Trích nội dung chương
Wisdom supersedes knowledge, yes, but it has to have a real, a basis in fact. And so many people forget that. Minh triết vượt trên tri thức, đúng vậy, nhưng nó phải có một nền tảng thực sự dựa trên sự thật. Và rất nhiều người quên điều ấy.
Wisdom supersedes knowledge, yes, but it has to have a real, a basis in fact. And so many people forget that.
Minh triết vượt trên tri thức, đúng vậy, nhưng nó phải có một nền tảng thực sự dựa trên sự thật. Và rất nhiều người quên điều ấy.
Wisdom supersedes knowledge Yet requires knowledge. So here we have, in some way, a blend of the Mercury and Venus vibration. Both are related to wisdom, but let's just say that particularly there is a knowledge factor involved in Mercury.
Minh triết vượt trên tri thức Nhưng vẫn đòi hỏi tri thức. Vậy ở đây, theo một cách nào đó, chúng ta có sự hòa trộn rung động của Sao Thủy và Sao Kim. Cả hai đều liên quan đến minh triết, nhưng đặc biệt có một yếu tố tri thức trong Sao Thủy.
[55] You must remember that the server passes through the Hall of Learning prior to entering the Hall of Wisdom. In training the mind body he seeks therefore orderly acquisition of knowledge, a supply of that which may be lacking, a sequential grasp of the innate mental faculty accumulated in previous lives, and lastly,
[55] Các bạn phải nhớ rằng người phụng sự đi qua Phòng Học Tập trước [Page 347] khi bước vào Phòng Minh triết. Vì vậy, khi rèn luyện thể trí, y tìm cách tiếp thu tri thức có trật tự, bổ sung những gì còn thiếu, từng bước nắm vững năng lực trí tuệ bẩm sinh đã tích lũy trong các kiếp trước, và cuối cùng,
You know, a steadying of the lower mind, the modification of the versatile psychic nature, or stilling the modifications of the versatile psychic nature, stilling the mind
Làm cho Hạ trí ổn định, điều chỉnh bản chất thông linh đa biến, hay làm lắng dịu những biến đổi của bản chất thông linh đa biến, làm thể trí tĩnh lặng
[56] a steadying of the lower mind so that the higher may dominate and the creative faculty of thought may be projected through the stillness.
[56] làm cho Hạ trí ổn định để Thượng trí có thể chi phối và năng lực sáng tạo của tư tưởng có thể phóng chiếu qua sự tĩnh lặng.
And this is occurring within the soul and within the Spiritual Triad.
Và điều này đang diễn ra trong linh hồn và trong Tam Nguyên Tinh Thần.
It's a kind of a blend here of the yellow and the indigo. He has to pass through this Hall of Learning before he can enter the hall of wisdom, which relates, as we know, to the sacrifice petals. They're called the mental petals, but we begin to enter the hall of wisdom with petal number seven, eight, and nine.
Ở đây có một dạng hòa quyện giữa màu vàng và màu chàm. Y phải đi qua Phòng Học Hỏi này trước khi có thể bước vào Phòng Minh triết, vốn liên quan, như chúng ta biết, đến các cánh hoa hi sinh. Chúng được gọi là các cánh hoa trí tuệ, nhưng chúng ta bắt đầu bước vào Phòng Minh triết với các cánh hoa số bảy, tám và chín.
In training the mind body he seeks This acquisition of knowledge and to grasp what he knew before, and a steadying of the lower mind so that it doesn't interfere with the wisdom and the knowledge which has been accumulated from the past. And it's got to be orderly because, think of the hierarchy, the society of organized and illumined minds, as it is called, orderly and sequential, so that we don't have a chaos in the mind. Now I wonder, as we are learning, have we learned the orderly acquisition of knowledge so that the higher may dominate and the creative faculty of thought may be projected through the stillness. And here we can be talking about the abstract mind, penetrating the usually deflective commotion of the concrete mind.
Khi rèn luyện thể trí, y tìm cách thu nhận tri thức này và nắm bắt những gì y đã biết trước đây, đồng thời làm cho hạ trí vững vàng để nó không cản trở minh triết và tri thức đã tích lũy từ quá khứ. Và thể trí phải có trật tự, bởi hãy nghĩ đến Thánh đoàn, vốn được gọi là đoàn thể những thể trí có tổ chức và được soi sáng: có trật tự và trình tự, để chúng ta không có sự hỗn loạn trong thể trí. Giờ đây, Tôi tự hỏi, trong khi học hỏi, liệu chúng ta đã học cách thu nhận tri thức một cách có trật tự chưa, để thượng trí có thể chi phối và năng lực sáng tạo của tư tưởng có thể phóng chiếu qua sự tĩnh lặng. Và ở đây, chúng ta có thể đang nói đến trí trừu tượng xuyên qua sự náo động thường gây chệch hướng của trí cụ thể.
[57] From the Silence of the Absolute was projected the universe.
[57] Từ sự Im Lặng của Tuyệt Đối, vũ trụ đã được phóng chiếu.
That sentence certainly sums up for me some things I've been trying to understand. The Absolute, I've looked at it as the Absolute as the transcendental deity, eventually projecting the universe from the entirety of absolute infinity, a choice made with regard to the entirety of absolute infinity.
Đối với Tôi, câu ấy quả thực tóm lược một số điều Tôi vẫn đang cố gắng thấu hiểu. Tôi đã nhìn nhận Tuyệt Đối như Thượng đế siêu việt, cuối cùng phóng chiếu vũ trụ từ toàn thể vô hạn tuyệt đối, với một lựa chọn được thực hiện xét trong tương quan với toàn thể vô hạn tuyệt đối.
From this, any universe is ultimately a projection. We don't know how, but ultimately a projection from the Absolute.
Từ đó, bất kỳ vũ trụ nào xét đến cùng cũng là một sự phóng chiếu. Chúng ta không biết bằng cách nào, nhưng xét đến cùng đó là một sự phóng chiếu từ Tuyệt Đối.
There's, there's no color involved.
Không có màu sắc nào ở đây.
[58] From darkness issued light, from the subjective emanated the objective. The negative stillness of the emotional body makes it receptive to impression from above.
[58] Từ bóng tối, ánh sáng xuất hiện; từ cái chủ quan, cái khách quan phát xuất. Sự tĩnh lặng thụ động của thể cảm xúc khiến nó có khả năng tiếp nhận ấn tượng từ trên cao.
[59] The positive stillness of the mental body leads to the higher inspiration.
[59] Sự tĩnh lặng chủ động của thể trí dẫn đến cảm hứng cao hơn.
So these are fundamentals and tell us much about how to handle our equipment. There's a negative stillness of the emotional body and there's a positive stillness of the mental body.
Vì vậy, đây là những nguyên lý nền tảng và cho chúng ta biết nhiều điều về cách sử dụng các phương tiện của mình. Có sự tĩnh lặng âm tính của thể cảm xúc và sự tĩnh lặng dương tính của thể trí.
What is the difference? You might say that the mind stands with rapt attention, rapt attention to the possibility of creative downflow, which will alter the quality of the mind considerably. So holding the mind steady in the light is not a negative holding. It is a keenly acute concentrated holding and a readiness to adopt what the abstract mind and the intuition feed into the usual mental process.
Khác biệt là gì? Có thể nói rằng thể trí đứng trong sự chú tâm say mê, chú tâm say mê đến khả năng một dòng sáng tạo tuôn xuống, điều sẽ làm thay đổi đáng kể phẩm tính của thể trí. Vì vậy, giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng không phải là một sự duy trì âm tính. Đó là sự duy trì tập trung, nhạy bén cao độ, cùng sự sẵn sàng tiếp nhận những gì trí trừu tượng và trực giác đưa vào tiến trình trí tuệ thông thường.
[60] Having sought to control and wisely use his personality in its three departments, the lover of humanity seeks perfection in action.
[60] Sau khi đã tìm cách kiểm soát và sử dụng sáng suốt phàm ngã trong ba phần của nó, người yêu thương nhân loại tìm kiếm sự hoàn hảo trong hành động.
Now, notice here he's not calling the one who controls, the one who wisely uses the instrument.
Giờ đây, hãy lưu ý rằng ở đây Ngài không gọi người kiểm soát, người sử dụng công cụ một cách minh triết,
He's not calling him the server. He's switching gears and calling this individual by yet another name, which awakens in us a sudden realization that every server is a lover of humanity. Think of it.
Ngài không gọi y là người phụng sự. Ngài chuyển cách diễn đạt và gọi cá nhân này bằng một tên khác nữa, khiến chúng ta chợt nhận ra rằng mọi người phụng sự đều là người yêu thương nhân loại. Hãy suy ngẫm về điều đó.
Let's pause for a moment. What would it take? What would it take to be a true lover of humanity, a lover of humanity? Within our sphere of human beings, the Christ is the great example of the lover of humanity. A simple phrase, but one that requires ever so much work, so many eliminations, so many processes of building in when it comes to knowledge and of transmuting that knowledge into wisdom and accompanying that wisdom with love.
Chúng ta hãy dừng lại một lát. Cần những gì? Cần những gì để trở thành một người thực sự yêu thương nhân loại, một người yêu thương nhân loại? Trong phạm vi nhân loại chúng ta, Đức Christ là tấm gương vĩ đại về người yêu thương nhân loại. Một cụm từ giản dị, nhưng đòi hỏi biết bao công sức, biết bao sự loại bỏ, biết bao tiến trình bồi đắp tri thức, chuyển hoá tri thức ấy thành minh triết và kết hợp minh triết ấy với tình thương.
Can there be wisdom without love and love without wisdom? I know there can be, an emphasis one way or another, but the two go together. Lover of humanity of all human beings as souls, even though personalities may emerge which have a lot to be desired, but somehow one finds a way to be a lover of humanity and of the essential individuals within humanity.
Có thể có minh triết mà không có tình thương, và tình thương mà không có minh triết không? Tôi biết là có thể, với sự nhấn mạnh nghiêng về bên này hay bên kia, nhưng cả hai đi cùng nhau. Người yêu thương nhân loại yêu thương mọi con người như những linh hồn, dù các phàm ngã có thể biểu lộ nhiều điều còn chưa đáng hài lòng; nhưng bằng cách nào đó, người ta tìm được cách yêu thương nhân loại và những cá nhân trong nhân loại ở bản chất cốt yếu của họ.
[61] No magnificent dreams of martyrdom
[61] Không phải những giấc mơ huy hoàng về sự tử đạo
You know, we're told that Annie Besant had such dreams
Các bạn biết đấy, người ta cho chúng ta biết rằng Bà Annie Besant từng có những giấc mơ như vậy
[62] and the glorious yet ephemeral chimeras of spectacular service engross his attention,
[62] hay những ảo vọng rực rỡ nhưng phù du về sự phụng sự ngoạn mục thu hút sự chú ý của y,
[63] but the instant application of all his powers to the next duty is the line of his endeavour.
[63] mà việc tức khắc vận dụng mọi quyền năng của mình vào bổn phận kế tiếp mới là hướng nỗ lực của y.
Because we can see how again the lower egotism could creep in with these dreams of being singled out as some great server of great reputation. No magnificent dreams of martyrdom, because the eyes would still be in a sense on the personal self, and the glorious yet ephemeral shimmers of spectacular service, how it will add to one's reputation. But the instant, that means, automatic, spontaneous, immediate, but the instant application of all his powers to the next duty is the line of his endeavor.
Bởi chúng ta có thể thấy tính vị kỷ thấp kém lại có thể len vào qua những giấc mơ được tôn vinh như một người phụng sự vĩ đại có danh tiếng lớn. Không phải những giấc mơ huy hoàng về sự tử vì đạo, bởi theo một nghĩa nào đó, ánh mắt vẫn hướng về bản ngã cá nhân, cũng không phải những ánh lung linh rực rỡ nhưng phù du của việc phụng sự ngoạn mục, nghĩ xem nó sẽ nâng cao danh tiếng của mình thế nào. Mà là việc tức khắc—nghĩa là tự động, tự phát, ngay lập tức—vận dụng mọi năng lực vào bổn phận kế tiếp; đó mới là hướng nỗ lực của y.
[64] He knows that perfection in the foreground of his life and in the details of his environing work will cause accuracy in the background too, and result in a whole picture of rare beauty.
[64] Y biết rằng sự hoàn hảo ở tiền cảnh đời sống và trong những chi tiết của công việc quanh mình cũng sẽ đem lại sự chính xác ở hậu cảnh, tạo nên một bức tranh toàn thể đẹp hiếm có.
These are things we know, and we have to have confidence in them and base our life upon this conviction, this confidence. He knows that perfection in the foreground of his life and in the details of his environing work will cause, will contribute to the accuracy in the background too, and so he will be within what he appears at least to be without.
Đây là những điều chúng ta biết, và chúng ta phải tin tưởng vào chúng, đặt cuộc sống của mình trên niềm xác tín, niềm tin tưởng này. Y biết rằng sự hoàn thiện ở tiền cảnh cuộc sống và trong những chi tiết của công việc quanh mình cũng sẽ tạo nên, sẽ góp phần tạo nên sự chính xác ở hậu cảnh; và như vậy, bên trong y sẽ đúng như những gì ít nhất y tỏ ra ở bên ngoài.
[65] Life progresses by small steps, but each step, taken at the right time, and each moment wisely occupied, leads to long distance covered and a life well spent.
[65] Đời sống tiến triển qua những bước nhỏ, nhưng mỗi bước đi đúng lúc và mỗi khoảnh khắc được sử dụng sáng suốt đều giúp vượt một quãng đường dài và làm nên một đời sống được tận dụng tốt đẹp.
Now, all of this is wisdom, wisdom coming from Master DK, a life well spent, because inevitably we do spend, we do spend our energy, and have we purchased what is truly of value not only to ourselves but to everybody.
Giờ đây, tất cả điều này là minh triết, minh triết đến từ Chân sư DK: một cuộc đời được sống xứng đáng. Bởi chắc chắn chúng ta có tiêu dùng, có tiêu dùng năng lượng của mình; và liệu chúng ta đã đổi lấy được những gì thực sự có giá trị, không chỉ cho bản thân mà còn cho mọi người hay chưa?
[66] Those Who guide the human family test out all applicants for service in the small detail of everyday life, and he who shews
[66] Những Đấng hướng dẫn gia đình nhân loại thử thách tất cả những người xin phụng sự qua các chi tiết nhỏ của đời sống hằng ngày; người nào chứng tỏ
Old form of the word, he who shoes
Đó là dạng cổ của từ “cho thấy”, người nào cho thấy
[67] a record of faithful action in the apparently non-essential will be moved into a sphere of greater moment.
[67] mình luôn hành động tận tâm trong những việc có vẻ không thiết yếu sẽ được chuyển sang một lĩnh vực quan trọng hơn.
[68] How, in an emergency or crisis, can They depend on someone who in everyday matters does slovenly and ill-judged work?
[68] Trong tình huống khẩn cấp hay khủng hoảng, làm sao Các Ngài có thể trông cậy vào một người làm việc cẩu thả và thiếu cân nhắc trong những việc hằng ngày?
So, cautionary tale here, we are tested constantly, and we oftentimes don't realize the test being applied. Faithful, and you know the old saying, you know the old saying, he who is faithful in that which is least is also faithful in that which is much. So, that great second ray that synthesizes all things for us, it is the ray of detailed unity, and although maybe too much attention is paid in some respects to detail, yet attention to detail is part of the picture.
Vì vậy, đây là một lời cảnh tỉnh: chúng ta liên tục chịu thử thách, và thường không nhận ra thử thách đang diễn ra. Trung thành—các bạn biết câu nói xưa ấy: người trung thành trong việc nhỏ nhất cũng trung thành trong việc lớn. Vì vậy, cung hai vĩ đại ấy, cung tổng hợp mọi điều cho chúng ta, là cung của sự hợp nhất trong từng chi tiết. Và dù theo một số phương diện có lẽ người ta chú ý quá nhiều đến chi tiết, sự chú ý đến chi tiết vẫn là một phần của bức tranh.
And now more.
Và giờ đây, còn nữa.
[69] A further method of service shews itself in adaptability.
[69] Một phương pháp phụng sự nữa thể hiện qua khả năng thích ứng.
So, this is suggesting, I think, in some ways, the third ray, and why it is that a master can be called an adept.
Vì vậy, Tôi nghĩ điều này theo một số phương diện gợi đến cung ba, và lý do vì sao một Chân sư có thể được gọi là bậc tinh thông.
[70] This involves a readiness to retire when other or more important people are sent to fill the niche he may be occupying, or (inversely) an ability to step out of office into work of greater importance, when some less competent worker can do his work with equal facility and good judgment.
[70] Điều này bao gồm sự sẵn sàng rút lui khi những người khác hoặc [Page 348] những người quan trọng hơn được cử đến đảm đương vị trí y đang giữ; hoặc ngược lại, khả năng rời chức vụ để bước vào công việc quan trọng hơn khi một người hoạt động kém năng lực hơn có thể thực hiện công việc của y cũng dễ dàng và có sự xét đoán đúng đắn như vậy.
So, flexibility, third ray. So, again, we cannot hold on to our position.
Vì vậy, sự linh hoạt, cung ba. Một lần nữa, chúng ta không thể bám giữ vị trí của mình.
Lately, we've had an example of a chief executive in the United States who, at all costs, sought to hold on to his position, even though a just election had indicated that that could not be rightly done. We get identified with certain trappings of our work in the world, and we wish to hang on to those because they indicate our reputation, our own self-image about which we can be proud, wrongly proud. We hang on to the non-essential.
Gần đây, chúng ta có một ví dụ về người đứng đầu hành pháp ở Hoa Kỳ tìm mọi cách giữ lấy vị trí của mình, dù một cuộc bầu cử công bằng đã cho thấy việc đó không thể thực hiện một cách chính đáng. Chúng ta đồng hoá với những biểu trưng bên ngoài của công việc mình trong thế gian, và muốn bám giữ chúng vì chúng biểu thị danh tiếng, hình ảnh bản thân mà chúng ta có thể tự hào, tự hào một cách sai lầm. Chúng ta bám giữ những điều không thiết yếu.
I think Master DK has demonstrated this, that he was willing to go anywhere and do anything according to the need of real flexibility. That's the impression I've gotten from reading him and reading about him.
Tôi nghĩ Chân sư DK đã chứng minh điều này: Ngài sẵn lòng đi bất cứ đâu và làm bất cứ việc gì theo nhu cầu, với sự linh hoạt thực sự. Đó là ấn tượng Tôi có được khi đọc các tác phẩm của Ngài và đọc về Ngài.
[71] It is the part of wisdom in all who serve neither to rate themselves too highly nor to underrate themselves.
[71] Đối với tất cả những người phụng sự, minh triết nằm ở chỗ không đánh giá mình quá cao cũng không đánh giá mình quá thấp.
Here, the Libran quality of right judgment enters into the picture.
Ở đây, phẩm tính phán đoán đúng đắn của Thiên Bình đi vào bức tranh.
[72] Bad work results when the non-efficient fill a post, but it is equally a loss of time and power when skilled workers hold positions where their skill has not full scope and where less well equipped men and women would do as well. Be ready, therefore, all ye
[72] Công việc sẽ kém hiệu quả khi người thiếu năng lực đảm nhiệm một vị trí; nhưng cũng lãng phí thời gian và quyền năng không kém khi những người hoạt động có kỹ năng giữ các vị trí không cho phép họ phát huy hết khả năng, trong khi những người nam và nữ ít được trang bị hơn cũng có thể làm tốt như vậy. Vì vậy, tất cả các bạn
You know, this is Elizabethan English, all ye who serve, and maybe he gives a reincarnational hint about Master DK and how and where he learned English.
Các bạn biết đấy, đây là tiếng Anh thời Elizabeth, “tất cả các bạn đang phụng sự”; và có lẽ cách dùng ấy hé lộ một gợi ý về tiền kiếp của Chân sư DK, về cách thức và nơi Ngài đã học tiếng Anh.
Be ready, therefore, all ye
Vì thế, hãy sẵn sàng, tất cả các bạn
[73] who serve, to stay a lifetime in office non-spectacular and seemingly unimportant, for such may be your destiny and the place you best may serve; but be equally ready to step on to work of more apparent value
[73] đang phụng sự hãy sẵn sàng ở suốt đời trong một chức vụ không nổi bật và có vẻ không quan trọng, vì đó có thể là số phận của các bạn và là nơi các bạn phụng sự tốt nhất; nhưng cũng hãy sẵn sàng bước sang công việc có giá trị rõ ràng hơn
I guess he's hinting that all work is of value
Tôi đoán Ngài đang gợi ý rằng mọi công việc đều có giá trị
[74] when the Master's word goes forth, and when circumstances—and not the server's planning—indicate that the time is come.
[74] khi lời của Chân sư được ban ra, và khi hoàn cảnh—chứ không phải sự tính toán của người phụng sự—cho thấy thời điểm đã đến. Hãy suy ngẫm câu cuối này.
Then he asks us to ponder on this last sentence.
Sau đó, Ngài yêu cầu chúng ta suy ngẫm về câu cuối này.
We may be trying to, and the ambitious people force their way. I've seen, here it is, the year 2021 now, and certain people filled with ambition, and an ambition which really almost disqualifies them. Look ahead to what they may become.
Chúng ta có thể đang cố làm như vậy, còn những người đầy tham vọng thì cưỡng ép mở đường cho mình. Tôi đã thấy, vào năm 2021 này, những người đầy tham vọng, với một tham vọng thực sự gần như khiến họ không còn đủ tư cách. Hãy nhìn về phía trước, xem họ có thể trở thành gì.
Presidential aspirations, as it were, circled in their minds, but they engineer the opportunities and circumstances, and right judgment certainly do not determine their appropriateness for the level they ambitiously seek. So, we either stay or we don't stay, but we let something wiser than our own ambitious nature determine whether we will or will not. And this is kind of a, we might say, a Libran attitude.
Có thể nói, những khát vọng trở thành tổng thống quanh quẩn trong trí họ, nhưng họ dàn dựng các cơ hội và hoàn cảnh; và chắc chắn sự phán đoán đúng đắn không quyết định tính thích hợp của họ đối với cấp bậc mà họ đầy tham vọng muốn đạt tới. Vì vậy, chúng ta hoặc ở lại, hoặc không ở lại, nhưng để một điều minh triết hơn bản chất đầy tham vọng của mình quyết định việc ấy. Và có thể nói đây là một thái độ mang tính Thiên Bình.
Interestingly, the plane of spiritual will ruled by Libra, it's not us forcing the issue, it's us being willing, as the will descends, to embrace it and carry it out. We have something humorous called, what is it, Murphy's Law? You continue to rise until you fulfill your level of incompetence. You finally wind up in a post for which you are incompetent.
Điều thú vị là cõi ý chí tinh thần do Thiên Bình cai quản; không phải chúng ta cưỡng ép sự việc, mà là chúng ta sẵn lòng đón nhận và thực hiện ý chí khi nó giáng xuống. Chúng ta có một điều hài hước gọi là gì nhỉ, Định luật Murphy phải không? Bạn tiếp tục thăng tiến cho đến khi đạt tới mức không đủ năng lực của mình. Cuối cùng bạn ở vào một chức vụ mà mình không đủ năng lực đảm nhiệm.
You know, let's look at what we're doing in the world and decide, how did we get there? Did we force our way forward with ambitious motive, or did fate conspire to position us in such a way that the greatest amount of service could be offered? when circumstances—and not the server's planning—indicate that the time is come. We're not dealing with the lesser Capricorn Mantram, let ambition rule, and the doors stand wide. No, it's a different approach.
Chúng ta hãy nhìn vào những gì mình đang làm trong thế gian và xét xem mình đã đến vị trí ấy bằng cách nào. Chúng ta đã cưỡng ép tiến lên với động cơ tham vọng, hay số mệnh đã phối hợp để đặt chúng ta vào một vị trí cho phép cống hiến sự phụng sự nhiều nhất? khi hoàn cảnh—chứ không phải sự hoạch định của người phụng sự—cho thấy thời điểm đã đến. Chúng ta không nói đến mantram thấp của Ma Kết: hãy để tham vọng cai quản và các cánh cửa mở rộng. Không, đây là một cách tiếp cận khác.
The methods of service, yes, these three things, the motives for service, and the methods of service. So, up to this point, we have considered the right motives for service, or corrected, and the methods of service, which certainly do involve training all aspects of the personality and the personality itself. And doing that in a way that is right, is sanctioned by hierarchy.
Các phương pháp phụng sự, đúng vậy, ba điều này: các động cơ phụng sự và các phương pháp phụng sự. Vì vậy, đến đây, chúng ta đã xem xét những động cơ phụng sự đúng đắn, hoặc đã được điều chỉnh, và các phương pháp phụng sự, vốn chắc chắn bao hàm việc rèn luyện mọi phương diện của phàm ngã và chính phàm ngã. Và thực hiện việc ấy theo cách đúng đắn, được Thánh đoàn chuẩn thuận.
And now, finally, we have this question of
Và giờ đây, cuối cùng, chúng ta có vấn đề này về
[75] 3 - The attitude following action.
[75] 3 - Thái độ sau hành động.—
And as you see, we're reaching the end of the book. And what should this attitude be? Oh, watch out when you see that word, utter, because it's pretty demanding.
Và như các bạn thấy, chúng ta đang đến cuối cuốn sách. Thái độ ấy nên là gì? Hãy chú ý khi thấy từ “hoàn toàn”, vì nó đòi hỏi khá nhiều.
Pretty exacting, isn't it? But
Khá khắt khe, phải không? Nhưng
[76] What should this attitude be? Utter dispassion, utter self-forgetfulness, and utter occupation with the next step to be taken.
[76] Thái độ ấy nên như thế nào? Hoàn toàn không vướng mắc, hoàn toàn quên mình và hoàn toàn chuyên tâm vào bước kế tiếp cần thực hiện.
With pause. Is that our attitude? Once we have taken these, verified our motive, and adopted the proper method of service, utter dispassion, in a way, not working without attachment to results, and maintaining our calmness, whatever should be the eventuation, and with joyous confidence moving forward, confidence in the inner God, utter self-forgetfulness. Well, we tend to the lower self in many, many ways, but it's not really the object of our attention.
Hãy dừng lại. Đó có phải thái độ của chúng ta không? Một khi chúng ta đã thực hiện những điều này, xác minh động cơ và áp dụng phương pháp phụng sự thích hợp: hoàn toàn không vướng mắc, theo một nghĩa nào đó là làm việc không chấp trước vào kết quả, giữ sự bình tĩnh bất kể điều gì xảy ra, và tiến lên với niềm tin hoan hỉ, tin tưởng vào Thượng đế bên trong, hoàn toàn quên mình. Chúng ta chăm lo cho phàm ngã theo rất nhiều cách, nhưng nó thực sự không phải đối tượng chú tâm của chúng ta.
It is necessary to keep the instrument in proper shape, but we don't remain fixated upon it. What are we thinking about? Maybe we're thinking about the self with a capital S, instead of the lower self, the personality. And we throw ourselves into the task to be accomplished, completely.
Cần giữ công cụ trong tình trạng thích hợp, nhưng chúng ta không mãi chú mục vào nó. Chúng ta đang nghĩ đến điều gì? Có lẽ chúng ta đang nghĩ đến Bản Ngã viết hoa, thay vì bản ngã thấp, phàm ngã. Và chúng ta dốc mình hoàn toàn vào nhiệm vụ cần hoàn thành.
All of our resources, spending them totally in the task to be done.
Mọi nguồn lực của chúng ta, dốc trọn vào nhiệm vụ cần thực hiện.
[77] The perfect server is he who does to the
[77] Người phụng sự hoàn hảo là người làm hết
There's a lot of uts here, aren't there?
Ở đây có rất nhiều cách nhấn mạnh mức độ tột cùng, phải không?
[78] utmost of his ability what he believes to be the Master's will,
[78] sức mình những gì y tin là ý chí của Chân sư,
He can maybe never know it entirely.
Có lẽ y không bao giờ có thể biết trọn vẹn điều ấy.
[79] and the work to be done by him in co-operation with God's plan.
[79] và công việc y phải làm để hợp tác với Thiên Cơ của Thượng đế.
So, it's pretty much pedal to the metal, isn't it? We're not holding anything back. Then, having done his part, well, here is the, the utmost, the utmost.
Vì vậy, gần như là dốc hết sức, phải không? Chúng ta không giữ lại bất cứ điều gì. Rồi, sau khi đã làm phần việc của mình—ở đây là mức tối đa, mức tối đa.
We'll note that it is an act of will, or willingness, an act of willingness. Sometimes I think we would be better if we talked about acts of willingness. Yes, I'm willing to do that.
Chúng ta sẽ lưu ý rằng đây là một hành động của ý chí, hay của sự sẵn lòng, một hành động của sự sẵn lòng. Đôi khi Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu chúng ta nói về những hành động của sự sẵn lòng. Đúng vậy, Tôi sẵn lòng làm điều đó.
That's closer to the real will.
Điều ấy gần với ý chí thực sự hơn.
[80] Then, having done his part, he passes on to a continuance of the work, and cares not for the result of his action.
[80] Sau đó, khi đã hoàn thành phần mình, y tiếp tục công việc và không bận tâm đến kết quả hành động.
You know, as long as he chooses the right way of proceeding, and is not fixated on the results. Yes, the results will follow if the right method is utilized.
Miễn là y chọn cách tiến hành đúng đắn và không chú mục vào kết quả. Đúng vậy, kết quả sẽ đến nếu áp dụng phương pháp đúng.
Then, having done his part, he passes on to a continuance of the work, and cares not for the result of his action. It's difficult to work without attachment to results. I mean, we have to check in on them, of course, and we don't want to continue to be doing the same thing that led to lack of success, expecting that there will be success, but at the same time, it's in the doing that the important approach lies, and not in obsessive preoccupation with the results.
Rồi, sau khi đã làm phần việc của mình, y tiếp tục công việc và không bận tâm đến kết quả hành động của mình. Thật khó làm việc mà không chấp trước vào kết quả. Ý Tôi là dĩ nhiên chúng ta phải kiểm tra kết quả, và không muốn cứ tiếp tục làm điều từng dẫn đến thất bại mà lại mong sẽ thành công; nhưng đồng thời, chính trong hành động có cách tiếp cận quan trọng, chứ không phải trong sự bận tâm ám ảnh về kết quả.
We have to concentrate upon the methods. The results will follow.
Chúng ta phải tập trung vào các phương pháp. Kết quả sẽ đến.
[81] He knows that wiser eyes than his see the end from the beginning; that insight, deeper and more loving than his, is weighing up the fruit of his service; and that judgment, more profound than his, is testing the force and extent of the vibration set up, and is adjusting that force according to the motive.
[81] Y biết rằng những đôi mắt sáng suốt hơn mắt y nhìn thấy kết cuộc ngay từ lúc khởi đầu; rằng sự thấu suốt sâu sắc hơn và giàu tình thương hơn của y đang cân nhắc thành quả phụng sự của y; và rằng sự xét đoán sâu xa hơn của y đang kiểm nghiệm sức mạnh và phạm vi của rung động đã tạo ra, rồi điều chỉnh mãnh lực ấy theo động cơ.
[82] He does not suffer from pride over what he has done, nor from undue depression over lack of accomplishment.
[82] Y không khổ vì kiêu hãnh về những gì đã làm, cũng không vì sự chán nản quá mức trước [Page 349] việc chưa đạt thành tựu.
So, the eyes are upon us as necessary, and we have the sense to leave it in good hands, having done our best, having done all we can do, and then not fixating upon what we have done or have not done. At the very wellspring, at the very spring of the action, our attention is to be focused, and we just have to have that joyous trust that the energies we have generated will be carried on and wisely used with a wisdom and a love that is beyond that which we can presently muster.
Vì vậy, những đôi mắt ấy dõi theo chúng ta khi cần thiết, và chúng ta đủ sáng suốt để giao việc ấy vào những bàn tay đáng tin cậy, sau khi đã làm hết sức, đã làm tất cả những gì có thể, rồi không chú mục vào những gì mình đã làm hay chưa làm. Chúng ta cần tập trung sự chú ý ngay tại nguồn mạch của hành động, và chỉ cần có niềm tin hoan hỉ rằng những năng lượng mình đã tạo ra sẽ được tiếp tục vận dụng một cách minh triết, với một minh triết và tình thương vượt quá những gì chúng ta hiện có thể huy động.
No pride, no depression.
Không kiêu hãnh, không chán nản.
[83] At all times he does his very best, and wastes not time in backward contemplation,
[83] Y luôn làm hết sức mình, không lãng phí thời gian chiêm ngưỡng lại quá khứ,
If only, if only, or in the AA program, I understand, could have, would have, should have
Giá mà, giá mà; hoặc trong chương trình AA, theo Tôi biết, “đã có thể”, “đã hẳn sẽ”, “đã nên”
[84] but steadily presses forward to the accomplishment of the next duty.
[84] mà vững vàng tiến tới hoàn thành bổn phận kế tiếp.
An act of will here, and an ability to let go over the fruits. Let the fruits go.
Ở đây có một hành động của ý chí và khả năng buông bỏ thành quả. Hãy buông bỏ thành quả.
They will be wisely distributed by greater beings who can see and can utilize what the disciple has generated. Master Morya has a very strong example of that, that, in the battle, the disciples are at war with the enemy, but he tears loose aspects of their aura and propels those energies toward the enemy in ways that the disciple could not accomplish. He wastes not time in backward contemplation, but steadily presses forward to the accomplishment of the next duty.
Những Đấng cao cả hơn, có thể nhìn thấy và sử dụng những gì đệ tử đã tạo ra, sẽ phân phối chúng một cách minh triết. Chân sư Morya có một ví dụ rất mạnh mẽ về điều ấy: trong trận chiến, các đệ tử đang giao tranh với kẻ thù, nhưng Ngài tách mạnh những phần trong hào quang của họ và phóng những năng lượng ấy về phía kẻ thù theo những cách mà đệ tử không thể thực hiện. Y không lãng phí thời gian chiêm ngưỡng những gì đã qua, mà kiên trì tiến tới hoàn thành bổn phận kế tiếp.
Very high expectations are here. I mean, this book is filled with expectations that you wonder, can I ever fulfill all this? But then again, with confidence in the inner God and step by step, we know that what the Master has done, man can do. What man has done, man can do.
Ở đây có những kỳ vọng rất cao. Ý Tôi là cuốn sách này đầy những kỳ vọng khiến bạn tự hỏi: liệu mình có bao giờ thực hiện được tất cả điều này không? Nhưng một lần nữa, với niềm tin vào Thượng đế bên trong và từng bước một, chúng ta biết rằng những gì Chân sư đã làm, con người có thể làm. Những gì con người đã làm, con người có thể làm.
And so we have the faith that the accomplishment lies ahead.
Vì vậy, chúng ta có niềm tin rằng sự thành tựu đang ở phía trước.
[85] Brooding over past deeds, and casting the mind back over old achievement, is in the nature of involution, and the servant seeks to work with the law of evolution.
[85] Miên man suy nghĩ về những việc đã làm và đưa thể trí trở lại những thành tựu cũ mang bản chất giáng hạ tiến hoá, trong khi người phụng sự tìm cách làm việc theo định luật tiến hoá.
We don't go backwards, we don't go left.
Chúng ta không đi lùi, không đi sang trái.
[86] This is an important thing to note.
[86] Đây là điều quan trọng cần lưu ý.
We do not become tied to the great accomplishment of the past or to the insufficient accomplishment. We press forward.
Chúng ta không để mình bị ràng buộc vào thành tựu lớn lao trong quá khứ hay vào sự thiếu thành tựu. Chúng ta tiến lên.
And, there's St. Paul with forgetting the things that lie behind to press forward into the high calling that is in Christ. Paraphrased a little, but that's the idea. Press forward, following the high calling that is in Christ, while we do not allow that which has passed to trammel us, to bind us.
Và có Thánh Paul với lời quên những gì ở phía sau để tiến tới tiếng gọi cao cả trong Đức Christ. Tôi diễn đạt lại đôi chút, nhưng ý là vậy. Hãy tiến lên, theo tiếng gọi cao cả trong Đức Christ, đồng thời không để những gì đã qua cản trở, trói buộc chúng ta.
Easier said than done when, under Scorpio and Pluto, the factor or faculty of memory, and maybe of ancient memory, is awakened. But one has to have detachment from those things, knowing that inner perfection always exists, and will be achieved.
Nói dễ hơn làm khi, dưới ảnh hưởng của Hổ Cáp và Sao Diêm Vương, yếu tố hay năng lực ký ức, có thể cả ký ức xa xưa, được đánh thức. Nhưng người ta phải không chấp trước vào những điều ấy, biết rằng sự hoàn thiện bên trong luôn tồn tại và sẽ đạt được.
[87] The wise server, after action, pays no attention to what his fellow servants say, provided his superiors (either incarnating men and women, or the Great Ones Themselves) prove content or silent;
[87] Sau hành động, người phụng sự sáng suốt không để tâm đến lời những người đồng phụng sự, miễn là các bậc trên của y—những người nam và nữ đang nhập thể, hoặc chính Các Đấng Cao Cả—tỏ ra hài lòng hoặc im lặng;
[88] he cares not if the result is not that which he anticipated, provided that he faithfully did the highest thing he knew;
[88] y không bận tâm nếu kết quả không như dự tính, miễn là y đã tận tâm làm điều cao nhất mà mình biết;
He cares not—divine indifference here, right?—
Y không bận tâm—điềm nhiên thiêng liêng ở đây, phải không?—
[89] he cares not if reproach and reproof assail him, provided his inner self remains calm and non-accusing;
[89] y không bận tâm nếu những lời trách móc và khiển trách dồn đến, miễn là bản ngã bên trong vẫn bình thản và không tự kết tội;
That inner self can't accuse. He cares not if he loses friends, relatives, children
Bản ngã bên trong ấy không thể buộc tội. Y không bận tâm nếu mất bạn bè, người thân, con cái
[91] the popularity once enjoyed
[91] sự mến mộ từng được hưởng,
—you know, all this is in a way like preparation for the great renunciation—
—các bạn biết đấy, theo một nghĩa nào đó, tất cả điều này giống như sự chuẩn bị cho cuộc từ bỏ lớn lao—
[92] and the approbation of his environing associates,
[92] và sự tán thành của những người cộng sự quanh mình,
The love of being loved
Sự yêu thích được yêu
[93] provided his inner sense of contact with Those Who guide and lead remains unbroken;
[93] miễn là cảm nhận bên trong về sự tiếp xúc với Những Đấng hướng dẫn và dẫn dắt vẫn không gián đoạn; y không bận tâm nếu dường như mình làm việc trong bóng tối và nhận thấy rất ít kết quả từ những nỗ lực, miễn là ánh sáng bên trong tăng trưởng và lương tâm không có điều gì để trách.
[90] he cares not if he seem to work in the dark and is conscious of little result from his labours, provided the inner light increases and his conscience has nought to say.
[90] y không bận tâm nếu mất bạn bè, thân nhân, con cái,
If the conscience has ought to say, then he cares. And I'm sure we have had those experiences of the accusing conscience.
Nếu lương tâm có điều gì để lên tiếng, thì y bận tâm. Và Tôi chắc rằng chúng ta từng trải qua những kinh nghiệm về lương tâm tự trách ấy.
I mean, maybe not morbidly so, but so. It's called sometimes the inner monitor, and it holds us to a certain standard, and then we simply must improve. Reading these final words in the book is such an inspiration, and written by one who has trodden the path of wisdom unto the wisdom of mastership.
Ý Tôi là có lẽ không đến mức bệnh hoạn, nhưng vẫn như vậy. Đôi khi nó được gọi là người giám sát bên trong, giữ chúng ta theo một chuẩn mực nhất định, và rồi chúng ta đơn giản là phải cải thiện. Đọc những lời cuối cùng này trong sách mang lại biết bao cảm hứng, những lời do một Đấng đã đi trên con đường minh triết đến minh triết của địa vị Chân sư viết ra.
Yes, he has trodden this way, and all masters have, and those beyond. The particulars maybe belong to the particular individual involved, but the generalities will be encountered. These types of loss will occur.
Đúng vậy, Ngài đã đi con đường này, mọi Chân sư cũng vậy, và cả những Đấng ở trên nữa. Những chi tiết có thể thuộc về từng cá nhân cụ thể, nhưng những điều chung thì ai cũng sẽ gặp. Những dạng mất mát này sẽ xảy ra.
Certain types of loss will occur, and as it is said, all will drop from our hands, and we will hold on to nothing, knowing that everything is in effect of the one cause, the one identity which we are, all of us the same.
Một số dạng mất mát sẽ xảy ra, và như người ta nói, mọi thứ sẽ rơi khỏi tay chúng ta, và chúng ta sẽ không bám giữ điều gì, biết rằng mọi thứ đều là hệ quả của nguyên nhân duy nhất, bản sắc duy nhất mà chúng ta là, tất cả chúng ta đều như nhau.
[94] To sum it all up:—
[94] Tóm lại tất cả:—
You know, 350 pages worth
Các bạn biết đấy, nội dung của 350 trang
[95] The motive may be epitomised in these few words:—
[95] Động cơ có thể cô đọng trong mấy lời này:—
The sacrifice of the personal self for the good of the one self.
Hi sinh bản ngã cá nhân vì lợi ích của bản ngã duy nhất.
That's the motive.
Đó là động cơ.
[96] The sacrifice of the personal self for the good of the One Self.
[96] Hy sinh bản ngã cá nhân vì lợi ích của Bản Ngã Duy Nhất.
Which of course we are. We're sacrificing that which we seem to be but are not for the good of that which we and all are.
Dĩ nhiên, đó chính là chúng ta. Chúng ta hi sinh cái mình dường như là nhưng thực ra không phải, vì lợi ích của cái mà chúng ta và tất cả đều là.
[97] The method may also be shortly put:—
[97] Phương pháp cũng có thể trình bày ngắn gọn:—
Now, that's what a really good teacher is doing here. He's summarizing all this in succinct ways so they can be easily assimilated.
Giờ đây, đó là điều một huấn sư thực sự giỏi đang làm ở đây. Ngài tóm lược tất cả một cách súc tích để người ta có thể dễ dàng tiếp thu.
[98] Wise control of the personality, and discrimination in work and time.
[98] Kiểm soát phàm ngã một cách sáng suốt và phân biện trong công việc cùng việc sử dụng thời gian.
He's given many details about how this can be done. Wise control of the personality and discrimination in work and time.
Ngài đã đưa ra nhiều chi tiết về cách thực hiện điều này. Kiểm soát phàm ngã một cách minh triết và phân biện trong công việc và thời gian.
According to, we might say, the law of economy must be observed. And
Có thể nói, phải tuân theo Định luật Tiết Kiệm. Và
[99] The resultant attitude will be:—Complete dispassion, and a growing love of the unseen and the real.
[99] Thái độ đạt được sẽ là:—Hoàn toàn không vướng mắc và ngày càng yêu thương những gì vô hình và chân thực.
Well, you could spend a year or however long you wanted to spend just in the summary of this great little book.
Bạn có thể dành một năm, hoặc bao lâu tùy ý, chỉ để suy ngẫm phần tóm lược của cuốn sách nhỏ vĩ đại này.
Not so little. So, he begins with motive, method, and result. Sums it all up in ways that it would be hard to evade, would it not? So, so much depends upon our willingness to carry out these few simple, apparently, directives.
Không hẳn nhỏ đến vậy. Ngài bắt đầu với động cơ, phương pháp và kết quả. Ngài tóm lược tất cả theo những cách khó mà né tránh, phải không? Vì vậy, rất nhiều điều tùy thuộc vào sự sẵn lòng của chúng ta trong việc thực hiện vài chỉ dẫn có vẻ giản dị này.
And, it's like a work of music here. It's been developed like a work of music. Occult meditation at the beginning, occult meditation at the end.
Và ở đây, nó giống như một tác phẩm âm nhạc. Nó được triển khai như một tác phẩm âm nhạc. Tham thiền huyền môn ở phần đầu, tham thiền huyền môn ở phần cuối.
This is his resounding chord.
Đây là hợp âm vang dội của Ngài.
[100] All this will be consummated
[100] Tất cả những điều này sẽ thành tựu
Not just can be
Không chỉ là có thể
[101] through steady application to occult Meditation.
[101] qua việc bền bỉ thực hành tham thiền huyền môn.
So my, my appreciation of what is given here is just growing over the years and decades.
Vì vậy, lòng trân trọng của Tôi đối với những gì được trao ở đây cứ tăng dần qua nhiều năm và nhiều thập niên.
You know, for a little book, it's astonishingly complete in its foundational qualities. Of course, there are many generalities naturally, and we don't have all the details, but we don't need them. We have enough to keep us on that straight and narrow path, which will lead to true accomplishment in the field of spirituality, in the field of approach to the ashram, in the field of approach to the hierarchy.
Các bạn biết đấy, đối với một cuốn sách nhỏ, nó đầy đủ đến kinh ngạc về những phẩm tính nền tảng. Dĩ nhiên, có nhiều điều khái quát, và chúng ta không có mọi chi tiết, nhưng chúng ta không cần chúng. Chúng ta có đủ để giữ mình trên con đường thẳng và hẹp ấy, con đường sẽ dẫn đến thành tựu thực sự trong lĩnh vực tinh thần, trong việc tiến đến ashram, trong việc tiến đến Thánh đoàn.
And it would just be my hope that we can find it within ourselves to carry out even a small proportion of what is so wisely and clearly suggested. So much time will be saved. So many errant paths need not be pursued.
Và Tôi chỉ mong chúng ta có thể tìm thấy trong bản thân khả năng thực hiện dù chỉ một phần nhỏ những điều được đề nghị một cách minh triết và rõ ràng đến vậy. Sẽ tiết kiệm được biết bao thời gian. Sẽ không cần theo đuổi biết bao con đường lầm lạc.
Much more ready availability for service at a time of humanity's dire need. So, what I will do here, this is 63, we've had 63 programs. There will be more because, I'm pretty well determined to, even though I've done the written commentary on the New Esoteric Schools, there's something that happens in the conversational approach that may be of value to everyone, and certainly this kind of thing can be listened to while one is doing, one's mundane duties and housework and exercise and things of that nature.
Chúng ta sẽ sẵn sàng phụng sự hơn rất nhiều vào lúc nhân loại đang có nhu cầu cấp thiết. Vì vậy, điều Tôi sẽ làm ở đây—đây là chương trình 63, chúng ta đã có 63 chương trình. Sẽ còn nữa, vì Tôi khá quyết tâm, dù đã viết phần bình giảng về Các Trường Nội Môn Mới; có một điều gì đó diễn ra trong cách tiếp cận qua trò chuyện có thể có giá trị cho mọi người, và chắc chắn những chương trình như thế này có thể được nghe trong khi người ta thực hiện các bổn phận thường ngày, làm việc nhà, tập thể dục và những việc tương tự.
I'll get back to it as best I can, as soon as I can. And the application remains for us, and the re-reading and the re-listening and the solidification of the indications that Master DK has given, that remains for us, and no one of us is going to be perfect in fulfillment. We're just not going to be.
Tôi sẽ trở lại với việc này tốt nhất có thể, sớm nhất có thể. Và việc áp dụng vẫn thuộc về chúng ta, việc đọc lại, nghe lại và củng cố những chỉ dẫn Chân sư DK đã trao vẫn thuộc về chúng ta, và không ai trong chúng ta sẽ hoàn hảo trong việc thực hiện. Chúng ta đơn giản là sẽ không như vậy.
And certain parts of the books will stand out more prominently for one than for another, and we do what we can. And we will improve. We will be confirmed as members of the New Group of World Servers.
Và một số phần trong sách sẽ nổi bật với người này hơn người khác, và chúng ta làm những gì có thể. Chúng ta sẽ cải thiện. Chúng ta sẽ được xác nhận là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
We will help the hierarchy. We will help the Divine Plan manifest on earth. Okay, friends, then from the Morya Federationand the University of the Seven Rays and Tuija and myself and all the many helpers on the communications, in the communications group and all the faculty members, we're wishing you lots of love and many blessings.
Chúng ta sẽ giúp Thánh đoàn. Chúng ta sẽ giúp Thiên Cơ biểu hiện trên Trái Đất. Các bạn thân mến, từ Liên đoàn Morya, Đại học Bảy Cung, Tuija và Tôi, cùng tất cả những người hỗ trợ truyền thông, trong nhóm truyền thông và toàn thể giảng viên, chúng tôi gửi đến các bạn thật nhiều tình thương và nhiều phúc lành.
And, for all of us, the will to go forward persistently, no matter what apparently happens, we persist. We'll be back with some work on the New Esoteric Schools.
Và mong tất cả chúng ta có ý chí kiên trì tiến lên; bất kể điều gì dường như xảy ra, chúng ta vẫn kiên trì. Chúng ta sẽ trở lại với một số nội dung về Các Trường Nội Môn Mới.