← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 10 Cõi Cảm Dục

Text Program 45 – Rule 10.29

Trích nội dung chương

Thầy MDR liên hệ trực tiếp đoạn này với lần điểm đạo thứ ba và nhắc đến một mantram rất đẹp từng được trao cho một đệ tử Ma Kết tên RSU, người đã qua lần điểm đạo thứ hai và hướng tới lần điểm đạo thứ ba. Nội dung mantram nêu hai điều kiện cốt lõi: “sống trong cõi vĩnh cửu” và “biết bản ngã là một”, rồi nhờ đó đứng ở nơi Đấng Điểm đạo duy nhất được khẩn cầu cho đến khi ngôi sao của Ngài chiếu sáng. Thầy MDR nhận xét rằng nếu có thể thực hiện hai điều này một cách bền bỉ, thì lần điểm đạo thứ ba sẽ đạt được; vì thế câu “tôi ngụ trong một thế giới hợp nhất, tôi biết mọi linh hồn là một” chính là diễn tả sống động của yêu cầu ấy. Ở phần cuối…


Thầy MDR liên hệ trực tiếp đoạn này với lần điểm đạo thứ ba và nhắc đến một mantram rất đẹp từng được trao cho một đệ tử Ma Kết tên RSU, người đã qua lần điểm đạo thứ hai và hướng tới lần điểm đạo thứ ba. Nội dung mantram nêu hai điều kiện cốt lõi: “sống trong cõi vĩnh cửu” và “biết bản ngã là một”, rồi nhờ đó đứng ở nơi Đấng Điểm đạo duy nhất được khẩn cầu cho đến khi ngôi sao của Ngài chiếu sáng. Thầy MDR nhận xét rằng nếu có thể thực hiện hai điều này một cách bền bỉ, thì lần điểm đạo thứ ba sẽ đạt được; vì thế câu “tôi ngụ trong một thế giới hợp nhất, tôi biết mọi linh hồn là một” chính là diễn tả sống động của yêu cầu ấy.

Bị cuốn đi bởi Sự Sống phổ quát trên con đường của Thượng đế

Ở phần cuối của công thức cổ, Thầy MDR dừng lại lâu nơi câu “Bị cuốn đi bởi Sự Sống phổ quát”, và giải thích “phổ quát” ở đây có thể chỉ cả sự sống của vũ trụ lẫn sự sống của Thái dương Thượng đế. Câu “và khi tôi tiến bước trên đường đi tới của mình, con đường của Thượng đế” được Thầy xem như trạng thái không còn chướng ngại, không quay lùi xuống quá khứ, không còn bị trói buộc bởi thời gian, thân thuộc hay xác thân. Thầy MDR nhấn mạnh đây là chuyển động đi lên và đi tới, được giải phóng vào chính con đường của Thượng đế.

Các năng lượng nhỏ hơn tắt lịm trong một Năng lượng duy nhất

Khi tiến trên con đường ấy, “mọi năng lượng nhỏ hơn đều chết đi”, và Thầy MDR giải thích không phải chúng bị phủ nhận mà được bao hàm trong một Năng lượng duy nhất. Thầy lặp lại tư tưởng “mọi năng lượng là một năng lượng, mọi hữu thể là một Hữu thể”, nên các phân biệt nhỏ nhặt mất dần tầm quan trọng. Thầy MDR nhận xét người đệ tử khi ấy không còn bị thu hút bởi những khác biệt thứ yếu nữa, vì có thể xử lý chúng từ lập trường tổng hợp.

Bốn khẳng định lớn của sự nhất thể

Thầy MDR xem bốn câu khẳng định “Tôi là Đấng Duy Nhất; tôi, Thượng đế”, “Tôi là hình tướng trong đó mọi hình tướng được hợp nhất”, “Tôi là linh hồn trong đó mọi linh hồn được dung hợp”, “Tôi là Sự Sống, và trong Sự Sống đó mọi sự sống nhỏ bé tồn tại” là cốt lõi của chứng ngộ ở lần điểm đạo thứ ba. Thầy giải thích đây không phải là “linh hồn của tôi” hay “linh hồn của anh ấy”, mà là một linh hồn duy nhất, một sự sống duy nhất, một hình tướng duy nhất bao gồm mọi hình tướng. Thầy MDR đặc biệt gọi đây là một phát biểu lớn của cung hai, nhấn mạnh tính bao gồm tuyệt đối: không có gì ở “bên ngoài”, mọi sự đều được nhìn như “tôi” trong ý nghĩa bản thể.

Liên hệ với Krishna, Arjuna và kinh nghiệm tổng hợp

Để minh họa câu “Tôi là hình tướng trong đó mọi hình tướng được hợp nhất”, Thầy MDR nhắc đến Krishna và Arjuna, nói rằng Krishna luôn thấy hình tướng vĩ đại của Thượng đế, còn Arjuna là người được Krishna mặc khải cho thấy một hình tướng duy nhất bao gồm mọi hình tướng. Qua đó, Thầy đề xuất đây là kinh nghiệm của sự tổng hợp và dung hợp, nơi người tu thấy cái Một và cái nhiều đồng thời. Thầy MDR lưu ý cái nhiều không độc lập với cái Một mà là phái sinh từ cái Một, tuy nhiên cái nhiều vẫn phải được xử lý đúng cách trong biểu hiện.

Kinh nghiệm bao gồm: nhìn qua mọi mắt, cảm qua mọi giác quan

Khi bình câu “Tôi là linh hồn trong đó mọi linh hồn được dung hợp”, Thầy MDR diễn giải rất cá nhân rằng đó là trạng thái “nhìn qua mọi con mắt, cảm nhận qua mọi giác quan, chạm qua mọi sự tiếp xúc”. Thầy nhận xét chỉ có một kinh nghiệm duy nhất đang tự trải nghiệm chính mình qua vô số phương diện. Đây là cách Thầy mở rộng ý nghĩa của tâm thức hợp nhất từ một giáo lý trừu tượng thành cảm nghiệm sống động của sự đồng nhất với toàn bộ sự sống.

Thiền định trên tám tuyên bố và đời sống ashram nâng đỡ đệ tử

Thầy MDR đề nghị nên tham thiền trên từng một trong tám tuyên bố của đoạn kinh cổ, vì mỗi câu đều hàm chứa một cửa ngõ dẫn vào sự chứng ngộ. Thầy nhận xét đời sống của ashram đã “cuốn” người đệ tử đi ngay cả trước khi trạng thái này xảy ra trọn vẹn, như một dòng sống lớn hơn mang người phụng sự tiến lên. Đây là một bình luận thực hành quan trọng của Thầy: không chỉ hiểu chữ nghĩa mà phải để nhịp sống ashram và dòng lực của Sự Sống phổ quát nâng mình đi.

Công thức cổ, âm điệu tuyển chọn và hiệu quả nghi lễ xưa

Thầy MDR chú ý đến chi tiết rằng các lời này từng được xướng lên theo những công thức cổ trên các âm điệu đặc biệt được tuyển chọn, và mỗi âm điệu đều có ý nghĩa cùng khuynh hướng riêng. Theo lời bình của Thầy, điều này cho thấy âm thanh, cao độ và rung động là yếu tố huyền bí học thực sự, chứ không chỉ là phần phụ của nghi lễ. Thầy cũng nhắc rằng các công thức ấy từng tạo ra kết quả rõ rệt trong những nghi lễ cổ xưa, dù các nghi lễ đó nay đã mai một.

Liên hệ với Atlantis, Cổ Luận và trang 285 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới

Thầy MDR nói công thức Atlantis cổ này còn xưa hơn cả các bài kệ của Giáo Lý Bí Nhiệm, và cá nhân Thầy luôn kết hợp nó với đoạn ở trang 285 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, quyển 2, với chuỗi khẳng định như “Thượng đế LÀ, Thời gian LÀ, Hợp nhất LÀ, Không gian LÀ”. Thầy thành thật nhận rằng mình chưa nắm trọn vẹn toàn bộ chiều sâu của công thức, nhưng đã nắm được một phần và vẫn tiếp tục suy ngẫm. Bình luận này cho thấy phương pháp của Thầy MDR là nối kết các nguồn giáo huấn khác nhau để đào sâu một công thức duy nhất.

Khuyến khích học thuộc, suy gẫm sâu và vượt tình trạng bị trói buộc

Ở cuối buổi, Thầy MDR khuyên người nghe nên học thuộc đoạn mantram này, vì đó là điều rất hữu ích, nhất là trong những trạng thái “bị trói buộc” hay nô lệ nội tâm. Thầy liên kết nó với ba câu cuối trước đó về lựa chọn của trái tim, nỗi đau được ca lên, công việc đã hoàn tất, rồi dẫn vào câu “tiếng nói của Thượng đế ngân vang rõ ràng” và toàn bộ khổ cuối “Bị cuốn đi bởi Sự Sống phổ quát…”. Thầy MDR nhận xét đây là chất liệu để ngồi trong “đền thờ”, với sổ tay trước mặt, suy tư ngày càng sâu hơn vào sự chứng ngộ.

Cái Một và cái nhiều phải được thấy đồng thời

Thầy MDR kết thúc bằng một nhận định triết học quan trọng: người đệ tử phải thấy cái Một và cái nhiều cùng một lúc, vì cả hai đều cần thiết. Thầy lưu ý không được giả định cái nhiều độc lập với cái Một; cái nhiều phát sinh từ cái Một, cái Một thắng thế và cái nhiều xuất hiện trong biểu lộ. Đồng thời, Thầy thêm một suy luận tinh tế rằng cũng không thể hoàn toàn nói “nếu không có cái nhiều thì không có cái Một”, qua đó cho thấy mối tương quan giữa tổng thể và biểu hiện là một huyền nhiệm cần tiếp tục chiêm ngưỡng.

Text Program 45 – Rule 10.29

[1] 3. Later, the soul and its instrument become so unified and at-one that duality disappears, and the soul knows [Page 386] itself to be all that is, [2] all that has been and all that will be.

[1] 3. Về sau, linh hồn và khí cụ của nó trở nên hợp nhất và đồng nhất đến mức nhị nguyên biến mất, và linh hồn biết [Page 386] chính mình là tất cả những gì đang là, [2] tất cả những gì đã là và tất cả những gì sẽ là.

[3] There is a curious and ancient Atlantean chant which is no longer used [4] but in those far off times was chanted by the initiate who took the third initiation—the consummating initiation of that period. [5] It goes as follows. The translation of the symbols in which it was written necessitates the loss of rhythm and potency.

[3] Có một bài tụng Atlantis cổ xưa và kỳ lạ hiện nay không còn được sử dụng, [4] nhưng trong những thời xa xưa ấy đã được điểm đạo đồ xướng lên khi y nhận lần điểm đạo thứ ba, cuộc điểm đạo hoàn tất của thời kỳ đó. [5] Bài ấy như sau. Việc dịch các biểu tượng trong đó bài ấy được viết tất yếu làm mất đi nhịp điệu và quyền năng.

[6] “I stand between the Heavens and Earth! [7] I vision God; [8] I see the forms God took. I hate them both. [9] Naught do they mean to me, [10] for one I cannot reach, [11] and for the lower of the two [12] I have no longer any love.

[6] “Tôi đứng giữa các Tầng Trời và Đất! [7] Tôi thấy Thượng Đế; [8] Tôi thấy những hình tướng mà Thượng Đế đã khoác lấy. Tôi ghét cả hai. [9] Chẳng điều nào có ý nghĩa đối với tôi, [10] vì một điều tôi không thể đạt tới, [11] còn đối với điều thấp hơn trong hai điều ấy [12] tôi không còn bất kỳ tình yêu nào nữa.

[13] “Torn I am. Space and its Life I cannot know, and so I want it not. Time and its myriad forms I know too well. [14] Pendant I hang betwixt the two, desiring neither.

[13] “Tôi bị giằng xé. Không gian và Sự Sống của nó tôi không thể biết được, nên tôi cũng không mong cầu nó. Thời gian và muôn vàn hình tướng của nó thì tôi biết quá rõ. [14] Tôi treo lơ lửng giữa hai bên, không mong muốn bên nào cả.

[15] “God from high Heaven speaks. There is a change. [16] I hear with ear attentive, [17] and, listening, turn my head. [18] That which is visioned, [19] yet visioning could not reach, [20] is nearer to my heart. Old longings come again, [21] yet die. Old chains with clamour snap. [22] Forward I rush.

[15] “Thượng Đế từ Trời cao phán. Có một sự thay đổi. [16] Tôi lắng nghe bằng đôi tai chăm chú, [17] và trong khi lắng nghe, tôi quay đầu lại. [18] Điều được thấy, [19] nhưng sự thấy không thể với tới, [20] nay đã gần trái tim tôi hơn. Những khát vọng xưa lại trở về, [21] nhưng rồi chết đi. Những xiềng xích cũ vang động và đứt tung.[22] Tôi lao tới phía trước.

[23] “Myriads of voices speak [24] and halt me in my tracks. [25] The thunder of the sounds of earth shuts out the voice of God. [26] I turn me on my forward path, [27] and vision once again the long held joys of earth, and flesh and kin. [28] I lose the vision of eternal things. [29] The voice of God dies out.

[23] “Muôn vàn tiếng nói cất lên [24] và chặn bước chân tôi. [25] Tiếng sấm của những âm thanh từ cõi trần gian át mất tiếng nói của Thượng Đế. [26] Tôi quay lại trên con đường tiến về phía trước của mình, [27] và một lần nữa nhìn thấy những niềm vui của thế gian, của xác thân và của thân thuộc mà tôi đã ôm giữ từ lâu. [28] Tôi đánh mất thị kiến về những điều vĩnh cửu. [29] Tiếng nói của Thượng Đế lịm tắt.

[30] “Torn again am I, but only for a little time. Backward and forward shifts my little self, [31] e’en as a bird soars into heaven and settles back again upon the tree. [32] Yet God, in His high place, outlasts the little bird. Thus do I know that God will victor [33] be and later hold my mind and me in thrall.

[30] “Tôi lại bị giằng xé, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Bản ngã nhỏ bé của tôi dao động tới lui, [31] như con chim bay vút lên trời cao rồi lại đậu xuống cành cây. [32] Thế nhưng Thượng Đế, ở nơi cao cả của Ngài, tồn tại lâu bền hơn con chim nhỏ ấy. Vì thế tôi biết rằng Thượng Đế sẽ chiến thắng [33] và rồi sẽ nắm giữ tâm trí tôi cùng chính tôi trong quyền năng của Ngài.

[34] “Hark to the joyous paean that I chant; [35] the work is done. [36] My ear is deaf to all the calls of earth, [37] except to that small voice of all the hidden souls within the outer forms, [38] for they are as myself; with them I am at-one.

[34] “Hãy lắng nghe khúc tụng ca hoan hỷ mà tôi đang cất lên; [35] công việc đã hoàn tất. [36] Tai tôi nay điếc trước mọi tiếng gọi của trần gian, [37] ngoại trừ tiếng nói nhỏ bé của tất cả những linh hồn ẩn tàng bên trong các hình tướng bên ngoài, [38] vì họ cũng như tôi; với họ tôi là một.

[39] “God’s voice rings clear [40] and in its tones and overtones [41] the little voices of the little forms dim and fade out. [42] I dwell within a world of unity. [43] I know all souls are one.

[39] “Tiếng nói của Thượng Đế vang lên rõ ràng, [40] và trong những âm chính cùng các âm bồi của nó, [41] những tiếng nói nhỏ bé của các hình tướng nhỏ bé trở nên mờ nhạt và dần tan biến. [42] Tôi sống trong một thế giới của sự hợp nhất. [43] Tôi biết mọi linh hồn đều là một.

[44] "Swept am I by the universal [45] Life and as I sweep [46] upon [Page 387] my onward way—the way of [47] God—I see all lesser energies die out. [48] I am the One; I, God. [49] I am the form in which all forms are merged. [50] I am the soul in which all souls are fused. [51] I am the Life, and in that Life, all little lives remain."

[44] “Tôi bị cuốn đi bởi Sự Sống Phổ Quát, [45] và khi tôi tiến bước [46] trên con đường đi tới của mình — Con Đường của Thượng Đế — [47] tôi thấy mọi năng lượng thấp kém hơn đều tắt lịm. [48] Tôi là Đấng Duy Nhất; tôi, Thượng Đế. [49] Tôi là hình tướng trong đó mọi hình tướng được hợp nhất. [50] Tôi là linh hồn trong đó mọi linh hồn được dung hợp. [51] Tôi là Sự Sống, và trong Sự Sống ấy, mọi sự sống nhỏ bé đều tồn tại.”

[52] These words, chanted in the ancient formulas on peculiar and selected notes, [53] were most potent and brought definite results in certain ancient ceremonies that have long since died out.

[52] Những lời này, khi được xướng tụng theo các công thức cổ xưa trên những âm điệu đặc biệt và được tuyển chọn, [53] có năng lực hết sức mạnh mẽ và đã mang lại những kết quả xác định trong một số nghi lễ cổ đại từ lâu đã không còn tồn tại nữa.