Trích nội dung chương
You want to pursue a certain type, line of work, a certain profession, and there you are with others who necessarily become your associates due to shared interests, Các bạn muốn theo đuổi một loại công việc, một lĩnh vực hay một nghề nghiệp nào đó, và ở đó các bạn gặp những người tất yếu trở thành cộng sự của mình do có chung mối quan tâm,
[33] business associates,
[33] cộng sự kinh doanh của y, các
You want to pursue a certain type, line of work, a certain profession, and there you are with others who necessarily become your associates due to shared interests,
Các bạn muốn theo đuổi một loại công việc, một lĩnh vực hay một nghề nghiệp nào đó, và ở đó các bạn gặp những người tất yếu trở thành cộng sự của mình do có chung mối quan tâm,
[34] church affiliations,
[34] mối liên kết giáo hội của y, những
Maybe your family is religious, and you've chosen a certain denomination of church to attend, and there you find the others, and you are affiliated with them in terms of your religious pursuits.
Có lẽ gia đình các bạn theo tôn giáo, và các bạn đã chọn tham dự một giáo phái nào đó. Ở đó, các bạn gặp những người khác và gắn bó với họ qua những hoạt động tôn giáo của mình.
And again, maybe old affiliations are coming forward.
Và một lần nữa, có lẽ những mối liên kết xưa đang xuất hiện trở lại.
[35] acquaintances and casual friends,
[35] người quen và bạn bè tình cờ của y,
These are friendships based largely on personality, we are told.
Chúng ta được cho biết đây là những tình bạn phần lớn dựa trên phàm ngã.
In the treatise on White Magic,
Trong khảo luận về Chánh Thuật,
[36] and the people he touches for a brief period and then sees no more.
[36] cùng những người y tiếp xúc trong một thời gian ngắn rồi không gặp lại nữa.
Well, you can almost imagine walking on one of the busy streets. I was always amazed when a child to go downtown in Chicago and find the sidewalk so crowded with hundreds of people.
Các bạn gần như có thể hình dung mình đang đi trên một con phố đông đúc. Khi còn nhỏ, Tôi luôn kinh ngạc mỗi lần đến trung tâm Chicago và thấy vỉa hè đông nghịt hàng trăm người.
In a way you're rubbing elbows, but it's just a passing relationship. And oftentimes we gather in groups or little crowds with people that are no more to be seen once the little gathering is over. So, these are kinds of affiliations, some of them deep and of long antiquated origin, and others super casual, so that there is nothing really to hold you together in friendship, nothing deep, and maybe nothing even shallow.
Theo một nghĩa nào đó, các bạn đang kề vai sát cánh với họ, nhưng đó chỉ là một mối quan hệ thoáng qua. Và nhiều khi chúng ta tụ họp thành nhóm hoặc thành những đám đông nhỏ với những người mà sau khi buổi tụ họp kết thúc, chúng ta không còn gặp lại nữa. Đó là những kiểu liên kết: một số sâu sắc và có nguồn gốc từ rất xa xưa, số khác hết sức thoáng qua, đến mức thực sự không có gì gắn kết các bạn trong tình bạn, không có gì sâu sắc, và có lẽ ngay cả điều hời hợt cũng không.
[37] His work with them is twofold again; first to repay an obligation should such a debt have been incurred; and secondly to test out his powers to influence for good those around him, to recognise responsibility and to direct or help.
[37] Công việc của y với họ cũng có hai mặt: trước hết, để hoàn trả một nghĩa vụ nếu y đã mắc món nợ ấy; thứ hai, để thử nghiệm năng lực tạo ảnh hưởng tốt lên những người xung quanh, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc trợ giúp.
So, even in relation to the more casual, hardly even friendships, but acquaintances, we can see that our association, even under these casual circumstances, has a rather definite outworking.
Vì vậy, ngay cả với những mối quan hệ thoáng qua hơn, hầu như chưa thể gọi là tình bạn mà chỉ là quen biết, chúng ta vẫn có thể thấy rằng sự kết giao của mình, ngay trong những hoàn cảnh tình cờ ấy, vẫn dẫn đến những kết quả khá rõ ràng.
So, karma and dharma are at work in all of these associations, however casual. Family bonds are very, very close, but as we move from Cancer to Aquarius, the bonds of friendship due to affinity maybe become closer, and closer still the bonds of relationship due to shared dharma, or duty, or work in the world. Okay.
Vì vậy, nghiệp quả và bổn phận đều vận hành trong tất cả những mối liên kết này, dù thoáng qua đến đâu. Mối dây gia đình rất, rất gần gũi, nhưng khi chúng ta chuyển từ Cự Giải sang Bảo Bình, những mối dây tình bạn do đồng điệu có lẽ trở nên gần gũi hơn; và còn gần gũi hơn nữa là những mối quan hệ do cùng chung bổn phận, nghĩa vụ hoặc công việc trong thế gian.
So, his work with all of these is twofold. First to repay an obligation should such a debt have been incurred, and secondly to test out his powers to influence for good those around him to recognize responsibility and to direct or help. So, first to repay an obligation.
Vậy công việc của y với tất cả những người này có hai mặt. Thứ nhất, hoàn trả một nghĩa vụ nếu y đã mắc món nợ như vậy; thứ hai, thử nghiệm khả năng của mình trong việc tạo ảnh hưởng tốt đến những người quanh y, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc giúp đỡ. Vậy, trước hết là hoàn trả một nghĩa vụ.
And secondly, to test out his powers to influence for good those around him to recognize responsibility and to direct or help.
Và thứ hai, thử nghiệm khả năng của mình trong việc tạo ảnh hưởng tốt đến những người quanh y, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc giúp đỡ.
So,
Vì vậy,
[38] In doing thus, the Guides of the race find out the actions and reactions of a man, his capacity for service, and his response to any surrounding need.
[38] Qua đó, các Đấng Hướng Dẫn nhân loại nhận biết những hành động và phản ứng của một người, năng lực phụng sự và sự đáp ứng của y trước bất kỳ nhu cầu nào xung quanh.
We are being tested out all the time, and we are being observed in terms of our responses.
Chúng ta luôn được thử nghiệm, và người ta quan sát cách chúng ta đáp ứng.
Who are the people with whom you've been thrown together? Who are the people you've met along the way, and either temporarily or for a longer period of time, have been involved in group affiliation? What has been your response to them? Thus far, we have family affiliations.
Những người mà hoàn cảnh đã đưa đến cùng các bạn là ai? Những người các bạn gặp trên đường, rồi cùng tham gia một mối liên kết nhóm trong thời gian ngắn hoặc dài hơn, là ai? Các bạn đã đáp ứng với họ như thế nào? Đến đây, chúng ta đã có những mối liên kết gia đình.
We have friends, associates, and more casual affiliations, maybe drawn from emotional proclivities. And then the associated band of servers. Maybe this ends up being the most important, most closely related to soul proclivities.
Chúng ta có bạn bè, cộng sự và những mối liên kết thoáng qua hơn, có lẽ xuất phát từ những khuynh hướng cảm xúc. Rồi đến đoàn người phụng sự mà chúng ta cùng tham gia. Có lẽ cuối cùng đây là nhóm quan trọng nhất, liên hệ mật thiết nhất với những khuynh hướng của linh hồn.
[39] c—His associated band of servers, the group under some Great One that is definitely united for work of an occult and spiritual nature.
[39] c—Đoàn người phụng sự mà y liên kết, nhóm dưới sự hướng dẫn của một Đấng Cao Cả, nhất định hợp nhất để thực hiện công việc có bản chất huyền bí và tinh thần.
That's the last type of group that we're going to deal with here. Now, of course, you have to wonder what the dangers could be.
Đó là loại nhóm cuối cùng mà chúng ta sẽ bàn đến ở đây. Dĩ nhiên, lúc này các bạn phải tự hỏi những nguy hiểm có thể là gì.
Already you can imagine that family is often inimical to one's discipleship service, because there may be a physical bond, but psychologically, the parents, the siblings, and so forth, may have many other objectives and be differently developed. But friends and associates based on emotional response are more superficial, and maybe the friends want to go one way, but your higher duties tell you you should go in a different way. Conflict, you see.
Các bạn đã có thể hình dung rằng gia đình thường cản trở việc phụng sự của một người trên Con Đường Đệ Tử, bởi có thể có mối dây huyết thống, nhưng về tâm lý, cha mẹ, anh chị em v.v. có thể có nhiều mục tiêu khác và trình độ phát triển khác nhau. Còn những tình bạn và mối quan hệ cộng sự dựa trên sự đáp ứng cảm xúc thì hời hợt hơn; có lẽ bạn bè muốn đi theo một hướng, nhưng những bổn phận cao hơn lại bảo các bạn phải đi theo hướng khác. Các bạn thấy đấy, xung đột.
Here are the associated band of servers. I’ll use purple, which means it’s got to manifest.
Đây là đoàn người phụng sự cùng liên kết. Tôi sẽ dùng màu tím, nghĩa là điều này phải biểu hiện.
[40] It may be either a band of church workers among the orthodox (beginners are tried out here);
[40] Đó có thể là một đoàn người hoạt động trong giáo hội thuộc hàng ngũ chính thống (những người mới bắt đầu được thử nghiệm tại đây);
You know, the hierarchy tests you first, and without proving something, either your fitness or your unfitness, the decision to accept or reject it is not made. So trying out the beginners.
Các bạn biết đấy, trước hết Thánh đoàn thử nghiệm các bạn, và khi chưa chứng tỏ được điều gì, dù là sự thích hợp hay không thích hợp, thì chưa có quyết định chấp nhận hoặc từ chối. Vì vậy, những người mới bắt đầu được thử nghiệm.
[41] it may be in social work such as in the labor movements or in the political arena; or it may be in the more definitely pioneer movements of the world, such as the Theosophical Society, the Christian Science movement, the New Thought workers and the Spiritualists. I would add to this, one branch of endeavour that may surprise you,— I mean the movement of the Soviet in Russia and all the aggressive radical bodies that sincerely serve under their leaders (even when misguided and unbalanced) for the betterment of the condition of the masses.
[41] có thể là trong công tác xã hội, như các phong trào lao động hoặc chính trường; hoặc trong những phong trào tiên phong rõ nét hơn của thế giới, như Hội Thông Thiên Học, phong trào Khoa Học Cơ Đốc, những người hoạt động thuộc phong trào Tư Tưởng Mới và các nhà thần linh học. Tôi muốn bổ sung vào đây một lĩnh vực nỗ lực có thể khiến các bạn ngạc nhiên,—Tôi muốn nói đến phong trào Xô viết ở Nga và tất cả các tổ chức cấp tiến quyết liệt chân thành phụng sự dưới sự lãnh đạo của họ (ngay cả khi lầm đường và mất quân bình) để cải thiện hoàn cảnh của quần chúng.
These are possibilities where the trying out of our responses occurs, and where our responses are noted. So in all of the above, we are seen as subjects, subject to experimental experience, and our responses are noted.
Đây là những môi trường có thể thử nghiệm cách chúng ta đáp ứng và ghi nhận những đáp ứng ấy. Vì vậy, trong tất cả những trường hợp trên, chúng ta được xem là những đối tượng trải qua kinh nghiệm thử nghiệm, và cách chúng ta đáp ứng được ghi nhận.
I think, hierarchy is very careful. Maybe the master is looking in over a student, potential student anyway, once in 300 years, maybe even a longer period of time, until that student is drawing nearer and nearer to the note being sounded by the master's ashram, and then a more frequent super vision occurs. Super vision.
Tôi nghĩ Thánh đoàn rất thận trọng. Có lẽ Chân sư chỉ xem xét một đạo sinh, dù mới là đạo sinh tiềm năng, một lần trong ba trăm năm, thậm chí có thể lâu hơn, cho đến khi đạo sinh ấy ngày càng tiến gần âm điệu mà ashram của Chân sư đang xướng lên. Khi ấy, sự giám sát từ trên mới diễn ra thường xuyên hơn. Sự giám sát từ trên.
Vision from above, and not even by the master first. It's the chela in the light phenomenon, whereby a senior disciple looks over and supervises and reports to the master. Such a relationship apparently existed between Master Kuthumi, the initiate DK, and the aspirant Alice Bailey.
Sự quan sát từ trên cao, mà lúc đầu thậm chí chưa phải do Chân sư thực hiện. Đó là hiện tượng đệ tử trong ánh sáng, qua đó một đệ tử cao niên quan sát, giám sát và báo cáo với Chân sư. Dường như một mối quan hệ như vậy từng tồn tại giữa Chân sư Kuthumi, điểm đạo đồ Chân sư DK và người chí nguyện Alice Bailey.
And DK was the reporting disciple to his master, Master Kuthumi. Under the law of economy, the work, the time of a master, dispensable time, is very carefully guarded, because if it is not, then potential is set aside and is not fully developed. Time is of the essence, and that time must be as wisely used as possible.
Và Chân sư DK là đệ tử báo cáo với Chân sư của mình, Chân sư Kuthumi. Theo Định luật Tiết Kiệm, công việc và thời gian của một Chân sư, phần thời gian Ngài có thể dành ra, được gìn giữ hết sức cẩn trọng, bởi nếu không, tiềm năng sẽ bị bỏ phí và không phát triển đầy đủ. Thời gian là yếu tố thiết yếu, và phải sử dụng thời gian ấy một cách minh triết nhất có thể.
We have to also think of the disciple in a reflection of the master's consideration of time. Well, our friend Hercules, he was running around looking for the golden apples. He would have been mistaken though.
Chúng ta cũng phải nghĩ đến việc người đệ tử phản ánh cách Chân sư coi trọng thời gian. Người bạn Hercules của chúng ta đã chạy khắp nơi tìm những quả táo vàng. Tuy nhiên, ông hẳn đã sai lầm.
Well, he did waste time with Nereus, whom he didn't recognize. He didn't waste much time with Antaeus, because he recognized glamour and lifted it up in the air a little bit, destroying its sustaining energy. He wasted time with Busiris, the false teacher.
Ông quả đã lãng phí thời gian với Nereus, người mà ông không nhận ra. Ông không lãng phí nhiều thời gian với Antaeus, bởi ông nhận ra ảo cảm và nhấc nó lên khỏi mặt đất một chút, phá hủy năng lượng duy trì nó. Ông đã lãng phí thời gian với Busiris, vị huấn sư giả.
But at the same time, he learned the lesson of independence upon the spiritual path. So if you learn something, maybe that even in unfortunate circumstances, maybe the time is not wasted. He would have been wrong had he said, I don't have time to look after Prometheus.
Nhưng đồng thời, ông học được bài học về sự độc lập trên con đường tinh thần. Vì vậy, nếu các bạn học được điều gì đó, thì có lẽ ngay cả trong hoàn cảnh không may, thời gian cũng không bị lãng phí. Ông hẳn đã sai nếu nói: Tôi không có thời gian chăm lo cho Prometheus.
He had better have time to look after Prometheus and learn to release the solar angel in his, fourth encounter. And he would have been wrong if he had said, oh, I don't have time to help Atlas uphold the world, because I'm after the golden apples of the Hesperides. I'm after the apples of wisdom.
Ông nhất thiết phải dành thời gian chăm lo cho Prometheus và học cách giải thoát Thái dương Thiên Thần trong cuộc gặp gỡ thứ tư của mình. Và ông hẳn đã sai nếu nói: Tôi không có thời gian giúp Atlas nâng đỡ thế giới, bởi Tôi đang tìm những quả táo vàng của các Hesperides. Tôi đang tìm những quả táo minh triết.
So I don't have time for these acts of service along the way. That would be a serious mistake. There is no rush, there is no hurry, and yet there is no time to lose.
Vì vậy, Tôi không có thời gian cho những hành động phụng sự dọc đường này. Đó sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Không có sự vội vã, không có sự hấp tấp, nhưng cũng không có thời gian để lãng phí.
Each pilgrim sensing this, presses his footsteps forward until he finds himself surrounded by his fellow men. You know, it's the rules of the road that those two should be memorized, and maybe they're not too hard to retain. So what we do with our time is really a crucial decision.
Mỗi người hành hương cảm nhận điều này đều tiến bước, cho đến khi thấy mình ở giữa những người đồng loại. Các bạn biết đấy, đó là các quy luật của Đường Đạo; hai quy luật ấy cần được ghi nhớ, và có lẽ cũng không quá khó để nhớ. Vì vậy, cách chúng ta sử dụng thời gian thực sự là một quyết định then chốt.
And you can pause, you can pause and reflect over your long life. Most people are mature people who enter into this field, at least mature in terms of their age, and you can discriminate what have been the time wasters, even now. Not just then, but now.
Và các bạn có thể dừng lại, dừng lại để suy ngẫm về cuộc đời dài của mình. Phần lớn những người bước vào lĩnh vực này đều đã trưởng thành, ít nhất về tuổi tác, và các bạn có thể phân biện những điều đã làm mình lãng phí thời gian, ngay cả lúc này. Không chỉ khi ấy, mà cả bây giờ.
Time wasters pursued simply because of habitual inclination. What do we wish we had not spent time doing? How would we have redirected, reorganized the use of time? I'm sure when an accurate vision of that dynamic is accorded, we will find that months and even years cumulatively have been wasted along the path. And really the only thing you can do is say, well, when I face similar circumstances again, I will feel that inner warning, that inner yes or that inner no that would advise me, am I about to enter a time-wasting enterprise? I think the numbers will be at first deflating, except that we will know, that we've learned something through some kind of failure.
Những việc làm lãng phí thời gian mà chúng ta theo đuổi chỉ vì khuynh hướng đã thành thói quen. Chúng ta ước mình đã không dành thời gian làm điều gì? Chúng ta sẽ định hướng lại và tổ chức lại việc sử dụng thời gian ra sao? Tôi chắc rằng khi có được một tầm nhìn chính xác về động lực ấy, chúng ta sẽ thấy mình đã lãng phí tổng cộng nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trên Đường Đạo. Và thực sự, điều duy nhất các bạn có thể làm là nói: Khi lại đối diện những hoàn cảnh tương tự, Tôi sẽ cảm nhận lời cảnh báo bên trong, tiếng đồng ý hoặc từ chối bên trong, để chỉ dẫn cho Tôi: liệu Tôi có sắp bước vào một công việc làm lãng phí thời gian không? Tôi nghĩ ban đầu những con số ấy sẽ khiến chúng ta nản lòng, ngoại trừ việc chúng ta biết mình đã học được điều gì đó qua một dạng thất bại nào đó.
[42] Thus on the physical plane you have three groups to which a man belongs. He owes a duty to them and he must play his part.
[42] Như vậy, trên cõi hồng trần, có ba nhóm mà một người thuộc về. Y có bổn phận đối với họ và phải làm tròn phần việc của mình.
Family, friendship, associates, and one's connection with testing progressive groups and actual progressive groups, about which there is no question.
Gia đình, tình bạn, cộng sự, và mối liên hệ của một người với những nhóm tiến bộ đang thử nghiệm, cũng như những nhóm thực sự tiến bộ, không có gì phải nghi ngờ.
They are definitely progressive, and their virtues outweigh their liabilities. With the other types of progressive groups, there are a lot of mistakes being made, but still their motive is often correct.
Họ rõ ràng là tiến bộ, và những ưu điểm của họ vượt trội những mặt hạn chế. Với các loại nhóm tiến bộ khác, có rất nhiều sai lầm đang xảy ra, nhưng động cơ của họ thường vẫn đúng đắn.
[43] Now wherein could danger enter through meditation?
[43] Vậy nguy hiểm có thể phát sinh qua tham thiền ở đâu?
That is the question in this particular area of study.
Đó là câu hỏi trong lĩnh vực nghiên cứu cụ thể này.
[44] Simply in this: that as long as a man's karma holds him to some particular group the thing that he must aim at is to play his part perfectly,
[44] Đơn giản là ở điều này: chừng nào nghiệp quả còn ràng buộc một người với một nhóm nhất định, điều y phải hướng tới là hoàn thành phần việc của mình một cách hoàn hảo,
I play my part with stern resolve, with earnest aspiration, even though it's a small part. You know, I'm not going to rush out and save the world and leave the family in a mess.
Tôi làm tròn phần việc của mình với quyết tâm kiên định, với khát vọng tha thiết, dù đó chỉ là một phần việc nhỏ. Các bạn biết đấy, Tôi sẽ không vội chạy ra cứu thế giới rồi để gia đình trong tình trạng hỗn loạn.
Bethlehem must be fulfilled before one can step out and look for the teacher, and even become the teacher, or the leader. that as long as a man's karma holds him to some particular group the thing that he must aim at is to play his part perfectly,
Phải hoàn thành bổn phận tại Bethlehem trước khi một người có thể bước ra tìm huấn sư, thậm chí trở thành huấn sư hoặc người lãnh đạo. chừng nào nghiệp quả của một người còn giữ y trong một nhóm nào đó, thì điều y phải hướng đến là làm tròn phần việc của mình một cách hoàn hảo,
[45] so that he may work out from under karmic obligation and advance toward ultimate liberation;
[45] để có thể thoát khỏi ràng buộc nghiệp quả [Page 118] và tiến tới sự giải thoát tối hậu;
He's used that phrase, work out from under, seems to suggest pressure, confining pressure from above.
Ngài đã dùng cách nói “tự thoát khỏi sự đè giữ”, dường như gợi một áp lực, một sức ép giam hãm từ trên.
this phrase suggests a confining pressure from above, and advance towards ultimate liberation. Well, ultimate, ultimate for any phase, or any particular phase. Let's say, mastership, or arhatship, those higher initiations which give what looks to us like ultimate liberation.
Cách nói này gợi một sức ép giam hãm từ trên, và tiến đến sự giải thoát tối hậu. Tối hậu, nghĩa là tối hậu đối với một giai đoạn nào đó, một giai đoạn cụ thể. Chẳng hạn, địa vị Chân sư hoặc địa vị La Hán, những lần điểm đạo cao hơn đem lại điều mà đối với chúng ta có vẻ là sự giải thoát tối hậu.
They are never ultimate, even, well, maybe for any universe, the great pralaya is an ultimate within the context of a universe. But in the matter of being, how does one improve upon being? One can improve on one's access to the realization of being, but one does not improve the presence. The presence is the presence.
Chúng không bao giờ là tối hậu; có lẽ đối với một vũ trụ nào đó, giai kỳ qui nguyên lớn là tối hậu trong phạm vi vũ trụ ấy. Nhưng về vấn đề Bản Thể, làm sao người ta có thể cải thiện Bản Thể? Người ta có thể cải thiện khả năng tiếp cận sự chứng nghiệm Bản Thể, nhưng không cải thiện sự hiện diện. Sự hiện diện vẫn là sự hiện diện.
There are many instances of the presence, and they are never the pure presence. We may have the presence of Sanat Kumara, or the presence of the planetary logos, or the presence of the solar logos, way beyond our conception to experience. But even those are limitations upon the ultimate universal presence, which is a severe infinitesimalized limitation upon the presence of the super universal deity.
Có nhiều biểu hiện của sự hiện diện, và chúng không bao giờ là sự hiện diện thuần túy. Chúng ta có thể có sự hiện diện của Đức Sanat Kumara, hoặc sự hiện diện của Đức Hành Tinh Thượng Đế, hoặc sự hiện diện của Thái dương Thượng đế, vượt xa khả năng hình dung và trải nghiệm của chúng ta. Nhưng ngay cả những sự hiện diện ấy cũng là những giới hạn đối với sự hiện diện vũ trụ tối hậu, mà chính sự hiện diện ấy lại là một giới hạn cực kỳ thu nhỏ đối với sự hiện diện của Thượng đế siêu vũ trụ.
Which itself, because it is split into the observer and the observed, is a severe limitation upon the one and only presence, which is the absoluteness itself. Well, just throwing in the theory here a little bit. So when the word ultimate is used, we have to say ultimate within a certain context, and otherwise not ultimate.
Và chính sự hiện diện đó, vì phân chia thành người quan sát và đối tượng được quan sát, cũng là một giới hạn nghiêm ngặt đối với sự hiện diện duy nhất, tức chính tính tuyệt đối. Tôi chỉ đưa thêm một chút lý thuyết vào đây. Vì vậy, khi dùng từ tối hậu, chúng ta phải nói rằng đó là tối hậu trong một phạm vi nhất định; ngoài phạm vi ấy thì không phải tối hậu.
So you've got to care, where you are, what's the old saying? It's a good one for people who love gardening, bloom where you are planted. It didn't originate with me, and I never would think of such a thing, but I've been connected with people who have the green thumb, and made the transference from handling the plant kingdom to handling their own psychology. Bloom where you are planted.
Vì vậy, các bạn phải biết chăm lo ngay tại nơi mình đang ở. Câu nói xưa ấy là gì nhỉ? Đó là một câu rất hay dành cho những người yêu làm vườn: Hãy nở hoa nơi bạn được trồng. Câu ấy không bắt nguồn từ Tôi, và Tôi sẽ chẳng bao giờ nghĩ ra một điều như vậy, nhưng Tôi từng gắn bó với những người mát tay trồng cây, và họ đã chuyển từ việc chăm sóc giới thực vật sang chăm sóc đời sống tâm lý của chính mình. Hãy nở hoa nơi bạn được trồng.
So let's see where we are here. As long as a man's karma holds him to some particular group, oh, I've got to take care of mother, or my brother, or my children. I've got to take care of them.
Vậy hãy xem chúng ta đang ở đâu. Chừng nào nghiệp quả của một người còn giữ y trong một nhóm nào đó: Tôi phải chăm sóc mẹ, hoặc huynh đệ của mình, hoặc con cái mình. Tôi phải chăm sóc họ.
I can't abandon them. As long as the karma, Saturn, holding you in place, holds you in place, fulfill that well, and don't evade it while pretending to perform it. So I'll put that in, don't evade while pretending to perform.
Tôi không thể bỏ rơi họ. Chừng nào nghiệp quả, Sao Thổ, còn giữ các bạn ở vị trí ấy, hãy chu toàn việc đó thật tốt, và đừng né tránh trong khi giả vờ thực hiện. Vì vậy, Tôi sẽ thêm điều này: đừng né tránh trong khi giả vờ thực hiện.
So that he may work himself out from under the karmic obligation, the pressure that holds you down. Well, the confining pressure, the pressure that holds you in place, and advance towards ultimate, semi-ultimate liberation. Yeah, that's what we have to do.
Để y có thể tự thoát khỏi nghĩa vụ nghiệp quả, áp lực đè giữ các bạn xuống. Sức ép giam hãm, áp lực giữ các bạn tại chỗ, và tiến đến sự giải thoát tối hậu, hoặc gần tối hậu. Đúng vậy, đó là điều chúng ta phải làm.
And again, it's not necessarily pleasant, but it is necessary.
Và một lần nữa, điều ấy không nhất thiết dễ chịu, nhưng là cần thiết.
[46] besides this he must carry on his group with him to greater heights and usefulness.
[46] ngoài ra, y phải cùng đưa nhóm của mình lên những tầm cao hơn và trở nên hữu ích hơn.
We say that the progressive individual will uplift his group while being progressive. So the old saying, if you rise, other rise with you. You may not even know who they are.
Chúng ta nói rằng người tiến bộ sẽ nâng nhóm của mình lên trong khi bản thân tiến bộ. Vì vậy, có câu nói xưa: nếu bạn vươn lên, những người khác cũng vươn lên cùng bạn. Các bạn thậm chí có thể không biết họ là ai.
If you fall, you drag others down, and you may not even know who they are. So we have that group responsibility to the unknown connected person. And maybe not just the person, but members of other kingdoms, the animal kingdom, the plant kingdom, etc.
Nếu các bạn sa xuống, các bạn kéo những người khác xuống, và thậm chí có thể không biết họ là ai. Vì vậy, chúng ta có trách nhiệm nhóm đối với người có liên hệ với mình mà mình chưa biết. Và có lẽ không chỉ con người, mà còn những thành viên của các giới khác, giới động vật, giới thực vật v.v.
[47] Therefore, if through meditation of an unsuitable nature he neglects his proper obligation he delays the purpose of his life, and in another incarnation he will have to play it out.
[47] Vì vậy, nếu do thực hành một loại tham thiền không thích hợp mà y sao nhãng nghĩa vụ chính đáng, y sẽ trì hoãn mục đích đời mình và phải hoàn thành phần việc ấy trong một kiếp nhập thể khác.
It's kind of a horrific possibility, but I'm sure we can catch ourselves in acts of preferential neglect.
Đó là một khả năng khá đáng sợ, nhưng Tôi chắc rằng chúng ta có thể bắt gặp chính mình đang sao nhãng bổn phận vì những sở thích riêng.
Oh, I don't really want to do that now. Tomorrow, mañana, I'll do it tomorrow, and then tomorrow never comes, until it comes in another life.
Tôi thực sự không muốn làm việc ấy lúc này. Ngày mai, để ngày mai, Tôi sẽ làm vào ngày mai; rồi ngày mai ấy không bao giờ đến, cho đến khi nó đến trong một kiếp sống khác.
So you kind of wonder if the many things that we feel we have to do now, how many of them arise from neglect in the past? Maybe not possible to tell, but we could get a feeling about it. When you get that feeling, oh, I've just got to do this, even though it is onerous, difficult, not necessarily the most fun, it may be due to the unfinished business of the past, really unfinished in the past, when it should have been finished. And there's the unfinished business of the past that couldn't be finished in the past, and has to be finished now.
Vì vậy, các bạn có thể tự hỏi: trong nhiều điều chúng ta cảm thấy mình phải làm lúc này, có bao nhiêu điều xuất phát từ sự sao nhãng trong quá khứ? Có lẽ không thể xác định, nhưng chúng ta có thể cảm nhận đôi chút về điều ấy. Khi có cảm giác rằng mình nhất thiết phải làm việc này, dù nặng nề, khó khăn và không nhất thiết vui vẻ nhất, thì có thể đó là do công việc chưa hoàn tất trong quá khứ, thực sự bị bỏ dở khi lẽ ra phải hoàn tất. Và cũng có những công việc của quá khứ chưa thể hoàn tất lúc ấy, nay phải hoàn tất.
[48] If he builds into that group's causal body (the composite product of the several lines) aught that has not its place properly there, he aids not but hinders, and again that involves danger.
[48] Nếu y đưa vào thể nguyên nhân của nhóm ấy (sản phẩm tổng hợp của nhiều đường phát triển) bất cứ điều gì không có chỗ thích đáng ở đó, thì y không trợ giúp mà gây trở ngại, và điều này cũng hàm chứa nguy hiểm.
So we are, I guess he's saying, we are responsible to the content of the group's causal body.
Vậy chúng ta, Tôi đoán Ngài đang nói, có trách nhiệm đối với nội dung của thể nguyên nhân của nhóm.
We are responsible to the content, or for the content part of the group's causal body. And then it's nice to illustrate, which he does not.
Chúng ta có trách nhiệm đối với nội dung, hoặc phần nội dung của thể nguyên nhân của nhóm. Và sẽ rất hay nếu có ví dụ minh họa, điều mà Ngài chưa đưa ra.
[49] Let me illustrate, for clarity is desired:— A student is affiliated with a group that has an over-preponderance of devotees, and he has come in for the express purpose of balancing that quality with another factor, that of wise discrimination and mental balance.
[49] Để làm rõ, Tôi xin minh họa:—Một đạo sinh liên kết với một nhóm có số người sùng tín chiếm ưu thế quá mức, và y gia nhập với mục đích rõ ràng là cân bằng phẩm tính ấy bằng một yếu tố khác, đó là sự phân biện sáng suốt và quân bình trí tuệ.
Well, one of his disciples has done that. Is it DLR? Is it a man by the name of Charles Hill, who had a most interesting combination of rays, first ray soul, fifth ray personality, fifth ray mind, sixth ray astral body, seventh ray physical body, very mental, but, being essentially, I think, a second ray monad, he still had considerable sensitivity, even though all those hard lines were there.
Một trong các đệ tử của Ngài đã làm điều đó. Có phải DLR không? Có phải người tên Charles Hill không, người có sự kết hợp các cung hết sức thú vị: linh hồn cung một, phàm ngã cung năm, thể trí cung năm, thể cảm dục cung sáu, thể xác cung bảy. Ông rất thiên về trí tuệ, nhưng về bản chất, Tôi nghĩ ông có chân thần cung hai, nên vẫn có sự nhạy cảm đáng kể, dù có tất cả những đường cung cứng ấy.
So he was introduced into the glamour group, I think. And everybody there, so many people there had a very powerful sixth ray. I guess he was a counterbalance to much of that, and maybe he succeeded fairly well in being that counterbalance.
Vì vậy, Tôi nghĩ ông được đưa vào nhóm ảo cảm. Và ở đó, rất nhiều người có cung sáu rất mạnh. Tôi đoán ông là đối trọng cho phần lớn điều ấy, và có lẽ ông đã khá thành công trong vai trò đối trọng đó.
But whereas success, I think, to a degree was his, it's not the case with all people. They can emphasize something the group doesn't need, or more of the same, and they don't uphold the responsibility of building into the causal body what must be built in, the group causal body. So here's this person.
Nhưng dù Tôi nghĩ ông đã thành công ở một mức độ nào đó, không phải ai cũng như vậy. Họ có thể nhấn mạnh điều nhóm không cần, hoặc bổ sung thêm điều đã có quá nhiều, và không chu toàn trách nhiệm xây dựng vào thể nguyên nhân những gì cần phải xây dựng, thể nguyên nhân của nhóm. Vậy đây là người ấy.
He's put in a group of devotees. It just reminded me, because so many people in that glamour group needed something to connect them with the astral plane number six. They needed the sixth ray, and while he did have a sixth ray, that was his only soft line ray, and it connected with the astral plane.
Ông được đưa vào một nhóm những người sùng tín. Điều ấy khiến Tôi nhớ đến trường hợp này, bởi rất nhiều người trong nhóm ảo cảm ấy cần một yếu tố kết nối họ với cõi cảm dục, số sáu. Họ cần cung sáu; và dù ông có cung sáu, đó là cung thuộc đường mềm duy nhất của ông, và nó liên hệ với cõi cảm dục.
And I think he played the violin, you know. I mean, the ray chart that he has now does not entirely define the character. We've been building up in the causal body the result of many ray charts, and many astrological charts, all of which have their lingering effect passing through the present ray chart and present astrological chart.
Và Tôi nghĩ ông chơi vĩ cầm. Ý Tôi là sơ đồ cung hiện tại của ông không hoàn toàn xác định tính cách. Chúng ta đã xây dựng trong thể nguyên nhân kết quả của nhiều sơ đồ cung và nhiều lá số chiêm tinh, tất cả đều có ảnh hưởng lưu lại, đi xuyên qua sơ đồ cung và lá số chiêm tinh hiện tại.
I don't think you can account for all you are or seem emphatically to be by looking at one ray chart and one astrological chart. It may describe some pretty prominent traits, but behind that, what else is there that is very essential and in a way has nothing to do with your present ray chart or horoscope, except maybe the solar ray, and which must be guided through your present ray chart and astrological chart into expression? What you are causally after millions and millions of years doesn't just go away and get totally veiled or covered by your present ray and astrological chart. You have to find that something that lingers in which you have built.
Tôi không nghĩ các bạn có thể giải thích toàn bộ những gì mình là, hoặc có vẻ biểu lộ hết sức rõ rệt, chỉ bằng cách xem một sơ đồ cung và một lá số chiêm tinh. Chúng có thể mô tả vài nét rất nổi bật, nhưng phía sau đó còn điều gì rất thiết yếu, theo một nghĩa nào đó không liên quan đến sơ đồ cung hay lá số chiêm tinh hiện tại của các bạn, có lẽ ngoại trừ cung thái dương, và phải được dẫn qua sơ đồ cung cùng lá số chiêm tinh hiện tại để biểu lộ? Những gì các bạn đã trở thành ở cấp độ nguyên nhân sau hàng triệu, hàng triệu năm không đơn giản biến mất rồi hoàn toàn bị che khuất bởi sơ đồ cung và lá số chiêm tinh hiện tại. Các bạn phải tìm ra điều vẫn còn lưu lại trong những gì mình đã xây dựng.
So anyway, here is this individual, an example, a student, and there he is in a group, because he has an over preponderance. There's an over preponderance of devotees, and he's supposed to balance. It's almost like he's talking about Charles Hill, who had Libra, I think, as the, what was the sun or rising sign? I think it was the rising sign.
Dù sao, đây là cá nhân ấy, một ví dụ, một đạo sinh trong một nhóm, bởi có sự chiếm ưu thế quá mức. Có quá nhiều người sùng tín, và y phải đem lại sự cân bằng. Gần như Ngài đang nói về Charles Hill, người có Thiên Bình, Tôi nghĩ vậy, là dấu hiệu Mặt Trời hay Dấu hiệu mọc nhỉ? Tôi nghĩ đó là Dấu hiệu mọc.
So hence the balance, balancing ability. So that quality had to be balanced by this person, let us say. Wise discrimination and mental balance.
Do đó mới có sự cân bằng, khả năng cân bằng. Vậy phẩm tính ấy cần người này cân bằng lại. Sự phân biện minh triết và sự cân bằng trí tuệ.
[50] If he permits himself to be overcome by the group thoughtform and becomes himself a devotee, following a devotional meditation and unwisely omitting to balance that group's causal body, he runs into a danger that hurts not only himself but the group to which he belongs.
[50] Nếu y để hình tư tưởng của nhóm lấn át mình và chính y trở thành người sùng tín, thực hành tham thiền sùng tín và thiếu sáng suốt khi bỏ qua việc cân bằng thể nguyên nhân của nhóm ấy, thì y rơi vào một nguy hiểm gây tổn hại không chỉ cho bản thân mà còn cho nhóm mình thuộc về.
I always love it when the Tibetan gives a nice juicy example which makes things super clear, and this he does.
Tôi luôn thích khi Chân sư Tây Tạng đưa ra một ví dụ sinh động, làm mọi điều trở nên hết sức rõ ràng, và ở đây Ngài làm như vậy.
So we must see what the group needs and whether we can provide it with our own complement of energies. Logical and re-o-logical, however that's spelled. So think about yourself now and the groups you know.
Vì vậy, chúng ta phải thấy nhóm cần gì và liệu mình có thể cung cấp điều đó bằng tập hợp năng lượng riêng của mình hay không. Mang tính lôgic và lôgic dòng chảy, dù từ ấy viết thế nào đi nữa. Vậy bây giờ hãy nghĩ về bản thân và những nhóm các bạn biết.
What do they need? Are you due to your recognition of what they need? Are you helping them achieve it? I sometimes talk to my youngest son and I say, because he teaches or has taught philosophy and especially logic, and I say, well why don't you come into one of our groups and give some lessons in logical thinking? You know, because sometimes people like ourselves get so swept away in a leap of faith that we don't think straight, and then maybe something from a more concrete logical thinker could be of assistance. So far he's declined my invitation to teach symbolic logic to the esotericists.
Họ cần gì? Các bạn có nhận ra họ cần gì không? Các bạn có giúp họ đạt được điều ấy không? Đôi khi Tôi nói chuyện với con trai út của mình, bởi cậu ấy dạy hoặc từng dạy triết học, đặc biệt là lôgic học, và Tôi nói: Sao con không tham gia một trong các nhóm của chúng ta và dạy vài bài về tư duy lôgic? Bởi đôi khi những người như chúng ta bị cuốn quá mạnh vào một bước nhảy của đức tin đến mức không suy nghĩ sáng suốt, và khi ấy có lẽ điều gì đó từ một người tư duy lôgic cụ thể hơn có thể giúp ích. Cho đến nay, cậu ấy vẫn từ chối lời mời của Tôi về việc dạy lôgic ký hiệu cho các nhà bí truyền học.
But it would definitely be something that could be added as a balance. Now let's say the Alice Bailey groups have a reputation for intellectuality and for a slower development of the heart and a very emphasized development of the head, the mind. If one comes in and simply emphasizes more of the same, one is increasing the imbalance.
Nhưng chắc chắn đó sẽ là một yếu tố có thể bổ sung để đem lại sự cân bằng. Giả sử các nhóm Alice Bailey có tiếng là thiên về trí năng, phát triển trái tim chậm hơn, và hết sức nhấn mạnh sự phát triển của đầu, của thể trí. Nếu một người gia nhập rồi chỉ nhấn mạnh thêm những điều tương tự, người ấy đang làm tăng sự mất cân bằng.
But suppose it's the concrete mind, basically, that the group is well equipped with, and the new member comes in and emphasizes more of the abstract mind and how to reason purely from the abstract mental levels. Well then that's providing a balance. So think about your groups and whether you can carry something into their context which will truly be fulfilling rather than emphasizing what is already unbalanced and there in abundance.
Nhưng giả sử về cơ bản nhóm đã có trí cụ thể phát triển tốt, còn thành viên mới gia nhập lại nhấn mạnh hơn vào trí trừu tượng và cách suy luận thuần túy từ các cấp độ trí tuệ trừu tượng. Khi ấy, người đó đang đem lại sự cân bằng. Vậy hãy nghĩ về những nhóm của các bạn và liệu mình có thể đưa vào đó một điều thực sự giúp họ trở nên đầy đủ hơn, thay vì nhấn mạnh những gì vốn đã mất cân bằng và có quá nhiều.
Usually the question is what does the group need and what will supplement the possessions, the treasures of the group's causal body so that a rounding out can occur? This was always happening in these groups. A bunch of, was it eight? At least eight first-ray souls were brought into the Alice Bailey Tibetan essentially second-ray group. Why? Balance.
Thông thường, câu hỏi là nhóm cần gì, và điều gì sẽ bổ sung cho những vốn liếng, những kho báu trong thể nguyên nhân của nhóm để nhóm có thể phát triển toàn diện? Điều này luôn diễn ra trong những nhóm ấy. Một số người, có phải tám người không nhỉ? Ít nhất tám linh hồn cung một đã được đưa vào nhóm Alice Bailey–Chân sư Tây Tạng, vốn về cơ bản thuộc cung hai. Vì sao? Để cân bằng.
The second, and Alice Bailey herself said thank goodness for Foster Bailey who was first-ray soul, a lawyer, and she says I would have made so many mistakes, legal mistakes, without Foster. Foster Bailey advised her from the first-ray perspective so she didn't make those errors. And then I've mentioned it before, but when I asked the head of the Agni Yoga Society what master he felt he responded to and why, he felt he was responding to Master Kuthumi on the second ray.
Cung hai, và chính Alice Bailey đã nói rằng thật may có Foster Bailey, người có linh hồn cung một, một luật sư. Bà nói: Nếu không có Foster, Tôi hẳn đã mắc rất nhiều sai lầm, những sai lầm pháp lý. Foster Bailey tư vấn cho Bà từ góc nhìn cung một để Bà không mắc những sai lầm ấy. Và Tôi đã nhắc điều này trước đây, nhưng khi Tôi hỏi người đứng đầu Hội Agni Yoga rằng ông cảm thấy mình đáp ứng với Chân sư nào và vì sao, ông cảm thấy mình đang đáp ứng với Chân sư Kuthumi thuộc cung hai.
Interesting for a very first-ray group. When I, Madame Roerich was on the first ray, and some of the inheritors of her work were strongly on the first ray. And the teaching partner, so to speak, of the head of this Agni Yoga Society was, clearly you could see it, it was the first ray.
Thật thú vị đối với một nhóm rất thiên về cung một. Khi Tôi… Bà Roerich thuộc cung một, và một số người kế thừa công việc của Bà cũng rất thiên về cung một. Và người cộng tác giảng dạy, có thể nói như vậy, của người đứng đầu Hội Agni Yoga này rõ ràng thuộc cung một, các bạn có thể thấy rõ điều đó.
You know, in all of its restraint, but definitely if you put a beard on him he would have looked like Abraham Lincoln. There were some similarities there. But here was this man who basically had control of it all, and he said, well I'm responding to Kuthumi.
Bạn biết đấy, trong tất cả vẻ điềm chế ấy, nhưng chắc chắn nếu thêm bộ râu thì ông ấy sẽ trông giống Abraham Lincoln. Có một vài nét tương đồng. Nhưng đây là một người về cơ bản nắm quyền kiểm soát tất cả, và ông ấy nói: “Tôi đang đáp ứng Chân sư Kuthumi.”
So this is supplementation, this is balance, this is loaning certain rays to different ray ashrams for the purpose of helping to achieve balance. Mostly this is going on in terms of detectability between the first and second ray ashrams, but I'm sure we will find it in the other ray ashrams as well. So what about the balance of rays in ourselves? DK sometimes remarks upon it.
Vậy đây là sự bổ sung, là sự cân bằng, là việc cho các ashram thuộc những cung khác nhau mượn một số cung nhất định nhằm giúp đạt được sự cân bằng. Xét những gì có thể nhận biết, điều này chủ yếu diễn ra giữa các ashram cung một và cung hai, nhưng Tôi chắc rằng chúng ta cũng sẽ thấy điều đó trong các ashram thuộc những cung khác. Vậy sự cân bằng các cung trong chính chúng ta thì sao? Chân sư DK đôi khi nhận xét về điều này.
And what about the in groups? So anyway, this is the example. An example. He neglects what has to be done on the stage which the soul has staged for him.
Còn sự cân bằng trong các nhóm thì sao? Dù sao, đây là ví dụ. Một ví dụ. Y bỏ bê những gì phải làm trên sân khấu mà linh hồn đã dựng lên cho y.
He's been placed. You know, you kind of wonder how much choice we have about where we're going to be born, and to which parents, and the old saying goes, well you select your parents. But I'm sure your karma and your solar angel have a lot to do with that selection.
Y đã được đặt vào đó. Bạn biết đấy, chúng ta phần nào tự hỏi mình có bao nhiêu quyền lựa chọn nơi sẽ sinh ra và cha mẹ của mình; câu nói xưa cho rằng bạn chọn cha mẹ mình. Nhưng Tôi chắc rằng nghiệp quả và Thái dương Thiên Thần của bạn đóng vai trò rất lớn trong sự lựa chọn ấy.
You can't work out from under all karma at the same time, but maybe a certain part of working out is due at this, at the present moment. And so with the greater perspective of the solar angel, and your own onlooking and understanding to a certain degree, then the choice is made. What about number two here?
Bạn không thể cùng lúc giải quyết để thoát khỏi mọi nghiệp quả, nhưng có lẽ đến thời điểm hiện tại, một phần nào đó đã đến hạn phải giải quyết. Và như vậy, với tầm nhìn rộng lớn hơn của Thái dương Thiên Thần, cùng sự quan sát và thấu hiểu của chính bạn ở một mức độ nhất định, sự lựa chọn được đưa ra. Còn mục hai ở đây thì sao?
[50b] 2—On the emotional plane: Here he belongs to several groups such as:—
[50b] 2—Trên cõi cảm xúc: Ở đây, y thuộc về một số nhóm như:—
This is the focus on the emotional plane, and here he belongs to several groups such as, and we'll look for the danger, right?
Đây là sự tập trung trên cõi cảm xúc, và ở đây y thuộc về một số nhóm như sau; chúng ta sẽ tìm xem nguy hiểm nằm ở đâu, đúng không?
[51] a—His emotional plane family group, which is more thoroughly his own group than the family into which he happens to be born on the physical plane.
[51] a—Nhóm gia đình của y trên cõi cảm xúc, vốn thực sự là nhóm của y hơn gia đình mà y tình cờ sinh vào trên cõi hồng trần.
You know, with my friends I share a lot of similarities which I don't share with my family at all. That's what's being said here.
Bạn biết đấy, Tôi có nhiều điểm tương đồng với bạn bè mà hoàn toàn không có với gia đình mình. Đó là điều đang được nói đến ở đây.
[52] You will see this demonstrated many times in life when members of an emotional plane family contact each other on the physical plane. Instant recognition ensues.
[52] Các bạn sẽ thấy điều này được chứng minh nhiều lần trong cuộc sống khi những thành viên của một gia đình trên cõi cảm xúc tiếp xúc với nhau trên cõi hồng trần. Họ lập tức nhận ra nhau.
So then comes the battle between the parents and the friends, and the parents have a tough time. More so than the one who is recognizing his emotional similarities with others.
Rồi cuộc đấu tranh giữa cha mẹ và bạn bè bắt đầu, và cha mẹ gặp nhiều khó khăn hơn người đang nhận ra những điểm tương đồng về cảm xúc của mình với người khác.
And sometimes, this happens in adolescence, in what we call in America high school, or maybe what we call in Europe gymnasium. Let's suppose you have a very staid family, and you join a drama group with whom you share some kind of emotional exuberance. You feel at home there, more at home than you might in the physical confines of your family.
Đôi khi điều này xảy ra ở tuổi thiếu niên, trong giai đoạn mà ở Mỹ chúng ta gọi là trung học phổ thông, hoặc ở châu Âu có thể gọi là trường trung học dự bị đại học. Giả sử gia đình bạn rất nghiêm nghị, còn bạn tham gia một nhóm kịch có chung với mình một kiểu cảm xúc sôi nổi. Bạn cảm thấy mình thuộc về nơi ấy, hơn là trong phạm vi vật chất của gia đình.
You feel more at home with your emotional family than with your physically based family. Family is interesting because, it gives the kind of right of aggregation. You come together based on similarity of vibration.
Bạn cảm thấy gắn bó với gia đình cảm xúc hơn là với gia đình dựa trên quan hệ thể xác. Gia đình thật thú vị vì nó đem lại một kiểu quyền quy tụ. Các bạn đến với nhau dựa trên sự tương đồng về rung động.
So we are speaking of coming together based on similarity of vibration. But sometimes, of course, the physical family, or certain members of it, and the emotional family have a lot in common. And sometimes a relative is a measure of both.
Vậy chúng ta đang nói đến việc đến với nhau dựa trên sự tương đồng về rung động. Nhưng tất nhiên, đôi khi gia đình hồng trần, hoặc một số thành viên trong đó, có rất nhiều điểm chung với gia đình cảm xúc. Và đôi khi một người thân phần nào thuộc về cả hai.
I have a relative who's a member of my physical family, and I would say emotional family, but only partly due to Ray, a member of my mental family, or I of hers. We have very strong similarities in the charts, except for the Ray of the mind, and possibly the monadic Ray. So there's never going to be complete mental family relationships characterizing that particular relationship.
Tôi có một người thân thuộc gia đình hồng trần của mình, và Tôi cũng có thể nói là thuộc gia đình cảm xúc; nhưng do cung, bà chỉ phần nào thuộc gia đình trí tuệ của Tôi, hoặc Tôi thuộc gia đình trí tuệ của bà. Lá số của chúng tôi có những điểm tương đồng rất mạnh, ngoại trừ cung của thể trí và có thể cả cung chân thần. Vì vậy, mối quan hệ cụ thể ấy sẽ không bao giờ mang đầy đủ đặc điểm của quan hệ trong gia đình trí tuệ.
With another person in my physical family, I think I share very little in the personality, except maybe some reactive tendencies. But in terms of the mode of spiritual quest, a lot. But we'll get to, maybe you'll talk about mental families.
Với một người khác trong gia đình hồng trần, Tôi nghĩ chúng tôi có rất ít điểm chung về phàm ngã, ngoại trừ có lẽ một vài khuynh hướng phản ứng. Nhưng về cách tìm kiếm tinh thần thì có rất nhiều điểm chung. Chúng ta sẽ đi đến đó; có lẽ sẽ nói về các gia đình trí tuệ.
And another, with another, I share strong emotional and mental similarities, but a much different approach to what might be called spirituality. It's all governed by the rays. Not so much even by the astrological signs, but by the rays.
Với một người khác nữa, Tôi có những điểm tương đồng mạnh về cảm xúc và trí tuệ, nhưng cách tiếp cận điều có thể gọi là tinh thần lại rất khác. Tất cả đều do các cung chi phối. Thậm chí không phải các dấu hiệu chiêm tinh chi phối nhiều đến thế, mà là các cung.
And it's just very interesting to assess one's really close relationships, and see which families are shared with that individual with whom one has a close relationship. Okay, we'll go on here.
Thật thú vị khi đánh giá những mối quan hệ thực sự gần gũi của mình, và xem mình cùng thuộc những gia đình nào với người có quan hệ gần gũi ấy. Chúng ta sẽ tiếp tục ở đây.
[53] b—The class within the Hall of Learning to which he is assigned and in which he receives much instruction.
[53] b—Lớp học trong Phòng Học Tập mà y được phân vào và nhận nhiều sự chỉ dạy.
So this is the curriculum of the love petals, the central petals of the nine, four, five, and six. So these are emotional groups. He's kind of saying we are, we tend to be members of these emotional groups.
Vậy đây là chương trình học của các cánh hoa bác ái, những cánh hoa ở giữa trong chín cánh: bốn, năm và sáu. Như vậy, đây là các nhóm cảm xúc. Ngài phần nào đang nói rằng chúng ta có khuynh hướng là thành viên của những nhóm cảm xúc này.
And point C,
Và mục c,
[54] c—The band of Invisible Helpers with whom he may be working and the band of Servers.
[54] c—Đoàn Người Trợ Giúp Vô Hình mà y có thể đang cùng làm việc, và đoàn Người Phụng Sự.
This is the higher group within the emotional grouping. I've talked to some people who really have their memories pretty much intact about invisible helpership.
Đây là nhóm cao hơn trong các nhóm cảm xúc. Tôi đã trò chuyện với một số người thực sự giữ được khá nguyên vẹn ký ức về việc làm người trợ giúp vô hình.
And I was talking to one person who said, oh yes, we were there at the invasion of Normandy, holding the soldiers up in the water, because they had these landing craft under a barrage of machine gun bullets. Very, so many were killed, so dangerous. And the invisible helpers were there.
Tôi trò chuyện với một người nói rằng: “Ồ, đúng vậy, chúng tôi đã có mặt trong cuộc đổ bộ Normandy, nâng đỡ những người lính trong nước, vì các tàu đổ bộ của họ đang hứng chịu một trận mưa đạn súng máy.” Rất nhiều người đã thiệt mạng, vô cùng nguy hiểm. Và những người trợ giúp vô hình đã có mặt ở đó.
It was an invasion of Europe with the objective of overcoming Germany eventually, but it wasn't just a physical assault, which was appreciable. There was help from the inside too. How are you helping? What is your assignment? Who are those with whom you are helping? Now maybe there's, a tendency to move on from emotional family affiliation into something higher.
Đó là một cuộc tiến công vào châu Âu với mục tiêu cuối cùng là đánh bại nước Đức, nhưng không chỉ có cuộc tấn công hồng trần mà người ta có thể nhận thấy. Còn có sự trợ giúp từ bên trong nữa. Bạn đang trợ giúp như thế nào? Nhiệm vụ của bạn là gì? Những người cùng bạn trợ giúp là ai? Có lẽ ở đây có một khuynh hướng chuyển từ sự gắn kết với gia đình cảm xúc sang điều gì đó cao hơn.
Let's see. So this is the class in the Hall of Learning to which he is assigned, and in which he learns a lot. I guess one day we're going to know all that we're taught on the inner planes, and it'll become familiar.
Hãy xem. Đây là lớp học trong Phòng Học Tập mà y được phân vào, và nơi y học được rất nhiều. Tôi nghĩ một ngày nào đó chúng ta sẽ biết tất cả những gì mình được dạy trên các cõi bên trong, và chúng sẽ trở nên quen thuộc.
He tells us that death is a most familiar experience. And, such that we might end up saying, oh, this again. And maybe, falling asleep past a certain point reveals that as well.
Ngài nói với chúng ta rằng cái chết là một trải nghiệm hết sức quen thuộc. Quen đến mức cuối cùng chúng ta có thể nói: “Ồ, lại chuyện này.” Và có lẽ khi đi vào giấc ngủ vượt quá một điểm nhất định, điều ấy cũng hiển lộ.
And we'll recognize what we've been doing at night. You can get a lot done in a short period of time, but maybe it depends on one's polarization, one's focus. And maybe the strictly mental workers are already emphasizing other kinds of groups that are not, let us say, particularly emotionally based.
Chúng ta sẽ nhận ra những gì mình đã làm vào ban đêm. Bạn có thể làm được rất nhiều trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng có lẽ điều đó tùy thuộc vào sự phân cực, vào trọng tâm của mỗi người. Và có lẽ những người hoạt động thuần túy bằng trí tuệ đã nhấn mạnh những loại nhóm khác, không đặc biệt dựa trên cảm xúc.
So, so far what do we have? Well, I'll just have to remember it. We have the outer physical family, and we, okay, we have so far. So far we have classifications within the general physical family, and within the general emotional family.
Vậy đến đây chúng ta có những gì? Tôi sẽ phải nhớ lại. Chúng ta có gia đình hồng trần bên ngoài; đến đây, chúng ta có các phân loại trong gia đình hồng trần nói chung và trong gia đình cảm xúc nói chung.
Subdivisions. I mean, really, do we have an idea, even of the families to which we belong? The conventional way of thinking is, this is my family, physical, and it's really important here on the physical plane.
Các phân nhóm. Ý Tôi là, chúng ta thực sự có hình dung nào về ngay cả những gia đình mà mình thuộc về không? Cách nghĩ thông thường là: đây là gia đình hồng trần của Tôi, và nó thực sự quan trọng ở đây, trên cõi hồng trần.
But who are we working with? We don't necessarily stay in a family business, do we? Some people rebel. I have two brothers, and, okay, they stayed more or less in the family business for a while, and one permanently. We had different inclinations.
Nhưng chúng ta đang làm việc cùng ai? Chúng ta không nhất thiết phải ở lại trong việc kinh doanh của gia đình, đúng không? Một số người phản kháng. Tôi có hai người anh em trai; họ ít nhiều đã ở lại trong việc kinh doanh của gia đình một thời gian, và một người thì ở lại lâu dài. Chúng tôi có những khuynh hướng khác nhau.
Sometimes you stay in a context where you don't belong. But I had no business with that business. And I know of another, or others, who left two brothers in terms of interest, and then got into something completely different, whereas the brothers stayed for many years in the family business.
Đôi khi bạn ở lại trong một hoàn cảnh mà mình không thuộc về. Nhưng Tôi chẳng có duyên gì với việc kinh doanh ấy. Tôi cũng biết một người khác, hoặc những người khác, đã rời xa hai người anh em về mặt sở thích rồi chuyển sang một lĩnh vực hoàn toàn khác, trong khi những người anh em vẫn tiếp tục việc kinh doanh của gia đình suốt nhiều năm.
And then, interestingly enough, the youngest brother who never wanted to be there anyway gradually faded from it. So, it's a type of non-growth to stay anchored in that which the physical family produces, and ignore the wider scene toward which the emotional family would incline. Such a battle goes on, in adolescence when you're really finding your emotional family.
Và khá thú vị là người em út, vốn chưa bao giờ muốn ở đó, dần dần cũng rút lui. Vì vậy, cứ neo mình vào những gì gia đình hồng trần tạo ra và phớt lờ khung cảnh rộng lớn hơn mà gia đình cảm xúc hướng mình đến là một kiểu không phát triển. Cuộc đấu tranh ấy diễn ra ở tuổi thiếu niên, khi bạn thực sự đang tìm ra gia đình cảm xúc của mình.
And it may be quite contradictory to what's going on in the physical family. There may be conflicts. Don't bring your friends here.
Và điều ấy có thể khá trái ngược với những gì đang diễn ra trong gia đình hồng trần. Có thể có xung đột. “Đừng đưa bạn bè của con đến đây.”
Don't bring them home. I can't stand them, that kind of thing uttered from a parent, let us say, under, not so understanding circumstances. But a big difference.
“Đừng đưa chúng về nhà. Cha mẹ không chịu nổi chúng”, những lời như thế từ một người cha hay mẹ trong hoàn cảnh thiếu sự thấu hiểu. Nhưng có một khác biệt lớn.
Why are you associated with persons like that? They hold completely different values than our family holds. Why? Well, it's just that they are more members of the emotional family than the parents or other brothers may be. We're all of us so different, you know.
“Tại sao con lại giao du với những người như thế? Các giá trị của họ hoàn toàn khác với gia đình mình. Tại sao?” Đơn giản là họ thuộc gia đình cảm xúc của bạn nhiều hơn cha mẹ hay những người anh em khác có thể thuộc về. Bạn biết đấy, tất cả chúng ta đều rất khác nhau.
When there are a number of siblings born in a family, they're carrying different astrology, different ray energies. No guarantee whatsoever that they will be in the same emotional family or mental family. So
Khi có nhiều anh chị em sinh ra trong một gia đình, họ mang những yếu tố chiêm tinh khác nhau, những năng lượng cung khác nhau. Hoàn toàn không có gì bảo đảm rằng họ sẽ thuộc cùng một gia đình cảm xúc hay gia đình trí tuệ. Vì vậy,
[55] All these groups involve obligation and work and all must be allowed for in studying the wise use of meditation.
[55] Tất cả những nhóm này đều kéo theo nghĩa vụ và công việc, và tất cả đều phải được tính đến khi nghiên cứu cách sử dụng tham thiền một cách minh triết. [Page 119]
The master assigning meditation has to know what types of groups a person is naturally affiliated with. The factor of obligation cannot be evaded. We have certain duties to our groups, and a number of these problems involve ignoring our duties.
Chân sư giao bài tham thiền phải biết một người tự nhiên gắn kết với những loại nhóm nào. Không thể né tránh yếu tố nghĩa vụ. Chúng ta có những bổn phận nhất định đối với các nhóm của mình, và một số vấn đề này liên quan đến việc bỏ bê bổn phận.
So we might say ignoring our duties to various groups is an ongoing problem. Now, sometimes in the East, or in the Ten Commandments, honor thy father and thy mother that thy days may be long upon the land. There's much of virtue in that, but at a certain point, one must honor one's own inner nature and understandingly depart from what otherwise would be a Saturnian situation in an oppressive mode.
Vậy chúng ta có thể nói rằng bỏ bê bổn phận đối với các nhóm khác nhau là một vấn đề dai dẳng. Đôi khi ở phương Đông, hoặc trong Mười Điều Răn, có lời dạy: “Hãy hiếu kính cha mẹ để những ngày con sống trên đất được dài lâu.” Điều ấy chứa đựng nhiều đức hạnh, nhưng đến một thời điểm nhất định, mỗi người phải tôn trọng bản chất bên trong của mình và rời đi với sự thấu hiểu, khỏi điều nếu không sẽ trở thành một hoàn cảnh mang tính Sao Thổ theo kiểu áp bức.
That would be problematic to stay in a group that inhibited the expression to be found in a more extensive and subtle group.
Ở lại trong một nhóm ngăn cản sự biểu đạt mà ta có thể tìm thấy trong một nhóm rộng lớn và tinh tế hơn sẽ là điều có vấn đề.
[56] Meditation should increase a man's capacity to discharge his karmic debts, giving clear vision, wise judgment and a comprehension of the work of the immediate moment. Anything that militates against this is dangerous.
[56] Tham thiền phải gia tăng năng lực thanh toán những món nợ nghiệp quả của một người, đem lại tầm nhìn rõ ràng, sự phán đoán sáng suốt và khả năng thấu hiểu công việc của thời điểm hiện tại. Bất cứ điều gì đi ngược lại điều này đều nguy hiểm.
So if, let's just say you try to lead the meditative life, but the groups that you are members of inhibit leading that life, there is danger.
Vậy nếu bạn cố gắng sống đời tham thiền, nhưng các nhóm mà bạn là thành viên lại ngăn cản đời sống ấy, thì có nguy hiểm.
You know, sometimes people grow and their friends don't grow, or at least they were in a phase with their friends that the friends will never transcend, but they transcend it. Then comes that tearing. I can't be with these people anymore.
Bạn biết đấy, đôi khi người ta phát triển còn bạn bè thì không; hoặc ít nhất họ từng ở cùng bạn bè trong một giai đoạn mà những người bạn ấy sẽ không bao giờ vượt qua, nhưng họ thì vượt qua. Rồi sự giằng xé xuất hiện. “Tôi không thể ở bên những người này nữa.”
They used to be my friend. Friends, I don't know what happened. We just went our separate ways.
“Họ từng là bạn của Tôi. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Chúng tôi chỉ đi những con đường riêng.”
Well, something awoke in you that has not yet awakened in them, so one has to depart. And the same thing with one's physical family. You know, you could, quote unquote, stay in the family business, which may be right for you, but it might be entirely wrong, and you have to depart.
Một điều gì đó đã thức tỉnh trong bạn nhưng chưa thức tỉnh trong họ, nên bạn phải rời đi. Với gia đình hồng trần của mình cũng vậy. Bạn có thể, nói theo cách thường dùng, “ở lại trong việc kinh doanh của gia đình”; điều ấy có thể đúng với bạn, nhưng cũng có thể hoàn toàn sai, và bạn phải rời đi.
Otherwise, compromise your integrity. Maybe make your parents happy for a while until they can look on and say, well, I'm looking back now, and when you wanted to be an actor, and I was so much against it, preventing you, insisting that you stay in the family business, I was wrong. I should have let you go.
Nếu không, bạn sẽ đánh đổi sự chính trực của mình. Có lẽ bạn làm cha mẹ vui lòng một thời gian, cho đến khi họ có thể nhìn lại và nói: “Giờ cha mẹ nhìn lại chuyện con muốn làm diễn viên mà cha mẹ đã phản đối dữ dội, ngăn cản con, nhất quyết bắt con ở lại trong việc kinh doanh của gia đình; cha mẹ đã sai. Lẽ ra cha mẹ phải để con đi.”
It's a drama that's happening all the time, so we have to know when is the right time to arrive, and when is the right time to depart. I'm a classical musician, but I oftentimes like country music. There's that song by Kenny Rogers, you gotta know when to hold them and know when to fold them.
Đó là một vở kịch luôn diễn ra, nên chúng ta phải biết khi nào là lúc thích hợp để đến và khi nào là lúc thích hợp để rời đi. Tôi là một nhạc sĩ cổ điển, nhưng thường cũng thích nhạc đồng quê. Có bài hát của Kenny Rogers: “Bạn phải biết khi nào giữ bài và khi nào bỏ bài.”
Speaking of card games, poker probably. You have to know when you can hold your cards and hope for the best, because you have a sense of what you've got compared to what others have got, and you have to know when you just say, that's it for me. Fold your cards.
Đang nói về trò chơi bài, có lẽ là bài xì tố. Bạn phải biết khi nào có thể giữ bài và hy vọng điều tốt nhất, vì bạn cảm nhận được bài mình có so với bài người khác; và phải biết khi nào nên nói: “Đến đây là đủ với Tôi.” Bỏ bài.
There's so many practical lessons from the things we do and the games we play, and we're here to make a success of our soul inclinations. Anything that prevents us from doing that, really prevents us, is dangerous. Now that doesn't mean that you can't do that when you're busy fulfilling your karma, because there's a lot of ways in which we can turn karmic obstacles into possibilities.
Có rất nhiều bài học thực tế từ những việc chúng ta làm và những trò chúng ta chơi; chúng ta có mặt ở đây để thực hiện thành công những khuynh hướng của linh hồn. Bất cứ điều gì ngăn cản, thực sự ngăn cản chúng ta làm điều ấy, đều nguy hiểm. Điều đó không có nghĩa là bạn không thể làm được trong khi đang bận giải quyết nghiệp quả, vì có nhiều cách để biến những trở ngại nghiệp quả thành cơ hội.
Master Morya is forever speaking about that. Obstacles are possibilities. When will you ever learn that obstacles are possibilities? But sometimes obstacles are no possibilities, and they will just remain what they are unless you depart them.
Chân sư Morya luôn nói về điều đó. Trở ngại là cơ hội. Bao giờ bạn mới học được rằng trở ngại là cơ hội? Nhưng đôi khi trở ngại không phải là cơ hội, và chúng sẽ vẫn nguyên như vậy trừ khi bạn rời khỏi chúng.
So anyway, meditation should help us deal with these apparent obstacles, and when there are blockages to our discharging of karmic debts, and to the clarification of our vision, and to the onset of wise judgment, and the comprehension of work in the immediate moment when we're really somehow blocked from dealing with these things, there is a danger. And there will be certain kind of groups with their culture that will prevent these developments here listed as valuable. Of course, if we are strong enough in spirit, we can probably make any obstacle a possibility, but oftentimes people are overcome by their obstacles.
Dù sao, tham thiền phải giúp chúng ta xử lý những trở ngại có vẻ hiện hữu này. Khi có những rào cản đối với việc thanh toán các món nợ nghiệp quả, làm sáng tỏ tầm nhìn, hình thành sự phán đoán minh triết và thấu hiểu công việc của thời điểm hiện tại, khi chúng ta thực sự bị ngăn trở theo cách nào đó trong việc xử lý những điều này, thì có nguy hiểm. Sẽ có những loại nhóm với văn hóa của chúng ngăn cản các bước phát triển có giá trị được liệt kê ở đây. Tất nhiên, nếu đủ mạnh về tinh thần, chúng ta có lẽ có thể biến bất cứ trở ngại nào thành cơ hội, nhưng người ta thường bị trở ngại khuất phục.
And finally, we get to the mental plane, and the groups found thereon. We can see, what may be the dangers. So far we've seen that so far our dangers, let's see if I can remember here, so far the dangers, one, fleeing group responsibility, and two, being truly stifled by a group from which one could have moved on.
Cuối cùng, chúng ta đến cõi trí và các nhóm ở đó. Chúng ta có thể thấy những nguy hiểm có thể là gì. Đến đây, hãy xem Tôi có nhớ không, chúng ta đã thấy hai nguy hiểm: một là trốn tránh trách nhiệm nhóm, và hai là thực sự bị một nhóm kìm hãm trong khi lẽ ra mình có thể rời nhóm ấy để tiến lên.
So far, are all the, have we fulfilled our responsibility to the various groups of which we may be a member? Family responsibilities can go on a long time, and you can outgrow those with whom you originally had a very friendly and mutually supportive relationship based upon a certain level of appreciation and response, certain orientation. You know, you used to go out with friends, do something, and you begin to lose interest. You don't know why.
Đến đây, chúng ta đã hoàn thành trách nhiệm đối với các nhóm khác nhau mà mình có thể là thành viên chưa? Trách nhiệm gia đình có thể kéo dài rất lâu, và bạn có thể phát triển vượt những người mà ban đầu mình có mối quan hệ rất thân thiện, hỗ trợ lẫn nhau, dựa trên một mức độ trân trọng và đáp ứng nhất định, một định hướng nhất định. Bạn từng đi chơi với bạn bè, làm một điều gì đó, rồi bắt đầu mất hứng thú. Bạn không biết tại sao.
You don't want to do that anymore, because something higher is calling to you, and then you split. There was an old, old song, and it has a line in it, those wedding bells are breaking up that good old gang of mine. The song is probably 50, 60 years old, meaning you have to move on to the phase of marriage and family, and can no longer run with your friends.
Bạn không muốn làm điều ấy nữa, vì một điều gì đó cao hơn đang kêu gọi bạn, rồi các bạn tách ra. Có một bài hát rất xưa với câu: “Những tiếng chuông cưới ấy đang chia lìa nhóm bạn thân thuở trước của Tôi.” Bài hát có lẽ đã năm mươi, sáu mươi năm tuổi, hàm ý rằng bạn phải chuyển sang giai đoạn hôn nhân và gia đình, không thể tiếp tục rong chơi cùng bạn bè.
There's a duty, an obligation felt. It's time to leave that, and sometimes in a marriage, where are you going? Oh, I got to get out, got to go out with the boys, got to go out with the girls. You know, it's a kind of a—well, maybe one does.
Bạn cảm thấy có bổn phận, có nghĩa vụ. Đã đến lúc rời bỏ điều ấy; và đôi khi trong một cuộc hôn nhân: “Anh đi đâu thế?” “Ồ, anh phải ra ngoài, phải đi chơi với đám bạn trai”; hoặc “em phải đi chơi với đám bạn gái”. Bạn biết đấy, đó là một kiểu—có lẽ người ta cũng cần làm vậy.
It's kind of a retrogression. It's a relief to get back to that old pattern, but we have to learn when to move on, and to what. Now, the next thing here is the mental plane, the groups on the mental plane, and what are they? And what might be the dangers involved? Maybe something else, you know.
Đó là một kiểu thoái lui. Trở lại khuôn mẫu cũ đem đến cảm giác nhẹ nhõm, nhưng chúng ta phải học khi nào nên tiến lên, và tiến đến điều gì. Giờ điều tiếp theo ở đây là cõi trí, các nhóm trên cõi trí; đó là những nhóm nào? Và có thể có những nguy hiểm gì? Có lẽ là điều gì khác.
Not that you failed to fulfill your duty, not that you are stifled. Something else, maybe. Let's see.
Không phải bạn không làm tròn bổn phận, cũng không phải bạn bị kìm hãm. Có lẽ là điều gì khác. Hãy xem.
These can be enumerated as follows, and generally, we're climbing now into a higher types of groupings.
Có thể liệt kê các nhóm này như sau; nhìn chung, giờ chúng ta đang tiến lên những loại nhóm cao hơn.
[56b] 3—On the mental plane: The groups to be found there may be enumerated as follows:
[56b] 3—Trên cõi trí: Có thể liệt kê những nhóm ở đó như sau:
[57] a—The groups of pupils of some one Master to Whom he may be attached, and with Whom he may be working.
[57] a—Các nhóm môn sinh của một Chân sư mà y có thể gắn bó và cùng làm việc.
Well, Master DK had some 50, 51 students who were, in a sense, no matter what seed group they were affiliated with, were all part of one group.
Chân sư DK có khoảng năm mươi, năm mươi mốt môn sinh; theo một nghĩa nào đó, dù gắn kết với nhóm hạt giống nào, họ đều là thành viên của một nhóm.
[58] This is usually only the case when the man is rapidly working out his karma and is nearing the entrance to the Path.
[58] Điều này thường chỉ xảy ra khi người ấy đang nhanh chóng giải quyết nghiệp quả và tiến gần đến lối vào Đường Đạo.
The real path, let's say, beginning at the first initiation. The path of aspiration is before the first initiation.
Đường Đạo thực sự bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất. Con đường khát vọng nằm trước lần điểm đạo thứ nhất.
The path of probation, depending on how we consider it, may be before the first initiation. The real path of discipleship is the path of probationary initiation.
Con Đường Dự Bị, tùy cách chúng ta xem xét, có thể nằm trước lần điểm đạo thứ nhất. Con Đường Đệ Tử thực sự là con đường điểm đạo dự bị.
[59] His meditation, therefore, should be directly under the guidance of his Master, and any formula followed that is not adjusted to a man's need carries with it elements of danger,
[59] Vì vậy, việc tham thiền của y phải trực tiếp nằm dưới sự hướng dẫn của Chân sư của y; bất kỳ công thức nào y thực hành mà không được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của y đều mang theo những yếu tố nguy hiểm,
you know, inappropriate pursuits, even though they might seem to be spiritual.
bạn biết đấy, những sự theo đuổi không thích hợp, dù chúng có vẻ mang tính tinh thần.
[60] for the vibrations set up on the mental plane and the forces engendered there are so much more potent than on the lower levels.
[60] vì những rung động được thiết lập trên cõi trí và những mãnh lực phát sinh ở đó mạnh hơn rất nhiều so với trên các cấp độ thấp hơn.
So, these are mental groups. Sort of here discussed is a mental-spiritual group affiliation, but they are under correct guidance, and do not wander.
Vậy đây là các nhóm trí tuệ. Điều được bàn ở đây phần nào là sự gắn kết với một nhóm trí tuệ–tinh thần, nhưng họ ở dưới sự hướng dẫn đúng đắn và không đi chệch hướng.
An old story in Agni Yoga. The ambitious student thought he'd go faster if he had three teachers, and not just one. So, he arranged that, and he thought he was making progress with each teacher, and would be ahead of the game, progressing faster.
Có một câu chuyện xưa trong Agni Yoga. Người môn sinh đầy tham vọng nghĩ rằng mình sẽ tiến nhanh hơn nếu có ba huấn sư thay vì chỉ một. Y thu xếp như thế và nghĩ rằng mình đang tiến bộ với từng huấn sư, sẽ vượt lên, tiến nhanh hơn.
But then each teacher sent what is called a whirlwind to help the student fly. You know, some of this may be symbolic. And the student, not being able to handle these diverse currents, or winds, was torn apart by them, rather than progressing.
Nhưng rồi mỗi huấn sư gửi đến điều được gọi là một cơn lốc để giúp môn sinh bay lên. Một phần điều này có thể mang tính biểu tượng. Và môn sinh không thể xử lý những luồng năng lượng hay luồng gió khác nhau ấy, nên chúng xé y ra từng mảnh thay vì giúp y tiến bộ.
So, this also maybe is the arcane school's insistence that you follow one line of meditation with them, and not diverse lines which can contradict. Not that there's necessarily anything wrong with the diversity, but there can be contradictions which the student does not handle well, and things can be moving spiritually, but in different directions, and it can cause conflict, and confusion, and delay, non-accomplishment. You have difficulty becoming the one-pointed disciple.
Vì vậy, có lẽ đây cũng là lý do Trường Arcane nhất quyết yêu cầu bạn theo một đường hướng tham thiền cùng trường, chứ không theo nhiều đường hướng khác nhau có thể mâu thuẫn. Không phải sự đa dạng nhất thiết có gì sai, nhưng có thể có những mâu thuẫn mà môn sinh xử lý không tốt; mọi việc có thể vận động về mặt tinh thần nhưng theo những hướng khác nhau, gây xung đột, bối rối, trì hoãn và không đạt thành tựu. Bạn gặp khó khăn trong việc trở thành đệ tử nhất tâm.
So, I guess you have to know what to emphasize. So, here it is. Any formula followed that is not adjusted to a man's need, as maybe a single master sees it, carries with it elements of danger.
Vậy Tôi nghĩ bạn phải biết nên nhấn mạnh điều gì. Đây là điều được nói đến: bất cứ công thức nào được tuân theo mà không điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của một người, có lẽ theo cách một Chân sư nhìn nhận nhu cầu ấy, đều mang những yếu tố nguy hiểm.
Danger through diversification, for the vibrations set upon the mental plane and the forces engendered there are so much more potent than on lower levels. So, that's one kind of group to which we belong, and a danger affiliated with it. Something within you will warn you when you are treading the path of danger.
Nguy hiểm do phân tán theo nhiều hướng, vì những rung động được thiết lập trên cõi trí và những mãnh lực phát sinh ở đó mạnh hơn rất nhiều so với trên các cấp độ thấp. Vậy đó là một loại nhóm mà chúng ta thuộc về, và một nguy hiểm gắn với nó. Một điều gì đó bên trong bạn sẽ cảnh báo khi bạn đang bước trên con đường nguy hiểm.
It's kind of, called maybe the inner monitor, the inner regulator. Maybe that's what that star Regulus is all about. If you have Regulus on the ascendant, or conjunct your Sun in Leo at the present time, self-regulation, according to law, will be an important strand, very important strand in your life.
Có lẽ có thể gọi đó là người giám sát bên trong, người điều chỉnh bên trong. Có lẽ đó là ý nghĩa của ngôi sao Regulus. Nếu hiện tại bạn có Regulus tại Điểm mọc, hoặc đồng vị với Mặt Trời của bạn trong Sư Tử, thì sự tự điều chỉnh theo định luật sẽ là một mạch quan trọng, rất quan trọng trong cuộc đời bạn.
Conjunctions of the so-called fixed stars with important points in the chart can tell a story about the access of certain stellar energies, which have to be considered when considering the overall energy dynamics of your energy system. And B, and I showed you this on, I showed you this when it came to page 39 of this book, seven groups monad, 14 atmic, no, is it 14? No, seven. And let's see, oh, have I forgotten how many? Here it is.
Các đồng vị của những ngôi sao được gọi là định tinh với các điểm quan trọng trong lá số có thể cho biết về sự tiếp cận của những năng lượng tinh tú nhất định; phải tính đến chúng khi xem xét toàn bộ động lực năng lượng trong hệ thống năng lượng của bạn. Và mục b, Tôi đã cho các bạn xem điều này khi đến trang 39 của sách: bảy nhóm chân thần, mười bốn nhóm atma—không, có phải mười bốn không? Không, bảy. Hãy xem, Tôi đã quên số lượng rồi sao? Đây rồi.
14 groups atmic, 21 and 28 groups Buddhic, and all the way up to 49 groups on the mental plane. These are the higher groups. And how we would know which ones of these to which we belong would be a real exercise in discrimination.
Mười bốn nhóm atma, hai mươi mốt và hai mươi tám nhóm Bồ đề, rồi đến tận bốn mươi chín nhóm trên cõi trí. Đây là các nhóm cao hơn. Biết mình thuộc nhóm nào trong số này sẽ thực sự là một bài tập phân biện.
And first of all, we'd have to define the kinds of pursuits that each one of these groups engages in, and that would not be easy. Maybe there are some hints when it comes to the higher mental plane, spiritual discernment, subplane three, response to group vibration, subplane two, spiritual telepathy, subplane one, how does it go? Don't have subplane one on the Buddhic plane.
Trước hết, chúng ta phải xác định những loại hoạt động mà mỗi nhóm này theo đuổi, và điều đó không dễ. Có lẽ có một vài gợi ý khi nói đến Cõi thượng trí: phân biện tinh thần, cõi phụ ba; đáp ứng với rung động nhóm, cõi phụ hai; viễn cảm tinh thần, cõi phụ một—thứ tự là thế nào nhỉ? Không có thông tin về cõi phụ một trên cõi Bồ đề.
Or well, we, yeah, Buddhic plane, no. The third subplane of the Buddhic plane, idealism, I think. But nothing given.
Cõi Bồ đề, không. Cõi phụ thứ ba của cõi Bồ đề là chủ nghĩa lý tưởng, Tôi nghĩ vậy. Nhưng không có gì được đưa ra.
On the first subplane of the Buddhic plane, and the siddhi, the power there involved, may be very high indeed, such that it's not even the province of the master's application. When we get to the atmic plane, it's subplane one, and we just don't know. If it had been subplane seven through three, we might know, according to what DK gave, in A Treatise on Cosmic Fire, page 188 or thereabouts, as far as the seven monadic planes, and it doesn't tell you, interestingly, it doesn't tell you what subplane. Could be a combination of subplane four, subplane three, subplane two, subplane one. Just the way below, on the etheric plane, we have, and on the astral plane, we have that kind of division.
Trên cõi phụ thứ nhất của cõi Bồ đề, quyền năng liên quan có thể thực sự rất cao, đến mức thậm chí không thuộc phạm vi vận dụng của Chân sư. Khi đến cõi atma, đó là cõi phụ một, và chúng ta hoàn toàn không biết. Nếu là các cõi phụ từ bảy đến ba, chúng ta có thể biết theo những gì Chân sư DK đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ, khoảng trang 188. Còn về bảy cõi chân thần, thật thú vị là sách không cho biết đó là cõi phụ nào. Có thể là sự kết hợp của cõi phụ bốn, ba, hai và một. Cũng như ở dưới, trên cõi dĩ thái và cõi cảm dục, chúng ta có kiểu phân chia ấy.
And here I will demonstrate that. And that's it. Notice how there are seven, but four subplanes are involved.
Ở đây Tôi sẽ minh họa điều đó. Đây rồi. Hãy chú ý rằng có bảy, nhưng liên quan đến bốn cõi phụ.
Now, are these seven monadic groups going to be found on the second subplane of the second plane, or will they be more distributed the way these chakras seem to be distributed? A three here, one on the higher subplane, another on the second subplane, another on the third subplane, with four, including the spleen, on the fourth subplane. Of course, what we could do, I think, is add, take away the spleen, and we could add another chakra or vortex on the first subplane that would represent the ajna centre placed on one of the sub-subplanes. But anyway, it looks like the higher four subplanes are the place where the activity is going on, and that somehow the seven on the monadic plane and the 14 on the atmic plane and so forth would be found in the, what might be called, the etheric portion of any plane, namely the higher four subplanes, just the way, given this entire cosmic physical plane, the etheric portion is the higher four cosmic subplanes.
Vậy bảy nhóm chân thần này sẽ nằm trên cõi phụ thứ hai của cõi thứ hai, hay sẽ phân bố rộng hơn như cách các luân xa này dường như phân bố? Có ba ở đây: một trên cõi phụ cao hơn, một trên cõi phụ thứ hai, một trên cõi phụ thứ ba; còn bốn, bao gồm luân xa lá lách, trên cõi phụ thứ tư. Tất nhiên, Tôi nghĩ chúng ta có thể bỏ luân xa lá lách và thêm một luân xa hay xoáy năng lượng khác trên cõi phụ thứ nhất, đại diện cho trung tâm ajna nằm trên một trong các cõi phụ của cõi phụ ấy. Dù sao, dường như bốn cõi phụ cao hơn là nơi hoạt động diễn ra; và theo cách nào đó, bảy nhóm trên cõi chân thần, mười bốn nhóm trên cõi atma, v.v., sẽ nằm trong phần có thể gọi là phần dĩ thái của bất kỳ cõi nào, tức bốn cõi phụ cao hơn; cũng như trong toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ này, phần dĩ thái là bốn cõi phụ vũ trụ cao hơn.
so
vì vậy
[61] b—The egoic group to which he belongs.
[61] b—Nhóm chân ngã mà y thuộc về.
Now, at this, when the time this was written, probably this referred to the higher mental plane, and not to any egoic or, or soul group on the buddhic plane.
Vào thời điểm viết điều này, có lẽ đây là nói đến Cõi thượng trí, chứ không phải bất kỳ nhóm chân ngã hay nhóm linh hồn nào trên cõi Bồ đề.
[62] This is most important for it involves the consideration of the man's ray in the apportioning of meditation.
[62] Điều này quan trọng nhất, vì nó đòi hỏi phải xét đến cung của người ấy khi chỉ định bài tham thiền.
and it is a higher ray, ray of the egoic lotus or causal body.
và đó là một cung cao hơn, cung của Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân.
[63] This matter has already been somewhat touched upon.
[63] Vấn đề này đã được đề cập phần nào.
and it was touched upon in the early part of the book around page 15, 16, 17, 18, right in there.
và nó đã được đề cập ở phần đầu sách, khoảng các trang 15, 16, 17, 18, ngay trong khoảng đó.
[64] As you will see, I have not specified certain dangers attacking any particular body.
[64] Như các bạn thấy, Tôi chưa nêu cụ thể những nguy hiểm tấn công bất kỳ thể riêng biệt nào.
I guess maybe he doesn't want us to get too specific in our thoughts.
Tôi nghĩ có lẽ Ngài không muốn chúng ta suy nghĩ quá cụ thể.
[65] It is not possible to cover the subject thus.
[65] Không thể trình bày toàn bộ chủ đề theo cách ấy.
The Tibetan has to learn, well, I mean, he does learn, he knows what to leave out. When there's just too much detail, we would be overwhelmed, and there's only so much time space in which we have to study and absorb.
Chân sư Tây Tạng phải học—ý Tôi là Ngài thực sự học, Ngài biết nên lược bỏ điều gì. Khi có quá nhiều chi tiết, chúng ta sẽ choáng ngợp, trong khi khoảng thời gian và không gian dành cho việc nghiên cứu, tiếp thu chỉ có hạn.
[66] In later days, when occult meditation is more comprehended and the matter scientifically studied, students will prepare the necessary data
[66] Trong những ngày về sau, khi tham thiền huyền bí được thấu hiểu hơn và vấn đề được nghiên cứu một cách khoa học, các đạo sinh sẽ chuẩn bị những dữ liệu cần thiết
Let's see,
Hãy xem,
[67] and treatises covering the entire subject as far as then may be.
[67] và các khảo luận bao quát toàn bộ chủ đề trong phạm vi có thể vào lúc ấy.
We're always limited by the time as to how much can be exposed.
Thời đại luôn giới hạn mức độ những gì chúng ta có thể tiết lộ.
[68] I sound, however, a note of warning, I indicate the way,—the teachers on the inner side seldom do more.
[68] Tuy nhiên, Tôi lên tiếng cảnh báo và chỉ ra con đường,—các huấn sư ở phía bên trong hiếm khi làm nhiều hơn thế.
Remember what it says about China, its motto, I indicate the way. Interesting. And one day in China, western China, an advanced school.
Hãy nhớ điều được nói về Trung Quốc, phương châm của nước này: “Tôi chỉ đường.” Thật thú vị. Và một ngày nào đó ở Trung Quốc, miền tây Trung Quốc, sẽ có một trường cao cấp.
Sounds a lot like Tibet. We aim at developing thinkers and men, well, okay. So, he goes on to say,
Nghe rất giống Tây Tạng. “Chúng tôi hướng đến việc phát triển những người biết tư duy và những người…” Vậy Ngài tiếp tục nói,
[69] We aim at developing thinkers and men of clear vision, capable of logical reasoning. To do this we teach men to develop themselves, to do their own thinking, reason out their own problems, and build their own characters. Such is the Path.... we trod,—such is the path we aim to see you tread.
[69] Chúng ta hướng tới việc phát triển những người biết tư duy và có tầm nhìn rõ ràng, có khả năng suy luận hợp lý. Để làm điều này, chúng ta dạy con người tự phát triển, tự suy nghĩ, tự lý giải những vấn đề của mình và xây dựng tính cách của chính mình. Đường Đạo là như thế.... chúng ta đã bước đi—đó là con đường chúng ta mong thấy các bạn bước đi.
with an ellipse and a period after it. So, always maybe indicating something that is left out.
với một dấu chấm lửng và một dấu chấm theo sau. Vì vậy, có lẽ luôn gợi đến một điều gì đó đã được lược bỏ.
Well, we're about to come in to a new section, and, I don't really know how long this has lasted. Maybe about two and a half hours altogether, and I'll try to carry on shortly, see if I succeed.
Chúng ta sắp bước sang một phần mới, và Tôi thực sự không biết đã kéo dài bao lâu. Có lẽ tổng cộng khoảng hai tiếng rưỡi; Tôi sẽ cố tiếp tục ngay sau đây, xem mình có làm được không.
[69b] AUGUST 3, 1920.
[69b] NGÀY 3 THÁNG 8 NĂM 1920.
We're going to August 3rd, 1920.
Chúng ta chuyển đến ngày 3 tháng 8 năm 1920.
We're on page 120, and this is August 28th, 2020. Hopefully we see, increasingly see, with subtle—see the subtlety, of course, but see with clear vision. There's another one of these dangers here that we're going to take up, but this looks like, well, let's see.
Chúng ta đang ở trang 120, và hôm nay là ngày 28 tháng 8 năm 2020. Hy vọng chúng ta ngày càng nhìn thấy rõ hơn—tất nhiên, nhìn thấy sự tinh tế, nhưng nhìn bằng tầm nhìn rõ ràng. Ở đây có một nguy hiểm khác mà chúng ta sẽ bàn đến; nhưng có vẻ như—hãy xem.
[69c] 3 - Dangers arising from subtle forces.
[69c] 3 - Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế.
August 3rd, 1920.
Ngày 3 tháng 8 năm 1920.
During these coming days, brother of mine, application to the immediate duty is the part of wisdom. It is desired that much should be accomplished both in your individual work and in the work that you and FB have undertaken for the section. The future holdeth changes and in the finished scheme lieth hope for that which is hidden in the lap of destiny.
Trong những ngày sắp tới, huynh đệ của Tôi, chuyên tâm vào bổn phận trước mắt là hành động minh triết. Mong rằng nhiều điều sẽ được hoàn thành, cả trong công việc cá nhân của huynh đệ lẫn công việc mà huynh đệ và FB đã đảm nhận cho phân bộ. Tương lai chứa đựng những thay đổi, và trong kế hoạch hoàn chỉnh có niềm hi vọng cho điều đang ẩn giấu trong lòng định mệnh.
I do think I will go on a little bit—not too much—because there's a whole section that continues with dangers that is very long, and it's about the dangers of obsession. So I will leave that to its own program or two, and I'll just finish up here with the dangers arising from subtle forces, and we'll see what he has to say about that. Gosh, there's plenty of dangers, aren't there?
Tôi nghĩ mình sẽ tiếp tục thêm một chút, không quá nhiều, vì có cả một phần rất dài tiếp tục bàn về những nguy hiểm, nói đến các nguy hiểm của sự ám nhập. Vì vậy, Tôi sẽ dành phần ấy cho một hoặc hai chương trình riêng, và chỉ hoàn tất ở đây phần những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực tinh tế; chúng ta sẽ xem Ngài nói gì về điều đó. Thật là có quá nhiều nguy hiểm, phải không?
[70] …We have for our topic this morning the final section of our letter on the dangers incidental to meditation.
[70] …Chủ đề sáng nay của chúng ta là phần cuối của bức thư về những nguy hiểm đi kèm với tham thiền.
Well, maybe it's quite a long section.
Có lẽ đây là một phần khá dài.
[71] We have dealt somewhat with individual dangers inherent in the three bodies; we have touched upon the risks that may be run when the karma of the student and his group affiliations are overlooked.
[71] Chúng ta đã bàn phần nào về những nguy hiểm cá nhân vốn có trong ba thể của phàm ngã; chúng ta đã đề cập những rủi ro có thể gặp phải khi bỏ qua nghiệp quả và các mối liên kết nhóm của đạo sinh.
That's the point, isn't it? That is the point. So here, in each body, there are problems, potential, and this is one that has to do with overlooking and neglect. And now,
Đó chính là điểm cốt yếu, phải không? Chính là điểm ấy. Vậy ở đây, trong mỗi thể của phàm ngã, đều có những vấn đề và tiềm năng, và đây là một vấn đề liên quan đến sự bỏ qua và sao nhãng. Và giờ đây,
[72] Today the subject involves real difficulty. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtler planes. The difficulty arises in three ways:—
[72] Hôm nay, chủ đề thực sự khó khăn. Chúng ta phải bàn về những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và những cá nhân, từ các thực thể và những nhóm hoạt động trên các cõi vi tế hơn. Khó khăn nảy sinh theo ba cách:—
So, okay, this is about what is hidden.
Đây là những điều ẩn giấu.
We begin to look at hidden dangers. Yeah, okay, and these are hidden dangers. So, let's look at the three ways why the difficulty arises.
Chúng ta bắt đầu xem xét những nguy hiểm ẩn giấu. Đây chính là những nguy hiểm ẩn giấu. Vậy hãy xem xét ba nguyên nhân làm phát sinh khó khăn.
[73] 1—The ignorance of the average student as to the nature of those forces and as to the personnel of the groups on the subtler planes.
[73] 1—Sự thiếu hiểu biết của đạo sinh thông thường về bản chất của những mãnh lực ấy và về thành phần các nhóm trên những cõi vi tế hơn.
[74] 2—The risk of revealing more than would be wise in an exoteric publication.
[74] 2—Nguy cơ tiết lộ nhiều hơn mức khôn ngoan cho phép trong một ấn phẩm ngoại môn.
and
và
[75] 3—An occult risk that is little comprehended by the uninitiated. It lies in the fact that in the concentration of thought that necessarily arises in discussing these problems, thought-waves are set in motion, currents are contacted and thoughtforms circulated that attract the attention of those under discussion. This may lead at times to undesirable results. Therefore, I shall with brevity touch upon the subject. Upon the inner planes the needed light and protection are afforded.
[75] 3—Một nguy cơ huyền bí mà những người chưa được điểm đạo ít thấu hiểu. Nguy cơ ấy nằm ở chỗ: trong sự tập trung tư tưởng tất yếu phát sinh khi thảo luận những vấn đề này, các làn sóng tư tưởng được khởi động, các dòng lưu chuyển được tiếp xúc và những hình tư tưởng được lưu truyền, thu hút sự chú ý của những đối tượng đang được bàn đến. Đôi khi, điều này có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn. Vì vậy, Tôi sẽ đề cập chủ đề này một cách ngắn gọn. Trên các cõi bên trong, ánh sáng và sự bảo vệ cần thiết luôn sẵn có.
but apparently not extending to circumstances on the outer planes.
nhưng dường như không mở rộng đến những hoàn cảnh trên các cõi bên ngoài.
I think I'll just take the three together like that, and boost them, and look at certain words that tell us what the problem may be. Ignorance is one. Who are the force? What are the forces? Who are the personnel inwardly working? The risk of revealing, okay, that's another difficulty.
Tôi nghĩ mình sẽ gom cả ba lại như vậy, làm nổi bật chúng, rồi xem xét một số từ cho chúng ta biết vấn đề có thể là gì. Một là sự thiếu hiểu biết. Ai là mãnh lực ấy? Những mãnh lực ấy là gì? Những ai đang hoạt động ở bên trong? Nguy cơ tiết lộ, đó là một khó khăn khác.
And the occult risk that is little comprehended. So, attract the attention of those under discussion, and usually we're not in a position to deal intelligently or effectively with them. They are more powerful.
Và nguy cơ huyền bí mà ít người thấu hiểu. Như vậy, chúng ta thu hút sự chú ý của những đối tượng đang được bàn đến, và thường chúng ta chưa ở vị thế có thể ứng phó với họ một cách sáng suốt hay hiệu quả. Họ mạnh hơn.
So, three groups of entities.
Vậy có ba nhóm thực thể.
[76] These groups of entities can be differentiated in a threefold manner:—
[76] Có thể phân biệt những nhóm thực thể này theo ba loại:—
[76b] l—Groups of discarnate beings on either the emotional or the mental planes.
[76b] 1—Các nhóm sinh linh không còn thân xác trên cõi cảm xúc hoặc cõi trí.
[76c] 2—Devas, either singly or in groups.
[76c] 2—Các thiên thần, riêng lẻ hoặc theo nhóm.
[76d] 3—The dark Brotherhood. [Page 121]
[76d] 3—Huynh đệ đoàn bóng tối. [Page 121]
Let's see what we have here.
Hãy xem chúng ta có gì ở đây.
Upon the inner planes, the needed light is there, and that is good. I would say that where we are, that inner light is not afforded. The protection is not afforded.
Trên các cõi bên trong, ánh sáng cần thiết hiện hữu, và điều đó là tốt. Tôi cho rằng ở nơi chúng ta đang hiện diện, ánh sáng bên trong ấy không được cung cấp. Sự bảo vệ cũng không được cung cấp.
So, always DK has that sheltering attitude of the second ray, not out of proportion, but at least guarding his students. He tells us of the second ray soldier or commanding officer that he would never needlessly send his soldiers into danger, knowingly do so, and it's the same here. He's kind of the director. He is the director of our approach, and he's not going to needlessly send us into danger or attract forces we cannot handle.
Vì vậy, Chân sư DK luôn có thái độ che chở của cung hai, không quá mức, nhưng ít nhất vẫn bảo vệ các đạo sinh của Ngài. Ngài nói với chúng ta về người lính hoặc vị chỉ huy cung hai rằng người ấy sẽ không bao giờ cố ý đưa binh sĩ của mình vào nguy hiểm một cách không cần thiết, và ở đây cũng vậy. Ngài có thể xem là người chỉ đạo. Ngài chỉ đạo cách tiếp cận của chúng ta, và Ngài sẽ không đưa chúng ta vào nguy hiểm một cách không cần thiết, hay thu hút những mãnh lực mà chúng ta không thể ứng phó.
So, three difficulties we have discussed. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtle planes. Sometimes we're told that they war militantly against the efforts of the aspirant, and attack his vehicles, and sometimes all vehicles at once. So, here are these groups.
Vậy chúng ta đã bàn đến ba khó khăn. Chúng ta phải bàn đến những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và cá nhân, từ các thực thể và nhóm hoạt động trên các cõi vi tế. Đôi khi chúng ta được cho biết rằng họ quyết liệt chống lại những nỗ lực của người chí nguyện và tấn công các hiện thể của y, đôi khi tấn công tất cả các hiện thể cùng lúc. Vậy đây là những nhóm ấy.
Groups of entities can be differentiated in a threefold manner, and here we're going to take them up.
Có thể phân biệt các nhóm thực thể theo ba loại, và ở đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét chúng.
[77] Let us take each division and deal with it carefully, first laying the foundation of knowledge by pointing out that the dangers arise from a threefold condition of the bodies of the student which may be the result sometimes of meditation.
[77] Chúng ta hãy xem xét cẩn thận từng loại, trước hết đặt nền tảng tri thức bằng cách chỉ ra rằng những nguy hiểm phát sinh từ ba trạng thái của các thể của đạo sinh, đôi khi có thể là kết quả của tham thiền. Những trạng thái ấy là:
[78] A negative condition that makes the entire three bodies of the personality receptive and quiescent, and open therefore to the attack of the watching denizens of other planes.
[78] Một trạng thái thụ động khiến cả ba thể của phàm ngã trở nên tiếp nhận và tĩnh lặng, do đó mở cửa cho sự tấn công của những cư dân đang rình rập trên các cõi khác.
you know, those who live in the dens of evil, denizens. And then number two, so we cannot, we have to have a certain positivity that resists those incursions, and we've been told by Master Morya that the heart center is a great protection in all matters of obsession. Number two,
Các bạn biết đấy, những kẻ sống trong các hang ổ của cái ác, những cư dân ấy. Rồi đến điều thứ hai; vậy chúng ta không thể như thế, chúng ta phải có một tính dương nhất định để chống lại những cuộc xâm nhập ấy, và Chân sư Morya đã cho chúng ta biết rằng trung tâm tim là một sự bảo vệ lớn lao trong mọi vấn đề liên quan đến sự ám nhập. Điều thứ hai,
[79] A condition of ignorance or foolhardiness that, in attempting to use certain forms and mantrams without the permission of the Teacher, involves the student with certain groups of devas, bringing him into contact with the devas of the emotional or mental planes and making him therefore (through his ignorance) the butt of their attack and the plaything of their destructive instincts.
[79] Một trạng thái thiếu hiểu biết hoặc liều lĩnh, trong đó việc cố sử dụng những hình thức và mantram nhất định mà không được Huấn sư cho phép khiến đạo sinh vướng vào một số nhóm thiên thần, đưa y tiếp xúc với các thiên thần trên cõi cảm xúc hoặc cõi trí, và do đó, vì thiếu hiểu biết, y trở thành mục tiêu tấn công và món đồ chơi cho những bản năng phá hoại của họ.
Well, this has something to do with the white magical work. We're told the magician may die of drowning. It's the wrong relationship with the Agnisuryans, and maybe that poisonous, gaseous condition of the mental body that comes about when it is overly crowded.
Điều này có liên quan đến công việc chánh thuật. Chúng ta được cho biết rằng nhà huyền thuật có thể chết đuối. Đó là mối quan hệ sai lệch với các thiên thần lửa cảm dục, và có lẽ cả trạng thái khí độc của thể trí phát sinh khi thể này quá chật ních.
[80] A condition which is the reverse of the above, which makes a man positive and a channel, therefore, for force or power.
[80] Một trạng thái ngược với trạng thái trên, khiến một người trở nên chủ động và do đó trở thành một kênh dẫn mãnh lực hoặc quyền năng.
So, let's just say the opposite of vulnerable negativity.
Vậy đó là trạng thái đối lập với tính âm dễ bị tổn thương.
[81] When this is the case, the man proceeds, under occult rule or law and with the aid of his Teacher, to wield the electrical fluid of the inner planes.
[81] Khi điều này xảy ra, người ấy tiến hành vận dụng lưu chất điện của các cõi bên trong, theo quy luật hoặc định luật huyền bí và với sự trợ giúp của Huấn sư của y.
Reminds one a little bit of the special effects in the Harry Potter movies in magician's battles, the wielding of etheric fluids through wands and so forth.
Điều này gợi nhớ đôi chút đến những hiệu ứng đặc biệt trong các bộ phim Harry Potter, trong những trận đấu giữa các nhà huyền thuật, việc vận dụng những lưu chất dĩ thái qua đũa phép, v.v.
[82] He becomes then a centre of the attention of those who strive against the Brothers of Light.
[82] Khi ấy, y trở thành tâm điểm chú ý của những kẻ chống lại các Huynh Đệ Ánh Sáng.
Well, that doesn't sound like he's violating any law.
Điều đó nghe không giống như y đang vi phạm bất kỳ định luật nào.
It's just, it sounds like one of the hazards through which the developing initiate will pass. So, we have the condition of foolish experimentation, let's say. We have the condition of a negative condition, which is, we might call it undue passivity.
Nghe như đó chỉ là một trong những hiểm nguy mà điểm đạo đồ đang phát triển sẽ trải qua. Vậy chúng ta có trạng thái thử nghiệm dại dột. Chúng ta có trạng thái âm tính, có thể gọi là sự thụ động quá mức.
Undue passivity. And we have the condition of growing power, which is also attracting the attention of those who strive, war against, the brothers of the light.
Sự thụ động quá mức. Và chúng ta có trạng thái quyền năng ngày càng tăng, cũng thu hút sự chú ý của những kẻ chống đối, giao chiến với các Huynh đệ Ánh sáng.
[83] The first two conditions are all the result of meditation unwisely and ignorantly practised, the last state of affairs is frequently the reward of success.
[83] Hai trạng thái đầu đều là kết quả của việc thực hành tham thiền thiếu sáng suốt và thiếu hiểu biết; trạng thái cuối thường là phần thưởng của thành công.
but can lead to difficult experiences. So, indicating the success of the initiate, wrong meditation through the use of certain forms that the disciple has no business using, and prematurely bringing him in contact with devic forces he can't handle, passivity, foolhardiness, and success. Successful wielding that makes him stand out.
nhưng có thể dẫn đến những trải nghiệm khó khăn. Vậy điều đó cho thấy sự thành công của điểm đạo đồ; tham thiền sai lầm qua việc sử dụng một số hình thức mà đệ tử không nên sử dụng, sớm đưa y vào tiếp xúc với những mãnh lực thiên thần mà y không thể ứng phó; sự thụ động, sự liều lĩnh và sự thành công. Việc vận dụng thành công khiến y trở nên nổi bật.
These internal forces do exist, invisible though they may be to us. So, the first two conditions are all the result of meditation. We approach passively.
Những mãnh lực bên trong này quả thực tồn tại, dù đối với chúng ta chúng có thể vô hình. Vậy hai trạng thái đầu đều là kết quả của tham thiền. Chúng ta tiếp cận một cách thụ động.
We approach in a foolhardy manner. So, approaching passively, or approaching in a foolhardy, paramental manner, unsupervised. And the last state of affairs is frequently the reward of success, being able to confront, or being required to confront these negative forces.
Chúng ta tiếp cận một cách liều lĩnh. Vậy đó là tiếp cận thụ động, hoặc tiếp cận liều lĩnh theo cách vượt ngoài trí tuệ thông thường, không có sự giám sát. Và trạng thái cuối thường là phần thưởng của thành công: có khả năng đối diện, hoặc buộc phải đối diện với những mãnh lực tiêu cực này.
I remember in case of the disciple RSW, she was told, yes, there is an attack being instigated against you internally. However, I could stop it. I could prevent it, says the Tibetan, but thereby you would learn nothing.
Tôi nhớ trường hợp đệ tử RSW, bà được cho biết: đúng vậy, đang có một cuộc tấn công nhằm vào bạn từ bên trong. Tuy nhiên, Tôi có thể ngăn nó lại. Tôi có thể ngăn chặn nó, Chân sư Tây Tạng nói, nhưng như vậy bạn sẽ chẳng học được gì.
[84] In the first two, the remedy lies within the student himself and in the wise correction of the type of meditation and its more careful following;
[84] Trong hai trường hợp đầu, biện pháp khắc phục nằm trong chính đạo sinh, ở việc điều chỉnh sáng suốt loại tham thiền và thực hành cẩn thận hơn;
So, we don't want to meditate our way into trouble by incorrect methods of meditation or methods that are unsuitable to us. We use forms and mantrams which might be better for others, and we use them for ourselves and get into trouble.
Vậy chúng ta không muốn qua tham thiền mà tự đưa mình vào rắc rối do những phương pháp sai lầm hoặc không phù hợp với chúng ta. Chúng ta sử dụng những hình thức và mantram có thể phù hợp hơn với người khác, áp dụng cho chính mình rồi gặp rắc rối.
[85] in the third case the remedy must be sought in various ways which I will later indicate.
[85] trong trường hợp thứ ba, phải tìm biện pháp khắc phục bằng nhiều cách khác nhau mà Tôi sẽ chỉ ra sau.
Now begins a lengthy section, which I think it not wise at the moment to pursue. I don't want to mix too many subjects together here, and this is of such an interesting nature.
Giờ bắt đầu một phần dài mà tôi nghĩ lúc này chưa nên tiếp tục. Tôi không muốn trộn lẫn quá nhiều chủ đề ở đây, và chủ đề này lại rất thú vị.
It's a whole subject in itself, and, leads into questions of exorcism, the way it is practiced in the Catholic Church. It's rather complex, rather long, and it leads up to this point, through eight pages, to dangers arising from the Deva evolution, and we'll see how far that goes. Dangers from the Dark Brothers.
Đây là cả một chủ đề riêng, và dẫn đến những vấn đề về trừ tà theo cách thực hành trong Giáo hội Công giáo. Chủ đề này khá phức tạp, khá dài, và qua tám trang sẽ dẫn đến điểm này: những nguy hiểm phát sinh từ sự tiến hoá của thiên thần; rồi chúng ta sẽ xem phần ấy dài đến đâu. Những nguy hiểm từ các huynh đệ bóng tối.
Goodness, the number of dangers. And I think this is, well, the Dark Brotherhood maybe has something to do with the dangers of meditation, but maybe it's a subject all on its own, taking us all the way up to letter four. So, I imagine, letter six, rather.
Ôi, biết bao nguy hiểm. Và tôi nghĩ Huynh đệ đoàn bóng tối có lẽ liên quan đến những nguy hiểm của tham thiền, nhưng có lẽ đó là một chủ đề hoàn toàn riêng, đưa chúng ta đến tận bức thư thứ tư. Tôi nghĩ là, đúng hơn, bức thư thứ sáu.
So, I imagine that a few programs will be found here, because we have to cover 18 pages. That's quite a bit, and I think there's no sense to extend it. There are three big subjects.
Vậy tôi hình dung sẽ có vài chương trình ở đây, vì chúng ta phải đi qua 18 trang. Khá nhiều, và tôi nghĩ không có lý do gì để kéo dài thêm. Có ba chủ đề lớn.
The dangers of meditation, of obsession, the dangers from the Deva evolution, the dangers from the Dark Brotherhood. So, we'll stop here. And this has taken us approximately, basically from 114 to 121, and now we'll work from 121 onward, and we'll see when I can do that.
Những nguy hiểm của tham thiền, của sự ám nhập; những nguy hiểm từ sự tiến hoá của thiên thần; những nguy hiểm từ Huynh đệ đoàn bóng tối. Vậy chúng ta sẽ dừng ở đây. Phần này về cơ bản đã đưa chúng ta từ trang 114 đến trang 121, và tiếp theo chúng ta sẽ bắt đầu từ trang 121 trở đi; rồi xem khi nào tôi có thể làm điều đó.
Well, what is instilled in us may be a very healthy respect for the area that we are entering. From every side, and from within ourselves, the dangers arise. So, we don't want to be characterized by that old saying, fools rush in where angels fear to tread.
Điều được khơi dậy trong chúng ta có lẽ là một sự kính trọng rất lành mạnh đối với lĩnh vực mà chúng ta đang bước vào. Nguy hiểm phát sinh từ mọi phía và từ bên trong chính chúng ta. Vậy chúng ta không muốn rơi vào câu nói xưa: kẻ dại lao vào nơi thiên thần còn ngại đặt chân.
I wonder, do angels experience fear? Maybe. Maybe a certain class of them. It's a certain, fear is a certain inhibitory vibration, and maybe it's not just limited to human beings, because it seems to be built into the very substance of the planet itself.
Tôi tự hỏi, thiên thần có trải nghiệm sợ hãi không? Có lẽ có. Có lẽ một lớp thiên thần nào đó. Sợ hãi là một loại rung động có tính ức chế, và có lẽ không chỉ giới hạn ở con người, vì nó dường như đã gắn vào chính chất liệu của hành tinh.
So, when we undertake meditation, we cannot any longer be ignorant of these matters. We have to know something about what we might encounter, and we have to be very wary. I don't mean paranoid.
Vì vậy, khi bắt đầu tham thiền, chúng ta không thể tiếp tục thiếu hiểu biết về những vấn đề này. Chúng ta phải biết đôi chút về những gì mình có thể gặp, và phải hết sức thận trọng. Tôi không có ý nói là hoang tưởng.
I don't mean always suspicious, but I do mean vigilant, because we can arouse certain conditions in our vehicles. We can ignore certain duties using meditation as an escape, and we can be preyed upon by those forces which are warring militantly against the progress of the aspirant. We can see how, the curriculum for the new esoteric schools is being prepared by the Tibetan.
Tôi không có ý nói là luôn nghi ngờ, nhưng tôi muốn nói rằng phải cảnh giác, vì chúng ta có thể khơi dậy một số trạng thái trong các hiện thể của mình. Chúng ta có thể sao nhãng một số bổn phận khi dùng tham thiền làm cách trốn tránh, và có thể trở thành con mồi cho những mãnh lực đang quyết liệt chống lại sự tiến bộ của người chí nguyện. Chúng ta có thể thấy Chân sư Tây Tạng đang chuẩn bị chương trình học cho các trường nội môn mới như thế nào.
Those schools, in their true mode, are not going to appear right away. We're just, we're simply in a bridging period, bridging towards the real new schools, which will be more active, and even then, beginning in a small way, under the supervision of externalizing masters, at least behind the scenes, and taking place within the consciousness of the Christ. So, we can't rush the whole proposition, but we can learn something about the microcosm and, by extension, the macrocosm, because the schools and their two divisions will deal with those two areas, microcosm and macrocosm.
Những trường ấy, trong hình thức đích thực của chúng, sẽ không xuất hiện ngay. Chúng ta chỉ đang ở trong một giai đoạn bắt cầu, hướng đến những trường mới thực sự, vốn sẽ hoạt động tích cực hơn; ngay cả khi đó, chúng cũng khởi đầu ở quy mô nhỏ, dưới sự giám sát của các Chân sư đang ngoại hiện, ít nhất là ở hậu trường, và diễn ra trong tâm thức của Đức Christ. Vậy chúng ta không thể thúc ép toàn bộ việc này, nhưng có thể học đôi chút về tiểu thiên địa và, mở rộng ra, về đại thiên địa, vì các trường cùng hai phân bộ của chúng sẽ đề cập đến hai lĩnh vực ấy, tiểu thiên địa và đại thiên địa.