thúc đẩy giúp linh hồn cung hai kiên định đạt mục tiêu, không ngừng tiến tới, không cho phép mình ngơi nghỉ hay nới lỏng cho đến khi đạt được mục tiêu mong muốn. Đây là một biểu hiện khác với ý chí của cung một, vốn năng động và lao tới bất chấp mọi chướng ngại; ý chí cung một không cần những phương pháp chậm hơn của sự thúc đẩy bền bỉ.” (EA 624)

58. One might be tempted to think that FCD was upon the first subray of his second ray soul, except for the fact that he is treading the Path of the World Saviours, which necessitates a second or third subray to the second ray soul (cf. DINA II 518)

58. Người ta có thể dễ nghĩ rằng FCD thuộc cung phụ thứ nhất của linh hồn cung hai của ông, nếu không có sự kiện ông đang bước trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế, vốn đòi hỏi cung phụ thứ hai hoặc thứ ba của linh hồn cung hai (xem DINA II 518)

59. There is, however, much astrologically available first ray in his make-up to reinforce the softer tendencies of his second ray equipment.

59. Tuy nhiên, trong cấu trúc của ông có nhiều năng lượng cung một sẵn có về mặt chiêm tinh để củng cố những khuynh hướng mềm mại hơn của bộ khí cụ cung hai của ông.

60. FCD is told, “nothing can stop you…” The sentence is discontinued, and may refer to the specifics of the manner in which he cannot be stopped. We do note that at the time of this writing, the planet of “Electric Fire”, Uranus, is making a transit over the progressed Sun in Aries (another first ray sign). This is a significant empowerment of a first ray nature.

60. FCD được bảo rằng “không gì có thể ngăn cản em…” Câu này bỏ dở, và có thể ám chỉ những chi tiết cụ thể về cách thức mà không gì có thể ngăn cản ông. Chúng ta quả có lưu ý rằng vào thời điểm viết thư này, hành tinh của “Lửa Điện”, Sao Thiên Vương, đang quá cảnh qua Mặt Trời tiến trình ở Bạch Dương (một dấu hiệu cung một khác). Đây là một sự gia tăng quyền năng đáng kể mang bản chất cung một.

61. We may pause to wonder whether Master DK has the astrological charts of His chelas before Him as He is offering them written assistance. I tend to think that He does not—at least not astrological charts of the kind that modern astrologers use. But His intuition is so keen that the condition of His chelas is entirely known to Him, and, thus, He may speak with authority. The modern astrologer, having no such intuitive certainty, is forced to gather incomplete evidence from an astrological chart. If the astrologer works well, he may come to conclusions similar to those of the Master. Usually, however, the astrologer will simply be in a position to discern a ‘sufficient astrological reason’ for what the Master has said. This, at least, is something.

61. Chúng ta có thể dừng lại để tự hỏi liệu Chân sư DK có đặt trước mặt Ngài các lá số chiêm tinh của các đệ tử khi Ngài viết lời hỗ trợ cho họ hay không. Tôi thiên về ý nghĩ rằng Ngài không làm vậy—ít nhất là không dùng loại lá số chiêm tinh mà các nhà chiêm tinh hiện đại sử dụng. Nhưng trực giác của Ngài sắc bén đến mức Ngài biết trọn vẹn tình trạng các đệ tử của mình, và do đó Ngài có thể nói với thẩm quyền. Nhà chiêm tinh hiện đại, không có sự xác tín trực giác như vậy, buộc phải thu thập bằng chứng không đầy đủ từ một lá số chiêm tinh. Nếu làm việc tốt, nhà chiêm tinh có thể đi đến những kết luận tương tự như của Chân sư. Tuy nhiên, thông thường nhà chiêm tinh chỉ có thể phân biện được một ‘lý do chiêm tinh đủ sức giải thích’ cho điều Chân sư đã nói. Ít nhất, điều này cũng có giá trị nhất định.

I would like to give you a special formula or mantram and I have chosen the following phrases to be repeated by you whenever you choose:

Tôi muốn trao cho em một công thức đặc biệt hay một mantram và Tôi đã chọn những câu sau đây để em lặp lại bất cứ khi nào em muốn:

62. Mantrams are “Words of Power”. Their potency is little suspected.

62. Các mantram là những “Quyền năng từ”. Ít ai ngờ đến uy lực của chúng.

63. Those given by the Tibetan will often be of great potency. It is also advisable to create pertinent mantrams for oneself. They may lack rhythm and ancient origin, but should be pregnant with meaning and intimate to the consciousness of the creator.

63. Những mantram do Chân sư Tây Tạng trao thường có uy lực lớn lao. Mỗi người cũng nên tự tạo những mantram phù hợp cho mình. Chúng có thể thiếu nhịp điệu và nguồn gốc cổ xưa, nhưng phải hàm chứa ý nghĩa sâu sắc và gần gũi với tâm thức của người tạo ra chúng.

"I am a messenger of Light. I am a pilgrim on the way of love. I do not walk alone but know myself as one with all great souls, and one with them in service. Their strength is mine. This strength I claim. My strength is theirs and this I freely give. A soul, I walk on earth. I represent the ONE."

“Tôi là sứ giả của Ánh sáng. Tôi là người hành hương trên con đường tình thương. Tôi không bước đi một mình mà biết mình hợp nhất với mọi linh hồn cao cả, và hợp nhất với họ trong phụng sự. Sức mạnh của họ là của tôi. Tôi khẳng định quyền sử dụng sức mạnh này. Sức mạnh của tôi là của họ, và tôi tự nguyện trao ban. Là một linh hồn, tôi bước đi trên Trái Đất. Tôi đại diện cho ĐẤNG DUY NHẤT.”

64. The emphasis is upon the qualities of the dualistic second ray: light (i.e., wisdom) and love.

64. Trọng tâm đặt vào những phẩm tính của cung hai mang tính nhị nguyên: ánh sáng (tức là minh triết) và tình thương.

65. The “great souls” are the members of Hierarchy, and FCD is to identify with Them, and not so much with the personalities of those for whom he feels sympathy.

65. Những “linh hồn cao cả” là các thành viên của Thánh đoàn, và FCD cần đồng hoá với Các Ngài, thay vì quá đồng hoá với phàm ngã của những người mà ông cảm thấy đồng cảm.

66. The mantram fortifies the user with the first ray; it calls upon the strength of Hierarchy.

66. Mantram này củng cố người sử dụng bằng cung một; nó kêu gọi sức mạnh của Thánh đoàn.

67. One gains strength by giving strength; the mantram calls for this as well.

67. Người ta có được sức mạnh bằng cách trao tặng sức mạnh; mantram cũng kêu gọi điều này.

68. The speaker is to know himself as the soul. That is his major identification.

68. Người xướng phải biết mình là linh hồn. Đó là sự đồng hoá chủ yếu của người ấy.

69. The initiate of the third degree is to possess the facility to reveal the One. FCD is, I believe, such an initiate, or becomes so before the end of his period of instruction. DK is having him stand in that position—a revealer and representative of the One.

69. Điểm đạo đồ bậc ba phải có khả năng mặc khải Đấng Duy Nhất. Tôi tin rằng FCD là một điểm đạo đồ như vậy, hoặc trở thành như vậy trước khi thời kỳ huấn luyện của ông kết thúc. Chân sư DK đang đặt ông vào vị thế ấy—một người mặc khải và đại diện cho Đấng Duy Nhất.

70. It is clear that this mantram will add to the power of dis-identification so needed by FCD, to free him from ties. Appropriately, in Psychosynthesis Training, the Raja-Yoga disidentification exercise is much used at FCD’s insistence: “I have a mind, but I am not my mind; I have emotions, but I am not my emotions, etc.”

70. Rõ ràng mantram này sẽ tăng cường năng lực thôi đồng hoá mà FCD rất cần, để giải phóng ông khỏi những ràng buộc. Phù hợp với điều đó, trong chương trình Huấn luyện Tâm lý Tổng hợp, bài tập thôi đồng hoá của Raja-Yoga được sử dụng nhiều theo sự nhấn mạnh của FCD: “Tôi có một thể trí, nhưng tôi không phải là thể trí của tôi; tôi có những cảm xúc, nhưng tôi không phải là những cảm xúc của tôi, v.v.”

Your work in my group and your power in relation to your group brothers, consists in your compassionate comprehension. You feed their love for each other and you act as a focal point for that aspect of the soul which expresses itself in understanding. You can transmit that soul quality.

Công việc của em trong nhóm Tôi và quyền năng của em trong mối liên hệ với các huynh đệ trong nhóm nằm ở sự thấu hiểu đầy lòng từ bi của em. Em nuôi dưỡng tình thương họ dành cho nhau và đóng vai trò tiêu điểm cho phương diện của linh hồn biểu lộ qua sự thấu hiểu. Em có thể truyền đạt phẩm tính linh hồn ấy.

71. Although FCD is in the Ashram of the Master KH, he is in the “group” of the Master DK. This is an interesting and important distinction. Many of us may find ourselves in the outer group of some Master; few, however, are conscious members of Ashrams.

71. Mặc dù FCD ở trong ashram của Chân sư KH, ông lại ở trong “nhóm” của Chân sư DK. Đây là một sự phân biệt thú vị và quan trọng. Nhiều người trong chúng ta có thể thấy mình ở trong nhóm bên ngoài của một Chân sư nào đó; tuy nhiên, ít người là thành viên hữu thức của các ashram.

72. FCD’s power in relation to his group brothers results from his “compassionate comprehension”. Why does this quality represent a power? We recognize the quality as pertaining to Pisces, Cancer, Neptune and the second ray. When one is understood compassionately, the best of the individual is drawn forth. He feels loved, accepted, fully understood. Individual and group inharmonies fade away and self-hatreds disappear. One is transformed into a more willing, effective and loving group member.

72. Quyền năng của FCD trong mối quan hệ với các huynh đệ trong nhóm bắt nguồn từ “sự thấu hiểu đầy từ bi” của ông. Vì sao phẩm tính này lại biểu thị một quyền năng? Chúng ta nhận ra phẩm tính ấy thuộc về Song Ngư, Cự Giải, Sao Hải Vương và cung hai. Khi một người được thấu hiểu với lòng từ bi, những gì tốt đẹp nhất nơi người ấy được khơi dậy. Người ấy cảm thấy mình được yêu thương, được đón nhận và được thấu hiểu trọn vẹn. Những bất hòa trong cá nhân và trong nhóm phai nhạt, còn sự căm ghét bản thân thì biến mất. Người ấy chuyển đổi thành một thành viên nhóm sẵn lòng hơn, hữu hiệu hơn và giàu tình thương hơn.

73. How does one feed in one’s group members their love for each other? The energy of love is self-validating; it needs no justification. When loving understanding is radiated by a certain group member, it spreads naturally and rapidly to other group members. A beneficent change within the group energy field develops. Harmonious group coherence born of love develops quickly. Only then does real group work become possible.

73. Làm thế nào để nuôi dưỡng tình thương dành cho nhau nơi các thành viên trong nhóm? Năng lượng tình thương tự khẳng định giá trị của nó; nó không cần sự biện minh. Khi một thành viên trong nhóm tỏa ra sự thấu hiểu đầy tình thương, điều ấy lan truyền tự nhiên và nhanh chóng đến các thành viên khác. Một sự thay đổi tốt lành hình thành trong trường năng lượng của nhóm. Sự gắn kết hài hòa của nhóm, nảy sinh từ tình thương, nhanh chóng phát triển. Chỉ khi đó công việc nhóm thực sự mới có thể thực hiện.

74. We note that FCD acts as a focal point for that aspect of the soul which expresses itself in “understanding”. One understands if he has been through similar experiences in this life or another, or if he is possessed of sufficient imagination to identify with another’s experience, whether or not he has had the identical experience. All things being equal, however, an “old soul” who has lived through many of humanity’s common experiences, will express understanding more readily. And because such a soul has suffered through many such experiences, the kind of understanding expressed will be expressed feelingly as “compassionate understanding”.

74. Chúng ta lưu ý rằng FCD đóng vai trò một tiêu điểm cho phương diện linh hồn biểu lộ qua “sự thấu hiểu”. Một người thấu hiểu nếu đã trải qua những kinh nghiệm tương tự trong kiếp này hay một kiếp khác, hoặc nếu có đủ sự tưởng tượng để đồng hoá với kinh nghiệm của người khác, dù bản thân đã trải qua kinh nghiệm giống hệt như vậy hay chưa. Tuy nhiên, khi các điều kiện khác như nhau, một “linh hồn già dặn” đã trải qua nhiều kinh nghiệm chung của nhân loại sẽ biểu lộ sự thấu hiểu dễ dàng hơn. Và vì linh hồn ấy đã chịu khổ qua nhiều kinh nghiệm như vậy, sự thấu hiểu sẽ được biểu lộ với cảm xúc sâu sắc như một “sự thấu hiểu đầy từ bi”.

75. The thoughts, feelings and behaviors of our brothers and sisters are often incompletely understood or misunderstood. The readiness to misunderstand betrays insufficient soul-experience and soul-culture. When an individual feels deeply understood, there comes a psychological release which opens the door to the inflow of soul energy. In such understanding, the tendency towards judgmentalism is suspended. Those who feel judged are often rebuffed; cleavage sets in and group harmony and coherence are compromised.

75. Những tư tưởng, cảm xúc và hành vi của các huynh đệ và tỷ muội chúng ta thường chỉ được thấu hiểu một phần hoặc bị hiểu lầm. Khuynh hướng dễ hiểu lầm cho thấy kinh nghiệm và sự trau dồi của linh hồn còn chưa đủ. Khi một cá nhân cảm thấy mình được thấu hiểu sâu sắc, một sự giải tỏa tâm lý xuất hiện, mở cửa cho năng lượng linh hồn tuôn vào. Trong sự thấu hiểu ấy, khuynh hướng phán xét tạm ngưng. Những người cảm thấy mình bị phán xét thường cảm thấy bị khước từ; sự chia rẽ xuất hiện, còn sự hài hòa và gắn kết của nhóm bị tổn hại.

76. What soul quality do you transmit, do we transmit? Think about this, because each disciple is obliged to transmit at least one quality of soul as his contribution to the group. The same is true for any discipleship group when considering its relationship with a greater context.

76. Các bạn truyền đạt phẩm tính linh hồn nào, chúng ta truyền đạt phẩm tính linh hồn nào? Hãy suy nghĩ về điều này, vì mỗi đệ tử có bổn phận truyền đạt ít nhất một phẩm tính linh hồn như phần đóng góp của mình cho nhóm. Điều này cũng đúng với bất kỳ nhóm đệ tử nào khi xét mối quan hệ của nhóm với một bối cảnh rộng lớn hơn.

June 1934-Tháng Sáu 1934

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You stand at the verge of a real expansion of your work and for this you must prepare yourself. This, I believe, you already realise. It is, however, in the use of the spiritual will on your part that the release to full liberty of action will come. Your life has been a discipline, but the fruits of that discipline will demonstrate as you open the doors and also close them upon ancient imprisoning limitations. You know well whereof I speak.

Em đang đứng trước ngưỡng cửa của một sự mở rộng thực sự trong công việc, và em phải chuẩn bị cho điều này. Tôi tin rằng em đã nhận ra điều ấy. Tuy nhiên, chính qua việc em vận dụng ý chí tinh thần mà em sẽ được giải phóng để hoàn toàn tự do hành động. Cuộc đời em là một quá trình rèn luyện kỷ luật, nhưng thành quả của sự rèn luyện ấy sẽ biểu lộ khi em mở những cánh cửa, đồng thời khép lại những giới hạn từ lâu đã giam hãm em. Em biết rõ Tôi đang nói đến điều gì.

77. In looking for the astrological reasons for this expansion, we note that transiting Jupiter is crossing natal and progressed Uranus. These two planets combine to produce “beneficent organisation” (EA 71). As well, we find the progressing Sun in Aries in close trine to the progressing Vertex in Sagittarius, ruled orthodoxly by Jupiter. Jupiter, we realize, is the orthodox ruler of the Pisces MC.

77. Khi tìm những lý do chiêm tinh cho sự mở rộng này, chúng ta lưu ý rằng Sao Mộc quá cảnh đang đi qua Sao Thiên Vương bản mệnh và tiến trình. Hai hành tinh này kết hợp để tạo ra “sự tổ chức mang lại lợi ích” (EA 71). Đồng thời, chúng ta thấy Mặt Trời tiến trình ở Bạch Dương tạo góc tam hợp sát với điểm Vertex tiến trình ở Nhân Mã, do Sao Mộc cai quản theo chiêm tinh ngoại môn. Chúng ta nhận ra rằng Sao Mộc là chủ tinh ngoại môn của Thiên Đỉnh Song Ngư.

78. Greater responsibility is coming into FCD’s life, as Saturn is preparing to culminate—i.e., to cross the MC within a year of this instruction.

78. Trách nhiệm lớn hơn đang đến với cuộc đời FCD, khi Sao Thổ chuẩn bị lên đỉnh—tức là đi qua Thiên Đỉnh trong vòng một năm kể từ huấn thị này.

79. DK calls for the application of the spiritual will. The growing strength of Saturn, preparing to conjunct the natal Sun and MC, will facilitate this application.

79. Chân sư DK kêu gọi vận dụng ý chí tinh thần. Sức mạnh ngày càng tăng của Sao Thổ, đang chuẩn bị đồng vị với Mặt Trời bản mệnh và Thiên Đỉnh, sẽ tạo thuận lợi cho việc vận dụng này.

80. The principle put forth is that there can be no complete liberty of action unless the spiritual will is applied.

80. Nguyên khí được nêu ra là không thể có tự do hành động trọn vẹn nếu không vận dụng ý chí tinh thần.

81. FCD’s life, we learn, has been a discipline. He has several T-squares and also a most potent grand-cross.

81. Chúng ta biết rằng cuộc đời FCD là một quá trình rèn luyện. Ông có một số cấu hình chữ T và cả một đại thập giá hết sức mạnh mẽ.

82. The Tibetan is a master psychologist. Even as He adivses of the imminent unfoldment of potentials, He asks FCD to close the door upon “ancient imprisoning limitation”. He follows this request by a formula of words which is positively mantric in its effect: “You know well whereof I speak.” Whenever DK uses such a sentence, He seems to be referring to some bad habit or moral tendency which must be dropped. He uses the same mantram with LUT who was advised to seek out men as his companions (and, if we read between the lines, not women).

82. Chân sư Tây Tạng là một nhà tâm lý học bậc thầy. Ngay khi báo cho FCD biết về sự khai mở sắp tới của những tiềm năng, Ngài yêu cầu ông đóng cánh cửa đối với “giới hạn giam hãm từ lâu”. Tiếp theo yêu cầu này, Ngài đưa ra một công thức ngôn từ thực sự có tác dụng như một mantram: “Em biết rõ Tôi đang nói về điều gì.” Mỗi khi Chân sư DK dùng một câu như thế, dường như Ngài đang đề cập đến một thói quen xấu hoặc khuynh hướng đạo đức cần phải từ bỏ. Ngài dùng cùng mantram ấy với LUT, người được khuyên nên tìm nam giới làm bạn đồng hành (và, nếu chúng ta đọc được hàm ý giữa các dòng, không phải phụ nữ).

83. The problem here referenced may refer to FCD’s sexual life, as Mars in Scorpio in the fifth house of love affairs might suggest. We can understand that someone with so great a psychological understanding and so ready a tendency to identify with others, would have a great capacity for the expression of intimacy through lower love. If this is the case, Master DK has chosen His timing well. A strengthening Saturn will facilitate the disciplinary objective. Soon it will not only be conjuncting the Sun in Pisces but opposing the Moon in Virgo (considering the Moon as the “prison of the soul”, and the repository of habits that must be changed).

83. Vấn đề được nhắc tới ở đây có thể liên quan đến đời sống tình dục của FCD, như vị trí Sao Hỏa trong Hổ Cáp tại nhà năm của những chuyện tình ái có thể gợi ý. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng một người có sự thấu hiểu tâm lý sâu sắc đến thế và khuynh hướng dễ dàng đồng hoá với người khác, sẽ có khả năng lớn trong việc biểu lộ sự thân mật qua tình yêu ở cấp độ thấp. Nếu đúng như vậy, Chân sư DK đã chọn thời điểm rất khéo. Sao Thổ đang mạnh lên sẽ tạo thuận lợi cho mục tiêu rèn luyện kỷ luật. Chẳng bao lâu nữa, Sao Thổ không chỉ đồng vị với Mặt Trời trong Song Ngư mà còn đối vị với Mặt Trăng trong Xử Nữ (khi xem Mặt Trăng là “nhà tù của linh hồn”, và là nơi lưu giữ những thói quen phải thay đổi).

84. At one point in my psychological studies I make the acquaintance of an individual who knew FCD well. He said something to this effect: ‘No one who sees the later pictures of Dr. Assagioli, so saintly, so bird-like, can imagine the potency of his early years. There were many women.’ The quotation is simply a remembrance, but the sense of it is correct. The second ray is the ray of love at whatever level that love may be expressing.

84. Trong một giai đoạn nghiên cứu tâm lý học, tôi làm quen với một người biết rõ FCD. Ông ấy nói đại ý như sau: ‘Không ai nhìn những bức ảnh về sau của Tiến sĩ Assagioli, trông thánh thiện đến thế, giống một chú chim đến thế, lại có thể hình dung được sức mạnh của ông thời trẻ. Đã có nhiều phụ nữ.’ Câu trích chỉ là điều tôi nhớ lại, nhưng ý nghĩa của nó thì chính xác. Cung hai là cung của tình thương, bất kể tình thương ấy đang biểu lộ ở cấp độ nào.

85. Obviously, the Tibetan considers strictly “human love” (EA 332) to be not only a limitation if over-indulged, but an “ancient, imprisoning” one. Sometimes the disciples had obvious faults that needed correcting; Master DK addressed Himself to these rapidly after commencing the instruction of His chelas.

85. Hiển nhiên, Chân sư Tây Tạng xem “tình yêu thuần túy của con người” (EA 332) không chỉ là một giới hạn nếu quá đắm chìm trong đó, mà còn là một giới hạn “giam hãm từ lâu”. Đôi khi các đệ tử có những khuyết điểm rõ ràng cần sửa chữa; Chân sư DK nhanh chóng đề cập đến những điều này sau khi bắt đầu huấn thị các đệ tử của Ngài.

First, I would say to you these words, disciple of the Master K.H. Who has also been to me a wise and guiding Teacher: Relinquish that close attention to the lives of those around you which is the easy way of working for all who are second ray disciples. Their sense of responsibility is so great and their desire to shelter and to guard so strong that they unduly cherish those who are linked to them by karmic obligation and whose lives touch theirs in the life of every day. Go your own way with strength and silence, and do that which your soul demands. Let not the lesser voices of the loved and near deflect you from your progress upon the path of service. You belong now to the [141] world, and not to a handful of your fellowmen. This is not an easy lesson to learn, my brother, but all disciples have some day to learn it and it is an appropriate lesson for you at this time. The call has gone out for Servers and all who are pledged disciples must be the first to make response. This will involve sacrifice but you can be depended upon to make it.

Trước hết, Tôi muốn nói với em những lời này, hỡi đệ tử của Chân sư KH, Ngài cũng là một huấn sư minh triết đã hướng dẫn Tôi: Hãy từ bỏ việc quá chăm chú đến đời sống của những người quanh em, vốn là cách làm việc dễ dàng đối với mọi đệ tử cung hai. Ý thức trách nhiệm của họ lớn lao đến mức, và mong muốn che chở, bảo vệ của họ mạnh mẽ đến mức, họ quá nâng niu những người gắn bó với mình qua nghĩa vụ nghiệp quả và những người có đời sống tiếp xúc với đời sống của họ hằng ngày. Hãy đi con đường riêng của em với sức mạnh và sự im lặng, và làm điều linh hồn em đòi hỏi. Đừng để những tiếng nói nhỏ hơn của người thân yêu và gần gũi khiến em chệch hướng tiến bước trên con đường phụng sự. Giờ đây, em thuộc về [141] thế gian, chứ không phải một số ít người đồng loại. Huynh đệ của tôi, đây không phải là bài học dễ học, nhưng một ngày nào đó mọi đệ tử đều phải học, và đó là bài học thích hợp cho em vào lúc này. Lời kêu gọi những Người Phụng Sự đã vang lên, và tất cả các đệ tử đã phát nguyện phải là những người đầu tiên đáp ứng. Điều này sẽ đòi hỏi hi sinh, nhưng có thể tin cậy rằng em sẽ thực hiện sự hi sinh ấy.