Tóm lược chương
Bức thư thứ sáu của Thư Về Tham thiền Huyền môn bàn về bốn vấn đề: dùng hình tướng để nâng cao tâm thức, cách nhà thần bí và nhà huyền bí học sử dụng hình tướng, những hình tướng dành cho mục đích cụ thể, và việc sử dụng hình tướng tập thể. Chân sư DK chưa đưa ra các hình tướng để thực hành theo từng bước, vì phản ứng của đạo sinh cần được một huấn sư trực tiếp theo dõi. Phương pháp giảng dạy huyền môn vì thế tiến từng bước: một gợi ý được đem ra thực hành và thấu hiểu sẽ mở đường cho gợi ý kế tiếp. Theo phần giáo lý được trích, trong hệ mặt trời lớn thứ hai, hình tướng là phương tiện để sự sống nội tại biểu lộ, tăng trưởng, trải nghiệm và…
Commentary LOM 32
Tóm Tắt
Tóm tắt Webinar: Commentary LOM 32_edited
Phạm vi của việc dùng hình tướng trong tham thiền
Bức thư thứ sáu của Thư Về Tham thiền Huyền môn bàn về bốn vấn đề: dùng hình tướng để nâng cao tâm thức, cách nhà thần bí và nhà huyền bí học sử dụng hình tướng, những hình tướng dành cho mục đích cụ thể, và việc sử dụng hình tướng tập thể. Chân sư DK chưa đưa ra các hình tướng để thực hành theo từng bước, vì phản ứng của đạo sinh cần được một huấn sư trực tiếp theo dõi. Phương pháp giảng dạy huyền môn vì thế tiến từng bước: một gợi ý được đem ra thực hành và thấu hiểu sẽ mở đường cho gợi ý kế tiếp.
Hình tướng làm vận cụ cho sự sống
Theo phần giáo lý được trích, trong hệ mặt trời lớn thứ hai, hình tướng là phương tiện để sự sống nội tại biểu lộ, tăng trưởng, trải nghiệm và nhận biết chính mình. Nguyên lý ấy áp dụng từ toàn bộ hệ mặt trời đến con người và cả hình tướng do con người tạo ra nhằm nâng tâm thức tới một mục tiêu đã hình dung. Một liên hệ chiêm tinh được nêu là dấu hiệu Xử Nữ bao hàm cả tinh thần lẫn vật chất; cách diễn giải này làm nổi bật mục đích hợp nhất cái cao với cái thấp của tham thiền. Tuy nhiên, phụng sự cũng được đặt bên cạnh tham thiền như một hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của trung tâm tim.
Các nấc mở rộng tâm thức
Việc nâng cao tâm thức đòi hỏi xem xét tâm thức hiện tại, mục tiêu nó hướng tới và những bước để đạt mục tiêu. Con người ban đầu nhận mình là một đơn vị tách biệt giữa những người khác, rồi dần nhận biết các bản ngã cao hơn, chân ngã của chính mình, nhóm chân ngã và những nhóm khác. Sự mở rộng tiếp theo là tình huynh đệ được thực nghiệm trong tâm thức toàn nhân loại, nhận ra vị trí của mình trong một Đấng Thiên Nhân và sau cùng trong toàn thể do Thái dương Thượng đế biểu hiện. Theo một suy đoán được nêu trong phần bình giảng, Chân Thần của một người đang hoạt động trên Trái Đất có thể bắt nguồn từ một hành tinh thiêng liêng khác; đây không phải điều được xác lập trong đoạn giáo lý đang xét.
Từ hiểu biết lý thuyết đến thực nghiệm
Sự hợp nhất mà chân ngã nhận biết trên cõi của mình chưa đem lại kết quả thiết thực nếu con người, trong tâm thức tỉnh thức nơi cõi hồng trần, vẫn tự xem là một đơn vị riêng biệt. Mỗi giai đoạn phải trở thành kinh nghiệm trực tiếp, chứ không chỉ là một phát biểu trí tuệ; trí tuệ cần mở rộng và cái thấp cần được chuẩn bị để biểu hiện cái cao. Tham thiền khoa học sử dụng các hình tướng theo từng cấp để mở rộng phạm vi bao gồm của tâm trí: từ gia đình, bạn bè và người chung quanh đến các nhóm liên hệ, nhóm chân ngã, những nhóm chân ngã khác, Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế.
Duy trì tâm thức cao trong đời sống hằng ngày
Đối với người trên Con Đường Dự Bị, bước thực tiễn là hướng tới chân ngã và sự phát triển tâm thức nhóm, không phải chỉ dành ba mươi phút mỗi ngày cho một hình thức tham thiền. Tâm thức cần được giữ suốt ngày càng gần mức đạt được trong buổi tham thiền sáng càng tốt, cùng với sự quyết tâm nhận mình là chân ngã thay vì phàm ngã tách biệt. Khi chân ngã dần nắm quyền, lợi ích của nhóm thay thế các mong muốn riêng; sự cảnh giác liên tục ngăn việc rơi trở lại rung động thấp. Mục tiêu là để hạ trí, dục vọng và các hành khí của thể xác không còn được nuôi dưỡng như những quyền lực chi phối, mà phàm ngã tam phân trở thành phương tiện cho chân ngã tiếp xúc thế gian để giúp nhân loại.
Hai hình tư tưởng bắt cầu
Việc duy trì tham thiền trong đời sống hằng ngày xây dựng một hình tư tưởng xác định, đóng vai trò vận cụ trung gian giúp chuyển từ tâm thức thấp sang tâm thức cao; nó được ví với một dạng mayavirupa, chứ không phải vận cụ của điểm đạo đồ ở những cấp cao. Theo phương pháp thứ nhất, đạo sinh xây dựng hình tướng của Chân sư bằng tham thiền, tình thương và nếp sống hằng ngày; khi thích hợp, Chân sư tiếp sinh lực cho hình tướng ấy, qua đó đạo sinh nhận biết mình thuộc về tâm thức của Chân sư và bước vào tâm thức nhóm chân ngã. Con đường này dựa nhiều vào tình thương và lòng sùng tín, có thể khởi từ tình thương dành cho một người rồi hướng dần về Chân sư. Theo phương pháp thứ hai, người thiên về trí tuệ hình dung chính mình mang các đức hạnh lý tưởng và thực hành chúng từng ngày; hình tướng được xây dựng bằng sự tích lũy đức hạnh cũng là một cây cầu tạm thời dẫn tới tiếp xúc với chân ngã.
Text LOM 32 – Văn bản LOM 32
THƯ VI - VIỆC SỬ DỤNG HÌNH TƯỚNG TRONG THAM THIỀN
AUGUST 6, 1920.
NGÀY 6 THÁNG 8 NĂM 1920.
[Page 140]
[Page 140]
[1] Your very natural desire to have me give you in this sixth letter certain specific forms to achieve certain results cannot be fully acquiesced in. [2] I do not propose to outline for you any forms for careful following. [3] The risks, as before I have pointed out, are too great apart from the supervision of a teacher at hand to watch reactions. [4] These forms may later be given. The work is duly planned out for the coming generation of students, this series of letters having its place within that outline. [5] What I intend to do today is something different. I purpose to do four things which we will separately take up and elucidate. These things, if duly assimilated and acted upon, will lead to further enlightenment. [6] In the occult method of teaching step by step is given, point by point slowly laid before the pupil, and only as each step is taken and each point is grasped, will the next in order become clear. The teacher gives an indication, drops a hint, and touches some high light. The pupil follows the point emphasized, and finds on thus acting that further light pours in, another stage appears and other hints are dropped. In joint action and reaction therefore the occult student is trained by the occultist.
[1] Mong muốn rất tự nhiên của các bạn rằng Tôi cung cấp trong bức thư thứ sáu này một số hình tướng cụ thể để đạt được những kết quả nhất định không thể được đáp ứng hoàn toàn. [2] Tôi không có ý định phác thảo cho các bạn bất kỳ hình tướng nào để tuân theo một cách cẩn trọng. [3] Như Tôi đã chỉ ra trước đây, những rủi ro là quá lớn nếu không có một huấn sư ở bên giám sát các phản ứng. [4] Những hình tướng này có thể được cung cấp về sau. Công việc đã được hoạch định chu đáo cho thế hệ đạo sinh sắp tới, và loạt thư này có vị trí trong đề cương ấy. [5] Điều Tôi định làm hôm nay là một việc khác. Tôi dự định làm bốn việc mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét và làm sáng tỏ. Nếu được lĩnh hội đúng đắn và đưa vào thực hành, những điều này sẽ dẫn đến sự giác ngộ sâu hơn. [6] Trong phương pháp giảng dạy huyền bí, từng bước được chỉ dẫn, từng điểm được chậm rãi trình bày trước môn sinh; chỉ khi mỗi bước đã được thực hiện và mỗi điểm đã được nắm bắt, bước kế tiếp theo trình tự mới trở nên rõ ràng. Huấn sư đưa ra một chỉ dẫn, hé mở một gợi ý và đề cập đến một điểm nổi bật. Môn sinh làm theo điểm được nhấn mạnh, và khi hành động như vậy, nhận thấy ánh sáng tiếp tục tuôn vào, một giai đoạn khác xuất hiện và những gợi ý khác được hé mở. Vì vậy, thông qua hành động và đáp ứng qua lại, nhà huyền bí học huấn luyện đạo sinh huyền bí.
[7] In studying the topic, “The use of form in meditation,” the four divisions under which I seek to place the intended data are as follows:—
[7] Khi nghiên cứu chủ đề “Việc sử dụng hình tướng trong tham thiền”, Tôi muốn sắp xếp những thông tin dự định trình bày thành bốn phần như sau:—
[8] 1—The use of Form in raising the consciousness.
[8] 1—Việc sử dụng Hình tướng để nâng cao tâm thức.
[9] 2.—The use of Form [10] by the mystic and the occultist. [Page 141]
[9] 2.—Việc sử dụng Hình tướng [10] của nhà thần bí và nhà huyền bí học. [Page 141]
[11] 3—The use of specific forms for specific ends.
[11] 3—Việc sử dụng những hình tướng cụ thể cho những mục đích cụ thể.
[12] 4—The use of Form collectively.
[12] 4—Việc sử dụng Hình tướng theo tập thể.
[13] In the exposition of these subjects you will see that what I am endeavoring to produce is a just apprehension of the value of forms in meditation and not the imparting of any definite method. [14] I seek to show the essential nature of proceeding under law in this the most important means of bringing about union with the divine, and of producing that at-one-ment between the higher and the lower that is the aim of all evolution. [15] I desire to leave in the minds of those who read these words a just apprehension of the relationship between spirit and matter which is the basis of all work of this nature.
[13] Qua phần trình bày những chủ đề này, các bạn sẽ thấy điều Tôi cố gắng tạo ra là sự nhận thức đúng đắn về giá trị của các hình tướng trong tham thiền, chứ không phải truyền đạt bất kỳ phương pháp xác định nào. [14] Tôi muốn cho thấy bản chất thiết yếu của việc tiến hành theo định luật trong phương tiện quan trọng nhất này để đạt đến sự hợp nhất với điều thiêng liêng, và tạo nên sự nhất thể giữa cái cao và cái thấp — mục tiêu của mọi tiến hoá. [15] Tôi mong lưu lại trong trí những người đọc các lời này một nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, vốn là nền tảng của mọi công việc thuộc bản chất này.
[16] The method employed by the Logos in this the second solar system [17] is definitely the use of form for purposes of manifestation, [18] as a medium of expression and as the vehicle whereby the indwelling life may grow, expand, experience and find itself. [19] This is the case whether the form is an entire solar system, whether it is a human being in his complexity, or whether it is a form built by that human being in his endeavor to realize and know,—a form built for the very purpose of providing a vehicle whereby the consciousness may, by set stages, raise itself step by step to some visualized point. This brings us to our first point:
[16] Phương pháp mà Thượng đế sử dụng trong hệ mặt trời thứ hai này [17] rõ ràng là sử dụng hình tướng cho mục đích biểu hiện, [18] làm trung gian biểu đạt và làm hiện thể để sự sống nội tại có thể tăng trưởng, mở rộng, trải nghiệm và tìm thấy chính mình. [19] Điều này đúng dù hình tướng ấy là toàn bộ một hệ mặt trời, là một con người với toàn bộ sự phức tạp của y, hay là một hình tướng do con người ấy xây dựng trong nỗ lực nhận biết và hiểu biết,—một hình tướng được xây dựng nhằm chính mục đích cung cấp một hiện thể để tâm thức có thể, qua những giai đoạn xác định, từng bước tự nâng lên đến một điểm đã được hình dung. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ nhất:
1 - The use of Form in raising the consciousness.
1 - Việc sử dụng Hình tướng để nâng cao tâm thức.
[20] We have under this heading to consider three things:
[20] Dưới đề mục này, chúng ta phải xem xét ba điều:
[21] a—The Consciousness itself.
[21] a—Chính Tâm thức.
[22] b—The goal towards which it seeks to rise.
[22] b—Mục tiêu mà tâm thức tìm cách vươn lên.
[23] c—The steps whereby it succeeds.
[23] c—Những bước giúp tâm thức thành công.
[24] Each unit of the human race is a part of the divine consciousness, and is that which is conscious of, or is [Page 142] aware of something without itself,— [25] something which knows itself to be differentiated from the vehicle which encloses it or the forms which environ it.
[24] Mỗi đơn vị của nhân loại là một phần của tâm thức thiêng liêng, và là cái có ý thức về, hay [Page 142] nhận biết một điều gì đó bên ngoài chính mình,— [25] một cái biết rằng mình khác biệt với hiện thể bao bọc mình hoặc với những hình tướng bao quanh mình.
[26] At this particular stage in evolution the average man is simply conscious of differentiation, or of being separated off from all other members of the human family, thus forming in himself a unit among other units. [27] He acknowledges this and acknowledges the right of all other separated units so to consider themselves. He adds to this a recognition that somewhere in the universe there exists a supreme Consciousness, Whom he theoretically calls God, or Nature. [28] Between this purely selfish point of view (I use the term “selfish” in the scientific sense and not as a belittling adjective) and the nebulous theory of God immanent there are to be found numerous stages, at each of which occurs an expansion of consciousness, or an enlargement of the point of view, that leads that self-recognizing unit, step by step, from self-recognition to the recognition of superior selves, [29] to the fitting of himself to be likewise recognized as a superior self, and eventually to the occult recognition of his own superior Self. [30] He comes to recognize his Higher Self or Ego as his true Self, and from that stage passes on into that of the group consciousness. [31] Here he realizes first his egoic group and then other egoic groups.
[26] Ở giai đoạn tiến hoá đặc biệt này, người bình thường chỉ có ý thức về sự biến phân, hay về việc mình tách biệt với mọi thành viên khác trong gia đình nhân loại, do đó tự tạo thành một đơn vị giữa những đơn vị khác. [27] Y thừa nhận điều này và thừa nhận quyền của mọi đơn vị tách biệt khác được nhìn nhận chính mình như vậy. Thêm vào đó, y nhận biết rằng ở đâu đó trong vũ trụ có một Tâm thức tối cao hiện hữu, mà trên lý thuyết y gọi là Thượng đế, hay Tự nhiên. [28] Giữa quan điểm thuần túy ích kỷ này (Tôi dùng thuật ngữ “ích kỷ” theo nghĩa khoa học chứ không phải như một tính từ mang ý xem nhẹ) và lý thuyết mơ hồ về Thượng đế nội tại, có nhiều giai đoạn; ở mỗi giai đoạn đều diễn ra sự mở rộng tâm thức, hay sự mở rộng quan điểm, dẫn đơn vị tự nhận biết ấy từng bước đi từ việc nhận biết chính mình đến việc nhận biết những bản ngã cao hơn, [29] đến việc tự làm cho mình xứng đáng để cũng được nhận biết như một bản ngã cao hơn, và cuối cùng đến sự nhận biết huyền bí về Bản Ngã cao hơn của chính mình. [30] Y dần nhận biết Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã của mình là Bản Ngã chân thực, và từ giai đoạn ấy tiến vào giai đoạn tâm thức nhóm. [31] Ở đây, trước tiên y nhận biết nhóm chân ngã của mình, rồi đến những nhóm chân ngã khác.
[32] This stage is succeeded by the recognition of the universal principle of Brotherhood; [33] it involves not just a theoretical recognition, but a merging of the consciousness into that of the human consciousness, in its entirety; [34] this is really that development of consciousness which enables a man to realize not only his egoic group affiliations but his place in the human Hierarchy on its own plane. [35] He knows himself in fact as a part of one of the great Heavenly Men. [36] This expands later into an almost [Page 143] inconceivably vast point of view—that of his place in the Grand Heavenly Man, as represented by the Logos Himself.
[32] Tiếp sau giai đoạn này là sự nhận biết nguyên khí phổ quát của tình Huynh đệ; [33] điều này không chỉ bao hàm sự nhận biết trên lý thuyết, mà còn là sự hòa nhập tâm thức vào toàn bộ tâm thức nhân loại; [34] đây thực sự là sự phát triển tâm thức giúp con người nhận biết không chỉ những mối liên hệ với nhóm chân ngã của mình mà cả vị trí của mình trong Huyền Giai nhân loại trên chính cõi của Huyền Giai ấy. [35] Y biết rằng mình thực sự là một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân vĩ đại. [36] Về sau, điều này mở rộng thành một quan điểm bao la gần như [Page 143] không thể hình dung nổi—quan điểm về vị trí của y trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, mà chính Thượng đế là đại diện.
[37] This is as far as we need go for our purpose, for this series of letters, aims not at the development of cosmic consciousness.
[37] Đối với mục đích của chúng ta, chỉ cần đi xa đến đây, vì loạt thư này không nhằm phát triển tâm thức vũ trụ.
[38] It will therefore be apparent to you that all these stages have to be taken systematically and that each one has to be mastered step by step. [39] It is necessary first to grasp that the place where the expansion takes place, and the realization has to be felt, has to be finally in the thinking, waking consciousness. [40] The Ego on its own plane may be well aware of the unity of its consciousness with all other consciousnesses, and be realizing his group as one with himself, but until the man (in physical plane consciousness) has raised himself to that same plane and is likewise aware of his group consciousness, and likewise regards himself as the higher Self within the egoic group and not as a separated unit, it is of no more use than a recognized theory is of use when not carried out in experience.
[38] Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng phải tiến qua tất cả những giai đoạn này một cách có hệ thống, và phải làm chủ từng giai đoạn theo từng bước. [39] Trước hết, cần nắm bắt rằng nơi sự mở rộng diễn ra, và nơi phải cảm nhận sự chứng nghiệm, cuối cùng phải là trong tâm thức tư duy, tỉnh thức. [40] Chân ngã trên chính cõi của mình có thể nhận biết rõ sự hợp nhất giữa tâm thức của mình với mọi tâm thức khác, và nhận biết nhóm của mình là một với mình; nhưng cho đến khi con người (trong tâm thức cõi hồng trần) tự nâng lên cùng cõi ấy, cũng nhận biết tâm thức nhóm của mình, và cũng nhìn nhận mình là Bản Ngã Cao Siêu trong nhóm chân ngã chứ không phải một đơn vị tách biệt, thì điều đó chẳng hữu ích hơn một lý thuyết đã được thừa nhận nhưng chưa được thực hiện trong trải nghiệm.
[41] The man has to experience these stages in his physical consciousness and to know experimentally and not just theoretically that whereof I speak before he is deemed ready to pass on into the succeeding stages. The whole matter resolves itself into the expansion of the mind until it dominates the lower, and into the faculty of abstract conception which results eventually in physical plane manifestation. [42] It means making your highest theories and ideals demonstrable facts and it is that blending of the higher and the lower and the equipping of that lower until it provides a fitting expression for the higher. [43] It is here that the practice of meditation plays its part. The true scientific meditation provides [Page 144] graded forms whereby the consciousness is raised and the mind expanded until it embraces:
[41] Con người phải trải nghiệm những giai đoạn này trong tâm thức hồng trần của mình, và phải biết qua trải nghiệm chứ không chỉ trên lý thuyết những điều Tôi nói đến, trước khi y được xem là sẵn sàng tiến vào các giai đoạn tiếp theo. Toàn bộ vấn đề quy về việc mở rộng thể trí cho đến khi nó thống trị cái thấp, và về năng lực quan niệm trừu tượng mà cuối cùng dẫn đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần. [42] Điều đó có nghĩa là biến những lý thuyết và lý tưởng cao nhất của các bạn thành những sự thực có thể chứng minh; đó là sự hòa nhập cái cao với cái thấp, và trang bị cho cái thấp cho đến khi nó biểu đạt cái cao một cách thích hợp. [43] Chính ở đây, việc thực hành tham thiền phát huy vai trò của mình. Tham thiền khoa học chân chính cung cấp [Page 144] những hình tướng theo từng cấp độ, nhờ đó tâm thức được nâng cao và thể trí được mở rộng cho đến khi bao gồm:
[44] l—Its family and friends.
[44] 1—Gia đình và bạn bè của mình.
[45] 2—Its environing associates.
[45] 2—Những người cộng sự xung quanh mình.
[46] 3—Its affiliated groups.
[46] 3—Những nhóm mà mình có liên hệ.
[47] 4—Its egoic group.
[47] 4—Nhóm chân ngã của mình.
[48] 5—Other egoic groups.
[48] 5—Những nhóm chân ngã khác.
[49] 6—That Man of the Heavens of which the egoic groups form a center.
[49] 6—Đấng Thiên Nhân mà các nhóm chân ngã hợp thành một trung tâm của Ngài.
[50] 7—The Grand Heavenly Man.
[50] 7—Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.
[51] To effect this certain forms will be laid down later, that (working along the line of a man's ray) will teach him in graded steps to do this. [52] You will note that I have dealt with the consciousness itself and the goal it aspires to and have thus dealt with our first two points. [53] This brings me to our last subsidiary heading, the steps whereby attainment eventuates.
[51] Để thực hiện điều này, về sau một số hình tướng sẽ được xác lập; chúng sẽ hoạt động theo đường hướng của cung con người và dạy y từng bước theo cấp độ để thực hiện điều ấy. [52] Các bạn sẽ nhận thấy Tôi đã đề cập đến chính tâm thức và mục tiêu mà nó khát vọng hướng tới, và như vậy đã bàn đến hai điểm đầu tiên của chúng ta. [53] Điều này đưa Tôi đến đề mục phụ cuối cùng: những bước dẫn đến sự thành tựu.
[54] Each man who enters upon occult development and who aspires toward the higher, has passed the stage of the average man,—the man who regards himself from the purely isolated standpoint and who works for what is good for himself. [55] The aspirant is aiming at something different; he seeks to merge himself with his higher Self and with all that is entailed when we use that term. [56] The stages beyond that, in all their intricacies, are the secrets of Initiation and with them we have naught to do.
[54] Mỗi người bước vào sự phát triển huyền bí và khát vọng hướng đến cái cao đều đã vượt qua giai đoạn của người bình thường,—người nhìn nhận mình từ quan điểm hoàn toàn biệt lập và làm việc vì điều có lợi cho chính mình. [55] Người chí nguyện hướng đến một điều khác; y tìm cách hòa nhập với chân ngã của mình và với tất cả những gì thuật ngữ ấy bao hàm. [56] Những giai đoạn vượt ngoài đó, với toàn bộ sự phức tạp của chúng, là những bí mật của Điểm đạo, và chúng ta không bàn đến chúng.
[57] Aspiration towards the Ego and the bringing in of that higher consciousness with the subsequent development of group consciousness very directly concern all who will read these letters. [58] It is the next step ahead for those upon the Probationary Path. It is not achieved by simply giving thirty minutes a day to certain set forms of meditation. It involves an hour by hour attempt, [Page 145] all day long and every day, to keep the consciousness as near to the high pitch attained in the morning meditation as possible. It presumes a determination to consider oneself at all times as the Ego, [59] and not as a differential Personality. [60] Later, as the Ego comes more and more into control, it will involve also the ability to look upon oneself as part of a group, with no interests and desires, no aims or wishes apart from the good of that group. It necessitates a constant watchfulness every hour of the day to prevent the falling back [61] into the lower vibration. [62] It entails a constant battle with the lower self that drags down; it is a ceaseless fight to preserve the higher vibration. And—which is the point I am aiming to impress upon you—the aim should be the development of the habit of meditation all the day long, and the living in the higher consciousness till that consciousness is so stable [63] that the lower mind, desire and the physical elementals, become so atrophied and starved through lack of nourishment that the threefold lower nature becomes simply the means whereby the Ego contacts the world for purposes of helping the race.
[57] Khát vọng hướng đến Chân ngã và việc đưa tâm thức cao hơn ấy vào, cùng với sự phát triển tâm thức nhóm tiếp theo, liên quan hết sức trực tiếp đến tất cả những ai đọc các bức thư này. [58] Đó là bước kế tiếp đối với những người trên Con Đường Dự Bị. Không thể đạt được điều đó chỉ bằng cách dành ba mươi phút mỗi ngày cho một số hình thức tham thiền cố định. Điều đó đòi hỏi nỗ lực từng giờ, [Page 145] suốt ngày và mỗi ngày, để giữ tâm thức càng gần mức cao đạt được trong buổi tham thiền sáng càng tốt. Điều đó đòi hỏi quyết tâm luôn nhìn nhận mình là Chân ngã, [59] chứ không phải một Phàm ngã riêng biệt. [60] Về sau, khi Chân ngã ngày càng nắm quyền kiểm soát, điều đó còn bao hàm khả năng nhìn nhận mình là một phần của nhóm, không có lợi ích và dục vọng, mục đích hay mong muốn nào tách khỏi lợi ích của nhóm ấy. Điều đó đòi hỏi sự tỉnh giác liên tục trong từng giờ của ngày để ngăn việc rơi trở lại [61] rung động thấp hơn. [62] Điều đó bao hàm cuộc chiến liên tục với phàm nhân đang kéo xuống; đó là cuộc đấu tranh không ngừng để duy trì rung động cao hơn. Và—đây là điểm Tôi muốn khắc sâu nơi các bạn—mục tiêu phải là phát triển thói quen tham thiền suốt ngày, và sống trong tâm thức cao hơn cho đến khi tâm thức ấy ổn định đến mức [63] hạ trí, dục vọng và các tinh linh thể xác trở nên teo yếu và cạn kiệt vì thiếu nuôi dưỡng, khiến bản chất thấp tam phân chỉ còn là phương tiện để Chân ngã tiếp xúc với thế giới nhằm giúp đỡ nhân loại.
[64] In so doing he is accomplishing something that is little realized by the average student. He is building a form, a definite thoughtform that eventually provides a vehicle whereby he steps out of the lower consciousness into the higher, a kind of mayavirupa that acts as his intermediate channel. These forms are usually, though not invariably, of two kinds:—
[64] Khi làm như vậy, y đang thực hiện một điều mà đạo sinh bình thường ít nhận biết. Y đang xây dựng một hình tướng, một hình tư tưởng xác định, cuối cùng cung cấp một hiện thể để y bước ra khỏi tâm thức thấp hơn và đi vào tâm thức cao hơn, một loại hình tướng huyễn ảo làm kênh trung gian của y. Những hình tướng này thường, dù không phải lúc nào cũng vậy, thuộc hai loại:—
[65] The student builds a form daily, with care and love and attention, of his Master, to him the embodiment of the ideal higher consciousness. He lays the outline of this form in meditation and builds in the fabric in his daily life and thought. The form is provided with all the virtues, scintillates with all the colors, and is vivified, [Page 146] first of all, by the love of the man for his Master, and later (when adequate for the purpose) it is vitalized by the Master Himself. [66] At a certain stage in development this form provides the ground for the occult experience of entering into the higher consciousness. [67] The man recognizes himself as a part of the Master's consciousness [68] and through that all embracing consciousness slips into the egoic group soul consciously. [69] This form provides the medium for that experience until such a time as it can be dispensed with, and the man can at will transfer himself into his group, and later consciously dwell there permanently. This method is the one most largely used, and is the path of love and devotion.
[65] Mỗi ngày, đạo sinh xây dựng hình tướng Chân sư của mình bằng sự cẩn trọng, tình thương và chú tâm; đối với y, Ngài là hiện thân của tâm thức cao hơn lý tưởng. Y phác đường nét của hình tướng này trong tham thiền và xây dựng kết cấu của nó trong đời sống và tư tưởng hằng ngày. Hình tướng ấy được phú cho mọi đức tính, lấp lánh mọi sắc màu, và được làm cho sống động, [Page 146] trước hết bằng tình thương của con người dành cho Chân sư của mình, rồi về sau (khi đã thích hợp với mục đích) chính Chân sư tiếp sinh lực cho nó. [66] Ở một giai đoạn phát triển nhất định, hình tướng này cung cấp nền tảng cho trải nghiệm huyền bí đi vào tâm thức cao hơn. [67] Con người nhận biết mình là một phần của tâm thức Chân sư [68] và qua tâm thức bao gồm tất cả ấy, hòa vào hồn nhóm chân ngã một cách hữu thức. [69] Hình tướng này cung cấp phương tiện cho trải nghiệm ấy cho đến khi không còn cần đến nó nữa, và con người có thể tùy ý chuyển dịch vào nhóm của mình, rồi về sau thường trú nơi đó một cách hữu thức. Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất, và là con đường của tình thương và lòng sùng tín.
[70] In the second method the student pictures himself as the ideal man. He visualizes himself as the exponent of all the virtues, and he attempts in his daily life to make himself what he visualizes himself to be. [71] This method is employed by the more mental types, the intellectuals, and those whose ray is not so colored by love, by devotion or by harmony. [72] It is not so common as the first. The mental thoughtform thus built up serves as the mayavirupa as did the other and the man passes from these forms into the higher consciousness. [73] As you therefore see, in building these forms certain steps will have to be taken and each type will build the form somewhat differently.
[70] Trong phương pháp thứ hai, đạo sinh hình dung mình là con người lý tưởng. Y hình dung mình là người thể hiện mọi đức tính, và trong đời sống hằng ngày, y cố gắng trở thành con người mà mình hình dung. [71] Những người thiên về trí tuệ hơn, những người trí thức, và những người có cung không nhuốm đậm tình thương, lòng sùng tín hay sự hài hòa sử dụng phương pháp này. [72] Phương pháp này không phổ biến bằng phương pháp thứ nhất. Hình tư tưởng trên cõi trí được xây dựng như vậy đóng vai trò hình tướng huyễn ảo như hình tướng kia, và con người từ những hình tướng này tiến vào tâm thức cao hơn. [73] Vì vậy, như các bạn thấy, khi xây dựng những hình tướng này, phải thực hiện một số bước nhất định, và mỗi loại người sẽ xây dựng hình tướng theo cách hơi khác nhau.
[74] The first type will start with some beloved individual, and from that individual, will rise through the various other individuals to the Master. For instance, some new student might start by thinking of some adored and respected fellow TS member, who brought him in touch with the society, pass from him to AB [Annie Besant] and CWL, from them to the great teacher HPB, and from him to the Master chosen.
[74] Loại thứ nhất sẽ bắt đầu với một cá nhân yêu quý nào đó, và từ cá nhân ấy, sẽ vươn lên qua nhiều cá nhân khác để đến với Chân sư. Chẳng hạn, một đạo sinh mới có thể bắt đầu bằng việc nghĩ đến một thành viên đồng môn của Hội Thông Thiên Học mà y yêu quý và kính trọng, người đã giúp y tiếp xúc với hội; từ người ấy chuyển đến Bà AB [Annie Besant] và Ông CWL, từ hai vị ấy đến vị huấn sư vĩ đại Bà HPB, và từ Bà đến Chân sư đã chọn.
[75] The other type will start with meditation on the virtue most desired, add virtue to virtue in the building of the form of the ideal self until all the virtues have been attempted and the Ego is suddenly contacted. [Page 147]
[75] Loại kia sẽ bắt đầu bằng tham thiền về đức tính mình mong muốn nhất, thêm từng đức tính vào khi xây dựng hình tướng của bản ngã lý tưởng, cho đến khi đã nỗ lực thực hành mọi đức tính và đột nhiên tiếp xúc với Chân ngã. [Page 147]
Tomorrow [76] we will take up [77] this same subject from a different angle and study the difference between the occultist and the mystic.
Ngày mai, [76] chúng ta sẽ xem xét [77] chính chủ đề này từ một góc độ khác và nghiên cứu sự khác biệt giữa nhà huyền bí học và nhà thần bí.
Thư Về Tham thiền Huyền môn Chương trình 32
Hi everybody, and welcome back to L-O-O-M-V-C, Letters on Occult Meditation video commentary, and today is still the 15th of September 2020. We're beginning a new letter, and it looks like a rather long one, some 64 pages, and it's about the use of form in meditation. The use of form in meditation, and let's see here.
Xin chào tất cả các bạn, và chào mừng các bạn trở lại với L-O-O-M-V-C, phần bình giảng qua video về Thư Về Tham thiền Huyền môn. Hôm nay vẫn là ngày 15 tháng 9 năm 2020. Chúng ta bắt đầu một bức thư mới, và có vẻ đây là một bức thư khá dài, khoảng 64 trang, bàn về việc sử dụng hình tướng trong tham thiền. Việc sử dụng hình tướng trong tham thiền, và hãy xem ở đây.
Several things, the use of form in raising the consciousness, the use of form by the mystic and the occultist, there are different forms to be used, specific forms, and the use of form collectively. I think, in some ways this is going to be a fairly obscure and demanding chapter. Raising the consciousness, the contrast between the mystic and the occultist, special forms in the use of form, and collective use of forms.
Có một số nội dung: sử dụng hình tướng để nâng cao tâm thức, việc nhà thần bí và nhà huyền bí học sử dụng hình tướng; có những hình tướng khác nhau cần sử dụng, những hình tướng cụ thể, và việc sử dụng hình tướng theo nhóm. Tôi nghĩ, về một số phương diện, đây sẽ là một chương khá khó hiểu và đòi hỏi nhiều nỗ lực. Nâng cao tâm thức, sự tương phản giữa nhà thần bí và nhà huyền bí học, những hình tướng đặc biệt trong việc sử dụng hình tướng, và việc sử dụng các hình tướng theo nhóm.
So here we are, 100 years ago, about 100 years and one month, a whole century past.
Vậy ở đây, chúng ta trở về thời điểm cách nay 100 năm, khoảng 100 năm và một tháng, trọn một thế kỷ đã trôi qua.
[1] Your very natural desire to have me give you in this sixth letter certain specific forms to achieve certain results cannot be fully acquiesced in.
[1] Mong muốn rất tự nhiên của các bạn rằng Tôi cung cấp trong bức thư thứ sáu này một số hình tướng cụ thể để đạt được những kết quả nhất định không thể được đáp ứng hoàn toàn.
You know, what do we have here? Virgo and the form, the sixth letter.
Các bạn biết đấy, chúng ta có gì ở đây? Xử Nữ và hình tướng, bức thư thứ sáu.
DK gives many hints, but few specifics, actually, because he must be cautious, obviously. It is so.
Chân sư DK đưa ra nhiều gợi ý, nhưng thực ra chỉ nêu rất ít chi tiết cụ thể, vì hiển nhiên Ngài phải thận trọng. Quả thật là vậy.
[2] I do not propose to outline for you any forms for careful following.
[2] Tôi không có ý định phác thảo cho các bạn bất kỳ hình tướng nào để tuân theo một cách cẩn trọng.
He did this with his group, of course, but that was different, or with his group of many groups.
Dĩ nhiên, Ngài đã làm điều này với nhóm của Ngài, nhưng trường hợp đó khác, hoặc với nhóm của Ngài gồm nhiều nhóm.
[3] The risks, as before I have pointed out, are too great apart from the supervision of a teacher at hand to watch reactions.
[3] Như Tôi đã chỉ ra trước đây, những rủi ro là quá lớn nếu không có một huấn sư ở bên giám sát các phản ứng.
and apparently they cannot be entirely watched from the inner planes.
và dường như không thể theo dõi đầy đủ các phản ứng ấy từ các cõi bên trong.
[4] These forms may later be given. The work is duly planned out for the coming generation of students, this series of letters having its place within that outline.
[4] Những hình tướng này có thể được cung cấp về sau. Công việc đã được hoạch định chu đáo cho thế hệ đạo sinh sắp tới, và loạt thư này có vị trí trong đề cương ấy.
and, what is a generation of students sometimes seems often seeming longer than the normal biological generation.
và một thế hệ đạo sinh kéo dài bao lâu? Đôi khi, thường có vẻ như dài hơn một thế hệ sinh học thông thường.
[5] What I intend to do today is something different. I purpose to do four things which we will separately take up and elucidate. These things, if duly assimilated and acted upon, will lead to further enlightenment.
[5] Điều Tôi định làm hôm nay là một việc khác. Tôi dự định làm bốn việc mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét và làm sáng tỏ. Nếu được lĩnh hội đúng đắn và đưa vào thực hành, những điều này sẽ dẫn đến sự giác ngộ sâu hơn.
four things, or undertakings, or things. In the occult, okay, if duly assimilated and acted upon, of course, this is always our great challenge. Have we assimilated and have we acted upon the information which we have received?
bốn việc, hay những công việc cần thực hiện. Trong huyền bí học, nếu được tiếp thu đầy đủ và thực hành — dĩ nhiên, đây luôn là thử thách lớn của chúng ta. Chúng ta đã tiếp thu và thực hành những thông tin mình nhận được chưa?
[6] In the occult method of teaching step by step is given, point by point slowly laid before the pupil, and only as each step is taken and each point is grasped, will the next in order become clear. The teacher gives an indication, drops a hint, and touches some high light. The pupil follows the point emphasised, and finds on thus acting that further light pours in, another stage appears and other hints are dropped. In joint action and reaction therefore the occult student is trained by the occultist.
[6] Trong phương pháp giảng dạy huyền bí, từng bước được chỉ dẫn, từng điểm được chậm rãi trình bày trước môn sinh; chỉ khi mỗi bước đã được thực hiện và mỗi điểm đã được nắm bắt, bước kế tiếp theo trình tự mới trở nên rõ ràng. Huấn sư đưa ra một chỉ dẫn, hé mở một gợi ý và đề cập đến một điểm nổi bật. Môn sinh làm theo điểm được nhấn mạnh, và khi hành động như vậy, nhận thấy ánh sáng tiếp tục tuôn vào, một giai đoạn khác xuất hiện và những gợi ý khác được hé mở. Vì vậy, thông qua hành động và đáp ứng qua lại, nhà huyền bí học huấn luyện đạo sinh huyền bí.
Step by step is given. I’ll use the purple, step-by-step color.
Từng bước được chỉ dẫn. Tôi sẽ dùng màu tím, màu dành cho từng bước.
Gradualism, a graded series of revelations which lead to graduation after many gradual steps. So he's being cautious, very cautious, and I suppose he changed some methods as he went along.
Tiến triển từ từ, một chuỗi mặc khải theo cấp độ dẫn đến việc hoàn tất sau nhiều bước tiến dần dần. Ngài đang thận trọng, rất thận trọng, và tôi cho rằng Ngài đã thay đổi một số phương pháp trong quá trình tiến hành.
So many things developed, not exactly maybe the way the masters had foreseen. You know, maybe the First World War was said to be the war to end all wars, but it simply went underground, and the epidemic of obsession leading to war continued until it broke out again with German aggression and Japanese aggression.
Rất nhiều điều đã diễn biến có lẽ không hoàn toàn như các Chân sư đã dự kiến. Các bạn biết đấy, có lẽ người ta từng nói Chiến tranh Thế giới thứ nhất là cuộc chiến chấm dứt mọi cuộc chiến, nhưng nó chỉ chuyển sang âm ỉ, và làn sóng ám ảnh dẫn đến chiến tranh vẫn tiếp diễn cho đến khi lại bùng phát qua sự xâm lược của Đức và Nhật Bản.
[7] In studying the topic, “The use of form in meditation,” the four divisions under which I seek to place the intended data are as follows:—
[7] Khi nghiên cứu chủ đề “Việc sử dụng hình tướng trong tham thiền”, Tôi muốn sắp xếp những thông tin dự định trình bày thành bốn phần như sau:—
and we just read these.
và chúng ta vừa đọc những phần này.
[8] 1—The use of Form in raising the consciousness.
[8] 1—Việc sử dụng Hình tướng để nâng cao tâm thức.
[9] 2—The use of Form
[9] 2.—Việc sử dụng Hình tướng
He capitalizes it here.
Ở đây Ngài viết hoa từ này.
[10] by the mystic and the occultist.
[10] của nhà thần bí và nhà huyền bí học. [Page 141]
the contrast between them, I suppose.
tôi cho rằng đó là sự tương phản giữa họ.
[11] 3—The use of specific forms for specific ends.
[11] 3—Việc sử dụng những hình tướng cụ thể cho những mục đích cụ thể.
and
và
[12] 4—The use of Form collectively.
[12] 4—Việc sử dụng Hình tướng theo tập thể.
I am remembering long ago when I read this book and didn't assimilate all I should by any means that I found the forthcoming section a bit difficult.
Tôi nhớ lại thời xa xưa khi đọc cuốn sách này, hoàn toàn chưa tiếp thu hết những gì đáng lẽ phải tiếp thu, tôi thấy phần tiếp theo hơi khó.
[13] In the exposition of these subjects you will see that what I am endeavouring to produce is a just apprehension of the value of forms in meditation and not the imparting of any definite method.
[13] Qua phần trình bày những chủ đề này, các bạn sẽ thấy điều Tôi cố gắng tạo ra là sự nhận thức đúng đắn về giá trị của các hình tướng trong tham thiền, chứ không phải truyền đạt bất kỳ phương pháp xác định nào.
He has to deal at first with the general, and then he may move on to specifics. It's ever the occult way first to deal with that which is general, and then to move deductively, I suppose, towards that which is specific.
Trước tiên, Ngài phải bàn đến cái khái quát, rồi mới có thể chuyển sang những điều cụ thể. Phương cách huyền bí luôn là trước tiên bàn đến cái khái quát, rồi, tôi cho rằng, tiến theo lối diễn dịch đến cái cụ thể.
[14] I seek to show the essential nature of proceeding under law in this the most important means of bringing about union with the divine, and of producing that at-one-ment between the higher and the lower that is the aim of all evolution.
[14] Tôi muốn cho thấy bản chất thiết yếu của việc tiến hành theo định luật trong phương tiện quan trọng nhất này để đạt đến sự hợp nhất với điều thiêng liêng, và tạo nên sự nhất thể giữa cái cao và cái thấp — mục tiêu của mọi tiến hoá.
Now, there have been times when he said that even greater than meditation is the act of service. Sometimes meditation is considered even more important than, or sometimes, let me get it straight now, service is considered even more important than meditation.
Có những lúc Ngài nói rằng hành động phụng sự còn cao hơn cả tham thiền. Đôi khi tham thiền được xem là quan trọng hơn, hoặc đôi khi — để tôi nói lại cho đúng — phụng sự được xem là quan trọng hơn tham thiền.
And that may give us pause, but it certainly has a strong effect on the heart center, the service aspect.
Và điều đó có thể khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm, nhưng phương diện phụng sự chắc chắn có tác động mạnh đến trung tâm tim.
[15] I desire to leave in the minds of those who read these words a just apprehension of the relationship between spirit and matter which is the basis of all work of this nature.
[15] Tôi mong lưu lại trong trí những người đọc các lời này một nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, vốn là nền tảng của mọi công việc thuộc bản chất này.
We've been told that meditation zodiacally is ruled particularly by the sign Virgo, and it's also a sign in which I am the mother and the child, I God, I matter, and spirit and matter are included in the work of Virgo.
Chúng ta đã được cho biết rằng, xét theo hoàng đạo, tham thiền đặc biệt chịu sự cai quản của dấu hiệu Xử Nữ; và đây cũng là dấu hiệu có lời “Tôi là mẹ và con, Tôi là Thượng đế, Tôi là vật chất”, và tinh thần cùng vật chất đều nằm trong công việc của Xử Nữ.
[16] The method employed by the Logos in this the second solar system
[16] Phương pháp mà Thượng đế sử dụng trong hệ mặt trời thứ hai này
second, now just so we get it straight, second major solar system,
thứ hai, để chúng ta hiểu cho đúng, hệ mặt trời chính yếu thứ hai,
[17] is definitely the use of form for purposes of manifestation,
[17] rõ ràng là sử dụng hình tướng cho mục đích biểu hiện,
The second aspect of divinity is the form building aspect, and that is what we are emphasizing in this particular major solar system.
Phương diện thứ hai của thiên tính là phương diện kiến tạo hình tướng, và đó là điều chúng ta đang nhấn mạnh trong hệ mặt trời chính yếu này.
So the use of form for purposes of manifestation
Vì vậy, việc sử dụng hình tướng nhằm mục đích biểu hiện
[18] as a medium of expression and as the vehicle whereby the indwelling life may grow, expand, experience and find itself.
[18] làm trung gian biểu đạt và làm hiện thể để sự sống nội tại có thể tăng trưởng, mở rộng, trải nghiệm và tìm thấy chính mình.
find itself in the midst of form. So
tìm thấy chính mình giữa hình tướng. Vì vậy
[19] This is the case whether the form is an entire solar system, whether it is a human being in his complexity, or whether it is a form built by that human being in his endeavour to realise and know,—a form built for the very purpose of providing a vehicle whereby the consciousness may, by set stages, raise itself step by step to some visualised point.
[19] Điều này đúng dù hình tướng ấy là toàn bộ một hệ mặt trời, là một con người với toàn bộ sự phức tạp của y, hay là một hình tướng do con người ấy xây dựng trong nỗ lực nhận biết và hiểu biết,—một hình tướng được xây dựng nhằm chính mục đích cung cấp một hiện thể để tâm thức có thể, qua những giai đoạn xác định, từng bước tự nâng lên đến một điểm đã được hình dung. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ nhất:
The use of form for the purposes of manifestation. Okay.
Việc sử dụng hình tướng nhằm mục đích biểu hiện.
And I think we'll bring that out. Well certainly, the occultist does not shun the form. Sometimes the sixth ray is called the hater of the form because it is the ray of abstract devotion.
Và tôi nghĩ chúng ta sẽ làm rõ điều đó. Chắc chắn nhà huyền bí học không né tránh hình tướng. Đôi khi cung sáu được gọi là kẻ ghét hình tướng, bởi đó là cung của lòng sùng tín trừu tượng.
And we know what happens with the first ray. They frequently are found destroying the form because abstraction is a still more important aspect of their nature, although they do build the strong vehicles to hold the indwelling life on the outer plane. So they do both.
Và chúng ta biết điều gì xảy ra với cung một. Người cung một thường phá huỷ hình tướng, bởi sự trừu xuất là một phương diện còn quan trọng hơn trong bản chất của họ, mặc dù họ có kiến tạo những hiện thể vững chắc để chứa đựng sự sống nội tại trên cõi bên ngoài. Vì vậy, họ làm cả hai việc.
They abstract and they build, and they certainly destroy to build better. So this brings us to our first point, the use of form for the raising of consciousness. I'm sure we're all interested in that particularly.
Họ trừu xuất và kiến tạo, và chắc chắn họ phá huỷ để kiến tạo tốt hơn. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ nhất: việc sử dụng hình tướng để nâng cao tâm thức. Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều đặc biệt quan tâm đến điều đó.
Mm-hmm. Most of us in this field entered because we wanted to see consciousness raised. Our consciousness rendered more sensitive.
Phần lớn chúng ta bước vào lĩnh vực này vì muốn thấy tâm thức được nâng cao. Tâm thức của chúng ta trở nên nhạy bén hơn.
[20] We have under this heading to consider three things:
[20] Dưới đề mục này, chúng ta phải xem xét ba điều:
[21] a—The Consciousness itself.
[21] a—Chính Tâm thức.
[22] b—The goal towards which it seeks to rise.
[22] b—Mục tiêu mà tâm thức tìm cách vươn lên.
[23] c—The steps whereby it succeeds.
[23] c—Những bước giúp tâm thức thành công.
Well, if the Tibetan had to convince Alice Bailey that he was a rational individual, he's certainly gone a long way towards doing that in this style of writing and in the gradations of the various points. The consciousness itself, the goal towards which it seeks to rise, and we might call that the specific point of tension required or intended.
Nếu Chân sư Tây Tạng phải thuyết phục Alice Bailey rằng Ngài là một người có lý trí, thì chắc chắn Ngài đã tiến rất xa trong việc ấy qua lối viết này và cách phân cấp các điểm khác nhau. Chính tâm thức, mục tiêu mà tâm thức tìm cách vươn tới, và chúng ta có thể gọi đó là điểm tập trung nhất tâm cụ thể cần đạt hoặc dự định đạt.
Always in our efforts towards improvement, a heightening of the point of is desirable, which is not the same thing as the heightening of debilitating tenseness.
Trong những nỗ lực cải thiện của chúng ta, việc nâng cao điểm tập trung nhất tâm luôn là điều đáng mong muốn; điều này không giống với việc gia tăng sự căng thẳng gây suy kiệt.
[24] Each unit of the human race is a part of the divine consciousness, and is that which is conscious of, or is aware of something without itself,—
[24] Mỗi đơn vị của nhân loại là một phần của tâm thức thiêng liêng, và là cái có ý thức về, hay [Page 142] nhận biết một điều gì đó bên ngoài chính mình,—
We might say at this stage of evolution, apparently without itself.
Chúng ta có thể nói rằng ở giai đoạn tiến hoá này, điều đó dường như ở bên ngoài chính nó.
Later, some different apprehension.
Về sau sẽ có một nhận thức khác.
[25] something which knows itself to be differentiated from the vehicle which encloses it or the forms which environ it.
[25] một cái biết rằng mình khác biệt với hiện thể bao bọc mình hoặc với những hình tướng bao quanh mình.
That's something.
Đó là một cái gì đó.
What is that something? Let's just say that something is often called that, and sometimes entirely capitalized. I always differentiate, because I seem to have three types of spelling at my disposal, between the lowercase that, simply ordinary environmental perceptions, that with a capital T, which is the intra-universal beingness within the universe, and then T-H-A-T, all capitalized, which is the ultimate thatness, the ultimate absoluteness, I guess. I've come up with a new name.
Cái gì đó ấy là gì? Cái gì đó ấy thường được gọi là “cái đó”, và đôi khi được viết hoa toàn bộ. Tôi luôn phân biệt, vì dường như tôi có ba cách viết để sử dụng: “cái đó” viết thường, chỉ những tri giác thông thường về môi trường; “Cái đó” viết hoa chữ C, chỉ bản thể bên trong vũ trụ; rồi “CÁI ĐÓ” viết hoa toàn bộ, chỉ bản thể tối hậu ấy, tính tuyệt đối tối hậu, tôi đoán vậy. Tôi đã nghĩ ra một tên gọi mới.
I call it the zeronad, not the monad, but the zeronad. We'll see whether that particular formulation of words yields any insight. If a word, a neologism, some sort of word that doesn't customarily exist, is used, it better lead somewhere.
Tôi gọi nó là “vô thần”, không phải chân thần, mà là “vô thần”. Chúng ta sẽ xem liệu cách đặt từ ngữ ấy có đem lại sự thấu hiểu nào không. Nếu sử dụng một từ, một từ mới đặt ra, một loại từ vốn không tồn tại trong cách dùng thông thường, thì nó phải dẫn đến một điều gì đó.
Too many things to remember.
Có quá nhiều điều phải nhớ.
[26] At this particular stage in evolution the average man is simply conscious of differentiation, or of being separated off from all other members of the human family, thus forming in himself a unit among other units.
[26] Ở giai đoạn tiến hoá đặc biệt này, người bình thường chỉ có ý thức về sự biến phân, hay về việc mình tách biệt với mọi thành viên khác trong gia đình nhân loại, do đó tự tạo thành một đơn vị giữa những đơn vị khác.
So, this is the I am stage, and it has to do with arising from keeping eyes too much upon the personal self. So, I exist, you exist, we all exist, we're all different, you know. Later we have to unify that picture and go even beyond unification into sensing a oneness which is not obvious in the form.
Đây là giai đoạn “Tôi hiện hữu”, và nó liên quan đến việc nảy sinh từ sự chú mục quá nhiều vào bản ngã cá nhân. Vì vậy, tôi tồn tại, bạn tồn tại, tất cả chúng ta đều tồn tại, tất cả chúng ta đều khác nhau. Về sau, chúng ta phải hợp nhất bức tranh ấy và thậm chí vượt qua sự hợp nhất để cảm nhận một tính nhất thể không hiển nhiên trong hình tướng.
[27] He acknowledges this and acknowledges the right of all other separated units so to consider themselves. He adds to this a recognition that somewhere in the universe there exists a supreme Consciousness, Whom he theoretically calls God, or Nature.
[27] Y thừa nhận điều này và thừa nhận quyền của mọi đơn vị tách biệt khác được nhìn nhận chính mình như vậy. Thêm vào đó, y nhận biết rằng ở đâu đó trong vũ trụ có một Tâm thức tối cao hiện hữu, mà trên lý thuyết y gọi là Thượng đế, hay Tự nhiên.
So, this is the usual apprehension of oneself, the self of others, and deity, which we are not yet calling the self, although it is.
Đây là nhận thức thông thường về bản thân mình, về bản ngã của những người khác, và về Thượng đế, Đấng mà chúng ta chưa gọi là Bản Ngã, mặc dù đúng là như vậy.
And that's a great shock when one realizes that. But many a battle is fought regarding the nature of God, and whether God is transcendent or, and in a way, unapproachable, except through supplication, or whether God is God-immanent and a transcendent deity who nevertheless is the self. So,
Và đó là một chấn động lớn khi người ta nhận ra điều ấy. Nhưng nhiều cuộc tranh đấu diễn ra quanh bản chất của Thượng đế, và quanh việc liệu Thượng đế là siêu việt, theo một nghĩa nào đó không thể tiếp cận ngoại trừ qua cầu khẩn, hay Thượng đế vừa nội tại vừa là một Thượng đế siêu việt nhưng vẫn là Bản Ngã. Vì vậy,
[28] Between this purely selfish point of view (I use the term “selfish” in the scientific sense and not as a belittling adjective) and the nebulous theory of God immanent there are to be found numerous stages, at each of which occurs an expansion of consciousness, or an enlargement of the point of view, that leads that self-recognising unit, step by step, from self-recognition to the recognition of superior selves,
[28] Giữa quan điểm thuần túy ích kỷ này (Tôi dùng thuật ngữ “ích kỷ” theo nghĩa khoa học chứ không phải như một tính từ mang ý xem nhẹ) và lý thuyết mơ hồ về Thượng đế nội tại, có nhiều giai đoạn; ở mỗi giai đoạn đều diễn ra sự mở rộng tâm thức, hay sự mở rộng quan điểm, dẫn đơn vị tự nhận biết ấy từng bước đi từ việc nhận biết chính mình đến việc nhận biết những bản ngã cao hơn,
you know, to respect the existence of those—those who have gone on ahead,
để tôn trọng sự hiện hữu của những người ấy — những người đã đi trước,
[29] to the fitting of himself to be likewise recognised as a superior self, and eventually to the occult recognition of his own superior Self.
[29] đến việc tự làm cho mình xứng đáng để cũng được nhận biết như một bản ngã cao hơn, và cuối cùng đến sự nhận biết huyền bí về Bản Ngã cao hơn của chính mình.
So far, this God-immanent idea is pretty nebulous and is only understood when the pairs of opposites begin to become factors in the consciousness of the individual as he works in the hall of learning. He's learning not to be the ignorant, isolated, lower self only.
Cho đến lúc này, ý tưởng về Thượng đế nội tại vẫn khá mơ hồ và chỉ có thể thấu hiểu khi những cặp đối cực bắt đầu trở thành các yếu tố trong tâm thức của cá nhân lúc y hoạt động trong phòng học hỏi. Y đang học để không chỉ là phàm ngã vô minh, cô lập.
[30] He comes to recognise his Higher Self or Ego as his true Self, and from that stage passes on into that of the group consciousness.
[30] Y dần nhận biết Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã của mình là Bản Ngã chân thực, và từ giai đoạn ấy tiến vào giai đoạn tâm thức nhóm.
And
Và
[31] Here he realises first his egoic group and then other egoic groups.
[31] Ở đây, trước tiên y nhận biết nhóm chân ngã của mình, rồi đến những nhóm chân ngã khác.
And we might say, L-O-M on page 39 gives us an idea of these different groups on the monadic, atmic, buddhic, and higher mental planes, from 49 through different multiples of 7 until we reach, descendingly, the 7 on the monadic plane, and then the 3 on the lower plane. So, these are differences in the degree of selfishness, because the self is changing.
Và chúng ta có thể nói rằng Thư Về Tham thiền Huyền môn, ở trang 39, cho chúng ta một ý niệm về những nhóm khác nhau này trên các cõi chân thần, atma, Bồ đề và thượng trí: từ 49 qua những bội số khác nhau của 7 cho đến khi, theo chiều giảm dần, chúng ta đạt đến 7 trên cõi chân thần, rồi 3 trên cõi thấp hơn. Đây là những khác biệt về mức độ ích kỷ, bởi bản ngã đang thay đổi.
The apprehension of the self is changing. What kind of self do you think you are? You know, when you name yourself, what are you? Simply the personality or some of these higher states of being until we reach, maybe, identification as the monad, and really as the core of the monad, the life, the being of the monad, and not the vehicle of it. So, where do we stand, just for a moment? How do we live? Do we live recognizable by others simply as a personality, or when they see us and when they deal with us, do they recognize a soul or some other type of higher self? I think the best way to be recognized is to recognize those higher grades in others, and then into the egoic group or groups of ever-diminishing number until we reach from the 7 to the 3 to the 1, which includes all, which maybe can be considered the solar logos as the home of that which has this home within the sun, initiation human and solar.
Nhận thức về bản ngã đang thay đổi. Bạn nghĩ mình là loại bản ngã nào? Khi bạn gọi tên chính mình, bạn là gì? Chỉ là phàm ngã, hay một trong những trạng thái hiện tồn cao hơn này, cho đến khi có lẽ chúng ta đạt đến sự đồng hoá với chân thần, và thực sự với cốt lõi của chân thần, sự sống, bản thể của chân thần, chứ không phải hiện thể của chân thần. Vậy, hãy dừng lại một chút: chúng ta đang đứng ở đâu? Chúng ta sống như thế nào? Chúng ta sống để người khác chỉ nhận biết mình là một phàm ngã, hay khi họ thấy chúng ta và tiếp xúc với chúng ta, họ nhận biết một linh hồn hoặc một loại bản ngã cao hơn nào khác? Tôi nghĩ cách tốt nhất để được nhận biết là nhận biết những cấp độ cao hơn ấy nơi người khác, rồi tiến vào nhóm chân ngã, hay những nhóm có số lượng ngày càng giảm, cho đến khi chúng ta đi từ 7 đến 3 đến 1, bao gồm tất cả; có lẽ có thể xem đó là Thái dương Thượng đế, là ngôi nhà của cái có ngôi nhà này trong Mặt Trời, như trong Điểm Đạo Nhân Loại và Thái Dương.
Now, so these egoic group recognitions, there's a sense in the heart of inclusiveness and love and unity and a similarity of purpose and identicalness, identicality of enterprise, not necessarily a method, but of that towards which the group personnel strives. And that's a ladder, and we are somewhere along the lines of that ladder.
Trong những sự nhận biết nhóm chân ngã này, có một cảm thức trong tâm về tính bao gồm, tình thương, sự hợp nhất, sự tương đồng về mục đích và sự đồng nhất trong công việc — không nhất thiết về phương pháp, mà về điều các thành viên trong nhóm đang hướng tới. Và đó là một chiếc thang, chúng ta đang ở một vị trí nào đó trên chiếc thang ấy.
[32] This stage is succeeded by the recognition of the universal principle of Brotherhood;
[32] Tiếp sau giai đoạn này là sự nhận biết nguyên khí phổ quát của tình Huynh đệ;
Well, maybe by the end of the Aquarian age, the last 720 years or so, and under Venus, that recognition will come about. I mean, Venus may be, I think, the solar plexus center of the solar logos, but it's having a lot to do with the heart of the solar logos, increasingly so, and probably will replace Jupiter in that regard.
Có lẽ đến cuối kỷ nguyên Bảo Bình, khoảng 720 năm cuối, và dưới ảnh hưởng của Sao Kim, sự nhận biết ấy sẽ xuất hiện. Ý tôi là, tôi nghĩ Sao Kim có thể là trung tâm tùng thái dương của Thái dương Thượng đế, nhưng nó ngày càng liên hệ nhiều với tim của Thái dương Thượng đế, và có lẽ sẽ thay thế Sao Mộc về phương diện ấy.
[33] it involves not just a theoretical recognition, but a merging of the consciousness into that of the human consciousness, in its entirety;
[33] điều này không chỉ bao hàm sự nhận biết trên lý thuyết, mà còn là sự hòa nhập tâm thức vào toàn bộ tâm thức nhân loại;
So, in The Secret Doctrine, third fundamental, all souls are at one with the over-soul. And
Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, định đề căn bản thứ ba, tất cả các linh hồn đều nhất thể với đại hồn. Và
[34] this is really that development of consciousness which enables a man to realise not only his egoic group affiliations but his place in the human Hierarchy on its own plane.
[34] đây thực sự là sự phát triển tâm thức giúp con người nhận biết không chỉ những mối liên hệ với nhóm chân ngã của mình mà cả vị trí của mình trong Huyền Giai nhân loại trên chính cõi của Huyền Giai ấy.
and what can we call it, either the buddhic or the monadic planes.
và chúng ta có thể gọi đó là gì, cõi Bồ đề hoặc cõi chân thần.
[35] He knows himself in fact as a part of one of the great Heavenly Men.
[35] Y biết rằng mình thực sự là một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân vĩ đại.
even though at first on earth, even though at this time on earth.
mặc dù ban đầu ở trên Trái Đất, mặc dù lúc này ở trên Trái Đất.
[36] This expands later into an almost inconceivably vast point of view—that of his place in the Grand Heavenly Man, as represented by the Logos Himself.
[36] Về sau, điều này mở rộng thành một quan điểm bao la gần như [Page 143] không thể hình dung nổi—quan điểm về vị trí của y trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, mà chính Thượng đế là đại diện.
in this case, the solar logos. So, there is a reward involved in knowing one's place. It is its own kind of reward.
trong trường hợp này là Thái dương Thượng đế. Vì vậy, việc biết vị trí của mình đem lại một phần thưởng. Nó là một loại phần thưởng riêng.
To know where we actually fit is important and astonishing, I guess, at first. And the universal principle of brotherhood, and if he says universal, it's going to be at least sort of systemic. And if we take the word universe as the grand entirety, then we'd be speaking about the brotherhood of all things within the self-become universe, or self-becoming, emerging of the consciousness into that of the human consciousness in its entirety.
Biết mình thực sự thuộc về đâu là điều quan trọng và, tôi cho rằng, thoạt đầu rất đáng kinh ngạc. Còn nguyên khí phổ quát của tình huynh đệ — nếu Ngài nói “phổ quát”, thì ít nhất nó cũng mang tính toàn hệ. Và nếu hiểu từ “vũ trụ” là toàn thể vĩ đại, thì chúng ta đang nói về tình huynh đệ của mọi sự trong vũ trụ mà Bản Ngã đã trở thành, hoặc đang trở thành, sự hoà nhập tâm thức vào toàn bộ tâm thức nhân loại.
Yeah, and that would be a very desirable outcome. Always, when we can learn the role we play and where we fit, what we have to do, and thus what our purpose is, it's a great reward. It is a reward along the line of purpose and how the life force is to be expended.
Và đó sẽ là một kết quả rất đáng mong muốn. Bất cứ khi nào chúng ta có thể biết vai trò mình đảm nhiệm, vị trí mình thuộc về, điều mình phải làm và do đó mục đích của mình là gì, thì đó là một phần thưởng lớn. Đó là phần thưởng theo hướng mục đích và cách sử dụng mãnh lực sự sống.
There's a congruence that goes with it. I was just reading about Gandhi. He says, well, I'm going to forget it, but when a man does and thinks and believes all in a similar manner, a congruent manner, an aligned manner, this is the equivalent of happiness.
Có một sự nhất quán đi kèm với điều ấy. Tôi vừa đọc về Gandhi. Ông nói — tôi sắp quên mất rồi — rằng khi một người hành động, suy nghĩ và tin tưởng theo cùng một cách, một cách nhất quán, chỉnh hợp, thì điều đó tương đương với hạnh phúc.
I just saw it, but I'm forgetting the exactness of it. The place within the human hierarchy on its own plan. So we're on our way to that kind of realization.
Tôi vừa thấy câu ấy, nhưng đang quên cách diễn đạt chính xác. Vị trí trong Huyền Giai nhân loại trên cõi riêng của Huyền Giai ấy. Chúng ta đang trên đường tiến đến sự nhận biết như thế.
And he knows himself, in fact, as a part of one of the great heavenly men, even though presently he is working through earth, there will be a home planet. It's pretty much the same way that we may be on loan to a training ashram, or maybe an ashram which for us is not final, but eventually we will return to our home ashram. And, so it is here.
Và thực ra, y biết mình là một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân vĩ đại, dù hiện nay y đang hoạt động qua Trái Đất, vẫn sẽ có một hành tinh quê nhà. Điều này khá giống với việc chúng ta có thể được biệt phái đến một ashram huấn luyện, hoặc có thể đến một ashram chưa phải là nơi cuối cùng của mình, nhưng cuối cùng chúng ta sẽ trở về ashram quê nhà. Và ở đây cũng vậy.
We are earth beings, but probably we took our origin as monads from one of the great and sacred heavenly men, being Mercurians, let's say, the way the Tibetan seems to be, or the Venusian, the way the Christ and Master K.H. seem to be, the Buddha being a Mercurian in a way, so much Mercury symbolism associated with him. And then, there will be Uranians and Saturnians and people deriving from the, as monads from the seven sacred planets. So eventually, eventually, and what do we have to be for this to happen? This expands later, how much later, and at what degree of initiation into an almost inconceivably vast point of view.
Chúng ta là những sinh linh Trái Đất, nhưng có lẽ, với tư cách chân thần, chúng ta bắt nguồn từ một trong các Đấng Thiên Nhân vĩ đại và thiêng liêng, là những sinh linh Sao Thủy, như dường như trường hợp của Chân sư Tây Tạng, hoặc những sinh linh Sao Kim, như dường như trường hợp của Đức Christ và Chân sư KH; theo một nghĩa nào đó, Đức Phật là một sinh linh Sao Thủy, có biết bao biểu tượng Sao Thủy gắn liền với Ngài. Và rồi sẽ có những sinh linh Sao Thiên Vương, Sao Thổ và những người mà, với tư cách chân thần, bắt nguồn từ bảy hành tinh thiêng liêng. Vậy cuối cùng, cuối cùng, chúng ta phải đạt đến mức nào để điều này xảy ra? Về sau, điều này mở rộng thành một tầm nhìn bao la gần như không thể hình dung—nhưng về sau là bao lâu, và ở cấp độ điểm đạo nào?
And of course, there's a lot of relativity here. Think about the fact that our little solar system and our sun are simply as a crystal compared to some of the larger lives, and yet we talk about a perspective here as being inconceivably great.
Và dĩ nhiên, ở đây có rất nhiều tính tương đối. Hãy nghĩ đến thực tế rằng hệ mặt trời nhỏ bé của chúng ta và mặt trời của chúng ta chỉ như một tinh thể so với một số Sự Sống lớn hơn, vậy mà ở đây chúng ta vẫn nói đến một tầm nhìn rộng lớn đến mức không thể hình dung.
So that tells us, a little bit about how big is big. Well, I think we gradually grasp the question of magnitude, relative size and intensity within our systems, galaxies, and even the entire universe. Both are true, all things along the scale of hierarchy ascending and descending have different magnitudes, and yet all things are the same in a certain sense.
Vì vậy, điều đó cho chúng ta biết đôi chút về việc lớn là lớn đến đâu. Tôi nghĩ chúng ta dần nắm bắt vấn đề về tầm vóc, kích thước tương đối và cường độ trong các hệ thống, các thiên hà của chúng ta, và thậm chí trong toàn thể vũ trụ. Cả hai điều đều đúng: mọi sự trên thang thứ bậc đi lên và đi xuống đều có tầm vóc khác nhau, nhưng theo một nghĩa nào đó, mọi sự đều như nhau.
And the magnitude of each perception is identical with the magnitude of every other perception. So
Và tầm vóc của mỗi nhận thức đều đồng nhất với tầm vóc của mọi nhận thức khác. Vì vậy
[37] This is as far as we need go for our purpose, for this series of letters, aims not at the development of cosmic consciousness.
[37] Đối với mục đích của chúng ta, chỉ cần đi xa đến đây, vì loạt thư này không nhằm phát triển tâm thức vũ trụ.
We are not concerning ourselves here with the cosmic Logoi, which have solar systems or stars as their chakras.
Ở đây, chúng ta không bàn đến các Thượng đế vũ trụ, những Đấng có các hệ mặt trời hoặc các ngôi sao làm luân xa của mình.
[38] It will therefore be apparent to you that all these stages have to be taken systematically and that each one has to be mastered step by step.
[38] Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng phải tiến qua tất cả những giai đoạn này một cách có hệ thống, và phải làm chủ từng giai đoạn theo từng bước.
You know, thus we are called upon to be patient.
Các bạn biết đấy, như vậy chúng ta được yêu cầu phải kiên nhẫn.
[39] It is necessary first to grasp that the place where the expansion takes place, and the realisation has to be felt, has to be finally in the thinking, waking consciousness.
[39] Trước hết, cần nắm bắt rằng nơi sự mở rộng diễn ra, và nơi phải cảm nhận sự chứng nghiệm, cuối cùng phải là trong tâm thức tư duy, tỉnh thức.
That's one thing to talk about things mentally, and another thing to realize them, and that's such an important discrimination. Let's just say to think intellectually is distinct from realization, and we are looking for both, and clear thought will lead to realization eventually. On the atmic plane, it's the fifth power from above and the third from below, and, has its own point of tension that makes it possible.
Bàn về các sự việc bằng trí tuệ là một chuyện, còn chứng nghiệm chúng lại là chuyện khác, và đó là một sự phân biện hết sức quan trọng. Tư duy bằng trí năng khác với chứng nghiệm, và chúng ta tìm kiếm cả hai; cuối cùng, tư duy rõ ràng sẽ dẫn đến chứng nghiệm. Trên cõi atma, đó là quyền năng thứ năm tính từ trên xuống và thứ ba tính từ dưới lên, và có điểm tập trung nhất tâm riêng khiến điều ấy trở nên khả thi.
[40] The Ego on its own plane may be well aware of the unity of its consciousness with all other consciousnesses, and be realising his group as one with himself, but until the man (in physical plane consciousness) has raised himself to that same plane and is likewise aware of his group consciousness, and likewise regards himself as the higher Self within the egoic group and not as a separated unit, it is of no more use than a recognised theory is of use when not carried out in experience.
[40] Chân ngã trên chính cõi của mình có thể nhận biết rõ sự hợp nhất giữa tâm thức của mình với mọi tâm thức khác, và nhận biết nhóm của mình là một với mình; nhưng cho đến khi con người (trong tâm thức cõi hồng trần) tự nâng lên cùng cõi ấy, cũng nhận biết tâm thức nhóm của mình, và cũng nhìn nhận mình là Bản Ngã Cao Siêu trong nhóm chân ngã chứ không phải một đơn vị tách biệt, thì điều đó chẳng hữu ích hơn một lý thuyết đã được thừa nhận nhưng chưa được thực hiện trong trải nghiệm.
and this is a key paragraph, and it's something we've been repeating in various ways as we go. The ego on its own plane, and that maybe what we should say is on the higher mental plane wherever the causal body is situated, the consciousness of that causal body may be well aware of the unity of its consciousness with all other consciousnesses, and be realizing his group as one with himself, and there's that word again, realizing, well spelled with an s because it's sort of quasi British English here, realizing his group as one with himself, but until the man in physical plane consciousness has raised himself to that same plane and is likewise aware of his group consciousness, and likewise regards himself as the higher self within the egoic group, and not as a separated unit, because, higher selves are not deluded in thinking they are separated and separative units. It is of no more use than a recognized theory is of use when not carried out in experience.
Và đây là một đoạn then chốt, là điều chúng ta đã nhắc đi nhắc lại theo nhiều cách trong suốt quá trình. Chân ngã trên cõi riêng của mình—và có lẽ chúng ta nên nói là trên Cõi thượng trí, nơi thể nguyên nhân hiện diện—tâm thức của thể nguyên nhân ấy có thể nhận biết rõ sự hợp nhất của tâm thức mình với mọi tâm thức khác, và chứng nghiệm nhóm của mình là một với chính mình. Và từ ấy lại xuất hiện: chứng nghiệm; trong nguyên bản, từ này viết với chữ s, vì ở đây dùng cách viết gần với tiếng Anh của người Anh. Chứng nghiệm nhóm của mình là một với chính mình; nhưng cho đến khi con người trong tâm thức cõi hồng trần tự nâng mình lên cùng cõi ấy, cũng nhận biết tâm thức nhóm của mình, và cũng xem mình là Bản Ngã Cao Siêu trong nhóm chân ngã chứ không phải một đơn vị tách biệt—bởi các Bản Ngã Cao Siêu không mắc ảo tưởng cho rằng mình là những đơn vị tách biệt và chia rẽ—thì điều đó chẳng hữu ích hơn một lý thuyết đã được công nhận nhưng chưa được thực hiện trong trải nghiệm.
So always he is advising the other way, carrying out experientially, otherwise we just have the intellectual formulation, which is certainly lacking something in the depth and immediacy of possible experience.
Vì vậy, Ngài luôn khuyên đi theo cách kia, thực hiện bằng trải nghiệm; nếu không, chúng ta chỉ có sự trình bày bằng trí năng, vốn chắc chắn thiếu điều gì đó về chiều sâu và tính trực tiếp của trải nghiệm có thể đạt được.
[41] The man has to experience these stages in his physical consciousness and to know experimentally and not just theoretically that whereof I speak before he is deemed ready to pass on into the succeeding stages. The whole matter resolves itself into the expansion of the mind until it dominates the lower, and into the faculty of abstract conception which results eventually in physical plane manifestation.
[41] Con người phải trải nghiệm những giai đoạn này trong tâm thức hồng trần của mình, và phải biết qua trải nghiệm chứ không chỉ trên lý thuyết những điều Tôi nói đến, trước khi y được xem là sẵn sàng tiến vào các giai đoạn tiếp theo. Toàn bộ vấn đề quy về việc mở rộng thể trí cho đến khi nó thống trị cái thấp, và về năng lực quan niệm trừu tượng mà cuối cùng dẫn đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần.
It's as if to say, a plane of abstraction is our normal systemic plane from which the possibility of physical manifestation is directed, and this is even more so regarding the cosmic ethers and the buddhic plane whereon many chakras are found that contribute to manifestation in the dense physical body of the solar logos, and of the planetary logos, the lower 18 subplanes, the lower 21 subplanes, especially 21 in the case of the solar logos. To know experimentally, and not just theoretically, that whereof I speak, before he is deemed ready to pass on to the succeeding stages.
Điều này như muốn nói rằng một cõi trừu tượng là cõi thông thường trong hệ mặt trời của chúng ta, từ đó khả năng biểu hiện trên cõi hồng trần được chỉ đạo; và điều này càng đúng hơn đối với các cõi dĩ thái vũ trụ và cõi Bồ đề, nơi có nhiều luân xa góp phần vào sự biểu hiện trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và của Hành Tinh Thượng đế: 18 cõi phụ thấp, 21 cõi phụ thấp, đặc biệt là 21 trong trường hợp Thái dương Thượng đế. Biết qua thực nghiệm, chứ không chỉ qua lý thuyết, những điều Tôi nói đến, trước khi y được xem là sẵn sàng tiến sang các giai đoạn kế tiếp.
[42] It means making your highest theories and ideals demonstrable facts and it is that blending of the higher and the lower and the equipping of that lower until it provides a fitting expression for the higher.
[42] Điều đó có nghĩa là biến những lý thuyết và lý tưởng cao nhất của các bạn thành những sự thực có thể chứng minh; đó là sự hòa nhập cái cao với cái thấp, và trang bị cho cái thấp cho đến khi nó biểu đạt cái cao một cách thích hợp.
It seems, very much a question of common sense to make real what we hold as theory, and to make practical that which we hold as theoretical, and maybe a nice intellectual formulation, but still a pale reflection of the reality of realization.
Dường như đây chủ yếu là vấn đề lẽ thường: hiện thực hóa điều chúng ta xem là lý thuyết, và đưa vào thực tiễn điều chúng ta xem là lý thuyết, có lẽ là một cách diễn đạt đẹp bằng trí năng, nhưng vẫn chỉ là một phản ánh nhạt nhòa của thực tại chứng nghiệm.
[43] It is here that the practice of meditation plays its part. The true scientific meditation provides graded forms whereby the consciousness is raised and the mind expanded until it embraces:
[43] Chính ở đây, việc thực hành tham thiền phát huy vai trò của mình. Tham thiền khoa học chân chính cung cấp [Page 144] những hình tướng theo từng cấp độ, nhờ đó tâm thức được nâng cao và thể trí được mở rộng cho đến khi bao gồm:
you know, and what will it embrace? Meditation is coming in here to render the abstract concrete, the higher points of tension, capable of working through lower points of tension.
Các bạn biết đấy, nó sẽ bao quát những gì? Ở đây, tham thiền giúp biến điều trừu tượng thành cụ thể, khiến các điểm tập trung nhất tâm cao hơn có khả năng hoạt động qua các điểm tập trung nhất tâm thấp hơn.
Here that the practice of meditation plays its part, and this is really scientific meditation, not just, necessarily sitting quietly for development, as it were, some of the early theosophical errors, but naturally we have a lot to learn, and it's natural that we would fall into error at first. The true scientific meditation is what we're after, and he's going to give us some kind of idea. Well, he's been, giving that to us as we go along, but what that is.
Chính ở đây, việc thực hành tham thiền phát huy vai trò của mình, và đây thực sự là tham thiền khoa học, không nhất thiết chỉ là ngồi yên để phát triển, có thể nói như vậy—một số sai lầm thời kỳ đầu của Thông Thiên Học. Nhưng dĩ nhiên, chúng ta có rất nhiều điều phải học, và việc ban đầu chúng ta mắc sai lầm là điều tự nhiên. Tham thiền khoa học đích thực là điều chúng ta tìm kiếm, và Ngài sẽ cho chúng ta một ý niệm nào đó. Trong suốt quá trình, Ngài vẫn đang cho chúng ta biết điều ấy là gì.
So, graded forms are involved, and the mind is expanded until it embraces, and that's that nice second ray, word, embrace, include,
Vì vậy, có những hình thức theo từng cấp độ, và thể trí mở rộng cho đến khi bao quát; đó là từ đẹp đẽ của cung hai: bao quát, bao gồm,
[44] 1—Its family and friends.
[44] 1—Gia đình và bạn bè của mình.
[45] 2—Its environing associates.
[45] 2—Những người cộng sự xung quanh mình.
[46] 3—Its affiliated groups.
[46] 3—Những nhóm mà mình có liên hệ.
[47] 4—Its egoic group.
[47] 4—Nhóm chân ngã của mình.
and
và
[48] 5—Other egoic groups.
[48] 5—Những nhóm chân ngã khác.
[49] 6—That Man of the Heavens of which the egoic groups form a centre.
[49] 6—Đấng Thiên Nhân mà các nhóm chân ngã hợp thành một trung tâm của Ngài.
so planetary logoi, we might say, right, and then
vậy có thể nói là các Hành Tinh Thượng đế, đúng không, và rồi
[50] 7—The Grand Heavenly Man.
[50] 7—Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.
Blue is the embracing color. In meditation, let's just say meditation can accomplish the following inclusions.
Màu xanh lam là màu bao quát. Trong tham thiền, tham thiền có thể thực hiện những sự bao gồm sau đây.
[51] To effect this certain forms will be laid down later, that (working along the line of a man's ray) will teach him in graded steps to do this.
[51] Để thực hiện điều này, về sau một số hình tướng sẽ được xác lập; chúng sẽ hoạt động theo đường hướng của cung con người và dạy y từng bước theo cấp độ để thực hiện điều ấy.
This is why the book Esoteric Psychology Vol. 2 is so important. The old commentary methods are there given for the various ray types.
Đây là lý do sách Tâm Lý Học Nội Môn, Tập 2, quan trọng đến vậy. Trong đó trình bày các phương pháp của Cổ Luận dành cho những người thuộc các cung khác nhau.
[52] You will note that I have dealt with the consciousness itself and the goal it aspires to and have thus dealt with our first two points.
[52] Các bạn sẽ nhận thấy Tôi đã đề cập đến chính tâm thức và mục tiêu mà nó khát vọng hướng tới, và như vậy đã bàn đến hai điểm đầu tiên của chúng ta.
And this brings me, so what are the points? Consciousness itself, that's one point, right? And then the next is the goal. That's the point.
Và điều này đưa tôi đến—vậy các điểm ấy là gì? Chính tâm thức, đó là một điểm, đúng không? Rồi tiếp theo là mục tiêu. Đó là điểm ấy.
The goal that consciousness tries to achieve.
Mục tiêu mà tâm thức cố gắng đạt tới.
[53] This brings me to our last subsidiary heading, the steps whereby attainment eventuates.
[53] Điều này đưa Tôi đến đề mục phụ cuối cùng: những bước dẫn đến sự thành tựu.
I guess we begin to see, someone like Master DK who has studied for thousands of years, and meditated for thousands of years, and certainly even, our meditation is not equaling what his was even 3,000 years ago at the time, or maybe 2,500 years ago at the time of Pythagoras, whom he assisted apparently being in very close relation to Pythagoras.
Tôi nghĩ chúng ta bắt đầu thấy rằng một vị như Chân sư DK đã nghiên cứu hàng nghìn năm, và tham thiền hàng nghìn năm; chắc chắn việc tham thiền của chúng ta thậm chí không sánh được với việc tham thiền của Ngài cách đây 3.000 năm, hoặc có lẽ 2.500 năm, vào thời Pythagoras, người mà Ngài đã trợ giúp và dường như có mối quan hệ rất gần gũi.
So it takes a while, but things are speeding up, and the upward spiral does tighten. So our last subsidiary heading is the points, or the steps, the steps, to be taken in order to achieve the goal, which our understanding of consciousness reveals.
Vì vậy, cần có thời gian, nhưng mọi sự đang tăng tốc, và vòng xoắn ốc đi lên quả thực ngày càng thu hẹp. Vậy đề mục phụ cuối cùng của chúng ta là những điểm, hay những bước, những bước cần thực hiện để đạt mục tiêu mà sự thấu hiểu của chúng ta về tâm thức cho thấy.
[54] Each man who enters upon occult development and who aspires toward the higher, has passed the stage of the average man,—the man who regards himself from the purely isolated standpoint and who works for what is good for himself.
[54] Mỗi người bước vào sự phát triển huyền bí và khát vọng hướng đến cái cao đều đã vượt qua giai đoạn của người bình thường,—người nhìn nhận mình từ quan điểm hoàn toàn biệt lập và làm việc vì điều có lợi cho chính mình.
Well, we see a lot of that in the world today, and people struggling for what look like very partial or foolish ends, but they are necessary. They are steps along the way, and we see them fight with all their might to preserve personality prerogatives. And we have to bear that because, we were in that kind of position, and those who are now our teachers were to us then as we are to these who are strictly personality-centered right now.
Chúng ta thấy rất nhiều điều như vậy trong thế giới ngày nay, và những người đấu tranh vì các mục đích có vẻ hết sức phiến diện hoặc dại dột, nhưng chúng là cần thiết. Chúng là những bước trên đường đi, và chúng ta thấy họ đấu tranh hết sức để giữ gìn các đặc quyền của phàm ngã. Và chúng ta phải chịu đựng điều đó, bởi chúng ta từng ở vào hoàn cảnh ấy; khi đó, những vị hiện nay là huấn sư của chúng ta có quan hệ với chúng ta giống như quan hệ của chúng ta với những người lúc này chỉ tập trung vào phàm ngã.
We cannot deplore the condition in which they find themselves. We can only hope wisely to help elevate that position rather more quickly than would be the case if we simply criticize or if we ignore.
Chúng ta không thể lên án tình trạng mà họ đang ở trong đó. Chúng ta chỉ có thể hy vọng trợ giúp một cách minh triết để nâng họ khỏi vị thế ấy nhanh hơn đôi chút so với khi chúng ta chỉ phê phán hoặc làm ngơ.
[55] The aspirant is aiming at something different; he seeks to merge himself with his higher Self and with all that is entailed when we use that term.
[55] Người chí nguyện hướng đến một điều khác; y tìm cách hòa nhập với chân ngã của mình và với tất cả những gì thuật ngữ ấy bao hàm.
So certainly we are aspirants, aren't we? Certainly that much, and we do seek to merge ourselves with our higher self, and we can say so and later, triad and later, monad. But then you won't be an aspirant anymore.
Vậy chắc chắn chúng ta là những người chí nguyện, phải không? Chắc chắn ít nhất là như vậy, và chúng ta quả thực tìm cách hòa nhập với chân ngã của mình; chúng ta có thể nói là linh hồn, rồi về sau là Tam nguyên tinh thần, rồi về sau nữa là chân thần. Nhưng khi ấy các bạn sẽ không còn là người chí nguyện nữa.
You'll be, well, always an aspirant in a way, but something still more.
Theo một nghĩa nào đó, các bạn sẽ luôn là người chí nguyện, nhưng còn là một điều gì đó hơn thế.
[56] The stages beyond that, in all their intricacies, are the secrets of Initiation and with them we have naught to do.
[56] Những giai đoạn vượt ngoài đó, với toàn bộ sự phức tạp của chúng, là những bí mật của Điểm đạo, và chúng ta không bàn đến chúng.
So basically what he's doing is he's confining himself to an upreach toward the soul.
Vì vậy, về cơ bản, điều Ngài đang làm là giới hạn mình trong sự vươn lên hướng tới linh hồn.
So he confines himself to an upreach towards the soul.
Vì vậy, Ngài giới hạn mình trong sự vươn lên hướng tới linh hồn.
So there are many, many steps along the way, and what it is wise for us to do is to know the step, the steps which are appropriate to our development. And we can learn about many other things, but the practical way is to know what is the next step ahead for ourselves.
Vì vậy, có rất nhiều, rất nhiều bước trên đường đi, và điều minh triết chúng ta nên làm là biết bước nào, những bước nào thích hợp với sự phát triển của mình. Và chúng ta có thể học về nhiều điều khác, nhưng cách thực tiễn là biết bước tiếp theo phía trước dành cho mình là gì.
What initiation perhaps lies ahead, because every true disciple is being prepared for initiation, and what evidences we have that such an initiation does lie ahead.
Có lẽ lần điểm đạo nào đang ở phía trước, bởi mỗi đệ tử đích thực đều đang được chuẩn bị cho điểm đạo, và chúng ta có những bằng chứng nào cho thấy một lần điểm đạo như thế quả thực đang ở phía trước.
[57] Aspiration towards the Ego and the bringing in of that higher consciousness with the subsequent development of group consciousness very directly concern all who will read these letters.
[57] Khát vọng hướng đến Chân ngã và việc đưa tâm thức cao hơn ấy vào, cùng với sự phát triển tâm thức nhóm tiếp theo, liên quan hết sức trực tiếp đến tất cả những ai đọc các bức thư này.
So at least he's giving us, at least he's telling us what minimally we have to achieve, what we have achieved, at least minimally where we stand.
Vậy ít nhất Ngài đang cho chúng ta biết, ít nhất Ngài đang nói với chúng ta điều tối thiểu phải đạt được, điều chúng ta đã đạt được, ít nhất là vị trí tối thiểu hiện tại của chúng ta.
And we do have to be, while not preoccupied with these steps, nor have we have not to be insouciant, careless, careless about them either, because then we will not, as he says, receive the occult accolade either way. If we're over concerned, overly concerned, or insufficiently concerned and focused.
Và tuy không nên quá bận tâm đến những bước này, chúng ta cũng không được thờ ơ, cẩu thả, cẩu thả với chúng, bởi khi ấy, như Ngài nói, theo cách nào chúng ta cũng sẽ không nhận được sự công nhận huyền bí: nếu chúng ta quá quan tâm, quan tâm quá mức, hoặc không quan tâm và tập trung đủ.
[58] It is the next step ahead for those upon the Probationary Path. It is not achieved by simply giving thirty minutes a day to certain set forms of meditation. It involves an hour by hour attempt, [Page 145] all day long and every day, to keep the consciousness as near to the high pitch attained in the morning meditation as possible. It presumes a determination to consider oneself at all times as the Ego,
[58] Đó là bước kế tiếp đối với những người trên Con Đường Dự Bị. Không thể đạt được điều đó chỉ bằng cách dành ba mươi phút mỗi ngày cho một số hình thức tham thiền cố định. Điều đó đòi hỏi nỗ lực từng giờ, [Page 145] suốt ngày và mỗi ngày, để giữ tâm thức càng gần mức cao đạt được trong buổi tham thiền sáng càng tốt. Điều đó đòi hỏi quyết tâm luôn nhìn nhận mình là Chân ngã,
you know, not just the personality, not just the dweller,
các bạn biết đấy, không chỉ là phàm ngã, không chỉ là Kẻ Chận Ngõ,
[59] and not as a differential personality.
[59] chứ không phải một Phàm ngã riêng biệt.
or differentiated, differential, interesting use of the word, personality.
hay đã biến phân, biệt lập—một cách dùng từ thú vị—phàm ngã.
[60] Later, as the Ego comes more and more into control, it will involve also the ability to look upon oneself as part of a group, with no interests and desires, no aims or wishes apart from the good of that group. It necessitates a constant watchfulness every hour of the day to prevent the falling back
[60] Về sau, khi Chân ngã ngày càng nắm quyền kiểm soát, điều đó còn bao hàm khả năng nhìn nhận mình là một phần của nhóm, không có lợi ích và dục vọng, mục đích hay mong muốn nào tách khỏi lợi ích của nhóm ấy. Điều đó đòi hỏi sự tỉnh giác liên tục trong từng giờ của ngày để ngăn việc rơi trở lại
It's a, this is a very powerful paragraph.
Đây là một đoạn hết sức mạnh mẽ.
All the requirements that we must fulfill to achieve the higher alignment. Looking upon oneself as part of a group with no interests or, and desires, no aims or wishes apart from the good of that group.
Tất cả những yêu cầu chúng ta phải đáp ứng để đạt sự chỉnh hợp cao hơn. Xem mình là một phần của một nhóm, không có lợi ích và dục vọng, không có mục đích hay ước muốn nào ngoài điều tốt đẹp cho nhóm ấy.
[61] into the lower vibration.
[61] rung động thấp hơn.
which often happens, doesn't it?
điều này thường xảy ra, phải không?
[62] It entails a constant battle with the lower self that drags down; it is a ceaseless fight to preserve the higher vibration. And—which is the point I am aiming to impress upon you—the aim should be the development of the habit of meditation all the day long, and the living in the higher consciousness till that consciousness is so stable
[62] Điều đó bao hàm cuộc chiến liên tục với phàm nhân đang kéo xuống; đó là cuộc đấu tranh không ngừng để duy trì rung động cao hơn. Và—đây là điểm Tôi muốn khắc sâu nơi các bạn—mục tiêu phải là phát triển thói quen tham thiền suốt ngày, và sống trong tâm thức cao hơn cho đến khi tâm thức ấy ổn định đến mức
so stable that what?
ổn định đến mức nào?
[63] that the lower mind, desire and the physical elementals, become so atrophied and starved through lack of nourishment that the threefold lower nature becomes simply the means whereby the Ego contacts the world for purposes of helping the race.
[63] hạ trí, dục vọng và các tinh linh thể xác trở nên teo yếu và cạn kiệt vì thiếu nuôi dưỡng, khiến bản chất thấp tam phân chỉ còn là phương tiện để Chân ngã tiếp xúc với thế giới nhằm giúp đỡ nhân loại.
So, this is a highly important requirement.
Vì vậy, đây là một yêu cầu hết sức quan trọng.
Requirements for what? Requirements for what? Bringing the higher consciousness in, and the development of group consciousness. This is a potent and long paragraph, and may we somehow learn to deal with it and carry it out.
Yêu cầu để làm gì? Yêu cầu để làm gì? Đưa tâm thức cao hơn vào, và phát triển tâm thức nhóm. Đây là một đoạn dài và đầy sức mạnh; mong rằng bằng cách nào đó chúng ta học được cách xử lý và thực hiện nó.
So, carrying on just a little bit, perhaps. This is going to be a long, long letter.
Vậy có lẽ tiếp tục thêm một chút. Đây sẽ là một bức thư rất, rất dài.
[64] In so doing he is accomplishing something that is little realised by the average student. He is building a form, a definite thoughtform that eventually provides a vehicle whereby he steps out of the lower consciousness into the higher, a kind of mayavirupa that acts as his intermediate channel. These forms are usually, though not invariably, of two kinds:—
[64] Khi làm như vậy, y đang thực hiện một điều mà đạo sinh bình thường ít nhận biết. Y đang xây dựng một hình tướng, một hình tư tưởng xác định, cuối cùng cung cấp một hiện thể để y bước ra khỏi tâm thức thấp hơn và đi vào tâm thức cao hơn, một loại hình tướng huyễn ảo làm kênh trung gian của y. Những hình tướng này thường, dù không phải lúc nào cũng vậy, thuộc hai loại:—
So, if he is able to carry out these requirements, he is building a form.
Vì vậy, nếu y có thể thực hiện những yêu cầu này, y đang xây dựng một hình tướng.
So, carrying out requirements, requirements listed above, builds an intermediate useful form whereby to ascend to a higher point of tension. Gosh, I kind of really want to look at this again. It's long, but aspiration towards the ego and the bringing in of that higher consciousness with the subsequent development of group consciousness is very directly concerned all who read these letters.
Vì vậy, việc thực hiện các yêu cầu, những yêu cầu được liệt kê ở trên, xây dựng một hình tướng trung gian hữu ích để qua đó vươn lên một điểm tập trung nhất tâm cao hơn. Tôi thực sự muốn xem lại điều này. Đoạn này dài, nhưng khát vọng hướng tới chân ngã và việc đưa tâm thức cao hơn ấy vào, cùng với sự phát triển tâm thức nhóm tiếp theo, liên quan hết sức trực tiếp đến tất cả những ai đọc các bức thư này.
And his own students were working on this, and did not fully succeed. But the seed group project is long until 2200. So,
Và chính các đạo sinh của Ngài đã làm việc với điều này, nhưng chưa hoàn toàn thành công. Tuy nhiên, dự án Nhóm hạt giống kéo dài đến năm 2200. Vì vậy,
It is the next step ahead for those upon the Probationary Path.
Đó là bước tiếp theo phía trước dành cho những người trên Con Đường Dự Bị.
I guess, who want to become true disciples.
Tôi nghĩ là những người muốn trở thành đệ tử đích thực.
It is not achieved by simply giving thirty minutes a day to certain set forms of meditation.
Không thể đạt được điều đó chỉ bằng cách dành ba mươi phút mỗi ngày cho một số hình thức tham thiền cố định.