Tóm lược chương
Phần cuối của bức thư thứ sáu trong Thư Về Tham thiền Huyền môn chuyển từ tham thiền cá nhân sang việc sử dụng hình thức tập thể, xét theo âm thanh, nhịp điệu và những dịp áp dụng đặc biệt. Cách phát âm, nhịp đọc và âm điệu đều quan trọng; chỉ nghe hoặc đọc một lần không đủ để nắm được tài liệu. Theo cách diễn giải riêng của Thầy MDR, sự kết hợp cung hai và cung ba trong lối trình bày của Chân sư DK, tương tự ở Đức Phật, đem lại nhiều góc tiếp cận nhưng cũng đòi hỏi nghiên cứu kỹ thay vì đọc lướt. Giáo lý được trích phân biệt giữa “tôi nghe”, “tôi tin” và lời khẳng định “tôi biết”: lý thuyết chỉ thực sự hữu ích khi được kiểm chứng trong…
Commentary LOM 42
Tóm Tắt
Tóm tắt Webinar: Commentary LOM 42_edited
Từ tham thiền cá nhân đến sử dụng hình thức tập thể
Phần cuối của bức thư thứ sáu trong Thư Về Tham thiền Huyền môn chuyển từ tham thiền cá nhân sang việc sử dụng hình thức tập thể, xét theo âm thanh, nhịp điệu và những dịp áp dụng đặc biệt. Cách phát âm, nhịp đọc và âm điệu đều quan trọng; chỉ nghe hoặc đọc một lần không đủ để nắm được tài liệu. Theo cách diễn giải riêng của Thầy MDR, sự kết hợp cung hai và cung ba trong lối trình bày của Chân sư DK, tương tự ở Đức Phật, đem lại nhiều góc tiếp cận nhưng cũng đòi hỏi nghiên cứu kỹ thay vì đọc lướt.
Từ khái niệm đến tri thức được kiểm chứng
Giáo lý được trích phân biệt giữa “tôi nghe”, “tôi tin” và lời khẳng định “tôi biết”: lý thuyết chỉ thực sự hữu ích khi được kiểm chứng trong kinh nghiệm bên trong và biểu hiện qua thực hành ở cõi hồng trần. Người biết còn ít, nhưng khả năng biết tùy thuộc vào sự chuyên cần, chân thành và năng lực đứng vững trước đau khổ. Khoảng cách giữa biết và làm còn liên quan đến động lực của thể cảm dục và quán tính của thể xác; ngay cả bài tập đồng hoá với bản thể cũng chỉ có lợi ích bền vững khi thực hiện được trong đời sống. Liên hệ với giai đoạn đen tối sau Thế chiến thứ nhất, Thầy MDR đối chiếu dấu hiệu Song Ngư, nơi niềm tin và sự vâng phục nổi bật, với dấu hiệu Bảo Bình, nơi sự vâng theo thúc đẩy bên trong của linh hồn sẽ ngày càng dựa trên tri thức.
Hiệu quả và giới hạn của thực hành tập thể
Nghi lễ và sự thờ phụng chung hiện diện trong nhiều tôn giáo, tạo ra những kết quả từ bình an đến trạng thái kích động mãnh liệt; khác biệt tùy vào khả năng tiếp nhận, giữ và chuyên chở mãnh lực, cũng như mức kiểm soát cảm xúc và trí tuệ của người tham dự. Khi nhắc đến cách mô tả khắc nghiệt về một số cộng đồng trong văn bản nguồn, Thầy MDR lưu ý rằng ngôn ngữ ấy không phù hợp ngày nay; điểm cần xét là sự khác nhau giữa lối thờ phụng tĩnh lặng và cuồng nhiệt, không phải phủ nhận chiều sâu văn hóa của họ. Tham thiền tập thể ngày càng phổ biến và có hiệu quả lớn, song cũng có thể nguy hiểm; những biểu hiện xuất thần bắt chước kinh nghiệm của các môn đồ Đức Christ không nhất thiết mang cùng nguồn cảm hứng tinh thần.
Phễu giao tiếp và khoa học rung động
Theo giáo lý được trích, âm thanh và nhịp điệu được sử dụng đúng trong hình thức tập thể sẽ mở một “phễu” giao tiếp từ người tham dự đến các Trí Tuệ hoặc Quyền Năng mà họ tìm cách tiếp cận. Phễu có thể xuyên từ cõi hồng trần qua cõi cảm dục đến các cấp độ trí tuệ, cho phép ánh sáng hoặc quyền năng tuôn xuống theo nguyên lý Khẩn Cầu và Gợi Lên. Một cách lý giải được đề xuất là phễu hình thành nhờ chênh lệch tần số rung động, giống một kênh có độ mở điều tiết lưu lượng; vì thế mở rộng kênh quá mức có thể gây suy yếu cho người quá nhạy cảm. Antahkarana cũng được liên hệ với tiến trình nâng dần điểm tập trung nhất tâm, chứ không chỉ là một đường nối được hình dung.
Sự tạo khoảng trống và nguy cơ lạm dụng
Văn bản nguồn mô tả việc xướng đúng một số âm thanh như cách tạo khoảng trống giữa cấp độ cao và thấp; theo định luật, một biểu hiện của năng lượng fohat sẽ tuôn qua đó đến mục tiêu. Thầy MDR gợi ý hiểu khoảng trống ấy như sự chênh lệch rung động, đồng thời nhận xét cơ chế chính xác vẫn chưa rõ và việc truyền dạy âm thanh có thể cần trực tiếp hoặc qua viễn cảm. Cùng tri thức khẩn cầu và sử dụng hình thức có thể bị huynh đệ bóng tối dùng để tiếp cận các trí tuệ đen tối, hoặc được dùng để tiếp nhận những mãnh lực ánh sáng phục vụ tiến hoá. Vì vậy, thái độ thích hợp là khiêm nhường, kiên nhẫn và tránh thử nghiệm với năng lượng chưa đủ khả năng xử lý.
Bốn tác dụng của âm thanh và vai trò các trung tâm
Linh từ thiêng liêng có ba tác dụng được nêu trong giáo lý: phá hủy chất liệu không thích hợp, kiến tạo bằng cách thu hút chất liệu tốt hơn, và kích thích các trung tâm trong cơ thể. Khi nhiều người cùng xướng, ba tác dụng ấy vẫn hiện diện; tác dụng thứ tư, tạo phễu giao tiếp, là sự tổng hợp của chúng qua việc điều chỉnh chất liệu ở ba cõi thấp. Việc phóng chiếu âm thanh trong chất liệu trí tuệ qua một trung tâm chính được xem là bí quyết của cách sử dụng âm thanh mạnh mẽ nhất. Ví dụ về những đám đông Estonia cùng ca hát chống sự chiếm đóng được Thầy MDR nêu như một liên tưởng thực tế về sức mạnh tập thể của âm thanh, không phải bằng chứng xác lập cho cơ chế huyền bí được mô tả.
Điều kiện để một nhóm sử dụng quyền năng
Một nhóm có thể tạo hiệu quả rất lớn nếu các thành viên cùng làm việc trên cấp độ trí tuệ và đồng thời sử dụng trung tâm đầu, hoặc một trung tâm chính khác phối hợp với trung tâm tương ứng trong đầu. Quy luật XI trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo được liên hệ với hình ảnh nhóm chuyển lửa trong Hoa Sen Chân Ngã sang Tam Nguyên Tinh Thần bằng Linh từ và Ý Chí tập thể. Giáo lý nhấn mạnh quyền năng này chỉ nên trở lại khi có động cơ thuần khiết và sự tận tâm vô tư đối với lợi ích chung; hiện vẫn rất khó tập hợp đủ người cùng điểm tiến hoá, trung tâm sử dụng, rung động Cung và âm điệu. Theo suy luận của Thầy MDR, chính sự khó khăn ấy đang bảo vệ nhân loại, trong khi các nhóm tham thiền về sau có thể chuyển từ tìm kiếm soi sáng cho mình sang hợp tác phụng sự có mục đích; phụng sự cũng có thể tạo một phễu cho sự phát triển tinh thần.
Jericho và mặt phá hủy của âm thanh
Câu chuyện những bức tường Jericho sụp đổ sau khi đoàn người đi vòng theo nhịp và thổi kèn được văn bản nguồn dùng để minh họa tri thức về tác dụng phá hủy và kiến tạo của âm thanh. Thầy MDR xem khả năng xảy ra một sự kiện thực tế là điều có thể, nhưng phân biệt điều ấy với câu hỏi liệu cuộc chinh phục có chính đáng hay không. Ông nêu khả năng câu chuyện còn tượng trưng cho việc phá bỏ các ranh giới cản đường, đồng thời đặt vấn đề về sự tự biện minh cho bạo lực, nghiệp quả của cuộc chinh phục và những tương đồng được nhận thấy trong xung đột tại cùng khu vực về sau.
Cùng xướng Linh từ thiêng liêng
Việc cùng xướng Linh từ thiêng liêng được giới thiệu là một phương pháp trực tiếp để tạo phễu truyền mãnh lực, rất hiệu quả nhưng cũng tiềm ẩn nguy hiểm. Theo văn bản nguồn, sự thất truyền cách sử dụng đúng đã làm giảm hiệu quả của các tín ngưỡng ngoại môn; khi cộng đồng có thể xướng đúng âm điệu và nhịp, mãnh lực tuôn xuống sẽ tiếp sinh lực không chỉ cho con người mà còn cho môi trường và các giới trong bản chất. Thầy MDR đặt câu hỏi liệu OM có chính là Linh từ đã mất hay chỉ là âm thanh thay thế, chứ không khẳng định một đáp án. Tác động rộng hơn ấy gắn với vị trí của giới nhân loại như một cầu nối giữa các giới cao và ba giới thấp, trong sự phối hợp với giới thiên thần.
Linh từ được xướng trong nhóm
Trong ví dụ do Chân sư DK nêu, một nhóm muốn tiếp xúc với dòng mãnh lực khơi dậy khát vọng và tình thương sẽ đứng yên lặng, rồi theo hiệu lệnh của người hướng dẫn, mỗi người tập trung tâm thức tại trung tâm tim và cùng xướng Linh từ. Người hướng dẫn có thông nhãn quan sát hào quang để xác định âm điệu và giọng phù hợp với đa số; âm thanh đúng sẽ tạo một đường dẫn, tạm thời mở rộng phạm vi thể cảm dục và tiếp sinh lực mạnh cho các trung tâm tim. Mối liên hệ với cõi Bồ đề, tùng thái dương và các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã là những khả năng được gợi ra, không phải các chi tiết Chân sư DK xác nhận trong ví dụ này.
Độ chính xác của âm thanh và vai trò của tưởng tượng
Âm điệu khởi đầu không đủ để xác định giọng: cùng bắt đầu từ một nốt, giọng trưởng và giọng thứ dùng những chuỗi âm khác nhau và có thể gợi những trạng thái vui tươi hoặc hoài niệm khác nhau. Tần số, cách xướng và nhịp điệu cũng cần chính xác; việc dàn nhạc hiện nay thường chỉnh nốt La ở 440 Hz, so với mức khoảng 416 Hz được nhắc đến cho thời Bach, cho thấy câu hỏi về cao độ chưa đơn giản. Chân sư DK khuyến khích đạo sinh tham thiền dùng sự tưởng tượng để hình dung thêm các ứng dụng, qua đó phát triển mối liên hệ giữa tưởng tượng và trực giác, đồng thời nhận ra nhóm có thể đạt tới những điều từng cá nhân không thể đạt riêng lẻ.
Ứng dụng của mantram tập thể và giới hạn truyền dạy
Các mục đích được Chân sư DK liệt kê gồm thanh lọc một thành phố, tạo từ tính cho khu đất dùng làm trung tâm chữa lành, làm sáng tỏ trí tuệ để đón nhận sự soi sáng, chữa lành người tụ họp, tác động đến các mãnh lực tự nhiên và đưa người tham dự vào các Bí nhiệm Nhỏ. Cách hiểu được đề xuất cho Bí nhiệm Nhỏ là các lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai; tác động lên tự nhiên được liên tưởng đến việc tạo mưa, nhưng đó chỉ là ví dụ suy đoán. Những tri thức cần thiết chưa được trao rộng rãi vì nguy cơ lạm dụng: nguồn giảng giải liên hệ việc dùng sai quyền năng trong quá khứ với trận đại hồng thủy thời Atlantis, đồng thời phân biệt trận ấy với các trận lụt khác được nhắc đến ở những niên đại về sau.
Nền văn minh tương lai và giới thiên thần
Việc xướng mantram đúng cách được đặt trong viễn cảnh khôi phục Chánh Thuật và xây dựng một nền văn minh có khả năng tiếp nhận mãnh lực tinh thần sâu rộng hơn. Các hình thức chữa lành bằng màu sắc và âm thanh, những trường học tương lai, cùng các nghi lễ điểm đạo dưới sự chủ trì của Đức Christ được nêu như những khả năng đang dần thành hình; nhận định rằng nhiều ứng dụng còn cách nhân loại hàng trăm năm là một ước lượng của phần bình giảng. Một loại mantram tập thể khác dùng để giao tiếp với giới thiên thần được gắn với bộ phận của Đức Mahachohan, song cách vận dụng cụ thể chưa được tiết lộ. Câu hỏi liệu OM là Linh từ đầy đủ hay một hình thức thay thế vẫn được để ngỏ, dù hiệu quả của việc xướng OM được thừa nhận.
Nhịp điệu và ba tác động lên nhóm
Theo định nghĩa được trích, nhịp điệu là chuyển động có tiết nhịp đưa những người tham dự vào sự chỉnh hợp với các mãnh lực nhất định của bản chất. Nó có ba tác động chính: đưa một hay nhiều hiện thể vào phạm vi ảnh hưởng của một dòng mãnh lực; điều chỉnh chất liệu của một hoặc toàn bộ các thể; và, trong những cách sắp xếp hình học thích hợp, hòa các hào quang riêng thành một hào quang nhóm để mãnh lực tuôn chảy theo hướng xác định. Hình ngôi sao năm cánh, sáu cánh hoặc một tam giác có thêm tam giác ở mỗi đỉnh chỉ được nêu như những khả năng hình dung cho cách bố trí ấy, không phải những sơ đồ được xác nhận. Âm từ, cao độ, giọng và nhịp phải phối hợp chính xác; việc thiếu tri thức đầy đủ là một lý do khiến các phương pháp quyền năng này chưa được truyền dạy phổ biến.
Chuyển động nhịp nhàng và sự chỉnh hợp các thể
Sự đung đưa hay di chuyển thân thể theo nhịp có thể hướng mãnh lực đến một trung tâm, tái sắp xếp chất liệu thể cảm dục và thể trí, hoặc ảnh hưởng đến sự chỉnh hợp của các thể với thể nguyên nhân. Nghi lễ cổ, điệu múa của David và những người xoay tròn trong truyền thống Sufi được dùng để gợi khả năng tồn tại một cơ sở huyền bí phía sau chuyển động có nhịp; liên hệ ấy, đặc biệt với điệu múa Sufi, là một cách diễn giải. Chân sư DK cảnh báo rằng chuyển động sai có thể kích thích chất liệu cảm dục thấp và cơ quan sinh dục, trong khi cách dùng đúng, kết hợp khát vọng mãnh liệt, có thể chỉnh hợp phàm ngã tam phân với thể nguyên nhân, làm sinh động ba trung tâm chính và đem lại sự soi sáng. Phần bình giảng lưu ý “điệu múa hiện đại” trong lời cảnh báo có thể chỉ các điệu múa phổ thông gợi bản năng thấp, chứ không nhất thiết phủ nhận mọi thành tựu của nghệ thuật múa hiện đại.
Lễ Wesak và đường dẫn của âm thanh
Lễ Wesak được Chân sư DK đưa ra làm ví dụ về hiệu quả có thể lan rộng khắp thế giới khi hào quang của nhiều người hợp thành một đường dẫn. Đức Phật là tiêu điểm tiếp nhận quyền năng và phúc lành từ những cấp độ cao, rồi truyền qua hào quang của Ngài đến nhân loại bằng đường dẫn do các Đấng Cao Cả, Chân sư, điểm đạo đồ và đệ tử trong Thánh Đoàn tạo thành. Mantram được tụng cùng những chuyển động chậm, đều đặn tạo nên đường dẫn hướng lên; các hình hình học hình thành trên cõi cao hơn cõi hồng trần cũng mở những lối tiếp cận cho thiên thần và các thực thể khác. Chi tiết về tốc độ chuyển động khiến phần bình giảng tự điều chỉnh hình dung trước đó: một bài hát từng sáng tác về lễ này có nhịp quá nhanh so với mô tả được trích.
Nghiên cứu khoa học về nghệ thuật nghi lễ
Trong tương lai, sự kết hợp âm nhạc, tụng xướng và chuyển động nhịp nhàng sẽ được nghiên cứu theo những kết quả cụ thể, thay vì chỉ được vận dụng theo cảm hứng. Các nhóm sẽ quan sát bằng thông nhãn tác động kiến tạo và thanh lọc lên ba thể, ghi nhận chất liệu bị loại bỏ, phẩm tính của mãnh lực tiếp xúc, cùng sự đáp ứng và chuyển động xoay của các trung tâm. Cách nhìn này gợi một nghệ thuật khẩn cầu có cơ sở khoa học: hình thức phối hợp âm thanh và chuyển động đã từng xuất hiện trong sân khấu hoặc nghi lễ, nhưng chưa đồng nghĩa với việc người thực hiện nắm được phương pháp huyền bí mà Chân sư DK mô tả.
Các nhóm dẫn truyền mãnh lực
Chân sư DK dự báo những nhóm sẽ tiếp xúc với một số loại mãnh lực thượng đế, dẫn mãnh lực ấy qua nhóm như một chiếc phễu rồi phân phối vào thế gian vì mục đích kiến tạo, chứ không chủ yếu vì lợi ích của nhóm. “Mãnh lực thượng đế” ở đây có thể chỉ mãnh lực của Hành Tinh Thượng đế, có lẽ qua Sanat Kumara; khả năng liên hệ đến Thái dương Thượng đế được nêu ra như một suy đoán dành cho những nhóm ở cấp độ rất cao.
Nirmanakaya và sự chỉnh hợp nhóm
Công việc của các Nirmanakaya, những Đấng Phân Phối Mãnh Lực được mô tả là các điểm đạo đồ bậc sáu, hiện tập trung chủ yếu ở cõi trí và phần nào ở cõi cảm dục. Khi bí quyết chỉnh hợp với thể nguyên nhân được thấu hiểu hơn và những người đang lâm phàm có thể hợp tác thực sự, các Ngài sẽ dùng nhóm làm tiêu điểm để tác động trực tiếp đến cõi hồng trần; hiện nay sự nổi trội của phàm ngã khiến điều đó chưa thể xảy ra. Vận động nhịp nhàng, âm nhạc và âm thanh được xem là những phương tiện để tạo kênh dẫn thích hợp, dù các thử nghiệm ban đầu còn khiêm tốn và cần được chỉ dẫn, điều chỉnh.
Nhóm chữa lành và các quy luật âm thanh
Trong mô hình chữa lành được trích dẫn, những người hoạt động đứng thành vòng tròn quanh người bệnh, dùng mantram định sẵn và các động tác nhất định để tập trung dòng mãnh lực tuôn xuống vào người ấy. Mãnh lực có thể kích thích, tái tạo, hoặc phá hủy và loại bỏ điều cần loại bỏ, khiến những việc nay gọi là phép lạ trở nên thường ngày. Điều kiện cho sự phát triển ấy gồm khả năng hợp nhất cao hơn, nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị, tỉ lệ điểm đạo đồ tăng lên và nhân loại chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể nguyên nhân.
Triển vọng và nguy cơ của năng lực mới
Sự vận dụng khoa học các quy luật âm thanh và nhịp điệu được đặt trong viễn cảnh chữa lành tương lai; âm thanh và màu sắc được nhận định là những phương pháp có thể xuất hiện sớm, ít xâm lấn và thô bạo hơn. Một cách liên hệ được đề xuất là chu kỳ cung bảy sẽ thúc đẩy nhịp điệu, còn ảnh hưởng cung bốn hỗ trợ âm thanh và màu sắc. Chân sư DK đồng thời cảnh báo việc lạm dụng các năng lực này có thể dẫn đến một trong những cuộc đối đầu cuối cùng giữa các Chúa Tể Ánh Sáng và các Chúa Tể Bóng Tối, gây đại biến và tai họa; việc gắn cuộc đối đầu ấy với Ngày Phán Xét ở cuộc tuần hoàn thứ năm, hoặc với một biến cố xảy ra sớm hơn, vẫn chỉ là suy đoán.
Hình tướng biến đổi và sự trở về
Các thảm họa được đặt cạnh quá trình hủy diệt và tái tạo liên tục của hình tướng, trong khi bản thể cốt yếu được nhìn nhận là bất biến. Những hình thức mantram, vận động, nhịp điệu và âm nhạc, kể cả thang âm và điệu thức, về sau có thể được kết hợp để hỗ trợ con người đi ngược con đường đi sâu vào vật chất và tiến đến những điểm tập trung nhất tâm cao hơn. Các hình thức ấy chưa được biết đầy đủ, nên việc tiếp nhận và sử dụng chúng đòi hỏi sự thận trọng.
Lễ Wesak và thời điểm chỉnh hợp lớn hơn
Lễ Wesak được gọi là sự kiện lớn của hành tinh liên hệ trực tiếp với nhân loại. Hình thức hiện nay của lễ này có thể dần mất đi, nhưng dòng năng lượng gắn với Đức Phật và Đức Christ vẫn tiếp tục; nhận định về các vị đại diện của hai Đấng tại từng quốc gia được nêu như một khả năng diễn giải. Văn bản còn nói đến một thời điểm lớn hơn, khi Thánh Đoàn và các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi cùng dùng mantram để tạo kênh dẫn giữa Trái Đất và Thái dương Thượng đế, nhưng chưa công bố ngày theo cách ngoại môn. Việc liên hệ thời điểm ấy với lễ tháng Tám, dấu hiệu Sư Tử và Sirius chỉ là giả thuyết, không phải sự xác định.
Nghi lễ trong ba ban của Thánh Đoàn
Ba đường hoạt động của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Mahachohan đều có nhóm, Linh từ, mantram và quy luật nhịp điệu riêng. Theo viễn cảnh được trích, những người làm việc dưới Đức Manu trong chính trị, lập pháp và xét xử sẽ bắt đầu công việc bằng nghi lễ nhịp nhàng, chỉnh hợp các thể rồi đặt một hoặc hai người làm tiêu điểm để tìm hiểu ý định của Ngài đối với vấn đề đang bàn. Cách diễn giải bổ sung phân biệt sự sắp đặt mang tính kiến tạo với sự thao túng tiêu cực, đồng thời liên hệ năng lực tổ chức của cung bảy với cung một.
Tiêu điểm trong tôn giáo và giáo dục
Trong ban của Đức Chưởng Giáo, người chủ lễ sẽ là tiêu điểm truyền đạt sau khi cộng đồng cùng thực hiện nghi lễ và nhịp điệu. Vai trò ấy không còn thuộc độc quyền của một giới tu sĩ tách biệt: bất cứ ai được chọn và có khả năng chỉnh hợp với điều cao hơn, hợp tác với cộng đồng đều có thể đảm nhiệm. Trong ban của Mahachohan, trường học và đại học sẽ mở đầu buổi học bằng nghi lễ chỉnh hợp, với huấn sư làm tiêu điểm; cách làm này được dự báo sẽ kích thích thể trí, củng cố kênh giữa Thượng trí và Hạ trí, hỗ trợ xây dựng antahkarana và phát triển trực giác.
Học giáo lý và tiếp xúc với các Chân sư
Những mô tả về tương lai chỉ phác ra đại cương, nên người học có thể mở rộng tầm nhìn dù ban đầu còn hiểu chưa chính xác và khó tiếp thu. Việc tìm cách tiếp xúc với Chân sư cần nền tảng học hỏi, tham thiền và phụng sự, thay vì nóng vội tìm kinh nghiệm trực tiếp; một cách tiếp xúc thích hợp được đề xuất là hết lòng phụng sự phù hợp với Thiên Cơ để sự trợ giúp xuất hiện khi cần. Tri thức được trao truyền chỉ trở thành minh triết của chính mình qua áp dụng, trải nghiệm và tự kiểm chứng, kể cả những trải nghiệm khó khăn.
Tự do của nhân loại và sức bền tinh thần
Nhân loại tự quyết định hướng hành động của mình; Thánh Đoàn không thể cưỡng ép lựa chọn mà không vi phạm quy luật, dù việc chứng kiến những quyết định sai lầm có thể đem lại đau khổ tinh thần. Tấm gương lao động và từ bỏ của Alice Bailey được dùng để làm rõ sức ép của công việc phụng sự, song cấp độ điểm đạo được gán cho bà chỉ là ước định riêng. Người chí nguyện còn dễ dao động, trong khi đệ tử dần vững vàng hơn; sức bền trước trở ngại được xem là một phần của con đường để linh hồn, rồi Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần ngày càng giữ vai trò chủ đạo.
Sự cứu rỗi như nhận ra bản thể
Theo suy tư riêng của Thầy MDR, được cứu rỗi không chủ yếu là đến một nơi gọi là thiên đường, mà là trở về với bản sắc bản thể vốn bị che phủ và nhận ra sự hợp nhất với mọi sự sống. Sự bền bỉ, kể cả việc bắt đầu lại sau thất bại, dẫn tới tính liên tục của tâm thức và của sự đồng hoá với bản thể. Cách hiểu này được nêu như một chiêm nghiệm cá nhân, không phải một kết luận được xác lập từ đoạn giáo lý trích dẫn.
Text LOM 42 – Văn bản LOM 42
AUGUST 21, 1920.
NGÀY 21 THÁNG 8 NĂM 1920.
We come now to the last division of our sixth letter.
Giờ đây chúng ta đến phần cuối của bức thư thứ sáu.
[1] 4 - The use of Form collectively.
[1] 4 - Việc sử dụng Hình Tướng trong tập thể.
[2] I propose to take this up under three heads which for purposes of clarity we will call:—
[2] Tôi dự định bàn về điều này dưới ba đề mục mà để làm rõ, chúng ta sẽ gọi là:—
[3] l—The use of sound collectively in a meditation form.
[3] 1—Việc sử dụng âm thanh trong tập thể theo một hình thức tham thiền.
[4] 2—The use of rhythm collectively in meditation.
[4] 2—Việc sử dụng nhịp điệu trong tập thể khi tham thiền.
[5] 3—Special occasions on which these forms are used.
[5] 3—Những dịp đặc biệt sử dụng các hình thức này.
[5b] (You can, Brother of Mine, word these first two heads more euphoniously, you have got my thought but the wording is heavy and faulty)
[5b] (Huynh đệ của Tôi, bạn có thể diễn đạt hai đề mục đầu này sao cho thuận tai hơn; bạn đã nắm được ý Tôi, nhưng cách diễn đạt còn nặng nề và chưa chuẩn.)
...... [6] We have rather exhaustively [7] considered in this series of letters individual meditation and have taken up the subject from many and varied angles. [8] In all our handling of the matter only enough has been communicated to arouse the interest of the student and to incite him to greater effort, closer study, and deeper investigation. [9] Only that which is understood and grasped as a fact in experience by the inner consciousness avails aught in the hard path of occult development. Theories and mental concepts avail not. They but increase responsibility. Only when these theories are put to the test, and are consequently known to be facts in nature, and only when mental concepts are brought down and demonstrated on the physical plane in practical experience, can the student be in a position to point the way to other searchers, and to hold out a helping hand to those following behind. [10] To say: “I hear” may prove helpful and encouraging; to add to that the words “I believe” may carry added assurance, but to sound forth a trumpet note and say “I know” is the thing needed in this one of the darkest hours of the Kali Yuga. [11] The knowers are as yet few. Yet to know is fully possible and is subject only to the diligence, the sincerity, and the capacity of the pupil on the path to stand firm in suffering. [Page 191]
...... [6] Trong loạt thư này, chúng ta đã xem xét khá tường tận [7] việc tham thiền cá nhân và đã bàn về đề tài ấy từ nhiều góc độ khác nhau. [8] Trong toàn bộ phần bàn luận, chúng ta chỉ truyền đạt vừa đủ để khơi dậy sự quan tâm của đạo sinh và thúc đẩy y nỗ lực hơn, nghiên cứu kỹ hơn và tìm hiểu sâu hơn. [9] Chỉ những gì tâm thức bên trong thấu hiểu và nắm bắt như một sự thật qua trải nghiệm mới có ích trên con đường phát triển huyền bí đầy gian khó. Các lý thuyết và khái niệm trí tuệ không có ích. Chúng chỉ làm tăng trách nhiệm. Chỉ khi các lý thuyết ấy trải qua thử nghiệm và do đó được biết là những sự thật trong tự nhiên, và chỉ khi các khái niệm trí tuệ được đưa xuống và chứng minh trên cõi hồng trần bằng trải nghiệm thực tế, đạo sinh mới có thể chỉ đường cho những người tìm kiếm khác và đưa tay giúp đỡ những người theo sau. [10] Nói: “Tôi nghe” có thể hữu ích và mang lại sự khích lệ; thêm vào đó những lời “Tôi tin” có thể đem lại sự vững tin hơn, nhưng cất lên một tiếng kèn vang và nói “Tôi biết” mới là điều cần thiết trong giờ phút này, một trong những giờ phút tăm tối nhất của thời đại đen tối. [11] Những thức giả hiện vẫn còn ít. Tuy nhiên, việc biết là hoàn toàn có thể và chỉ tùy thuộc vào sự chuyên cần, lòng chân thành và khả năng đứng vững trong đau khổ của môn sinh trên đường đạo. [Page 191]
[12] Now having some dim idea [13] of the results to be achieved, and the methods to be employed in individual meditation, and having enlarged a little on the use of forms by individuals, we can now take up the consideration of the matter from the collective standpoints.
[12] Giờ đây, khi đã có một ý tưởng mơ hồ [13] về những kết quả cần đạt được và những phương pháp cần sử dụng trong tham thiền cá nhân, đồng thời đã bàn rộng thêm đôi chút về việc cá nhân sử dụng các hình thức, chúng ta có thể xem xét vấn đề từ những góc nhìn tập thể.
[14] Some of the most important things to note about the collective use of forms are that it has a universal vogue, is very effective, and can also be very dangerous. [15] The collective worshipping of the Deity and the performance of religious rites in unison is so much a part of the public life of all peoples that its raison d'etre, and the results achieved, are apt to be overlooked. [16] Every religion—Christian, Buddhist, Hindu, Mohammedan, down to the distorted fetish worship of the most degraded race— [17] has emphasized the value and efficiency of a united attempt to contact the Divine. [18] Results are inevitably achieved, ranging all the way from the calm and peaceful feeling that rests upon the participant in the Christian mysteries, to the frenzy and gyrations of the wildest dervish or the most benighted Zulu. [19] The difference lies in the ability of the worshipper to assimilate force, and in his capacity to hold and carry it. These points are decided by his place on the ladder of evolution, and by the emotional and mental control of which he may be possessed.
[14] Một số điều quan trọng nhất cần lưu ý về việc sử dụng các hình thức trong tập thể là việc ấy phổ biến khắp nơi, rất hiệu quả và cũng có thể rất nguy hiểm. [15] Việc cùng nhau thờ phụng Thượng đế và đồng loạt cử hành các nghi lễ tôn giáo đã trở thành một phần quá quen thuộc trong đời sống cộng đồng của mọi dân tộc, đến mức người ta dễ bỏ qua lý do tồn tại và những kết quả đạt được của việc ấy. [16] Mọi tôn giáo—Kitô giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, cho đến việc thờ vật linh méo mó của bộ phận nhân loại suy đồi nhất— [17] đều nhấn mạnh giá trị và hiệu quả của một nỗ lực hợp nhất nhằm tiếp xúc với điều Thiêng Liêng. [18] Những kết quả tất yếu xuất hiện, trải dài từ cảm giác bình tâm và an hòa bao phủ người tham dự các nghi lễ huyền nhiệm Kitô giáo cho đến sự cuồng loạn và những vòng xoay của tu sĩ khổ hạnh cuồng nhiệt nhất hay người Zulu mê muội nhất. [19] Sự khác biệt nằm ở khả năng hấp thu mãnh lực của người thờ phụng và khả năng giữ cũng như mang mãnh lực ấy. Những điều này tùy thuộc vào vị trí của y trên thang tiến hóa và mức độ làm chủ cảm xúc cùng trí tuệ mà y có thể có.
[20] The first postulate to remember in considering the collective use of form in meditation is that those forms, in employing sound and rhythm, should open up a funnel of communication between those taking part in them and the Intelligences or Powers they are seeking to approach. [21] By the means of this funnel which penetrates from the physical to the emotional, or still higher to one or other of the mental levels, the Intelligences or Powers are enabled to pour forth illuminating light or power of some kind or other into those who thus approach Them. [22] The funnel [Page 192] forms a channel whereby the contact can be made. The whole process is purely scientific and is based on vibration, and on a knowledge of dynamics. [23] It is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum. The occult statement that “Nature abhors a vacuum” [24] is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel [25] between the higher and the lower is formed, force or power of some manifestation of fohatic energy pours into the funnel under the inevitable working of the law, and, via that funnel, reaches its objective.
[20] Tiền đề đầu tiên cần nhớ khi xem xét việc sử dụng hình thức trong tham thiền tập thể là: thông qua âm thanh và nhịp điệu, các hình thức ấy phải mở ra một phễu giao tiếp giữa những người tham dự và các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng mà họ đang tìm cách tiếp cận. [21] Nhờ phễu này, xuyên từ cõi hồng trần đến cõi cảm xúc, hoặc còn cao hơn đến một cấp độ trí tuệ nào đó, các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng có thể tuôn ánh sáng soi sáng hoặc một loại quyền năng nào đó vào những người tiếp cận Các Ngài theo cách ấy. [22] Phễu này [Page 192] tạo thành một kênh để thiết lập sự tiếp xúc. Toàn bộ tiến trình hoàn toàn mang tính khoa học, dựa trên rung động và sự hiểu biết về động lực học. [23] Tiến trình này tùy thuộc vào việc tạo chính xác một khoảng chân không thông qua tri thức huyền bí. Phát biểu huyền bí rằng “Tự nhiên không dung chứa khoảng chân không” [24] là hoàn toàn đúng. Khi việc xướng đúng một số âm thanh tạo nên khoảng chân không hay phễu rỗng này [25] giữa cái cao và cái thấp, mãnh lực hay quyền năng của một biểu hiện nào đó của năng lượng lửa vũ trụ sẽ tuôn vào phễu theo sự vận hành tất yếu của định luật, rồi qua phễu ấy đạt đến mục tiêu.
[26] It is on the misuse of this knowledge that much of what we call black art or evil magic is based. By means of invocation and forms [27] the Dark Brothers (or those who tamper with what you ignorantly term the powers of evil) [28] tap forces connected with dark intelligences in high places. [29] Thus they set in motion happenings on the physical plane that have their origination in the dark mysterious caves of cosmic evil as found within our solar system. [30] Equally so, it is possible to tap the still greater forces of light and good and to make application of them on the side of evolution.
[26] Phần lớn những gì chúng ta gọi là thuật đen hay huyền thuật tà ác đều dựa trên việc lạm dụng tri thức này. Bằng sự khẩn cầu và các hình thức [27] các huynh đệ bóng tối (hay những kẻ thao túng thứ mà do thiếu hiểu biết, các bạn gọi là những quyền năng tà ác) [28] khai thác những mãnh lực liên kết với các trí tuệ hắc ám ở những cõi cao. [29] Như vậy, họ khởi động những biến cố trên cõi hồng trần có nguồn gốc từ những hang động tối tăm, bí hiểm của cái ác vũ trụ tồn tại trong hệ mặt trời của chúng ta. [30] Tương tự, người ta có thể khai thác những mãnh lực còn lớn hơn của ánh sáng và điều thiện, rồi vận dụng chúng để hỗ trợ tiến hóa.
[30b] (Sit up, Brother of Mine, for in the reception of my dictated word it is essential that there should be direct alignment betwixt the major head centre which you employ and the base of the spine via the spinal column.)
[30b] (Hãy ngồi thẳng lên, huynh đệ của Tôi, vì khi tiếp nhận lời Tôi đọc cho bạn ghi, điều thiết yếu là phải có sự chỉnh hợp trực tiếp giữa trung tâm đầu chính mà bạn sử dụng và đáy cột sống qua cột sống.)
[31] The use of sound collectively in meditation forms.
[31] Việc sử dụng âm thanh trong tập thể theo các hình thức tham thiền.
[32] We will now take up the matter specifically from the standpoint of sound. [33] In the study of the Sacred Word and its use we found that it had a triple effect, destructive, constructive and personal,—if I might so express it—or acting directly in a stimulating sense on the centers of the body. [34] These three effects may be seen in the use of all sound collectively and by a large body of persons. [35] We might enumerate still further for the sake of clarity a fourth effect, that of the creation of a funnel. This fourth effect is but a synthesis of the others in actuality, for adjustments [Page 193] in the matter of the three lower planes have to be made in this creation of a funnel of communication. [36] Those adjustments result first of all in the destruction of obstructing matter, and then in the construction of a funnel for use. [37] This is very definitely effected [38] through the instrumentality of the centers. This latter point is of fundamental interest, and holds hid the secret of the most potent use of sound. [39] That use is its projection in mental matter by means of one or other of the major centers. [40] The effects achieved by a group of persons who have the power to work on mental levels, [41] and to employ simultaneously one of the major centers (either entirely the head center or one of the other major centers in connection with its corresponding head center) [42] can be unbelievably powerful. [43] It is well for the race that as yet that power is not theirs. Only when united purity of motive and an unselfish adherence to the good of all can be found, will this power be permitted to return to the common knowledge of men. [44] As yet it is practically impossible to get a sufficient number of people at the same stage of evolution, at the same point on the ladder, employing the same center and responding to the same ray vibration to meet in unison, and sound together the same note or mantram. [45] They must also be animated by pure love, and work intelligently for the spiritual uplift of all.
[32] Giờ đây chúng ta sẽ bàn cụ thể về vấn đề từ góc độ âm thanh. [33] Khi nghiên cứu Linh Từ Thiêng Liêng và cách sử dụng, chúng ta thấy linh từ ấy có tác động tam phân: phá hủy, kiến tạo và tác động đến cá nhân,—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy—hay trực tiếp kích thích các trung tâm trong thân thể. [34] Có thể thấy ba tác động này khi một tập thể đông người cùng sử dụng bất kỳ âm thanh nào. [35] Để làm rõ hơn, chúng ta có thể kể thêm một tác động thứ tư: tạo ra một phễu. Thực ra, tác động thứ tư này chỉ là sự tổng hợp của những tác động kia, vì cần có những điều chỉnh [Page 193] trong vật chất của ba cõi thấp khi tạo nên phễu giao tiếp này. [36] Trước hết, những điều chỉnh ấy phá hủy vật chất gây cản trở, rồi kiến tạo một phễu để sử dụng. [37] Điều này diễn ra hết sức rõ rệt [38] nhờ các trung tâm làm phương tiện. Điểm sau cùng này có tầm quan trọng căn bản và ẩn chứa bí mật về cách sử dụng âm thanh mạnh mẽ nhất. [39] Cách sử dụng ấy là phóng chiếu âm thanh vào vật chất trí tuệ qua một trong các trung tâm chính. [40] Những kết quả mà một nhóm người có khả năng hoạt động trên các cấp độ trí tuệ, [41] đồng thời sử dụng một trong các trung tâm chính (hoặc chỉ trung tâm đầu, hoặc một trung tâm chính khác kết hợp với trung tâm tương ứng của nó trong đầu) [42] đạt được có thể mạnh mẽ đến mức khó tin. [43] Thật may cho nhân loại là hiện họ chưa có quyền năng ấy. Chỉ khi có sự thuần khiết chung về động cơ và sự tận tâm vô vị kỷ vì lợi ích của tất cả, quyền năng này mới được phép trở lại thành tri thức phổ biến của con người. [44] Hiện nay, thực tế gần như không thể tập hợp đủ số người ở cùng một giai đoạn tiến hóa, cùng một bậc trên thang tiến hóa, sử dụng cùng một trung tâm và đáp ứng cùng một rung động cung, để cùng hòa hợp và xướng một âm điệu hay mantram. [45] Họ cũng phải có tình thương thuần khiết làm động lực và hoạt động một cách sáng suốt để nâng cao tất cả về mặt tinh thần.
[46] Part of the power of the Hierarchy is based on Their ability to do just this very thing. As evolution progresses, and the matter is more fully comprehended, meditation groups will change from their present status, which is that of bands of earnest aspirants seeking illumination, to bands of workers constructively and intelligently working together for certain ends. [47] You have in the Christian Bible the remnant of a tale which has descended to us from Atlantean days. In those days the use of sound on physical [Page 194] and emotional levels was understood and practiced, being utilized for selfish ends in most of the cases. [48] You read that at the sound of trumpets, [49] sounded a certain number of times after a rhythmical circuit of the walls of Jericho those walls collapsed. [50] This was made possible by the occult knowledge of the leaders of the people who—being versed in the science of sound and having studied its destructive and creative effects,—knew just the moment to apply that science and effect the desired end.
[46] Một phần quyền năng của Thánh đoàn dựa trên khả năng thực hiện chính điều này của Các Ngài. Khi tiến hóa tiếp diễn và vấn đề này được thấu hiểu đầy đủ hơn, các nhóm tham thiền sẽ chuyển từ trạng thái hiện nay—những nhóm người chí nguyện chân thành tìm kiếm sự soi sáng—thành những nhóm người hoạt động cùng nhau một cách kiến tạo và sáng suốt vì những mục tiêu nhất định. [47] Trong Kinh Thánh Kitô giáo, các bạn có phần còn lại của một câu chuyện truyền đến chúng ta từ thời Atlantis. Vào thời ấy, người ta thấu hiểu và thực hành việc sử dụng âm thanh trên các cấp độ hồng trần [Page 194] và cảm xúc, phần lớn nhằm phục vụ những mục đích ích kỷ. [48] Các bạn đọc thấy rằng khi những tiếng kèn vang lên, [49] với một số lần nhất định sau cuộc đi vòng theo nhịp quanh tường thành Jericho, những bức tường ấy sụp đổ. [50] Điều này có thể xảy ra nhờ tri thức huyền bí của những người lãnh đạo dân chúng; vì am tường khoa học về âm thanh và đã nghiên cứu những tác động phá hủy cùng sáng tạo của nó, họ biết chính xác thời điểm vận dụng khoa học ấy để đạt mục đích mong muốn.
These sounds can be grouped under three heads:—
Có thể phân những âm thanh này thành ba nhóm:—
[51] The united sounding of the Sacred Word.
[51] Việc cùng xướng Linh Từ Thiêng Liêng.
[52] This is one of the most usual methods, and the most direct way of forming a funnel for the transmission of power. If it is so effective in the case of the individual, as has been again and again demonstrated, surely its united use will be tremendously effective, and even dangerously potent. [53] It is the loss of the use of this Word that has crippled and hindered the efficiency of all the present exoteric faiths, but this loss has been deliberately brought about owing to the dangers incident to the low point of evolution of the human hierarchy. [54] When the use of this word is restored collectively, [55] and when congregations of men [56] can sound it correctly on the right note and in the right cadence or rhythm, [57] then the downflow of force from above (the quality of that force depending on key and tone) will be such that the vivification of the microcosm will affect the surrounding country and environment. [58] It will cause corresponding stimulation in all the kingdoms of nature, for the human kingdom forms a link between the higher and the lower, and, in conjunction with the deva kingdom, provides a meeting ground for the forces of life.
[52] Đây là một trong những phương pháp thông dụng nhất và là cách trực tiếp nhất để tạo một phễu truyền quyền năng. Nếu phương pháp ấy hiệu quả như vậy đối với cá nhân, như đã được chứng minh hết lần này đến lần khác, thì chắc chắn việc cùng sử dụng nó sẽ vô cùng hiệu quả, thậm chí mạnh đến mức nguy hiểm. [53] Chính việc đánh mất cách sử dụng Linh Từ này đã làm suy yếu và cản trở hiệu quả của mọi tín ngưỡng ngoại môn hiện nay, nhưng sự mất mát ấy là điều có chủ ý do những nguy hiểm gắn với trình độ tiến hóa thấp của Huyền Giai nhân loại. [54] Khi việc sử dụng linh từ này trong tập thể được khôi phục, [55] và khi các cộng đồng người [56] có thể xướng linh từ ấy chính xác, đúng âm điệu và đúng tiết tấu hay nhịp điệu, [57] thì dòng mãnh lực từ trên tuôn xuống (phẩm tính của mãnh lực ấy tùy thuộc vào giọng và âm sắc) sẽ mạnh đến mức việc tiếp sinh lực cho tiểu thiên địa sẽ tác động đến vùng đất và môi trường xung quanh. [58] Nó sẽ tạo sự kích thích tương ứng trong mọi giới của tự nhiên, vì giới nhân loại tạo thành một mắt xích giữa cái cao và cái thấp, và cùng với giới thiên thần cung cấp một nơi hội tụ cho các mãnh lực của sự sống.
[59] These effects upon the different centers will be definitely felt on one or other plane in the three worlds. Let [Page 195] me illustrate, for clarity is desired. I must warn you however to bear in mind that no importance must be attached to the order specified here. The time is not ripe for the opening up of accurate information on this matter.
[59] Người ta sẽ cảm nhận rõ những tác động này lên các trung tâm khác nhau trên một cõi nào đó trong ba cõi giới. Hãy để [Page 195] Tôi minh họa, vì điều cần thiết là sự rõ ràng. Tuy nhiên, Tôi phải cảnh báo các bạn ghi nhớ rằng không nên coi trọng thứ tự nêu ở đây. Chưa đến lúc tiết lộ thông tin chính xác về vấn đề này.
[60] We will presume [61] that a congregation of people is desirous of linking up with that channel of force that works through the emotions, and so stimulates to greater aspiration and love. [62] In united silence they will stand until, at a given word from the leader, [63] each unit in the group will deliberately withdraw his consciousness into the heart center, and then from that heart center (keeping the consciousness steadily there) he will drive forth the sound of the Sacred Word, pitched in the key to which the majority of the group respond. [64] This key will be ascertained by the clairvoyant group leader reviewing rapidly the auras gathered before him. This sound [65] will create the necessary funnel, and the result will be an immense temporary extension of the peripheries of the emotional bodies of the participants, and an intense vitalization of their heart centers. [66] By means of this the people will be enabled to reach heights and receive blessings otherwise not separately possible. You can for yourself think out other conditions. The use of the imagination in these matters is of real importance and develops a connection between that faculty [67] and its higher counterpart, the intuition. [68] Students of meditation must learn to imagine more.
[60] Chúng ta hãy giả định [61] rằng một cộng đồng người mong muốn kết nối với kênh mãnh lực hoạt động thông qua cảm xúc, nhờ đó kích thích khát vọng và tình thương lớn hơn. [62] Họ sẽ cùng đứng trong im lặng cho đến khi người hướng dẫn ra hiệu bằng một lời nhất định, [63] mỗi thành viên trong nhóm sẽ chủ động thu tâm thức vào trung tâm tim, rồi từ trung tâm tim ấy (giữ tâm thức ổn định tại đó), y sẽ phát ra âm thanh của Linh Từ Thiêng Liêng, với giọng mà đa số thành viên trong nhóm đáp ứng. [64] Người hướng dẫn nhóm có khả năng thông nhãn sẽ xác định giọng này bằng cách nhanh chóng xem xét những hào quang tụ họp trước mình. Âm thanh này [65] sẽ tạo ra phễu cần thiết, và kết quả sẽ là chu vi các thể cảm xúc của những người tham dự mở rộng hết sức lớn lao trong một thời gian, đồng thời các trung tâm tim của họ nhận được sinh lực mạnh mẽ. [66] Nhờ đó, họ có thể vươn đến những tầm cao và đón nhận những ân phúc mà nếu riêng lẻ thì không thể đạt được. Các bạn có thể tự suy nghĩ về những điều kiện khác. Việc sử dụng sự tưởng tượng trong những vấn đề này thực sự quan trọng và phát triển một mối liên hệ giữa năng lực ấy [67] và đối phần cao hơn của nó là trực giác. [68] Các đạo sinh tham thiền phải học cách tưởng tượng nhiều hơn.
[69] The united sounding of certain mantrams which will be employed for specific purposes. [70] Instances of such purposes are:—
[69] Việc cùng xướng một số mantram sẽ được sử dụng cho những mục đích cụ thể. [70] Ví dụ về những mục đích ấy là:—
[71] a. The purification of a city.
[71] a. Thanh lọc một thành phố.
[72] b. The magnetization of grounds that are to be employed as healing centers. [Page 196]
[72] b. Từ hóa những khu đất sẽ dùng làm các trung tâm trị liệu. [Page 196]
[73] c. The clarification of the minds of the congregation in order that they may be able to receive the higher illumination.
[73] c. Làm sáng rõ thể trí của những người tụ họp để họ có thể tiếp nhận sự soi sáng cao hơn.
[74] d. The healing of people gathered together for that purpose.
[74] d. Chữa lành những người tụ họp vì mục đích ấy.
[75] e. The controlling of the forces of nature so that physical plane occurrences may be brought about.
[75] e. Kiểm soát các mãnh lực của tự nhiên để tạo ra những sự kiện trên cõi hồng trần.
[76] f. The initiating of people into the Lesser Mysteries.
[76] f. Điểm đạo cho con người vào các Tiểu Bí Pháp.
[77] In this paragraph, as you rightly think, lies material that enlarged would fill a volume. [78] It is part of that white magic that again will be restored to the race and by means of which a glory and a civilization will be attained that was hinted at in Atlantean days, and is one of the dreams of the visionaries of the race.
[77] Đúng như các bạn nghĩ, trong đoạn này có nội dung mà nếu triển khai rộng sẽ đầy cả một quyển sách. [78] Đó là một phần của chánh thuật sẽ lại được khôi phục cho nhân loại, và nhờ đó, con người sẽ đạt đến một nền văn minh cùng sự huy hoàng từng hé lộ vào thời Atlantis, vốn là một trong những giấc mơ của những người có tầm nhìn trong nhân loại.
[79] Mantrams or words sounded forth collectively by which the deva, or angel kingdom, will be communicated with. These are a peculiar set of mantrams connected with the Mahachohan's department and I will take them up more specifically later......
[79] Các mantram hay linh từ được tập thể cùng xướng lên để giao tiếp với giới thiên thần. Đây là một nhóm mantram đặc thù liên quan đến bộ môn của Đức Mahachohan, và Tôi sẽ bàn cụ thể hơn về chúng sau......
AUGUST 22, 1920.
NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 1920.
The use of Rhythm Collectively in Meditation.
Việc sử dụng Nhịp Điệu trong Tham Thiền Tập Thể.
[80] Rhythm might be expressed as that cadenced movement which automatically sways those who employ it into line with certain of Nature's forces. [81] It is that directed action, followed in unison by a body of people, which results in certain alignments and effects upon one or other of the bodies or on all. It has for its objects therefore:
[80] Có thể diễn tả nhịp điệu là chuyển động có tiết tấu tự động đưa những người sử dụng nó vào sự hòa hợp với một số mãnh lực của Tự Nhiên. [81] Đó là hành động có định hướng mà một tập thể người cùng thực hiện, tạo ra những sự chỉnh hợp và tác động nhất định lên một hay tất cả các thể của họ. Vì vậy, nó có những mục tiêu sau:
[82] a. The swinging of a body, or a concourse of bodies, into the radius of action of a stream of force.
[82] a. Đưa một thể, hoặc một tập hợp các thể, vào phạm vi tác động của một dòng mãnh lực.
[83] b. It causes an adjustment of the matter of one of the various bodies or of all the bodies that go to the make-up of the personnel of a group. [Page 197]
[83] b. Điều chỉnh vật chất của một trong những thể khác nhau hoặc của tất cả các thể cấu thành những thành viên của một nhóm. [Page 197]
[84] c. It blends—under certain geometrical balances [85] and arrangements—the auras of the differentiated units in a group, [86] and causes these auras to form one united group aura, thereby permitting of the rhythmic flow of force in certain specified directions, for certain specified ends.
[84] c. Hòa trộn—dưới những thế cân bằng hình học [85] và cách sắp xếp nhất định—các hào quang của những đơn vị đã biến phân trong một nhóm, [86] khiến những hào quang này tạo thành một hào quang nhóm hợp nhất, nhờ đó cho phép mãnh lực tuôn chảy nhịp nhàng theo những hướng xác định, vì những mục đích xác định.
[87] This has been well understood right down the ages, even though the methods, procedure and results have not been scientifically comprehended or tabulated, except by various occult and esoteric bodies. [88] In the old, so-called pagan rites the value of rhythm was well understood and even David, the psalmist of Israel, danced before the Lord. The swaying of the body to a certain tempo, and the swinging of the framework of the physical vehicle in various directions, subject at times to the musical sound of instruments, has a peculiar and definite effect upon the matter of the two subtler vehicles. By this rhythmic movement:
[87] Người ta đã thấu hiểu điều này qua suốt các thời đại, dù chưa hiểu hay hệ thống hóa một cách khoa học các phương pháp, trình tự và kết quả, ngoại trừ một số đoàn thể huyền bí và nội môn. [88] Trong những nghi lễ cổ xưa được gọi là ngoại giáo, người ta thấu hiểu giá trị của nhịp điệu; ngay cả David, người sáng tác thánh vịnh của Israel, cũng đã nhảy múa trước Chúa. Việc đung đưa thân thể theo một nhịp độ nhất định và đưa khung thân của hiện thể hồng trần chuyển động theo nhiều hướng, đôi khi theo tiếng nhạc của các nhạc cụ, có một tác động đặc thù và rõ rệt lên vật chất của hai hiện thể tinh tế hơn. Nhờ chuyển động nhịp nhàng này:
[89] 1. The force that is tapped in this manner is directed (according to the rhythm) to some one or other centre in the body.
[89] 1. Mãnh lực được khai thác theo cách này sẽ hướng đến một trung tâm nào đó trong thân thể (tùy theo nhịp điệu).
[90] 2. The matter of the emotional and mental bodies is entirely re-adjusted and re-blended, resulting in certain effects having probably a physical manifestation.
[90] 2. Vật chất của các thể cảm xúc và thể trí được điều chỉnh và hòa trộn lại hoàn toàn, tạo ra những tác động nhất định có thể biểu hiện trên cõi hồng trần.
[91] 3. The alignment of the vehicles is affected, and may be distorted or misplaced, or they may be correctly aligned and put in touch with the causal. [92] This is one of the main objects of the true rhythmic movement, distortions of which come down to us through the centuries, and have their apotheosis in the low type of modern dance. [93] In the modern dance is found the corruptest [94] manifestation of rhythmic movement, and the main effect of the rhythm is the direction of the force tapped by its means to the emotional vehicle, and to the lowest type of matter in that vehicle. [95] This results on the physical [Page 198] plane in a most undesirable stimulation of the sex organs. [96] In the true use of rhythmic movement the effect is to align the three lower vehicles with the causal vehicle, and this lining up [97] —when coupled with intensest aspiration and ardent desire— [98] results in a downflow of force from above. This causes a vivification of the three major centers and a definite illumination.
[91] 3. Sự chỉnh hợp của các hiện thể chịu tác động và có thể méo mó hay lệch vị trí, hoặc chúng có thể chỉnh hợp đúng và tiếp xúc với thể nguyên nhân. [92] Đây là một trong những mục tiêu chính của chuyển động nhịp nhàng chân chính; những dạng méo mó của nó đã truyền đến chúng ta qua nhiều thế kỷ và đạt đến đỉnh điểm trong loại hình khiêu vũ hiện đại thấp kém. [93] Trong khiêu vũ hiện đại có biểu hiện suy đồi nhất [94] của chuyển động nhịp nhàng, và tác động chính của nhịp điệu là hướng mãnh lực mà nó khai thác vào hiện thể cảm xúc và vào loại vật chất thấp nhất trong hiện thể ấy. [95] Trên cõi hồng trần, điều này [Page 198] gây ra sự kích thích hết sức không mong muốn đối với các cơ quan sinh dục. [96] Khi sử dụng chuyển động nhịp nhàng đúng cách, tác động là chỉnh hợp ba hiện thể thấp với hiện thể nguyên nhân, và sự chỉnh hợp này [97] —khi kết hợp với khát vọng mãnh liệt nhất và ước muốn thiết tha— [98] sẽ tạo ra một dòng mãnh lực tuôn xuống từ trên cao. Điều này tiếp sinh lực cho ba trung tâm chính và mang lại sự soi sáng rõ rệt.
[99] When an entire concourse of people is thus animated by a single high desire, when their auras blend and form one united channel for the downflow, [100] the effect is tremendously intensified and can be world-wide in its radius. [101] You have an instance of this in the wonderful Wesak festival, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from the levels on which the Buddha may be found. [102] He [103] acts as a focal point for that power, and—passing it through His Aura—pours it out over mankind by means of the channel provided by the assembled Lords, Masters, graded initiates and disciples. [104] This channel is formed by the use of sound and rhythm simultaneously employed. By the chanting of a certain mantram by means of the slow, measured movements that accompany that chanting, the funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. The geometrical figures formed in the matter of the plane higher than the physical (which are the result of the geometrical movement of the concourse gathered in that Himalayan center) form themselves into wonderful avenues of approach to the center of blessing for the inhabitants, deva or otherwise, from any particular plane. [105] For those who can clairvoyantly view the scene, the beauty of the geometrical forms is unbelievable, and that beauty is enhanced by the radiant auras of the Great Ones Who are gathered there. [Page 199]
[99] Khi cả một tập thể cùng nhận động lực từ một ước muốn cao cả duy nhất như vậy, khi hào quang của họ hòa trộn và tạo thành một kênh hợp nhất cho dòng tuôn xuống, [100] tác động sẽ tăng cường vô cùng mạnh mẽ và có thể lan rộng khắp thế giới. [101] Các bạn có một ví dụ về điều này trong lễ hội Wesak kỳ diệu, đến nay vẫn được cử hành rộng khắp tại Ấn Độ, khi Thánh đoàn tạo thành một kênh truyền quyền năng và ân phúc từ những cấp độ nơi Đức Phật hiện diện. [102] Ngài [103] làm tiêu điểm cho quyền năng ấy và—đưa nó qua Hào Quang của Ngài—tuôn nó xuống nhân loại qua kênh do các Chúa Tể, Chân sư, điểm đạo đồ thuộc các cấp bậc và đệ tử đang tụ họp tạo nên. [104] Kênh này hình thành nhờ sử dụng đồng thời âm thanh và nhịp điệu. Qua việc tụng một mantram nhất định và những chuyển động chậm rãi, đều đặn đi kèm việc tụng ấy, một phễu hình thành vươn lên đến địa điểm mong muốn. Những hình hình học tạo ra trong vật chất của cõi cao hơn cõi hồng trần (là kết quả của chuyển động hình học của tập thể tụ họp tại trung tâm ấy ở vùng Hy Mã Lạp Sơn) tạo thành những lối tiếp cận kỳ diệu đến trung tâm ban ân phúc cho các cư dân, thiên thần hay những sinh linh khác, từ bất kỳ cõi cụ thể nào. [105] Đối với những người có thể quan sát cảnh tượng ấy bằng thông nhãn, vẻ đẹp của các hình hình học thật khó tin, và những hào quang rực rỡ của Các Đấng Cao Cả tụ họp tại đó càng làm tăng vẻ đẹp ấy. [Page 199]
[106] In time to come [107] the value of the combination of music, chanting, and rhythmic movement will be comprehended, and it will be utilized for the achieving of certain results. [108] Groups of people will gather together to study the creative effects, or the purificatory efficacy of ordered sound joined to movement and unity; the constructive effect on the three bodies will be clairvoyantly studied; the eliminative effect on the matter of those bodies will be schematically tabulated and all knowledge gained will be definitely applied to the improvement of those bodies. The quality of the force tapped, and its exhilarating, vivifying and stimulating effects will be closely watched. The centers will be studied in their relation to the streams of force contacted, and their culture and the intensification of the rotary movement will be definitely undertaken.
[106] Trong thời gian tới [107] người ta sẽ thấu hiểu giá trị của việc kết hợp âm nhạc, tụng niệm và chuyển động nhịp nhàng, rồi sử dụng sự kết hợp này để đạt những kết quả nhất định. [108] Các nhóm người sẽ tụ họp để nghiên cứu những tác động sáng tạo hay hiệu quả thanh lọc của âm thanh có trật tự kết hợp với chuyển động và sự hợp nhất; họ sẽ nghiên cứu bằng thông nhãn tác động kiến tạo lên ba thể của con người; tác động loại bỏ vật chất trong những thể ấy sẽ được hệ thống hóa thành bảng, và mọi tri thức thu được sẽ được vận dụng cụ thể để cải thiện các thể ấy. Phẩm tính của mãnh lực được khai thác cùng những tác động gây hưng phấn, tiếp sinh lực và kích thích của nó sẽ được theo dõi sát sao. Người ta sẽ nghiên cứu các trung tâm trong mối quan hệ với những dòng mãnh lực đã tiếp xúc, đồng thời chủ động phát triển chúng và tăng cường chuyển động xoay.
[109] Another angle of the whole matter resolves itself into work in the world, and though dependent on the status and personnel of the group, it is not primarily for group purposes. [110] Groups will apply themselves to the work of contacting certain types of logoic force, of passing it through the group funnel, and of sending it out through the world for certain constructive ends. [111] This work is closely allied to that undertaken by the Nirmanakayas or Distributors of Force, and will be largely under their direction, [112] for—when the right time comes—They [113] will be able to use these groups as focal points for Their activities. Their work now has its focal point primarily on the mental plane and somewhat on the emotional. When the secret of causal alignment is better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation (an impossibility at present, for the personality looms as yet too large) then the Nirmanakayas will be able to directly contact the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon. [Page 200]
[109] Một góc độ khác của toàn bộ vấn đề thể hiện thành công việc trong thế gian, và dù tùy thuộc vào trình độ cùng thành viên của nhóm, công việc ấy không chủ yếu phục vụ mục đích của nhóm. [110] Các nhóm sẽ chuyên tâm tiếp xúc với một số loại mãnh lực của Thượng đế, đưa mãnh lực ấy qua phễu của nhóm rồi truyền nó ra thế gian vì những mục đích kiến tạo nhất định. [111] Công việc này liên hệ mật thiết với công việc của các Đấng Ứng Hóa Thân hay các Đấng Phân Phối Mãnh Lực, và phần lớn sẽ do Các Ngài hướng dẫn, [112] vì—khi đúng thời điểm—Các Ngài [113] sẽ có thể sử dụng những nhóm này làm tiêu điểm cho các hoạt động của mình. Hiện nay, công việc của Các Ngài có tiêu điểm chủ yếu trên cõi trí và phần nào trên cõi cảm xúc. Khi bí mật của sự chỉnh hợp với thể nguyên nhân được nắm bắt rõ hơn, và khi những nhóm người đang nhập thể trên cõi hồng trần có thể thật sự hợp tác (hiện nay chưa thể, vì phàm ngã vẫn còn quá nổi trội), các Đấng Ứng Hóa Thân sẽ có thể tiếp xúc trực tiếp với cõi hồng trần, nhờ đó tác động bằng mãnh lực lớn lao lên những dòng tiến hóa tồn tại ở đó. [Page 200]
[114] Healing groups will work as follows. The circle of workers, with the unit to be healed placed in their midst, [115] will definitely apply themselves to the healing of that unit by the use of set mantrams, and by the following of certain movements they will cause the focal point of the downpouring force to be the sick member in their midst. [116] By the stimulating power of that force, by its re-building quality, or by its capacity to destroy and eliminate, what you call miracles will be matters of everyday occurrence. The subject is too vast to be more than hinted at here. But as the race progresses and the secret of making the at-one-ment is more comprehended, when many people tread the Probationary Path, [117] when the percentage of initiates is greater than it is now, [118] and when large numbers of the human race are more directly aligned with the egoic body, you will see the scientific application of the laws of sound and rhythm.
[114] Các nhóm trị liệu sẽ hoạt động như sau. Những người hoạt động đứng thành vòng tròn, với người cần chữa lành ở giữa, [115] sẽ chuyên tâm chữa lành cho người ấy bằng những mantram đã định; qua việc thực hiện một số chuyển động, họ sẽ khiến người bệnh ở giữa trở thành tiêu điểm của mãnh lực tuôn xuống. [116] Nhờ quyền năng kích thích, phẩm tính tái kiến tạo hay khả năng phá hủy và loại bỏ của mãnh lực ấy, những gì các bạn gọi là phép lạ sẽ trở thành chuyện hằng ngày. Đề tài này quá rộng lớn nên ở đây chỉ có thể gợi đôi nét. Nhưng khi nhân loại tiến bộ và thấu hiểu hơn bí mật tạo nên sự hợp nhất, khi nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị, [117] khi tỷ lệ điểm đạo đồ cao hơn hiện nay, [118] và khi đông đảo con người chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể chân ngã, các bạn sẽ thấy việc vận dụng khoa học những định luật của âm thanh và nhịp điệu.
[119] At the same time you will see the misuse of those powers—a misuse that will herald in one of the final struggles between the Lords of Light and the Lords of Darkness. [120] Great will be the cataclysm and terrific the disaster, but ever the Light shines in darkness, and He Who reigns above all, and Who holds all within the circumference of His Aura knows the hour of opportunity, and knows too how to utilize that which can protect.
[119] Đồng thời, các bạn sẽ thấy sự lạm dụng những quyền năng ấy—một sự lạm dụng sẽ báo hiệu một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng giữa các Chúa Tể Ánh Sáng và các Chúa Tể Bóng Tối. [120] Biến động sẽ vô cùng lớn lao và tai họa sẽ hết sức khủng khiếp, nhưng Ánh Sáng luôn chiếu rọi trong bóng tối, và Đấng ngự trị trên tất cả, Đấng giữ tất cả trong chu vi Hào Quang của Ngài, biết giờ phút thuận lợi và cũng biết cách vận dụng những gì có thể bảo vệ.
[121] Special occasions on which these forms will be employed.
[121] Những dịp đặc biệt sẽ sử dụng các hình thức này.
[122] The great event on the planet in direct relation to the human race is the Wesak festival. [123] There is one still greater moment in the calendar when a funnel is created directly between the earth and the supreme Ruler himself, the Logos of our system. [124] This is accomplished through the power of certain mantrams and the united efforts of the Hierarchy and the Deva Lords of the planes. [125] These Deva Lords are aided by the deva evolution, and the Hierarchy [Page 201] by those of the human race who are steady. They focus through the Lords of the Rays then in manifestation as well as through the Planetary Logos of this planet. The date of this event is not yet for exoteric communication.
[122] Sự kiện lớn lao trên hành tinh liên quan trực tiếp đến nhân loại là lễ hội Wesak. [123] Trong lịch còn có một thời điểm trọng đại hơn, khi một phễu được tạo trực tiếp giữa Trái Đất và chính Đấng Cai Quản tối cao, Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta. [124] Điều này thành tựu nhờ quyền năng của một số mantram và nỗ lực hợp nhất của Thánh đoàn cùng các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi. [125] Dòng tiến hóa thiên thần trợ giúp các Chúa Tể Thiên Thần này, còn Thánh đoàn [Page 201] nhận sự trợ giúp của những người vững vàng trong nhân loại. Các Ngài tập trung qua các Chúa Tể của các Cung đang biểu hiện khi ấy, cũng như qua Đức Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh này. Chưa thể công bố ngày của sự kiện này ra ngoại môn.
[126] On all the three main lines of approach—that of the Manu, or Ruler, the Bodhisattva, or World Teacher, and the Mahachohan, or Lord of Civilization—their own specific groups will be found, subject to certain mantrams and words, and moving under certain rhythmic laws. [127] One hint only can I give here but I think you will find it interesting. The time is coming when those who work under the Manu, manipulating nations, directing their attention to government and politics, sitting in the assemblies of the people, giving out the laws and apportioning justice, [128] will begin all their work with great rhythmic ceremonies. By means of their united rhythm and chanted words, they will seek to put themselves in touch with the consciousness of the Manu and with His great governing department, so bringing more clearly into practice the working out of His plans and the formulation of His intentions. Having aligned their bodies and made the necessary funnel, they will proceed with business after having placed in their midst as a focal point of illumination one or two men who will give their entire attention to finding out the intention of the Manu and His subordinates upon the matter in hand.
[126] Trên cả ba đường tiếp cận chính—đường của Đức Manu hay Đấng Cai Quản, của Đức Bồ Tát hay Đức Chưởng Giáo, và của Đức Mahachohan hay Chúa Tể của Văn Minh—đều có những nhóm đặc thù riêng, tuân theo một số mantram và linh từ, đồng thời chuyển động theo những định luật nhịp điệu nhất định. [127] Ở đây Tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý, nhưng Tôi nghĩ các bạn sẽ thấy thú vị. Thời điểm đang đến khi những người hoạt động dưới quyền Đức Manu, điều hành các quốc gia, chú tâm đến việc cai trị và chính trị, tham gia các hội đồng nhân dân, ban hành luật pháp và thực thi công lý, [128] sẽ khởi đầu mọi công việc bằng những nghi lễ nhịp nhàng lớn lao. Nhờ nhịp điệu hợp nhất và những linh từ cùng tụng, họ sẽ tìm cách tiếp xúc với tâm thức của Đức Manu và bộ môn cai quản vĩ đại của Ngài, qua đó đưa việc thực hiện những kế hoạch và diễn đạt những ý định của Ngài vào thực tiễn rõ ràng hơn. Sau khi chỉnh hợp các thể của mình và tạo phễu cần thiết, họ sẽ tiến hành công việc, sau khi đặt ở giữa một hay hai người làm tiêu điểm soi sáng; những người này sẽ dành trọn sự chú tâm để tìm hiểu ý định của Đức Manu và các vị phụ tá của Ngài đối với vấn đề đang bàn.
[129] So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organized. [130] The priest will be the focal point, and, after due ceremony and rhythm on the part of the united congregation, [131] they will be the transmitters of information from on high. But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men. All will then be priests and a [Page 202] layman can hold that office when duly chosen at the beginning of the ceremony. The only qualification required will be the capacity to align with the higher, and to co-operate with all the other units in the concourse.
[129] Trong bộ môn của Đức Bồ Tát cũng sẽ có một trình tự tương tự, mà cơ cấu dành cho nó đã được tổ chức sẵn. [130] Vị tư tế sẽ là tiêu điểm, và sau khi cộng đồng hợp nhất thực hiện nghi lễ cùng nhịp điệu thích hợp, [131] các vị ấy sẽ truyền đạt thông tin từ trên cao. Nhưng đây là một điểm đáng chú ý hết sức quan trọng: vào thời ấy, hàng tư tế sẽ không còn là một đoàn thể tách biệt. Khi đó, tất cả đều sẽ là tư tế, và một [Page 202] người thế tục có thể đảm nhiệm chức vụ ấy nếu được chọn đúng cách vào đầu nghi lễ. Điều kiện duy nhất cần có là khả năng chỉnh hợp với cái cao hơn và hợp tác với mọi thành viên khác trong tập thể.
[132] In the department of the Mahachohan, the Lord of Civilization and Culture [133] and the head of the third line of evolution, you will see again similar action. No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information [134] from the department controlling the activity of the mind. [135] In this way the stimulation of the mental bodies of the students, and the strengthening of the channel between higher and lower mind will be greatly aided. [136] The intuition will also be developed and contacted. [137] In the above statements I have by no means covered the ground. [138] I have but indicated the broad outlines of what will some day be facts in physical plane demonstration. The thought conveys much matter for consideration and for speculation [139] and is full of helpfulness for the wise student. [140] Aught that enlarges his horizon and increases the range of his vision is to be welcomed, even though his apprehension of these facts may be at fault [141] and his capacity to assimilate leaves much to be desired.
[132] Trong bộ môn của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Văn Minh và Văn Hóa [133] và là Đấng đứng đầu đường tiến hóa thứ ba, các bạn cũng sẽ thấy hoạt động tương tự. Không một trường đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này, huấn sư sẽ là tuyến tập trung thông tin [134] từ bộ môn kiểm soát hoạt động của thể trí. [135] Bằng cách này, việc kích thích các thể trí của môn sinh và củng cố kênh giữa thượng trí với hạ trí sẽ nhận được sự trợ giúp lớn lao. [136] Trực giác cũng sẽ được phát triển và tiếp xúc. [137] Trong những điều trình bày trên, Tôi hoàn toàn chưa bao quát hết đề tài. [138] Tôi chỉ phác họa những nét lớn của điều một ngày kia sẽ trở thành sự thật biểu hiện trên cõi hồng trần. Ý tưởng này mang lại nhiều điều để xem xét và suy tưởng [139] và rất hữu ích cho đạo sinh sáng suốt. [140] Bất cứ điều gì mở rộng chân trời và tầm nhìn của y đều đáng đón nhận, dù sự lĩnh hội của y về những sự thật này có thể sai lệch [141] và khả năng hấp thu của y vẫn còn nhiều điều cần cải thiện.
Bình giảng Thư Về Tham thiền Huyền môn 42
Hi everybody, and welcome back to Letters on Occult Meditation Video Commentary, Program 42. It's been a few days, as you see, since I've been able to work on this. We've been working particularly in an area having to do with mantrams and various forms which are useful in contacting higher states of consciousness, and purifying and rendering fit the mechanism which has to receive the downflow of energy from these higher states.
Xin chào tất cả các bạn, và chào mừng các bạn trở lại với chương trình video bình giảng Thư Về Tham thiền Huyền môn, số 42. Như các bạn thấy, đã vài ngày rồi tôi mới có thể tiếp tục công việc này. Chúng ta đã đặc biệt tập trung vào lĩnh vực liên quan đến các mantram và những hình tướng khác nhau, hữu ích cho việc tiếp xúc với các trạng thái tâm thức cao hơn, cũng như thanh lọc và làm cho bộ máy trở nên thích hợp để tiếp nhận dòng năng lượng tuôn xuống từ những trạng thái cao hơn ấy.
We come now to a section called “The use of Form collectively,” and it's the last division of the sixth letter, which has been a lengthy one. Now, in what I try to do here, it's never enough to just listen one time or to look. One has to enter into a close study of each section.
Giờ đây, chúng ta đến phần có tên “Sử dụng Hình tướng trong tập thể”, và đây là phần cuối của bức thư thứ sáu, một bức thư khá dài. Với những gì tôi đang cố gắng thực hiện ở đây, chỉ nghe hoặc xem một lần thì không bao giờ đủ. Chúng ta phải nghiên cứu kỹ từng phần.
Obviously, as the Tibetan says, he's given us more than we can ever absorb. That's quite obvious. Nevertheless, we can do our best to assimilate as we go, and inevitably there will be a sufficiency of knowledge to really help us advance in this work.
Hiển nhiên, như Chân sư Tây Tạng nói, Ngài đã trao cho chúng ta nhiều hơn mức chúng ta có thể tiếp thu hết. Điều đó rất rõ ràng. Tuy nhiên, trong quá trình học, chúng ta có thể cố gắng hết sức để lĩnh hội, và chắc chắn sẽ có đủ tri thức để thực sự giúp chúng ta tiến bước trong công việc này.
[1] 4 - The use of Form collectively.
[1] 4 - Việc sử dụng Hình Tướng trong tập thể.
[2] I propose to take this up under three heads which for purposes of clarity we will call:—
[2] Tôi dự định bàn về điều này dưới ba đề mục mà để làm rõ, chúng ta sẽ gọi là:—
[3] 1—The use of sound collectively in a meditation form.
[3] 1—Việc sử dụng âm thanh trong tập thể theo một hình thức tham thiền.
[4] 2—The use of rhythm collectively in meditation.
[4] 2—Việc sử dụng nhịp điệu trong tập thể khi tham thiền.
And so much of that has disappeared. There are not only issues regarding pronunciation of words and sounds; there's the rhythm in which they have to be spoken, and then there are the notes upon which they are to be intoned, and then—
Và rất nhiều điều trong đó đã thất truyền. Không chỉ có những vấn đề liên quan đến cách phát âm các từ và âm thanh; còn có nhịp điệu mà chúng phải được đọc theo, rồi những âm điệu mà chúng phải được ngân theo, và rồi—
[5] 3—Special occasions on which these forms are used.
[5] 3—Những dịp đặc biệt sử dụng các hình thức này.
[5b] (You can, Brother of Mine, word these first two heads more euphoniously, you have got my thought but the wording is heavy and faulty)
[5b] (Huynh đệ của Tôi, bạn có thể diễn đạt hai đề mục đầu này sao cho thuận tai hơn; bạn đã nắm được ý Tôi, nhưng cách diễn đạt còn nặng nề và chưa chuẩn.)
It's such a joy to be able to work with what the Tibetan has given us. The depth and extent of the gift will only later be made obvious to us. Right now, we just wade in and try to take advantage of what has been imparted, but the scope of the gift is extraordinary, and of course it comes from permissions granted by Master K.H., by the Christ, by Sanat Kumara.
Có thể làm việc với những gì Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta quả là một niềm hoan hỉ. Chỉ về sau chúng ta mới thấy rõ chiều sâu và tầm vóc của món quà ấy. Hiện giờ, chúng ta cứ bước vào và cố tận dụng những gì đã được truyền đạt, nhưng phạm vi của món quà này thật phi thường, và dĩ nhiên, nó đến từ sự cho phép của Chân sư KH, Đức Christ và Đức Sanat Kumara.
Then ellipses, and it would be, of course, interesting to know what's omitted, but for whatever reason the omissions exist, and we just have to live with them.
Tiếp theo là những dấu chấm lửng; dĩ nhiên, sẽ rất thú vị nếu biết những gì đã bị lược bỏ, nhưng dù vì lý do nào, những phần lược bỏ ấy vẫn tồn tại, và chúng ta đành chấp nhận.
[6]......We have rather exhaustively
[6] Trong loạt thư này, chúng ta đã xem xét khá tường tận
—yes—
—đúng vậy—
[7] considered in this series of letters individual meditation and have taken up the subject from many and varied angles.
[7] việc tham thiền cá nhân và đã bàn về đề tài ấy từ nhiều góc độ khác nhau.
That is the great gift when you combine the second ray and the third ray, which I think the Tibetan does, just as the Buddha had done.
Đó là món quà lớn lao khi kết hợp cung hai với cung ba, điều mà Tôi nghĩ Chân sư Tây Tạng thực hiện, cũng như Đức Phật đã từng làm.
[8] In all our handling of the matter only enough has been communicated to arouse the interest of the student and to incite him to greater effort, closer study, and deeper investigation.
[8] Trong toàn bộ phần bàn luận, chúng ta chỉ truyền đạt vừa đủ để khơi dậy sự quan tâm của đạo sinh và thúc đẩy y nỗ lực hơn, nghiên cứu kỹ hơn và tìm hiểu sâu hơn.
So, think about that incitement. That has been the Tibetan's motive: to arouse our interest, and to incite us to greater effort. Think of it: closer study, closer study, and deeper investigation. All of this hints at the idea that we are likely to be a bit superficial in how we read, and we cannot tolerate, with hope of success, any kind of superficiality with regard to this material.
Vì vậy, hãy suy nghĩ về sự thôi thúc ấy. Đó chính là động cơ của Chân sư Tây Tạng: khơi dậy sự quan tâm của chúng ta và thôi thúc chúng ta nỗ lực hơn. Hãy nghĩ đến điều này: nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, và tìm hiểu sâu hơn. Tất cả những điều này đều gợi ra ý tưởng rằng có lẽ chúng ta hơi hời hợt trong cách đọc; nếu hy vọng thành công, chúng ta không thể chấp nhận bất kỳ sự hời hợt nào đối với tài liệu này.
[9] Only that which is understood and grasped as a fact in experience by the inner consciousness avails aught in the hard path of occult development. Theories and mental concepts avail not. They but increase responsibility. Only when these theories are put to the test, and are consequently known to be facts in nature, and only when mental concepts are brought down and demonstrated on the physical plane in practical experience, can the student be in a position to point the way to other searchers, and to hold out a helping hand to those following behind.
[9] Chỉ những gì tâm thức bên trong thấu hiểu và nắm bắt như một sự thật qua trải nghiệm mới có ích trên con đường phát triển huyền bí đầy gian khó. Các lý thuyết và khái niệm trí tuệ không có ích. Chúng chỉ làm tăng trách nhiệm. Chỉ khi các lý thuyết ấy trải qua thử nghiệm và do đó được biết là những sự thật trong tự nhiên, và chỉ khi các khái niệm trí tuệ được đưa xuống và chứng minh trên cõi hồng trần bằng trải nghiệm thực tế, đạo sinh mới có thể chỉ đường cho những người tìm kiếm khác và đưa tay giúp đỡ những người theo sau.
And of course, this is precisely what the Tibetan can do. He and other Masters have made these theories factual in their own experience. Sometimes I'm working with some students on the idea of identifying as being, and there's a lot of Ray 3 type of philosophy going into it, but only when the exercises proposed can be rendered effective right here on the physical plane is there any real and lasting benefit. And the successful performing of those exercises is elusive.
Và dĩ nhiên, đây chính là điều Chân sư Tây Tạng có thể làm. Ngài và các Chân sư khác đã biến những lý thuyết này thành sự thật trong trải nghiệm của Các Ngài. Đôi khi Tôi cùng một số đạo sinh làm việc với ý tưởng đồng hoá với Bản Thể, và rất nhiều triết học thuộc cung ba được đưa vào đó, nhưng chỉ khi các bài tập đề xuất có thể phát huy hiệu quả ngay tại đây, trên cõi hồng trần, mới có lợi ích thực sự và lâu dài. Và việc thực hiện thành công những bài tập ấy không dễ đạt được.
So, as he says, the hard path of occult development, and of course we know there is one who has accomplished something, and we have yet to accomplish even a slight approximation of that which he has accomplished. But what man has done, man can do. And so we press forward.
Vì vậy, như Ngài nói, con đường phát triển huyền bí gian nan; dĩ nhiên, chúng ta biết có một Đấng đã thành tựu được điều gì đó, còn chúng ta vẫn chưa đạt được dù chỉ một phần nhỏ gần với những gì Ngài đã thành tựu. Nhưng điều con người đã làm được thì con người có thể làm được. Và vì thế, chúng ta tiếp tục tiến bước.
[10] To say: “I hear” may prove helpful and encouraging; to add to that the words “I believe” may carry added assurance, but to sound forth a trumpet note and say “I know” is the thing needed in this one of the darkest hours of the Kali Yuga.
[10] Nói: “Tôi nghe” có thể hữu ích và mang lại sự khích lệ; thêm vào đó những lời “Tôi tin” có thể đem lại sự vững tin hơn, nhưng cất lên một tiếng kèn vang và nói “Tôi biết” mới là điều cần thiết trong giờ phút này, một trong những giờ phút tăm tối nhất của thời đại đen tối.
Well, when did that Kali Yuga begin? Something like—by one measure—3002 BC, the way we look at our calendar at this time. And here, this is written in the 20s, and it's dark, because the war has only gone underground, the great war, the war to end all wars. Recently there have been some films, because it's been 100 years since the ending of the First World War, so naturally this is commemorated in films. And they've shown just how awful it was—war is hell—and what trench warfare was like: dark, very dark. And following that war—this being written in August of 1920—the darkness had not abated; it had just temporarily gone underground. And even now, the potential for darkness is very great. 100 years later, it is somewhat underground, but capable of affecting people's choices and the coming of the Aquarian Age. So this is one of the darkest periods.
Thời đại suy đồi ấy bắt đầu khi nào? Theo một cách tính, vào khoảng năm 3002 trước Công nguyên, theo lịch mà hiện nay chúng ta sử dụng. Đoạn này được viết vào những năm 1920, và đó là thời kỳ tăm tối, bởi cuộc chiến chỉ mới lui vào ngấm ngầm—cuộc đại chiến, cuộc chiến được cho là sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến. Gần đây có một số bộ phim, bởi đã tròn 100 năm kể từ khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, nên dĩ nhiên người ta tưởng niệm sự kiện này qua phim ảnh. Những bộ phim ấy cho thấy cuộc chiến khủng khiếp đến mức nào—chiến tranh là địa ngục—và chiến tranh chiến hào diễn ra ra sao: tăm tối, vô cùng tăm tối. Sau cuộc chiến ấy—đoạn này được viết vào tháng Tám năm 1920—bóng tối chưa hề giảm bớt; nó chỉ tạm thời lui vào ngấm ngầm. Ngay cả hiện nay, tiềm năng của bóng tối vẫn rất lớn. Một trăm năm sau, nó phần nào vẫn ngấm ngầm, nhưng có khả năng tác động đến những lựa chọn của con người và sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Vì vậy, đây là một trong những thời kỳ tăm tối nhất.
The trumpet sound of “I know.” Now, we're told that the age of Aquarius is an age of knowledge rather than of belief and obedience, as was the case during the age of Pisces. When it comes to the question of obedience, of course, it's necessary at all times—obedience to the inward impulses of the soul, necessary at all times. But under Pisces, there's a special type of acquiescence and surrender. So the obedience, so-called obedience, that will be prominent in the age of Aquarius will be based also upon knowledge. And because the knowledge becomes more certain, the obedience becomes more sincere and more frequently, readily practiced.
Tiếng kèn vang của lời “Tôi biết”. Giờ đây, chúng ta được cho biết rằng Kỷ Nguyên Bảo Bình là một thời đại của tri thức, thay vì của niềm tin và sự vâng phục như trong Kỷ Nguyên Song Ngư. Khi nói đến sự vâng phục, dĩ nhiên điều ấy luôn cần thiết—vâng phục những thôi thúc bên trong của linh hồn, luôn luôn cần thiết. Nhưng dưới ảnh hưởng Song Ngư, có một kiểu thuận theo và quy phục đặc biệt. Vì vậy, sự vâng phục, cái gọi là sự vâng phục sẽ nổi bật trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, cũng sẽ dựa trên tri thức. Và vì tri thức trở nên chắc chắn hơn, sự vâng phục sẽ chân thành hơn, được thực hành thường xuyên và sẵn lòng hơn.
[11] The knowers are as yet few. Yet to know is fully possible and is subject only to the diligence, the sincerity, and the capacity of the pupil on the path to stand firm in suffering.
[11] Những thức giả hiện vẫn còn ít. Tuy nhiên, việc biết là hoàn toàn có thể và chỉ tùy thuộc vào sự chuyên cần, lòng chân thành và khả năng đứng vững trong đau khổ của môn sinh trên đường đạo. [Page 191]
Well, there are some requirements to become a true knower. We can say, “Well, come on now, is it not going to give me what I want? Let's see how this works.” And the hope is that it does work. So, requirements to become a true knower. It is a question, isn't it, friends, of doing these things? I mean, we can be advised endlessly by the best sources of advice, but will we actually do? Of course, as I ask you, I ask myself. So many times knowing and doing are separated by some kind of hiatus: I know, but I do not do. It's kind of a cleavage, isn't it, between the mental nature and the physical nature of performance. And the astral vehicle gets into a tune, because you have to be motivated to do, and you have to overcome the inertia of the physical nature, which becomes more difficult as you get older, as DK has reminded us. We begin to—what does he say?—creak a bit.
Có một số yêu cầu để trở thành một thức giả chân chính. Chúng ta có thể nói: “Nào, chẳng lẽ điều này không mang lại cho tôi điều tôi muốn sao? Hãy xem nó vận hành thế nào.” Và chúng ta hy vọng nó thực sự có hiệu quả. Vậy, những yêu cầu để trở thành một thức giả chân chính. Các bạn của Tôi, vấn đề chẳng phải là thực hiện những điều này sao? Ý Tôi là, chúng ta có thể nhận lời khuyên mãi từ những nguồn chỉ dẫn tốt nhất, nhưng liệu chúng ta có thực sự làm không? Dĩ nhiên, khi hỏi các bạn, Tôi cũng tự hỏi mình. Biết bao lần, giữa biết và làm có một khoảng gián đoạn nào đó: Tôi biết, nhưng Tôi không làm. Đó là một dạng chia cắt, phải không, giữa bản chất trí tuệ và bản chất hồng trần của việc thực hiện. Và vận cụ cảm dục cũng tham gia vào sự phối hợp ấy, vì bạn phải có động lực để làm, và bạn phải vượt qua tính trì trệ của bản chất hồng trần; điều này càng khó hơn khi bạn lớn tuổi, như Chân sư DK đã nhắc chúng ta. Chúng ta bắt đầu—Ngài nói thế nào nhỉ?—hơi kẽo kẹt.
[12] Now having some dim idea
[12] Giờ đây, khi đã có một ý tưởng mơ hồ
—he's putting himself in our consciousness—
—Ngài đang đặt mình vào tâm thức của chúng ta—
[13] of the results to be achieved, and the methods to be employed in individual meditation, and having enlarged a little on the use of forms by individuals, we can now take up the consideration of the matter from the collective standpoints.
[13] về những kết quả cần đạt được và những phương pháp cần sử dụng trong tham thiền cá nhân, đồng thời đã bàn rộng thêm đôi chút về việc cá nhân sử dụng các hình thức, chúng ta có thể xem xét vấn đề từ những góc nhìn tập thể.
And he says “a little” and “somewhat,” but for us it's a lot of information. And we have only dim ideas. The little, in his eyes, that he has given us is a lot when we consider what we have and what we know. So we've looked at the microcosmic approach to meditation, and now something more regarding the collective, as group meditation is becoming more and more important. Maybe it didn't start out that way when introduced to the West in a great flood of revelation, but now group meditation is much more common. It's been growing all these years.
Ngài nói “đôi chút” và “phần nào”, nhưng đối với chúng ta, đó là rất nhiều thông tin. Và chúng ta chỉ có những ý niệm mơ hồ. Theo cách nhìn của Ngài, những gì Ngài đã trao cho chúng ta là ít ỏi, nhưng xét những gì chúng ta có và biết, thì đó lại là rất nhiều. Vậy, chúng ta đã xem xét cách tiếp cận tham thiền ở cấp độ tiểu thiên địa, và giờ đây sẽ tìm hiểu thêm về phương diện tập thể, vì tham thiền nhóm đang ngày càng trở nên quan trọng. Có lẽ ban đầu không phải như vậy khi tham thiền được đưa vào phương Tây trong một làn sóng mặc khải lớn lao, nhưng giờ đây tham thiền nhóm phổ biến hơn nhiều. Nó đã phát triển suốt những năm qua.
[14] Some of the most important things to note about the collective use of forms are that it has a universal vogue, is very effective, and can also be very dangerous.
[14] Một số điều quan trọng nhất cần lưu ý về việc sử dụng các hình thức trong tập thể là việc ấy phổ biến khắp nơi, rất hiệu quả và cũng có thể rất nguy hiểm.
Gosh, we are certainly warned—warmed, yes, but warned. We are warned over and again about the dangers of occult meditation. But of course, the benefits far outweigh those dangers, and we have to take the risk.
Chà, chắc chắn chúng ta được cảnh báo—được sưởi ấm, đúng vậy, nhưng là được cảnh báo. Chúng ta được cảnh báo hết lần này đến lần khác về những nguy hiểm của tham thiền huyền bí. Nhưng dĩ nhiên, lợi ích vượt xa những nguy hiểm ấy, và chúng ta phải chấp nhận rủi ro.
[15] The collective worshipping of the Deity and the performance of religious rites in unison is so much a part of the public life of all peoples that its raison d'etre, and the results achieved, are apt to be overlooked.
[15] Việc cùng nhau thờ phụng Thượng đế và đồng loạt cử hành các nghi lễ tôn giáo đã trở thành một phần quá quen thuộc trong đời sống cộng đồng của mọi dân tộc, đến mức người ta dễ bỏ qua lý do tồn tại và những kết quả đạt được của việc ấy.
As I say, more and more collective worship, and maybe now more collective meditation. Worship we've had, certainly in the West, in group form for a long time. I was in old town Tallinn, Estonia, in a church that was prominent in the 17th century, and those very straight and uncomfortable pews were there. And one just imagines how filled it was in the old days, people worshipping together under the spell of fear and awe, and also occasionally of exultation and joy, I suppose. So this is indeed a part of life, and has been for a long time. And the festivals in the East are very populated.
Như Tôi nói, ngày càng có nhiều hoạt động thờ phụng tập thể, và có lẽ giờ đây cũng có nhiều hoạt động tham thiền tập thể hơn. Chắc chắn ở phương Tây, chúng ta đã có việc thờ phụng theo nhóm từ lâu. Tôi từng đến khu phố cổ Tallinn, Estonia, vào một nhà thờ nổi bật trong thế kỷ XVII, nơi vẫn còn những hàng ghế rất thẳng và không thoải mái ấy. Người ta có thể hình dung ngày xưa nhà thờ chật kín thế nào, mọi người cùng thờ phụng trong bầu không khí sợ hãi và kính sợ, và đôi khi, Tôi cho là, cũng có niềm hân hoan và sự hoan hỉ. Vì vậy, đây quả thực là một phần của đời sống, và đã như vậy từ lâu. Còn những lễ hội ở phương Đông thì có rất đông người tham dự.
[16] Every religion—Christian, Buddhist, Hindu, Mohammedan, down to the distorted fetish worship of the most degraded race—
[16] Mọi tôn giáo—Kitô giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, cho đến việc thờ vật linh méo mó của bộ phận nhân loại suy đồi nhất—
where basically you're taking some material item to be the deity itself. I remember there was a movie called The Gods Must Be Crazy, where a can of Coca-Cola fell from a plane. Was it an empty can? I don't remember. And it was odd. It fell in the midst of a jungle atmosphere. It was picked up by one of the native people and worshipped as a deity. Well, we've all been through it, haven't we? So, every religion
trong đó, về cơ bản, bạn xem một vật thể nào đó chính là Thượng đế. Tôi nhớ có một bộ phim tên là Đến Thượng Đế Cũng Phải Cười, trong đó một lon Coca-Cola rơi xuống từ máy bay. Có phải là lon rỗng không? Tôi không nhớ. Và chuyện ấy thật kỳ lạ. Nó rơi xuống giữa một khung cảnh rừng rậm. Một người bản địa nhặt nó lên và thờ phụng nó như một vị thần. Tất cả chúng ta đều đã trải qua điều đó, phải không? Vậy, mọi tôn giáo
[17] has emphasised the value and efficiency of a united attempt to contact the Divine.
[17] đều nhấn mạnh giá trị và hiệu quả của một nỗ lực hợp nhất nhằm tiếp xúc với điều Thiêng Liêng.
This is going back, I'm sure, a very long time.
Tôi chắc rằng điều này đã có từ rất lâu.
[18] Results are inevitably achieved, ranging all the way from the calm and peaceful feeling that rests upon the participant in the Christian mysteries, to the frenzy and gyrations of the wildest dervish or the most benighted Zulu.
[18] Những kết quả tất yếu xuất hiện, trải dài từ cảm giác bình tâm và an hòa bao phủ người tham dự các nghi lễ huyền nhiệm Kitô giáo cho đến sự cuồng loạn và những vòng xoay của tu sĩ khổ hạnh cuồng nhiệt nhất hay người Zulu mê muội nhất.
Well, this kind of language would not go today, because obviously the dervish culture and the Zulu culture have much to recommend them, and much of a deeper nature. But I guess we're talking about the peacefulness of worship and the wildness of worship. Basically, that's the point he's trying to make.
Ngày nay, cách diễn đạt này sẽ không được chấp nhận, bởi rõ ràng văn hóa của các tu sĩ khổ hạnh Hồi giáo và văn hóa Zulu có nhiều điều đáng trân trọng, cùng nhiều khía cạnh sâu sắc hơn. Nhưng Tôi nghĩ chúng ta đang nói đến sự bình an trong thờ phụng và sự cuồng nhiệt trong thờ phụng. Về cơ bản, đó là điều Ngài muốn nói.
[19] The difference lies in the ability of the worshipper to assimilate force, and in his capacity to hold and carry it. These points are decided by his place on the ladder of evolution, and by the emotional and mental control of which he may be possessed.
[19] Sự khác biệt nằm ở khả năng hấp thu mãnh lực của người thờ phụng và khả năng giữ cũng như mang mãnh lực ấy. Những điều này tùy thuộc vào vị trí của y trên thang tiến hóa và mức độ làm chủ cảm xúc cùng trí tuệ mà y có thể có.
So, basically, we have to take this as telling us there are effects to group worship, but they are different kinds of effects, and much depends upon the condition of the instrument, the group instrument. There are Christian groups that love to enter ecstatic states, and they wish to imitate the speaking in tongues which came to the disciples of the Christ through the Holy Spirit in the upper room. But so many of these imitations are simply missing the Holy Spirit. They are imitations. And I think there is gradually a reduction in activity, so that the stillness required and indicated by the statement “Be still and know that I am God” —so that stillness develops.
Vì vậy, về cơ bản, chúng ta phải hiểu rằng đoạn này cho biết việc thờ phụng nhóm có những tác động, nhưng đó là những loại tác động khác nhau, và rất nhiều điều tùy thuộc vào tình trạng của công cụ, công cụ nhóm. Có những nhóm Kitô giáo thích bước vào các trạng thái ngây ngất, và họ muốn bắt chước việc nói các thứ tiếng đã đến với các đệ tử của Đức Christ qua Chúa Thánh Thần trong căn phòng trên lầu. Nhưng rất nhiều sự bắt chước ấy đơn giản là thiếu Chúa Thánh Thần. Chúng chỉ là những sự bắt chước. Và Tôi nghĩ hoạt động dần dần giảm bớt, để sự tĩnh lặng mà lời “Hãy tĩnh lặng và biết rằng Tôi là Thượng đế” yêu cầu và chỉ ra có thể phát triển.
[20] The first postulate to remember in considering the collective use of form in meditation is that those forms, in employing sound and rhythm, should open up a funnel of communication between those taking part in them and the Intelligences or Powers they are seeking to approach.
[20] Tiền đề đầu tiên cần nhớ khi xem xét việc sử dụng hình thức trong tham thiền tập thể là: thông qua âm thanh và nhịp điệu, các hình thức ấy phải mở ra một phễu giao tiếp giữa những người tham dự và các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng mà họ đang tìm cách tiếp cận.
I'm a little daunted by DK's outlines, because somehow I always manage to lose my way. But let's try to do something here that is a little bit indicative. First—so, that's the first postulate: it should open up a funnel of communication. Now, this idea of the funnel, of the vortex, of the cleared line of communication is very prominent in occultism and in the general science of invocation seeking evocation. I mean, that is the principle: invocation seeks evocation.
Tôi hơi ngại những dàn ý của Chân sư DK, vì không hiểu sao Tôi luôn bị lạc hướng. Nhưng chúng ta hãy thử làm điều gì đó ở đây để chỉ ra đôi chút. Trước hết—đó là tiên đề đầu tiên: phải mở ra một phễu giao tiếp. Ý tưởng về phễu, về xoáy, về đường giao tiếp đã được khai thông này rất nổi bật trong huyền bí học và trong khoa học khẩn cầu nói chung nhằm tìm kiếm sự gợi lên. Ý Tôi là, đó chính là nguyên lý: khẩn cầu tìm kiếm sự gợi lên.
[21] By the means of this funnel which penetrates from the physical to the emotional, or still higher to one or other of the mental levels, the Intelligences or Powers are enabled to pour forth illuminating light or power of some kind or other into those who thus approach Them.
[21] Nhờ phễu này, xuyên từ cõi hồng trần đến cõi cảm xúc, hoặc còn cao hơn đến một cấp độ trí tuệ nào đó, các Đấng Trí Tuệ hay Quyền Năng có thể tuôn ánh sáng soi sáng hoặc một loại quyền năng nào đó vào những người tiếp cận Các Ngài theo cách ấy.
So, I want to make sure that this word “funnel” is emphasized. We will see this more and more depicted through animation, and some of our close associates and long-term disciples are actually artistically adept at either producing or finding representations of the funnel, so that we can get a better idea of really what's happening when, via the funnel, there can be a downflow from these Intelligences and Powers. And, of course, the funnel can go higher than the mind as well, obviously.
Vì vậy, Tôi muốn bảo đảm rằng từ “phễu” này được nhấn mạnh. Chúng ta sẽ ngày càng thấy nhiều hình ảnh mô tả điều này qua hoạt hình, và một số cộng sự thân thiết cùng các đệ tử lâu năm của chúng ta thực sự có tài nghệ thuật trong việc tạo ra hoặc tìm kiếm những hình ảnh biểu đạt phễu, để chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều gì thực sự đang diễn ra khi, qua phễu, có thể có một dòng tuôn xuống từ các Đấng Trí Tuệ và Quyền Năng này. Và dĩ nhiên, phễu cũng có thể vươn cao hơn thể trí.
The funnel—it's interesting—maybe when I was a kid I experimented with funnels. At least I used to like to play with them. And I would notice that, of course, the way they were constructed, the downflow was always less than the content of the widened portion of the funnel. It wasn't a sudden downrush; it was a channel. And depending on how wide the aperture was, so would be the rate of flow. I'm recalling that Master Kuthumi and Master DK were having a discussion about the disciple F.C.D., and they were debating whether to widen the channel between some higher state and his present state. He was very sensitive already, and they decided, well, it's wide enough, because any further widening might be debilitating. So, channel or funnel, it's pretty much the same.
Phễu—thật thú vị—có lẽ khi còn nhỏ Tôi đã thử nghiệm với những chiếc phễu. Ít nhất, Tôi từng thích chơi với chúng. Và Tôi nhận thấy rằng, dĩ nhiên, với cách cấu tạo của chúng, dòng chảy xuống luôn ít hơn lượng chứa trong phần mở rộng của phễu. Nó không phải một dòng ào xuống đột ngột; nó là một kênh dẫn. Và tốc độ dòng chảy tùy thuộc vào độ rộng của miệng thoát. Tôi nhớ Chân sư Kuthumi và Chân sư DK từng thảo luận về đệ tử F.C.D., và Các Ngài cân nhắc liệu có nên mở rộng kênh dẫn giữa một trạng thái cao hơn nào đó và trạng thái hiện tại của y hay không. Y vốn đã rất nhạy cảm, và Các Ngài quyết định rằng kênh ấy đã đủ rộng, bởi mở rộng thêm có thể khiến y suy nhược. Vì vậy, kênh dẫn hay phễu cũng gần như giống nhau.
[22] The funnel forms a channel whereby the contact can be made. The whole process is purely scientific and is based on vibration, and on a knowledge of dynamics.
[22] Phễu này [Page 192] tạo thành một kênh để thiết lập sự tiếp xúc. Toàn bộ tiến trình hoàn toàn mang tính khoa học, dựa trên rung động và sự hiểu biết về động lực học.
This is interesting. And maybe we're not talking so much about fluid dynamics as we would in physics, but we are talking about a range of vibrations and the adjustment of frequencies. So there is an adjustment of frequency producing the flow, some kind of gradient or incline or flow from a higher frequency to the area where a lower frequency existed before. So, the antahkarana is pretty much that way too. I mean, we're really imagining a line when we visualize the antahkarana that way, but what's really happening is a heightening of a point of tension. The antahkarana is really a progressive heightening of a point of tension.
Điều này thật thú vị. Và có lẽ chúng ta không nói nhiều về động lực học lưu chất như trong vật lý học, mà đang nói đến một dải rung động và việc điều chỉnh các tần số. Vì vậy, có sự điều chỉnh tần số tạo ra dòng chảy, một dạng độ chênh, độ dốc hay dòng chảy từ một tần số cao hơn đến vùng trước đó có tần số thấp hơn. Antahkarana cũng khá giống như vậy. Ý Tôi là, khi hình dung antahkarana theo cách ấy, chúng ta thực sự đang tưởng tượng một đường nối, nhưng điều thực sự diễn ra là sự nâng cao một điểm tập trung nhất tâm. Antahkarana thực sự là sự nâng cao dần dần một điểm tập trung nhất tâm.
So, purely scientific. And so, in that sense, the fifth ray has to be brought to bear on these dynamics. And of course, it's one thing to talk about it and another thing to be able to do it. But the analogy in one way is: you have to read the menu in order to order the meal, in order to eat the meal. So, you have to study first. And then, according to the studies, you can invoke, call upon, or build, and finally evoke what is needed to experience a new state in a practical manner.
Vậy, hoàn toàn mang tính khoa học. Và theo nghĩa ấy, phải vận dụng cung năm vào những động lực này. Dĩ nhiên, nói về điều đó là một chuyện, còn có thể thực hiện lại là chuyện khác. Nhưng có thể dùng phép tương đồng này: bạn phải đọc thực đơn để gọi món, rồi mới ăn món ấy. Vì vậy, trước hết bạn phải nghiên cứu. Sau đó, dựa trên những gì đã nghiên cứu, bạn có thể khẩn cầu, kêu gọi hoặc xây dựng, và cuối cùng gợi lên những gì cần thiết để trải nghiệm một trạng thái mới một cách thực tiễn.
[23] It is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum. The occult statement that “Nature abhors a vacuum”
[23] Tiến trình này tùy thuộc vào việc tạo chính xác một khoảng chân không thông qua tri thức huyền bí. Phát biểu huyền bí rằng “Tự nhiên không dung chứa khoảng chân không”
—or maybe let us say a differential regarding rates of vibration—
—hoặc có lẽ hãy nói là một độ chênh về tốc độ rung động—
[24] is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel
[24] là hoàn toàn đúng. Khi việc xướng đúng một số âm thanh tạo nên khoảng chân không hay phễu rỗng này
—empty in what sense?—
—rỗng theo nghĩa nào?—
[25] between the higher and the lower is formed, force or power of some manifestation of fohatic energy pours into the funnel under the inevitable working of the law, and, via that funnel, reaches its objective.
[25] giữa cái cao và cái thấp, mãnh lực hay quyền năng của một biểu hiện nào đó của năng lượng lửa vũ trụ sẽ tuôn vào phễu theo sự vận hành tất yếu của định luật, rồi qua phễu ấy đạt đến mục tiêu.
Very important little section there, and something that, as we gain more knowledge about occult meditation, we will be employing knowingly. All of this flow from the higher to the lower, and, I suppose, the reciprocal communication eventually, is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum.
Đây là một đoạn ngắn rất quan trọng, và là điều mà khi có thêm tri thức về tham thiền huyền bí, chúng ta sẽ vận dụng một cách có hiểu biết. Toàn bộ dòng chảy này từ cái cao xuống cái thấp, và Tôi cho là cuối cùng cả sự giao tiếp qua lại, đều tùy thuộc vào việc tạo lập chính xác một khoảng chân không thông qua tri thức huyền bí.
The occult statement that “Nature abhors a vacuum” is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds
Phát biểu huyền bí rằng “Tự nhiên không dung nạp chân không” là hoàn toàn đúng. Khi xướng đúng một số âm thanh
—now obviously this has to be given in the oral tradition, from mouth to ear, or telepathically; it's the same—it's entirely true, nature abhors a vacuum.
—dĩ nhiên, điều này phải được truyền theo truyền thống khẩu truyền, từ miệng đến tai, hoặc bằng viễn cảm; cũng như nhau—đó là điều hoàn toàn đúng, tự nhiên không dung nạp chân không.
When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel between the higher and the lower is formed,
Khi việc xướng đúng một số âm thanh tạo ra khoảng chân không hay phễu rỗng này giữa cái cao và cái thấp,
—a kind of gravitational response involving frequencies—
—một dạng đáp ứng hấp dẫn liên quan đến các tần số—