← Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Lá Thư VI

is Sagittarius, the sign of alignment connected with dance, I think so. And this lining up—

Trích nội dung chương

[98] results in a downflow of force from above. This causes a vivification of the three major centres and a definite illumination. [98] sẽ tạo ra một dòng mãnh lực tuôn xuống từ trên cao. Điều này tiếp sinh lực cho ba trung tâm chính và mang lại sự soi sáng rõ rệt.


is Sagittarius, the sign of alignment connected with dance, I think so. And this lining up—

là Nhân Mã, dấu hiệu của sự chỉnh hợp có liên quan đến múa, tôi nghĩ vậy. Và sự chỉnh hợp này—

[97] —when coupled with intensest aspiration and ardent desire—

[97] —khi kết hợp với khát vọng mãnh liệt nhất và ước muốn thiết tha—

Sagittarius—

Nhân Mã—

[98] results in a downflow of force from above. This causes a vivification of the three major centres and a definite illumination.

[98] sẽ tạo ra một dòng mãnh lực tuôn xuống từ trên cao. Điều này tiếp sinh lực cho ba trung tâm chính và mang lại sự soi sáng rõ rệt.

Let's call it illumination through alignment. It's like a new world, isn't it? Or is it a very old world? These things are being revealed to us in a very coherent, well-presented manner, and helping to organize our minds accordingly. So now we begin to understand what types of rhythmic movements are allowed in the student occultist, and what types are not.

Hãy gọi đó là sự soi sáng qua chỉnh hợp. Giống như một thế giới mới, phải không? Hay đó là một thế giới rất cổ xưa? Những điều này đang được tiết lộ cho chúng ta một cách rất mạch lạc, trình bày rõ ràng, và giúp tổ chức thể trí của chúng ta theo đó. Vì vậy, giờ đây chúng ta bắt đầu thấu hiểu những loại chuyển động nhịp nhàng nào người học huyền bí học được phép thực hành, và những loại nào thì không.

And what about rap? Very rhythmic, sometimes very violent, sometimes very inventive, quite hypnotic, quite compelling. There's a lot of gangsterism that goes along with it, and rap singers are fairly frequently killed, shot. We read about it all the time. What are they invoking? Certainly it's nothing melodic, nothing beautiful in the conventional sense of beauty, but it is effective on certain types of minds that want to be entrained by that kind of rhythm. They fall within the radius of that heavily punctuated use of words, heavily emphasized and rhythmically delivered words. Well, it's very much with us now. It has been for some time now. I don't know how long—10 years, 20 years—it's hard to say.

Còn lối hát nói theo nhịp thì sao? Rất giàu nhịp điệu, đôi khi rất dữ dội, đôi khi rất sáng tạo, khá mê hoặc, khá lôi cuốn. Có nhiều hành vi băng đảng đi kèm với nó, và những ca sĩ hát nói khá thường xuyên bị giết, bị bắn. Chúng ta luôn đọc thấy những chuyện ấy. Họ đang khẩn cầu điều gì? Chắc chắn không có gì du dương, không có gì đẹp theo ý nghĩa thông thường của cái đẹp, nhưng nó tác động đến một số dạng thể trí muốn cuốn theo loại nhịp điệu ấy. Họ rơi vào phạm vi ảnh hưởng của cách sử dụng từ ngữ đầy những điểm nhấn mạnh ấy, những từ được nhấn rất mạnh và phát ra theo nhịp điệu. Hiện nay nó rất phổ biến quanh chúng ta. Nó đã hiện diện được một thời gian rồi. Tôi không biết bao lâu—10 năm, 20 năm—khó nói.

But even these common elements of speech—we have to be so careful about our use of them. We're told how important it is to mind our words, and give every word its true value, and to rightly pronounce, and even maybe beautifully pronounce, but always apply purpose to our use of words. And how much more is this the case when we're using words rhythmically? Master Morya obviously is using some kind of meter when he says, “Lie, lie, lie, perish.” So there's this tremendous emphasis at the end, preceded by a repetition. Well, we may have been using these things unconsciously for quite a while, but now the science of the proper use will come to us, and we'll probably be quite amazed at how unconscious we have been.

Nhưng ngay cả với những yếu tố thông thường này của lời nói, chúng ta cũng phải hết sức thận trọng khi sử dụng. Chúng ta được cho biết việc chú tâm đến lời nói, dành cho mỗi từ đúng giá trị của nó, phát âm đúng, và có lẽ thậm chí phát âm đẹp, quan trọng biết bao; nhưng luôn phải đặt mục đích vào việc sử dụng từ ngữ. Và điều này càng đúng biết bao khi chúng ta sử dụng từ ngữ theo nhịp điệu? Chân sư Morya rõ ràng đang sử dụng một dạng nhịp luật khi Ngài nói: “Dối trá, dối trá, dối trá, diệt vong.” Như vậy, ở cuối có một sự nhấn mạnh ghê gớm, đi trước là sự lặp lại. Có lẽ chúng ta đã sử dụng những điều này một cách vô thức từ khá lâu, nhưng giờ đây khoa học về cách sử dụng đúng đắn sẽ đến với chúng ta, và có lẽ chúng ta sẽ rất kinh ngạc trước mức độ vô thức của mình.

[99] When an entire concourse of people is thus animated by a single high desire, when their auras blend and form one united channel for the downflow,

[99] Khi cả một tập thể cùng nhận động lực từ một ước muốn cao cả duy nhất như vậy, khi hào quang của họ hòa trộn và tạo thành một kênh hợp nhất cho dòng tuôn xuống,

when their auras blend—and I want to just say, through proper arrangement and right rhythm—

khi hào quang của họ hòa vào nhau—và tôi chỉ muốn nói thêm, nhờ sự sắp xếp thích hợp và nhịp điệu đúng đắn—

[100] the effect is tremendously intensified and can be world-wide in its radius.

[100] tác động sẽ tăng cường vô cùng mạnh mẽ và có thể lan rộng khắp thế giới.

So this is a hint. Here we have a hint about the rituals of the future, and their possible good effect upon our entire globe. Probably it seems almost too much of a statement. How can that be? But the Tibetan is an accurate teacher.

Như vậy, đây là một gợi ý. Ở đây chúng ta có một gợi ý về những nghi lễ trong tương lai và tác động tốt đẹp mà chúng có thể tạo ra trên toàn bầu hành tinh của chúng ta. Có lẽ lời khẳng định này dường như gần như quá lớn lao. Làm sao có thể như vậy? Nhưng Chân sư Tây Tạng là một huấn sư chính xác.

[101] You have an instance of this in the wonderful Wesak festival, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from the levels on which the Buddha may be found.

[101] Các bạn có một ví dụ về điều này trong lễ hội Wesak kỳ diệu, đến nay vẫn được cử hành rộng khắp tại Ấn Độ, khi Thánh đoàn tạo thành một kênh truyền quyền năng và ân phúc từ những cấp độ nơi Đức Phật hiện diện.

Shamballic levels. And we hear of their rhythmic movement in anticipation of the arrival of the Buddha. All of that is done with a real knowledge of occultism. And I suppose those who can witness it will have an eyeful of that method. The wonderful Wesak festival. We wonder: is it still meeting? There are reasons to wonder, but let's just assume this is 1920, and it is occurring, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from Shamballic levels.

Các cấp độ Shamballa. Và chúng ta nghe nói đến chuyển động nhịp nhàng của Các Ngài để đón chờ Đức Phật đến. Tất cả đều được thực hiện với tri thức thực sự về huyền bí học. Và tôi cho rằng những ai có thể chứng kiến sẽ được tận mắt thấy đầy đủ phương pháp ấy. Lễ hội Wesak kỳ diệu. Chúng ta tự hỏi: lễ hội vẫn còn diễn ra chứ? Có những lý do để đặt câu hỏi, nhưng cứ giả định đây là năm 1920 và nó đang diễn ra, vẫn được cử hành rộng khắp tại Ấn Độ cho đến ngày nay, khi Thánh đoàn tạo thành một kênh truyền quyền năng và phúc lành từ các cấp độ Shamballa.

[102] He

[102] Ngài

—I suppose the Buddha—

—tôi cho là Đức Phật—

[103] acts as a focal point for that power, and—passing it through His Aura—pours it out over mankind by means of the channel provided by the assembled Lords, Masters, graded initiates and disciples.

[103] làm tiêu điểm cho quyền năng ấy và—đưa nó qua Hào Quang của Ngài—tuôn nó xuống nhân loại qua kênh do các Chúa Tể, Chân sư, điểm đạo đồ thuộc các cấp bậc và đệ tử đang tụ họp tạo nên.

So here is information on the Wesak festival. DK tends to give it once, and when it's repeated in other books, it's more the editor that's at work, and not DK. So the Masters are part of the distribution process. So he acts as the focal point, a focal point, and then passes it through the assembled Lords and other graded spiritual beings.

Như vậy, đây là thông tin về lễ hội Wesak. Chân sư DK thường chỉ đưa ra một lần; khi nó được lặp lại trong những sách khác, phần nhiều đó là công việc của người biên tập, chứ không phải của Chân sư DK. Các Chân sư là một phần của tiến trình phân phối. Ngài đóng vai trò tiêu điểm, một tiêu điểm, rồi truyền nó qua các Chúa Tể đang tụ hội và những Sinh Mệnh tinh thần khác thuộc nhiều cấp bậc.

[104] This channel is formed by the use of sound and rhythm simultaneously employed. By the chanting of a certain mantram by means of the slow, measured movements that accompany that chanting, the funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. The geometrical figures formed in the matter of the plane higher than the physical (which are the result of the geometrical movement of the concourse gathered in that Himalayan centre) form themselves into wonderful avenues of approach to the centre of blessing for the inhabitants, deva or otherwise, from any particular plane.

[104] Kênh này hình thành nhờ sử dụng đồng thời âm thanh và nhịp điệu. Qua việc tụng một mantram nhất định và những chuyển động chậm rãi, đều đặn đi kèm việc tụng ấy, một phễu hình thành vươn lên đến địa điểm mong muốn. Những hình hình học tạo ra trong vật chất của cõi cao hơn cõi hồng trần (là kết quả của chuyển động hình học của tập thể tụ họp tại trung tâm ấy ở vùng Hy Mã Lạp Sơn) tạo thành những lối tiếp cận kỳ diệu đến trung tâm ban ân phúc cho các cư dân, thiên thần hay những sinh linh khác, từ bất kỳ cõi cụ thể nào.

Well, we're really learning something here, and I'm not recalling that such detail about the movements and mantrams and words chanted by the Hierarchy, and participated in by the Hierarchy, has been given anywhere else in the books. I wrote a song about this, but I realize from reading this carefully that the tempo of my song is too fast for the kinds of things that actually occur. And thus we are corrected.

Chúng ta thực sự đang học được điều gì đó ở đây, và tôi không nhớ những chi tiết như vậy về các chuyển động, mantram và lời tụng của Thánh đoàn, có Thánh đoàn cùng tham gia, đã được đưa ra ở nơi nào khác trong các sách. Tôi đã viết một bài hát về điều này, nhưng khi đọc kỹ, tôi nhận ra tiết tấu bài hát của mình quá nhanh so với những điều thực sự diễn ra. Và như vậy, chúng ta được sửa lại.

Sound and rhythm simultaneously employed: that's how the channel is formed. And all with the great science behind it, and a certain mantram, obviously not to be given out; measured movements—not rapid movements, slow, measured movements accompanying the chanting. We're getting an impression of how all this is done. The funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. We're learning quite a bit about the power of the funnel and how to generate that funnel. The geometrical figures are inviting the devas by providing avenues of approach to the very high realms that devas can utilize and men can utilize.

Sử dụng đồng thời âm thanh và nhịp điệu: đó là cách kênh hình thành. Và tất cả đều có một khoa học lớn lao làm nền tảng, cùng một mantram nhất định, rõ ràng không được tiết lộ; những chuyển động có tiết độ—không phải chuyển động nhanh, những chuyển động chậm rãi, có tiết độ đi kèm việc tụng. Chúng ta đang có được một hình dung về cách thực hiện tất cả điều này. Một cái phễu hình thành, vươn lên đến địa điểm mong muốn. Chúng ta đang học được khá nhiều về quyền năng của cái phễu và cách tạo ra nó. Những hình dạng hình học mời gọi các thiên thần bằng cách cung cấp những con đường tiếp cận các cảnh giới rất cao mà cả thiên thần lẫn con người đều có thể sử dụng.

[105] For those who can clairvoyantly view the scene, the beauty of the geometrical forms is unbelievable, and that beauty is enhanced by the radiant auras of the Great Ones Who are gathered there.

[105] Đối với những người có thể quan sát cảnh tượng ấy bằng thông nhãn, vẻ đẹp của các hình hình học thật khó tin, và những hào quang rực rỡ của Các Đấng Cao Cả tụ họp tại đó càng làm tăng vẻ đẹp ấy. [Page 199]

So, something to look forward to in completeness. I suppose people do see, and they do imagine, and maybe they do forget what they have seen. If this is done not in meditation but during the hours of sleep, that's also possible. And yet we understand that the practice of spiritual occultism leads to the realization of an unearthly beauty. If DK says it's unbelievably beautiful, well, then we have to trust that it is.

Như vậy, đó là điều đáng mong chờ được thấy trọn vẹn. Tôi cho rằng người ta quả có thấy, có hình dung, và có lẽ có quên những gì mình đã thấy. Nếu điều này diễn ra không phải trong tham thiền mà trong những giờ ngủ, thì cũng có thể. Tuy nhiên, chúng ta thấu hiểu rằng việc thực hành huyền bí học tinh thần dẫn đến sự chứng nghiệm một vẻ đẹp không thuộc trần gian. Nếu Chân sư DK nói nó đẹp đến khó tin, thì chúng ta phải tin rằng quả là như vậy.

[106] In time to come

[106] Trong thời gian tới

—I guess I'm saying this should interest me—

—tôi nghĩ mình đang nói rằng điều này hẳn phải khiến tôi quan tâm—

[107] the value of the combination of music, chanting, and rhythmic movement will be comprehended, and it will be utilised for the achieving of certain results.

[107] người ta sẽ thấu hiểu giá trị của việc kết hợp âm nhạc, tụng niệm và chuyển động nhịp nhàng, rồi sử dụng sự kết hợp này để đạt những kết quả nhất định.

Personal note: I've done this, but of course without the knowledge—without sufficient occult knowledge. Definitely all the elements were there, but without sufficient occult knowledge. So, kind of a rehearsal for what is to come.

Ghi nhận cá nhân: tôi đã làm điều này, nhưng dĩ nhiên không có tri thức—không có đủ tri thức huyền bí. Chắc chắn mọi yếu tố đều hiện diện, nhưng không có đủ tri thức huyền bí. Vì vậy, đó là một dạng diễn tập cho những gì sắp đến.

[108] Groups of people will gather together to study the creative effects, or the purificatory efficacy of ordered sound joined to movement and unity; the constructive effect on the three bodies will be clairvoyantly studied; the eliminative effect on the matter of those bodies will be schematically tabulated and all knowledge gained will be definitely applied to the improvement of those bodies. The quality of the force tapped, and its exhilarating, vivifying and stimulating effects will be closely watched. The centres will be studied in their relation to the streams of force contacted, and their culture and the intensification of the rotary movement will be definitely undertaken.

[108] Các nhóm người sẽ tụ họp để nghiên cứu những tác động sáng tạo hay hiệu quả thanh lọc của âm thanh có trật tự kết hợp với chuyển động và sự hợp nhất; họ sẽ nghiên cứu bằng thông nhãn tác động kiến tạo lên ba thể của con người; tác động loại bỏ vật chất trong những thể ấy sẽ được hệ thống hóa thành bảng, và mọi tri thức thu được sẽ được vận dụng cụ thể để cải thiện các thể ấy. Phẩm tính của mãnh lực được khai thác cùng những tác động gây hưng phấn, tiếp sinh lực và kích thích của nó sẽ được theo dõi sát sao. Người ta sẽ nghiên cứu các trung tâm trong mối quan hệ với những dòng mãnh lực đã tiếp xúc, đồng thời chủ động phát triển chúng và tăng cường chuyển động xoay.

—until fourth-dimensionality, fourth-dimensional movement, rotation of the centers is achieved, and thus initiation. With initiation comes this higher dimensionality of movement, until we have what's called the wheel turning upon itself. So this is a summary statement of much that has gone before. So this is the future. Here we have the future use of music, chanting, rhythmic movement—and the chanting of course will be rhythmic, and the notes chosen, and the scales chosen, and maybe melodies also chosen.

—cho đến khi đạt được tính bốn chiều, chuyển động bốn chiều, sự xoay của các trung tâm, và nhờ đó là điểm đạo. Cùng với điểm đạo là tính chiều cao hơn này của chuyển động, cho đến khi chúng ta có điều được gọi là bánh xe tự quay trên chính nó. Đây là một lời tổng kết về nhiều điều đã trình bày trước đó. Như vậy, đây là tương lai. Ở đây chúng ta có cách sử dụng âm nhạc, tụng niệm, chuyển động nhịp nhàng trong tương lai—và dĩ nhiên việc tụng sẽ có nhịp điệu, với những nốt nhạc được lựa chọn, những thang âm được lựa chọn, và có lẽ cả những giai điệu được lựa chọn.

So, putting all these things together—people were doing this back in the 1500s, maybe even earlier. They had these masques, as they were called. They were not exactly operas, but they were kind of dramatic presentations, and they did have music. They did have melody. They did have rhythm. They had movement. We don't know about the rhythm of the movement, but maybe in the Greek choruses we had the rhythmic movement. It paints for me a very appealing picture of scientific artistic invocation. This is a prognostication of scientific artistic invocation.

Kết hợp tất cả những điều này lại—người ta đã làm như thế vào những năm 1500, có lẽ còn sớm hơn. Họ có những vở diễn đeo mặt nạ, như người ta gọi. Chúng không hẳn là nhạc kịch, nhưng là một dạng trình diễn sân khấu và có âm nhạc. Chúng có giai điệu. Có nhịp điệu. Có chuyển động. Chúng ta không biết về nhịp điệu của chuyển động, nhưng có lẽ trong các đội đồng diễn Hy Lạp đã có chuyển động nhịp nhàng. Điều này vẽ nên cho tôi một bức tranh rất hấp dẫn về sự khẩn cầu mang tính nghệ thuật và khoa học. Đây là một dự báo về sự khẩn cầu mang tính nghệ thuật và khoa học.

Well, when we know enough, it will be a very beautiful method of approach, and I have seen that in some of the rituals we perform, and especially certain pieces. There is an invocation of the energy to be utilized, and it's done through coordinated movement of a number of people. Of course, it doesn't have the power that he talks about here, but there has been exhilaration, and vivification, and stimulation. Maybe not looked at from the inside, but one could see the evidences of it. There's a little more to go here.

Khi chúng ta biết đủ, đó sẽ là một phương pháp tiếp cận rất đẹp, và tôi đã thấy điều ấy trong một số nghi lễ chúng ta thực hiện, đặc biệt là một số tiết mục. Có sự khẩn cầu năng lượng cần sử dụng, và điều đó diễn ra qua chuyển động phối hợp của một số người. Dĩ nhiên, nó không có quyền năng mà Ngài nói đến ở đây, nhưng đã có sự phấn chấn, tiếp sinh lực và kích thích. Có lẽ chưa được quan sát từ bên trong, nhưng người ta có thể thấy những dấu hiệu của nó. Ở đây còn một chút nữa.

[109] Another angle of the whole matter resolves itself into work in the world, and though dependent on the status and personnel of the group, it is not primarily for group purposes.

[109] Một góc độ khác của toàn bộ vấn đề thể hiện thành công việc trong thế gian, và dù tùy thuộc vào trình độ cùng thành viên của nhóm, công việc ấy không chủ yếu phục vụ mục đích của nhóm.

Really, he's into prognostication here. He's pretty well telling us what will emerge, what will emerge when we care enough to take the steps so that it can emerge. The timing has to be right, of course.

Ở đây, Ngài thực sự đang đưa ra dự báo. Ngài nói khá rõ với chúng ta điều gì sẽ xuất hiện, điều gì sẽ xuất hiện khi chúng ta đủ quan tâm để thực hiện những bước cần thiết cho nó xuất hiện. Dĩ nhiên, thời điểm phải thích hợp.

[110] Groups will apply themselves to the work of contacting certain types of logoic force, of passing it through the group funnel, and of sending it out through the world for certain constructive ends.

[110] Các nhóm sẽ chuyên tâm tiếp xúc với một số loại mãnh lực của Thượng đế, đưa mãnh lực ấy qua phễu của nhóm rồi truyền nó ra thế gian vì những mục đích kiến tạo nhất định.

Now, when he uses the word “logoic,” does he mean… It would seem, to scale, that we'd be talking about the Planetary Logos, but can he mean Solar Logos? Well, I suppose if the group is high enough, it can be the greater Logos, but it seems more likely at this point to be the Planetary Logos, maybe via Sanat Kumara. I say the word “maybe” a lot because it is speculative. If I'm certain of something, I'll talk about certainty, or ascertaining certain knowledge. But otherwise, lots of maybes enter into the picture.

Khi Ngài dùng từ “thuộc Thượng đế”, Ngài muốn nói đến… Xét theo quy mô, có vẻ chúng ta đang nói về Đức Hành Tinh Thượng Đế, nhưng liệu Ngài có thể muốn nói đến Thái dương Thượng đế không? Tôi cho rằng nếu nhóm đạt trình độ đủ cao, đó có thể là Thượng đế cao cả hơn, nhưng ở điểm này có vẻ nhiều khả năng là Đức Hành Tinh Thượng Đế, có lẽ qua Đức Sanat Kumara. Tôi nói từ “có lẽ” rất nhiều vì đây là suy đoán. Nếu chắc chắn về một điều gì, tôi sẽ nói đến sự chắc chắn, hoặc việc xác định tri thức chắc chắn. Nhưng ngoài ra, bức tranh có rất nhiều điều “có lẽ”.

[111] This work is closely allied to that undertaken by the Nirmanakayas or Distributors of Force, and will be largely under their direction,

[111] Công việc này liên hệ mật thiết với công việc của các Đấng Ứng Hóa Thân hay các Đấng Phân Phối Mãnh Lực, và phần lớn sẽ do Các Ngài hướng dẫn,

Well, this is still intraplanetary.

Điều này vẫn nằm trong phạm vi hành tinh.

[112] for—when the right time comes—They

[112] vì—khi đúng thời điểm—Các Ngài

—sixth degree initiates that they are—

—vốn là những điểm đạo đồ bậc sáu—

[113] will be able to use these groups as focal points for Their activities. Their work now has its focal point primarily on the mental plane and somewhat on the emotional. When the secret of causal alignment is better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation (an impossibility at present, for the personality looms as yet too large) then the Nirmanakayas will be able to directly contact the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon.

[113] sẽ có thể sử dụng những nhóm này làm tiêu điểm cho các hoạt động của mình. Hiện nay, công việc của Các Ngài có tiêu điểm chủ yếu trên cõi trí và phần nào trên cõi cảm xúc. Khi bí mật của sự chỉnh hợp với thể nguyên nhân được nắm bắt rõ hơn, và khi những nhóm người đang nhập thể trên cõi hồng trần có thể thật sự hợp tác (hiện nay chưa thể, vì phàm ngã vẫn còn quá nổi trội), các Đấng Ứng Hóa Thân sẽ có thể tiếp xúc trực tiếp với cõi hồng trần, nhờ đó tác động bằng mãnh lực lớn lao lên những dòng tiến hóa tồn tại ở đó. [Page 200]

So this is all about the work of the Nirmanakayas. So we're trying to create funnels, conduits of the right kind, through movement, rhythm, music, sounds, and all done in a scientific, artistic manner. And rhythmic movement, as the Hierarchy at present engages in rhythmic movement, will have much to do with creating this funnel. So, as humble as the attempts may be at first, it is not something to be dismissed. And when there is proper instruction, there will be adjustments that will make the outer movements really effective. But meanwhile, we have a lot to learn. So the Nirmanakayas too have a higher function, but they can bring through onto various planes, always going, should we say, lower and lower in terms of effectiveness on certain planes.

Như vậy, tất cả những điều này đều nói về công việc của các Đấng Ứng Thân. Chúng ta đang cố gắng tạo ra những phễu, những đường dẫn thích hợp thông qua chuyển động, nhịp điệu, âm nhạc, âm thanh, và tất cả đều được thực hiện một cách khoa học, nghệ thuật. Chuyển động có nhịp điệu, như chuyển động có nhịp điệu mà Thánh đoàn hiện đang thực hiện, sẽ góp phần rất lớn vào việc tạo ra phễu này. Vì vậy, dù những nỗ lực ban đầu có khiêm tốn đến đâu, đây cũng không phải là điều có thể xem nhẹ. Khi có sự hướng dẫn đúng đắn, sẽ có những điều chỉnh khiến các chuyển động bên ngoài thực sự hữu hiệu. Nhưng trong lúc này, chúng ta còn nhiều điều phải học. Các Đấng Ứng Thân cũng có một chức năng cao hơn, nhưng Các Ngài có thể truyền xuống các cõi khác nhau, ngày càng xuống thấp hơn, xét về hiệu quả trên những cõi nhất định.

And the secret of causal alignment has to come into our possession. When the secret of causal alignment is better understood, better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation—strong language here—which is impossible at present, because there's just too much personality, then the Nirmanakayas—who are maybe custodians, registrants of the purpose; that is one of the names we can call them—will be able to reach not just the mental plane, not just the astral plane, but all the way down onto the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon, which at the moment are all of the lower kingdoms of nature, including the human kingdom, and maybe the kingdom of souls—well, partially present on the lower planes and partially abstracted—and Chohans still more abstracted, but occasionally appearing, very occasionally, and seventh degree Chohans maybe even more occasionally—less frequently is what I mean.

Và chúng ta phải nắm được bí mật của sự chỉnh hợp nguyên nhân. Khi bí mật của sự chỉnh hợp nguyên nhân được thấu hiểu rõ hơn, nắm bắt rõ hơn, và khi các nhóm người đang nhập thể trên cõi hồng trần có thể thực sự hợp tác với nhau—ở đây lời lẽ rất mạnh—điều hiện nay là bất khả thi, vì phàm ngã còn quá lấn át, thì các Đấng Ứng Thân—có lẽ là những vị gìn giữ, những vị ghi nhận thiên ý; đó là một trong những danh xưng chúng ta có thể dùng cho Các Ngài—sẽ có thể vươn tới không chỉ cõi trí, không chỉ cõi cảm dục, mà xuống tận cõi hồng trần, và nhờ đó tác động bằng mãnh lực lớn lên các dòng tiến hoá trên cõi ấy; hiện nay, đó là tất cả các giới thấp trong tự nhiên, bao gồm giới nhân loại, và có lẽ cả giới linh hồn—một phần hiện diện trên các cõi thấp và một phần thoát ly khỏi các cõi ấy—còn các Chohan thì thoát ly hơn nữa, nhưng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện, rất hiếm khi, và các Chohan cấp bảy có lẽ còn xuất hiện hiếm hơn—ý Tôi là ít thường xuyên hơn.

Now, going on just a little more: healing groups.

Bây giờ, tiếp tục thêm một chút: các nhóm trị liệu.

[114] Healing groups will work as follows. The circle of workers, with the unit to be healed placed in their midst,

[114] Các nhóm trị liệu sẽ hoạt động như sau. Những người hoạt động đứng thành vòng tròn, với người cần chữa lành ở giữa,

—either actually or maybe imaginatively, I would say—

—theo Tôi, hoặc hiện diện thực sự, hoặc có lẽ qua sự tưởng tượng—

[115] will definitely apply themselves to the healing of that unit by the use of set mantrams, and by the following of certain movements they will cause the focal point of the downpouring force to be the sick member in their midst.

[115] sẽ chuyên tâm chữa lành cho người ấy bằng những mantram đã định; qua việc thực hiện một số chuyển động, họ sẽ khiến người bệnh ở giữa trở thành tiêu điểm của mãnh lực tuôn xuống.

I'm not recalling this being discussed in Esoteric Healing. So much information—everything has to be read if the needed information is to be actually assembled. The circle of workers, the unit to be healed in the midst, the set mantrams, and certain movements. So, what do we have? We have the circle, the one to be healed, the mantrams, and movements. We have all that for some of the new forms of healing, and there it is.

Tôi không nhớ điều này có được bàn đến trong Trị Liệu Huyền Môn hay không. Có quá nhiều thông tin—phải đọc tất cả thì mới thực sự tập hợp được những thông tin cần thiết. Vòng tròn những người hoạt động, cá nhân cần được chữa lành ở giữa, các mantram quy định sẵn, và những chuyển động nhất định. Vậy chúng ta có gì? Chúng ta có vòng tròn, người cần được chữa lành, các mantram và những chuyển động. Chúng ta có tất cả những điều ấy cho một số hình thức trị liệu mới, và chúng nằm ngay đây.

[116] By the stimulating power of that force, by its re-building quality, or by its capacity to destroy and eliminate, what you call miracles will be matters of everyday occurrence. The subject is too vast to be more than hinted at here. But as the race progresses and the secret of making the at-one-ment is more comprehended, when many people tread the Probationary Path,

[116] Nhờ quyền năng kích thích, phẩm tính tái kiến tạo hay khả năng phá hủy và loại bỏ của mãnh lực ấy, những gì các bạn gọi là phép lạ sẽ trở thành chuyện hằng ngày. Đề tài này quá rộng lớn nên ở đây chỉ có thể gợi đôi nét. Nhưng khi nhân loại tiến bộ và thấu hiểu hơn bí mật tạo nên sự hợp nhất, khi nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị,

—the many people; well, that's certainly by the time of the Judgment Day, but that's a long way ahead—

—nhiều người; chắc chắn đến thời điểm Ngày Phán Xét thì sẽ như vậy, nhưng đó vẫn còn là một tương lai rất xa—

[117] when the percentage of initiates is greater than it is now,

[117] khi tỷ lệ điểm đạo đồ cao hơn hiện nay,

—so maybe not so far ahead—

—vậy có lẽ cũng không quá xa—

[118] and when large numbers of the human race are more directly aligned with the egoic body, you will see the scientific application of the laws of sound and rhythm.

[118] và khi đông đảo con người chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể chân ngã, các bạn sẽ thấy việc vận dụng khoa học những định luật của âm thanh và nhịp điệu.

So, good news, let's say, from a truth speaker. You do wonder how anything good can come out of misrepresentations of the truth in short lives. So, miracles will be everyday occurrences, and all the many things we may be wishing for at the moment—so many of them, including the healing of dire diseases and conditions—will take place. So, the unfoldment of the human race is just in its early stages, but compared to how it has been, I'm sure we'd be quite shocked to register what the unfoldments have been—some remarkable unfoldments compared to the days when the huge animal man thundered across the earth, huge, huge tabernacles of clay, as it has been referred to, I think, maybe in The Secret Doctrine. The scientific application of the laws of sound and rhythm—and yet, in terms of healing methods, at least sound and color will be particularly emphasized as among the first to appear.

Như vậy, đó là tin tốt lành từ một người nói lên chân lý. Quả thật, người ta tự hỏi làm sao điều tốt lành có thể nảy sinh từ những sự xuyên tạc chân lý trong các kiếp sống ngắn ngủi. Phép lạ sẽ trở thành chuyện thường ngày, và rất nhiều điều mà lúc này chúng ta có thể đang mong ước—bao gồm việc chữa lành những bệnh tật và tình trạng hiểm nghèo—sẽ xảy ra. Sự khai mở của nhân loại mới chỉ ở những giai đoạn đầu, nhưng so với trước đây, Tôi chắc rằng chúng ta sẽ khá kinh ngạc khi nhận biết những sự khai mở đã diễn ra—những sự khai mở đáng kể so với thời người thú khổng lồ chạy rầm rập khắp Trái Đất, những đền tạm bằng đất sét khổng lồ, khổng lồ, như cách người ta từng gọi, có lẽ trong Giáo Lý Bí Nhiệm, theo Tôi nhớ. Sự ứng dụng khoa học các định luật về âm thanh và nhịp điệu—tuy nhiên, xét về các phương pháp trị liệu, ít nhất âm thanh và màu sắc sẽ được đặc biệt nhấn mạnh trong số những phương pháp xuất hiện đầu tiên.

When it comes to rhythm, I think we will make gains during the period of the cycle of the rhythmic seventh ray, and a fourth ray period is coming up, and we will make gains with color and sound, which will allow us to utilize those healing methods. There are color healers now, and some of them proceed, I think, in a reasonable manner, and they make suggestions about the healing potentials of color, and maybe there are some who understand what sounds can be applied, and indeed there will be positive results. So, the coming in of the fourth ray and the seventh ray—maybe the seventh ray for a longer period, though the fourth ray is in a very long cycle right now from a higher perspective—will bring methods of healing to humanity which are far less intrusive and painful and crude.

Về nhịp điệu, Tôi nghĩ chúng ta sẽ tiến bộ trong chu kỳ của cung bảy có tính nhịp điệu; một thời kỳ của cung bốn cũng đang đến, và chúng ta sẽ tiến bộ về màu sắc và âm thanh, nhờ đó có thể sử dụng các phương pháp trị liệu ấy. Hiện nay đã có những người trị liệu bằng màu sắc, và theo Tôi, một số người tiến hành khá hợp lý; họ đưa ra những gợi ý về tiềm năng chữa lành của màu sắc. Có lẽ cũng có những người thấu hiểu những âm thanh nào có thể được áp dụng, và quả thực sẽ có những kết quả tích cực. Vì vậy, sự xuất hiện của cung bốn và cung bảy—có lẽ cung bảy sẽ kéo dài lâu hơn, mặc dù từ một góc nhìn cao hơn, hiện nay cung bốn đang ở trong một chu kỳ rất dài—sẽ mang đến cho nhân loại những phương pháp trị liệu ít xâm lấn, ít đau đớn và ít thô sơ hơn nhiều.

[119] At the same time you will see the misuse of those powers—a misuse that will herald in one of the final struggles between the Lords of Light and the Lords of Darkness.

[119] Đồng thời, các bạn sẽ thấy sự lạm dụng những quyền năng ấy—một sự lạm dụng sẽ báo hiệu một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng giữa các Chúa Tể Ánh Sáng và các Chúa Tể Bóng Tối.

One of the final struggles. A very big struggle will occur at the Judgment Day, but maybe we're talking about some kind of precursor of that Judgment Day. It's to occur in the fifth round, and probably in relation to our chain, the fourth chain, rather than the other kind of round, which is much greater—some millions of years ahead, I suspect, for the Judgment Day. But maybe some of these final struggles in this particular cycle will occur in relation to the misuse of these powers.

Một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng. Một cuộc đấu tranh rất lớn sẽ xảy ra vào Ngày Phán Xét, nhưng có lẽ chúng ta đang nói về một dạng tiền thân của Ngày Phán Xét ấy. Ngày đó sẽ diễn ra trong cuộc tuần hoàn thứ năm, và có lẽ liên quan đến dãy của chúng ta, Dãy Thứ Tư, chứ không phải loại cuộc tuần hoàn kia, vốn lớn hơn nhiều—Tôi cho rằng Ngày Phán Xét còn cách đây hàng triệu năm. Nhưng có lẽ một số cuộc đấu tranh cuối cùng trong chu kỳ cụ thể này sẽ diễn ra liên quan đến sự lạm dụng những quyền năng ấy.

[120] Great will be the cataclysm and terrific the disaster, but ever the Light shines in darkness, and He Who reigns above all, and Who holds all within the circumference of His Aura knows the hour of opportunity, and knows too how to utilise that which can protect.

[120] Biến động sẽ vô cùng lớn lao và tai họa sẽ hết sức khủng khiếp, nhưng Ánh Sáng luôn chiếu rọi trong bóng tối, và Đấng ngự trị trên tất cả, Đấng giữ tất cả trong chu vi Hào Quang của Ngài, biết giờ phút thuận lợi và cũng biết cách vận dụng những gì có thể bảo vệ.

So, it sounds like something may be a little more imminent, but very, very destructive, if we can imagine withstanding that. The Judgment Day will involve a battle on the mental plane between, I think, higher and lower mind, even as now the battle is between what we normally call the soul, as the Angel of the Presence, and what we normally call the personality, as the Dweller on the Threshold. But the battle becomes more refined, and takes place at higher points of tension later.

Như vậy, có vẻ điều gì đó có thể đang đến gần hơn một chút, nhưng sẽ có sức huỷ diệt rất, rất lớn, nếu chúng ta có thể hình dung việc chịu đựng điều ấy. Ngày Phán Xét sẽ bao gồm một trận chiến trên cõi trí giữa thượng trí và hạ trí, theo Tôi nghĩ, cũng như hiện nay trận chiến diễn ra giữa điều chúng ta thường gọi là linh hồn, với tư cách Thiên Thần của Hiện Diện, và điều chúng ta thường gọi là phàm ngã, với tư cách Kẻ Chận Ngõ. Nhưng trận chiến trở nên tinh tế hơn, và về sau diễn ra tại những điểm tập trung nhất tâm cao hơn.

Great will be the cataclysm and terrific the disaster.

Biến động sẽ lớn lao và thảm hoạ sẽ khủng khiếp.

What's he hinting at here? And when does it appear? I guess we human beings have been through so much that when we hear a prognostication, a prediction regarding cataclysms and disasters, we tend to listen, having painfully been through a number of them—maybe, who knows, killed by volcanic action in Lemuria, or killed by drowning in Atlantis, or killed by fire in the fifth race age; no death by air yet really occurring in a way that we can describe. So even in the realm of great galaxies there are collisions, and I'm sure what can be perceived as disasters by the conscious inhabitants of those galaxies. So even though the universe is a tiny, huge thing—a huge, tiny thing—we consider it very consequential. And some of us consider it to be the only life we've got, being the in-universe life. And when we look at the dynamics of universal living, we find a lot of destruction and rebuilding in relation to the form. But in relation to the essential being, we find changelessness, and that is different, much different, from the destruction of the form.

Ở đây Ngài đang gợi ý điều gì? Và khi nào điều ấy xuất hiện? Tôi đoán con người chúng ta đã trải qua quá nhiều, đến mức khi nghe một lời tiên báo, một dự đoán về những biến động và thảm hoạ, chúng ta thường chú ý lắng nghe, vì đã đau đớn trải qua nhiều thảm hoạ như thế—có lẽ, ai biết được, đã chết vì hoạt động núi lửa ở Lemuria, hoặc chết đuối ở Atlantis, hoặc chết vì lửa trong thời đại giống dân thứ năm; thực sự chưa có cái chết do khí diễn ra theo cách chúng ta có thể mô tả. Ngay cả trong phạm vi các thiên hà lớn cũng có những vụ va chạm, và Tôi chắc rằng những cư dân hữu thức của các thiên hà ấy có thể xem đó là thảm hoạ. Vì vậy, dù vũ trụ là một thứ nhỏ bé, khổng lồ—một thứ khổng lồ, nhỏ bé—chúng ta vẫn xem nó là vô cùng hệ trọng. Một số người trong chúng ta xem đó là sự sống duy nhất mình có, tức sự sống bên trong vũ trụ. Khi nhìn vào động lực của sự sống vũ trụ, chúng ta thấy rất nhiều sự huỷ diệt và tái tạo liên quan đến hình tướng. Nhưng xét về bản thể cốt yếu, chúng ta thấy tính bất biến, và điều ấy khác, rất khác, với sự huỷ diệt hình tướng.

Let's pause a little. And I think what I am going to do is finish off this Letter number six, because Letter number seven is looming ahead three pages hence, and that will be a natural place to re-begin at our next occasion. So we'll get on to the subject of special occasions on which these forms—which are mantric forms, movement forms, rhythmic forms, musical forms, scalar and modal forms within music—special occasions on which these will be used, all combined simultaneously to great effect.

Chúng ta hãy tạm dừng một chút. Tôi nghĩ mình sẽ hoàn tất Bức Thư số sáu này, vì Bức Thư số bảy đang chờ phía trước, chỉ cách ba trang nữa, và đó sẽ là chỗ tự nhiên để bắt đầu lại vào lần tới. Vì vậy, chúng ta sẽ chuyển sang chủ đề những dịp đặc biệt mà các hình thức này—các hình thức mantram, hình thức chuyển động, hình thức nhịp điệu, hình thức âm nhạc, hình thức thang âm và điệu thức trong âm nhạc—sẽ được sử dụng, tất cả kết hợp đồng thời để tạo ra hiệu quả lớn.

After all, if we are going to exercise our kind of right to monadic retraction and follow back the line of descent which we followed into the depths of matter on our pilgrimage—not just our pilgrimage starting on this planet, but a much higher universal pilgrimage—we're going to have to know how to do that, and we're going to have to know how to use the forms which will elevate us and lead us, now that the evolutionary period has begun, to ever higher points of tension. We don't know those forms yet, but we are in the position of humble students of the great wisdom, and we have some idea of the caution, the solicitousness, with which we must proceed if the forms are to be imparted to us for our use in the process of re-elevation.

Xét cho cùng, nếu chúng ta muốn thực thi quyền trở về chân thần của mình và lần ngược con đường đi xuống mà chúng ta đã theo vào chiều sâu của vật chất trong cuộc hành hương—không chỉ cuộc hành hương bắt đầu trên hành tinh này, mà còn là một cuộc hành hương vũ trụ cao hơn nhiều—thì chúng ta phải biết cách thực hiện điều đó, và phải biết cách sử dụng những hình thức sẽ nâng chúng ta lên và dẫn chúng ta, giờ đây khi thời kỳ thăng thượng tiến hoá đã bắt đầu, tới những điểm tập trung nhất tâm ngày càng cao hơn. Chúng ta chưa biết những hình thức ấy, nhưng chúng ta đang ở vị thế những đạo sinh khiêm tốn của minh triết vĩ đại, và chúng ta có phần nào ý niệm về sự thận trọng, sự quan tâm chu đáo mà mình phải có khi tiến bước, nếu muốn được truyền trao những hình thức ấy để sử dụng trong tiến trình nâng cao trở lại.

So, now then, we'll go into the very last section of this Letter VI:

Vậy bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phần cuối cùng của Bức Thư VI này:

[121] Special occasions on which these forms will be employed.

[121] Những dịp đặc biệt sẽ sử dụng các hình thức này.

[122] The great event on the planet in direct relation to the human race is the Wesak festival.

[122] Sự kiện lớn lao trên hành tinh liên quan trực tiếp đến nhân loại là lễ hội Wesak.

Now, later he tells us this will fade out gradually, along with Good Friday, but he does give us, in Externalisation of the Hierarchy, a kind of save on that, because in every country there will be, at the normal time of the Taurus festival, a representative of the Buddha. And something similar, I think, will occur in relation to the festival of the Christ. There will be, I think, in every country, a representative of the Christ, who will be the radiatory focal point of that which is given out at the festival. So, even though the present form of the Wesak festival may not persist indefinitely—and maybe it has already ended; Mary Bailey thought so back in 1981—even though that may be the case, there will still be, of course, that downflow from the higher sources of the two great saving energies, the Christ and the Buddha.

Về sau, Ngài cho chúng ta biết lễ hội này sẽ dần phai nhạt, cùng với Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, Ngài cũng cho chúng ta một cách duy trì điều ấy, vì ở mỗi quốc gia, vào thời điểm thông thường của lễ hội Kim Ngưu, sẽ có một đại diện của Đức Phật. Theo Tôi, điều tương tự sẽ diễn ra với lễ hội của Đức Christ. Tôi nghĩ ở mỗi quốc gia sẽ có một đại diện của Đức Christ, người sẽ là tiêu điểm phát xạ của những gì được ban ra tại lễ hội. Vì vậy, dù hình thức hiện nay của lễ hội Wesak có thể không tồn tại mãi—và có lẽ nó đã kết thúc; bà Mary Bailey từng nghĩ như vậy vào năm 1981—dù điều đó có thể đúng, dĩ nhiên vẫn sẽ có dòng tuôn xuống từ những nguồn cao hơn của hai năng lượng cứu rỗi vĩ đại, Đức Christ và Đức Phật.

[123] There is one still greater moment in the calendar when a funnel is created directly between the earth and the supreme Ruler himself, the Logos of our system.

[123] Trong lịch còn có một thời điểm trọng đại hơn, khi một phễu được tạo trực tiếp giữa Trái Đất và chính Đấng Cai Quản tối cao, Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta.

And is it yearly? We can ask that. Is this a yearly event, and is it in Leo—Sirius? That's my question. But maybe we can ascertain, or come closer to finding out. I don't think he's going to easily give this out. One still greater moment, alignment with the Logos. But we're told that at the Leo festival there is a great recognition of all those in Hierarchy, and those who have recently become members of Hierarchy. And there seems to be a very strong connection with Sanat Kumara at that point. And if with Sanat Kumara, then perhaps with the Logos himself, of which Sanat Kumara is an extension. We put up a lot of questions trying to determine what's actually happening, and we may have to wait for the ascertainment.

Và điều đó có diễn ra hằng năm không? Chúng ta có thể đặt câu hỏi ấy. Đây có phải là một sự kiện hằng năm, và có diễn ra trong Sư Tử—Thiên Lang không? Đó là câu hỏi của Tôi. Nhưng có lẽ chúng ta có thể xác định, hoặc tiến gần hơn đến việc tìm ra câu trả lời. Tôi không nghĩ Ngài sẽ dễ dàng tiết lộ điều này. Một thời điểm lớn lao hơn nữa, sự chỉnh hợp với Thượng đế. Nhưng chúng ta được cho biết rằng tại lễ hội Sư Tử có sự ghi nhận trọng đại dành cho tất cả các thành viên Thánh đoàn, và những vị mới trở thành thành viên Thánh đoàn. Dường như vào thời điểm ấy có một mối liên hệ rất mạnh với Đức Sanat Kumara. Và nếu có liên hệ với Đức Sanat Kumara, thì có lẽ cũng có liên hệ với chính Thượng đế, mà Đức Sanat Kumara là một phần mở rộng. Chúng ta đặt ra nhiều câu hỏi để cố xác định điều gì thực sự đang diễn ra, và có lẽ phải chờ mới xác định được.

This is the Logos of our system. It's beyond Sanat Kumara. It's beyond our Planetary Logos. We are really speaking of the Solar Logos, apparently. And then maybe Leo for us has a special significance, as the Sun rules Leo. So there must be a special connection of the Solar Logos with the constellation Leo, and when we experience the sign Leo in relation to our planet, maybe we're tuning in on that special relation. Speculative, okay?

Đây là Thượng đế của hệ chúng ta. Ngài vượt trên Đức Sanat Kumara. Ngài vượt trên Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Dường như chúng ta thực sự đang nói về Thái dương Thượng đế. Vậy có lẽ Sư Tử mang một thâm nghĩa đặc biệt đối với chúng ta, vì Mặt Trời cai quản Sư Tử. Do đó, hẳn phải có một mối liên hệ đặc biệt giữa Thái dương Thượng đế với chòm sao Sư Tử, và khi chúng ta trải nghiệm dấu hiệu Sư Tử trong mối liên hệ với hành tinh mình, có lẽ chúng ta đang hoà điệu với mối liên hệ đặc biệt ấy. Đây là suy đoán, phải không?

[124] This is accomplished through the power of certain mantrams and the united efforts of the Hierarchy and the Deva Lords of the planes.

[124] Điều này thành tựu nhờ quyền năng của một số mantram và nỗ lực hợp nhất của Thánh đoàn cùng các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi.

Something way beyond our capability. But to know it is important—even though, I mean, how would we participate in the work done by Raja Deva Lords of the seventh degree? Mostly they're indicated as being of the seventh degree, maybe occasionally of the sixth degree.

Một điều vượt xa khả năng của chúng ta. Nhưng biết về điều ấy là quan trọng—dù chúng ta sẽ tham gia thế nào vào công việc của các Chúa Tể Đại Thiên Thần cấp bảy? Phần lớn Các Ngài được xác định là thuộc cấp bảy, có lẽ đôi khi thuộc cấp sáu.

[125] These Deva Lords are aided by the deva evolution, and the Hierarchy by those of the human race who are steady. They focus through the Lords of the Rays then in manifestation as well as through the Planetary Logos of this planet. The date of this event is not yet for exoteric communication.

[125] Dòng tiến hóa thiên thần trợ giúp các Chúa Tể Thiên Thần này, còn Thánh đoàn [Page 201] nhận sự trợ giúp của những người vững vàng trong nhân loại. Các Ngài tập trung qua các Chúa Tể của các Cung đang biểu hiện khi ấy, cũng như qua Đức Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh này. Chưa thể công bố ngày của sự kiện này ra ngoại môn.

Well, later he did talk about a great August—the pun—August festival, maybe. And it involves perhaps our Solar Logos, initiator Sirius, and Leo—a triangle there of Sirius, the Solar Logos, and our planet in this case. So maybe—he said a lot more about the Leo festival later, and maybe it is that. He didn't point to it as the ultimate festival. One still greater moment in the calendar—and it still sounds yearly—it would be remarkable if it was the Leo festival. But all we can do is put up the speculation, and we cannot know for sure.

Về sau, Ngài có nói đến một lễ hội tháng Tám trọng đại—một lối chơi chữ—có lẽ là lễ hội tháng Tám. Và có lẽ nó liên quan đến Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng Điểm đạo Thiên Lang, và Sư Tử—trong trường hợp này có một tam giác gồm Thiên Lang, Thái dương Thượng đế và hành tinh chúng ta. Vì vậy, có lẽ—về sau Ngài nói nhiều hơn về lễ hội Sư Tử, và có lẽ chính là lễ hội ấy. Ngài không chỉ rõ đó là lễ hội tối hậu. Trong lịch còn có một thời điểm lớn lao hơn nữa—và nghe vẫn như một sự kiện hằng năm—sẽ thật đáng chú ý nếu đó là lễ hội Sư Tử. Nhưng tất cả những gì chúng ta có thể làm là đưa ra suy đoán, chứ không thể biết chắc.

[126] On all the three main lines of approach—that of the Manu, or Ruler, the Bodhisattva, or World Teacher, and the Mahachohan, or Lord of Civilisation—their own specific groups will be found, subject to certain mantrams and words, and moving under certain rhythmic laws.

[126] Trên cả ba đường tiếp cận chính—đường của Đức Manu hay Đấng Cai Quản, của Đức Bồ Tát hay Đức Chưởng Giáo, và của Đức Mahachohan hay Chúa Tể của Văn Minh—đều có những nhóm đặc thù riêng, tuân theo một số mantram và linh từ, đồng thời chuyển động theo những định luật nhịp điệu nhất định.

So every department has its own groupings and associated mantrams and words and movements and rhythms. It's quite a well-organized picture that we are being told does exist.

Như vậy, mỗi ban đều có những nhóm riêng cùng các mantram, linh từ, chuyển động và nhịp điệu tương ứng. Đó là một bức tranh được tổ chức khá chặt chẽ mà chúng ta được cho biết là thực sự tồn tại.

[127] One hint only can I give here but I think you will find it interesting. The time is coming when those who work under the Manu, manipulating nations, directing their attention to government and politics, sitting in the assemblies of the people, giving out the laws and apportioning justice,

[127] Ở đây Tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý, nhưng Tôi nghĩ các bạn sẽ thấy thú vị. Thời điểm đang đến khi những người hoạt động dưới quyền Đức Manu, điều hành các quốc gia, chú tâm đến việc cai trị và chính trị, tham gia các hội đồng nhân dân, ban hành luật pháp và thực thi công lý,

These are those who work under the Manu. We just now had the first ray indication and the Libra indication regarding justice.

Đây là những người làm việc dưới quyền Đức Manu. Chúng ta vừa có dấu hiệu về cung một và dấu hiệu về Thiên Bình liên quan đến công lý.

[128] will begin all their work with great rhythmic ceremonies. By means of their united rhythm and chanted words, they will seek to put themselves in touch with the consciousness of the Manu and with His great governing department, so bringing more clearly into practice the working out of His plans and the formulation of His intentions. Having aligned their bodies and made the necessary funnel, they will proceed with business after having placed in their midst as a focal point of illumination one or two men who will give their entire attention to finding out the intention of the Manu and His subordinates upon the matter in hand.

[128] sẽ khởi đầu mọi công việc bằng những nghi lễ nhịp nhàng lớn lao. Nhờ nhịp điệu hợp nhất và những linh từ cùng tụng, họ sẽ tìm cách tiếp xúc với tâm thức của Đức Manu và bộ môn cai quản vĩ đại của Ngài, qua đó đưa việc thực hiện những kế hoạch và diễn đạt những ý định của Ngài vào thực tiễn rõ ràng hơn. Sau khi chỉnh hợp các thể của mình và tạo phễu cần thiết, họ sẽ tiến hành công việc, sau khi đặt ở giữa một hay hai người làm tiêu điểm soi sáng; những người này sẽ dành trọn sự chú tâm để tìm hiểu ý định của Đức Manu và các vị phụ tá của Ngài đối với vấn đề đang bàn.

And this too will probably occur at a certain point in the calendar. I'm recalling that the Mahachohan has certain meeting points—I think March and September, something like that. I think basically we're dealing with Aries and Libra, frankly. Maybe. I always give that qualified: maybe. But he says we will find this an interesting hint: that the first ray workers will also find their methods of invoking the mind, the intentions, the purpose of the Manu. That's not how first ray workers seem to be working today. Maybe such invocations and ceremonies are more likely found on other rays, but the day will come. Giving out the laws and apportioning justice. I think we can see how these great workers will work, having overcome so many of the liabilities. On any ray path there are just weaknesses that appear at first, liabilities to be overcome. But the day will come.

Và có lẽ điều này cũng sẽ diễn ra vào một thời điểm nhất định trong lịch. Tôi nhớ Đức Mahachohan có những thời điểm hội họp nhất định—hình như tháng Ba và tháng Chín, đại loại như vậy. Thành thật mà nói, Tôi nghĩ về cơ bản chúng ta đang nói đến Bạch Dương và Thiên Bình. Có lẽ. Tôi luôn kèm điều kiện ấy: có lẽ. Nhưng Ngài nói chúng ta sẽ thấy đây là một gợi ý thú vị: những người hoạt động thuộc cung một cũng sẽ tìm được các phương pháp khẩn cầu trí tuệ, các ý định và thiên ý của Đức Manu. Những người hoạt động thuộc cung một ngày nay dường như không làm việc theo cách đó. Có lẽ những sự khẩn cầu và nghi lễ như vậy thường thấy hơn ở các cung khác, nhưng ngày ấy sẽ đến. Ban hành luật pháp và thực thi công lý. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy những người hoạt động vĩ đại này sẽ làm việc ra sao, sau khi vượt qua rất nhiều nhược điểm. Trên con đường của bất kỳ cung nào cũng có những yếu kém xuất hiện ban đầu, những nhược điểm cần vượt qua. Nhưng ngày ấy sẽ đến.

And that word “manipulation” comes in. There's a positive manipulation and a negative. It just simply means to make arrangements with the hand—probably that's what manipulation is all about—or with the mind, the making of arrangements. And the ray of right arrangement is the seventh, a reflection of the first. So within the law, within the boundaries of the law, the Manu also can work at manipulation. The monadic types are the director, the teacher, and the manipulator. But every one of them can be the other two, to a degree. The director can be a teacher and manipulator. The teacher can be a manipulator and a director. And the manipulator can be a teacher and a director.

Và từ “điều phối” xuất hiện ở đây. Có sự điều phối tích cực và sự điều phối tiêu cực. Nó đơn giản có nghĩa là sắp xếp bằng bàn tay—có lẽ đó là ý nghĩa căn bản của sự điều phối—hoặc bằng thể trí, tức việc sắp xếp. Cung của sự sắp xếp đúng đắn là cung bảy, một phản ánh của cung một. Vì vậy, trong khuôn khổ định luật, trong các giới hạn của định luật, Đức Manu cũng có thể thực hiện việc điều phối. Các loại chân thần là người chỉ đạo, huấn sư và người điều phối. Nhưng mỗi loại đều có thể, ở một mức độ nào đó, đảm nhiệm hai vai trò còn lại. Người chỉ đạo có thể là huấn sư và người điều phối. Huấn sư có thể là người điều phối và người chỉ đạo. Và người điều phối có thể là huấn sư và người chỉ đạo.

So, this is a book very much about the future, isn't it? And think of it: I mean, it's going to be used in the future for this particular generation of spiritual students, which I don't think we can consider to be identical with the normal physical generation of some 20–25 years. So,

Như vậy, đây là một cuốn sách nói rất nhiều về tương lai, phải không? Hãy nghĩ xem: trong tương lai, nó sẽ được sử dụng cho thế hệ đạo sinh tinh thần cụ thể này, mà Tôi không nghĩ chúng ta có thể xem là đồng nhất với một thế hệ thông thường trên cõi hồng trần kéo dài khoảng 20–25 năm. Vì vậy,

[129] So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organised.

[129] Trong bộ môn của Đức Bồ Tát cũng sẽ có một trình tự tương tự, mà cơ cấu dành cho nó đã được tổ chức sẵn.

Focal points are needed. Let's just put that down: focal points are needed in each type of invocation in each department. So we see that there will be focal points also in the department of the Bodhisattva.

Cần có những tiêu điểm. Chúng ta hãy ghi nhận điều đó: mỗi loại khẩn cầu trong mỗi ban đều cần có những tiêu điểm. Vì vậy, chúng ta thấy trong ban của Đức Bồ Tát cũng sẽ có những tiêu điểm.

So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organised.

Trong ban của Đức Bồ Tát cũng sẽ áp dụng một quy trình tương tự, và cơ cấu dành cho quy trình ấy đã được tổ chức sẵn.

I think coming sooner than that along the first ray line.

Tôi nghĩ điều này sẽ đến sớm hơn điều tương ứng trên đường cung một.

[130] The priest will be the focal point, and, after due ceremony and rhythm on the part of the united congregation,

[130] Vị tư tế sẽ là tiêu điểm, và sau khi cộng đồng hợp nhất thực hiện nghi lễ cùng nhịp điệu thích hợp,

—churches will have to be differently constructed now—

—lúc ấy các nhà thờ sẽ phải được xây dựng khác đi—

[131] they will be the transmitters of information from on high. But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men. All will then be priests and a layman can hold that office when duly chosen at the beginning of the ceremony. The only qualification required will be the capacity to align with the higher, and to co-operate with all the other units in the concourse.

[131] các vị ấy sẽ truyền đạt thông tin từ trên cao. Nhưng đây là một điểm đáng chú ý hết sức quan trọng: vào thời ấy, hàng tư tế sẽ không còn là một đoàn thể tách biệt. Khi đó, tất cả đều sẽ là tư tế, và một [Page 202] người thế tục có thể đảm nhiệm chức vụ ấy nếu được chọn đúng cách vào đầu nghi lễ. Điều kiện duy nhất cần có là khả năng chỉnh hợp với cái cao hơn và hợp tác với mọi thành viên khác trong tập thể.

“Concourse” is here being given a special kind of definition.

Ở đây, “tập hội” đang được định nghĩa theo một cách đặc biệt.

But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men.

Nhưng đây là một điểm đáng chú ý có ý nghĩa trọng đại: vào thời ấy, giới tư tế sẽ không phải là một đoàn người tách biệt.

That's been one of the problems. And the Reformation was directed against the separative priesthood that acted as a forced intermediary between the congregants and God. So the idea there was that man can contact God directly and does not need the priest as an intermediary. But from a serviceable, functional aspect, the priest can be the intermediary, with humility and no exaltation of the role. If egotism attaches to the role, then the value of the role is corrupted. And we know that corruption is one of those things that must be removed, especially from the political and religious arenas.

Đó từng là một trong những vấn đề. Phong trào Cải Cách chống lại giới tư tế mang tính chia rẽ, vốn đóng vai trò trung gian bắt buộc giữa các tín hữu và Thượng đế. Vì vậy, ý tưởng ở đây là con người có thể tiếp xúc trực tiếp với Thượng đế và không cần tư tế làm trung gian. Nhưng xét về phương diện hữu dụng và chức năng, vị tư tế có thể làm trung gian, với sự khiêm nhường và không đề cao vai trò ấy. Nếu tính vị kỷ gắn vào vai trò này, thì giá trị của nó sẽ bị làm cho suy đồi. Và chúng ta biết sự suy đồi là một trong những điều phải loại bỏ, đặc biệt khỏi các lĩnh vực chính trị và tôn giáo.

[132] In the department of the Mahachohan, the Lord of Civilisation and Culture

[132] Trong bộ môn của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Văn Minh và Văn Hóa

—which is a more intense form of a quality from which the civilization is built or externalized—

—văn hoá là một hình thức mãnh liệt hơn của phẩm tính mà từ đó nền văn minh được xây dựng hoặc ngoại hiện—

[133] and the head of the third line of evolution, you will see again similar action. No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information

[133] và là Đấng đứng đầu đường tiến hóa thứ ba, các bạn cũng sẽ thấy hoạt động tương tự. Không một trường đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này, huấn sư sẽ là tuyến tập trung thông tin

—the teacher—

—huấn sư—

[134] from the department controlling the activity of the mind.

[134] từ bộ môn kiểm soát hoạt động của thể trí.

So we have a teacher within the department of the Mahachohan. And that's interesting, because we're told that, of course, the second ray is a ray of education, but we cannot dismiss the presence of the fifth ray and the third ray in terms of our modern university systems, let us say. The Mahachohan's color: green; emerald tablets, Hermes Trismegistus. I don't think Master R was Hermes per se, but certainly along that line. The head of the third line of evolution, you will see again similar action—the graduation ceremonies of universities are very formal, ritualistic affairs, with kinds of regalia that suggest the different areas of academic accomplishment.

Như vậy, chúng ta có một huấn sư trong ban của Đức Mahachohan. Điều ấy thật thú vị, vì dĩ nhiên chúng ta được cho biết cung hai là một cung giáo dục, nhưng không thể xem nhẹ sự hiện diện của cung năm và cung ba trong các hệ thống đại học hiện đại của mình. Màu của Đức Mahachohan: xanh lá; các phiến ngọc lục bảo, Hermes Trismegistus. Tôi không nghĩ chính Chân sư R. từng là Hermes, nhưng chắc chắn Ngài thuộc đường ấy. Là vị đứng đầu đường tiến hoá thứ ba, các bạn sẽ lại thấy hoạt động tương tự—các lễ tốt nghiệp đại học là những sự kiện rất trang trọng, mang tính nghi lễ, với những loại lễ phục biểu thị các lĩnh vực thành tựu học thuật khác nhau.

No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information,

Không trường đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này huấn sư sẽ là đường dẫn tập trung thông tin,

the teacher. Can you have a teacher in a third ray department? Yes, of course. Of course.

huấn sư. Có thể có một huấn sư trong một ban thuộc cung ba không? Có, dĩ nhiên. Dĩ nhiên.

[135] In this way the stimulation of the mental bodies of the students, and the strengthening of the channel between higher and lower mind will be greatly aided.

[135] Bằng cách này, việc kích thích các thể trí của môn sinh và củng cố kênh giữa thượng trí với hạ trí sẽ nhận được sự trợ giúp lớn lao.

And this means the aiding of the building of the antahkarana.

Và điều này có nghĩa là hỗ trợ việc xây dựng antahkarana.

[136] The intuition will also be developed and contacted.

[136] Trực giác cũng sẽ được phát triển và tiếp xúc.

And of course, intuition is possible for those on any ray, even though there are certain numerical affinities that may make the appearance of the intuition a more rapidly unfolding event for some ray types.

Dĩ nhiên, những người thuộc bất kỳ cung nào cũng có thể có trực giác, dù có những mối tương hợp về số nhất định có thể khiến trực giác xuất hiện và khai mở nhanh hơn ở một số loại cung.

The intuition will also be developed and contacted.

Trực giác cũng sẽ được phát triển, và con người sẽ tiếp xúc được với trực giác.

[137] In the above statements I have by no means covered the ground.

[137] Trong những điều trình bày trên, Tôi hoàn toàn chưa bao quát hết đề tài.

No, not covered the ground yet. DK is just giving us the barest outline in relation to what he actually knows. The intuition will be developed and contacted. Ah.

Không, vẫn chưa trình bày hết chủ đề. Chân sư DK chỉ đang cho chúng ta nét phác thảo sơ lược nhất so với những gì Ngài thực sự biết. Trực giác sẽ được phát triển và tiếp xúc. À.

In the above statements I have by no means covered the ground.

Trong những phát biểu trên, Tôi hoàn toàn chưa trình bày hết chủ đề này.

[138] I have but indicated the broad outlines of what will some day be facts in physical plane demonstration. The thought conveys much matter for consideration and for speculation

[138] Tôi chỉ phác họa những nét lớn của điều một ngày kia sẽ trở thành sự thật biểu hiện trên cõi hồng trần. Ý tưởng này mang lại nhiều điều để xem xét và suy tưởng

—that we can do, huh?—

—điều đó thì chúng ta làm được, phải không?—

[139] and is full of helpfulness for the wise student.

[139] và rất hữu ích cho đạo sinh sáng suốt.

So let us be those students as much as we can be.

Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng hết sức để trở thành những đạo sinh như thế.

[140] Aught that enlarges his horizon and increases the range of his vision is to be welcomed, even though his apprehension of these facts may be at fault

[140] Bất cứ điều gì mở rộng chân trời và tầm nhìn của y đều đáng đón nhận, dù sự lĩnh hội của y về những sự thật này có thể sai lệch

—imprecise at first—

—ban đầu chưa chính xác—

[141] and his capacity to assimilate leaves much to be desired.

[141] và khả năng hấp thu của y vẫn còn nhiều điều cần cải thiện.

Well, he's just described who we are here: faulty apprehension and some degree of difficulty in assimilation. And when we talk about the intuition—well, I could certainly put it in yellow, but I'm going to act as if love-wisdom on the buddhic plane is blue.

Ngài vừa mô tả chính chúng ta ở đây: lĩnh hội sai lệch và gặp khó khăn ở mức độ nào đó trong việc tiếp thu. Khi nói về trực giác, chắc chắn tôi có thể biểu thị nó bằng màu vàng, nhưng tôi sẽ xem bác ái–minh triết trên cõi Bồ đề là màu xanh lam.

Well, friends, that takes us to approximately a four-hour program. I'm not sure what it means when you try to download it, but it would be foolish for me to go on to Letter VII at the moment, which is 50 pages long, and will take quite a number of programs. And then let's see what happens at page 253: Forecasts an end to the future. So maybe—and here's Letter VIII, 253. That's it. And so he's given us a lot of background first. People are so interested in accessing the Masters, but they don't have the foundation to do so. They need a lot of cautionary tales, I think, before attempting to access the Masters. He did say to some of his students, “Some of you know how to contact me. Some of you have contacted me, but know it not, and others have yet to learn the method.” I suppose the best method of contact is to be so totally immersed in constructive service in line with the Plan that contact will naturally unfold according to need. Because if the Master sees someone who's really contributing to the Plan and needs help, that help will be given. And the method of more direct contact—maybe Chela on the Thread or Chela in the Aura—will be conferred.

Các bạn của tôi, như vậy chương trình của chúng ta đã kéo dài khoảng bốn giờ. Tôi không chắc điều đó có ý nghĩa gì khi các bạn thử tải chương trình xuống, nhưng lúc này mà tiếp tục sang Thư VII thì thật thiếu khôn ngoan, vì thư ấy dài 50 trang và sẽ cần khá nhiều chương trình. Rồi hãy xem ở trang 253 có gì: Dự báo một điểm kết thúc cho tương lai. Vậy có lẽ—và đây là Thư VIII, trang 253. Đúng rồi. Như vậy, trước hết Ngài đã cung cấp cho chúng ta rất nhiều kiến thức nền tảng. Mọi người rất quan tâm đến việc tiếp cận các Chân sư, nhưng họ chưa có nền tảng để làm điều đó. Tôi nghĩ họ cần nghe nhiều câu chuyện cảnh tỉnh trước khi cố gắng tiếp cận các Chân sư. Ngài từng nói với một số đạo sinh của mình: “Một số bạn biết cách liên lạc với Tôi. Một số bạn đã liên lạc với Tôi nhưng không biết điều đó, còn những bạn khác vẫn cần học phương pháp.” Tôi cho rằng phương pháp liên lạc tốt nhất là hoàn toàn đắm mình trong việc phụng sự mang tính xây dựng, phù hợp với Thiên Cơ, đến mức sự liên lạc sẽ tự nhiên khai mở tùy theo nhu cầu. Bởi nếu Chân sư thấy một người thực sự đóng góp cho Thiên Cơ và cần giúp đỡ, Ngài sẽ ban sự giúp đỡ ấy. Và phương pháp liên lạc trực tiếp hơn—có lẽ là Đệ tử trên đường dây hoặc Đệ tử trong hào quang—sẽ được trao cho y.

So we'll be starting with Letter number six. It's of course Cosmic Fire is back too. And maybe it is the seed of so much that follows. And although it is said that Cosmic Fire is written only for initiates, really—or that its value will evade anything but initiate understanding—a lot of that seems also true to me regarding this Letters on Occult Meditation. Not the same as Initiation, Human and Solar, which was written for the general public. Not the same.

Vì vậy, chúng ta sẽ bắt đầu với Thư số sáu. Dĩ nhiên, Lửa Vũ Trụ cũng trở lại. Và có lẽ đó là hạt giống của rất nhiều điều tiếp theo. Mặc dù người ta nói rằng Lửa Vũ Trụ thực sự chỉ viết cho các điểm đạo đồ—hoặc giá trị của sách sẽ vượt khỏi mọi sự thấu hiểu không phải của điểm đạo đồ—tôi thấy phần lớn điều đó cũng đúng với cuốn Thư Về Tham thiền Huyền môn này. Không giống cuốn Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, vốn viết cho công chúng nói chung. Không giống như vậy.

How to study these things? Well, first of all, there has to be time dedicated to study, and to meditation, and to service, all three—the tripod. Now, it may be that in your life one or the other may be a bit more emphasized. I think, for myself, it's always been study. But of course, the stool will not stand on one leg, unless that leg is in the center and somehow a combination of all three directions, maybe with a triangular base.

Phải nghiên cứu những điều này như thế nào? Trước hết, phải dành thời gian cho nghiên cứu, tham thiền và phụng sự, cả ba—chiếc kiềng ba chân. Trong cuộc sống của các bạn, có thể một trong ba điều ấy được nhấn mạnh hơn đôi chút. Với tôi, tôi nghĩ đó luôn là nghiên cứu. Nhưng dĩ nhiên, chiếc ghế không thể đứng trên một chân, trừ khi chân ấy ở chính giữa và bằng cách nào đó kết hợp cả ba hướng, có lẽ với một đế hình tam giác.

And how many years remain? Five years, roughly, remain before, around the year 2025, the new installment of the teaching begins to come forward. And no doubt plans for that are already well along, at least in the mind of the Master. And the methods of communication have been greatly enhanced since those early days. What was it, November 19th, 1919, when Alice Bailey was contacted—a note in the air—by the Tibetan? So now the distribution is marvelously enhanced. And maybe, maybe the whole process of giving whatever the Tibetan intends to give in this third phase of creating bridging treatises, bridging towards the knowledge of the New Age, will occur faster than requiring 30 years of work. But maybe it will take 30 years. He does give a kind of tabulation where we have 30, 30, 30, and then a synthetic 10, where everything is sort of wrapped up and summarized.

Và còn bao nhiêu năm nữa? Còn khoảng năm năm trước khi phần giáo huấn mới bắt đầu xuất hiện, vào khoảng năm 2025. Chắc chắn những kế hoạch cho việc đó đã tiến triển khá xa, ít nhất trong thể trí của Chân sư. Và các phương pháp truyền đạt đã cải thiện rất nhiều kể từ những ngày đầu ấy. Đó là khi nào nhỉ, ngày 19 tháng 11 năm 1919, khi Chân sư Tây Tạng liên lạc với Alice Bailey—một âm điệu trong không trung? Giờ đây, việc phổ biến đã cải thiện một cách kỳ diệu. Và có lẽ, có lẽ toàn bộ tiến trình trao truyền bất cứ điều gì Chân sư Tây Tạng dự định ban ra trong giai đoạn thứ ba này—giai đoạn tạo nên những khảo luận bắt cầu, bắt cầu tới tri thức của Kỷ Nguyên Mới—sẽ diễn ra nhanh hơn, không cần đến 30 năm làm việc. Nhưng có lẽ vẫn sẽ mất 30 năm. Ngài có đưa ra một dạng bảng kê gồm 30, 30, 30, rồi 10 năm tổng hợp, trong đó mọi điều phần nào được hoàn tất và tổng kết.

The world is changing so fast, and some of the change is foreseen. And some of the change even the Masters cannot foresee, because humanity does determine its own course of action. It determines what it will do. It decides. And it would be against the law for Hierarchy to force the decision. Could they even do that? Well, that would be imprisonment; that would be working supposedly for the good, but in a forceful way, which was external, and which was more characteristic of some of the methods of the Lodge of Darkness. So they can't do it. And it must be, as DK has said, agonizing to stand by, doing all they can, and to see wrong choices or inadequate choices being made—a kind of spiritual agony, as he describes it. “Little as you may think it to be the case, because we are safe in our spiritual enclaves, we do suffer spiritually when we look at humanity”—as a type of agony, because they are so identified with humanity, as humanity, having come through humanity: a Master being the apex of humanity, but a Chohan being even more. All of us being members of the fourth Creative Hierarchy, they do suffer—just the way you would suffer loving a child, or maybe your own child, and seeing mistakes, bad mistakes, about to be made, dangerous mistakes that can lead to failure, even death, loss of opportunity. So we have to trust that, yes, they stand by according to the law and do all they can.

Thế giới đang thay đổi rất nhanh, và một số thay đổi đã được dự kiến. Có những thay đổi mà ngay cả các Chân sư cũng không thể dự kiến, vì nhân loại thực sự tự quyết định đường hướng hành động của mình. Nhân loại xác định mình sẽ làm gì. Nhân loại quyết định. Và nếu Thánh đoàn ép buộc quyết định ấy thì sẽ trái với định luật. Liệu Các Ngài có thể làm như vậy không? Điều đó sẽ là giam hãm; sẽ là hành động được cho là vì điều thiện, nhưng bằng cách cưỡng ép từ bên ngoài, vốn mang đặc trưng của một số phương pháp của Hắc đoàn nhiều hơn. Vì thế, Các Ngài không thể làm như vậy. Và như Chân sư DK đã nói, hẳn thật đau đớn khi phải đứng bên cạnh, làm tất cả những gì có thể, mà vẫn chứng kiến những lựa chọn sai lầm hoặc thiếu thỏa đáng—một dạng đau đớn tinh thần, như Ngài mô tả. “Dù các bạn có thể khó tin điều này, vì chúng tôi an toàn trong những nơi ẩn cư tinh thần của mình, chúng tôi vẫn đau khổ về mặt tinh thần khi nhìn nhân loại”—một dạng đau đớn, vì Các Ngài đồng hoá sâu sắc với nhân loại, như chính nhân loại, sau khi đã đi qua giai đoạn nhân loại: một Chân sư là đỉnh cao của nhân loại, nhưng một Chohan còn cao hơn nữa. Tất cả chúng ta đều là thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, và Các Ngài thực sự đau khổ—giống như các bạn đau khổ khi yêu thương một đứa trẻ, hoặc chính con mình, và thấy những sai lầm, những sai lầm nghiêm trọng, sắp xảy ra; những sai lầm nguy hiểm có thể dẫn tới thất bại, thậm chí cái chết, mất đi cơ hội. Vì vậy, chúng ta phải tin rằng, đúng vậy, Các Ngài đứng bên cạnh theo định luật và làm tất cả những gì có thể.

But for us, we have the decision on our own responsibility. So we've been given the banquet of esoteric knowledge and wisdom, the wisdom of the Tibetan and the higher agencies. And of course, we have to transform the knowledge imparted into our own wisdom. And wisdom will not be achieved except through experience, and oftentimes bitter experience. And that experience comes through making the attempt to apply what we know, or what we think we know, or at least to experiment with what is suggested, so that we can verify—ascertain, verify to ourselves—that, yes, these things are true. When it comes to the Yoga Sutras, there they are. Can they be followed? Can they be understood through application? Everybody has a chance to develop within himself or herself the higher possibilities there suggested.

Nhưng với chúng ta, chúng ta phải tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Chúng ta đã được ban một bữa tiệc tri thức và minh triết huyền bí, minh triết của Chân sư Tây Tạng và những tác nhân cao hơn. Dĩ nhiên, chúng ta phải chuyển đổi tri thức được truyền đạt thành minh triết của chính mình. Và chỉ qua kinh nghiệm mới có thể đạt được minh triết, mà thường là kinh nghiệm cay đắng. Kinh nghiệm ấy đến từ việc cố gắng áp dụng những gì chúng ta biết, hoặc nghĩ rằng mình biết, hay ít nhất thử nghiệm những điều được gợi ý, để có thể kiểm chứng—xác định, tự kiểm chứng—rằng, đúng vậy, những điều này là chân thật. Với Kinh Yoga, những lời dạy đã có sẵn ở đó. Có thể thực hành theo không? Có thể thấu hiểu qua việc áp dụng không? Mỗi người đều có cơ hội phát triển trong chính mình những khả năng cao hơn mà sách gợi mở.

I think the further I go in all this, the more overwhelmed I am by the magnitude of the gift that has been given to us. I remember the first time I touched the Bailey book, it almost was like, “Whoa.” The first thing that came out of it seemed to put the book beyond my reach. I opened it, and it said “Atma-Buddhi-Manas.” Well, I was new to Theosophy, and I was studying The Secret Doctrine—it seemed like quite enough—and The Key to Theosophy and other theosophical books, and something in me said, “Later, I have enough to do.” I wasn't like one of my friends who encountered the Bailey books above the cashier, all in hardback, and said, “I'll take them all.” And I said to myself—forgive myself for saying it—I said, “How could a woman write all this?” And if it had been a man, I would have said, “How could a man write all this?” But I used the word “woman” because, of course, it was Alice Bailey. How could she do it? And then only later I found out that she was being an amanuensis, and the actual author was working through Alice Bailey. I didn't realize that at first. Well, what I did pick up was that such a feat would not be possible to an ordinary human being. And Alice Bailey once said why she had been able to accomplish so much, and at first, when she said that, I wondered at the “so much,” what was meant by the “so much,” and then gradually I began to realize the magnitude of this work.

Tôi nghĩ càng đi sâu vào tất cả những điều này, tôi càng choáng ngợp trước tầm vóc của món quà đã được ban cho chúng ta. Tôi nhớ lần đầu chạm vào một cuốn sách của Bailey, cảm giác gần như là: “Ôi chao.” Điều đầu tiên hiện ra từ sách dường như đã đặt nó ngoài tầm với của tôi. Tôi mở sách, và thấy ghi “Atma–Bồ đề–Manas”. Khi ấy tôi mới làm quen với Thông Thiên Học và đang nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm—tôi thấy như thế đã là quá đủ—cùng Chìa Khóa Thông Thiên Học và những sách Thông Thiên Học khác, và một điều gì đó trong tôi nói: “Để sau, mình đã có đủ việc để làm rồi.” Tôi không giống một người bạn đã bắt gặp những cuốn sách của Bailey phía trên quầy thu ngân, tất cả đều bìa cứng, rồi nói: “Tôi lấy tất cả.” Và tôi tự nhủ—xin tha thứ cho tôi vì đã nói điều ấy—tôi nói: “Làm sao một phụ nữ có thể viết tất cả những điều này?” Nếu tác giả là đàn ông, tôi cũng sẽ nói: “Làm sao một người đàn ông có thể viết tất cả những điều này?” Nhưng tôi dùng từ “phụ nữ” vì, dĩ nhiên, đó là Alice Bailey. Làm sao bà có thể làm được? Chỉ về sau tôi mới biết bà là người chấp bút, còn tác giả thực sự làm việc thông qua Alice Bailey. Ban đầu tôi không nhận ra điều đó. Điều tôi thực sự nhận thấy là một thành tựu như vậy không thể nằm trong khả năng của một người bình thường. Alice Bailey từng nói vì sao bà có thể hoàn thành nhiều đến thế, và lúc đầu, khi bà nói vậy, tôi thắc mắc về chữ “nhiều đến thế”, nó hàm ý điều gì; rồi dần dần tôi bắt đầu nhận ra tầm vóc của công trình này.

I mean, can you imagine how she worked? Being a Gemini, maybe she didn't need as much sleep as many people do. I've noticed that astrologically—whether it's insomnia or the ability to get along with less sleep and to read very fast, like JFK, a page at a time almost—she was suited for the task. But can you imagine how she worked? And it was kind of what you might call no-alibi work. She couldn't make excuses for herself. Sometimes, from what I understand, she just had too much lower amountness on her mind, and DK said, “Well, we can't really work today together, because your consciousness is filled with lower amountness,” and it wouldn't be possible to bring through that combination of his use of English and her use of English, which became such a distinctive method of imparting the wisdom. But I don't think there's any one of us that could withstand that pressure.

Ý tôi là, các bạn có thể hình dung bà đã làm việc như thế nào không? Là người thuộc dấu hiệu Song Tử, có lẽ bà không cần ngủ nhiều như phần đông mọi người. Tôi đã nhận thấy điều đó về mặt chiêm tinh—dù là mất ngủ hay khả năng hoạt động với ít giấc ngủ hơn và đọc rất nhanh, như JFK, gần như đọc cả một trang mỗi lần—bà phù hợp với nhiệm vụ ấy. Nhưng các bạn có thể hình dung bà đã làm việc như thế nào không? Đó là loại công việc mà các bạn có thể gọi là không được viện cớ. Bà không thể tìm lý do bào chữa cho mình. Theo tôi hiểu, đôi khi thể trí bà quá bận với những chuyện vụn vặt thấp hơn, và Chân sư DK nói: “Hôm nay chúng ta thực sự không thể cùng làm việc, vì tâm thức của bà đầy những chuyện vụn vặt thấp hơn”, và sẽ không thể truyền qua sự kết hợp giữa cách dùng tiếng Anh của Ngài và cách dùng tiếng Anh của bà, vốn đã trở thành một phương pháp truyền đạt minh triết rất đặc trưng. Nhưng tôi không nghĩ bất cứ ai trong chúng ta có thể chịu nổi áp lực ấy.

Sometimes the students—her students, and DK's students—rebelled against the pressure of having to work with the Master. It was just too much to have, real or imagined, his eye upon them, and always another eye—relatively an all-seeing eye—picking up what was going on with you. Too much, too much pressure. But imagine Alice Bailey, and the pressure under which she worked. Recently one of our group members brought photographs of the ending days, the end of her life, and, well, she had been through the wars, obviously, and she was still writing. She was confined to bed, and really looking like they managed to get everything out of her, and she gave everything. But as an initiate—I estimate of the third degree and pushing the fourth degree—renouncing so much. She just had to do that. She was compelled inwardly to do that. And the road does wind uphill all the way, as the poet has said, and even though we're building what's called the antahkarana, or the way of escape, we're not going to look for any easier time. It's not coming.

Đôi khi các đạo sinh—đạo sinh của bà và đạo sinh của Chân sư DK—chống lại áp lực phải làm việc với Chân sư. Ánh mắt của Ngài dõi theo họ, dù có thật hay do họ tưởng tượng, đã là quá sức; lại luôn có một ánh mắt khác—tương đối toàn tri—nhận biết những gì đang diễn ra với họ. Quá nhiều, quá nhiều áp lực. Nhưng hãy hình dung Alice Bailey và áp lực mà bà chịu khi làm việc. Gần đây, một thành viên trong nhóm chúng ta mang đến những bức ảnh chụp những ngày cuối cùng, lúc cuối đời bà; rõ ràng bà đã trải qua biết bao gian khổ mà vẫn đang viết. Bà nằm liệt giường, trông như người ta đã khai thác đến tận cùng sức lực của bà, và bà đã hiến dâng tất cả. Nhưng với tư cách một điểm đạo đồ—tôi ước đoán ở cấp độ thứ ba và đang tiến tới cấp độ thứ tư—bà đã từ bỏ rất nhiều. Bà phải làm như vậy. Một thôi thúc nội tâm buộc bà phải làm như vậy. Và như nhà thơ đã nói, con đường uốn lượn lên dốc suốt cả hành trình; dù chúng ta đang xây dựng cái gọi là antahkarana, hay con đường thoát ra, chúng ta cũng đừng mong có một giai đoạn dễ dàng hơn. Điều đó sẽ không đến.

The pressure on the Great Ones would be like squashing a bug, for us—or, as Master Morya says, putting the load of a camel on a donkey. It wouldn't work. And he's reached that point where he can say, and mean it, and withstand it: “Burden me still more as I enter the beautiful garden.” He can say that, and he can advise that for us, and he can say for us, please realize the better, and please realize that obstacles are possibilities. So, I'm working on that one, and I'm sure we all are. There are lots of ways to react to obstacles—or respond is a better word—other than just saying, “Oh, that's too much for me.” We have deep, deep resources within ourselves that we hardly appreciate.

Nếu chúng ta phải chịu áp lực đặt lên Các Đấng Cao Cả, thì cũng như một con côn trùng bị nghiền nát—hoặc, như Chân sư Morya nói, đặt gánh nặng của lạc đà lên lưng lừa. Không thể được. Và Ngài đã đạt đến điểm mà Ngài có thể nói, thực sự muốn nói như vậy, và chịu đựng được: “Hãy chất thêm gánh nặng lên Tôi khi Tôi bước vào khu vườn xinh đẹp.” Ngài có thể nói điều đó, khuyên chúng ta như thế, và nhắn nhủ chúng ta: xin hãy nhận ra điều tốt đẹp hơn, và xin hãy nhận ra rằng những trở ngại là những khả năng. Vì vậy, tôi đang rèn luyện điều ấy, và tôi chắc tất cả chúng ta cũng vậy. Có nhiều cách phản ứng với trở ngại—hay đáp ứng thì đúng hơn—ngoài việc chỉ nói: “Ôi, điều đó quá sức tôi.” Trong chính mình, chúng ta có những nguồn lực sâu thẳm, rất sâu thẳm, mà chúng ta hầu như chưa biết trân trọng.

And as I've sometimes said, in the play The Crucible by Arthur Miller—it was about Pilgrim times, which, once the witch hunt started, were pretty grim. Just ordinary occult things: you leave your body, the astral body goes out of your physical body, and then you'd be accused of being a witch, and you'd be tortured, and finally killed. And there was this man, a character in the play called Giles Corey, and he was a good man, and he was accused. And they used to have a method of putting someone to death called pressing. They'd put stones on your chest until you just couldn't breathe, and they'd wait for some kind of confession from you. And it was a brilliant moment for Arthur Miller. Basically, he wrote that Corey indicated he wanted to speak to his torturers. So they figured they were going to get a confession out of him. And so what he said was, “More weight.” It's a bit like William Wallace in the film Braveheart, having a moment to speak, and using it to scream the word “Freedom.” So that's the defiance of the unvanquishable spirit: “More weight.”

Như đôi khi tôi đã nói, trong vở kịch Lò Luyện của Arthur Miller—nói về thời những người Thanh giáo di cư, một thời trở nên hết sức u ám khi cuộc săn lùng phù thủy bắt đầu. Chỉ những hiện tượng huyền bí thông thường thôi: các bạn rời khỏi thân thể, thể cảm dục đi ra khỏi thể xác, rồi các bạn bị cáo buộc là phù thủy, bị tra tấn và cuối cùng bị giết. Có một người đàn ông, một nhân vật trong vở kịch tên là Giles Corey; ông là người tốt, và ông bị cáo buộc. Khi ấy, người ta có một phương pháp hành hình gọi là ép bằng đá. Họ đặt đá lên ngực cho đến khi người bị hành hình không còn thở được, rồi chờ người ấy thú nhận điều gì đó. Đó là một khoảnh khắc xuất sắc trong tác phẩm của Arthur Miller. Về cơ bản, ông viết rằng Corey ra hiệu muốn nói với những kẻ tra tấn mình. Họ nghĩ mình sắp lấy được lời thú tội của ông. Nhưng ông nói: “Thêm đá nữa.” Điều đó hơi giống William Wallace trong bộ phim Trái Tim Dũng Cảm, khi có một khoảnh khắc để nói và dùng nó để hét lên: “Tự do.” Đó là sự thách thức của tinh thần bất khả chiến bại: “Thêm đá nữa.”

Well, it's a bit like being a candidate for what Master Morya talks about: “Burden me still more as I enter the beautiful garden.” We can't maybe fathom such a point of view where we are, but we will, because we're going to get stronger and stronger at doing what we're doing. And the soul will take over, and then the Triad will take over, and finally the monad will take over. And it will be done regardless of what ray we have, and it will be done in a scientific manner, in a way that guarantees results, if we can but stand steady. I think DK just used the word “steady.” An aspirant is not steady. An aspirant is inspired by fleeting rushes of energy which do not stabilize him, but come and go. A disciple is more steady. An initiate can stand, and a Master is always standing in spiritual being. That's what lies ahead of us. We can only put first things first, work with the essential—tall order—and endure, endure, endure.

Điều đó hơi giống việc trở thành ứng viên cho điều Chân sư Morya nói tới: “Hãy chất thêm gánh nặng lên Tôi khi Tôi bước vào khu vườn xinh đẹp.” Ở vị trí hiện tại, có lẽ chúng ta chưa thể hiểu thấu quan điểm ấy, nhưng rồi chúng ta sẽ hiểu, vì chúng ta sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn trong những việc mình đang làm. Linh hồn sẽ nắm quyền, rồi Tam Nguyên Tinh Thần sẽ nắm quyền, cuối cùng chân thần sẽ nắm quyền. Điều ấy sẽ thành tựu bất kể chúng ta thuộc cung nào, và sẽ thành tựu một cách khoa học, theo cách bảo đảm kết quả, nếu chúng ta có thể đứng vững. Tôi nghĩ Chân sư DK chỉ dùng từ “vững vàng”. Người chí nguyện chưa vững vàng. Những đợt năng lượng dâng trào thoáng qua truyền cảm hứng cho người chí nguyện nhưng không giúp y ổn định; chúng đến rồi đi. Đệ tử vững vàng hơn. Điểm đạo đồ có thể đứng vững, và Chân sư luôn đứng vững trong bản thể tinh thần. Đó là những gì đang chờ chúng ta phía trước. Chúng ta chỉ có thể đặt những điều ưu tiên lên trước, làm việc với điều cốt yếu—một yêu cầu rất lớn—và bền chí, bền chí, bền chí.

I remember I had the privilege of singing with a big choir in the old days of the National Music Camp, which kind of saved my life, I must say. And I went there for six years in a row, and I sang with a festival choir of 300, 400, 500 people. And there was an oratorio—you may be familiar with it—by Felix Mendelssohn. It's called Elijah, the Elijah—maybe an earlier incarnation of John the Baptist; it's hard to say. And there's this beautiful chorale section in one of the pieces early on, and the words are, “He that shall endure to the end, he that shall endure to the end shall be saved, shall be saved.” And it made such an impression on me, this idea of enduring to the end, plus the music, the heart-rending, beautiful chorale music, such as you might find in the chorales of Bach and his harmonization of those chorales. But it was Mendelssohn, 150 years later, but also in Germany. It made such an impression about the necessity of endurance no matter what.

Tôi nhớ mình từng có đặc ân hát cùng một dàn hợp xướng lớn vào những ngày xưa ở Trại Âm Nhạc Quốc Gia; phải nói rằng nơi ấy phần nào đã cứu cuộc đời tôi. Tôi đến đó sáu năm liên tiếp và hát trong một dàn hợp xướng lễ hội gồm 300, 400, 500 người. Có một bản thanh xướng kịch của Felix Mendelssohn—có thể các bạn biết tác phẩm ấy. Tác phẩm mang tên Elijah, vị Elijah ấy—có lẽ là một kiếp trước của John Tẩy Giả; khó mà nói chắc. Trong một phần đầu tác phẩm có một đoạn thánh ca hợp xướng tuyệt đẹp, với lời rằng: “Ai bền chí đến cùng, ai bền chí đến cùng sẽ được cứu, sẽ được cứu.” Ý tưởng bền chí đến cùng ấy đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc, cùng với âm nhạc, thứ âm nhạc thánh ca hợp xướng tuyệt đẹp, lay động tận đáy lòng, như các bạn có thể gặp trong những bản thánh ca hợp xướng của Bach và cách ông hòa âm cho chúng. Nhưng đây là Mendelssohn, 150 năm sau, cũng ở Đức. Tác phẩm đã để lại một ấn tượng sâu sắc về sự cần thiết phải bền chí, bất kể điều gì xảy ra.

And of course, I'm sure we all catch ourselves not enduring and giving up and doing the wrong thing, and somehow being more spasmodic than we should be. But finally, the great endurance of the Spirit does take over, and it is one of the elements of the saving force. And what does it mean to be saved anyway? I was thinking about that, and basically it is to be restored to our own true state of essential being—being restored to our real identity instead of being veiled and masked, suffocated, and somehow covered by what we consider to be objectivity. There is no real objectivity as far as I'm concerned. I mean, we can be objective in the standard sense, but everything we consider to be an object is really ourselves. So we have to come to that oneness realization, which is an identification with all beings, and with all possible perceptions. And to me, that is salvation. It's not like going to a certain locale, environment, that we call heaven. There are all kinds of heavens, all kinds of points of tension, and they're all limited, except for the ultimate, intra-universal state of awareness, state of being.

Dĩ nhiên, tôi chắc tất cả chúng ta đều có lúc nhận thấy mình không bền chí, bỏ cuộc, làm điều sai trái, và hành động thất thường hơn mức nên có. Nhưng cuối cùng, sức bền bỉ vĩ đại của Tinh thần thực sự nắm quyền, và đó là một trong những yếu tố của Mãnh Lực Cứu Rỗi. Mà được cứu rỗi thực sự hàm ý gì? Tôi đã suy nghĩ về điều ấy, và về cơ bản, đó là trở về trạng thái chân thật của bản thể cốt yếu của chính mình—trở về bản sắc thực sự của chúng ta, thay vì bị che phủ, đeo mặt nạ, ngạt thở, và bằng cách nào đó bị phủ lấp bởi những gì chúng ta xem là tính khách quan. Theo tôi, không có tính khách quan thực sự. Ý tôi là chúng ta có thể khách quan theo nghĩa thông thường, nhưng mọi thứ chúng ta xem là một đối tượng thực ra đều là chính chúng ta. Vì thế, chúng ta phải đạt tới sự chứng nghiệm tính nhất thể ấy, tức là sự đồng hoá với mọi sinh linh và mọi nhận thức khả hữu. Với tôi, đó là cứu rỗi. Không phải đến một nơi chốn, một môi trường nhất định mà chúng ta gọi là thiên đường. Có đủ loại thiên đường, đủ loại điểm tập trung nhất tâm, và tất cả đều hữu hạn, ngoại trừ trạng thái nhận biết tối hậu trong toàn vũ trụ, trạng thái bản thể.

So endure, endure. And even if we fail in our endurance, then we try again, until we succeed in enduring. We achieve continuity of consciousness, and a realized continuity of identification, which is continuity of being, and being is the one continuous something. It is the continuity. Being is that—not being something, but being itself.

Vì vậy, hãy bền chí, bền chí. Ngay cả khi không giữ được sự bền chí, chúng ta vẫn thử lại, cho đến khi thành công trong việc bền chí. Chúng ta đạt được sự liên tục của tâm thức và sự liên tục của đồng hoá đã được chứng nghiệm, tức sự liên tục của bản thể; và bản thể là cái duy nhất liên tục. Chính nó là sự liên tục. Bản thể là như vậy—không phải là một cái gì đó, mà là chính bản thể.

Well, just a little bit of musing here at the end, and getting ready then for Letter number seven, and then Letter number eight. And I still have to decide—because I've done quite a commentary written on all the new esoteric school material, and I'm trying to think: should I just leave it at that, or will you benefit by verbal commentary on it as well? I just don't know the answer to that question yet, but I'll get there. Somewhere around—is it around page 300?—the material on the new esoteric schools begins: “Future Schools of Meditation,” Letter IX, and it takes it maybe to the end of the book. Not quite: there's a little bit of a play-out from 332 to approximately 350. But this is a long section, and when you put the text together with the commentary, it's many pages, maybe a hundred pages. So, will it be a benefit? I'm trying to get that understood.

Đó chỉ là đôi chút suy ngẫm ở phần cuối này, rồi chuẩn bị cho Thư số bảy và Thư số tám. Tôi vẫn phải quyết định—vì tôi đã viết một bản bình giảng khá dài về toàn bộ tài liệu liên quan đến các trường nội môn mới, và đang cân nhắc: tôi nên chỉ dừng ở đó, hay các bạn cũng sẽ được lợi từ phần bình giảng bằng lời nói? Tôi chưa biết câu trả lời, nhưng rồi sẽ tìm ra. Vào khoảng—có phải khoảng trang 300 không?—tài liệu về các trường nội môn mới bắt đầu: “Các Trường Tham Thiền Tương Lai”, Thư IX, và có lẽ kéo dài đến cuối sách. Không hẳn: từ trang 332 đến khoảng trang 350 vẫn còn một phần kết. Nhưng đây là một phần dài, và khi ghép văn bản với phần bình giảng thì có rất nhiều trang, có lẽ một trăm trang. Vậy liệu điều đó có hữu ích không? Tôi đang cố hiểu rõ điều ấy.

So, I'll say farewell to you now for the moment, and we will continue teaching and spreading the knowledge of the Ageless Wisdom, just the way Master DK would have us do. He's the expert, and we can emulate. We can imitate. And some good will be done by that, and depending on whom we can reach, a lot of good can be done, because the potentials are there, opening up before people who don't even suspect they exist. And we want to be in a position to help introduce them to possibilities they have not even suspected, and which can make a huge difference in the opening up of their consciousness and their state of energy access and energy expression.

Vì vậy, lúc này tôi xin tạm biệt các bạn, và chúng ta sẽ tiếp tục giảng dạy, phổ biến tri thức Minh Triết Ngàn Đời, đúng như Chân sư DK mong muốn chúng ta làm. Ngài là chuyên gia, và chúng ta có thể noi theo. Chúng ta có thể làm theo. Điều đó sẽ đem lại lợi ích nhất định; tùy theo những người chúng ta có thể tiếp cận, nó có thể đem lại rất nhiều lợi ích, vì những tiềm năng đang ở đó, mở ra trước những người thậm chí chưa hề ngờ rằng chúng tồn tại. Chúng ta muốn có khả năng giúp họ làm quen với những khả năng mà họ chưa từng ngờ tới, những khả năng có thể tạo nên sự khác biệt to lớn trong việc khai mở tâm thức, cũng như khả năng tiếp cận và biểu lộ năng lượng của họ.

So, lots of love from all of us on the communications team, the communications group, and from the faculty of the Morya Federation, and all the workers and board members—it's all one work. And right here in Finland, from Tuija and myself, as we struggle on late into the night and up into the early hours—she's better at that than I am—and try to bring you added light, and meanwhile adding to the light of our own consciousness, because if it's not authentic with the one who's trying to give it out, then how can it be useful to those who receive? Many blessings, lots of love. We'll see you now, and onwards.

Xin gửi thật nhiều tình thương từ tất cả chúng tôi trong đội truyền thông, nhóm truyền thông, từ đội ngũ giảng viên của Liên đoàn Morya, cùng tất cả những người hoạt động và thành viên ban quản trị—tất cả đều là một công việc. Và ngay tại Phần Lan, Tuija cùng tôi xin gửi tình thương tới các bạn, khi chúng tôi miệt mài đến khuya và sang tận những giờ đầu ngày—bà ấy làm điều đó tốt hơn tôi—cố gắng mang thêm ánh sáng đến cho các bạn, đồng thời gia tăng ánh sáng trong tâm thức của chính mình; bởi nếu ánh sáng ấy không chân thật nơi người đang cố trao truyền, thì làm sao nó có thể hữu ích cho những người đón nhận? Xin gửi nhiều lời chúc lành và thật nhiều tình thương. Hẹn gặp lại các bạn, và chúng ta tiếp tục tiến bước.