Trích nội dung chương
Good evening, everybody. This is Michael. I'm working here on a A Treatise on White Magic video commentary. We're on number 45 in Rules for the Astral Plane. This means that when we have completed this, we will have done 95 programs on A Treatise on White Magic. We're about two-thirds through the book. Chào buổi tối tất cả mọi người. Tôi là Michael. Tôi đang thực hiện ở đây một bài bình giảng video về Luận về Chánh Thuật. Chúng ta đang ở số 45 trong Các Quy Luật cho cõi cảm dục. Điều này có nghĩa là khi hoàn tất phần này, chúng ta sẽ thực hiện được 95 chương trình về Luận về Chánh Thuật. Chúng ta đã đi được khoảng hai phần ba quyển sách.
Program-45-Rule-X-10.29
Good evening, everybody. This is Michael. I'm working here on a A Treatise on White Magic video commentary. We're on number 45 in Rules for the Astral Plane. This means that when we have completed this, we will have done 95 programs on A Treatise on White Magic. We're about two-thirds through the book.
Chào buổi tối tất cả mọi người. Tôi là Michael. Tôi đang thực hiện ở đây một bài bình giảng video về Luận về Chánh Thuật. Chúng ta đang ở số 45 trong Các Quy Luật cho cõi cảm dục. Điều này có nghĩa là khi hoàn tất phần này, chúng ta sẽ thực hiện được 95 chương trình về Luận về Chánh Thuật. Chúng ta đã đi được khoảng hai phần ba quyển sách.
In our last commentary, we talked about the use of the mind. Three clear statements will sum up the work of the disciple as He struggles to master the energies of the mental world: work on the mental plane produces the realization of duality. The duality which must be noticed is between the higher and the lower pairs of opposites. The mind begins to record two types of energy or two types of manifestation of the One Life. It records and interprets the world of phenomena and the world of souls. It's sensitive to the three worlds of human evolution, but also equally sensitive to the kingdom of the soul. This is a dual recognition. Earlier types of dualities may occur on the horizontal level, but there comes a time when the higher and lower of the pairs of opposites are really recognized.
Trong bài bình giảng trước, chúng ta đã nói về việc sử dụng thể trí. Ba phát biểu rõ ràng sẽ tóm lược công việc của người đệ tử khi y nỗ lực làm chủ các năng lượng của thế giới trí tuệ: công việc trên cõi trí tạo ra sự nhận biết về nhị nguyên. Nhị nguyên cần được nhận ra là giữa các cặp đối lập cao và thấp. Thể trí bắt đầu ghi nhận hai loại năng lượng hoặc hai loại biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất. Nó ghi nhận và diễn giải thế giới hiện tượng và thế giới của các linh hồn. Nó nhạy cảm với ba cõi giới của tiến hoá nhân loại, nhưng cũng nhạy cảm không kém với giới của linh hồn. Đây là một sự nhận biết kép. Những loại nhị nguyên trước đó có thể xảy ra trên cấp độ ngang, nhưng rồi sẽ đến lúc phần cao và phần thấp của các cặp đối lập được thật sự nhận ra.
Then finally, unity supervenes.
Rồi cuối cùng, sự hợp nhất xuất hiện.
[1] 3. Later, the soul and its instrument become so unified and at-one that duality disappears, and the soul knows [Page 386] itself to be all that is,
[1] 3. Về sau, linh hồn và khí cụ của nó trở nên hợp nhất và đồng nhất đến mức nhị nguyên biến mất, và linh hồn biết [Page 386] chính mình là tất cả những gì đang là,
I usually use the word soul to represent the consciousness of the Being,
Tôi thường dùng từ linh hồn để biểu thị tâm thức của Hữu Thể,
[2] all that has been and all that will be.
[2] tất cả những gì đã là và tất cả những gì sẽ là.
That is a very important realization: the Being that is, is what we are, essentially. It's the only thing that ever has been and ever will be. All things, all perceptions, all emanations of this one being share the one beingness and identification or identity as that One Being. We work from differentiation to Unity and finally to a Oneness, which cannot be gainsayed. You can't say anything against it because it is so immediately obvious and it is the greatest of all perceptions or identificatory realizations.
Đó là một nhận thức rất quan trọng: Hữu Thể đang hiện hữu chính là điều chúng ta là, xét về bản chất. Đó là điều duy nhất đã từng hiện hữu và sẽ mãi hiện hữu. Mọi sự, mọi tri nhận, mọi xuất lộ của một Hữu Thể duy nhất này đều chia sẻ cùng một bản thể duy nhất và sự đồng hoá hay bản sắc như Hữu Thể Duy Nhất ấy. Chúng ta đi từ biến phân đến Hợp Nhất, và cuối cùng đến một Tính Duy Nhất không thể bị phủ nhận. Bạn không thể nói điều gì chống lại nó, bởi nó hiển nhiên ngay tức khắc, và đó là tri nhận lớn lao nhất trong mọi tri nhận, hay là sự nhận biết mang tính đồng nhất hóa lớn lao nhất.
That's where we were with the last discussion. Now we're gearing up here to see something that is quite amazing. It's one of my favorite sections in the Tibetan's writing. It's very old, millions of years old. If you give the chronology of the Tibetan, Theosophy, and the Tibetan's statements credence,
Đó là nơi chúng ta đã dừng lại trong cuộc thảo luận trước. Bây giờ chúng ta đang chuẩn bị để thấy một điều khá kỳ diệu. Đây là một trong những đoạn tôi yêu thích nhất trong trước tác của Chân sư Tây Tạng. Nó rất cổ xưa, hàng triệu năm tuổi. Nếu bạn tin vào niên đại của Chân sư Tây Tạng, Thông Thiên Học, và những phát biểu của Chân sư Tây Tạng,
[3] There is a curious and ancient Atlantean chant which is no longer used
[3] Có một bài tụng Atlantis cổ xưa và kỳ lạ hiện nay không còn được sử dụng,
At least not in the way it was used. Many things have fallen away from our understanding. The manner in which words were pronounced, the notes upon which they were pronounced, a lot of the technicalities have fallen away. I wonder if I can make this all a little bigger. I memorized this chant and it fades in and out, but it has been an important addition to my perception of the spiritual realities of life.
Ít nhất là không theo cách nó đã từng được sử dụng. Nhiều điều đã rơi khỏi sự thấu hiểu của chúng ta. Cách các từ được phát âm, những âm điệu trên đó chúng được phát âm, rất nhiều chi tiết kỹ thuật đã mất đi. Tôi tự hỏi liệu tôi có thể làm cho tất cả phần này lớn hơn một chút không. Tôi đã học thuộc bài tụng này, và nó lúc hiện lúc mờ, nhưng nó đã là một bổ sung quan trọng cho tri nhận của tôi về các thực tại tinh thần của sự sống.
[4] but in those far off times was chanted by the initiate who took the third initiation—the consummating initiation of that period.
[4] nhưng trong những thời xa xưa ấy đã được điểm đạo đồ xướng lên khi y nhận lần điểm đạo thứ ba, cuộc điểm đạo hoàn tất của thời kỳ đó.
Before the fourth initiation was allowed in Atlantis.
Trước khi lần điểm đạo thứ tư được cho phép ở Atlantis.
[5] It goes as follows. The translation of the symbols in which it was written necessitates the loss of rhythm and potency.
[5] Bài ấy như sau. Việc dịch các biểu tượng trong đó bài ấy được viết tất yếu làm mất đi nhịp điệu và quyền năng.
At least we have meaning. These things will come back and they will come back with their true pitches, true notes, true rhythm, true accents. Then we will have some very powerful possibilities.
Ít nhất chúng ta còn có ý nghĩa. Những điều này sẽ trở lại, và chúng sẽ trở lại với đúng cao độ, đúng âm điệu, đúng nhịp điệu, đúng trọng âm của chúng. Khi đó chúng ta sẽ có một số khả năng rất mạnh mẽ.
Let me read it straight through. I may have done this already in some of my other broadcasts, perhaps from Esoteric Psychology too. I found this ancient Atlantean chant in two places: in Discipleship in the New Age, Volume 1 and in A Treatise on White Magic.
Để tôi đọc thẳng một lượt. Có thể tôi đã làm điều này trong vài buổi phát sóng khác của tôi, có lẽ cũng từ Tâm Lý Học Nội Môn. Tôi tìm thấy bài tụng Atlantis cổ xưa này ở hai nơi: trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập 1 và trong Luận về Chánh Thuật.
Of course, there are so many people that think it is pure fancy, invention, imagination that Atlantis ever existed or Lemuria or those ancient civilizations which were elevated. For them, there is only caveman, gradually developing agricultural man, gradually civilizing human being until we have what we have now, which is considered to be the acme of human development. But those of us who study the Ageless Wisdom do not believe that we at this time represent the acme of human development.
Dĩ nhiên, có rất nhiều người nghĩ rằng việc Atlantis từng tồn tại, hay Lemuria, hay những nền văn minh cổ xưa cao cả ấy, chỉ là tưởng tượng thuần túy, bịa đặt, sản phẩm của sự tưởng tượng. Đối với họ, chỉ có người hang động, rồi con người nông nghiệp dần dần phát triển, rồi con người dần dần văn minh hóa cho đến khi chúng ta có những gì hiện nay, vốn được xem là đỉnh cao của sự phát triển nhân loại. Nhưng những ai trong chúng ta nghiên cứu Minh Triết Ngàn Đời không tin rằng vào lúc này chúng ta đại diện cho đỉnh cao của sự phát triển nhân loại.
Greater developments than we have achieved have been achieved by those who went before us, and there's been periodical falls and rebuilding and again falls. It's represented more as a wave than a steady ascent.
Những phát triển lớn lao hơn những gì chúng ta đã đạt được đã từng được những người đi trước chúng ta đạt tới, và đã có những lần sa ngã định kỳ rồi xây dựng lại, rồi lại sa ngã. Điều đó được biểu thị như một làn sóng hơn là một sự đi lên đều đặn.
I stand between the Heavens and Earth! I vision God; I see the forms God took. I hate them both. Naught do they mean to me, for one I cannot reach, and for the lower of the two I have no longer any love.
Tôi đứng giữa các Cõi Trời và Đất! Tôi nhìn thấy linh ảnh Thượng đế; tôi thấy những hình tướng Thượng đế đã khoác lấy. Tôi ghét cả hai. Chúng chẳng có nghĩa gì đối với tôi, vì một bên tôi không thể vươn tới, còn bên thấp hơn trong hai bên thì tôi không còn chút yêu mến nào nữa.
Torn I am. Space and its Life I cannot know, and so I want it not. Time and its myriad forms I know too well. Pendant I hang betwixt the two, desiring neither.
Tôi bị giằng xé. Không gian và Sự Sống của nó, tôi không thể biết, nên tôi không muốn nó. Thời gian và vô số hình tướng của nó, tôi biết quá rõ. Tôi treo lơ lửng giữa hai bên, chẳng ham muốn bên nào.
God from high Heaven speaks. There is a change. I hear with ear attentive, and, listening, turn my head. That which is visioned, yet visioning could not reach, is nearer to my heart. Old longings come again, yet die. Old chains with clamour snap. Forward I rush.
Thượng đế từ Cõi Trời cao phán. Có một sự đổi thay. Tôi nghe bằng tai chăm chú, và khi lắng nghe, tôi quay đầu. Điều được nhìn thấy, nhưng việc nhìn thấy vẫn không thể vươn tới, nay gần trái tim tôi hơn. Những khát khao xưa lại đến, nhưng rồi chết đi. Những xiềng xích cũ vỡ tung ồn vang. Tôi lao về phía trước.
Myriads of voices speak and halt me in my tracks. The thunder of the sounds of earth shuts out the voice of God. I turn me on my forward path, and vision once again the long held joys of earth, and flesh and kin. I lose the vision of eternal things. The voice of God dies out.
Vô số tiếng nói cất lên và chặn tôi lại trên bước đường. Tiếng sấm của các âm thanh trần thế che lấp tiếng nói của Thượng đế. Tôi quay lại trên con đường tiến tới của mình, và một lần nữa linh thị những niềm vui trần thế, xác thịt và thân quyến từng được giữ chặt lâu dài. Tôi mất linh ảnh về những điều vĩnh cửu. Tiếng nói của Thượng đế tắt dần.
Torn again am I, but only for a little time. Backward and forward shifts my little self, e’en as a bird soars into heaven and settles back again upon the tree. Yet God, in His high place, outlasts the little bird. Thus do I know that God will victor be and later hold my mind and me in thrall.
Một lần nữa tôi bị giằng xé, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Cái ngã nhỏ bé của tôi chuyển dịch tới lui, như một con chim vút lên trời rồi lại đậu xuống cây. Nhưng Thượng đế, nơi chốn cao của Ngài, tồn tại lâu hơn con chim nhỏ ấy. Vì vậy tôi biết rằng Thượng đế sẽ là Đấng chiến thắng và về sau sẽ giữ thể trí tôi cùng chính tôi trong sự chế ngự của Ngài.
Hark to the joyous paean that I chant; the work is done. My ear is deaf to all the calls of earth, except to that small voice of all the hidden souls within the outer forms, for they are as myself; with them I am at-one.
Hãy lắng nghe khúc ca hoan hỉ tôi xướng lên; công việc đã hoàn tất. Tai tôi điếc trước mọi tiếng gọi của trần thế, ngoại trừ tiếng nói nhỏ bé kia của tất cả các linh hồn ẩn tàng bên trong những hình tướng bên ngoài, vì họ cũng như tôi; với họ, tôi hiệp nhất.
God’s voice rings clear and in its tones and overtones the little voices of the little forms dim and fade out. I dwell within a world of unity. I know all souls are one.
Tiếng nói của Thượng đế vang lên trong trẻo, và trong các âm điệu cùng bồi âm của nó, những tiếng nói nhỏ bé của các hình tướng nhỏ bé mờ dần rồi tắt hẳn. Tôi an trú trong một thế giới hợp nhất. Tôi biết mọi linh hồn là một.