Tóm lược chương
Quy luật X theo dõi hình tư tưởng từ khi được định hướng đến lúc đủ sức biểu hiện độc lập. Nước của dục vọng nuôi hình tướng, nhưng hướng đi phải phù hợp với ý định linh hồn và Thiên Cơ; hướng ích kỷ sẽ đưa đến kết quả khác. So sánh với thai nhi cho thấy vị trí đúng, thời gian nuôi dưỡng và sức mạnh thúc đẩy ra đời đều cần thiết, chứ có ý tưởng chưa đủ bảo đảm thành tựu. Hình ảnh vỡ nước trước khi sinh được dùng để diễn tả lúc năng lực ham muốn đạt mức đủ mạnh để thúc hình tư tưởng xuống biểu hiện, trước hết qua phần dĩ thái. Người sáng tạo cần học nhận ra tín hiệu ấy thay vì hành động hoàn toàn vô thức. Công việc khoa học, nghệ thuật hay…
- Nuôi dưỡng và định hướng hình tư tưởng
- Nhận ra thời điểm ngưng tụ
- Các hệ mặt trời trong một Sự Sống lớn hơn
Astral Rule 17
Tóm Tắt
§ Nuôi dưỡng và định hướng hình tư tưởng
Quy luật X theo dõi hình tư tưởng từ khi được định hướng đến lúc đủ sức biểu hiện độc lập. Nước của dục vọng nuôi hình tướng, nhưng hướng đi phải phù hợp với ý định linh hồn và Thiên Cơ; hướng ích kỷ sẽ đưa đến kết quả khác. So sánh với thai nhi cho thấy vị trí đúng, thời gian nuôi dưỡng và sức mạnh thúc đẩy ra đời đều cần thiết, chứ có ý tưởng chưa đủ bảo đảm thành tựu.
§ Nhận ra thời điểm ngưng tụ
Hình ảnh vỡ nước trước khi sinh được dùng để diễn tả lúc năng lực ham muốn đạt mức đủ mạnh để thúc hình tư tưởng xuống biểu hiện, trước hết qua phần dĩ thái. Người sáng tạo cần học nhận ra tín hiệu ấy thay vì hành động hoàn toàn vô thức. Công việc khoa học, nghệ thuật hay phụng sự chỉ giữ được hướng đúng khi xuất phát từ tiếp xúc linh hồn, tham thiền và sự tiếp nhận ấn tượng chính xác.
§ Các hệ mặt trời trong một Sự Sống lớn hơn
Hệ mặt trời được xem như một hình tư tưởng nằm trong môi trường mãnh lực của một Đấng lớn hơn. Khi bàn về bảy hệ mặt trời và Đấng Bất Khả Tư Nghị, sự phân biệt giữa bảy trung tâm chính và nhiều thành phần phụ là thiết yếu; từ “hệ mặt trời” có thể được dùng ở nhiều quy mô. Các đồ hình mở rộng ý thức về vị trí tương đối của con người, nhưng chưa cho phép khẳng định điều vượt quá khả năng nhận thức hiện tại.
§ Điểm đạo và giới hạn của suy đoán vũ trụ
Một giả thuyết liên hệ việc hoàn tất tiến hóa trong hệ mặt trời với lần điểm đạo thứ chín và khả năng bước vào cõi cảm dục vũ trụ. Những liên hệ giữa Sirius, các con đường tiến hóa cao và cấp điểm đạo được đề xuất theo tương ứng, không được coi là tri thức đã chứng nghiệm. Cảnh báo của Chân sư DK về suy đoán vô ích vẫn được giữ bên cạnh nhận định riêng rằng tưởng tượng có kỷ luật đôi khi giúp định vị con người trong một toàn thể rộng hơn.
§ Định luật và những tầng vượt ngoài trí bác ái ý chí
Các Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp được liên hệ với trí, bác ái và ý chí, trong khi bảy định luật hệ thống gợi một cấu trúc chi tiết hơn. Khả năng tồn tại những trạng thái hay định luật vượt cả ba phương diện quen thuộc được đặt thành câu hỏi. Sự bao la ấy không làm mất trách nhiệm hiện tại, mà giúp giảm sự tự quan trọng và trở lại công việc tiến hóa trước mắt.
§ Nước của không gian và các cấp chất liệu
“Nước của không gian” và “dĩ thái” được khảo sát như những từ có phạm vi rộng hơn nước cảm dục hay bốn cõi dĩ thái thông thường. Dòng bốn mươi chín loại năng lượng qua Hoa Sen Chân Ngã vũ trụ gợi rằng chất liệu nuôi dưỡng hình tướng tồn tại ở nhiều cấp; cấu trúc nguyên tử trên những cõi vũ trụ cao hơn vẫn chưa rõ. Không nên cố định một từ vào duy nhất một tầng khi chính văn bản đang chuyển quy mô.
§ Tương ứng giữa cá nhân giới tự nhiên và hành tinh
Con người thuộc giới nhân loại như hệ mặt trời thuộc một toàn thể gồm bảy hệ chính; các giới tự nhiên cũng được đặt trong đời sống Hành Tinh Thượng Đế. Hệ luân xa chính và phụ giúp minh họa vì sao tính thất phân không loại trừ nhiều đơn vị nhỏ hơn. Học các tương ứng đòi hỏi phân biệt bầu hành tinh, Dãy, hệ hành tinh và các cấp Thượng đế, đồng thời thừa nhận khoảng cách lớn giữa suy luận bằng trí và tiếp xúc tâm thức thực sự.
Text – Văn bản
[1] As the waters bathe the form created, they are absorbed and used. The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices. Let the outer builders cease their labours then, and let the inner workers enter on their cycle.
[1] Khi các vùng nước tắm rửa hình tướng được tạo ra, chúng được hấp thụ và sử dụng. Hình tướng tăng lên về sức mạnh của nó; hãy để nhà huyền thuật tiếp tục cho đến khi công việc đã đủ. Khi ấy, hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài ngừng công việc, và để những người hoạt động bên trong bước vào chu kỳ của họ.
Thought-Form Building
Kiến Tạo Hình Tư Tưởng
[2] In Rule Ten two facts about the form are stated, which are true of all forms, and three strong injunctions are given in the following terms:
[2] Quy luật Mười nêu hai sự kiện về hình tướng, đúng với mọi hình tướng, và đưa ra ba huấn lệnh mạnh mẽ như sau:
[3] The facts are:
[3] Hai sự kiện là:
[3b] 1. The form absorbs and uses the waters in which it is immersed.
[3b] 1. Hình tướng hấp thụ và sử dụng các vùng nước mà nó đắm mình trong đó.
[4] 2. As a result it grows in strength.
[4] 2. Nhờ đó, sức mạnh của nó tăng trưởng.
[4b] The three injunctions are:
[4b] Ba huấn lệnh là:
[5] 1. Let the magician go on building his form until its adequate potency is assured.
[5] 1. Hãy để nhà huyền thuật tiếp tục kiến tạo hình tướng của mình cho đến khi bảo đảm rằng hình tướng ấy có đủ uy lực.
[6] 2. Then let the “outer builders” cease from labour.
[6] 2. Khi ấy, hãy để các “đấng kiến tạo bên ngoài” ngừng công việc.
[6b] 3. Let the “inner builders” enter on their cycle.
[6b] 3. Hãy để các “đấng kiến tạo bên trong” bước vào chu kỳ của họ.
[7] We have seen how, in the process of thought-form building, the time came when the form had to be oriented in the right direction and set upon the proper path in order to carry out its creator’s will and purpose. [8] This takes place fairly early in the work and after the process of orientation the work of building proceeds, for the thought-form is not yet ready for an independent life. [9] There is a true analogy between the gestation period of an infant and that of a thought-form. The importance of the right placement of the child within the womb is never overlooked by a good physician, and where there is analogously a wrong position upon the path to be followed into manifested existence, death and trouble oft ensue. [10] The analogy is close—as you well know. Birth is preceded by the “breaking of the waters” (in medical [Page 274] parlance), [11] and before the thought-form brings about the desired results on the physical plane there comes too a similar reaction; the waters of desire become so potent as to cause precipitation, and the consequent appearance of the desired form of expression.
[7] Chúng ta đã thấy rằng trong tiến trình kiến tạo hình tư tưởng, đến một thời điểm, hình tướng phải được định hướng đúng và đặt trên con đường thích hợp để thực hiện ý chí và mục đích của đấng sáng tạo ra nó. [8] Điều này diễn ra khá sớm trong công việc, và sau tiến trình định hướng, công việc kiến tạo vẫn tiếp tục, vì hình tư tưởng chưa sẵn sàng cho một đời sống độc lập. [9] Có một sự tương đồng thực sự giữa thời kỳ thai nghén của một hài nhi và thời kỳ thai nghén của một hình tư tưởng. Một thầy thuốc giỏi không bao giờ xem nhẹ tầm quan trọng của việc thai nhi nằm đúng vị trí trong tử cung; tương tự, khi có sự sai lệch vị trí trên con đường phải đi vào sự hiện tồn biểu hiện, cái chết và khó khăn thường xảy ra. [10] Sự tương đồng này rất sát—như các bạn đều biết rõ. Trước khi sinh có hiện tượng “vỡ ối” (theo thuật ngữ y khoa [Trang 274]), [11] và trước khi hình tư tưởng mang lại những kết quả mong muốn trên cõi hồng trần, cũng có một phản ứng tương tự; các vùng nước dục vọng trở nên mạnh mẽ đến mức gây ra sự ngưng tụ, và do đó làm xuất hiện hình tướng biểu đạt mong muốn.
[12] Let us take the facts and analogies as they stand and study them from the standpoint both of the macrocosm and the microcosm.
[12] Chúng ta hãy tiếp nhận những sự kiện và những sự tương đồng ấy đúng như chúng vốn có, rồi nghiên cứu chúng từ quan điểm của cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa.
[13] We note that the form absorbs and uses the substance wherein it is immersed. [14] Our solar system is one of many, and not the greatest. [15] It constitutes a fragment of a greater whole. This greater whole, formed of seven parts (or seven solar systems), [16] is itself immersed in the waters of space, is born of desire and, therefore, a child of [17] necessity. It draws its life from its surroundings. Streaming into our solar system from all sides are force currents, emanating from what A Treatise on Cosmic Fire calls the “One about Whom naught may be said”. [18] These currents embody His will and desire, express His love or attractive capacity, and manifest as that great thought-form we call our system.
[13] Chúng ta nhận thấy rằng hình tướng hấp thụ và sử dụng chất liệu mà nó đắm mình trong đó. [14] Hệ mặt trời của chúng ta là một trong nhiều hệ, và không phải là hệ lớn nhất. [15] Nó cấu thành một phần nhỏ của một toàn thể lớn hơn. Toàn thể lớn hơn này, gồm bảy phần (hay bảy hệ mặt trời), [16] cũng đắm mình trong các vùng nước không gian, sinh ra từ dục vọng và vì thế là đứa con của [17] tất yếu. Nó rút lấy sự sống từ môi trường xung quanh. Từ mọi phía, những dòng mãnh lực tuôn vào hệ mặt trời của chúng ta, phát xạ từ Đấng mà Luận về Lửa Vũ Trụ gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. [18] Những dòng này hiện thân cho ý chí và dục vọng của Ngài, biểu đạt tình thương hay khả năng thu hút của Ngài, và biểu hiện thành hình tư tưởng vĩ đại mà chúng ta gọi là hệ mặt trời của mình.
[19] In parentheses, it is well to note that this Existence is termed “the One about Whom naught may be said”, not because of secrecy or mystery, but because all formulation of ideas about His life and purpose are impossible until one has completed the term of evolution in our solar system. Note, I say, our solar system, not just our planetary existence. Speculation about the Existence who, through His life, informs seven solar systems is wasted energy. On our planet, only such great lives as the Buddha, the Kumaras and the planetary Logos, are beginning to sense the dynamic impulse of the greater Whole, and even they are only sensitive to it but are, as yet, utterly unable to conceive of its trend, for it lies beyond mind and love and will. It brings into play factors [Page 275] for which we have no terms and tendencies which are as yet not even remotely visioned on our planet.
[19] Nhân đây, cần lưu ý rằng Sự Hiện Hữu này được gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, không phải vì tính bí mật hay huyền bí, mà vì không thể hình thành bất kỳ ý tưởng nào về sự sống và mục đích của Ngài cho đến khi người ta hoàn tất thời kỳ tiến hoá trong hệ mặt trời của chúng ta. Hãy lưu ý, Tôi nói hệ mặt trời của chúng ta, chứ không chỉ sự hiện tồn trên hành tinh của chúng ta. Suy đoán về Đấng dùng sự sống của Ngài để thấm nhuần bảy hệ mặt trời là lãng phí năng lượng. Trên hành tinh của chúng ta, chỉ những sự sống vĩ đại như Đức Phật, các Đấng Kumara và Hành Tinh Thượng đế mới đang bắt đầu cảm nhận xung lực năng động của Toàn Thể lớn hơn; ngay cả Các Ngài cũng chỉ nhạy cảm với xung lực ấy, nhưng cho đến nay vẫn hoàn toàn không thể hình dung chiều hướng của nó, vì nó vượt ngoài trí tuệ, tình thương và ý chí. Nó đưa vào hoạt động những yếu tố [Trang 275] mà chúng ta không có thuật ngữ để gọi tên, cùng những khuynh hướng mà trên hành tinh chúng ta hiện nay còn chưa thoáng hình dung được.
[20] We have generated a term we call the ether. [21] Occultly speaking, this is the modern way of expressing “the waters of space”, which are the waters of desire, in which we are immersed. [22] It is in constant ebb and flux, and is the stream of life, constituted of forty-nine types of energy, [23] which pours through the cosmic egoic lotus, and (radiating forth from it) feeds with its measure of sustenance the form—solar, planetary, or human—for which it is responsible. This is dealt with in A Treatise on Cosmic Fire.
[20] Chúng ta đã đặt ra một thuật ngữ gọi là dĩ thái. [21] Nói theo huyền bí học, đây là cách diễn đạt hiện đại của “các vùng nước không gian”, tức các vùng nước dục vọng mà chúng ta đắm mình trong đó. [22] Dĩ thái không ngừng lên xuống và lưu chuyển, và là dòng sự sống, gồm bốn mươi chín loại năng lượng, [23] tuôn qua hoa sen chân ngã vũ trụ, rồi từ đó tỏa ra, cung cấp phần dưỡng chất của mình cho hình tướng—thái dương, hành tinh hay con người—mà nó chịu trách nhiệm nuôi dưỡng. Điều này được bàn đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ.
[24] Man is immersed in forces which are to him as the waters of space are to our solar system. [25] He finds himself, as does our sun and its attendant planets, [26] forming part of a whole, and just as our system is but one of seven systems, [27] drawn together to form the body, or manifested expression of a life, so is the human kingdom of which he is an infinitesimal part, one of seven kingdoms. These are the correspondences in the life of the planetary Logos to the seven solar systems. [28] When he begins to sense the life of the solar Logos as it expresses itself through the seven planetary schemes we will have touched the consciousness of the planetary Logos of our special scheme, [29] who is sensing somewhat the united vibrations of the lives of the seven solar Logoi.
[24] Con người đắm mình trong những mãnh lực mà đối với y, chúng cũng giống như các vùng nước không gian đối với hệ mặt trời của chúng ta. [25] Cũng như mặt trời của chúng ta cùng các hành tinh đi theo nó, y nhận thấy mình [26] là một phần của một toàn thể; và cũng như hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trong bảy hệ, [27] được thu hút lại với nhau để tạo thành thân thể, hay biểu hiện hữu hình của một sự sống, giới nhân loại mà y chỉ là một phần vô cùng nhỏ bé cũng là một trong bảy giới. Trong sự sống của Hành Tinh Thượng đế, bảy giới này tương ứng với bảy hệ mặt trời. [28] Khi y bắt đầu cảm nhận sự sống của Thái dương Thượng đế biểu đạt qua bảy hệ hành tinh, chúng ta sẽ chạm đến tâm thức của Hành Tinh Thượng đế thuộc hệ hành tinh riêng của chúng ta, [29] Đấng đang phần nào cảm nhận những rung động hợp nhất của sự sống nơi bảy Thái dương Thượng đế.
Commentary Program 17 - Rule X - 10.1
Hi everybody, and good afternoon from here. I'm sorry I couldn't be with you this morning for the Science of Triangles webinar, but everything seems to be ironed out now, and I guess we're mixing real time with these programs on A Treatise on White Magic, which are not related to time.
Xin chào tất cả các bạn, và từ nơi đây, xin chúc các bạn một buổi chiều tốt lành. Tôi xin lỗi vì sáng nay không thể cùng các bạn tham dự webinar về Khoa Học Tam Giác, nhưng dường như giờ đây mọi việc đã ổn thỏa, và tôi nghĩ chúng ta đang kết hợp thời gian thực với những chương trình về Luận về Chánh Thuật vốn không phụ thuộc vào thời gian.
If the image looks a little dark, it's because the light is coming in very brightly this afternoon, and we're still in the midst of this amazing European heat wave of 2018. The record for Europe may be broken soon, so we'll have to work hard — all of us as disciples, from 2018 to 2025, these next seven years — to help keep things livable on our planet. Well, here we are: Rule 10.
Nếu hình ảnh có vẻ hơi tối thì đó là vì ánh sáng chiều nay chiếu vào rất mạnh, và chúng ta vẫn đang giữa đợt nắng nóng kinh ngạc này ở châu Âu năm 2018. Kỷ lục của châu Âu có thể sớm bị phá vỡ, nên tất cả chúng ta, với tư cách đệ tử, sẽ phải nỗ lực từ năm 2018 đến năm 2025, trong bảy năm tới, để giúp duy trì điều kiện sống trên hành tinh chúng ta. Giờ chúng ta đến với Quy luật 10.
All right, this is the big rule — well over 100 pages in the book, as I recall, something like 170 pages, or at least 150. We have a big job ahead of us, so let's at least get started on this.
Đây là một quy luật lớn — theo tôi nhớ thì dài hơn 100 trang trong sách, khoảng 170 trang, hoặc ít nhất là 150 trang. Trước mắt chúng ta là một công việc lớn, nên ít nhất hãy bắt đầu.
[1] As the waters bathe the form created, they are absorbed and used. The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices. Let the outer builders cease their labours then, and let the inner workers enter on their cycle.
[1] Khi các vùng nước tắm rửa hình tướng được tạo ra, chúng được hấp thụ và sử dụng. Hình tướng tăng lên về sức mạnh của nó; hãy để nhà huyền thuật tiếp tục cho đến khi công việc đã đủ. Khi ấy, hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài ngừng công việc, và để những người hoạt động bên trong bước vào chu kỳ của họ.
That is the rule about which he chose to elaborate very fully, and he chose then to deal with thought-form building, the centres, energies and rays — a huge subject which he elaborated later in A Treatise on the Seven Rays — astral energy and fear, a very important section for us when beset by negative energies and entities, the right use of energy, the present age and the future, the founding of the Hierarchy in ancient days (maybe we'll be talking there about the Temple of Ibez), and the New Group of World Servers. And you have to think this was written in the early thirties, so already plans were underway, probably from the year 1925, when the Hierarchy was reorganized in such a way that many ashrams could move into the cosmic ethers and off the higher mental plane. This huge subject was later elaborated in his excellent and most occult book, Esoteric Astrology — the section on astrology and the energies. So let's proceed. Thought-form building: we're always being creative, in fact, whether we are conscious or unconscious of this creativity.
Đó là quy luật mà Ngài đã chọn để trình bày rất đầy đủ, và sau đó Ngài chọn bàn đến việc kiến tạo hình tư tưởng, các trung tâm, năng lượng và các cung — một chủ đề rộng lớn mà sau này Ngài trình bày chi tiết trong Luận về Bảy Cung — năng lượng cảm dục và nỗi sợ hãi, một phần rất quan trọng đối với chúng ta khi bị các năng lượng và thực thể tiêu cực vây hãm; việc sử dụng năng lượng đúng đắn; thời đại hiện tại và tương lai; sự thành lập Thánh đoàn thời cổ đại (có lẽ đến đó chúng ta sẽ nói về Đền Ibez); và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Các bạn phải nhớ rằng sách này được viết vào đầu thập niên ba mươi, nên các kế hoạch đã được triển khai, có lẽ từ năm 1925, khi Thánh đoàn được tổ chức lại theo cách cho phép nhiều ashram rời cõi thượng trí để chuyển vào các cõi dĩ thái vũ trụ. Chủ đề rộng lớn này về sau được trình bày chi tiết trong cuốn sách xuất sắc và mang tính huyền bí sâu sắc nhất của Ngài, Chiêm Tinh Học Nội Môn — phần về chiêm tinh học và các năng lượng. Vậy chúng ta hãy tiếp tục. Kiến tạo hình tư tưởng: thực ra, chúng ta luôn sáng tạo, dù có ý thức hay không có ý thức về hoạt động sáng tạo này.
[2] In Rule Ten two facts about the form are stated, which are true of all forms, and three strong injunctions are given in the following terms:
[2] Quy luật Mười nêu hai sự kiện về hình tướng, đúng với mọi hình tướng, và đưa ra ba huấn lệnh mạnh mẽ như sau:
So he breaks the rule down for us in more direct language.
Như vậy, Ngài phân tích quy luật cho chúng ta bằng ngôn ngữ trực tiếp hơn.
[3] The facts are:
[3] Hai sự kiện là:
[3b] 1. The form absorbs and uses the waters in which it is immersed.
[3b] 1. Hình tướng hấp thụ và sử dụng các vùng nước mà nó đắm mình trong đó.
Presumably the form was first detected through contact with the soul, at least for the white magician, and has grown upon the mental plane and thence descended into the astral and eventually etheric-physical planes.
Có lẽ hình tướng được nhận biết lần đầu qua sự tiếp xúc với linh hồn, ít nhất là đối với nhà huyền thuật chánh đạo, rồi phát triển trên cõi trí, từ đó giáng xuống cõi cảm dục và cuối cùng đến các cõi dĩ thái–hồng trần.
[4] 2. As a result it grows in strength.
[4] 2. Nhờ đó, sức mạnh của nó tăng trưởng.
So the astral waters are feeding the form, and we can imagine they are fed with that element of desire and the tendency towards manifestation — the tendency to appear.
Như vậy, các vùng nước cảm dục đang nuôi dưỡng hình tướng, và chúng ta có thể hình dung chúng được tiếp thêm yếu tố dục vọng cùng khuynh hướng biểu hiện — khuynh hướng xuất hiện.
[4b] The three injunctions are:
[4b] Ba huấn lệnh là:
[5] 1. Let the magician go on building his form until its adequate potency is assured.
[5] 1. Hãy để nhà huyền thuật tiếp tục kiến tạo hình tướng của mình cho đến khi bảo đảm rằng hình tướng ấy có đủ uy lực.
Without adequate potency there will be a disruption in the birth of the form — perhaps a stillbirth, perhaps insufficient desire to make sure it manifests at all upon the etheric and especially the physical plane.
Nếu không đủ uy lực, sự ra đời của hình tướng sẽ bị gián đoạn — có lẽ chết ngay trước khi ra đời, có lẽ không đủ dục vọng để bảo đảm nó thực sự biểu hiện trên cõi dĩ thái, và nhất là cõi hồng trần.
[6] 2. Then let the “outer builders” cease from labour.
[6] 2. Khi ấy, hãy để các “đấng kiến tạo bên ngoài” ngừng công việc.
[6b] Let the “inner builders” enter on their cycle.
[6b] 3. Hãy để các “đấng kiến tạo bên trong” bước vào chu kỳ của họ.
All of these things will be discussed as we go along here.
Chúng ta sẽ bàn đến tất cả những điều này trong quá trình tiếp tục.
[7] We have seen how, in the process of thought-form building, the time came when the form had to be oriented in the right direction and set upon the proper path in order to carry out its creator's will and purpose.
[7] Chúng ta đã thấy rằng trong tiến trình kiến tạo hình tư tưởng, đến một thời điểm, hình tướng phải được định hướng đúng và đặt trên con đường thích hợp để thực hiện ý chí và mục đích của đấng sáng tạo ra nó.
The white magical path accords with the Divine Plan of, let's say, the Planetary Logos in this case, or higher — but at least we are dealing with the according of the form and its direction with a higher will and intent, which is divine.
Con đường chánh thuật phù hợp với Thiên Cơ, trong trường hợp này là của Hành Tinh Thượng đế, hoặc cao hơn — nhưng ít nhất chúng ta đang bàn đến việc làm cho hình tướng và hướng đi của nó phù hợp với một ý chí và ý định cao hơn, mang tính thiêng liêng.
As for other types who seek to set their form upon a selfish path — well, the result is entirely different and runs afoul of the Divine Plan.
Còn những loại người khác tìm cách đặt hình tướng của mình trên một con đường ích kỷ thì kết quả hoàn toàn khác, và trái với Thiên Cơ.
[8] This takes place fairly early in the work and after the process of orientation the work of building proceeds, for the thought-form is not yet ready for an independent life.
[8] Điều này diễn ra khá sớm trong công việc, và sau tiến trình định hướng, công việc kiến tạo vẫn tiếp tục, vì hình tư tưởng chưa sẵn sàng cho một đời sống độc lập.
We see this partially in the human gestation process — there's so much that goes on before the form of the infant can emerge and be viable. Lately there's been the possibility of saving these forms and making them viable at a very premature stage, but that has to do with the science and art of medicine. And of course, in a way, that's not natural, although I think it's highly desirable — in the old days it just didn't happen.
Chúng ta phần nào thấy điều này trong quá trình thai nghén của con người — rất nhiều điều phải diễn ra trước khi hình tướng của trẻ sơ sinh có thể ra đời và sống được. Gần đây, đã có khả năng cứu những hình tướng này và giúp chúng sống được ở giai đoạn sinh rất non, nhưng điều đó thuộc về khoa học và nghệ thuật y khoa. Và dĩ nhiên, theo một nghĩa nào đó, điều ấy không tự nhiên, dù tôi nghĩ đó là điều rất đáng mong muốn — ngày xưa điều ấy đơn giản là không xảy ra.
There is a true analogy here — well, you know, maybe it's just that I'm remembering how it was when I read this book, but it often seems that I'm not looking ahead and talking about a subject, and then I find that in the very next sentence or two, DK is talking about that very subject. Better, of course, than I can talk about it.
Ở đây có một sự tương đồng thực sự — có lẽ chỉ vì tôi đang nhớ lại những gì đã đọc trong sách này, nhưng thường có vẻ như tôi không nhìn trước mà vẫn nói về một chủ đề, rồi nhận ra rằng ngay trong một hai câu kế tiếp, Chân sư DK cũng đang nói về chính chủ đề ấy. Dĩ nhiên, Ngài nói hay hơn tôi.
[9] There is a true analogy between the gestation period of an infant and that of a thought-form. The importance of the right placement of the child within the womb is never overlooked by a good physician, and where there is analogously a wrong position upon the path to be followed into manifested existence, death and trouble oft ensue.
[9] Có một sự tương đồng thực sự giữa thời kỳ thai nghén của một hài nhi và thời kỳ thai nghén của một hình tư tưởng. Một thầy thuốc giỏi không bao giờ xem nhẹ tầm quan trọng của việc thai nhi nằm đúng vị trí trong tử cung; tương tự, khi có sự sai lệch vị trí trên con đường phải đi vào sự hiện tồn biểu hiện, cái chết và khó khăn thường xảy ra.
So he's talking here about the value of right placement before birth, whether of a thought-form or of a human infant. I suppose this is the case for certain animals too.
Ở đây, Ngài đang nói về giá trị của vị trí đúng trước khi ra đời, dù là của một hình tư tưởng hay một trẻ sơ sinh. Tôi cho rằng điều này cũng đúng với một số loài động vật.
[10] The analogy is close—as you well know. Birth is preceded by the “breaking of the waters” (in medical parlance),
[10] Sự tương đồng này rất sát—như các bạn đều biết rõ. Trước khi sinh có hiện tượng “vỡ ối” (theo thuật ngữ y khoa [Trang 274]),
a kind of Neptunian precursor of the birth process.
một dạng dấu hiệu báo trước mang tính Sao Hải Vương của tiến trình sinh nở.
[11] and before the thought-form brings about the desired results on the physical plane there comes too a similar reaction; the waters of desire become so potent as to cause precipitation, and the consequent appearance of the desired form of expression.
[11] và trước khi hình tư tưởng mang lại những kết quả mong muốn trên cõi hồng trần, cũng có một phản ứng tương tự; các vùng nước dục vọng trở nên mạnh mẽ đến mức gây ra sự ngưng tụ, và do đó làm xuất hiện hình tướng biểu đạt mong muốn.
This is a very interesting analogy, and there's a sense in which we must feel the breaking of the waters surrounding the thought-form.
Đây là một sự tương đồng rất thú vị, và theo một nghĩa nào đó, chúng ta phải cảm nhận được sự vỡ của các vùng nước bao quanh hình tư tưởng.
We must learn to feel this so-called breaking of the waters surrounding the thought-form which is intended to be born, because it's an important signal — the sufficient potency to cause precipitation. So do we recognize when that moment comes? There's such a buildup of desire for manifestation that perhaps the nurturing function of the waters completes, and the waters break, as it were, and the thought-form is impelled onto the physical plane — the etheric plane first, the higher part of the physical plane. I guess we are all participating in this birthing process — we are creators, we are constantly creating.
Chúng ta phải học cách cảm nhận điều gọi là sự vỡ của các vùng nước bao quanh hình tư tưởng dự định sẽ ra đời, vì đó là một tín hiệu quan trọng — uy lực đã đủ để gây ra sự ngưng tụ. Vậy chúng ta có nhận ra khi thời điểm ấy đến không? Dục vọng muốn biểu hiện tích tụ mạnh đến mức có lẽ chức năng nuôi dưỡng của các vùng nước đã hoàn tất, và có thể nói là các vùng nước vỡ ra, đẩy hình tư tưởng vào cõi hồng trần — trước tiên là cõi dĩ thái, phần cao hơn của cõi hồng trần. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đang tham gia vào tiến trình sinh thành này — chúng ta là những người sáng tạo, chúng ta không ngừng sáng tạo.
We may not know the methods and stages of the creation process, but we are constantly in that process and have to learn, as disciples, to create in such a way that we're actually helping the intention of our many Logoi above us — I suppose you might say our globe Lord, even the Lord of the human kingdom, the Lord of our chain and our planet, and so forth, eventually the Lord, the Solar Logos. We're helping all that when we are in right alignment with the original soul intent. So as a principle, let us simply be sure that what we are creating — as scientifically and eventually as artistically as possible — is in line with soul intent, because we have reached the soul and been rightly impressed through right meditative methods.
Có thể chúng ta không biết các phương pháp và giai đoạn của tiến trình sáng tạo, nhưng chúng ta luôn ở trong tiến trình ấy và, với tư cách đệ tử, phải học cách sáng tạo sao cho thực sự hỗ trợ ý định của nhiều Thượng đế ở trên chúng ta — tôi cho rằng có thể kể đến Chúa Tể bầu hành tinh của chúng ta, cả Chúa Tể của giới nhân loại, Chúa Tể của dãy hành tinh và hành tinh chúng ta, v.v., cuối cùng là Đức Chúa Tể, Thái dương Thượng đế. Chúng ta đang hỗ trợ tất cả những điều ấy khi chỉnh hợp đúng với ý định ban đầu của linh hồn. Vì vậy, về nguyên tắc, hãy đơn giản bảo đảm rằng điều chúng ta đang sáng tạo — một cách khoa học nhất có thể, và cuối cùng cũng nghệ thuật nhất có thể — phù hợp với ý định của linh hồn, vì chúng ta đã tiếp cận linh hồn và tiếp nhận ấn tượng đúng đắn nhờ các phương pháp tham thiền đúng đắn.
[12] Let us take the facts and analogies as they stand and study them from the standpoint both of the macrocosm and the microcosm.
[12] Chúng ta hãy tiếp nhận những sự kiện và những sự tương đồng ấy đúng như chúng vốn có, rồi nghiên cứu chúng từ quan điểm của cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa.
So, remembering, we have two facts and three — what did he call them? — injunctions. But first the facts and analogies: two facts and three injunctions, but first the facts.
Hãy nhớ rằng chúng ta có hai sự thật và ba — Ngài gọi chúng là gì nhỉ? — huấn lệnh. Nhưng trước hết là các sự thật và những điểm tương đồng: hai sự thật và ba huấn lệnh, nhưng trước hết là các sự thật.
[13] We note that the form absorbs and uses the substance wherein it is immersed.
[13] Chúng ta nhận thấy rằng hình tướng hấp thụ và sử dụng chất liệu mà nó đắm mình trong đó.
This, of course, is a common feature of the forms with which we are familiar.
Dĩ nhiên, đây là một đặc điểm chung của những hình tướng mà chúng ta quen thuộc.
[14] Our solar system is one of many, and not the greatest.
[14] Hệ mặt trời của chúng ta là một trong nhiều hệ, và không phải là hệ lớn nhất.
Well, you know, trillions of them. And certainly not as great as Sirius, which is a sacred solar system, just as our Earth now aspires to become, as Venus now is.
Có hàng nghìn tỷ hệ như vậy. Và chắc chắn không vĩ đại bằng Sirius, một hệ mặt trời thiêng liêng, cũng như Trái Đất chúng ta hiện đang khát vọng trở thành một hành tinh thiêng liêng, như Sao Kim hiện nay.
[15] It constitutes a fragment of a greater whole. This greater whole, formed of seven parts (or seven solar systems),
[15] Nó cấu thành một phần nhỏ của một toàn thể lớn hơn. Toàn thể lớn hơn này, gồm bảy phần (hay bảy hệ mặt trời),
and I would say seven major solar systems.
và tôi muốn nói là bảy hệ mặt trời chính.
The seven solar systems of which ours is one, as they're called — you know, go to your Esoteric Astrology, around page 50 or so, for a tabulation that makes this clear.
Thường được gọi là bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó — các bạn hãy xem Chiêm Tinh Học Nội Môn, khoảng trang 50, có một bảng trình bày làm rõ điều này.
[16] is itself immersed in the waters of space, is born of desire and, therefore, a child of necessity.
[16] cũng đắm mình trong các vùng nước không gian, sinh ra từ dục vọng và vì thế là đứa con của
A much greater desire, of course.
Dĩ nhiên, một dục vọng lớn hơn rất nhiều.
And what he's saying here is that what is ‘born of desire’ is a child of necessity. There are cosmic desires — there are great entities who have a desire body; even the great galactic Logos, and beyond, will have a desire sheath. The waters of space, to a certain extent — he might be talking about ethers in one way, and in another way he's talking about the astral substance on very high levels, maybe of the cosmic astral plane.
Điều Ngài đang nói ở đây là cái “sinh ra từ dục vọng” là đứa con của sự tất yếu. Có những dục vọng vũ trụ — có những thực thể vĩ đại mang một thể dục vọng; ngay cả Thượng đế thiên hà vĩ đại, và cao hơn nữa, cũng sẽ có một lớp vỏ dục vọng. Về các vùng nước của không gian, trong một chừng mực nào đó, theo một cách Ngài có thể đang nói về các cõi dĩ thái, còn theo cách khác Ngài đang nói về chất liệu cảm dục ở những cấp độ rất cao, có lẽ thuộc cõi cảm dục vũ trụ.
[17] So anyway, it draws its life from its surroundings. Streaming into our solar system from all sides are force currents, emanating from what A Treatise on Cosmic Fire calls the “One about Whom naught may be said”.
[17] tất yếu. Nó rút lấy sự sống từ môi trường xung quanh. Từ mọi phía, những dòng mãnh lực tuôn vào hệ mặt trời của chúng ta, phát xạ từ Đấng mà Luận về Lửa Vũ Trụ gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.
So you can check A Treatise on Cosmic Fire, page 344 and also 293, for a tabulation there and a much greater chart on 344 — see if you can find the One About Whom Naught May Be Said, and why we call it our particular One About Whom Naught May Be Said.
Các bạn có thể xem Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 344 và cả trang 293, để tìm một bảng trình bày cùng sơ đồ lớn hơn nhiều ở trang 344 — hãy xem các bạn có tìm được Đấng Bất Khả Tư Nghị không, và vì sao chúng ta gọi đó là Đấng Bất Khả Tư Nghị riêng của chúng ta.