← Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Lá Thư VI

Commentary LOM 40

Tóm lược chương

Trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, Chân sư DK đặt các mantram trong vấn đề “thấu hiểu mãnh lực”: chúng đưa người sử dụng vào một dòng mãnh lực, từ việc tiếp xúc với sự sống hành khí đến khẩn cầu Chúa Tể của một Cung, thiên thần của một cõi, hoặc chính Thái dương Thượng đế. Một số mantram hướng sự chú ý của chúa tể thiên thần ở cõi phụ hay của cả một cõi; chúng chỉ được trao cho rất ít người đã trải qua các cuộc điểm đạo cao. Thiên thần thường được tiếp xúc theo nhóm, chứ không như những cá thể riêng lẻ, trừ các thiên thần thuộc cấp rất cao. Trong thư đề ngày 17 tháng 8 năm 1920, Chân sư DK liên hệ dòng mãnh lực đổ vào các trung tâm với mệt…


Commentary LOM 40

Tóm Tắt

Tóm tắt Webinar: Commentary LOM 40_edited

Linh từ và các dòng mãnh lực

Trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, Chân sư DK đặt các mantram trong vấn đề “thấu hiểu mãnh lực”: chúng đưa người sử dụng vào một dòng mãnh lực, từ việc tiếp xúc với sự sống hành khí đến khẩn cầu Chúa Tể của một Cung, thiên thần của một cõi, hoặc chính Thái dương Thượng đế. Một số mantram hướng sự chú ý của chúa tể thiên thần ở cõi phụ hay của cả một cõi; chúng chỉ được trao cho rất ít người đã trải qua các cuộc điểm đạo cao. Thiên thần thường được tiếp xúc theo nhóm, chứ không như những cá thể riêng lẻ, trừ các thiên thần thuộc cấp rất cao.

Điều tiết sự kích thích

Trong thư đề ngày 17 tháng 8 năm 1920, Chân sư DK liên hệ dòng mãnh lực đổ vào các trung tâm với mệt mỏi, căng thẳng, kích động và những phản ứng cảm xúc dữ dội khi mãnh lực bị dùng sai. Bí quyết không kháng cự không có nghĩa là đóng kín trước mãnh lực: con người giữ sự tĩnh lặng, làm kênh dẫn, chỉ hấp thu phần mình chịu đựng được và để phần dư trở lại nguồn chung như một tác nhân chữa lành. Việc tham thiền quá lâu khi chưa được huấn luyện, chẳng hạn năm giờ liên tục, được nêu như một nguy cơ sử dụng năng lượng thiếu phân biện; năng lực huyền bí cần được xây dựng qua nhiều kiếp sống.

Mãnh lực, nhiệt và định luật

Các dòng điện vũ trụ, mãnh lực trong bản chất và nhiệt tiềm ẩn trong hình tướng được trình bày như cơ sở của sự sống và của hoạt động mantram. Một liên hệ được chỉ ra với Luận về Lửa Vũ Trụ: nhiệt tiềm ẩn thuộc lửa phi dĩ thái, còn nhiệt hoạt động thuộc lửa dĩ thái; nhiệt tiềm ẩn duy trì sức sống của tế bào và nguyên tử. Theo cách diễn giải được đề xuất, hiểu định luật như sự thích ứng của hình tướng với các dòng mãnh lực là một lối tiếp cận có tính khoa học, nhưng không phải lý do để tìm kiếm kích thích vượt quá khả năng.

Điều kiện an toàn khi tiếp xúc thiên thần và hành khí

Việc gọi thiên thần hay sự sống hành khí chỉ an toàn khi người thực hành có tri thức, khả năng kiểm soát và mục đích xây dựng; nếu không, chính các mãnh lực được gọi đến có thể chi phối họ. Tiếp xúc thiên thần quá sớm có thể gây kích thích quá mức, đổ vỡ đột ngột hoặc tan rã do lửa và nhiệt, với hậu quả nghiêm trọng cho các thể. Ngược lại, tập hợp sự sống hành khí giáng hạ tiến hoá có thể dẫn đến mất sinh lực như bị hút cạn, tích tụ chất liệu bất thường trong một thể, hoặc cái chết do nước, đất hay lửa theo nghĩa huyền bí. Ví dụ về chiếc rương thánh trong phim Indiana Jones được dùng như một so sánh cho hiểm họa gọi những mãnh lực vượt ngoài khả năng kiểm soát, chứ không phải một minh chứng giáo lý.

Tri thức mantram được giữ kín

Các mantram và hình thức huyền thuật chỉ được truyền khi đạo sinh đã sẵn sàng và công việc thực sự đòi hỏi; những hình thức thấp hơn về sau có thể được trao dần cho người chuẩn bị đầy đủ và phụng sự nhân loại một cách vô tư. Việc giữ kín tri thức ngăn quyền năng bị sử dụng vì tò mò hoặc tư lợi, đồng thời phân định những cấp hiểu biết mà người học có thể đảm trách. Kiên nhẫn vì thế đi cùng với sự chuẩn bị tích cực: không thể vội đạt năng lực, nhưng cũng không nên bỏ phí thời gian.

Lạm dụng thời Atlantis và sự tách biệt các giới

Theo Chân sư DK, tại Atlantis, những người có đời sống bất tịnh đã dùng công thức và Linh từ để gọi hành khí trả thù, vận dụng thiên thần cấp thấp phục vụ tham vọng và ép định luật phục tùng dục vọng ở cõi hồng trần. Thánh Đoàn vì vậy dần rút tri thức ấy khỏi tâm thức nhân loại, tách sự tiến hoá của con người và thiên thần khỏi nhau cũng như khỏi nhóm sự sống hành khí giáng hạ tiến hoá, khiến nhịp rung động chung chậm lại. Một cách lý giải được đề xuất là sự rút lui diễn ra một phần qua việc không tiếp tục truyền dạy công thức và nghi lễ, dù một số điểm đạo đồ vẫn nắm giữ chúng. Sự chậm lại này được xem là cơ hội tái lập cân bằng trước hiểm họa từ tàn dư của cái ác vũ trụ gắn với hệ mặt trời thứ nhất.

Triển vọng hợp tác giữa con người và thiên thần

Sự xuất hiện của cung bảy về Huyền Thuật Nghi Lễ mở ra khả năng con người và thiên thần xích lại gần nhau một cách thận trọng, nhưng chưa cho phép tiếp xúc tương tự với sự sống hành khí giáng hạ tiến hoá. Trong khoảng 500 năm tính từ thư năm 1920, hai nhóm được dự kiến sẽ nhận biết nhau rõ hơn; khi nhu cầu giao tiếp vì mục đích xây dựng đã chín muồi, một số mantram cổ có thể được lưu hành dưới sự hướng dẫn của các chân sư. Con người có thể trao cho thiên thần sức mạnh và góc nhìn khách quan của nguyên khí thứ năm, manas; thiên thần, những vị gìn giữ prana, từ điện và sinh lực, có thể đem lại niềm vui và từ điện chữa lành. Sự hợp tác này khác với can thiệp vào nhau và cần được nghiên cứu, theo dõi từng bước.

Học hỏi chính xác để phụng sự

Tham thiền, nghiên cứu và phụng sự được đặt cùng nhau: kinh nghiệm về năng lượng cần đi kèm việc đọc kỹ từng câu chữ và khả năng áp dụng đúng vào Thiên Cơ. Sự tương tự với việc học nhạc làm rõ rằng tình yêu dành cho một lĩnh vực không thay thế được nghiên cứu về nhịp điệu, hòa âm và cấu trúc; việc học huyền bí cũng cần trí tuệ được soi sáng, không chỉ cảm giác thăng hoa. Nhiệm vụ giáo dục được liên hệ với cung hai, trong khi cung năm được dự kiến góp phần nghiên cứu các thế giới bên trong. Các con số 35 tỷ Chân Thần Bác Ái – Minh Triết, 20 tỷ thuộc cung ba và 5 tỷ thuộc cung một được nêu kèm sự chưa chắc chắn rằng tổng số 60 tỷ Chân Thần nhân loại áp dụng cho riêng Trái Đất hay toàn hệ mặt trời; chính sự chưa rõ này càng cho thấy nhu cầu nghiên cứu cẩn trọng trước khi rút ra kết luận.

Text LOM 40 – Văn bản LOM 40

[1] AUGUST 17TH, 1920.

[1] NGÀY 17 THÁNG 8 NĂM 1920.

[1b] The comprehension of force.

[1b] Sự thấu hiểu mãnh lực.

[1c] I ceased early yesterday, Brother of Mine, owing to a slight fatigue on your part, due not so much to taking my dictation as to the fact that inner conditions everywhere yesterday, and even today, are not desirable.

[1c] Huynh đệ của Tôi, hôm qua Tôi đã dừng sớm vì huynh đệ hơi mệt, không hẳn do ghi lại lời Tôi đọc, mà vì hôm qua, và ngay cả hôm nay, các điều kiện bên trong ở khắp nơi đều không thuận lợi.

...... [1d] The tension today is great, [2] and the force pouring in on all the different centers is apt—unless duly regulated—to cause a feeling of fatigue, of tension, of excitement and of restlessness. The secret of regulation which lies in non-resistance is known to very few, and consequently the intensity of emotion, the violent reactions, and present widespread era of crime are the results, very largely, of force misused and misapplied. [3] This can be seen demonstrating in all ranks of life, and only he who knows the secret of being naught but a channel, and who abides still within the secret place, can pass through the present crisis without undue shattering and pain. [4] Stimulation—such as is at present abroad—leads to pain and consequent reaction and must be guarded against with as much care as its opposite, loss of vitality—guarded against, not in the sense of shutting oneself off from stimulating force but of receiving that force, passing it through one's being, and only absorbing as much of it as one can carry. [5] The residue will then pass out from one as a healing agency on its return to the general reservoir. [6] The true and occult significant of force in nature, of the electrical [Page 180] currents of the universe, and of the latent heat stored in all forms is little understood as yet by your exoteric scientists, or your would-be occult students. Subba Rao... approached the study of occultism from this angle, and therefore, he attained a profound knowledge of law.

...... [1d] Ngày nay, sự căng thẳng rất lớn, [2] và mãnh lực đang tuôn vào tất cả các trung tâm khác nhau có thể—nếu không được điều tiết đúng mức—gây ra cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, kích động và bất an. Rất ít người biết bí quyết điều tiết nằm ở sự không chống cự; do đó, cảm xúc mãnh liệt, những phản ứng dữ dội và tình trạng tội phạm lan rộng hiện nay là những hệ quả, phần lớn, của việc sử dụng mãnh lực sai cách và áp dụng sai chỗ. [3] Có thể thấy điều này biểu hiện trong mọi tầng lớp của đời sống, và chỉ người nào biết bí quyết không là gì khác ngoài một kênh dẫn, đồng thời an trú tĩnh lặng trong chốn kín nhiệm, mới có thể vượt qua cuộc khủng hoảng hiện nay mà không chịu những chấn động và đau đớn quá mức. [4] Sự kích thích—như đang phổ biến hiện nay—dẫn đến đau đớn và phản ứng tiếp theo, nên cần đề phòng cẩn trọng không kém tình trạng đối lập của nó là sự suy giảm sinh lực—đề phòng không có nghĩa là tự ngăn cách mình với mãnh lực kích thích, mà là tiếp nhận mãnh lực ấy, để nó đi xuyên qua toàn bộ con người mình, và chỉ hấp thu lượng mà mình có thể chịu đựng. [5] Phần còn lại khi ấy sẽ thoát ra khỏi mình như một tác nhân chữa lành trên đường trở về nguồn dự trữ chung. [6] Cho đến nay, các nhà khoa học ngoại môn của các bạn, hay những người mong trở thành đạo sinh huyền bí học, vẫn ít thấu hiểu thâm nghĩa chân thực và huyền bí của mãnh lực trong tự nhiên, của các dòng điện [Page 180] trong vũ trụ, và của nhiệt tiềm ẩn tích trữ trong mọi hình tướng. Subba Rao đã tiếp cận việc nghiên cứu huyền bí học từ góc độ này, và do đó, y đạt được tri thức sâu sắc về định luật.

[7] I have touched on this matter as it lies back of all instruction along occult lines. [8] If you can grasp somewhat its meaning, and understand how the law is but the adaptation of the form to some one or other of these great streams of force, you will illuminate your whole life and be carried on those streams of force, those magnetic currents, that vital fluid, those electrical rays (no matter what the terms used) right to the heart of the unknown.

[7] Tôi đã đề cập đến vấn đề này vì nó là nền tảng của mọi huấn thị theo đường hướng huyền bí. [8] Nếu các bạn có thể nắm bắt phần nào ý nghĩa của nó, và thấu hiểu rằng định luật chỉ là sự thích nghi của hình tướng với dòng này hay dòng khác trong những dòng mãnh lực vĩ đại ấy, các bạn sẽ soi sáng toàn bộ đời sống mình và được những dòng mãnh lực ấy, những dòng từ tính ấy, lưu chất sinh lực ấy, những tia điện ấy (bất kể dùng thuật ngữ nào) đưa thẳng vào tâm điểm của điều chưa biết.

[9] This same idea of force and of the magnetic currents of the solar system governs all I have imparted on meditation in all its branches—specific, individual and collective, based on form or formless; it is the medium through which the mantrams work, from those that touch the elemental lives up to the great Words chanted in rhythm that call the Lord of a Ray, the Deva of a Plane, or the Lord of a Solar System Himself. [10] The sounding of these Words, the ascent through graded forms [11] to some specific point, [12] and the chanting of mantrams but put the one who is thus working into the line of some one stream of force. It is the finding of the line of least resistance whereby to reach some goal, to communicate with some individual Intelligence, [13] to control some involutionary life, and to contact and co-operate with some group of devas. [14] The above digression may serve somewhat to sum up what I have lately imparted anent forms, mantric or otherwise, as used by the student of occult meditation.

[9] Chính ý tưởng này về mãnh lực và các dòng từ tính của hệ mặt trời chi phối tất cả những gì Tôi đã truyền đạt về tham thiền trong mọi nhánh của nó—chuyên biệt, cá nhân và tập thể, dựa trên hình tướng hay vô hình tướng; đó là phương tiện để các mantram phát huy tác dụng, từ những mantram tác động đến các sự sống hành khí cho đến những Linh từ vĩ đại được xướng theo nhịp điệu để triệu gọi Chúa Tể của một Cung, Thiên Thần của một Cõi, hay chính Chúa Tể của một Hệ Mặt Trời. [10] Việc xướng những Linh từ này, việc đi lên qua những hình tướng phân cấp [11] đến một điểm cụ thể nào đó, [12] và việc xướng các mantram chỉ đưa người đang thực hành như thế vào đường dẫn của một dòng mãnh lực nào đó. Đó là việc tìm ra con đường ít trở ngại nhất để đạt đến một mục tiêu nào đó, giao tiếp với một Đấng Thông Tuệ riêng biệt nào đó, [13] kiểm soát một sự sống giáng hạ tiến hoá nào đó, và tiếp xúc cũng như hợp tác với một nhóm thiên thần nào đó. [14] Phần bàn rộng trên đây có thể phần nào tổng kết những gì gần đây Tôi đã truyền đạt về các hình thức, dưới dạng mantram hay dạng khác, mà đạo sinh tham thiền huyền môn sử dụng.

[15] As may be imagined, the calling of either the devas or the elementals can only be safely undertaken by one who has the power to utilize them wisely when called, [Page 181] [16] hence the mantrams we have enumerated above are only put into the hands of those who are on the side of the constructive forces of the system, or who can constructively control the destructive elements, bending them into line with the disintegrating forces that are themselves part of the great constructive scheme. [17] Should anyone—not thus capable—be able to contact the devas, and, through the use of mantrams gather them to him, he would find that the force they carry would descend on him as a destructive one, and serious consequences might result in one or other of his bodies.

[15] Như có thể hình dung, chỉ người có khả năng sử dụng các thiên thần hoặc hành khí một cách minh triết khi triệu gọi chúng mới có thể thực hiện việc triệu gọi một cách an toàn, [Page 181] [16] do đó, các mantram mà chúng ta đã liệt kê ở trên chỉ được trao cho những người đứng về phía các mãnh lực kiến tạo của hệ, hoặc những người có thể kiểm soát các yếu tố huỷ diệt theo hướng kiến tạo, đưa chúng vào cùng đường hướng với các mãnh lực phân rã vốn cũng là một phần của hệ thống kiến tạo vĩ đại. [17] Nếu một người—không có khả năng như thế—có thể tiếp xúc với các thiên thần và dùng mantram để tập hợp các thiên thần về với mình, y sẽ thấy rằng mãnh lực mà các thiên thần mang theo giáng xuống y như một mãnh lực huỷ diệt, và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở một trong các thể của y.

[18] Think this out, therefore, remembering that those dangers would lie along the line of over-stimulation, of sudden shattering, and of disintegration through fire or heat. Should he gather involutionary lives around him the dangers would be different or rather would demonstrate in the opposite effect,—such as loss of vitality due to vampirism, a sucking out of the forces of one or another of his bodies, an abnormal building in of material into some one body (due to the action of such involutionary lives as the physical or desire elementals), and death through water, [19] earth or fire, understood in an occult sense.

[18] Vì vậy, hãy suy ngẫm kỹ điều này, nhớ rằng những nguy hiểm ấy sẽ thuộc về sự kích thích quá mức, sự tan vỡ đột ngột, và sự phân rã do lửa hoặc nhiệt. Nếu y tập hợp quanh mình các sự sống giáng hạ tiến hoá, những nguy hiểm sẽ khác đi, hay đúng hơn, sẽ biểu hiện thành tác động đối lập,—chẳng hạn như suy giảm sinh lực do sự hút sinh lực, mãnh lực của một trong các thể của y bị hút cạn, vật chất tích tụ bất thường trong một thể nào đó của y (do hoạt động của những sự sống giáng hạ tiến hoá như các hành khí hồng trần hoặc dục vọng), và cái chết do nước, [19] đất hoặc lửa, hiểu theo nghĩa huyền bí.

[20] I have dealt here with the risks run by anyone who calls within his magnetic radius either of these two groups, without possessing the necessary knowledge to protect, to control and to use. [21] Why have I dealt with this subject at all? Because these magic forms exist, and will be used and known when the student is ready, and the work requires it. [22] Some day the lesser forms will be gradually given out to those who have prepared themselves, and who unselfishly work for the helping of the race. [23] As I said earlier, these were known in Atlantean days. They led to dire results at that time, for they were used by those of unclean life, for selfish ends and evil purpose. They called [Page 182] the elemental hosts to perpetuate their vengeance on their enemies; they called the lesser devas, and utilized their powers to further their ambitions; [24] they sought not to co-operate with the law, but to wield that law for physical plane schemes which originated in their desires. [25] The ruling Hierarchy deemed the danger too great, for the evolution of men and devas was threatened, so They withdrew gradually from the human consciousness the knowledge of the formulas and Words until such a time as the reason was developed somewhat, [26] and the spiritual mind showed signs of awakening. [27] In this way the two great evolutions, and the latent third evolution (composed of involutionary lives) were separated and shut off from each other. [28] Temporarily the whole scale of vibration was slowed down for the original purpose had been a parallel development. The secret of this apparent setting back of the plans of the Logos lies hid in the remnants of active cosmic Evil that had found their way into manifestation,—a remnant of the first or activity solar system, and the basis of this, the love system. [29] Evil is but the sediment of unfinished karma and has its root in ignorance.

[20] Ở đây, Tôi đã bàn đến những rủi ro mà bất cứ ai triệu gọi một trong hai nhóm này vào phạm vi từ tính của mình đều gặp phải, nếu không có tri thức cần thiết để bảo vệ, kiểm soát và sử dụng. [21] Vì sao Tôi lại bàn đến chủ đề này? Vì những hình thức huyền thuật này có tồn tại, và người ta sẽ biết đến cũng như sử dụng chúng khi đạo sinh đã sẵn sàng và công việc đòi hỏi.§52] [22] Một ngày nào đó, các hình thức cấp thấp hơn sẽ dần được truyền cho những người đã chuẩn bị bản thân và làm việc vô tư để trợ giúp nhân loại. [23] Như Tôi đã nói trước đây, người ta từng biết đến chúng trong thời Atlantis. Khi ấy, chúng đã dẫn đến những hậu quả khủng khiếp, vì những người có đời sống bất tịnh đã sử dụng chúng vì những mục tiêu ích kỷ và mục đích xấu xa. Họ triệu gọi [Page 182] các đạo quân hành khí để tiếp tục trả thù kẻ địch; họ triệu gọi các thiên thần cấp thấp và sử dụng quyền năng của các thiên thần để thúc đẩy tham vọng của mình; [24] họ không tìm cách hợp tác với định luật, mà tìm cách vận dụng định luật ấy cho những mưu đồ trên cõi hồng trần bắt nguồn từ dục vọng của họ. [25] Thánh đoàn cai quản nhận thấy nguy hiểm quá lớn, vì sự tiến hoá của con người và thiên thần đang bị đe doạ; bởi vậy, Các Ngài dần rút tri thức về các công thức và Linh từ khỏi tâm thức nhân loại cho đến khi lý trí đã phát triển phần nào, [26] và trí tuệ tinh thần cho thấy những dấu hiệu thức tỉnh. [27] Bằng cách này, hai dòng tiến hoá vĩ đại và dòng tiến hoá thứ ba còn tiềm ẩn (gồm các sự sống giáng hạ tiến hoá) đã tách rời và ngăn cách với nhau. [28] Toàn bộ thang rung động tạm thời chậm lại, vì mục đích ban đầu là sự phát triển song song. Bí mật của sự trì hoãn có vẻ như đi ngược lại các kế hoạch của Thượng đế này ẩn trong những tàn dư của Ác vũ trụ đang hoạt động đã tìm được đường đi vào biểu hiện,—một tàn dư của hệ mặt trời thứ nhất, hay hệ hoạt động, và là nền tảng của hệ hiện nay, hệ tình thương. [29] Cái ác chỉ là phần cặn lắng của nghiệp quả chưa hoàn tất và bắt rễ trong vô minh.

[30] This separation on a threefold scale of the evolving and the involving lives has continued up to date. With the coming in of this seventh Ray of Ceremonial Magic, [31] a tentative approximation of the two evolving groups [32] is to be somewhat permitted, though not as yet with the involving group. Remember this statement. [33] The deva and human evolution will, during the next five hundred years, become somewhat more conscious of each other, and be able therefore more freely to co-operate. With this growing consciousness will be found a seeking after methods of communication. When the need of communication for constructive ends is sincerely felt, then, under the judicious guidance of the Masters, will certain of the old mantrams [Page 183] be permitted circulation. [34] Their action, interaction and reaction will be closely studied and watched. It is hoped that the benefit to both groups will be mutual. The human evolution should give strength to the deva, and the deva, joy to the human. [35] Man should communicate to the devas the objective point of view, while they in turn will pour in on him their healing magnetism. [36] They are the custodians of prana, magnetism and vitality, just as man is the custodian of the fifth principle, or manas. I have given several hints here and more is not possible.

[30] Sự phân cách tam phân này giữa các sự sống thăng thượng tiến hoá và các sự sống giáng hạ tiến hoá vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Với sự xuất hiện của Cung bảy Huyền Thuật Nghi Lễ này, [31] hai nhóm thăng thượng tiến hoá [32] sẽ được phép tiến lại gần nhau phần nào theo cách thăm dò, nhưng chưa được phép làm như vậy với nhóm giáng hạ tiến hoá. Hãy ghi nhớ lời khẳng định này. [33] Trong năm trăm năm tới, dòng tiến hoá thiên thần và dòng tiến hoá nhân loại sẽ phần nào có ý thức rõ hơn về nhau, và do đó có thể hợp tác tự do hơn. Cùng với tâm thức ngày càng phát triển này sẽ xuất hiện việc tìm kiếm các phương pháp giao tiếp. Khi nhu cầu giao tiếp vì những mục tiêu kiến tạo được cảm nhận một cách chân thành, thì dưới sự hướng dẫn sáng suốt của các Chân sư, một số mantram cổ [Page 183] sẽ được phép lưu truyền. [34] Tác động, sự tương tác và phản ứng của chúng sẽ được nghiên cứu và theo dõi chặt chẽ. Hy vọng cả hai nhóm sẽ mang lại lợi ích cho nhau. Dòng tiến hoá nhân loại nên đem lại sức mạnh cho thiên thần, và thiên thần nên đem lại sự hoan hỉ cho con người. [35] Con người nên truyền đạt cho các thiên thần quan điểm khách quan, trong khi các thiên thần sẽ đáp lại bằng cách tuôn vào y từ điện chữa lành của mình. [36] Các thiên thần là những vị gìn giữ prana, từ điện và sinh lực, cũng như con người là người gìn giữ nguyên khí thứ năm, hay manas. Ở đây, Tôi đã đưa ra một số gợi ý và không thể nói thêm.

[37] Tomorrow we will take up perhaps the most vitally interesting division on forms connected with fire. Today the matter imparted suffices.

[37] Ngày mai, chúng ta sẽ bàn đến phần có lẽ đáng quan tâm nhất và thiết yếu nhất về các hình thức liên quan đến lửa. Nội dung truyền đạt hôm nay như vậy là đủ.

Bình giảng Thư Về Tham thiền Huyền môn 40

Hello everybody, and good evening here from Finland. We are continuing with Program 40, and we've been studying the various types of mantras that exist. I hope that flickering of the image is not somehow foretelling disaster. Anyway, we've come to a section which we are calling—or the friend has called—“The comprehension of force.”

Xin chào tất cả các bạn, và xin chúc một buổi tối tốt lành từ Phần Lan. Chúng ta tiếp tục với Chương trình 40, và chúng ta đang nghiên cứu các loại mantram hiện có. Tôi hy vọng hình ảnh chập chờn này không phải là điềm báo tai họa nào đó. Dù sao, chúng ta đã đến một mục mà chúng ta gọi—hoặc người bạn đã gọi—là “Sự thấu hiểu mãnh lực”.

Now, every time you see these dots—it looks like two ellipses, six dots, sometimes three dots—something's missing, something that was not published, and we'll just have to live with that fact. The last thing we looked at was:

Mỗi khi các bạn thấy những dấu chấm này—trông như hai dấu chấm lửng, sáu chấm, đôi khi là ba chấm—thì có điều gì đó bị thiếu, một phần nội dung không được xuất bản, và chúng ta đành phải chấp nhận thực tế ấy. Nội dung cuối cùng chúng ta đã xem là:

c. Mantrams that influence groups, and others that influence specific devas.

c. Các mantram tác động đến những nhóm, và các mantram khác tác động đến những thiên thần cụ thể.

And he says:

Và Ngài nói:

I would like to point out here that as a rule devas are handled in groups and not as individuals until you contact devas of a very high order.

Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng, thông thường, người ta làm việc với các thiên thần theo nhóm chứ không phải với từng cá thể, cho đến khi các bạn tiếp xúc với những thiên thần thuộc cấp bậc rất cao.

And further here:

Và tiếp theo ở đây:

d. Mantrams that directly call the attention of one of the deva lords of a subplane, or the mighty Deva Lord of a plane. They are known to very few and are only used by those who have taken high initiation.

d. Các mantram trực tiếp thu hút sự chú ý của một trong các chúa tể thiên thần của một cõi phụ, hoặc của Chúa Tể Thiên Thần hùng mạnh của một cõi. Rất ít người biết đến các mantram này, và chỉ những người đã trải qua điểm đạo cấp cao mới sử dụng chúng.

I've made a couple of adjustments here, and we'll see. If it continues to flash, then I don't know. It looks like it is actually continuing to flash, but I will persist with this.

Tôi đã thực hiện một vài điều chỉnh ở đây, và chúng ta sẽ xem thế nào. Nếu hình ảnh tiếp tục nhấp nháy thì tôi không biết phải làm sao. Có vẻ như hình ảnh thực sự vẫn tiếp tục nhấp nháy, nhưng tôi sẽ kiên trì tiếp tục.

[1] AUGUST 17TH, 1920.

[1] NGÀY 17 THÁNG 8 NĂM 1920.

[1b] The comprehension of force.

[1b] Sự thấu hiểu mãnh lực.

[1c] I ceased early yesterday, Brother of Mine, owing to a slight fatigue on your part, due not so much to taking my dictation as to the fact that inner conditions everywhere yesterday, and even today, are not desirable.

[1c] Huynh đệ của Tôi, hôm qua Tôi đã dừng sớm vì huynh đệ hơi mệt, không hẳn do ghi lại lời Tôi đọc, mà vì hôm qua, và ngay cả hôm nay, các điều kiện bên trong ở khắp nơi đều không thuận lợi.

[1d]......The tension today is great,

[1d] Ngày nay, sự căng thẳng rất lớn,

August 17th, 1920, just a little more than a hundred years ago.

Ngày 17 tháng 8 năm 1920, chỉ hơn một trăm năm trước một chút.

[2] and the force pouring in on all the different centres is apt—unless duly regulated—to cause a feeling of fatigue, of tension, of excitement and of restlessness. The secret of regulation which lies in non-resistance is known to very few, and consequently the intensity of emotion, the violent reactions, and present widespread era of crime are the results, very largely, of force misused and misapplied.

[2] và mãnh lực đang tuôn vào tất cả các trung tâm khác nhau có thể—nếu không được điều tiết đúng mức—gây ra cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, kích động và bất an. Rất ít người biết bí quyết điều tiết nằm ở sự không chống cự; do đó, cảm xúc mãnh liệt, những phản ứng dữ dội và tình trạng tội phạm lan rộng hiện nay là những hệ quả, phần lớn, của việc sử dụng mãnh lực sai cách và áp dụng sai chỗ.

Well, we were entering at that time the Roaring Twenties, followed by a very high crime period of—I guess we called it at that time, and maybe still do—organized crime.

Vào thời điểm ấy, chúng ta đang bước vào những năm hai mươi sôi động, tiếp đó là một thời kỳ tội phạm gia tăng rất mạnh—tôi nghĩ lúc ấy chúng ta gọi đó là, và có lẽ đến nay vẫn gọi là—tội phạm có tổ chức.

[3] This can be seen demonstrating in all ranks of life, and only he who knows the secret of being naught but a channel, and who abides still within the secret place, can pass through the present crisis without undue shattering

[3] Có thể thấy điều này biểu hiện trong mọi tầng lớp của đời sống, và chỉ người nào biết bí quyết không là gì khác ngoài một kênh dẫn, đồng thời an trú tĩnh lặng trong chốn kín nhiệm, mới có thể vượt qua cuộc khủng hoảng hiện nay mà không chịu những chấn động và đau đớn quá mức.

Non-resistance, offering oneself as a channel, and hopefully able then to be a successful conduit focused in the soul, the secret place. DK is dealing here with a problem of overstimulation. And sometimes we tend to think, well, the more stimulation, the better. But of course, it can get out of hand entirely.

Không kháng cự, hiến mình làm một kênh dẫn, và hy vọng nhờ đó có thể trở thành một đường dẫn hữu hiệu, tập trung trong linh hồn, chốn kín nhiệm. Ở đây, Chân sư DK đang bàn đến vấn đề kích thích quá mức. Đôi khi chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng càng được kích thích nhiều càng tốt. Nhưng dĩ nhiên, điều đó có thể hoàn toàn vượt khỏi tầm kiểm soát.

[4] Stimulation—such as is at present abroad—leads to pain and consequent reaction and must be guarded against with as much care as its opposite, loss of vitality—guarded against, not in the sense of shutting oneself off from stimulating force but of receiving that force, passing it through one's being, and only absorbing as much of it as one can carry.

[4] Sự kích thích—như đang phổ biến hiện nay—dẫn đến đau đớn và phản ứng tiếp theo, nên cần đề phòng cẩn trọng không kém tình trạng đối lập của nó là sự suy giảm sinh lực—đề phòng không có nghĩa là tự ngăn cách mình với mãnh lực kích thích, mà là tiếp nhận mãnh lực ấy, để nó đi xuyên qua toàn bộ con người mình, và chỉ hấp thu lượng mà mình có thể chịu đựng.

And this, of course, calls for discretion, and for removing oneself from the overstimulating current when it is sensed that it is more than one can really handle. These problems still exist today, and will continue—will continue as long as people are entering the spiritual field, and as long as those who know nothing about the spiritual field are still somehow subject to these currents because of the general rise in stimulative effect. The residue…

Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi sự cân nhắc thận trọng, và phải rút mình khỏi dòng kích thích quá mức khi cảm thấy nó vượt quá khả năng thực sự của mình. Ngày nay, những vấn đề này vẫn tồn tại và sẽ tiếp tục—sẽ tiếp tục chừng nào con người còn bước vào lĩnh vực tinh thần, và chừng nào những người không biết gì về lĩnh vực tinh thần vẫn còn chịu tác động của các dòng này bằng cách nào đó, do tác dụng kích thích gia tăng nói chung. Phần dư…

only absorbing as much of it as one can carry.

chỉ hấp thu lượng mà mình có thể chịu đựng.

But how do we know when enough is enough? There are people that try to meditate five hours in a row—just using any sample—and what do they expect, besides a misappropriation of energy, unless they are very well trained? But if we only absorb, through discretion, as much as we can,

Nhưng làm sao chúng ta biết khi nào là đủ? Có những người cố gắng tham thiền liên tục năm giờ—chỉ lấy một ví dụ bất kỳ—và nếu chưa được rèn luyện thật kỹ, họ có thể mong đợi điều gì ngoài việc sử dụng năng lượng sai cách? Nhưng nếu nhờ cân nhắc thận trọng, chúng ta chỉ hấp thu lượng mình có thể chịu đựng,

[5] The residue will then pass out from one as a healing agency on its return to the general reservoir.

[5] Phần còn lại khi ấy sẽ thoát ra khỏi mình như một tác nhân chữa lành trên đường trở về nguồn dự trữ chung.

And that's interesting:

Và điều đó thật đáng chú ý:

The residue will then pass out from one as a healing agency

Khi ấy, phần dư sẽ thoát ra khỏi con người như một tác nhân chữa lành

And maybe there is a secret there about how to have the energy needed to conduct healing.

Có lẽ ở đó có một bí quyết về cách có được năng lượng cần thiết để thực hiện việc chữa lành.

[6] The true and occult significance of force in nature, of the electrical currents of the universe, and of the latent heat stored in all forms is little understood as yet by your exoteric scientists, or your would-be occult students. Subba Rao… approached the study of occultism from this angle, and therefore, he attained a profound knowledge of law.

[6] Cho đến nay, các nhà khoa học ngoại môn của các bạn, hay những người mong trở thành đạo sinh huyền bí học, vẫn ít thấu hiểu thâm nghĩa chân thực và huyền bí của mãnh lực trong tự nhiên, của các dòng điện [Page 180] trong vũ trụ, và của nhiệt tiềm ẩn tích trữ trong mọi hình tướng. Subba Rao... đã tiếp cận việc nghiên cứu huyền bí học từ góc độ này, và do đó, y đạt được tri thức sâu sắc về định luật.

So this is probably the name of someone, and we don't know who, and we don't know why that is eliminated. But electricity is involved here, and latent heat—the internal fires, latent heat being the non-etheric fire, and active heat the etheric fire. We are reading about that right now in A Treatise on Cosmic Fire, so here is a link between the two books. Latent heat warms and animates the spheroidal cells and the atoms:

Vậy đây có lẽ là tên của một người nào đó; chúng ta không biết là ai, cũng không biết tại sao tên ấy lại bị lược bỏ. Nhưng ở đây có đề cập đến điện và nhiệt tiềm ẩn—các ngọn lửa bên trong, trong đó nhiệt tiềm ẩn là lửa phi dĩ thái, còn nhiệt hoạt động là lửa dĩ thái. Chúng ta đang đọc về điều đó trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nên đây là một mối liên hệ giữa hai cuốn sách. Nhiệt tiềm ẩn sưởi ấm và tiếp sức sống cho các tế bào dạng cầu và các nguyên tử:

the latent heat stored in all forms

nhiệt tiềm ẩn tích trữ trong mọi hình tướng

And of course the form will not live unless the latent heat is there. It will, as they say, just freeze to death. It will no longer have viable cellular structure.

Dĩ nhiên, hình tướng sẽ không sống được nếu không có nhiệt tiềm ẩn. Như người ta nói, nó sẽ chết cóng. Nó sẽ không còn cấu trúc tế bào có khả năng duy trì sự sống.

[7] I have touched on this matter as it lies back of all instruction along occult lines.

[7] Tôi đã đề cập đến vấn đề này vì nó là nền tảng của mọi huấn thị theo đường hướng huyền bí.

—to what, should we call it? To guard from overstimulation, and to pass off excess of energy.

—để làm gì, chúng ta nên gọi là gì? Để đề phòng sự kích thích quá mức và giải phóng năng lượng dư thừa.

[8] If you can grasp somewhat its meaning, and understand how the law is but the adaptation of the form to some one or other of these great streams of force, you will illuminate your whole life and be carried on those streams of force, those magnetic currents, that vital fluid, those electrical rays (no matter what the terms used) right to the heart of the unknown.

[8] Nếu các bạn có thể nắm bắt phần nào ý nghĩa của nó, và thấu hiểu rằng định luật chỉ là sự thích nghi của hình tướng với dòng này hay dòng khác trong những dòng mãnh lực vĩ đại ấy, các bạn sẽ soi sáng toàn bộ đời sống mình và được những dòng mãnh lực ấy, những dòng từ tính ấy, lưu chất sinh lực ấy, những tia điện ấy (bất kể dùng thuật ngữ nào) đưa thẳng vào tâm điểm của điều chưa biết.

So this is a scientific method of approaching a much higher point of tension. Yes—overstimulation, and wisdom in the accessing of energies, and avoiding the false thought, to use an old expression, that Rome can be built in a day. It cannot, and it will take a number of lives to build up esoteric capacity in the would-be esotericist who is just beginning as a student.

Vậy đây là một phương pháp khoa học để tiếp cận một điểm tập trung nhất tâm cao hơn nhiều. Đúng vậy—sự kích thích quá mức, cùng với minh triết trong việc tiếp cận các năng lượng, và việc tránh ý nghĩ sai lầm rằng, theo một cách nói xưa, thành La Mã có thể được xây dựng trong một ngày. Không thể như vậy, và phải trải qua một số kiếp sống mới xây dựng được năng lực huyền bí nơi người mong muốn trở thành nhà bí truyền học nhưng mới chỉ bắt đầu làm một đạo sinh.

[9] This same idea of force and of the magnetic currents of the solar system governs all I have imparted on meditation in all its branches—specific, individual and collective, based on form or formless; it is the medium through which the mantrams work, from those that touch the elemental lives up to the great Words chanted in rhythm that call the Lord of a Ray, the Deva of a Plane, or the Lord of a Solar System Himself.

[9] Chính ý tưởng này về mãnh lực và các dòng từ tính của hệ mặt trời chi phối tất cả những gì Tôi đã truyền đạt về tham thiền trong mọi nhánh của nó—chuyên biệt, cá nhân và tập thể, dựa trên hình tướng hay vô hình tướng; đó là phương tiện để các mantram phát huy tác dụng, từ những mantram tác động đến các sự sống hành khí cho đến những Linh từ vĩ đại được xướng theo nhịp điệu để triệu gọi Chúa Tể của một Cung, Thiên Thần của một Cõi, hay chính Chúa Tể của một Hệ Mặt Trời.

They call—so we have a hint there that mantrams are, in one sense, invocations. Force, magnetic currents, governing everything that has been said about mantrams in all of its branches, all the way from calling up the humble and blinded lives that are elemental in nature, all the way through to the Lord of a Solar System. Obviously, somewhere along the line, humanity's access to such mantrams has to stop until they are better equipped to handle the possibilities.

Chúng triệu thỉnh—vậy ở đây chúng ta có một gợi ý rằng, theo một nghĩa nào đó, các mantram là những lời khẩn cầu. Mãnh lực, các dòng từ tính, chi phối mọi điều đã nói về mantram trong tất cả các nhánh của nó, từ việc triệu thỉnh những sự sống thấp bé và mù mờ có bản chất hành khí, cho đến Đấng Chúa Tể của một Hệ Mặt Trời. Hiển nhiên, ở một điểm nào đó trên tiến trình này, khả năng tiếp cận những mantram như vậy của nhân loại phải dừng lại, cho đến khi họ được trang bị tốt hơn để xử lý những khả năng ấy.

[10] The sounding of these Words, the ascent through graded forms

[10] Việc xướng những Linh từ này, việc đi lên qua những hình tướng phân cấp

—which is in the custody of the Hierarchy—

—vốn do Thánh đoàn gìn giữ—

the ascent through graded forms

sự thăng tiến qua các hình tướng được phân cấp

[11] to some specific point,

[11] đến một điểm cụ thể nào đó,

and, let's just say, not beyond,

và không vượt quá điểm ấy,

[12] and the chanting of mantrams but put the one who is thus working into the line of some one stream of force. It is the finding of the line of least resistance whereby to reach some goal, to communicate with some individual Intelligence,

[12] và việc xướng các mantram chỉ đưa người đang thực hành như thế vào đường dẫn của một dòng mãnh lực nào đó. Đó là việc tìm ra con đường ít trở ngại nhất để đạt đến một mục tiêu nào đó, giao tiếp với một Đấng Thông Tuệ riêng biệt nào đó,

—I imagine there are mantrams that call the Master—

—tôi hình dung rằng có những mantram triệu thỉnh Chân sư—

[13] to control some involutionary life, and to contact and co-operate with some group of devas.

[13] kiểm soát một sự sống giáng hạ tiến hoá nào đó, và tiếp xúc cũng như hợp tác với một nhóm thiên thần nào đó.

So thus, as we can imagine, there are very closely guarded secrets in this system of hermeticism. We know about the idea of hermetic sealing—S-E-A-L-I-N-G—and the separation of one unit of knowledge from a still higher. Naturally, this is necessary where such power can be released by being put into the line of some stream of force. Of course, when we're ready to handle it—pure enough, purposeful enough, strong enough—these mantrams will be given to us according to the nature of the purpose which we are to pursue. So much patience is required on this path of occultism. There is no rush, no hurry, and yet there is no time to lose. We can always go back to the Rules of the Road for very wise advice, which, if followed, will lead the man—man or woman, I mean; lead the individual—to a higher point of greater consciousness and greater energetic capacity.

Như vậy, như chúng ta có thể hình dung, trong hệ thống huyền học kín truyền này có những bí mật được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Chúng ta biết ý tưởng về việc niêm kín—nghĩa là đóng kín hoàn toàn—và sự tách biệt một đơn vị tri thức với một đơn vị còn cao hơn. Đương nhiên, điều này là cần thiết khi một quyền năng như thế có thể được giải phóng bằng cách đưa vào đường dẫn của một dòng mãnh lực nào đó. Dĩ nhiên, khi chúng ta sẵn sàng vận dụng quyền năng ấy—đủ thanh khiết, đủ kiên định với mục đích, đủ mạnh mẽ—chúng ta sẽ được trao những mantram này tùy theo bản chất của mục đích mà chúng ta phải theo đuổi. Con đường huyền bí học này đòi hỏi rất nhiều kiên nhẫn. Không hấp tấp, không vội vàng, nhưng cũng không có thời gian để lãng phí. Chúng ta luôn có thể trở lại với Các Quy Luật của Đường Đạo để tìm những lời khuyên rất minh triết; nếu làm theo, những lời khuyên ấy sẽ dẫn con người—ý tôi là người nam hoặc người nữ; dẫn mỗi cá nhân—đến một điểm cao hơn, với tâm thức rộng lớn hơn và năng lực vận dụng năng lượng lớn hơn.

So he's given something he calls a digression:

Vậy Ngài đã trình bày một điều mà Ngài gọi là phần bàn ngoài đề:

[14] The above digression may serve somewhat to sum up what I have lately imparted anent forms, mantric or otherwise, as used by the student of occult meditation.

[14] Phần bàn rộng trên đây có thể phần nào tổng kết những gì gần đây Tôi đã truyền đạt về các hình thức, dưới dạng mantram hay dạng khác, mà đạo sinh tham thiền huyền môn sử dụng.

Did you ever think—well, maybe you did—that there would be such detail, such specificity in this study? And all of this in an early book—maybe published somewhat later, but collected letters, which the Tibetan gave Alice Bailey permission to publish. Of course, that's what they were for anyway, one would think. And sometimes we say, “Oh well, one of the early books, Letters on Occult Meditation; I think I'll jump into Cosmic Fire.” But this book offers an amazing and detailed foundation for our pursuit of one of the most important of the methods, and that is meditation—meditation, study, service. So let's read with respect and appreciation.

Các bạn có từng nghĩ—có lẽ các bạn đã nghĩ rồi—rằng việc nghiên cứu này lại có những chi tiết và sự cụ thể đến như vậy không? Và tất cả những điều này nằm trong một cuốn sách thời kỳ đầu—có lẽ xuất bản hơi muộn hơn, nhưng là tập hợp những bức thư mà Chân sư Tây Tạng đã cho phép Alice Bailey công bố. Dĩ nhiên, người ta có thể nghĩ rằng dù sao đó cũng chính là mục đích của những bức thư ấy. Đôi khi chúng ta nói: “Ồ, một trong những cuốn sách thời kỳ đầu, Thư Về Tham thiền Huyền môn; tôi nghĩ mình sẽ chuyển ngay sang Lửa Vũ Trụ.” Nhưng cuốn sách này cung cấp một nền tảng đáng kinh ngạc và chi tiết cho việc theo đuổi một trong những phương pháp quan trọng nhất, đó là tham thiền—tham thiền, nghiên cứu, phụng sự. Vì vậy, chúng ta hãy đọc với lòng kính trọng và trân quý.

[15] As may be imagined, the calling of either the devas or the elementals can only be safely undertaken by one who has the power to utilise them wisely when called,

[15] Như có thể hình dung, chỉ người có khả năng sử dụng các thiên thần hoặc hành khí một cách minh triết khi triệu gọi chúng mới có thể thực hiện việc triệu gọi một cách an toàn, [Page 181]

Otherwise, one may become their plaything—apparently not a very pretty sight.

Nếu không, người ấy có thể trở thành món đồ chơi của họ—hiển nhiên chẳng phải một cảnh tượng tốt đẹp gì.

[16] hence the mantrams we have enumerated above are only put into the hands of those who are on the side of the constructive forces of the system, or who can constructively control the destructive elements, bending them into line with the disintegrating forces that are themselves part of the great constructive scheme.

[16] do đó, các mantram mà chúng ta đã liệt kê ở trên chỉ được trao cho những người đứng về phía các mãnh lực kiến tạo của hệ, hoặc những người có thể kiểm soát các yếu tố huỷ diệt theo hướng kiến tạo, đưa chúng vào cùng đường hướng với các mãnh lực phân rã vốn cũng là một phần của hệ thống kiến tạo vĩ đại.

Now, so many cautionary notes are sounded. So many caveats are put forth. And maybe we had best notice and listen in our progress forward, and not fall into experimentation with and tampering—that's the word he uses, tampering—with the fires.

Ở đây có biết bao lời cảnh báo được đưa ra. Biết bao điều cần dè chừng được nêu lên. Có lẽ tốt nhất chúng ta nên chú ý và lắng nghe trong quá trình tiến bước, chứ đừng sa vào việc thử nghiệm và can thiệp tùy tiện—đó là từ Ngài dùng, can thiệp tùy tiện—vào các ngọn lửa.

[17] Should anyone—not thus capable—be able to contact the devas, and, through the use of mantrams gather them to him, he would find that the force they carry would descend on him as a destructive one, and serious consequences might result in one or other of his bodies.

[17] Nếu một người—không có khả năng như thế—có thể tiếp xúc với các thiên thần và dùng mantram để tập hợp các thiên thần về với mình, y sẽ thấy rằng mãnh lực mà các thiên thần mang theo giáng xuống y như một mãnh lực huỷ diệt, và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở một trong các thể của y.

And in White Magic it tells us even death. I sort of like to quote from films, and even though maybe I haven't seen so many—I'm not really a film buff—every once in a while a good one comes up. Some time ago there was the film Raiders of the Lost Ark, which told the story of the adventures of—what is he?—kind of an archaeologist, and scientist, and historian, Indiana Jones. And basically the Nazis are going after the Lost Ark, which apparently has tremendous power. And at the end, where some kind of French collaborator who has that kind of knowledge is reciting old Jewish prayers with the ark open before them, the devas come out in beautiful form at first, but turn demonic and devour everybody—except, of course, the heroes. But it's a good example of how one can destroy oneself with wrong motive and with precocious contact with these forces that are beyond one's control.

Và trong Chánh Thuật, Ngài cho chúng ta biết rằng hậu quả thậm chí có thể là cái chết. Tôi khá thích trích dẫn từ phim ảnh, và dù có lẽ tôi chưa xem nhiều phim lắm—tôi không thực sự là người mê điện ảnh—thỉnh thoảng vẫn có một bộ phim hay xuất hiện. Cách đây một thời gian có bộ phim Những Kẻ Cướp Chiếc Hòm Thất Lạc, kể về những cuộc phiêu lưu của—ông ấy là gì nhỉ?—một người vừa là nhà khảo cổ, vừa là nhà khoa học và nhà sử học, Indiana Jones. Về cơ bản, quân Đức Quốc xã đang truy tìm Chiếc Hòm Thất Lạc, dường như có quyền năng vô cùng lớn. Và ở cuối phim, khi một kẻ cộng tác người Pháp có kiến thức về những điều ấy đang đọc những lời cầu nguyện Do Thái cổ, với chiếc hòm mở ra trước mặt họ, các thiên thần xuất hiện, ban đầu trong hình tướng đẹp đẽ, nhưng rồi trở nên quỷ quái và nuốt chửng tất cả mọi người—dĩ nhiên, ngoại trừ các nhân vật anh hùng. Nhưng đó là một ví dụ hay về cách người ta có thể tự hủy diệt mình vì động cơ sai trái và vì tiếp xúc quá sớm với những mãnh lực vượt ngoài khả năng kiểm soát của mình.

So, serious damage, basically. He's warning us, and over and over again he's warning us. So we can get to the point where we say, “Oh yes, yes, there's the Tibetan warning us again.” But there may come a moment, a time when temptation is put in our way, and we realize there may be an opportunity to invoke what we shouldn't be invoking without still more training. And maybe his words will come to us and somehow warn us against that approach, and maybe save the incarnation, and all of the rebuilding that would have to be done in future incarnations if there is rampant etheric destruction.

Vậy về cơ bản, đó là sự tổn hại nghiêm trọng. Ngài đang cảnh báo chúng ta, hết lần này đến lần khác. Vì vậy, có thể đến lúc chúng ta nói: “Ồ, vâng, vâng, Chân sư Tây Tạng lại cảnh báo chúng ta nữa rồi.” Nhưng có thể sẽ đến một khoảnh khắc, một thời điểm khi cám dỗ xuất hiện trên đường đi, và chúng ta nhận ra rằng mình có cơ hội khẩn cầu những gì lẽ ra không nên khẩn cầu khi chưa được rèn luyện thêm. Có lẽ những lời của Ngài sẽ trở lại với chúng ta, bằng cách nào đó cảnh báo chúng ta tránh cách tiếp cận ấy, và có lẽ cứu vãn kiếp nhập thể này, đồng thời giúp tránh toàn bộ việc tái thiết mà chúng ta sẽ phải thực hiện trong những kiếp nhập thể tương lai nếu xảy ra sự hủy hoại dĩ thái trên diện rộng.

So,

Vì vậy,

[18] Think this out, therefore, remembering that those dangers would lie along the line of over-stimulation, of sudden shattering, and of disintegration through fire or heat. Should he gather involutionary lives around him the dangers would be different or rather would demonstrate in the opposite effect,—such as loss of vitality due to vampirism, a sucking out of the forces of one or another of his bodies, an abnormal building in of material into some one body (due to the action of such involutionary lives as the physical or desire elementals), and death through water,

[18] Vì vậy, hãy suy ngẫm kỹ điều này, nhớ rằng những nguy hiểm ấy sẽ thuộc về sự kích thích quá mức, sự tan vỡ đột ngột, và sự phân rã do lửa hoặc nhiệt. Nếu y tập hợp quanh mình các sự sống giáng hạ tiến hoá, những nguy hiểm sẽ khác đi, hay đúng hơn, sẽ biểu hiện thành tác động đối lập,—chẳng hạn như suy giảm sinh lực do sự hút sinh lực, mãnh lực của một trong các thể của y bị hút cạn, vật chất tích tụ bất thường trong một thể nào đó của y (do hoạt động của những sự sống giáng hạ tiến hoá như các hành khí hồng trần hoặc dục vọng), và cái chết do nước,

maybe drowning,

có lẽ là chết đuối,

[19] earth or fire, understood in an occult sense.

[19] đất hoặc lửa, hiểu theo nghĩa huyền bí.

There is not yet demonstrated death by air, he tells us elsewhere. So here are the likely consequences of premature, unwarranted contact with certain devic factors. But should he gather the involutionary lives: vampirism, and a kind of suffocation, devitalization—all equally unpleasant. We have been warned. We have been warned.

Ở một nơi khác, Ngài cho chúng ta biết rằng cái chết do khí chưa biểu hiện. Vậy đây là những hậu quả có thể xảy ra khi tiếp xúc quá sớm, không chính đáng, với một số yếu tố thiên thần. Nhưng nếu y quy tụ các sự sống giáng hạ tiến hoá thì sẽ có sự hút sinh lực, một dạng ngạt thở, sự suy kiệt sinh lực—tất cả đều khó chịu như nhau. Chúng ta đã được cảnh báo. Chúng ta đã được cảnh báo.

Well, we're just awakening to the possibilities. The Age of Aquarius will see a lot of occult training through the new esoteric schools, and through Masonry, and through certain secret aspects of the church—the three great organisms: the Masonic organism, the church organism, and the banded esoteric organisms, as he calls them—having to do with esoteric education. Opportunity will come, and temptation will come. There will be magicians of the strictly mental type, who may misuse for selfish purposes the forces they manage to connect with, and there will be white magicians, who bring in the power of the soul. And obviously we want to be on the side of the white magicians.

Chúng ta mới chỉ đang thức tỉnh trước những khả năng ấy. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến nhiều hoạt động rèn luyện huyền bí qua các trường nội môn mới, qua Hội Tam Điểm và qua một số phương diện bí mật của giáo hội—ba cơ cấu lớn: cơ cấu Hội Tam Điểm, cơ cấu giáo hội và các cơ cấu nội môn liên kết với nhau, như Ngài gọi—liên quan đến giáo dục nội môn. Cơ hội sẽ đến, và cám dỗ cũng sẽ đến. Sẽ có những nhà huyền thuật thuần túy thuộc loại trí tuệ, có thể lạm dụng những mãnh lực mà họ kết nối được vì mục đích ích kỷ; và sẽ có những nhà huyền thuật chánh đạo, những người đưa quyền năng của linh hồn vào. Hiển nhiên, chúng ta muốn đứng về phía các nhà huyền thuật chánh đạo.

[20] I have dealt here with the risks run by anyone who calls within his magnetic radius either of these two groups, without possessing the necessary knowledge to protect, to control and to use.

[20] Ở đây, Tôi đã bàn đến những rủi ro mà bất cứ ai triệu gọi một trong hai nhóm này vào phạm vi từ tính của mình đều gặp phải, nếu không có tri thức cần thiết để bảo vệ, kiểm soát và sử dụng.

It's not just for the idly curious. That would be to court disaster. One must maintain control at all times. Hence the magical circles, and the sealed pentagrams, and all those kinds of instruments or designs or forms, which used to be persecuted so extensively in medieval times, and even later, because certain among the persecutors realized their power and wanted to make sure that no power was exerted over them, and that the people were not attracted away from the dogma that they were presenting—which dogma made the priest of paramount importance and the control of the church as absolute as possible.

Điều này không dành cho những người chỉ tò mò vu vơ. Làm như vậy là tự chuốc lấy tai họa. Người ta phải luôn duy trì sự kiểm soát. Vì thế mới có những vòng tròn huyền thuật, những ngôi sao năm cánh được niêm kín và tất cả những loại công cụ, đồ hình hay hình tướng ấy, vốn từng là đối tượng của sự bức hại rất rộng khắp trong thời trung cổ, thậm chí cả về sau, bởi một số kẻ bức hại nhận ra quyền năng của chúng và muốn bảo đảm rằng không quyền năng nào có thể tác động lên họ, cũng như dân chúng không bị thu hút rời xa giáo điều mà họ đang truyền bá—thứ giáo điều khiến vị tu sĩ có tầm quan trọng tối cao và sự kiểm soát của giáo hội trở nên tuyệt đối hết mức có thể.

[21] Why have I dealt with this subject at all? Because these magic forms exist, and will be used and known when the student is ready, and the work requires it.

[21] Vì sao Tôi lại bàn đến chủ đề này? Vì những hình thức huyền thuật này có tồn tại, và người ta sẽ biết đến cũng như sử dụng chúng khi đạo sinh đã sẵn sàng và công việc đòi hỏi.§52]

Note: when the work requires it. Ready—when the student is ready, and the work requires it.

Hãy lưu ý: khi công việc đòi hỏi. Sẵn sàng—khi đạo sinh đã sẵn sàng và khi công việc đòi hỏi.

[22] Some day the lesser forms will be gradually given out to those who have prepared themselves, and who unselfishly work for the helping of the race.

[22] Một ngày nào đó, các hình thức cấp thấp hơn sẽ dần được truyền cho những người đã chuẩn bị bản thân và làm việc vô tư để trợ giúp nhân loại.

It's all under very tight control, and hence in the Mysteries it is forbidden to speak of that which has been seen and has been understood. And in the really serious Mysteries—S-E-R-I-O-U-S—even the penalty is death for revelation to the unready, to those who have not been initiated.

Tất cả đều chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ, và vì vậy, trong các Bí Pháp, người ta bị cấm nói về những gì đã thấy và đã thấu hiểu. Và trong các Bí Pháp thực sự nghiêm túc—tôi nhấn mạnh: nghiêm túc—hình phạt thậm chí là cái chết nếu tiết lộ cho những người chưa sẵn sàng, những người chưa được điểm đạo.

[23] As I said earlier, these were known in Atlantean days. They led to dire results at that time, for they were used by those of unclean life, for selfish ends and evil purpose. They called the elemental hosts to perpetuate their vengeance on their enemies; they called the lesser devas, and utilised their powers to further their ambitions;

[23] Như Tôi đã nói trước đây, người ta từng biết đến chúng trong thời Atlantis. Khi ấy, chúng đã dẫn đến những hậu quả khủng khiếp, vì những người có đời sống bất tịnh đã sử dụng chúng vì những mục tiêu ích kỷ và mục đích xấu xa. Họ triệu gọi [Page 182] các đạo quân hành khí để tiếp tục trả thù kẻ địch; họ triệu gọi các thiên thần cấp thấp và sử dụng quyền năng của các thiên thần để thúc đẩy tham vọng của mình;

It reminds one of Aladdin and his lamp, and the genie of Aladdin.

Điều này khiến người ta nhớ đến Aladdin, cây đèn của chàng và vị thần đèn của Aladdin.

[24] they sought not to co-operate with the law, but to wield that law for physical plane schemes which originated in their desires.

[24] họ không tìm cách hợp tác với định luật, mà tìm cách vận dụng định luật ấy cho những mưu đồ trên cõi hồng trần bắt nguồn từ dục vọng của họ.

which were rampant.

những dục vọng đang hoành hành.

[25] The ruling Hierarchy deemed the danger too great, for the evolution of men and devas was threatened, so They withdrew gradually from the human consciousness the knowledge of the formulas and Words until such a time as the reason was developed somewhat,

[25] Thánh đoàn cai quản nhận thấy nguy hiểm quá lớn, vì sự tiến hoá của con người và thiên thần đang bị đe doạ; bởi vậy, Các Ngài dần rút tri thức về các công thức và Linh từ khỏi tâm thức nhân loại cho đến khi lý trí đã phát triển phần nào,

because desire was much longer than reason,

vì dục vọng đã tồn tại lâu hơn lý trí rất nhiều,

[26] and the spiritual mind showed signs of awakening.

[26] và trí tuệ tinh thần cho thấy những dấu hiệu thức tỉnh.

Well, a repeat of that is not allowed, and we can see why. And probably the great Atlantean war resulted from much of this selfish misuse, and the judgment by Hierarchy that it had to be put to an end. There are sections of The Secret Doctrine which talk quite amazingly about how at least one of those wars was won using occult powers—this time a kind of hypnotic sleep which the forces of light threw over the giant sorcerers. Well, it seems like a bad comic book to some people, but apparently all this really did take place, and is well lodged in the ancient memory of just about everybody, because we were all there. Well, not all; some came in in Aryan times, but the great majority of human beings were very much present in the Atlantean civilization.

Không được phép để điều đó lặp lại, và chúng ta có thể thấy vì sao. Có lẽ cuộc chiến Atlantis vĩ đại bắt nguồn phần lớn từ sự lạm dụng ích kỷ này, cùng với phán quyết của Thánh đoàn rằng phải chấm dứt tình trạng ấy. Có những phần trong Giáo Lý Bí Nhiệm kể lại một cách hết sức đáng kinh ngạc rằng ít nhất một trong những cuộc chiến ấy đã giành được thắng lợi nhờ sử dụng các quyền năng huyền bí—lần này là một dạng giấc ngủ thôi miên mà các mãnh lực ánh sáng phủ lên những phù thủy khổng lồ. Với một số người, chuyện này nghe giống một cuốn truyện tranh dở, nhưng dường như tất cả những điều ấy thực sự đã diễn ra và in sâu trong ký ức xa xưa của hầu như mọi người, vì tất cả chúng ta đều đã có mặt ở đó. Không phải tất cả; một số người đến vào thời kỳ Arya, nhưng đại đa số nhân loại thực sự đã hiện diện trong nền văn minh Atlantis.

And how do you withdraw this knowledge? Well, you just don't reignite it. So they withdrew the knowledge of the formulas and Words—and we might say, possibly, how? Through neglect, and refusal to perpetuate that knowledge through rites and rituals. But still some initiates possessed it; they were trained.

Và làm thế nào để thu hồi tri thức này? Chỉ cần không khơi dậy nó nữa. Vì vậy, Các Ngài đã thu hồi tri thức về các công thức và các Linh từ—và có lẽ chúng ta có thể hỏi: bằng cách nào? Bằng cách không tiếp tục duy trì, và từ chối lưu truyền tri thức ấy qua các nghi thức và nghi lễ. Tuy vậy, một số điểm đạo đồ vẫn sở hữu tri thức ấy; họ đã được huấn luyện.

[27] In this way the two great evolutions, and the latent third evolution (composed of involutionary lives) were separated and shut off from each other.

[27] Bằng cách này, hai dòng tiến hoá vĩ đại và dòng tiến hoá thứ ba còn tiềm ẩn (gồm các sự sống giáng hạ tiến hoá) đã tách rời và ngăn cách với nhau.

—because it was just too much mixing and too many dangerous misuses of the combined force: men utilizing the devas, utilizing the elementals, and doing so from selfish motive.

—vì đã có quá nhiều sự pha trộn và quá nhiều sự lạm dụng nguy hiểm mãnh lực kết hợp ấy: con người sử dụng các thiên thần, sử dụng các hành khí, và làm như vậy vì động cơ ích kỷ.

[28] Temporarily the whole scale of vibration was slowed down for the original purpose had been a parallel development. The secret of this apparent setting back of the plans of the Logos lies hid in the remnants of active cosmic Evil that had found their way into manifestation,—a remnant of the first or activity solar system, and the basis of this, the love system.

[28] Toàn bộ thang rung động tạm thời chậm lại, vì mục đích ban đầu là sự phát triển song song. Bí mật của sự trì hoãn có vẻ như đi ngược lại các kế hoạch của Thượng đế này ẩn trong những tàn dư của Ác vũ trụ đang hoạt động đã tìm được đường đi vào biểu hiện,—một tàn dư của hệ mặt trời thứ nhất, hay hệ hoạt động, và là nền tảng của hệ hiện nay, hệ tình thương.

So sometimes, when things are careening out of control—you're driving a race car, you can't make the turns—well, you have to slow down. And this allowed, it seems to me, for a rebalancing of the situation, which has taken millions of years to achieve. And now again we are at the point when the result of this retardation can be assessed, and a re-approach between the two major kingdoms, human and deva, can be attempted again. And the elementals too can be wisely utilized.

Vì vậy, đôi khi, khi mọi việc lao đi mất kiểm soát—bạn đang lái một chiếc xe đua mà không thể vào cua—thì bạn phải giảm tốc. Theo tôi, điều này đã cho phép tình thế lấy lại cân bằng, một việc phải mất hàng triệu năm mới đạt được. Và giờ đây, một lần nữa chúng ta đã đến thời điểm có thể đánh giá kết quả của sự chậm lại này, và có thể thử nối lại sự tiếp cận giữa hai giới chính, nhân loại và thiên thần. Các hành khí cũng có thể được sử dụng một cách minh triết.

This is all about occultism. And I always call it spiritual occultism, because the other word has developed such an unwarrantedly spooky connotation, and people are turned off immediately by the word. But the word spiritual helps to redeem an understanding of this science of the hidden causes of things. Now, DK said the modern progressive scientist making his way into the etheric realms is really the true occultist, and not necessarily the mystically inclined students that tend to read about the Ageless Wisdom.

Tất cả những điều này đều thuộc huyền bí học. Và tôi luôn gọi đó là huyền bí học tinh thần, vì riêng từ huyền bí học đã mang một sắc thái ma quái không có cơ sở, khiến người ta lập tức quay lưng khi nghe thấy. Nhưng từ tinh thần giúp khôi phục sự thấu hiểu về môn khoa học nghiên cứu những nguyên nhân ẩn giấu của vạn vật này. Chân sư DK nói rằng nhà khoa học hiện đại có tư tưởng tiến bộ, đang tiến vào các cảnh giới dĩ thái, mới thực sự là nhà huyền bí học, chứ không nhất thiết là những đạo sinh thiên về thần bí thường đọc về Minh Triết Ngàn Đời.

Notice he says the apparent setting back of the plans of the Logos—and maybe, well, probably in this case the Solar Logos. Usually when the word Logos is used without specifying with the adjective planetary, he does mean the Solar Logos.

Hãy lưu ý rằng Ngài nói sự trì hoãn có vẻ như đã xảy ra đối với các kế hoạch của Thượng đế—và có lẽ, rất có thể trong trường hợp này, đó là Thái dương Thượng đế. Thông thường, khi dùng từ Thượng đế mà không xác định bằng tính từ hành tinh, Ngài thực sự muốn nói đến Thái dương Thượng đế.

[30] This separation on a threefold scale of the evolving and the involving lives has continued up to date. With the coming in of this seventh Ray of Ceremonial Magic,

[30] Sự phân cách tam phân này giữa các sự sống thăng thượng tiến hoá và các sự sống giáng hạ tiến hoá vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Với sự xuất hiện của Cung bảy Huyền Thuật Nghi Lễ này,

ever since, in its latest cycle, since 1675,

kể từ khi chu kỳ mới nhất của cung này bắt đầu, tức từ năm 1675,

[31] a tentative approximation of the two evolving groups

[31] hai nhóm thăng thượng tiến hoá

—especially devas and men, as elementals are not; they are involving rather than evolving—

—đặc biệt là thiên thần và con người, vì các hành khí không thuộc dòng này; chúng giáng hạ tiến hoá chứ không thăng thượng tiến hoá—

a tentative approximation of the two evolving groups

một sự tiếp cận mang tính thăm dò giữa hai nhóm thăng thượng tiến hoá

[32] is to be somewhat permitted, though not as yet with the involving group. Remember this statement.

[32] sẽ được phép tiến lại gần nhau phần nào theo cách thăm dò, nhưng chưa được phép làm như vậy với nhóm giáng hạ tiến hoá. Hãy ghi nhớ lời khẳng định này.

I guess the danger of the release of elemental forces is death by earth, water, or fire. And whatever death by air may mean, it's not such a threat at this time, and not even defined for our purposes. Interesting.

Tôi nghĩ nguy cơ của việc giải phóng các mãnh lực hành khí là cái chết do đất, nước hoặc lửa. Còn cái chết do khí có thể hàm ý điều gì thì vào lúc này, đó không phải là một mối đe dọa đáng kể, và thậm chí cũng chưa được xác định trong phạm vi chúng ta đang bàn. Thật thú vị.

[29] Evil is but the sediment of unfinished karma and has its root in ignorance.

[29] Cái ác chỉ là phần cặn lắng của nghiệp quả chưa hoàn tất và bắt rễ trong vô minh.

Some have called it more simply the unfinished business of the past. And I guess we all have these sediments within our aura, maybe at the bottom of the aura, because that's where sediments tend to go; they settle. And things have to be stirred up in order for a karmic reckoning to take place, and a resolution of those sediments into a kind of clarity—a banishing, a taking apart of, a dissolving (maybe that's a better word)—dissolving of the sediments. So when Saturn and Pluto both bring up these unresolved issues, the wisest thing to do is not to let them settle down again to the bottom of the aura—or, as we would say, sweep them under the rug—but to deal with them as directly as possible, and in a timely manner.

Một số người gọi đơn giản hơn đó là những việc còn dang dở của quá khứ. Và tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có những cặn lắng này trong hào quang, có lẽ ở đáy hào quang, vì đó là nơi cặn thường dồn về; chúng lắng xuống. Mọi thứ phải được khuấy lên để diễn ra sự thanh toán nghiệp quả, và để những cặn lắng ấy được xử lý, đem lại một dạng trong sáng—một sự xua đuổi, một sự tháo rời, một sự hòa tan (có lẽ đó là từ thích hợp hơn)—sự hòa tan các cặn lắng. Vì vậy, khi cả Sao Thổ và Sao Diêm Vương khơi lên những vấn đề chưa được giải quyết này, điều minh triết nhất là không để chúng lại lắng xuống đáy hào quang—hay như chúng ta thường nói, quét chúng xuống dưới tấm thảm—mà xử lý chúng một cách trực tiếp nhất có thể và kịp thời.

[33] The deva and human evolution will, during the next five hundred years, become somewhat more conscious of each other, and be able therefore more freely to co-operate. With this growing consciousness will be found a seeking after methods of communication. When the need of communication for constructive ends is sincerely felt, then, under the judicious guidance of the Masters, will certain of the old mantrams be permitted circulation.

[33] Trong năm trăm năm tới, dòng tiến hoá thiên thần và dòng tiến hoá nhân loại sẽ phần nào có ý thức rõ hơn về nhau, và do đó có thể hợp tác tự do hơn. Cùng với tâm thức ngày càng phát triển này sẽ xuất hiện việc tìm kiếm các phương pháp giao tiếp. Khi nhu cầu giao tiếp vì những mục tiêu kiến tạo được cảm nhận một cách chân thành, thì dưới sự hướng dẫn sáng suốt của các Chân sư, một số mantram cổ [Page 183] sẽ được phép lưu truyền.

So it's certainly not immediate. It is graded and slow, and lies about 400 years ahead, now that it's 100 years later than this book was written.

Vì vậy, điều này chắc chắn không xảy ra ngay lập tức. Tiến trình ấy diễn ra theo từng mức độ và chậm rãi, còn cách chúng ta khoảng 400 năm, vì hiện nay đã qua 100 năm kể từ khi cuốn sách này được viết.

[34] Their action, interaction and reaction will be closely studied and watched. It is hoped that the benefit to both groups will be mutual. The human evolution should give strength to the deva, and the deva, joy to the human.

[34] Tác động, sự tương tác và phản ứng của chúng sẽ được nghiên cứu và theo dõi chặt chẽ. Hy vọng cả hai nhóm sẽ mang lại lợi ích cho nhau. Dòng tiến hoá nhân loại nên đem lại sức mạnh cho thiên thần, và thiên thần nên đem lại sự hoan hỉ cho con người.

Wow, that's a beautiful idea. I guess the great singers, the devas, carry that note of joy more than compact man. The devas are more expansive in their body—gosh, it's just such a word—stretchable, elongatable, covering an interval. It's not so easy for human beings to do that.

Thật là một ý tưởng đẹp. Tôi nghĩ những ca sĩ vĩ đại, các thiên thần, mang âm điệu hoan hỉ ấy nhiều hơn con người với thân thể cô đọng. Thân thể các thiên thần có khả năng mở rộng hơn—thật khó tìm từ diễn tả—có thể giãn ra, kéo dài ra, trải rộng qua một khoảng không gian. Con người không dễ làm được điều đó.

[35] Man should communicate to the devas the objective point of view, while they in turn will pour in on him their healing magnetism.

[35] Con người nên truyền đạt cho các thiên thần quan điểm khách quan, trong khi các thiên thần sẽ đáp lại bằng cách tuôn vào y từ điện chữa lành của mình.

So, of mutual benefit to each other, the man and the devas.

Như vậy, con người và các thiên thần đem lại lợi ích cho nhau.

[36] They are the custodians of prana, magnetism and vitality, just as man is the custodian of the fifth principle, or manas. I have given several hints here and more is not possible.

[36] Các thiên thần là những vị gìn giữ prana, từ điện và sinh lực, cũng như con người là người gìn giữ nguyên khí thứ năm, hay manas. Ở đây, Tôi đã đưa ra một số gợi ý và không thể nói thêm.

So, They are the custodians of prana, magnetism and vitality, just as man is the custodian of the principle of Manas. So the contrast is between, largely, feeling and thinking.

Vì vậy, Họ là những vị gìn giữ prana, từ điện và sinh lực, cũng như con người là người gìn giữ nguyên khí manas. Như vậy, sự tương phản chủ yếu là giữa cảm nhận và tư duy.

So this is an important paragraph about the mutual exchange during the next 500 years—well, 400 now—and maybe we don't have to wait so long. I mean, maybe it's going to happen over the next 500 years. And he says “somewhat,” not completely, because they have to avoid the possibility of interference, the one with the other. But cooperation is different from interference. They'll become somewhat more conscious of each other, and be able therefore more freely to co-operate. So this is one of those unions during the coming age of universality.

Vì vậy, đây là một đoạn quan trọng về sự trao đổi qua lại trong 500 năm tới—hiện nay thì còn 400 năm—và có lẽ chúng ta không phải chờ lâu đến thế. Ý tôi là, có lẽ điều đó sẽ diễn ra trong suốt 500 năm tới. Và Ngài nói “phần nào”, chứ không hoàn toàn, vì họ phải tránh khả năng bên này can thiệp vào bên kia. Nhưng hợp tác khác với can thiệp. Họ sẽ nhận biết nhau rõ hơn phần nào, và do đó có thể hợp tác tự do hơn. Vì vậy, đây là một trong những sự hợp nhất trong kỷ nguyên đại đồng sắp tới.

So the old mantras will be revived, some of them. Everything is graded and gradual, and as DK says, if a man suddenly appears to be making tremendous progress overnight, it's because so much preparation has gone into that progress. And the fifth ray applied to the internal worlds—that's what's going to happen here. The fifth ray will be applied to the study of the internal worlds. And mutual benefit through right cooperation is the hoped-for result. No brave new world.

Vì vậy, các mantram cổ sẽ được khôi phục, ít nhất là một số trong đó. Mọi việc đều diễn ra theo từng mức độ và dần dần, và như Chân sư DK nói, nếu một người bỗng có vẻ tiến bộ vượt bậc chỉ sau một đêm, thì đó là vì đã có rất nhiều sự chuẩn bị cho bước tiến ấy. Và việc áp dụng cung năm vào các cõi bên trong—đó là điều sẽ xảy ra ở đây. Cung năm sẽ được áp dụng vào việc nghiên cứu các cõi bên trong. Và lợi ích cho cả hai bên thông qua sự hợp tác đúng đắn là kết quả được mong đợi. Không phải một thế giới mới đầy hứa hẹn.

Probably this is all something that we can barely conceive. And when you think about how predatory the church has been upon those who, outside the church, could really deal with the devas and elementals, you begin to realize that there was a great negative stream entering the church, and in the latter part of the sixth ray cycle it was holding humanity back in ignorance. And even today, there's a tremendous collection in the Vatican library, we hear, and certain sources are just completely off limits to anybody but the higher groups within the church.

Có lẽ tất cả những điều này là điều chúng ta hầu như không thể hình dung. Và khi nghĩ đến việc giáo hội đã săn đuổi những người bên ngoài giáo hội thực sự có thể làm việc với các thiên thần và hành khí như thế nào, bạn bắt đầu nhận ra rằng đã có một dòng ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ thâm nhập giáo hội, và trong phần sau của chu kỳ cung sáu, dòng ảnh hưởng ấy đã kìm giữ nhân loại trong vô minh. Ngay cả ngày nay, theo những gì chúng ta nghe được, thư viện Vatican có một bộ sưu tập khổng lồ, và một số nguồn tư liệu hoàn toàn không cho bất kỳ ai tiếp cận, ngoại trừ những nhóm cấp cao trong giáo hội.

[37] Tomorrow we will take up perhaps the most vitally interesting division on forms connected with fire. Today the matter imparted suffices.

[37] Ngày mai, chúng ta sẽ bàn đến phần có lẽ đáng quan tâm nhất và thiết yếu nhất về các hình thức liên quan đến lửa. Nội dung truyền đạt hôm nay như vậy là đủ.

I guess DK always has to gauge how much the students can absorb. And of course his sense of time is much more expansive than our own, and he could visualize the time toward the end of the 20th century when people were really studying this more intensively, and even now, the earlier part of the 21st century. He could see ahead and could determine in what size the offerings could be given for best assimilation.

Tôi nghĩ Chân sư DK luôn phải cân nhắc xem các đạo sinh có thể tiếp thu được bao nhiêu. Và dĩ nhiên, cảm nhận của Ngài về thời gian rộng lớn hơn nhiều so với chúng ta, và Ngài có thể hình dung thời điểm vào cuối thế kỷ 20, khi mọi người thực sự nghiên cứu điều này chuyên sâu hơn, và cả hiện nay, phần đầu thế kỷ 21. Ngài có thể nhìn trước và xác định nên truyền đạt từng lượng kiến thức bao nhiêu để người học lĩnh hội tốt nhất.

The next part deals with fire, and I'm not sure… I think we can venture into it. It's a long section, and whether we can complete it or not, well, that is doubtful. As a matter of fact, I feel somewhat hesitant to venture into it. I think it maybe should be its own unit. Here we are, students of occultism, students of spiritual occultism, but in all humility we're learning to meditate. We're learning what can be extracted through detailed, careful study—as DK is always telling us, “Please pay more attention to my words, and read more carefully.” And we're working out the method of application in service.

Phần tiếp theo bàn về lửa, và tôi không chắc… Tôi nghĩ chúng ta có thể thử đi vào phần này. Đây là một phần dài, và liệu chúng ta có thể hoàn tất hay không thì vẫn còn đáng ngờ. Thật ra, tôi cảm thấy hơi do dự khi đi vào phần này. Tôi nghĩ có lẽ nên dành riêng một buổi cho nó. Chúng ta ở đây là những đạo sinh huyền bí học, những đạo sinh huyền bí học tinh thần, nhưng với tất cả sự khiêm nhường, chúng ta đang học tham thiền. Chúng ta đang học những gì có thể rút ra qua việc nghiên cứu tỉ mỉ, cẩn trọng—như Chân sư DK luôn nhắc chúng ta: “Xin hãy chú ý hơn đến lời của tôi, và đọc kỹ hơn.” Và chúng ta đang tìm ra phương pháp áp dụng trong phụng sự.

And right now, one of the great services has to do with the educational aspect of the second ray. There are many second ray souls in incarnation at the moment, and of course the majority of monads in our solar system—I'm not sure about our planet, because there's some ambiguity there—seem to be on the second ray: 35 billion monads of love-wisdom, 20 billion monads on the ray of intelligence, ray three, and only five billion thus far on the ray of power. There is some peculiar ambiguity there about whether the 60 billion monads, which are human monads, apply to the entire solar system, or simply to our planet. And there are reasons to suspect both.

Ngay lúc này, một trong những công việc phụng sự lớn lao liên quan đến phương diện giáo dục của cung hai. Hiện nay có nhiều linh hồn cung hai đang nhập thể, và dĩ nhiên, phần lớn các chân thần trong hệ mặt trời của chúng ta—tôi không chắc về hành tinh của chúng ta, vì ở đó có một số điểm chưa rõ—dường như thuộc cung hai: 35 tỷ chân thần Bác Ái – Minh Triết, 20 tỷ chân thần thuộc cung trí thông tuệ, cung ba, và cho đến nay chỉ có năm tỷ thuộc cung quyền năng. Có một điểm mơ hồ khá đặc biệt ở đây: liệu con số 60 tỷ chân thần, vốn là các chân thần nhân loại, áp dụng cho toàn bộ hệ mặt trời hay chỉ cho hành tinh của chúng ta. Và có những lý do để nghiêng về cả hai khả năng.

I mean, we know we have—I don't know—seven or eight billion people in incarnation, and DK pretty well tells us that six-sevenths of any incarnating group are out of incarnation. So if you multiply seven times eight or so, you get 56, or even seven times seven is 49. It's getting pretty close to the 60 billion figure. And yet elsewhere we're told that the 140 billion monads—I don't think we're just talking about the tiny unconscious types—and 60 billion human monads make up the 200 billion of this second major solar system. It really helps for us to have some macrocosmic knowledge, because we have to know somehow the outlines of the system in which we are participating in order to be more intelligent about our evolution, and more intelligent about promoting group and national evolution, and ultimately, on our planet at least, the evolution of the entire soul of humanity, along with how we can assist with the evolution of the lower kingdoms.

Ý tôi là, chúng ta biết mình có—tôi không rõ—bảy hay tám tỷ người đang nhập thể, và Chân sư DK nói khá rõ với chúng ta rằng sáu phần bảy của bất kỳ nhóm nhập thể nào đều đang ở ngoài sự nhập thể. Vì vậy, nếu bạn lấy bảy nhân với khoảng tám, bạn sẽ được 56, hoặc ngay cả bảy nhân bảy cũng là 49. Con số này khá gần với 60 tỷ. Tuy nhiên, ở một chỗ khác, chúng ta được cho biết rằng 140 tỷ chân thần—tôi không nghĩ chúng ta chỉ đang nói đến những loại nhỏ bé, vô thức—và 60 tỷ chân thần nhân loại hợp thành 200 tỷ của hệ mặt trời lớn thứ hai này. Có một ít tri thức về đại thiên địa thực sự giúp ích cho chúng ta, vì bằng cách nào đó, chúng ta phải biết những nét khái quát của hệ thống mà mình đang tham gia để sáng suốt hơn về sự tiến hoá của mình, sáng suốt hơn trong việc thúc đẩy sự tiến hoá của nhóm và quốc gia, và cuối cùng, ít nhất trên hành tinh của chúng ta, là sự tiến hoá của toàn bộ linh hồn nhân loại, cùng với cách chúng ta có thể hỗ trợ sự tiến hoá của các giới thấp.

So when people pretty much just want the feeling aspect of the approach to divinity, they may rebel against or become impatient regarding the kind of close study that we have to give—word for word, phrase by phrase, sentence by sentence, paragraph by paragraph, chapter by chapter, book by book. It may just seem too tedious, and they may say, “Oh, but I sought spirituality. Why am I studying all this detail?”

Vì vậy, khi người ta gần như chỉ muốn phương diện cảm xúc trong việc tiếp cận thiên tính, họ có thể phản đối hoặc trở nên thiếu kiên nhẫn với kiểu nghiên cứu kỹ lưỡng mà chúng ta phải thực hiện—từng từ, từng cụm từ, từng câu, từng đoạn, từng chương, từng cuốn sách. Điều đó có thể có vẻ quá tẻ nhạt, và họ có thể nói: “Ồ, nhưng tôi tìm kiếm đời sống tinh thần kia mà. Tại sao tôi lại phải nghiên cứu tất cả những chi tiết này?”

I remember when I went to music school long ago. I loved music. Maybe the terrible thing that music school did at first was challenge that love of music, because it demanded a more mental approach to what I considered to be an inspirational art form. But later I did see and understand the value of the very close study one has to give to rhythm, and harmony, and form, and all these structural elements, which were not quite the great exalted high that music can give. I think I got into the music school for the wrong motive: simply because I loved music, I thought that would be sufficient. But the mind had to be brought to bear. And when you're dealing with a great composer like J. S. Bach—he had a fantastic mathematical mind, and yet he was able to produce, thus far maybe, at least in modern times, the world's greatest music. We can't say much about what was Atlantean music, or even Lemurian music; we can imagine that it was more primitive.

Tôi nhớ khi mình vào trường âm nhạc từ lâu. Tôi yêu âm nhạc. Có lẽ điều khủng khiếp mà trường âm nhạc đã làm lúc đầu là thử thách tình yêu âm nhạc ấy, vì trường đòi hỏi một cách tiếp cận thiên về trí tuệ hơn đối với điều mà tôi xem là một loại hình nghệ thuật đầy cảm hứng. Nhưng về sau, tôi đã thấy và thấu hiểu giá trị của việc nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng mà người ta phải dành cho nhịp điệu, hoà âm, hình thức và tất cả những yếu tố cấu trúc này, vốn không hẳn là cảm giác thăng hoa cao cả, tuyệt vời mà âm nhạc có thể mang lại. Tôi nghĩ mình đã vào trường âm nhạc với động cơ sai: chỉ vì yêu âm nhạc, tôi tưởng như thế là đủ. Nhưng cần phải vận dụng trí tuệ. Và khi bạn tìm hiểu một nhà soạn nhạc vĩ đại như J. S. Bach—ông có một trí tuệ toán học phi thường, nhưng vẫn có thể sáng tác thứ âm nhạc có lẽ là vĩ đại nhất thế giới cho đến nay, ít nhất trong thời hiện đại. Chúng ta không thể nói nhiều về âm nhạc Atlantis, hay thậm chí âm nhạc Lemuria; chúng ta có thể hình dung rằng nó sơ khai hơn.

But all of that is about bringing the illumined mind to bear in our studies, and not losing patience with this wealth of detail given by Master DK. Maybe it's not for everybody. There's still a lot of people who want the strictly rapturous part—maybe even as I did when I went into music school. They want the rapture, they want to speak in tongues, they want to be elevated by great streams of energy, and they don't want the science behind it all. There is a science of music, and if you've ever studied harmony closely, it is a detailed science, which is why maybe the fourth ray is called the ray of mathematical exactitude. So, same thing here.

Nhưng tất cả những điều đó đều nói đến việc vận dụng trí tuệ được soi sáng vào việc nghiên cứu của chúng ta, và không mất kiên nhẫn trước khối lượng chi tiết phong phú mà Chân sư DK đưa ra. Có lẽ điều này không dành cho tất cả mọi người. Vẫn có nhiều người chỉ muốn phần say mê ngây ngất—có lẽ cũng giống như tôi khi vào trường âm nhạc. Họ muốn sự ngây ngất, muốn nói tiếng lạ, muốn những dòng năng lượng lớn lao nâng mình lên, và không muốn tìm hiểu khoa học đằng sau tất cả những điều ấy. Có một khoa học về âm nhạc, và nếu bạn từng nghiên cứu kỹ hoà âm, thì đó là một khoa học tỉ mỉ; có lẽ vì vậy mà cung bốn được gọi là cung của sự chính xác toán học. Ở đây cũng vậy.

We have some years—if you start with this at a reasonable time in your incarnation, and not quite at death's door—there's so much you can really assimilate, and thus be scientifically more secure in your approach to the Ageless Wisdom. And when you set up experiments and try to demonstrate to people that they can develop the same abilities, you will know the right and scientific methods of doing so, and they will subscribe to the old idea that what man has done, man can do. So that's why it's very important for us to be well-studied individuals in the Ageless Wisdom, and of course individuals who have entered meditation in a deep sense, so we actually have the experience of the energies.

Chúng ta có một số năm—nếu bạn bắt đầu việc này vào một thời điểm hợp lý trong kiếp nhập thể của mình, chứ không phải khi đã gần kề cái chết—thì có rất nhiều điều bạn thực sự có thể tiếp thu, và nhờ đó có nền tảng khoa học vững chắc hơn trong cách tiếp cận Minh Triết Ngàn Đời. Và khi bạn thiết lập các thử nghiệm, cố gắng chứng minh cho mọi người rằng họ có thể phát triển những khả năng tương tự, bạn sẽ biết những phương pháp đúng đắn và khoa học để làm điều đó, và họ sẽ tán thành ý tưởng từ xưa rằng điều con người đã làm được thì con người có thể làm được. Vì vậy, điều rất quan trọng là chúng ta phải là những người nghiên cứu sâu rộng Minh Triết Ngàn Đời, và dĩ nhiên, là những người đã đi sâu vào tham thiền, để thực sự trải nghiệm các năng lượng.

And then, of course, the third factor—the third Law of the Soul, the Law of Service—will come in, and instead of somehow beguiling ourselves and thinking we're serving when we're not really serving very much at all, we will be able to offer a real service in line with the Plan at this time, and according to our capacities, which we will have been able to study with some degree of exactitude. We'll know who we are, we'll know what to do, we'll know where we belong.

Và rồi, dĩ nhiên, yếu tố thứ ba—Định luật thứ ba của Linh hồn, Định luật Phụng sự—sẽ phát huy tác dụng; thay vì bằng cách nào đó tự huyễn hoặc mình, tưởng rằng mình đang phụng sự trong khi thực ra chẳng phụng sự được bao nhiêu, chúng ta sẽ có thể thực hiện một công việc phụng sự thực sự phù hợp với Thiên Cơ vào lúc này, và theo những năng lực của mình, những năng lực mà chúng ta đã có thể nghiên cứu với một mức độ chính xác nhất định. Chúng ta sẽ biết mình là ai, biết phải làm gì, biết mình thuộc về đâu.

So maybe in the next program I'll start with these fire forms, and the next one will be Program 41, and we'll be beginning here on 183. If I get to it tonight, then it'll also be the 19th of October, and this here should have been the 19th of October.

Vì vậy, có lẽ trong chương trình tiếp theo, tôi sẽ bắt đầu với những hình tướng lửa này; chương trình tiếp theo sẽ là Chương trình 41, và chúng ta sẽ bắt đầu ở đây, tại trang 183. Nếu tôi thực hiện được tối nay, thì đó cũng sẽ là ngày 19 tháng 10, và chương trình này lẽ ra cũng phải ghi ngày 19 tháng 10.

Friends, study hard, and assimilate what you can, apply what you can, and persist, persist, persist. I speak to myself as well as to you, and we all here on the communications team wish you the very best. We'll get this out to you as soon as we can, and I'll see what may be possible in terms of going on yet tonight. So bye for now.

Các bạn của tôi, hãy chăm chỉ nghiên cứu, tiếp thu những gì có thể, áp dụng những gì có thể, và kiên trì, kiên trì, kiên trì. Tôi nói với chính mình cũng như với các bạn, và tất cả chúng tôi trong nhóm truyền thông đều chúc các bạn những điều tốt đẹp nhất. Chúng tôi sẽ gửi chương trình này đến các bạn sớm nhất có thể, và tôi sẽ xem liệu tối nay còn có thể tiếp tục hay không. Vậy xin tạm biệt các bạn.