Trích nội dung chương
And then it goes on. So there it is: Stanza VII, fifth part—the spark and the flame. And there is a differentiation, as we do see. Và rồi đoạn ấy tiếp tục. Vậy là đây: Bài kệ VII, phần thứ năm—tia lửa và ngọn lửa. Và quả thực có một sự biến phân, như chúng ta thấy.
And then it goes on. So there it is: Stanza VII, fifth part—the spark and the flame. And there is a differentiation, as we do see.
Và rồi đoạn ấy tiếp tục. Vậy là đây: Bài kệ VII, phần thứ năm—tia lửa và ngọn lửa. Và quả thực có một sự biến phân, như chúng ta thấy.
The thread of Fohat is the thread of life before referred to. (SD)
Sợi dây của Fohat là Sinh Mệnh Tuyến đã đề cập trước đó. (SD)
And she makes commentary. Well, one day we will be in a position to notice all this and see it for ourselves. So it's Stanza VII, section five, The Secret Doctrine. It's good to know. Well, there is a moment of joy called “reference found.” Of course, we also have to remember there is “reference imagined” and “reference lost.” These are things that, in the massive material we cover, make for difficulty. We have that feeling that we've seen it and that it confirms what we're saying, but then we can't find it. And sometimes we have the feeling that we've seen it and we never have, because it is an imagined reference. So that would apply also to the macrocosmic picture: “the spark hanging from the flame by the finest thread of Fohat.”
Và Bà đưa ra lời bình giảng. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có khả năng nhận biết tất cả những điều này và tự mình thấy chúng. Vậy đó là Bài kệ VII, mục thứ năm, Giáo Lý Bí Nhiệm. Biết được điều này thật hữu ích. Có một khoảnh khắc hoan hỉ gọi là “đã tìm thấy dẫn chứng”. Dĩ nhiên, chúng ta cũng phải nhớ rằng còn có “dẫn chứng tưởng tượng” và “dẫn chứng thất lạc”. Trong khối tư liệu đồ sộ mà chúng ta khảo sát, những điều này gây khó khăn. Chúng ta có cảm giác mình đã thấy điều đó và nó xác nhận những gì mình đang nói, nhưng rồi lại không tìm ra. Và đôi khi chúng ta có cảm giác mình đã thấy điều đó nhưng thực ra chưa bao giờ thấy, vì đó là một dẫn chứng tưởng tượng. Vậy điều ấy cũng áp dụng cho bức tranh đại thiên địa: “tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi dây mảnh nhất của Fohat”.
So here you have fire as it may be seen in the lesser systems. And maybe we should review those presentations so that we have them more accessible for ourselves. So, for man, the vital fires keeping the internal economy going—and then, of course, the macrocosm has these two also. And then we have the microcosmic correspondence to Fohat, cosmic electricity—the cosmic prana, or the prana that courses through the system, just as it does the cosmic system. And then fire on the mental plane, and apparently we might be justified—we seem to be justified—in referencing the higher mental plane cosmically. And then we have the fire elementals. Now, in this particular case, it doesn't say that they are only mental, but they can be known in some measure through thoughtform building. But maybe there are other ways in the magical process that fire elementals are distinguishable. All of this occultism, when we can be trusted, will be part of our knowledge, and we'll be building it up in our consciousness during the Aquarian and the subsequent Capricornian equinoctial ages.
Vậy ở đây, các bạn có lửa như có thể quan sát trong các hệ thống nhỏ. Và có lẽ chúng ta nên xem lại những phần trình bày ấy để dễ tra cứu hơn. Đối với con người, có những ngọn lửa sinh lực duy trì hoạt động nội tại—và rồi, dĩ nhiên, đại thiên địa cũng có hai loại này. Tiếp theo, chúng ta có sự tương ứng ở tiểu thiên địa với Fohat, điện vũ trụ—prana vũ trụ, hay prana lưu chuyển khắp hệ thống, cũng như trong hệ thống vũ trụ. Rồi đến lửa trên cõi trí, và dường như chúng ta có cơ sở—có vẻ là có cơ sở—để liên hệ đến Cõi thượng trí ở cấp vũ trụ. Rồi chúng ta có các hành khí của lửa. Trong trường hợp cụ thể này, đoạn văn không nói rằng chúng chỉ thuộc trí tuệ, nhưng chúng ta có thể biết chúng ở một mức độ nào đó qua việc xây dựng hình tư tưởng. Tuy nhiên, có lẽ còn những cách khác trong tiến trình huyền thuật để phân biệt các hành khí của lửa. Khi chúng ta đủ đáng tin cậy, toàn bộ huyền bí học này sẽ trở thành một phần tri thức của chúng ta, và chúng ta sẽ dần xây dựng tri thức ấy trong tâm thức qua các thời đại phân điểm Bảo Bình và Ma Kết tiếp theo.
And then the vital spark. Well, there's really only one vital spark in the whole universe. But for purposes of the one and the many, there have to be hugely numerous vital sparks. We don't know the number, but these things are all under control, and they will be counted.
Và rồi đến tia lửa sinh lực. Thực ra chỉ có một tia lửa sinh lực duy nhất trong toàn vũ trụ. Nhưng xét theo cái một và cái nhiều, phải có vô số tia lửa sinh lực. Chúng ta không biết số lượng, nhưng tất cả những điều này đều nằm trong sự kiểm soát, và chúng sẽ được đếm.
So, fire in the greater and lesser systems.
Vậy, lửa trong các hệ thống lớn và nhỏ.
[28] I would here sum up for you the purpose of fire in the microcosm, and what must be aimed at. You have the three fires:
[28] Tại đây, Tôi muốn tóm lược cho các bạn mục đích của lửa trong tiểu thiên địa và điều cần hướng tới. Các bạn có ba ngọn lửa:
[29] 1—The vital divine spark.
[29] 1—Tia lửa sinh lực thiêng liêng.
The three fires, indeed. And he repeats it in a number of different ways, with different terminologies. So I think there's no reason why we shouldn't get it, understand it.
Quả thực là ba ngọn lửa. Và Ngài nhắc lại điều này theo nhiều cách khác nhau, với những thuật ngữ khác nhau. Vì vậy, tôi nghĩ không có lý do gì mà chúng ta lại không nắm được, không thấu hiểu điều đó.
The vital divine spark,
Tia lửa sinh lực thiêng liêng,
and we might call this—it could be called—the monad.
và chúng ta có thể gọi điều này—có thể gọi là—chân thần.
[30] 2—The spark of mind.
[30] 2—Tia lửa trí tuệ.
And we can say implanted by the Solar Angels.
Và chúng ta có thể nói rằng các Thái dương Thiên Thần cấy tia lửa ấy vào.
[31] 3—Kundalini,
[31] 3—Kundalini,
which is, as we know, the fire at the base of the spine center—
như chúng ta biết, đó là lửa tại trung tâm đáy cột sống—
[32] the twofold blending of the internal heat and of the pranic current.
[32] sự hòa trộn nhị phân của nhiệt bên trong và dòng prana.
And so this is a blending of latent and active fire. Now, this is a great definition of kundalini. So, an excellent definition of kundalini—that's karma—follows:
Và như vậy, đây là sự hòa quyện của lửa tiềm ẩn và lửa hoạt động. Đây là một định nghĩa rất hay về kundalini. Vậy, tiếp theo là một định nghĩa xuất sắc về kundalini—đó là nghiệp quả:
the twofold blending of the internal heat and of the pranic current.
sự hòa quyện nhị phân của nhiệt bên trong và dòng prana.
The internal heat, we can call it, or latent heat, as it's called in Cosmic Fire.
Chúng ta có thể gọi đó là nhiệt bên trong, hay nhiệt tiềm ẩn, như cách gọi trong Luận về Lửa Vũ Trụ.
Now, in studying the foundation of our psychological life, it may not be as interesting to us as to study the psychological life itself. I find it so. I'm interested very much in the second aspect, and not too much in the material basis—not equally in the material basis—but still, for a relatively completed picture, we have to have that material basis.
Khi nghiên cứu nền tảng của đời sống tâm lý chúng ta, có thể chúng ta không thấy thú vị bằng nghiên cứu chính đời sống tâm lý ấy. Tôi thấy như vậy. Tôi rất quan tâm đến phương diện thứ hai, và không quan tâm nhiều đến cơ sở vật chất—không quan tâm đến cơ sở vật chất ở mức tương đương—nhưng để có một bức tranh tương đối hoàn chỉnh, chúng ta vẫn phải có cơ sở vật chất ấy.
So, the vital divine spark; the kundalini; the spark of mind implanted by the Solar Angels—but not implanted in all animal men at the time of individualization. The mental unit grew up through the animal kingdom, and in some cases did not need to be implanted. So the fanning of the mental unit did occur, but not an implantation, whereby we would become what Blavatsky calls a hothouse plant, somehow under special cultivation. Here I want to cite a reference from Cosmic Fire, 709; the highlighted part is especially the one:
Vậy, tia lửa sinh lực thiêng liêng; kundalini; tia lửa của trí tuệ do các Thái dương Thiên Thần cấy vào—nhưng không phải cấy vào tất cả những người thú vào thời điểm biệt ngã hóa. Đơn vị hạ trí phát triển qua giới động vật, và trong một số trường hợp không cần phải cấy vào. Vì vậy, quả có việc khơi bùng đơn vị hạ trí, nhưng không phải việc cấy vào, khiến chúng ta trở thành thứ mà Bà Blavatsky gọi là một cây trồng trong nhà kính, theo một cách nào đó được chăm trồng đặc biệt. Ở đây, tôi muốn trích một dẫn chứng từ Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 709; đặc biệt là phần được tô nổi bật:
There appears a triangle on the mental plane, produced by manasic activity, and this triangle of fire begins slowly to circulate between the manasic permanent atom,
Một tam giác xuất hiện trên cõi trí, do hoạt động manas tạo ra, và tam giác lửa này bắt đầu chậm rãi lưu chuyển giữa nguyên tử trường tồn manas,
on the highest subplane of the mental plane,
trên cõi phụ cao nhất của cõi trí,
and a point at the centre of the egoic lotus, and thence to the mental unit,
và một điểm tại trung tâm Hoa Sen Chân Ngã, rồi từ đó đến đơn vị hạ trí,
—and here's the point: the mental unit was not an implantation—
—và đây là điểm quan trọng: đơn vị hạ trí không phải là thứ được cấy vào—
which has appeared upon the fourth subplane through innate instinct approximating mentality. (TCF, tr. 709)
vốn đã xuất hiện trên cõi phụ thứ tư nhờ bản năng bẩm sinh gần với năng lực trí tuệ. (TCF, tr. 709)
Instinct towards the light—and obviously it's coming through the animal kingdom as well, and who knows what the lower correspondence might be, even in the plant or mineral. But let's just say for the animal, the third ray and the fifth ray become important in relation to that kingdom, and therefore it can grow into the mental unit. So the Solar Angel need not implant the mental unit; it's there, it's growing up. The causal body also has a long history before its vivification by the Angel of the Presence, or Solar Angel.
Bản năng hướng về ánh sáng—và hiển nhiên nó cũng đi qua giới động vật, và ai biết được sự tương ứng thấp hơn có thể là gì, ngay cả trong thực vật hay kim thạch. Nhưng đối với động vật, cung ba và cung năm trở nên quan trọng trong mối liên hệ với giới ấy, và do đó nó có thể phát triển thành đơn vị hạ trí. Vì vậy, Thái dương Thiên Thần không cần cấy đơn vị hạ trí vào; nó đã có ở đó, đang phát triển. Thể nguyên nhân cũng có một lịch sử lâu dài trước khi Thiên Thần của Hiện Diện, hay Thái dương Thiên Thần, tiếp sinh lực cho nó.
So for some types of human beings, this mental unit is fanned by the Angel of the Presence, Solar Angel, into a condition of greater heat and vitality, activity, rather than having a spark of the presence of the Angel of the Presence implanted on the higher mental plane—or in the brain; there are a number of places of implantation. Suffice it to say, the intimacy which the Solar Angel, Angel of the Presence, has with certain types of higher human beings does not exist in relation to all.
Vậy đối với một số loại người, Thiên Thần của Hiện Diện, Thái dương Thiên Thần, khơi bùng đơn vị hạ trí này đến một trạng thái có nhiệt, sinh lực và hoạt động mạnh hơn, thay vì cấy một tia lửa hiện diện của Thiên Thần của Hiện Diện trên Cõi thượng trí—hoặc trong bộ não; có một số vị trí để cấy vào. Chỉ cần nói rằng mối liên hệ mật thiết mà Thái dương Thiên Thần, Thiên Thần của Hiện Diện, có với một số loại người tiến hóa cao hơn không tồn tại đối với tất cả mọi người.
And what I have said, and I think it is true, is that those human beings individualized on the moon chain did not individualize through implantation, but when they came in, in the fourth chain, the Earth chain—when they came in, in the third subrace of the fourth root race, the Atlantean—a Solar Angel, or Angel of the Presence, was somehow attached to them, and they began a much more rapid evolutionary trajectory. So here, page 709, Cosmic Fire.
Và điều tôi đã nói, mà tôi nghĩ là đúng, là những người đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng không biệt ngã hóa nhờ việc cấy vào, nhưng khi họ đi vào Dãy Thứ Tư, Dãy Địa Cầu—khi họ đi vào giống dân phụ thứ ba của Giống dân gốc thứ tư, Atlantis—một Thái dương Thiên Thần, hay Thiên Thần của Hiện Diện, bằng cách nào đó đã gắn với họ, và họ bắt đầu một lộ trình tiến hóa nhanh hơn nhiều. Vậy đây là trang 709, Luận về Lửa Vũ Trụ.
So the spark of mind, then, is the second of the fires here, and the kundalini the fire of matter—but of matter in a latent state, or a latent type of fire, and an active type of fire, and the combination of the two gives you kundalini. So this is excellent:
Vậy tia lửa của trí tuệ là ngọn lửa thứ hai ở đây, còn kundalini là lửa của vật chất—nhưng của vật chất trong trạng thái tiềm ẩn, hay một loại lửa tiềm ẩn, và một loại lửa hoạt động; sự kết hợp của hai loại ấy tạo thành kundalini. Vậy định nghĩa này thật xuất sắc:
the twofold blending of the internal heat and of the pranic current.
sự hòa quyện nhị phân của nhiệt bên trong và dòng prana.
Now, sometimes all these fires are called internal, and the fire associated with dense physical matter is called latent, and then the pranic current is called active. So every once in a while DK switches his terminology, or at least has some variety in it. So let's see what he says here.
Đôi khi tất cả những ngọn lửa này đều được gọi là lửa bên trong, còn lửa gắn với vật chất hồng trần đậm đặc được gọi là tiềm ẩn, và dòng prana được gọi là hoạt động. Vì vậy, thỉnh thoảng Chân sư DK thay đổi thuật ngữ của Ngài, hoặc ít nhất có đôi chút đa dạng trong cách dùng. Vậy hãy xem Ngài nói gì ở đây.
So in short: fire, fivefold fire, as it may be seen in the greater and the lesser systems, in the macrocosm and microcosm, and the purpose of fire, and what must be aimed at. He wants to sum up here the purpose of fire, and what might be aimed at. Now, fire is basically that which animates, that which moves. When I think about absolute reality, I don't think of fire; I think of a trans-universal state, an absolute state, in which even fire would be a distinction from what it is—that beingness, or be-ness, or absoluteness. Names will always fail in this regard.
Tóm lại: lửa, lửa ngũ phân, như có thể quan sát trong các hệ thống lớn và nhỏ, trong đại thiên địa và tiểu thiên địa, cùng mục đích của lửa, và điều cần hướng tới. Ở đây, Ngài muốn tóm lược mục đích của lửa, và điều có thể hướng tới. Về cơ bản, lửa là thứ làm sinh động, thứ làm chuyển động. Khi nghĩ về thực tại tuyệt đối, tôi không nghĩ đến lửa; tôi nghĩ đến một trạng thái vượt ngoài vũ trụ, một trạng thái tuyệt đối, trong đó ngay cả lửa cũng là một sự phân biệt với chính thực tại ấy—bản thể, hay hiện tồn, hay tính tuyệt đối ấy. Về phương diện này, ngôn từ sẽ luôn bất lực.
Now, a little more here. Sometimes it's just a question of getting our terms straight, isn't it? So the kundalini: he calls it the blending of internal heat and pranic current; I'm calling it, from Cosmic Fire, the blend of latent fire and active fire.
Ở đây còn thêm một chút nữa. Đôi khi vấn đề chỉ là làm cho các thuật ngữ của chúng ta rõ ràng, phải không? Vậy kundalini: Ngài gọi đó là sự hòa quyện của nhiệt bên trong và dòng prana; còn tôi, dựa vào Luận về Lửa Vũ Trụ, gọi đó là sự hòa quyện của lửa tiềm ẩn và lửa hoạt động.
[33] The home of this force is the centre at the base of the spine and the spleen as a feeder of that heat.
[33] Nơi trú ngụ của [Page 186] mãnh lực này là trung tâm ở đáy cột sống, còn lá lách cung cấp nguồn nuôi dưỡng cho nhiệt ấy.
And that is significant. That is significant. We cannot ignore the base of the spine, as if it somehow gets involved only at the third degree and connects man from the top to the bottom, because this base of the spine is of great significance in the fifth initiation. And thus our Earth, as I've said, is of great significance in the fifth initiation of the Solar Logos, because our Earth is the base of the spine in the system of our Solar Logos.
Và điều đó có thâm nghĩa. Điều đó có thâm nghĩa. Chúng ta không thể bỏ qua đáy cột sống, như thể bằng cách nào đó nó chỉ tham gia ở cấp độ thứ ba và nối con người từ trên xuống dưới, bởi trung tâm đáy cột sống này có thâm nghĩa lớn trong lần điểm đạo thứ năm. Và do đó, như tôi đã nói, Trái Đất của chúng ta có thâm nghĩa lớn trong lần điểm đạo thứ năm của Thái dương Thượng đế, bởi Trái Đất của chúng ta là đáy cột sống trong hệ thống của Thái dương Thượng đế chúng ta.
[34] When these three fires—that of the quaternary,
[34] Khi ba ngọn lửa này—lửa của bộ tứ,
I suppose that's the kundalini fire—
tôi cho rằng đó là lửa kundalini—
[35] of the triad and of the fifth principle—
[35] của tam nguyên tinh thần và của nguyên khí thứ năm—
which maybe is the will fire at this time. Or there are other ways to look at this as well: personality fire, Egoic Lotus fire, causal fire, and triadal fire. So again, different terminology.
có lẽ lúc này đó là lửa ý chí. Hoặc cũng có những cách khác để nhìn nhận điều này: lửa phàm ngã, lửa Hoa Sen Chân Ngã, lửa nguyên nhân, và lửa Tam nguyên tinh thần. Vậy một lần nữa, thuật ngữ lại khác nhau.
[36] meet and blend in proper geometrical manner, each centre is adequately vitalised, every power is sufficiently expressing itself, all impurity and dross is burnt away,
[36] gặp nhau và hòa trộn theo cách thức hình học đúng đắn, mỗi trung tâm đều nhận đủ sinh lực, mọi quyền năng đều biểu hiện đầy đủ, mọi bất tịnh và cặn bã đều cháy sạch,
So indeed, the kundalini must be active.
Vậy quả thực, kundalini phải hoạt động.
[37] and the goal is reached.
[37] và mục tiêu đạt tới. Tia lửa đã trở thành ngọn lửa,
Quaternary, triad, and the fifth principle—whether from high above, inasmuch as the fifth cosmic principle brings in even what we call the will. But let's just suppose that we're lining them up in the way our charts show us: there's the quaternary, the Spiritual Triad, and the middle principle, the soul principle; and the triad is representing the monad. As a matter of fact, often when we talk about Atma-Buddhi, he says it's equivalent to the monad. So everything's burned away, and The spark has become a flame, and that will take us to that body of flame found in Cosmic Fire right around page 169 or so.
Bộ tứ, tam nguyên tinh thần và nguyên khí thứ năm—dù xét từ trên cao, bởi nguyên khí vũ trụ thứ năm bao hàm cả điều chúng ta gọi là ý chí. Nhưng hãy giả sử rằng chúng ta sắp xếp chúng theo cách các biểu đồ trình bày: có bộ tứ, Tam Nguyên Tinh Thần và nguyên khí ở giữa, nguyên khí linh hồn; còn tam nguyên tinh thần đại diện cho chân thần. Thực ra, khi chúng ta nói về Atma-Bồ đề, Ngài thường nói rằng điều đó tương đương với chân thần. Vì vậy, mọi thứ đều bị thiêu rụi, và Tia lửa đã trở thành một ngọn lửa, và điều đó sẽ đưa chúng ta đến thể lửa được đề cập trong Lửa Vũ Trụ, vào khoảng trang 169.
The spark has become a flame,
Tia lửa đã trở thành một ngọn lửa,
[38] and the flame is part of the great egoic blaze which animates all of the objective universe.
[38] và ngọn lửa là một phần của ngọn lửa chân ngã lớn rực cháy, làm sinh động toàn bộ vũ trụ khách quan.
So this is both a microcosmic and macrocosmic statement.
Vì vậy, đây là một phát biểu vừa về tiểu thiên địa vừa về đại thiên địa.
When these three fires—that of the quaternary, of the triad and of the fifth principle—
Khi ba ngọn lửa này—ngọn lửa của bộ tứ, của tam nguyên tinh thần và của nguyên khí thứ năm—
the fifth principle apparently manifesting on the plane of mind, whereas the triad manifests partially on the plane of mind, but also on the buddhic and atmic planes—
nguyên khí thứ năm dường như biểu hiện trên cõi trí, trong khi tam nguyên tinh thần biểu hiện một phần trên cõi trí, nhưng cũng trên các cõi Bồ đề và atma—
meet and blend in proper geometrical manner,
gặp gỡ và hòa quyện theo cách thức hình học đúng đắn,
as God geometrizes—and we don't know the geometry here—
như Thượng đế sáng tạo theo hình học—và chúng ta không biết hình học ở đây là gì—
each centre
mỗi trung tâm
whether macrocosmic or microcosmic,
dù thuộc đại thiên địa hay tiểu thiên địa,
is adequately vitalised, every power is sufficiently expressing itself,
đều được tiếp sinh lực đầy đủ, mọi quyền năng đều biểu lộ trọn vẹn,
and all impurity is gone.
và mọi sự bất thuần đều biến mất.
the goal is reached.
mục tiêu đã đạt được.
The spark becomes a flame, and we will have the body of flame, or body of fire—TCF 169. I believe that may be correct, and let's just see if it is correct. What we would have to do is switch here to A Treatise on Cosmic Fire—and 169, well, we're getting close; maybe it's 166. Ah yes, 166 and 167:
Tia lửa trở thành một ngọn lửa, và chúng ta sẽ có thể ngọn lửa, hay thể lửa—Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 169. Tôi nghĩ có lẽ đúng là trang đó, và hãy xem có đúng không. Chúng ta cần chuyển sang Luận về Lửa Vũ Trụ ở đây—và trang 169, chúng ta đã gần đến rồi; có lẽ là trang 166. Đúng rồi, trang 166 và 167:
The centres, therefore, when functioning properly, form the “body of fire” which eventually is all that is left, first to man in the three worlds, and later to the Monad. This body of fire is “the body incorruptible” or indestructible, spoken of by St. Paul, and is the product of evolution, of the perfect blending of the three fires, which ultimately destroy the form.
Vì vậy, khi hoạt động đúng đắn, các trung tâm tạo thành “thể lửa”, cuối cùng là tất cả những gì còn lại, trước tiên đối với con người trong ba cõi giới, và về sau đối với Chân thần. Thể lửa này là “thân thể không hư hoại”, hay bất hoại, mà Thánh Phaolô đã nói đến, và là sản phẩm của tiến hoá, của sự hòa quyện hoàn hảo giữa ba ngọn lửa, những ngọn lửa cuối cùng sẽ hủy diệt hình tướng.
Three fires destroy the form.
Ba ngọn lửa hủy diệt hình tướng.
When the form is destroyed there is left this intangible spiritual body of fire, one pure flame, distinguished by seven brilliant centres of intenser burning. This electric fire is the result of the bringing together of the two poles and demonstrates at the moment of complete at-one-ment, the occult truth of the words “Our God is a consuming Fire.” (TCF, tr. 166–167)
Khi hình tướng bị hủy diệt, thể lửa tinh thần vô hình này vẫn còn lại: một ngọn lửa thuần khiết, nổi bật với bảy trung tâm rực rỡ cháy mãnh liệt hơn. Lửa Điện này là kết quả của việc đưa hai cực lại với nhau và, vào thời điểm hoàn toàn hợp nhất, minh chứng chân lý huyền bí trong lời nói: “Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu hủy.” (Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 166–167)
So it's TCF 166 and 167—one body of fire. So you can see a lot of cross-referencing is occurring. DK obviously hadn't written Cosmic Fire yet, but it was elaborated based on some of these statements, I think. And then it became the seed of all further elaboration, whether speaking of magic, or psychology, or astrology. It's all in a seeded form in A Treatise on Cosmic Fire—not all, but a great deal of it is.
Vậy đó là Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 166 và 167—một thể lửa duy nhất. Các bạn có thể thấy có rất nhiều sự đối chiếu giữa các đoạn. Rõ ràng khi ấy Chân sư DK chưa viết Lửa Vũ Trụ, nhưng tôi nghĩ tác phẩm đó đã được triển khai dựa trên một số phát biểu này. Rồi nó trở thành hạt giống cho mọi sự triển khai tiếp theo, dù nói về huyền thuật, tâm lý học hay chiêm tinh học. Tất cả đều hiện diện dưới dạng hạt giống trong Luận về Lửa Vũ Trụ—không phải tất cả, nhưng một phần rất lớn.
I know there are other connections here, but we'll just have to let it go. And these three fires blend in a proper geometrical manner, and each such center is vitalized, and the impurity is burnt away, and the goal is reached. So we have to look forward to this festival of fire, the fiery accolade, which lies ahead when we understand it, and can manage it, and have proven ourselves, and need it. It's not just for our own edification; it's so that it can be applied in service, enacting the divine purpose through the Divine Plan, with us being a part of it all.
Tôi biết còn có những mối liên hệ khác ở đây, nhưng chúng ta đành tạm gác lại. Ba ngọn lửa này hòa quyện theo cách thức hình học đúng đắn, mỗi trung tâm như thế được tiếp sinh lực, sự bất thuần bị thiêu rụi, và mục tiêu đã đạt được. Vì vậy, chúng ta phải hướng tới lễ hội lửa này, sự tấn phong bằng lửa đang chờ phía trước, khi chúng ta thấu hiểu nó, có thể làm chủ nó, đã chứng tỏ mình xứng đáng và cần đến nó. Điều đó không chỉ nhằm nâng cao bản thân chúng ta; mục đích là để vận dụng nó trong phụng sự, thực hiện thiên ý thông qua Thiên Cơ, với chúng ta là một phần của toàn thể ấy.
So there is a spark of mind, but there is also a spark hanging from the flame, and that's what we want to distinguish between. There is both a spark of mind and a higher spark hanging from the divine flame by the finest thread of Fohat. And really, of course, finally, all sparks are the one original spark. And even within our microcosmic system, you know how it is that the monad descends onto the higher mental plane and creates the jewel in the lotus, which will be somehow involved in the cooperation with the Solar Angel, and its implantation of the spark of mind in a more intense form than the mental unit, which has grown gradually through the approximation of instinct to mentality, and through the animal kingdom too, at least that. Sometimes we're amazed at what dogs, and cats, and I suppose elephants and horses can do. And if we go into the sea, we find the mammals, dolphins and whales, and they have great intelligence; the mental unit is growing.
Vậy có một tia lửa trí tuệ, nhưng cũng có một tia lửa treo từ ngọn lửa, và đó là hai điều chúng ta muốn phân biệt. Có cả tia lửa trí tuệ lẫn một tia lửa cao hơn treo từ ngọn lửa thiêng liêng bằng sợi dây thanh mảnh nhất của Fohat. Và thật ra, dĩ nhiên, cuối cùng mọi tia lửa đều là tia lửa nguyên thủy duy nhất. Ngay trong hệ thống tiểu thiên địa của chúng ta, các bạn cũng biết chân thần giáng xuống Cõi thượng trí và tạo ra bảo ngọc trong hoa sen như thế nào; bảo ngọc ấy bằng cách nào đó sẽ tham gia vào sự hợp tác với Thái dương Thiên Thần và việc Ngài cấy tia lửa trí tuệ dưới một hình thức mãnh liệt hơn đơn vị hạ trí. Đơn vị hạ trí đã dần tăng trưởng qua việc bản năng tiến gần đến trí tuệ, và cả qua giới động vật nữa, ít nhất là như thế. Đôi khi chúng ta kinh ngạc trước những gì chó, mèo, và tôi nghĩ cả voi lẫn ngựa có thể làm. Nếu đi vào biển, chúng ta tìm thấy những loài có vú, cá heo và cá voi, có trí thông minh rất cao; đơn vị hạ trí đang tăng trưởng.
[39] Therefore, we are brought logically to the position that there will be for these three types of mantrams another mantram which will bring about their union and merging.
[39] Vì vậy, xét về lôgic, chúng ta đi đến nhận định rằng đối với ba loại mantram này, sẽ có một mantram khác tạo nên sự hợp nhất và hòa nhập của chúng. Thực tế, các bạn có:—
Now, we've been dealing with mantras here, and right now we're working on mantras of fire. So we should probably go back—and I'll rely upon you to do that, or will I do it myself? So, mantras of fire—that's one—and three types of mantras. I think I'm just going to have to let that go, because I can't go back into the… Certainly there are the three fires, and maybe mantras involved in the invocation of any of those fires, but he may mean something earlier—mantras of power. He's given us quite a number of different types of mantras: mantras, maybe, in calling in the devas and elementals—but there are more than three. Mantras involved in the three departments… Well, I don't like to do it, but I'll let it pass as to what he means by the three types of mantras, and study that later in the outline form. three types of mantrams another mantram, which will fuse them.
Ở đây chúng ta đã bàn về các mantram, và hiện giờ đang nghiên cứu các mantram về lửa. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên quay lại—và tôi sẽ nhờ các bạn làm điều đó, hay tôi sẽ tự làm? Các mantram về lửa—đó là một loại—và ba loại mantram. Tôi nghĩ mình đành phải tạm gác lại, vì không thể quay lại phần… Chắc chắn có ba ngọn lửa, và có lẽ có các mantram liên quan đến việc khẩn cầu bất kỳ ngọn lửa nào trong số đó, nhưng có thể Ngài muốn nói đến điều gì trước đó—các mantram về quyền năng. Ngài đã cho chúng ta khá nhiều loại mantram khác nhau: có lẽ là các mantram để triệu gọi thiên thần và hành khí—nhưng có hơn ba loại. Các mantram liên quan đến ba ban… Tôi không muốn làm vậy, nhưng sẽ tạm bỏ qua việc xác định Ngài muốn nói gì qua ba loại mantram, và sẽ nghiên cứu điều đó sau dưới dạng dàn ý. ba loại mantram, một mantram khác, sẽ dung hợp chúng.
Oh, well, now it seems a little bit clearer: mantras for kundalini, for the processes of the fire of mind, and for the spark, or monad-triad. Because we have—what did he say?—quaternary, triad, and, how did he put it, fifth principle, meet and blend. So maybe those are the three that he's referring to. Sometimes these outlines get so detailed that, if you're like me, you lose your way and have to go back and confirm it. And fifth principle—so maybe these are the three types of mantras.
Giờ thì dường như rõ hơn đôi chút: các mantram dành cho kundalini, cho các tiến trình của lửa của trí tuệ, và cho tia lửa, hay chân thần–tam nguyên tinh thần. Bởi chúng ta có—Ngài đã nói gì?—bộ tứ, tam nguyên tinh thần và, Ngài đã diễn đạt thế nào, nguyên khí thứ năm, gặp gỡ và hòa quyện. Vậy có lẽ đó là ba loại Ngài đang đề cập. Đôi khi các dàn ý này chi tiết đến mức, nếu giống tôi, các bạn sẽ mất phương hướng và phải quay lại để xác nhận. Và nguyên khí thứ năm—vậy có lẽ đây là ba loại mantram.
[40] Mantrams that affect kundalini, and arouse it in the right manner. By the power of the vibration they send it circulating through the centres according to their natural, geometrical progression.
[40] Những mantram tác động đến kundalini và khơi dậy nó đúng cách. Nhờ quyền năng của rung động, chúng khiến kundalini lưu chuyển qua các trung tâm theo trình tự hình học tự nhiên của các trung tâm ấy.
And I say determined by the Monadic ray.
Và tôi cho rằng trình tự đó do cung chân thần quyết định.
[41] A secondary branch of these mantrams deals with the spleen, and the control of the pranic fluids for the purpose of health, for vitalisation, and for affecting the fire at the base of the spine.
[41] Một nhánh thứ yếu của những mantram này liên quan đến lá lách và việc kiểm soát các lưu chất prana nhằm đem lại sức khoẻ, tiếp sinh lực và tác động đến lửa ở đáy cột sống.
[42] Mantrams that work on the matter of the mental plane, on one or other of its two main divisions,
[42] Những mantram tác động lên vật chất của cõi trí, lên một trong hai phân khu chính của cõi này,
Oh, goodness, there's just so many. So, for the moment, an admission that I despair of ascertaining exactly which three he means by the three types of mantras. But I guess maybe it's sufficient for us to go over this again, and those with a real attention to outline detail can find it. So, in addition, there will be, for these three types of mantras, another to bring about their merging and blending, which is probably the synthetic state.
Ôi, có quá nhiều loại. Vì vậy, lúc này tôi phải thừa nhận rằng mình không còn hy vọng xác định chính xác Ngài muốn nói đến ba loại nào qua cụm từ ba loại mantram. Nhưng tôi nghĩ có lẽ chúng ta chỉ cần xem lại phần này, và những ai thật sự chú ý đến các chi tiết trong dàn ý có thể tìm ra. Ngoài ra, đối với ba loại mantram này, sẽ có một loại khác tạo nên sự hòa nhập và hòa quyện của chúng, có lẽ đó là trạng thái tổng hợp.
So now, what do we have in fact? And this seems to be an elaboration on the three—maybe a diversification. So, mantras for kundalini, arouse it in the right manner. I'm just going to note them, and then maybe we can get order out of it at long last. So the kundalini goes through the centers in the proper manner, and we've been told that triangular ascent, or triangular vivification, is determined pretty much by the Monadic ray—with the tendency always for the third aspect to be stimulated first. But for the second ray Monadic type, the second aspect point has just about an equal rapidity of unfoldment. And for the first aspect type, naturally the first aspect will be undertaken most quickly, along with the third aspect. But love is more difficult for that type; knowledge more difficult, perhaps, for the second aspect type; and maybe will more difficult for the third aspect type.
Giờ đây, thực tế chúng ta có gì? Điều này dường như là sự triển khai về ba loại ấy—có lẽ là sự phân nhánh. Vậy, các mantram dành cho kundalini, khơi dậy nó đúng cách. Tôi sẽ chỉ ghi lại chúng, rồi có lẽ cuối cùng chúng ta sẽ tìm được trật tự trong đó. Kundalini đi qua các trung tâm đúng cách, và chúng ta đã được cho biết rằng sự thăng lên theo tam giác, hay sự tiếp sinh lực theo tam giác, phần lớn do cung chân thần quyết định—với khuynh hướng luôn kích thích phương diện thứ ba trước tiên. Nhưng đối với người có cung chân thần là cung hai, điểm thuộc phương diện thứ hai có tốc độ khai mở gần như tương đương. Còn đối với người thuộc phương diện thứ nhất, đương nhiên phương diện thứ nhất sẽ được thúc đẩy nhanh nhất, cùng với phương diện thứ ba. Nhưng tình thương khó hơn đối với loại người này; có lẽ tri thức khó hơn đối với người thuộc phương diện thứ hai; và có lẽ ý chí khó hơn đối với người thuộc phương diện thứ ba.
A secondary branch of these mantrams deals with the spleen, and the control of the pranic fluids for the purpose of health, for vitalisation, and for affecting the fire at the base of the spine.
Một nhánh thứ yếu của các mantram này đề cập đến lá lách và việc kiểm soát các lưu chất prana nhằm duy trì sức khỏe, tiếp sinh lực và tác động đến lửa ở đáy cột sống.
So these seem to be related to the fires of kundalini.
Vậy các mantram này dường như liên quan đến những ngọn lửa của kundalini.
Mantrams that work on the matter of the mental plane, on one or other of its two main divisions,
Các mantram tác động lên vật chất của cõi trí, trên một trong hai phân khu chính của cõi này,
[43] —abstract and concrete,—and which work there in a twofold manner, producing an increased capacity to think, wield or manipulate mental matter, and, acting as a stimulant to the causal body, fit it more rapidly as a vehicle of consciousness, and prepare it for the final disintegration
[43] —trừu tượng và cụ thể,—và tác động tại đó theo cách nhị phân, làm gia tăng khả năng tư duy, vận dụng hay điều khiển vật chất trí tuệ; đồng thời, với vai trò kích thích thể nguyên nhân, chúng giúp thể này nhanh chóng trở nên thích hợp hơn để làm hiện thể của tâm thức, và chuẩn bị cho nó trải qua sự tan rã cuối cùng do lửa thực hiện.
So he seems to be adding mantrams that are related to the three divisions that we have undertaken—maybe quaternary, triad, and fifth principle. However, there is not perfect order, at least in my mind yet, about how to bring all of this together. So: matter of the mental plane; and then here, mantrams for the spleen and vitalization; and here, the first one, mantrams that affect the kundalini in general. The kundalini kind of represents the first aspect of the third aspect. Maybe the spleen and vitalization represent more the second aspect, and mantrams for the mental plane more the third aspect, with its two main divisions. It just seems like it's possible to effect certain results in any layer of the human energy system by the use of the proper mantrams. So: increased capacity to think, and fit the causal body to become the vehicle of consciousness.
Vậy dường như Ngài đang bổ sung các mantram liên quan đến ba phân khu mà chúng ta đã nghiên cứu—có lẽ là bộ tứ, tam nguyên tinh thần và nguyên khí thứ năm. Tuy nhiên, ít nhất trong trí tuệ tôi lúc này, vẫn chưa có một trật tự hoàn chỉnh để kết hợp tất cả những điều này. Vậy: vật chất của cõi trí; rồi ở đây là các mantram dành cho lá lách và sự tiếp sinh lực; còn ở đây, loại thứ nhất, là các mantram tác động đến kundalini nói chung. Kundalini phần nào đại diện cho phương diện thứ nhất của phương diện thứ ba. Có lẽ lá lách và sự tiếp sinh lực đại diện nhiều hơn cho phương diện thứ hai, còn các mantram dành cho cõi trí đại diện nhiều hơn cho phương diện thứ ba, với hai phân khu chính của nó. Dường như việc sử dụng các mantram thích hợp có thể tạo ra những kết quả nhất định ở bất kỳ tầng nào trong hệ thống năng lượng của con người. Vậy: tăng khả năng suy nghĩ, và làm cho thể nguyên nhân trở nên thích hợp để trở thành hiện thể của tâm thức.
[44] Mantrams that evoke the God within, and work specifically on the Ego.
[44] Những mantram gợi lên Thượng đế bên trong và tác động riêng lên Chân ngã.
Now, let's just say: is the Ego considered to be the inner God, or are we talking about the monad? So basically he's breaking down—he's diversifying upon the three that he's given us. Is the Ego here considered the inner God? Well, you can consider the Ego the inner God, yes, or you can consider, finally, the monad the inner God.
Giờ đây, Chân ngã có được xem là Thượng đế bên trong không, hay chúng ta đang nói về chân thần? Về cơ bản, Ngài đang phân chia—Ngài đang phân nhánh từ ba loại đã cho chúng ta. Ở đây, Chân ngã có được xem là Thượng đế bên trong không? Đúng, các bạn có thể xem Chân ngã là Thượng đế bên trong, hoặc cuối cùng có thể xem chân thần là Thượng đế bên trong.
[45] From thence they set up a strong vibration within the higher Triad, and so cause a downflow of the monadic force into the causal body.
[45] Từ đó, chúng tạo nên một [Page 187] rung động mạnh trong Tam nguyên tinh thần cao, và do vậy khiến mãnh lực chân thần tuôn xuống thể nguyên nhân.
[46] All these mantrams can be used separately,
[46] Tất cả những mantram này đều có thể sử dụng riêng rẽ và đạt được kết quả riêng của chúng.
So it seems pretty clear that he is speaking of the three fires as they relate to the quaternary, to the triad, and to the fifth principle. So let's just say this section is definitely related to the foregoing on the three fires of the quaternary, the triad, and the fifth principle. He's diversified them, and says you can use them separately and they each achieve their own results, or you can blend them in some manner—or you can blend the three approaches, I think, is a way of saying it. So it seems that we are in the realm of quaternary, triad, and fifth principle. It seems so.
Vậy dường như khá rõ rằng Ngài đang nói về ba ngọn lửa trong mối liên hệ với bộ tứ, tam nguyên tinh thần và nguyên khí thứ năm. Có thể nói phần này chắc chắn liên quan đến phần trước về ba ngọn lửa của bộ tứ, tam nguyên tinh thần và nguyên khí thứ năm. Ngài đã phân nhánh chúng, và nói rằng các bạn có thể sử dụng riêng rẽ, mỗi loại đều tạo ra kết quả riêng, hoặc có thể hòa quyện chúng theo một cách nào đó—hay có thể hòa quyện ba cách tiếp cận; tôi nghĩ diễn đạt như vậy cũng được. Vậy dường như chúng ta đang ở trong phạm vi của bộ tứ, tam nguyên tinh thần và nguyên khí thứ năm. Có vẻ là như thế.
Now, he seems to be moving on to something else. He's been talking about five divisions of fire, and then three divisions of fire, and now something further. So now he begins—or continues—detailing certain types of mantrams. Really, what he's doing is letting us know these mantrams exist, and approximately where they work, and maybe a little bit of what they do, but no further, no further. He just seeks, I think, to instill in us some kind of realization about the wondrous applicability of this field of mantrams, and tries to inspire us to fit ourselves to use those of such mantrams which are really useful to us as servers of the Plan.
Giờ đây, dường như Ngài đang chuyển sang điều khác. Ngài đã nói về năm phân khu của lửa, rồi ba phân khu của lửa, và giờ là một điều tiếp theo. Ngài bắt đầu—hay tiếp tục—trình bày chi tiết một số loại mantram. Thực ra, điều Ngài đang làm là cho chúng ta biết những mantram này tồn tại, chúng tác động ở đâu một cách khái quát, và có lẽ đôi chút về tác dụng của chúng, nhưng không đi xa hơn, không đi xa hơn. Tôi nghĩ Ngài chỉ tìm cách khơi dậy trong chúng ta một sự nhận biết nào đó về khả năng ứng dụng kỳ diệu của lĩnh vực mantram này, và cố gắng truyền cảm hứng để chúng ta tự rèn luyện cho thích hợp với việc sử dụng những mantram thật sự hữu ích cho chúng ta trong vai trò những người phụng sự Thiên Cơ.
Now, we can see that in the new schools, I'm sure, this book will be studied. Why not? I mean, it'll be maybe a few hundred years old, but that's nothing when information is laid down which has not been able to be expanded, elaborated, because important keys were missing.
Giờ đây, tôi chắc rằng chúng ta có thể thấy cuốn sách này sẽ được nghiên cứu trong các trường học mới. Tại sao không? Ý tôi là, khi ấy sách có lẽ đã vài trăm năm tuổi, nhưng điều đó chẳng đáng kể khi những thông tin đã được ghi lại vẫn chưa thể mở rộng, triển khai, vì còn thiếu những chìa khóa quan trọng.
So he does sum up. First he sums up the three fires—first he has us note three fires—and then speaks of diverse mantrams associated with each fire. Then the transition point from what he calls the five fires of the macrocosm and microcosm. This is important, how he progresses. And all of this can be found in the departments: the departments in the solar system, and the departments in the microcosm. So we are dealing with five departments through which fire demonstrates itself, both in the macrocosm and the microcosm. So I think that begins to make sense out of it all. It's intricate, and sometimes he says it's obscure. And at least to be aware that there is obscurity, and that we cannot solve it all, but that we can be acquainted with the general outline of that which has to be solved, is of value to us.
Ngài quả có tổng kết. Trước hết, Ngài tổng kết ba ngọn lửa—đầu tiên, Ngài yêu cầu chúng ta lưu ý ba ngọn lửa—rồi nói về những mantram khác nhau gắn với mỗi ngọn lửa. Tiếp đó là điểm chuyển tiếp từ điều Ngài gọi là năm ngọn lửa của đại thiên địa và tiểu thiên địa. Cách Ngài triển khai như vậy rất quan trọng. Và tất cả những điều này đều có thể tìm thấy trong các ban: các ban trong hệ mặt trời và các ban trong tiểu thiên địa. Như vậy, chúng ta đang bàn đến năm ban mà qua đó lửa biểu hiện, cả trong đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Tôi nghĩ điều đó bắt đầu giúp toàn bộ vấn đề trở nên có nghĩa. Vấn đề rất phức tạp, và đôi khi Ngài nói rằng nó khó hiểu. Ít nhất, việc nhận biết rằng có những điều khó hiểu, rằng chúng ta không thể giải quyết tất cả, nhưng có thể làm quen với những nét khái quát của điều cần giải quyết, cũng có giá trị đối với chúng ta.
Now, there's quite a bit more—quite a bit. This takes us to page 190, and already we're on page 187. Well, things go somewhat slowly.
Bây giờ, vẫn còn khá nhiều—khá nhiều nữa. Phần này đưa chúng ta đến trang 190, mà hiện chúng ta đã ở trang 187. Mọi việc tiến triển hơi chậm.
[47] There are seven great mantrams, one for each ray, that (when used by the Master or by a member of the Hierarchy) combine all the three effects.
[47] Có bảy mantram lớn, mỗi cung một mantram, kết hợp cả ba tác động khi Chân sư hay một thành viên của Thánh đoàn sử dụng chúng.
So he's heading for a description of the synthesis which we want to understand.
Như vậy, Ngài đang hướng tới việc mô tả sự tổng hợp mà chúng ta muốn thấu hiểu.
[48] They arouse kundalini, they work on the causal vehicle on the mental plane, and they set up a vibration in the Triad
[48] Chúng khơi dậy kundalini, tác động lên hiện thể nguyên nhân trên cõi trí và tạo nên một rung động trong Tam nguyên tinh thần
And let us say, here the proper order is given. And we see that the fifth principle fires do refer to the causal body, Egoic Lotus.
Ở đây, trình tự đúng đã được đưa ra. Và chúng ta thấy rằng các ngọn lửa của nguyên khí thứ năm quả có chỉ thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã.
Well, he says that awe is a quality related somewhat to fear, and it's part of the worship process. And he warns us away from it, telling us, for instance, that the Lords of Liberation are repelled, or not interested at all in being worshipped with the accompaniments of awe and fear and so forth. But I do find this information, I must say, awesome. A great respect for the detailed, effective complexity of occultism arises in my mind, and I suppose in yours too. I don't see how any of us as students over a number of years can have any other reaction but some form of astonishment, amazement at the intricacy—effective intricacy—of the system, or intricate effectiveness.
Ngài nói rằng lòng kính sợ là một phẩm tính có phần liên quan đến sợ hãi, và là một phần của tiến trình thờ phụng. Ngài cảnh báo chúng ta tránh điều đó, chẳng hạn cho chúng ta biết rằng các Đấng Giải Thoát xa lánh, hoặc hoàn toàn không quan tâm đến việc được thờ phụng cùng với lòng kính sợ, nỗi sợ hãi, v.v. Nhưng phải nói rằng Tôi thấy thông tin này thật đáng kinh ngạc. Trong trí Tôi nảy sinh một lòng kính trọng sâu sắc đối với tính phức tạp chi tiết và hiệu quả của huyền bí học, và Tôi cho rằng trong trí các bạn cũng vậy. Tôi không thấy làm sao bất kỳ ai trong chúng ta, sau nhiều năm làm đạo sinh, lại có thể phản ứng khác ngoài một dạng kinh ngạc, sửng sốt trước tính tinh vi—tính tinh vi hữu hiệu—của hệ thống, hay hiệu quả tinh vi ấy.
Seven great mantrams: They arouse kundalini, they work on the causal vehicle—that's the mental fifth principle—and they set up a vibration in the Triad,
Bảy mantram vĩ đại: Chúng khơi dậy kundalini, tác động lên hiện thể nguyên nhân—đó là nguyên khí trí tuệ thứ năm—và thiết lập một rung động trong Tam nguyên tinh thần,
[49] and thus effect an at-one-ment of the lower, the higher and the fifth principle.
[49] và do đó thực hiện sự hợp nhất giữa phần thấp, phần cao và nguyên khí thứ năm.
So yes, yes, the fifth principle does refer to the causal body, Egoic Lotus. Sometimes the order is given differently, and then later it gets straightened out.
Như vậy, đúng vậy, nguyên khí thứ năm quả có chỉ thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã. Đôi khi trình tự được đưa ra theo cách khác, rồi về sau mới được chỉnh lại.
[50] This is a reflection of what occurred at the coming of the Lords of Flame. It leads to complete unification, and marks the man out henceforth as one in whom love demonstrates in action by the aid of illuminated mind.
[50] Đây là sự phản ánh điều đã xảy ra khi các Chúa Tể của Ngọn Lửa giáng lâm. Nó dẫn đến sự hợp nhất hoàn toàn, và từ đó xác định con người là một người mà tình thương biểu hiện trong hành động nhờ sự trợ giúp của trí tuệ được soi sáng.
And this is the man cultivated by the Solar Angel at individualization, and in succeeding billions of years. So in the microcosm, a middle principle was established for some of the more advanced human beings, or animal men, of the time, and it brought the positive and negative electricity together. Positive and negative electricity were brought together, and we became one of those in whom eventually the glory of the Christ principle would shine forth at the Transfiguration.
Và đây là con người mà Thái dương Thiên Thần vun bồi vào lúc biệt ngã hóa và trong hàng tỷ năm tiếp theo. Như vậy, trong tiểu thiên địa, một nguyên khí trung gian đã được thiết lập cho một số con người, hay người thú, tiến bộ hơn vào thời ấy, và nguyên khí này kết hợp điện dương với điện âm. Điện dương và điện âm đã được kết hợp, và chúng ta trở thành những người mà nơi họ, cuối cùng vinh quang của nguyên khí Christ sẽ tỏa sáng trong cuộc Biến hình.
He seems to be now listing things, and we have a great diversity of mantrams.
Dường như lúc này Ngài đang liệt kê các điều, và chúng ta có rất nhiều loại mantram.
[51] These are the four most important mantrams as regards individual evolution and development, and are well-known to all those who train pupils for initiation.
[51] Đây là bốn mantram quan trọng nhất đối với sự tiến hoá và phát triển cá nhân; tất cả những ai huấn luyện môn sinh để điểm đạo đều biết rõ chúng.
So Master DK is one of the knowers of this. And so what are they? Of the quaternary; of the causal body, Egoic Lotus, via the fifth principle; and of the triad; and also the ray mantrams, which bring everything together and blend all three. So these are the four most important mantrams as far as the individual is concerned, because they seem to link up all aspects of the human being. And eventually a synthesis has to be created—a unification; that is the objective. And then again, finally, we have that body of fire that we're talking about—this time I get it correctly—166 and 167 of A Treatise on Cosmic Fire.
Như vậy, Chân sư DK là một trong những thức giả về điều này. Vậy chúng là gì? Các mantram của bộ tứ; của thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã, thông qua nguyên khí thứ năm; của Tam nguyên tinh thần; và cả các mantram của cung, kết hợp mọi thứ và hòa nhập cả ba. Đây là bốn mantram quan trọng nhất đối với cá nhân, vì dường như chúng liên kết mọi phương diện của con người. Và cuối cùng phải tạo nên một sự tổng hợp—một sự hợp nhất; đó là mục tiêu. Rồi sau cùng, một lần nữa, chúng ta có thân thể bằng lửa mà chúng ta đang nói đến—lần này Tôi dẫn đúng—trang 166 và 167 của Luận về Lửa Vũ Trụ.
[52] But
[52] Nhưng
says the Tibetan,
Chân sư Tây Tạng nói,
[53] by themselves, even if discovered by the unready, they could accomplish little, for their use must be accompanied by the power that comes from the application of the Rod of Initiation.
[53] chỉ riêng chúng, ngay cả khi người chưa sẵn sàng khám phá ra, cũng không thể thành tựu được bao nhiêu, vì việc sử dụng chúng phải đi kèm với quyền năng đến từ việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo.
So maybe only those of a particular initiatory status can really use them, although there are other mantrams which, if used—calling elementals and lower devas—can be effective in a disastrous way, we've been told.
Như vậy, có lẽ chỉ những người đạt một cấp độ điểm đạo nhất định mới thực sự có thể sử dụng chúng, dù chúng ta đã được cho biết rằng có những mantram khác mà khi sử dụng—để triệu gọi các hành khí và thiên thần thấp—có thể gây ra tác dụng tai hại.
[54] This Rod, through its surmounting diamond,
[54] Thần Trượng này, qua viên kim cương trên đỉnh,
and so we ask, is this the Flaming Diamond of true initiation?
và vì vậy chúng ta hỏi: đây có phải là Kim Cương Rực Lửa của điểm đạo đích thực không?
[55] focuses the three fires in the same way that a burning glass reacts to the sun, and causes a conflagration.
[55] hội tụ ba ngọn lửa giống như kính hội tụ gom ánh mặt trời, và tạo nên một sự bùng cháy dữ dội.
Well, Master Morya tells us—he's using it in a different way—to beware of the conflagration of the centers. Apparently it's an out-of-control condition that leads to great destruction. And we have heard of that strange phenomenon called spontaneous human combustion. You do see that people have been burnt up, basically, and not much remains of them. I wonder if it's through this other use of what is called the conflagration of the centers.
Chân sư Morya nói với chúng ta—Ngài dùng từ này theo một nghĩa khác—hãy đề phòng sự bùng cháy dữ dội của các trung tâm. Dường như đó là một tình trạng mất kiểm soát dẫn đến sự hủy hoại lớn. Và chúng ta đã nghe nói về hiện tượng kỳ lạ gọi là người tự bốc cháy. Các bạn quả có thấy những người về cơ bản đã cháy rụi, không còn lại bao nhiêu. Tôi tự hỏi liệu điều đó có xảy ra qua biểu hiện khác này của cái gọi là sự bùng cháy dữ dội của các trung tâm hay không.
[56] I have here given you a lot of information in very few words. The matter is much condensed.
[56] Ở đây, Tôi đã cung cấp cho các bạn nhiều thông tin bằng rất ít lời. Nội dung đã được cô đọng rất nhiều.
I admire that—the ability to condense much into little. It seems to go with first ray.
Tôi ngưỡng mộ điều đó—khả năng cô đọng nhiều điều trong ít lời. Dường như khả năng ấy đi cùng với cung một.
[57] It has a special significance for the man who nears the Path of Initiation.
[57] Nó có thâm nghĩa đặc biệt đối với người đang tiến gần Con Đường Điểm Đạo.
Real initiation, I guess. And I think we're dealing with—probably he means the third degree.
Tôi đoán là điểm đạo đích thực. Và Tôi nghĩ chúng ta đang bàn đến—có lẽ Ngài muốn nói cấp độ thứ ba.
[58] Ponder carefully on this which is imparted, for, by brooding upon it in the silence of the heart,
[58] Hãy suy ngẫm kỹ về điều đã truyền đạt này, vì khi trầm tư về nó trong sự im lặng của trái tim,
and he's not just using words there; the heart, in a way, is the causal body—
và ở đây Ngài không chỉ dùng lời nói; theo một nghĩa nào đó, trái tim là thể nguyên nhân—
[59] light may come, and the inner fire glow with greater heat.
[59] ánh sáng có thể đến, và lửa bên trong bừng sáng với sức nóng lớn hơn.
brooding upon it—invoking, I suppose, as well, the intuition, or rather evoking it. First you call, and that's the invocation, and then the response comes; that's the evocation. a lot of information in very few words.
trầm tư về nó—Tôi cho rằng cũng là khẩn cầu trực giác, hay đúng hơn là gợi lên trực giác. Trước hết các bạn kêu gọi, và đó là khẩn cầu, rồi sự đáp ứng đến; đó là gợi lên. rất nhiều thông tin chỉ trong rất ít lời.
When it comes to it, there are sections on the three Rods of Initiation, but the one that particularly connects with the diamond is the Flaming Diamond rod. And let's just see that—yes, I'm in the right place. That's important. And let's just see here: rod, Bodhisattva. There is the Rod of the Bodhisattva. Let's see if we can find any information about it. Does it have a sapphire, or is it a diamond? One out of eight—and maybe there's some description. It's hidden in “the heart of the wisdom,” that is, in Shamballa. Yes—no, it is:
Về vấn đề này, có những phần nói về ba Thần Trượng Điểm đạo, nhưng thần trượng đặc biệt gắn với viên kim cương là thần trượng Kim Cương Rực Lửa. Hãy xem điều đó—đúng, Tôi đang ở đúng chỗ. Điều đó quan trọng. Và hãy xem ở đây: thần trượng, Đức Bồ Tát. Có Thần Trượng của Đức Bồ Tát. Hãy xem chúng ta có thể tìm được thông tin nào về nó không. Nó có một viên lam ngọc, hay là một viên kim cương? Một trong tám kết quả—và có lẽ có phần mô tả nào đó. Nó được cất giấu trong “trái tim của minh triết”, tức là tại Shamballa. Đúng—không, đó là:
surmounted by a diamond which is not as great a diamond as the “Flaming Diamond” of the first Kumara, but is of rare beauty. At the time of initiation when the electrical forces are tapped, this diamond revolves on its axis, picturing the rotary nature of atomic matter. (TCF, tr. 1035)
trên đỉnh gắn một viên kim cương không lớn bằng “Kim Cương Rực Lửa” của Kumara thứ nhất, nhưng có vẻ đẹp hiếm có. Vào lúc điểm đạo, khi các mãnh lực điện được huy động, viên kim cương này quay quanh trục của nó, thể hiện bản chất quay của vật chất nguyên tử. (Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 1035)
So it's good we looked that up, because it is a diamond, and so maybe DK may be referring also to this rod. Then he goes on and speaks of the central Rod, or Serpent, and of the Flaming Diamond. It's amazing, the design of these inner instruments.
Thật tốt là chúng ta đã tra cứu điều đó, vì đó là một viên kim cương, và có lẽ Chân sư DK cũng đang nói đến thần trượng này. Sau đó Ngài tiếp tục nói về Thần Trượng trung tâm, hay Con Rắn, và về Kim Cương Rực Lửa. Thiết kế của những công cụ bên trong này thật đáng kinh ngạc.
I think I'll try to finish this. If I can—it'll be a long program—but I'll do what I can.
Tôi nghĩ Tôi sẽ cố gắng hoàn tất phần này. Nếu có thể—chương trình sẽ dài—nhưng Tôi sẽ làm hết khả năng.
[60] Other mantrams connected with fire can be further enumerated. There are two groups that are contacted by the use of certain rhythmic sounds.
[60] Có thể liệt kê thêm những mantram khác liên quan đến lửa. Có hai nhóm mà người ta tiếp xúc thông qua việc sử dụng một số âm thanh có nhịp điệu. [Page 188]
And sounds—not necessarily words, as we usually use words. So that adds to it an additional degree of complexity. And obviously we want to be under right instruction if we're to be able to handle any of this in the right way. He's just listing these things so we will have a more completed point of view—not that we can really do anything about it, because the power of the Rod of Initiation is required. And maybe in the initiation ceremony itself, the candidate is given that which he must pronounce or sound.
Và đó là âm thanh—không nhất thiết là từ ngữ như chúng ta thường dùng. Như vậy, điều đó làm tăng thêm một mức độ phức tạp. Và hiển nhiên, nếu muốn xử lý bất kỳ điều nào trong số này một cách đúng đắn, chúng ta cần có sự hướng dẫn đúng đắn. Ngài chỉ liệt kê những điều này để chúng ta có một quan điểm đầy đủ hơn—chứ không phải để chúng ta thực sự có thể làm gì với chúng, vì cần có quyền năng của Thần Trượng Điểm đạo. Và có lẽ ngay trong nghi lễ điểm đạo, ứng viên được trao điều mà y phải phát âm hoặc xướng lên.
[61] The fire elementals and their various hosts in the bowels of the earth, on the surface of the earth, and in the air above the earth.
[61] Các hành khí của lửa và những đoàn khác nhau của chúng trong lòng đất, trên mặt đất và trong không khí phía trên mặt đất.
So indeed, not only on the mental plane. He was talking about fire elementals before, and he was talking about their microcosmic correspondence—the elementals of the mental plane, particularly. But there are others, so deep in the bowels of the earth and in the air above the earth, and:
Quả vậy, không chỉ trên cõi trí. Trước đó Ngài đã nói về các hành khí của lửa, và đặc biệt nói về đối phần tương ứng của chúng trong tiểu thiên địa—các hành khí của cõi trí. Nhưng còn những hành khí khác, sâu trong lòng Trái Đất và trong không khí phía trên Trái Đất, và:
[62] The devas of the mental plane, who are essentially the devas of fire.
[62] Các thiên thần của cõi trí, về bản chất là các thiên thần của lửa.
So let's just say: contacted through rhythmic sounds. And obviously that's not going to be written down. That has to be communicated verbally—orally, somehow. So these are the two types that can be contacted through rhythmic sounds.
Như vậy: tiếp xúc thông qua những âm thanh có nhịp điệu. Và hiển nhiên, điều đó sẽ không được ghi lại bằng chữ viết. Nó phải được truyền đạt bằng lời—bằng miệng, theo cách nào đó. Đây là hai loại có thể tiếp xúc thông qua những âm thanh có nhịp điệu.
[63] With the mantrams affecting the elementals of fire there is nought to be said or imparted. They are, in many ways, the most dangerous and the most powerful of the elementals who attend to the earth economy. For one thing, they far outnumber all the other elementals, and are found on every plane from the highest to the lowest.
[63] Về những mantram tác động đến các hành khí của lửa, không có gì để nói hay truyền đạt. Theo nhiều phương diện, chúng là những hành khí nguy hiểm nhất và mạnh mẽ nhất trong số các hành khí đảm trách hoạt động của trái đất. Trước hết, số lượng chúng vượt xa tất cả các hành khí khác, và chúng hiện diện trên mọi cõi, từ cao nhất đến thấp nhất.
So elementals found on every plane, and not just the mental plane, of course.
Như vậy, các hành khí hiện diện trên mọi cõi, và tất nhiên không chỉ trên cõi trí.
[64] The elementals of water or earth are found only in certain localities or spheres in the solar system, whilst the next most numerous elementals are those of air.
[64] Các hành khí của nước hay đất chỉ hiện diện tại một số địa điểm hoặc khối cầu trong hệ mặt trời, còn nhóm hành khí đông đảo thứ hai là các hành khí của khí.
So water and… see, we don't have—well, eventually we will not have dense physical planets; they will be etheric in nature. But we'll just have to say there are probably certain spheres in the solar system where elementals of water and earth can be found. So he gives us nothing there, except the information that they are numerous and dangerous, and earlier, that in Atlantis the mantras for calling these elementals were common knowledge.
Như vậy, nước và… các bạn thấy đấy, chúng ta không có—rồi cuối cùng chúng ta sẽ không còn những hành tinh hồng trần đậm đặc; chúng sẽ có bản chất dĩ thái. Nhưng chúng ta chỉ có thể nói rằng có lẽ có những khối cầu nhất định trong hệ mặt trời nơi các hành khí của nước và đất hiện diện. Vì vậy, ở đây Ngài không cho chúng ta điều gì ngoài thông tin rằng chúng đông đảo và nguy hiểm, và trước đó là thông tin rằng tại Atlantis, các mantram triệu gọi những hành khí này là kiến thức phổ biến.
So in order of quantity—of, what shall we say, numerousness—let's just say… no: fire, air, earth, and water, in the order of their numerousness. Maybe there's a better word. So the elementals attend to the earth economy, and they are found in the earth and above the earth. The fire elementals are found in all these places. So we might say the Agnichaitans are included, and also those of the mental plane. And do they have anything to do with water? The surface of the earth—but certainly deep in the bowels of the earth the Agnichaitans can be found. For example, volcanoes.
Như vậy, theo thứ tự số lượng—hay mức độ đông đảo—không, là: lửa, khí, đất và nước, theo thứ tự mức độ đông đảo của chúng. Có lẽ có một từ hay hơn. Các hành khí tham gia vận hành Trái Đất, và chúng hiện diện trong Trái Đất cũng như phía trên Trái Đất. Các hành khí của lửa hiện diện ở tất cả những nơi này. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng bao gồm cả các Agnichaitan và những hành khí của cõi trí. Và chúng có liên quan gì đến nước không? Bề mặt Trái Đất—nhưng chắc chắn có thể tìm thấy các Agnichaitan sâu trong lòng Trái Đất. Chẳng hạn, các núi lửa.
[65] Mantrams calling them, controlling and dismissing them,
[65] Những mantram triệu gọi, kiểm soát và giải tán chúng
Oh, there it is again.
Lại thấy điều đó ở đây.
[66] were in common use among the Atlanteans. The dangers aroused, and the menace stalking the land through the indiscriminate use of elementals, so disturbed the accurate working of the logoic plans,
[66] từng được sử dụng phổ biến trong dân Atlantis. Những nguy hiểm phát sinh và mối đe dọa lan khắp vùng đất do việc sử dụng hành khí bừa bãi đã gây xáo trộn nghiêm trọng cho sự vận hành chính xác của các Thiên Cơ của Thượng đế,
Now, maybe—maybe even the plans of the Solar Logos. When that word logoic is used, we don't know. so disturbed the accurate working of the logoic plans,
Có lẽ—thậm chí có lẽ là các kế hoạch của Thái dương Thượng đế. Khi dùng từ “của Thượng đế” ấy, chúng ta không biết là Thượng đế nào. đã làm rối loạn nghiêm trọng sự vận hành chính xác của các kế hoạch của Thượng đế,
[67] and so displeased the Guides of the race that the knowledge was withdrawn.
[67] và khiến các Đấng Hướng Đạo của nhân loại bất bình đến mức tri thức ấy bị thu hồi.
And we discussed how that can happen, even this: through neglect and not repeating it, and allowing those who have it to die away and then not renewing it.
Và chúng ta đã bàn về cách điều đó có thể xảy ra, ngay cả bằng cách này: qua sự lãng quên, không nhắc lại, để những người nắm giữ kiến thức ấy qua đời rồi không khôi phục nó.
[68] The Atlantean root race passed away through disasters by water, by floods, by submergings;
[68] Giống dân gốc Atlantis đã diệt vong qua những tai họa do nước, do lũ lụt, do các vùng đất chìm ngập;
Probably many of us have memories of those things deep, deep down in the subconscious.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta có ký ức về những điều ấy nằm rất sâu, rất sâu trong tiềm thức.
[69] when you remember that water is the natural enemy of fire, and that the two groups of elementals have no point of at-one-ment at this stage, you may be able to understand an interesting point about the Atlantean cataclysms.
[69] khi nhớ rằng nước là kẻ thù tự nhiên của lửa, và rằng ở giai đoạn này, hai nhóm hành khí không có điểm hợp nhất nào, các bạn có thể thấu hiểu một điều lý thú về những đại biến động của Atlantis.
What occurs to me is steam, and glamour, and quenching of even higher fires. That occurs to me, but we'd have to ponder on it, obviously. Almost all human beings who are present on Earth now have passed through those Atlantean cataclysms. Maybe a few have come in in the Aryan race for special purposes, but during the Atlantean race the moon chain types came in, and also the Lemurian individualizers reached a degree of maturity, and the Brothers of Darkness from the previous solar system were present. Must have been quite a time.
Điều hiện lên trong trí tôi là hơi nước, ảo cảm và sự dập tắt cả những ngọn lửa cao hơn. Đó là điều tôi nghĩ đến, nhưng rõ ràng chúng ta sẽ phải suy ngẫm về nó. Hầu như tất cả những người hiện có mặt trên Trái Đất đều đã trải qua những đại biến động Atlantis ấy. Có lẽ một số ít đã đến trong Giống dân gốc Arya vì những mục đích đặc biệt, nhưng trong Giống dân gốc Atlantis, những người thuộc Dãy Mặt Trăng đã đến, và những người biệt ngã hóa trong thời Lemuria cũng đã đạt đến một mức độ trưởng thành; các Huynh Đệ Bóng Tối từ hệ mặt trời trước cũng có mặt. Hẳn đó là một thời kỳ rất dữ dội.
[70] Mantrams calling the fire devas are equally well guarded, not only because of the dangers involved but because of the obstructions in time that are caused when these devas are heedlessly called and held by mantric charm from pursuing their necessary vocations.
[70] Những mantram triệu gọi các thiên thần của lửa cũng được bảo vệ nghiêm ngặt như vậy, không chỉ vì những nguy hiểm liên quan mà còn vì những trở ngại về thời gian phát sinh khi người ta khinh suất triệu gọi các thiên thần này và dùng sức mê hoặc của mantram để giữ Các Ngài lại, ngăn Các Ngài thực hiện những công việc cần thiết.
Their tasks. A charm holds one. And when we are charmed by someone, we are fatally attracted to that person, let us say. The charm has to be broken. And the word harm is right there in charm. “You look so charming,” it is said. “You look enthralling,” it is said. “You look captivating,” it is said. Those words do not necessarily represent something positive. So we can interfere with the Divine Plan by needless calling upon certain devas just to prove that we can. And so at least let us do no harm here, and not be in the way heedlessly. In other words, we do not heed the consequences; we simply call. Or we call for personal reasons. So I want to say that we can call heedlessly, or for strictly personal, material reasons, not justifiable.
Những nhiệm vụ của Các Ngài. Một sức mê hoặc giữ người ta lại. Và khi một ai đó mê hoặc chúng ta, chúng ta bị thu hút đến mức nguy hại về phía người ấy. Cần phá bỏ sức mê hoặc đó. Ngay trong từ chỉ sự mê hoặc cũng có từ chỉ sự tổn hại. Người ta nói: “Bạn trông thật quyến rũ.” Người ta nói: “Bạn trông thật mê hồn.” Người ta nói: “Bạn trông thật cuốn hút.” Những từ ấy không nhất thiết biểu thị điều gì tích cực. Vì vậy, chúng ta có thể cản trở Thiên Cơ qua việc không cần thiết phải triệu gọi một số thiên thần, chỉ để chứng tỏ rằng mình làm được. Do đó, ít nhất chúng ta hãy đừng gây tổn hại ở đây, và đừng bất cẩn gây cản trở. Nói cách khác, chúng ta không lưu tâm đến hậu quả; chúng ta chỉ cứ triệu gọi. Hoặc chúng ta triệu gọi vì những lý do cá nhân. Vì vậy, tôi muốn nói rằng chúng ta có thể triệu gọi một cách bất cẩn, hoặc vì những lý do thuần túy cá nhân, vật chất, không chính đáng.
[71] Under these two groups of mantric forms will be found many lesser groups which work specifically with different bands of elementals and devas.
[71] Trong hai nhóm hình thức mantram này có nhiều nhóm nhỏ hơn, hoạt động riêng với những đoàn hành khí và thiên thần khác nhau. [Page 189]
Well, wouldn't you know it? I mean, there's got to be a degree of complexity in any of these outlines. And DK, as he says, is presenting this to us briefly—a lot of information packed into a brief form.
Có gì đáng ngạc nhiên đâu? Ý tôi là, bất kỳ đề cương nào trong số này cũng phải có một mức độ phức tạp nhất định. Và như Chân sư DK nói, Ngài đang trình bày điều này cho chúng ta một cách ngắn gọn—rất nhiều thông tin được cô đọng trong một hình thức ngắn gọn.
We're slowly getting there—page 189 now.
Chúng ta đang từ từ tiến đến đó—giờ là trang 189.
[72] We have here enumerated six groups of mantrams connected with fire.
[72] Ở đây, chúng ta đã liệt kê sáu nhóm mantram liên quan đến lửa.
And we can go back and count them up, see what they were.
Và chúng ta có thể quay lại đếm, xem đó là những nhóm nào.
[73] There are still a few more which I might briefly enumerate.
[73] Vẫn còn một vài nhóm nữa mà Tôi có thể liệt kê ngắn gọn.
Well, we've had five divisions of—what does he call it?—departments, and then certain mantrams that bring all the mantrams connected with those departments together. So however he gets the six, we can review how he counts the six: six groups of mantrams connected with fire. At least we have a five and a one somewhere, and we also have a three and a one somewhere. But at least we know that all of these mantrams he's talking about are in this final section on fire that we've been speaking of. Before that he mentions many more. So somehow, when somebody has the time, they can bring together all of these mantrams—types of mantrams—he has mentioned. It just seems like the work of mantram in general is part of the meditative summoning process. And he's playing with fire, but then he's being more specific in this last section that we are studying.
Chúng ta đã có năm phân bộ—Ngài gọi là gì nhỉ?—các ban, rồi một số mantram kết hợp tất cả những mantram liên quan đến các ban ấy. Vì vậy, dù Ngài xác định con số sáu như thế nào, chúng ta cũng có thể xem lại cách Ngài đếm sáu nhóm ấy: sáu nhóm mantram liên quan đến lửa. Ít nhất, ở đâu đó chúng ta có một nhóm năm và một nhóm một, và cũng có một nhóm ba và một nhóm một. Nhưng ít nhất chúng ta biết rằng tất cả những mantram Ngài đang nói đến đều nằm trong phần cuối về lửa mà chúng ta đã bàn. Trước đó, Ngài còn đề cập đến nhiều mantram khác. Vì vậy, khi ai đó có thời gian, họ có thể tập hợp tất cả những mantram—những loại mantram—Ngài đã nhắc đến. Dường như công việc với mantram nói chung là một phần của tiến trình triệu gọi qua tham thiền. Và Ngài đang làm việc với lửa, nhưng trong phần cuối mà chúng ta đang nghiên cứu, Ngài trình bày cụ thể hơn.
[74] Purificatory mantrams that awaken a fire that purifies, and burns on one of the three lower planes.
[74] Những mantram thanh luyện khơi dậy một ngọn lửa có tác dụng thanh luyện và cháy trên một trong ba cõi thấp.
And we might say that this could be part of the burning ground experience.
Và chúng ta có thể nói rằng điều này có thể là một phần của trải nghiệm vùng đất cháy.
[75] This is effected through the activity of elementals, controlled by fire devas, and under the direct guidance of an initiate or disciple for some specific purificatory end. The end may be to cleanse some one of the bodies or to purify a locality, a house or a temple.
[75] Điều này diễn ra qua hoạt động của các hành khí, dưới sự kiểm soát của các thiên thần của lửa và sự hướng dẫn trực tiếp của một điểm đạo đồ hay đệ tử, nhằm một mục đích thanh luyện cụ thể. Mục đích có thể là làm sạch một trong các thể của con người hoặc thanh luyện một địa điểm, một ngôi nhà hay một ngôi đền.
So, Purificatory mantrams that awaken a fire that purifies. It's just an overwhelming amount of possibilities here—at least at our present stage we consider the number of possibilities overwhelming. But it's not only for the human being; it's for the locality, for the home, for the temple. It seems exorcismic, somehow.
Vậy, Các mantram thanh lọc đánh thức một ngọn lửa có tác dụng thanh lọc. Ở đây có quá nhiều khả năng khiến người ta choáng ngợp—ít nhất ở giai đoạn hiện tại, chúng ta thấy số lượng khả năng ấy thật choáng ngợp. Nhưng điều này không chỉ dành cho con người; nó còn dành cho địa điểm, cho ngôi nhà, cho đền thờ. Theo một nghĩa nào đó, điều này dường như mang tính trừ tà.
Lately it's been interesting that there's been an article about how Pope Pius XII tried to exorcise Hitler, sensing that he was possessed, which is what DK basically tells us. And lately this idea of exorcism has come onto the front pages of the news feeds. So it is suspected—but for very different reasons—that the demons are at work. Unfortunately, it generally means possessing the ones one disagrees with. But these factors of obsession are real. And Master Morya tells us there has been an epidemic of obsession—he was writing in the late 20s, I think, in the 30s—an epidemic of obsession. And that certainly led to the possibility of the precipitation of the Second World War. We're also told that the entities obsessing Hitler and his evil gang abandoned them at the end, because they were of no more use, and they were just left basically as husks of their former selves—I'm using my own words here—no longer of any power, and all of them extremely psychologically damaged.
Gần đây, có một điều thú vị: một bài viết kể rằng Giáo hoàng Piô XII đã cố trừ tà cho Hitler, vì cảm thấy ông ta bị nhập, và về cơ bản đó cũng là điều Chân sư DK nói với chúng ta. Gần đây, ý tưởng trừ tà này đã xuất hiện trên trang nhất của các nguồn tin tức. Vì vậy, người ta nghi ngờ—nhưng vì những lý do rất khác nhau—rằng ma quỷ đang hoạt động. Đáng tiếc, điều đó thường có nghĩa là ma quỷ đang nhập vào những người mà người ta bất đồng. Nhưng những yếu tố nhập ám này là có thật. Và Chân sư Morya nói với chúng ta rằng đã có một dịch nhập ám—tôi nghĩ Ngài viết vào cuối những năm 1920, trong những năm 1930—một dịch nhập ám. Và điều đó chắc chắn đã dẫn đến khả năng ngưng tụ thành Chiến tranh Thế giới thứ hai. Chúng ta cũng được cho biết rằng những thực thể nhập ám Hitler và bè lũ độc ác của ông ta đã bỏ họ vào lúc cuối, vì họ không còn hữu dụng nữa; về cơ bản, họ chỉ còn là những vỏ rỗng của con người trước kia—ở đây tôi dùng lời của mình—không còn chút quyền năng nào, và tất cả đều bị tổn thương tâm lý cực kỳ nặng nề.
There are other mantras here:
Ở đây còn có những mantram khác:
[76] Mantrams that call down fire for the magnetisation of talismans, of stones and of sacred spots.
[76] Những mantram gọi lửa xuống để từ hóa các bùa hộ mệnh, các viên đá và những nơi thiêng liêng.
All of this is going to come into strong use in a seventh ray age, don't we think so? I think so.
Tất cả những điều này sẽ được sử dụng mạnh mẽ trong một thời đại cung bảy, chẳng phải chúng ta nghĩ vậy sao? Tôi nghĩ vậy.
[77] Mantrams that bring about healing through the occult use of flame.
[77] Những mantram đem lại sự chữa lành qua việc sử dụng ngọn lửa theo cách huyền bí.
He hasn't given us too many of those; he's careful about that. It's kind of a joke that goes around with esoteric healing, that the esoteric healer can't wait to get his hands on you. But people try certain methods of healing which are probably not legitimate under the circumstances. He's listing for our expanded knowledge. There are the mantras used:
Ngài chưa cho chúng ta quá nhiều mantram loại này; Ngài thận trọng về điều đó. Có một câu đùa lưu truyền trong lĩnh vực Trị Liệu Huyền Môn rằng người chữa lành huyền môn nóng lòng muốn đặt tay lên bạn. Nhưng người ta thử những phương pháp chữa lành có lẽ không thích hợp trong những hoàn cảnh ấy. Ngài liệt kê để mở rộng hiểu biết của chúng ta. Có những mantram được sử dụng:
[78] a—By the Manu, in manipulating that which is necessary in the moving of continents, and the submerging of lands.
[78] a—Đức Manu, khi điều khiển những gì cần thiết cho việc di chuyển các lục địa và làm chìm các vùng đất.
You begin to think that the Manu must have been very much involved—whatever Manu it was at that time—in the Atlantean submergences. And there are the mantrams:
Bạn bắt đầu nghĩ rằng Đức Manu hẳn đã tham gia rất sâu—dù đó là Đức Manu nào vào thời ấy—vào những lần nhấn chìm Atlantis. Và có những mantram:
[79] b—By the Bodhisattva, in stimulating the inner flame in each human being.
[79] b—Đức Bồ Tát, khi kích thích ngọn lửa bên trong mỗi con người.
This is the subjective fire, and I suppose more the fire of the inner God. And then the mantrams used:
Đây là ngọn lửa chủ quan, và tôi cho rằng đúng hơn là ngọn lửa của Thượng đế bên trong. Rồi đến những mantram được sử dụng:
[80] c—By the Mahachohan, in His work with the intelligence, or the fifth principle.
[80] c—Đức Mahachohan, trong công việc của Ngài với trí thông minh, hay nguyên khí thứ năm.
And here we have that fifth principle again. Now, it's sometimes considered the middle principle, but it's much more wide-ranging than just that. Probably, when we look at what's considered the middle principle of man, it's a combination of love and intelligence—of a two and five combination.
Và ở đây chúng ta lại gặp nguyên khí thứ năm ấy. Đôi khi nó được xem là nguyên khí ở giữa, nhưng phạm vi của nó rộng hơn rất nhiều. Có lẽ, khi xem xét điều được coi là nguyên khí ở giữa của con người, đó là sự kết hợp giữa tình thương và trí thông minh—một sự kết hợp của hai và năm.
[81] All these mantric forms and many others exist...... Brother of Mine, and it will some day be your prerogative—along with all who may achieve—to learn them and to use them.
[81] Tất cả những hình thức mantram này và nhiều hình thức khác đều tồn tại...... Huynh đệ của Tôi, một ngày nào đó, bạn sẽ có đặc quyền—cùng với tất cả những ai có thể đạt tới—học và sử dụng chúng.
And maybe he elaborates on this a little bit here, because our telltale dots are there.
Và có lẽ Ngài nói rõ thêm một chút ở đây, vì những dấu chấm gợi ý ấy đã xuất hiện.
[82] The first step towards the attainment of these mantrams is the acquirement of the faculty of occult meditation, for it is not the sounding of the words alone that bring about the desired end but the mental concentration that visualises the results to be attained.
[82] Bước đầu tiên để đạt được những mantram này là có được khả năng tham thiền huyền bí, vì không phải chỉ việc xướng các từ ngữ đem lại mục đích mong muốn, mà chính là sự tập trung trí tuệ hình dung những kết quả cần đạt tới.
So in a way, he's warning us away from thinking that if we go on a hunt for certain forms of words, we will discover the mantrams which will be effective in allowing us to do these many, many things. Whatever we do in line with the use of mantrams has to be Plan-fit, goal-oriented, and the goal has to be a purposeful goal. So we require much patience, much patience.
Vì vậy, theo một cách nào đó, Ngài đang cảnh báo chúng ta đừng nghĩ rằng nếu đi săn tìm những hình thức ngôn từ nhất định, chúng ta sẽ khám phá được những mantram hữu hiệu, cho phép chúng ta làm rất nhiều điều này. Bất cứ điều gì chúng ta làm liên quan đến việc sử dụng mantram đều phải phù hợp với Thiên Cơ, hướng đến mục tiêu, và mục tiêu ấy phải có chủ đích. Vì vậy, chúng ta cần rất nhiều kiên nhẫn, rất nhiều kiên nhẫn.
[83] This must be accompanied by the will that causes those results to be dominated by the one who chants the sounds.
[83] Điều này phải đi kèm với ý chí khiến những kết quả ấy chịu sự chi phối của người xướng các âm thanh.
Otherwise, things just get out of control. The Walt Disney film long ago, with poor Mickey Mouse as the sorcerer's apprentice, just precipitating through laziness an activity which overwhelmed him until—what was it?—the sorcerer came home. So there has to be the ability to control.
Nếu không, mọi việc sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát. Trong bộ phim Walt Disney từ lâu trước đây, chú chuột Mickey đáng thương làm người học việc của một phù thủy; chỉ vì lười biếng, chú đã làm phát sinh một hoạt động khiến mình không thể khống chế, cho đến khi—chuyện gì nhỉ?—phù thủy trở về nhà. Vì vậy, phải có khả năng kiểm soát.
[84] These mantric forms are dangerous and useless apart from the concentrated mental equilibrium of the man, and his power to control and vitalise.
[84] Những hình thức mantram này nguy hiểm và vô dụng nếu thiếu trạng thái quân bình trí tuệ tập trung của con người, cùng quyền năng kiểm soát và tiếp sinh lực của y. [Page 190]
This sixth letter has been quite a long one, hasn't it? Now, just going through it like this, we'll get some idea. But obviously DK, thinking far ahead, is also thinking of the curricula of the new esoteric schools in their different branches, preparatory and advanced. And who's to say—this was written 100 years ago—will it have no further use than simply as an introduction? There is a lot of information given here, not just in this chapter, but information given in such a way that it will definitely be foundational for the students of the new esoteric schools, especially the ones that are more like a university—a good university, but plus the esoteric content which presently universities do not have.
Bức thư thứ sáu này khá dài, phải không? Chỉ đọc qua như thế này, chúng ta cũng sẽ có được một ý niệm nào đó. Nhưng rõ ràng Chân sư DK, với tầm nhìn rất xa, cũng đang nghĩ đến chương trình học của những trường nội môn mới, với các phân ngành khác nhau, dự bị và cao cấp. Và ai có thể nói—điều này được viết cách đây 100 năm—rằng nó sẽ không có công dụng nào khác ngoài việc làm một phần nhập môn? Ở đây có rất nhiều thông tin, không chỉ trong chương này; hơn nữa, thông tin được trình bày theo cách chắc chắn sẽ làm nền tảng cho các đạo sinh của những trường nội môn mới, đặc biệt là những trường giống một trường đại học hơn—một trường đại học tốt, nhưng có thêm nội dung nội môn mà các trường đại học hiện nay chưa có.
Well, this is a long letter, and sometimes I go through the whole letter and sometimes I stop. It just depends on how much time I have to do these, and how much energy to do them. Does it help to take all of this slowly and look at the ramifications—some of them, maybe some very few—of what is stated, and try to unbundle what is given in very condensed form? I remember that as kids we used to take the outer covering of a straw and compress it so it was just tiny, with many folds. Then you pour a drop of water on it and it just expands. Well, all of these seeds can be dramatically expanded and connected up with many different fields of study in occultism, and have their points of development in many of the different books that he has written. So we're just getting started, really, in trying to discover the capacity for pure reason within ourselves—first the pure reason of the higher mind, and then the pure reason of the buddhic plane.
Đây là một bức thư dài, và đôi khi tôi đi hết cả bức thư, đôi khi tôi dừng lại. Điều đó tùy thuộc vào lượng thời gian và năng lượng tôi có để làm những việc này. Liệu việc từ từ xem xét tất cả những điều này, nhìn vào các hệ quả—một vài hệ quả, có lẽ rất ít—của những gì được phát biểu, và cố gắng mở ra những gì được trình bày rất cô đọng, có giúp ích không? Tôi nhớ khi còn nhỏ, chúng tôi thường lấy lớp giấy bọc ngoài một chiếc ống hút rồi nén lại, khiến nó trở nên rất nhỏ với nhiều nếp gấp. Sau đó, bạn nhỏ một giọt nước lên, và nó liền giãn ra. Tất cả những hạt giống này có thể mở rộng rất mạnh mẽ và kết nối với nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau trong huyền bí học; những điểm khai triển của chúng hiện diện trong nhiều cuốn sách khác nhau Ngài đã viết. Vì vậy, thực ra chúng ta chỉ mới bắt đầu cố gắng khám phá năng lực lý trí thuần túy bên trong mình—trước hết là lý trí thuần túy của Thượng trí, rồi đến lý trí thuần túy của cõi Bồ đề.
Well, that's certainly enough for tonight—maybe almost three hours of programming. We have finished with Program 41, and this has been on the 20th of October 2020, and we've gone from page 183 to 190. Then our next work will be on the last division of our sixth letter, as he says. He certainly has an organized mind in doing things this way. It's sometimes difficult for me to follow the organization, but I'm sure it can be done. So whatever day we end up doing this—maybe tomorrow, who knows, the 21st—it'll be Program 42, and then we will continue.
Như vậy chắc chắn đã đủ cho tối nay—có lẽ gần ba giờ chương trình. Chúng ta đã hoàn tất Chương trình 41, vào ngày 20 tháng 10 năm 2020, và đã đi từ trang 183 đến trang 190. Công việc tiếp theo của chúng ta sẽ là phần cuối của bức thư thứ sáu, như Ngài nói. Cách làm này cho thấy Ngài có một thể trí rất có tổ chức. Đôi khi tôi khó theo dõi cách tổ chức ấy, nhưng tôi chắc rằng có thể làm được. Vì vậy, bất kể chúng ta thực hiện vào ngày nào—có lẽ ngày mai, ai biết được, ngày 21—đó sẽ là Chương trình 42, và rồi chúng ta sẽ tiếp tục.
Well, it does seem to go on, doesn't it? There's something about a collective approach, because it's not just the individual who's doing this. So basically we come to Letter VII in another 13 pages from where we are right now. And pretty soon we'll be getting to—well, not immediately—the new esoteric schools, about which I've already written an extensive commentary. So we'll have to see whether the writing should just hold, or whether we can or should discuss this. I can see that the next letter has some fascinating material, and a lot of occult blinds that will stop us from realizing too quickly what the formulas are. The sphere of knowledge that we've managed to create begins to seem smaller and smaller and smaller in reading about and understanding somewhat what Master DK has given us.
Dường như công việc này cứ tiếp diễn, phải không? Cách tiếp cận tập thể có một ý nghĩa riêng, bởi không chỉ một cá nhân đang thực hiện việc này. Về cơ bản, từ chỗ hiện tại, thêm 13 trang nữa chúng ta sẽ đến Thư VII. Và khá sớm thôi—nhưng không phải ngay lập tức—chúng ta sẽ đến những trường nội môn mới, một đề tài tôi đã viết một bài bình giảng sâu rộng. Vì vậy, chúng ta sẽ phải xem nên giữ nguyên phần đã viết, hay có thể hoặc nên thảo luận về đề tài này. Tôi thấy bức thư tiếp theo có những nội dung hấp dẫn, cùng rất nhiều màn che huyền bí sẽ ngăn chúng ta nhận ra quá nhanh các công thức là gì. Phạm vi tri thức mà chúng ta đã tạo dựng bắt đầu có vẻ ngày càng nhỏ bé hơn khi đọc và phần nào thấu hiểu những gì Chân sư DK đã ban cho chúng ta.
So we'll just forge ahead. We're over the halfway point. We have another 150 pages left to go, and we've done 190 pages and 41 programs. So if I choose to discuss in this manner the new esoteric schools, about which, as I said, a quite extensive commentary has already been written, then we'll have another 40 or 50 programs going here. And then it'll all be set up for you all to listen to, and extract what you can, and find those points of interest and those hints—or maybe points of difference between what you think and what I've tried to express here. It's a very rich source, very rich.
Vì vậy, chúng ta cứ tiếp tục tiến lên. Chúng ta đã vượt qua điểm giữa. Còn 150 trang nữa, và chúng ta đã hoàn tất 190 trang cùng 41 chương trình. Nếu tôi chọn thảo luận theo cách này về những trường nội môn mới, mà như tôi đã nói, đã có một bài bình giảng khá sâu rộng, thì chúng ta sẽ có thêm 40 hoặc 50 chương trình nữa. Sau đó, tất cả sẽ sẵn sàng để các bạn lắng nghe, rút ra những gì có thể, tìm những điểm đáng quan tâm và những gợi ý—hoặc có lẽ những điểm khác biệt giữa điều các bạn nghĩ và điều tôi đã cố gắng diễn đạt ở đây. Đây là một nguồn tư liệu rất phong phú, rất phong phú.
So then all of us—Tuija and myself and all the members of the communications team—we're wishing you the best. It is a great privilege to be able to study together, and to be able to study what Master DK has given us—as he said, more than we can ever absorb, and I would say more than we can appreciate having been given. We still don't know the scope of what has been given. And even if it is just the ABCs of occultism, it certainly is overwhelming to our particular sphere of knowledge. So we have the food, and we have to eat it, assimilate it, and apply it. And then we're in a position to really help with the understanding of the Divine Plan—a more, let's call it, synthetic understanding than we had been able to achieve before this material was given to us. Friends, we'll see you at the next occasion. Lots of love, many blessings, and see you before long, before long.
Vậy thì tất cả chúng tôi—Tuija, tôi và mọi thành viên trong nhóm truyền thông—đều chúc các bạn những điều tốt đẹp nhất. Có thể cùng nhau nghiên cứu là một đặc ân lớn lao, và có thể nghiên cứu những gì Chân sư DK đã ban cho chúng ta cũng vậy—như Ngài nói, nhiều hơn những gì chúng ta có thể tiếp thu, và tôi cho rằng còn nhiều hơn những gì chúng ta có thể trân trọng đầy đủ khi được ban cho. Chúng ta vẫn chưa biết phạm vi của những gì đã được trao truyền. Và dù đó chỉ là những kiến thức sơ đẳng của huyền bí học, chúng vẫn vượt quá sức dung chứa của phạm vi tri thức hiện tại của chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã có thức ăn, và phải ăn, tiêu hóa rồi áp dụng. Khi ấy, chúng ta mới thực sự có thể giúp mọi người thấu hiểu Thiên Cơ—một sự thấu hiểu, có thể gọi là, mang tính tổng hợp hơn những gì chúng ta đạt được trước khi nhận những tài liệu này. Các bạn, chúng ta sẽ gặp lại vào dịp tới. Gửi đến các bạn thật nhiều tình thương, nhiều phúc lành, và hẹn sớm gặp lại, sớm thôi.