Tóm lược chương
Việc buông thể nguyên nhân dẫn từ cảm giác mất chỗ nương tựa đến xác nhận bản thể tinh thần và khả năng ban phúc cho nhân loại. Sự rút lui của Cung sáu và đi vào của Cung bảy đòi hỏi các vận cụ mềm dẻo trước rung động mới. Những liên hệ với Bacon, các mốc chu kỳ và Chân Thần Cung sáu được nêu theo hồi tưởng và cách hiểu của Thầy MDR, không biến sự cứng nhắc thành thuộc tính bắt buộc của mọi người thuộc một Cung. Đáp ứng các Đấng Cao Cả khác với đáp ứng những phản ảnh cảm dục có thể tâng bốc người tiếp nhận. Học hỏi, tư duy trừu tượng hoặc bằng con số và sử dụng antahkarana giúp nhận ra cấu trúc đằng sau hình tướng. Yêu mọi sự đang thở, kể…
- Giải thoát khỏi hình tướng và đáp ứng thời đại mới
- Mở rộng thể trí và yêu thương không chọn lọc
- Các cấp sáng tạo và giới hạn của phép tương đồng
Astral Rule 16
Tóm Tắt
§ Giải thoát khỏi hình tướng và đáp ứng thời đại mới
Việc buông thể nguyên nhân dẫn từ cảm giác mất chỗ nương tựa đến xác nhận bản thể tinh thần và khả năng ban phúc cho nhân loại. Sự rút lui của Cung sáu và đi vào của Cung bảy đòi hỏi các vận cụ mềm dẻo trước rung động mới. Những liên hệ với Bacon, các mốc chu kỳ và Chân Thần Cung sáu được nêu theo hồi tưởng và cách hiểu của Thầy MDR, không biến sự cứng nhắc thành thuộc tính bắt buộc của mọi người thuộc một Cung.
§ Mở rộng thể trí và yêu thương không chọn lọc
Đáp ứng các Đấng Cao Cả khác với đáp ứng những phản ảnh cảm dục có thể tâng bốc người tiếp nhận. Học hỏi, tư duy trừu tượng hoặc bằng con số và sử dụng antahkarana giúp nhận ra cấu trúc đằng sau hình tướng. Yêu mọi sự đang thở, kể cả bản chất bên trong của điều đe dọa mình, tạo tính mềm dẻo của thể cảm dục và khả năng đáp ứng rung động của Đức Christ thay vì chỉ mong Ngài lặp lại hình ảnh quá khứ.
§ Các cấp sáng tạo và giới hạn của phép tương đồng
Quá trình xây hình tướng được áp dụng từ con người đến linh hồn, các Đấng hành tinh và thái dương, nhưng phạm vi ở mỗi cấp rất khác nhau. Việc linh hồn kiến tạo vận cụ lúc đầu vô thức rồi hữu thức được nối với câu hỏi về mức tham gia của Thái dương Thiên Thần và cánh hoa thứ năm. Định luật Tương Đồng và Tương Ứng giúp suy xét những điều chưa biết, song tri thức vẫn cần liên hệ với nhiệm vụ và hoàn cảnh thực tế của người học.
§ Mục đích được chứng ngộ và sự sáng tạo hữu thức
Con người liên tục tạo hình tư tưởng, nhiều khi không biết mình đang làm vậy. Tính thích hợp của hình tướng và sức sống thực hiện công việc tùy độ rõ của tầm nhìn và chiều sâu của mục đích đã thực sự được chứng ngộ. Người học cần phân biệt việc có một mục tiêu chủ quan với việc đã hiểu chính xác mục tiêu linh hồn muốn biểu hiện.
§ Tư tưởng tập trung nhanh và hành động có cân nhắc
Thay vì ít suy nghĩ rồi lao ngay vào việc, mục tiêu là tư tưởng nhanh, tập trung và hành động chậm nhưng mạnh, không chần chừ hay lãng phí chuyển động. Điều này được liên hệ với phương pháp Cung hai, trong khi Cung ba cần chú ý tránh hoạt động thừa và Bạch Dương cần tránh “bắn trước, nhắm sau”. Khi ý tưởng rõ, chú ý ổn định và năng lượng được duy trì đúng, sự biểu hiện có thể chắc chắn hơn những lần làm việc theo may rủi.
§ Tả đạo và sự phát triển chỉ của phương diện vật chất
Đặc điểm quyết định của tả đạo là hình tướng được nuôi dưỡng mà thiếu đóng góp của tình thương linh hồn. Sự phát triển chất liệu và kỹ thuật không tự nó sai; nó trở thành chướng ngại khi chỉ nhằm duy trì hình tướng thay vì phục vụ phương diện linh hồn trong hệ thống hiện tại. Quan hệ giữa nền tảng Cung ba và biểu hiện Cung hai giúp làm rõ vì sao tiến bộ của vật chất cần được đặt trong động cơ cao hơn.
§ Mục đích làm rõ sự khác nhau giữa hai con đường
Các hình tướng và người sử dụng chúng có thể giống nhau đến một mức nào đó; sự khác biệt chỉ rõ khi động cơ và mục đích biểu hiện. Bình giảng dùng ví dụ một công cụ có thể được sử dụng để đe dọa hoặc bảo vệ tự do, và các giai thoại về việc giữ tuổi trẻ để minh họa tính ích kỷ bám giữ hình tướng. Những nhận định về các cấp điểm đạo của người đi hai con đường vẫn được giữ là luận giải của Thầy MDR.
§ Bốn yêu cầu của công việc huyền linh
Công việc chân chính bắt đầu bằng tiếp xúc Thiên Cơ, dục vọng đúng để hợp tác, xây hình tư tưởng trên cõi trí và điều khiển nó từ đó theo hướng đúng. Hiểu biết về Thiên Cơ đặt trách nhiệm lên người tiếp nhận cả trong lời nói lẫn tư tưởng. Hình tư tưởng đủ sức sống có thể có chu kỳ riêng và thực hiện công việc của nó, nhưng người tạo vẫn phải giữ hướng chú ý vào nhiệm vụ cụ thể.
§ Không để sản phẩm sáng tạo chi phối người tạo
Đồng nhất quá mức với tổ chức, sách, tác phẩm nghệ thuật hay công trình đời mình có thể gây hao kiệt và làm mục đích bị chính hình tướng thay thế. Người sáng tạo cần giữ vai trò chỉ đạo từ cõi trí thay vì chìm trong hoạt động và sự mong muốn biểu hiện. Khi hình tướng phục vụ lý tưởng tinh thần và nhấn mạnh phương diện sự sống, nó thuộc chánh thuật, đưa nhân loại từ vật chất đến tâm thức đồng thời cứu chuộc vật chất.
§ Chất liệu vật chất và mục đích
Câu trả lời của Chân sư về hai con đường dẫn tới việc phân biệt vật chất, chất liệu và Thiên Ý. Thầy MDR đề xuất xem các cõi thấp như vật chất thừa hưởng, còn các dĩ thái vũ trụ như chất liệu cần hòa với mục đích; đây là cách hiểu được nêu để tiếp tục suy ngẫm. Antahkarana mở con đường vượt những giới hạn của tâm thức trong thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế, trong khi những giả thuyết về hắc thuật vũ trụ vẫn giữ mức chưa chắc của nguồn.
Text – Văn bản
[1] Conscious then only of the innate Divine Spirit, conscious only of the Truth of the Godhead, realizing profoundly and to the depths of his being the ephemeral nature of the form and of all forms, standing alone in the vortex of initiatory rites, bereft of all on which he may have leant (be it friend, Master, doctrine or environment), well may the Initiate cry out: “I am that I am, and there is naught else.” [2] Well may he then figuratively place his hand in that of his Father in Heaven, and hold the other out in blessing on the world of men, for only the hands that have let slip all within the three worlds are free to carry the ultimate blessing to struggling humanity. [3] Then he builds for himself a form such as he desires, —a new form that is no longer subject to shattering, but suffices for his need, to be discarded or used as occasion warrants.
[1] Bấy giờ, chỉ còn ý thức về Tinh Thần Thiêng Liêng nội tại, chỉ còn ý thức về Chân Lý của Thượng Đế, nhận biết sâu xa đến tận đáy bản thể mình bản chất phù du của hình tướng và của mọi hình tướng, đứng một mình giữa xoáy lốc của các nghi thức điểm đạo, mất hết mọi chỗ từng nương tựa (dù là bạn hữu, Chân sư, giáo lý hay hoàn cảnh), điểm đạo đồ hoàn toàn có thể thốt lên: “Ta là chính Ta, và không còn gì khác.” [2] Khi ấy, theo nghĩa biểu tượng, y hoàn toàn có thể đặt một bàn tay mình vào tay Cha trên Trời, và đưa bàn tay kia ra ban phước cho thế giới loài người, vì chỉ những bàn tay đã buông bỏ tất cả trong ba cõi giới mới tự do mang ân phước tối hậu đến cho nhân loại đang phấn đấu. [3] Rồi y xây dựng cho mình một hình tướng như y mong muốn—một hình tướng mới không còn phải chịu sự tan vỡ, nhưng đáp ứng đủ nhu cầu của y, để bỏ đi hay sử dụng tùy hoàn cảnh đòi hỏi.
[4] In these days you will need to ponder on this matter of the form, for with the entering in of a new ray, and the commencement of a new era comes ever a period of much disruption until the forms that be have adapted themselves to the newer vibration. [5] In that adaptation those who have cultivated pliability and adaptability, or who have that for their personality ray, [6] progress with less disruption than those more crystallized and fixed.
[4] Trong những ngày này, các bạn cần suy ngẫm về vấn đề hình tướng này, vì khi một cung mới đi vào hoạt động và một kỷ nguyên mới bắt đầu, bao giờ cũng có một thời kỳ xáo trộn lớn, cho đến khi các hình tướng hiện hữu thích nghi với rung động mới hơn. [5] Trong sự thích nghi ấy, những ai đã vun bồi tính mềm dẻo và khả năng thích nghi, hoặc có cung ấy làm cung phàm ngã, [6] sẽ tiến bước với ít xáo trộn hơn những người đã kết tinh và cố định hơn.
[7] Particularly now should pliability and responsiveness of form be aimed at, for when He Whom we all adore comes, [8] think you His vibration will not cause disruption if crystallization is present? [9] It was so before; it will be so again.
[7] Đặc biệt lúc này, cần hướng đến tính mềm dẻo và khả năng đáp ứng của hình tướng, vì khi Đấng mà tất cả chúng ta tôn thờ đến, [8] các bạn nghĩ rằng rung động của Ngài sẽ không gây xáo trộn nếu có sự kết tinh hay sao? [9] Trước kia đã như thế; rồi sẽ lại như thế.
[10] Cultivate responsiveness to the Great Ones, aim at mental expansion and keep learning. [11] Think whenever possible in terms abstract or numerical, [12] and by loving all, work at the plasticity of the astral body. [13] In love of all that breathes comes capacity to vibrate universally, and in that astral pliability will come responsiveness to the vibration of the Great Lord.
[10] Hãy vun bồi khả năng đáp ứng với Các Đấng Cao Cả, hướng đến việc mở rộng trí tuệ và không ngừng học hỏi. [11] Bất cứ khi nào có thể, hãy tư duy bằng những khái niệm trừu tượng hoặc số học, [12] và bằng tình thương dành cho tất cả, hãy rèn luyện tính uyển chuyển của thể cảm dục. [13] Tình thương dành cho mọi loài đang thở mang lại khả năng rung động hòa cùng vạn vật, và trong tính mềm dẻo cảm dục ấy sẽ nảy sinh khả năng đáp ứng với rung động của Chúa Tể Vĩ Đại.
[14] This summation of process and of the forms is [15] equally true of God and His cosmic creative work; of the soul, as it builds its instrument for expression, either unconsciously in the early stages or consciously in the later; of the disciple, as he seeks to express his realization of the work through group work and the organization of his life; and of perfected man, as he learns, through experience, to centre his forces on the mental plane and from there accomplish his purpose in generating and producing those thought-forms which mould the minds of men, and embody in themselves that aspect of the Universal Mind which is needed for the right production of that immediate fraction of the Plan which his age and generation require.
[14] Phần tổng kết này về tiến trình và các hình tướng [15] đều đúng như nhau đối với Thượng đế và công việc sáng tạo vũ trụ của Ngài; đối với linh hồn khi xây dựng công cụ biểu lộ của mình, dù một cách vô thức trong những giai đoạn đầu hay hữu thức trong những giai đoạn sau; đối với đệ tử khi tìm cách biểu lộ sự nhận biết của mình về công việc thông qua công việc nhóm và việc tổ chức đời sống; và đối với con người đã hoàn thiện khi qua kinh nghiệm, y học cách tập trung các mãnh lực của mình trên cõi trí, rồi từ đó hoàn thành mục đích bằng cách tạo sinh và sản sinh những hình tư tưởng định hình thể trí con người, đồng thời thể hiện trong chính chúng phương diện của Vũ Trụ Trí cần thiết để thực hiện đúng đắn phần Thiên Cơ trước mắt mà thời đại và thế hệ của y đòi hỏi.
[16] All these various applications of the rule could be elucidated and enlarged upon. [17] Our problem, however, must be kept clearly in mind. [18] We are conscious souls, or in process of becoming conscious. [19] We are beginning, through our meditation work and our application to study, to work on mental levels. [20] We are creating forms continuously, pervading them with energy and sending them out to fulfill their function in line with our realized subjective purpose.
[16] Có thể làm sáng tỏ và trình bày rộng hơn tất cả những cách áp dụng khác nhau này của quy luật. [17] Tuy nhiên, chúng ta phải luôn ghi nhớ rõ vấn đề của mình. [18] Chúng ta là những linh hồn hữu thức, hoặc đang trong tiến trình trở nên hữu thức. [19] Thông qua công việc tham thiền và sự chuyên tâm nghiên cứu, chúng ta đang bắt đầu hoạt động trên các cấp độ trí tuệ. [20] Chúng ta liên tục tạo ra các hình tướng, thấm nhuần chúng bằng năng lượng và gửi chúng đi thực hiện chức năng phù hợp với mục đích chủ quan mà chúng ta đã nhận biết.
[21] The emphasis should be laid upon the word realized in the above paragraph. [22] According to the clarity of vision and the depth of the inner realization so will be the adequacy of the created form, and so will be the strength of the life which will enable it to perform its intended function.
[21] Cần nhấn mạnh từ nhận biết trong đoạn trên. [22] Hình tướng được tạo ra sẽ thích đáng đến đâu tùy vào độ sáng rõ của tầm nhìn và chiều sâu của sự nhận biết bên trong; sức mạnh của sự sống giúp nó thực hiện chức năng dự định cũng tùy thuộc vào đó.
[23] Up to the present time the majority of aspirants in the world express the results of little and weak thought, but rapid action. [24] The goal for students should at this time be rapid concentrated thought and slow action. [25] That slow action however will be potent in result; there will be no lost motion, [26] no delayed reactions, and no tendency towards hesitation. [27] The attention of the thinker being focussed on the mental plane, the progress of his manifested thought will be sure and inevitable. [28] When the idea is clearly grasped, the attention closely focussed, and the energy or life aspect steadily applied, the result will be irresistible appearance and potent action on the physical plane.
[23] Cho đến nay, đa số người chí nguyện trên thế giới biểu lộ những kết quả của việc suy nghĩ ít ỏi và yếu ớt, nhưng hành động nhanh chóng. [24] Lúc này, mục tiêu của các đạo sinh phải là tư duy nhanh chóng, tập trung và hành động chậm rãi. [25] Tuy nhiên, hành động chậm rãi ấy sẽ mang lại kết quả mạnh mẽ; sẽ không có động tác thừa, [26] không có phản ứng chậm trễ, cũng không có khuynh hướng do dự. [27] Khi người tư tưởng tập trung sự chú ý trên cõi trí, tư tưởng đang biểu hiện của y sẽ tiến triển chắc chắn và tất yếu. [28] Khi ý tưởng được nắm bắt rõ ràng, sự chú ý tập trung chặt chẽ, và năng lượng hay phương diện sự sống được vận dụng đều đặn, kết quả sẽ là sự xuất hiện không gì ngăn cản được và hành động mạnh mẽ trên cõi hồng trần.
[29] This thought must be borne in mind if the dangers of the left hand path are to be avoided. Let me here make some statements in brief tabulated form, which will produce a truer understanding of the words “left hand path”. We are dealing here primarily with those thought-forms which man creates:
[29] Phải ghi nhớ tư tưởng này nếu muốn tránh những nguy hiểm của tả đạo. Ở đây, Tôi xin đưa ra một số phát biểu dưới dạng liệt kê ngắn gọn, giúp thấu hiểu đúng hơn ý nghĩa của những từ “tả đạo”. Ở đây, chúng ta chủ yếu bàn đến những hình tư tưởng do con người tạo ra:
[30] 1. The left hand path concerns the matter aspect and the life poured into the form serves only to vitalize the atoms in substance. The potency of the love aspect—as wielded by the soul—is lacking.
[30] 1. Tả đạo liên quan đến phương diện vật chất, và sự sống tuôn vào hình tướng chỉ nhằm tiếp sinh lực cho các nguyên tử trong chất liệu. Nó thiếu sức mạnh của phương diện bác ái—do linh hồn vận dụng.
[31] 2. The form created is constituted of mental matter, of astral matter and of physical substance. It lacks the soul contribution. Its purpose is in line with the development of form, but not in line with soul expression.
[31] 2. Hình tướng được tạo ra cấu thành từ vật chất trí tuệ, vật chất cảm dục và chất liệu hồng trần. Nó thiếu sự đóng góp của linh hồn. Mục đích của nó phù hợp với sự phát triển hình tướng, nhưng không phù hợp với sự biểu lộ của linh hồn.
[32] 3. The left hand path, therefore, is the path of progress for substance or matter. [33] It is not the path of progress for the soul aspect. [34] It is the “way of the Holy Ghost” but not the way of the Son of God. [35] I express this truth in these words as it serves peculiarly to make the distinction clear and yet preserves the integrity of substance-matter and their Unity within the One Life.
[32] 3. Vì vậy, tả đạo là con đường tiến bộ của chất liệu hay vật chất. [33] Đó không phải là con đường tiến bộ của phương diện linh hồn. [34] Đó là “con đường của Chúa Thánh Thần” nhưng không phải con đường của Con của Thượng đế. [35] Tôi diễn đạt chân lý này bằng những lời ấy vì cách nói này đặc biệt giúp làm rõ sự phân biệt, đồng thời vẫn bảo toàn tính toàn vẹn của chất liệu-vật chất và sự Hợp Nhất của chúng trong Sự Sống Duy Nhất.
[36] 4. All forms created at every stage are either confined to the left hand path or embrace it and yet go beyond it, and follow the right hand way. [37] This sentence provides food for thought and its meaning is difficult to gather. [38] It should be borne in mind that all forms, whether they follow the right or left hand way are alike up to a certain point; [39] they travel the same progressive stages and at one time in their career they appear uniform and alike. [40] Only when their purpose appears does the distinction become apparent, and hence the training of the aspirant in right motive as a preparatory step to true occult work.
[36] 4. Mọi hình tướng được tạo ra ở mọi giai đoạn hoặc chỉ giới hạn trong tả đạo, hoặc bao hàm tả đạo nhưng vượt lên trên nó và đi theo chánh đạo. [37] Câu này chứa đựng nhiều điều đáng suy ngẫm và khó nắm bắt ý nghĩa. [38] Cần ghi nhớ rằng mọi hình tướng, dù đi theo chánh đạo hay tả đạo, đều giống nhau đến một mức độ nhất định; [39] chúng trải qua cùng những giai đoạn tiến triển, và vào một thời điểm trong quá trình tồn tại, chúng có vẻ đồng nhất và giống nhau. [40] Chỉ khi mục đích của chúng xuất hiện thì sự khác biệt mới trở nên rõ ràng; do đó, người chí nguyện cần được rèn luyện về động cơ đúng đắn như một bước chuẩn bị cho công việc huyền bí đích thực.
[41] The question might be asked: What is meant by occult work?
[41] Có thể đặt câu hỏi: Công việc huyền bí có nghĩa là gì?
[42] True occult work involves:
[42] Công việc huyền bí đích thực bao gồm:
[42b] 1. The contacting of the Plan.
[42b] 1. Tiếp xúc với Thiên Cơ.
[43] 2. Right desire to co-operate with the Plan.
[43] 2. Ước muốn đúng đắn nhằm hợp tác với Thiên Cơ.
[44] 3. The work of thought-form building and the confining of the attention of the creator of these thought-forms to the mental plane. [45] This is of so potent a nature that the thought-forms created have a life cycle of their own and never fail to manifest and perform their work.
[44] 3. Công việc xây dựng hình tư tưởng và giữ sự chú ý của người tạo ra những hình tư tưởng ấy trên cõi trí. [45] Việc này có sức mạnh đến mức những hình tư tưởng được tạo ra có chu kỳ sống riêng và luôn biểu hiện, thực hiện công việc của chúng.
[46] 4. The direction of the thought-form from the mental plane and the confining of the attention to that specific enterprise, knowing that right thought and right orientation lead to correct functioning and the sure avoidance of the left hand path.
[46] 4. Điều khiển hình tư tưởng từ cõi trí và giới hạn sự chú ý vào công việc cụ thể ấy, với sự hiểu biết rằng tư tưởng đúng đắn và định hướng đúng đắn dẫn đến hoạt động đúng đắn và bảo đảm tránh được tả đạo.
[47] This is a lesson little appreciated by aspirants. They engage in emotional desire for the appearance of their thought-form and the manifestation of the idea. They spend much time following the orthodox methods of work and in physical plane activities. [48] They wear themselves out by identifying themselves with the form they have created instead of remaining detached from it, and acting solely as the directing agents. [49] Learn to work on the plane of mind. Build there your form, remembering that if you submerge yourself in the form for which you are responsible it may obsess and dominate you and then the form will be the dominant factor and not the purpose of its existence. [50] When the form controls then comes the danger that it may be turned in the wrong direction and find its way on to the left hand path and so increase the power of matter and its hold over sentient souls.
[47] Đây là một bài học mà ít người chí nguyện nhận thức đầy đủ. Họ chìm vào ham muốn cảm xúc mong hình tư tưởng của mình xuất hiện và ý tưởng được biểu hiện. Họ dành nhiều thời gian làm theo những phương pháp làm việc chính thống và tham gia các hoạt động trên cõi hồng trần. [48] Họ làm mình kiệt sức vì đồng hoá với hình tướng mình đã tạo ra, thay vì giữ sự tách rời với nó và chỉ hành động như những tác nhân điều khiển. [49] Hãy học cách làm việc trên cõi trí. Hãy xây dựng hình tướng của các bạn ở đó, và nhớ rằng nếu các bạn đắm chìm trong hình tướng mà mình chịu trách nhiệm, nó có thể ám ảnh và chi phối các bạn; khi ấy, chính hình tướng sẽ là yếu tố chi phối, chứ không phải mục đích tồn tại của nó. [50] Khi hình tướng nắm quyền kiểm soát, nguy cơ xuất hiện: nó có thể bị chuyển sang hướng sai lầm và đi vào tả đạo, qua đó gia tăng quyền lực của vật chất và sự kìm giữ của vật chất đối với các linh hồn có tri giác.
[51] It might be briefly added that anything that tends to increase the power of matter and add to the potent energy of form-substance produces a tendency to the left hand path and a gradual attraction away from the Plan and the Purpose which it veils and hides.
[51] Có thể nói thêm một cách ngắn gọn rằng bất cứ điều gì có xu hướng gia tăng quyền lực của vật chất và tăng thêm năng lượng mạnh mẽ của hình tướng-chất liệu đều tạo ra khuynh hướng đi vào tả đạo và dần dần lôi kéo rời xa Thiên Cơ cùng Thiên Ý mà nó che phủ và giấu kín.
[52] All work and all created thought-forms (whether they materialize as an organization, a religion, a school of thought, a book or a life work of any kind) which express spiritual ideals and lay the emphasis upon the life-aspect come under the category of white magic. [53] They then form part of the stream of life which we call the right hand Path, because it leads humanity out of form into life, and away from matter into consciousness.
[52] Mọi công việc và mọi hình tư tưởng được tạo ra (dù chúng hiện hình thành một tổ chức, một tôn giáo, một trường phái tư tưởng, một cuốn sách hay bất kỳ sự nghiệp trọn đời nào) biểu lộ các lý tưởng tinh thần và nhấn mạnh phương diện sự sống đều thuộc phạm trù chánh thuật. [53] Khi ấy, chúng trở thành một phần của dòng sự sống mà chúng ta gọi là chánh đạo, vì dòng ấy dẫn nhân loại ra khỏi hình tướng để đi vào sự sống, và rời vật chất để đi vào tâm thức.
[54] In an ashram of one of the Great Ones not long ago, a disciple asked his master to express this truth to him in such a way that though the words might be few yet the import would be worthy of continuous consideration. His master made this reply:
[54] Cách đây không lâu, trong ashram của một trong Các Đấng Cao Cả, một đệ tử thỉnh cầu Chân sư của mình diễn đạt chân lý này sao cho dù lời ít, ý nghĩa vẫn đáng để suy ngẫm liên tục. Chân sư của người đệ tử ấy đáp:
[54b] “Only the Sons of Men know the distinction between the magic of the right and left hand ways and when they have achieved, these two ways will disappear. When the Sons of Men know the distinction which exists between matter and substance, the lesson of this epoch will be grasped. [55] Other lessons will be left but this one passes. Matter and substance together work out the way of darkness. Substance and purpose blended indicate the way of light.”
[54b] “Chỉ những người con của nhân loại mới biết sự khác biệt giữa huyền thuật của chánh đạo và tả đạo, và khi họ thành tựu, hai con đường ấy sẽ biến mất. Khi những người con của nhân loại biết sự khác biệt giữa vật chất và chất liệu, họ sẽ nắm được bài học của thời đại này. [55] Những bài học khác sẽ còn lại, nhưng bài học này sẽ qua đi. Vật chất và chất liệu cùng nhau tạo nên con đường bóng tối. Chất liệu hòa quyện với mục đích chỉ ra con đường ánh sáng.”
Commentary Program 16 - Rule IX - 9.4
Hi everybody, and we are continuing now with the Rules for Magic on the Astral Plane. We are in the third such rule, which is Rule Nine. We've done Rules Seven and Eight, and we're in the midst of Rule Nine, and that great and long Rule Ten is coming.
Xin chào tất cả các bạn, giờ đây chúng ta tiếp tục với Các Quy Luật về Huyền Thuật trên Cõi Cảm Dục. Chúng ta đang ở quy luật thứ ba trong số đó, tức Quy luật Chín. Chúng ta đã học Quy luật Bảy và Tám, hiện đang ở giữa Quy luật Chín, và sắp tới là Quy luật Mười quan trọng và dài.
We're at the beginning of commentary program number 16 in these Rules for Magic on the Astral Plane, and we're on page 265. Remember that, for the time being, on Makara you can pick up the first 50 programs, and so here we have another 16 soon.
Chúng ta đang bắt đầu chương trình bình giảng số 16 về Các Quy Luật về Huyền Thuật trên Cõi Cảm Dục, ở trang 265. Hãy nhớ rằng hiện nay các bạn có thể tìm thấy 50 chương trình đầu tiên trên Makara, và sắp tới chúng ta sẽ có thêm 16 chương trình nữa.
He talks about the four forms — the form of the personality, the form of the environment, the form of the devotee, and finally the form of the causal body. And this is a very interesting bridging statement, about what it's like to be utterly bereft of the causal body, that moment of agony, that moment of bitterness, when it becomes necessary to relinquish the masterpiece of many lives, the bitterness of drinking that cup of karma and feeling unutterably bereft. But there is a huge compensation, and, as a sort of bridging paragraph, we will use what he says here.
Ngài nói về bốn hình tướng — hình tướng của phàm ngã, hình tướng của môi trường, hình tướng của người sùng tín, và cuối cùng là hình tướng của thể nguyên nhân. Đây là một nhận định chuyển tiếp rất thú vị, nói về cảm giác khi hoàn toàn mất đi thể nguyên nhân, khoảnh khắc đau đớn ấy, khoảnh khắc cay đắng ấy, khi cần phải từ bỏ kiệt tác của nhiều kiếp sống, nỗi cay đắng khi uống chén nghiệp quả ấy và cảm thấy mất mát không sao diễn tả được. Nhưng có một sự bù đắp vô cùng lớn lao, và như một đoạn chuyển tiếp, chúng ta sẽ dùng những lời Ngài nói ở đây.
[1] Conscious then only of the innate Divine Spirit, conscious only of the Truth of the Godhead, realizing profoundly and to the depths of his being the ephemeral nature of the form and of all forms, standing alone in the vortex of initiatory rites, bereft of all on which he may have leant (be it friend, Master, doctrine or environment), well may the Initiate cry out: "I am that I am, and there is naught else."
[1] Bấy giờ, chỉ còn ý thức về Tinh Thần Thiêng Liêng nội tại, chỉ còn ý thức về Chân Lý của Thượng Đế, nhận biết sâu xa đến tận đáy bản thể mình bản chất phù du của hình tướng và của mọi hình tướng, đứng một mình giữa xoáy lốc của các nghi thức điểm đạo, mất hết mọi chỗ từng nương tựa (dù là bạn hữu, Chân sư, giáo lý hay hoàn cảnh), điểm đạo đồ hoàn toàn có thể thốt lên: “Ta là chính Ta, và không còn gì khác.”
What is the name of God? "I am that I am." It's a bit like the Leo phrase, the mantram, "I am that, and that I am."
Danh của Thượng đế là gì? “Ta là chính Ta.” Câu này hơi giống câu của Sư Tử, mantram: “Ta là Cái Đó, và Cái Đó là Ta.”
[2] Well may he then figuratively place his hand in that of his Father in Heaven, and hold the other out in blessing on the world of men, for only the hands that have let slip all within the three worlds are free to carry the ultimate blessing to struggling humanity.
[2] Khi ấy, theo nghĩa biểu tượng, y hoàn toàn có thể đặt một bàn tay mình vào tay Cha trên Trời, và đưa bàn tay kia ra ban phước cho thế giới loài người, vì chỉ những bàn tay đã buông bỏ tất cả trong ba cõi giới mới tự do mang ân phước tối hậu đến cho nhân loại đang phấn đấu.
I have filled in a few ideas here that you will have from the previous program, and it reminds us, of course, of the idea that the Buddha tells us we must give up the phenomenal world, give up the lower 18 subplanes — although he didn't refer to them in that way — give up the world of phenomena, and perhaps that even includes the causal body, the lower 21 subplanes.
Tôi đã bổ sung ở đây một vài ý tưởng mà các bạn đã có từ chương trình trước, và dĩ nhiên điều này nhắc chúng ta nhớ đến lời Đức Phật dạy rằng chúng ta phải từ bỏ thế giới hiện tượng, từ bỏ 18 cõi phụ thấp — dù Ngài không gọi chúng như vậy — từ bỏ thế giới hiện tượng, và có lẽ điều đó còn bao gồm cả thể nguyên nhân, tức 21 cõi phụ thấp.
[3] Then he builds for himself a form such as he desires, a new form that is no longer subject to shattering, but suffices for his need to be discarded or used as occasion warrants.
[3] Rồi y xây dựng cho mình một hình tướng như y mong muốn—một hình tướng mới không còn phải chịu sự tan vỡ, nhưng đáp ứng đủ nhu cầu của y, để bỏ đi hay sử dụng tùy hoàn cảnh đòi hỏi.
So this takes us to our transition point.
Như vậy, điều này đưa chúng ta đến điểm chuyển tiếp.
We could spend a long time on all of these paragraphs, but I share with you that which occurs to me, and you will have other impressions as you read, and hopefully some of what I share will be useful to you. So he goes on, in this program, 9.4:
Chúng ta có thể dành rất nhiều thời gian cho tất cả những đoạn này, nhưng tôi chia sẻ với các bạn những gì nảy ra trong tôi; khi đọc, các bạn sẽ có những ấn tượng khác, và hy vọng một phần những gì tôi chia sẻ sẽ hữu ích cho các bạn. Trong chương trình 9.4 này, Ngài nói tiếp:
[4] In these days you will need to ponder on this matter of the form, for with the entering in of a new ray and the commencement of a new era comes ever a period of much disruption until the forms that be have adapted themselves to the newer vibration.
[4] Trong những ngày này, các bạn cần suy ngẫm về vấn đề hình tướng này, vì khi một cung mới đi vào hoạt động và một kỷ nguyên mới bắt đầu, bao giờ cũng có một thời kỳ xáo trộn lớn, cho đến khi các hình tướng hiện hữu thích nghi với rung động mới hơn.
Obviously we are in just such a period of disruption, with the sixth ray having begun to pass out since 1625, and due to disappear on that particular ray cycle — the lesser one, a racial ray cycle, we might say — by the year 2125, let us say, and significantly much before that; and the seventh ray having begun to come in since 1685. But really, if you think about Master R, or Sir Francis Bacon, whose life, I think, ended around the year 1616, that seventh ray was very much being presented, at least through his work.
Hiển nhiên, chúng ta đang ở đúng một thời kỳ xáo trộn như vậy, khi cung sáu đã bắt đầu rút đi từ năm 1625, và dự kiến sẽ biến mất trong chu kỳ cung cụ thể ấy — chu kỳ nhỏ hơn, có thể nói là một chu kỳ cung của nhân loại — vào khoảng năm 2125, và suy giảm đáng kể từ rất lâu trước đó; còn cung bảy đã bắt đầu đi vào từ năm 1685. Nhưng thực ra, nếu nghĩ đến Chân sư R., hay Ngài Francis Bacon, mà tôi nghĩ cuộc đời đã kết thúc vào khoảng năm 1616, thì cung bảy đã được thể hiện rất rõ, ít nhất qua công việc của Ngài.
So there's the need to adapt ourselves now to the new vibration. He once said that only those whose monads are on the sixth ray will have trouble in the adaptation to the incoming seventh ray — he did use the word "monads," and I think you can find this in The Destiny of the Nations. So, adaptability and disruption — we find reactionary people holding on to the past that is characterized by the sixth ray, and we can understand why they are holding on to all that they think they know, and which stands for all that is good, all that is familiar, and all that opens up the way to their desires, often the desire for paradise, or heaven.
Vì vậy, giờ đây chúng ta cần thích nghi với rung động mới. Ngài từng nói rằng chỉ những ai có chân thần thuộc cung sáu mới gặp khó khăn trong việc thích nghi với cung bảy đang đi vào — Ngài quả thực đã dùng từ “chân thần”, và tôi nghĩ các bạn có thể tìm thấy điều này trong Vận Mệnh của Các Quốc Gia. Như vậy, khả năng thích nghi và sự xáo trộn — chúng ta thấy những người chống lại thay đổi đang bám vào quá khứ mang đặc tính của cung sáu, và chúng ta có thể thấu hiểu vì sao họ bám vào tất cả những gì họ nghĩ mình biết, những gì đại diện cho mọi điều tốt đẹp, mọi điều quen thuộc, và mọi điều mở đường cho dục vọng của họ, thường là mong muốn về thiên đường hay cõi trời.
[5] In that adaptation, those who have cultivated pliability and adaptability
[5] Trong sự thích nghi ấy, những ai đã vun bồi tính mềm dẻo và khả năng thích nghi, hoặc có cung ấy làm cung phàm ngã,
— sounds like a third-ray adaptation, maybe even a seventh. Third ray, or seventh-ray adaptation, because it doesn't necessarily mean that the seventh-ray type has to be rigid — there can be quite a bit of suppleness and flexibility. I guess all we need to do is look at the ballet dancer, presenting perfect form and suppleness and flexibility of the body accordingly.
— nghe như sự thích nghi của cung ba, thậm chí có lẽ cả cung bảy. Sự thích nghi của cung ba hay cung bảy, bởi không nhất thiết người cung bảy phải cứng nhắc — họ có thể khá mềm mại và linh hoạt. Tôi cho rằng chúng ta chỉ cần nhìn người múa ba lê, thể hiện hình tướng hoàn hảo cùng sự mềm mại và linh hoạt tương ứng của thân thể.
In that adaptation those who have cultivated pliability and adaptability, or who have that for their personality ray
Trong sự thích nghi ấy, những ai đã trau dồi tính mềm dẻo và khả năng thích nghi, hoặc có cung phàm ngã mang đặc tính ấy
— and I would say maybe the fourth ray comes in here as well —
— và tôi muốn nói rằng có lẽ cung bốn cũng góp phần ở đây —
[6] progress with less disruption than those more crystallized and fixed.
[6] sẽ tiến bước với ít xáo trộn hơn những người đã kết tinh và cố định hơn.
I suppose crystallization and fixity can go along with the first ray — generally they don't let changes get in their way — and certainly the sixth-ray type is known for its crystallization and fixity, but the first ray also.
Tôi cho rằng sự kết tinh và tính cố định có thể đi cùng cung một — nhìn chung, họ không để những thay đổi cản đường mình — và chắc chắn người cung sáu nổi tiếng về sự kết tinh và tính cố định, nhưng cung một cũng vậy.
[7] Particularly now should pliability and responsiveness of form be aimed at, for when He Whom we all adore comes
[7] Đặc biệt lúc này, cần hướng đến tính mềm dẻo và khả năng đáp ứng của hình tướng, vì khi Đấng mà tất cả chúng ta tôn thờ đến,
— wow, what a statement from a Master, very moving —
— thật là một lời phát biểu rất cảm động từ một Chân sư —
[8] think you His vibration will not cause disruption if crystallization is present?
[8] các bạn nghĩ rằng rung động của Ngài sẽ không gây xáo trộn nếu có sự kết tinh hay sao?
[9] It was so before; it will be so again
[9] Trước kia đã như thế; rồi sẽ lại như thế.
— and even more so — and those upon the sixth ray who expect something different will be very much surprised. Some people think it's only necessary to have the good book, as it were, and to read it, and believe what it says, to hold rigidly, we might almost say, to what the so-called good book says, but it's very different, because a whole new dispensation, which is much discussed in The Reappearance of the Christ, will be offered. I think that would be a very good book to offer commentary upon, and in a way Tuija is already doing this with her weekly Reappearance readings before the Reappearance meditation. Of course, this is the year 2018 — I don't know when you may be watching this video, it could be quite a bit later.
— và còn mạnh hơn nữa — những người thuộc cung sáu mong đợi điều khác sẽ rất đỗi ngạc nhiên. Có người cho rằng chỉ cần có quyển thánh thư, có thể nói như vậy, đọc nó, tin những gì nó nói, gần như có thể nói là bám cứng vào những gì quyển sách được gọi là thánh thư ấy nói; nhưng mọi sự rất khác, vì một sự an bài hoàn toàn mới, được bàn luận nhiều trong Sự Tái Lâm của Đức Christ, sẽ được ban ra. Tôi nghĩ đó sẽ là một quyển sách rất hay để bình giảng, và theo một cách nào đó, Tuija đã làm việc này qua những buổi đọc hằng tuần về Sự Tái Lâm trước buổi tham thiền về Sự Tái Lâm. Dĩ nhiên, đây là năm 2018 — tôi không biết khi nào các bạn xem video này, có thể là khá lâu về sau.
[10] Cultivate responsiveness to the Great Ones. Aim at mental expansion and keep learning.
[10] Hãy vun bồi khả năng đáp ứng với Các Đấng Cao Cả, hướng đến việc mở rộng trí tuệ và không ngừng học hỏi.
This is advice — here follows good advice: cultivate responsiveness to the Great Ones, and not to their astral, often falsely complimentary, reflections. How can you help it when you read DK's books, and keep learning?
Đây là lời khuyên — tiếp theo là lời khuyên tốt đẹp: hãy trau dồi khả năng đáp ứng với Các Đấng Cao Cả, chứ không phải với những phản ảnh cảm dục của Các Ngài, vốn thường tâng bốc một cách giả dối. Khi đọc sách của Chân sư DK và không ngừng học hỏi, làm sao các bạn có thể không phát triển khả năng ấy?
[11] Think whenever possible in terms abstract or numerical
[11] Bất cứ khi nào có thể, hãy tư duy bằng những khái niệm trừu tượng hoặc số học,
— the antahkarana will help us do this —
— antahkarana sẽ giúp chúng ta làm điều này —
[12] and by loving all, work at the plasticity of the astral body
[12] và bằng tình thương dành cho tất cả, hãy rèn luyện tính uyển chuyển của thể cảm dục.
— not just loving some who are favorites and who seem to please us, but loving all.
— không chỉ yêu thương một số người mình yêu thích và dường như làm mình hài lòng, mà yêu thương tất cả.
[13] In love of all that breathes comes capacity to vibrate universally, and in that astral pliability will come responsiveness to the vibration of the Great Lord.
[13] Tình thương dành cho mọi loài đang thở mang lại khả năng rung động hòa cùng vạn vật, và trong tính mềm dẻo cảm dục ấy sẽ nảy sinh khả năng đáp ứng với rung động của Chúa Tể Vĩ Đại.
This is very good advice about how to prepare for the coming of the Great Lord.
Đây là lời khuyên rất hay về cách chuẩn bị cho sự xuất hiện của Chúa Tể Vĩ Đại.
Cultivate responsiveness to the Great Ones, aim at mental expansion
Hãy trau dồi khả năng đáp ứng với Các Đấng Cao Cả, hướng đến sự mở rộng trí tuệ
— again, DK's books, The Secret Doctrine, the great Theosophical works —
— một lần nữa, sách của Chân sư DK, Giáo Lý Bí Nhiệm, những tác phẩm Thông Thiên Học vĩ đại —
and keep learning
và không ngừng học hỏi
at every moment. Live, love, and learn — such solid, ancient advice.
trong từng khoảnh khắc. Hãy sống, yêu thương và học hỏi — một lời khuyên cổ xưa thật vững chắc.
Think whenever possible in terms abstract or numerical
Bất cứ khi nào có thể, hãy tư duy theo những khái niệm trừu tượng hoặc bằng số
— see the true meaning of things through spiritual discernment and through the abstract mind, and understand the pattern behind the form that has taken shape.
— thấy ý nghĩa chân thật của sự vật qua phân biện tinh thần và trí trừu tượng, đồng thời thấu hiểu mô hình đằng sau hình tướng đã thành hình.
And by loving all, work at that plasticity of the astral body.
Và bằng cách yêu thương tất cả, hãy rèn luyện tính dễ uốn nắn ấy của thể cảm dục.
I guess Neptune will help at the second initiation with that plasticity.
Tôi cho rằng Sao Hải Vương sẽ giúp phát triển tính dễ uốn nắn ấy ở lần điểm đạo thứ hai.
In love of all that breathes
Trong tình thương dành cho mọi loài đang thở
— and I guess that's whatever form the universe takes, including the universal form, as part of the Great Breath — in love of all that breathes, even that which threatens the form, I suppose, even in the enemy, at least loving the essence of that.
— và tôi cho rằng đó là bất cứ hình tướng nào mà vũ trụ khoác lấy, kể cả hình tướng vũ trụ, như một phần của Hơi Thở Vĩ Đại — trong tình thương dành cho mọi loài đang thở, tôi cho rằng ngay cả những gì đe dọa hình tướng, ngay cả nơi kẻ thù, ít nhất cũng yêu thương tinh túy nơi đó.
In love of all that breathes comes capacity to vibrate universally, and in that astral pliability will come responsiveness to the vibration of the Great Lord.
Trong tình thương dành cho mọi loài đang thở, khả năng rung động một cách phổ quát sẽ xuất hiện, và trong tính mềm dẻo cảm dục ấy sẽ nảy sinh khả năng đáp ứng với rung động của Chúa Tể Vĩ Đại.
We really do need to prepare for His coming, because when He comes, how will we recognize Him if we simply look for how He was in the earlier days, or how He seemed to be — appearing publicly for three years, and not so much presenting Himself in His Mayavirupa, maybe He did to His disciples, that's hard to say, but using the form of Jesus. And maybe that type of use was discussed in their circles — it can't happen until, well, Jesus was an initiate of the third degree, but it can't happen until one is minimally an initiate of the second degree, with the sixth petal fully unfolded — one of the interesting things DK does offer, elsewhere.
Chúng ta thực sự cần chuẩn bị cho sự xuất hiện của Ngài, bởi khi Ngài đến, làm sao chúng ta nhận ra Ngài nếu chỉ tìm kiếm hình ảnh của Ngài trong những ngày trước kia, hay hình ảnh mà Ngài dường như đã thể hiện — xuất hiện công khai trong ba năm, và không mấy khi hiện diện trong huyễn thân của Ngài; có lẽ Ngài đã làm vậy với các đệ tử, điều này khó nói, nhưng Ngài đã sử dụng hình tướng của Đức Jesus. Và có lẽ việc sử dụng như thế đã được bàn luận trong các nhóm của Các Ngài — điều đó không thể xảy ra cho đến khi, Đức Jesus là một điểm đạo đồ bậc ba, nhưng điều đó không thể xảy ra cho đến khi một người ít nhất là điểm đạo đồ bậc hai, với cánh hoa thứ sáu khai mở hoàn toàn — một trong những điều thú vị mà Chân sư DK quả có nêu ra ở nơi khác.
[14] This summation of process and of the forms is equally true of God and His cosmic creative work
[14] Phần tổng kết này về tiến trình và các hình tướng
— the form of the personality, the form of the environment, far vaster, the form of the devotee (every being has his object or state of devotion), and the form of the causal body — we are told about the causal body of the Planetary Logos and the Solar Logos and their location on the cosmic mental plane. So it's
— hình tướng của phàm ngã, hình tướng của môi trường, rộng lớn hơn rất nhiều, hình tướng của người sùng tín (mỗi sinh linh đều có đối tượng hay trạng thái sùng tín của mình), và hình tướng của thể nguyên nhân — chúng ta được cho biết về thể nguyên nhân của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế, cùng vị trí của các thể ấy trên cõi trí vũ trụ. Vì vậy, điều này
[15] equally true of... the soul, as it builds its instrument for expression, either unconsciously in the early stages or consciously in the later; of the disciple, as he seeks to express his realization of the work through group work and the organization of his life; and of perfected man, as he learns, through experience, to centre his forces on the mental plane and from there accomplish his purpose in generating and producing those thought-forms which mould the minds of men and embody in themselves that aspect of the Universal Mind which is needed for the right production of that immediate fraction of the Plan which his age and generation require.
[15] đều đúng như nhau đối với Thượng đế và công việc sáng tạo vũ trụ của Ngài; đối với linh hồn khi xây dựng công cụ biểu lộ của mình, dù một cách vô thức trong những giai đoạn đầu hay hữu thức trong những giai đoạn sau; đối với đệ tử khi tìm cách biểu lộ sự nhận biết của mình về công việc thông qua công việc nhóm và việc tổ chức đời sống; và đối với con người đã hoàn thiện khi qua kinh nghiệm, y học cách tập trung các mãnh lực của mình trên cõi trí, rồi từ đó hoàn thành mục đích bằng cách tạo sinh và sản sinh những hình tư tưởng định hình thể trí con người, đồng thời thể hiện trong chính chúng phương diện của Vũ Trụ Trí cần thiết để thực hiện đúng đắn phần Thiên Cơ trước mắt mà thời đại và thế hệ của y đòi hỏi.
So, basically, DK is saying this is true as well of the accomplished white magician.
Về cơ bản, Chân sư DK đang nói rằng điều này cũng đúng với nhà huyền thuật chánh đạo thành thạo.
So these various forms have to be attended to at different stages of expression and of encompassment — obviously such forms for a Planetary Logos or Solar Logos are far different in scope than they are for man. It's interesting here about this building of forms unconsciously, or later consciously — how does that unconscious building go on? How much control does the Solar Angel have at that time it comes around again, when incarnation is required? How much planning goes into it, or how many secondary forces, based upon the personality's inclinations, take over? Because, in a way, the soul does not become a downward-gazing soul until a certain stage of development is reached. I suspect that work within the fifth petal, which corresponds to the man's becoming an aspirant, is a time when you can have the truly downward-gazing soul — before that, perhaps the soul participates, but not with such care and exactitude. More on this needs to be revealed, and perhaps has been revealed in the books, if we could get the information together.
Vì vậy, cần quan tâm đến những hình tướng khác nhau này ở những giai đoạn biểu đạt và bao quát khác nhau — hiển nhiên, phạm vi của những hình tướng ấy đối với một Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế khác xa so với con người. Điều thú vị ở đây là việc xây dựng hình tướng một cách vô thức, rồi về sau là hữu thức — việc xây dựng vô thức ấy diễn ra như thế nào? Thái dương Thiên Thần có bao nhiêu quyền kiểm soát khi thời điểm ấy lại đến, khi cần nhập thể? Bao nhiêu sự hoạch định được dành cho việc đó, hay bao nhiêu mãnh lực thứ yếu, dựa trên những khuynh hướng của phàm ngã, sẽ nắm quyền? Bởi theo một cách nào đó, linh hồn không trở thành linh hồn nhìn xuống cho đến khi đạt tới một giai đoạn phát triển nhất định. Tôi cho rằng công việc trong cánh hoa thứ năm, tương ứng với việc con người trở thành người chí nguyện, là thời điểm có thể có linh hồn thực sự nhìn xuống — trước đó, có lẽ linh hồn tham gia, nhưng không với sự chăm chút và chính xác như vậy. Cần có thêm sự mặc khải về điều này, và có lẽ điều đó đã được mặc khải trong các sách, nếu chúng ta có thể tập hợp thông tin lại.
[16] All these various applications of the rule could be elucidated and enlarged upon.
[16] Có thể làm sáng tỏ và trình bày rộng hơn tất cả những cách áp dụng khác nhau này của quy luật.
In other words, the forms related to all these types of beings — souls, Planetary Logoi, Solar Logoi, the disciple, etc. So, as always, it's the Law of Analogy, and the various parallelisms, which are not always entirely exact but are sufficiently exact to give us an idea of the structure of things, and to fill in with knowledge what otherwise might be left a blank if we had not used the Law of Analogy, and especially the more detailed law of correspondences. It makes me want to go through every one — even the personality is liable to be, at first, relatively inchoate when compared with the personality of a more advanced type who has had more incarnational experience, and that would apply to a Planetary Logos or Solar Logos and so forth. From history, or from inner spiritual history, we don't yet know what those forms look like, but it will be within our range to see — all kinds of knowledge are possible; the question is what is really relevant knowledge, relevant to our particular context, to the state in which we find ourselves, and to the Being within which we majorly find ourselves. As I've said, we might be interested to know what kind of mining industry might be developed on the planet Pluto, given the kinds of minerals that are there, but it's not exactly what we need to know in order to progress properly on this Earth, as executors of the Divine Plan.
Nói cách khác, các hình tướng liên quan đến tất cả những loại sinh linh này — linh hồn, các Hành Tinh Thượng đế, các Thái dương Thượng đế, đệ tử, v.v. Như mọi khi, đó là Định luật Tương Đồng và những sự song hành khác nhau, không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác, nhưng đủ chính xác để cho chúng ta một ý niệm về cấu trúc của sự vật, và dùng tri thức lấp đầy những gì có thể vẫn là khoảng trống nếu chúng ta không sử dụng Định luật Tương Đồng, đặc biệt là định luật tương ứng chi tiết hơn. Điều này khiến tôi muốn xem xét từng trường hợp — ngay cả phàm ngã lúc đầu cũng có thể tương đối chưa thành hình khi so với phàm ngã của một người tiến bộ hơn, có nhiều kinh nghiệm nhập thể hơn, và điều đó cũng áp dụng cho một Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế, v.v. Qua lịch sử, hay lịch sử tinh thần bên trong, chúng ta chưa biết những hình tướng ấy trông như thế nào, nhưng rồi chúng ta sẽ có khả năng thấy — mọi loại tri thức đều có thể đạt được; vấn đề là tri thức nào thực sự thích đáng, thích đáng với hoàn cảnh riêng của chúng ta, với trạng thái mà chúng ta đang ở, và với Đấng mà phần lớn sự hiện tồn của chúng ta nằm trong Ngài. Như tôi đã nói, chúng ta có thể muốn biết ngành khai khoáng nào có thể phát triển trên Sao Diêm Vương, xét đến các loại khoáng vật ở đó, nhưng đó không hẳn là điều chúng ta cần biết để tiến bước đúng đắn trên Trái Đất này, với tư cách những người thực hiện Thiên Cơ.
[17] Our problem, however, must be kept clearly in mind
[17] Tuy nhiên, chúng ta phải luôn ghi nhớ rõ vấn đề của mình.
— so DK does not go into all possible expansions here of the forms in relation to the different types of beings.
— vì vậy, ở đây Chân sư DK không đi vào mọi khả năng triển khai về các hình tướng liên quan đến những loại sinh linh khác nhau.
[18] We are conscious souls, or in process of becoming conscious.
[18] Chúng ta là những linh hồn hữu thức, hoặc đang trong tiến trình trở nên hữu thức.
While we maybe have discovered ourselves as the soul in incarnation, and can abstract from all those personality states with which we formerly identified ourselves —
Trong khi có lẽ chúng ta đã khám phá ra mình là linh hồn đang nhập thể, và có thể rút khỏi tất cả những trạng thái phàm ngã mà trước kia chúng ta từng đồng hóa với —
[19] we are beginning, through our meditation work and our application to study, to work on mental levels
[19] Thông qua công việc tham thiền và sự chuyên tâm nghiên cứu, chúng ta đang bắt đầu hoạt động trên các cấp độ trí tuệ.
— and notice how he says "we, we, we": obviously he's done this long ago, but he has, you might say, identified with us, so that when he thinks of us he is very much a participant with us, even as what we are.
— hãy lưu ý cách Ngài nói “chúng ta, chúng ta, chúng ta”: hiển nhiên Ngài đã làm điều này từ lâu, nhưng có thể nói Ngài đã đồng hóa với chúng ta, đến mức khi nghĩ đến chúng ta, Ngài thực sự cùng tham gia với chúng ta, thậm chí như chính chúng ta vậy.
[20] We are creating forms continuously, pervading them with energy and sending them out to fulfill their function in line with our realized subjective purpose.
[20] Chúng ta liên tục tạo ra các hình tướng, thấm nhuần chúng bằng năng lượng và gửi chúng đi thực hiện chức năng phù hợp với mục đích chủ quan mà chúng ta đã nhận biết.
We are participating in the magical process at different levels of consciousness, or unconsciousness — obviously we want to become conscious magicians, because right now so much of what we create happens without our knowledge that the creation has even occurred.
Chúng ta đang tham gia vào tiến trình huyền thuật ở những cấp độ tâm thức hay vô thức khác nhau — hiển nhiên, chúng ta muốn trở thành những nhà huyền thuật hữu thức, vì hiện nay rất nhiều điều chúng ta tạo ra xảy đến mà chúng ta thậm chí không biết việc sáng tạo ấy đã diễn ra.
[21] The emphasis should be laid upon the word realized in the above paragraph
[21] Cần nhấn mạnh từ nhận biết trong đoạn trên.
— that's the key: we may have a subjective purpose, but has it really dawned upon us, and what has dawned upon us, is it really accurate?
— đó là chìa khóa: chúng ta có thể có một mục đích chủ quan, nhưng nó đã thực sự trở nên sáng rõ với chúng ta chưa, và điều đã trở nên sáng rõ ấy có thực sự chính xác không?
[22] According to the clarity of vision and the depth of the inner realization so will be the adequacy of the created form, and so will be the strength of the life which will enable it to perform its intended function.
[22] Hình tướng được tạo ra sẽ thích đáng đến đâu tùy vào độ sáng rõ của tầm nhìn và chiều sâu của sự nhận biết bên trong; sức mạnh của sự sống giúp nó thực hiện chức năng dự định cũng tùy thuộc vào đó.
So we might say we are treading the conscious way, and realization is one of our major goals — on a high level it pertains to the fifth level of the atmic plane, the plane of realization.
Vì vậy, có thể nói chúng ta đang bước trên con đường hữu thức, và sự nhận biết là một trong những mục tiêu chính — ở cấp độ cao, đó là sự chứng nghiệm thuộc cấp độ thứ năm của cõi atma, cõi chứng nghiệm.
[23] Up to the present time the majority of aspirants in the world express the results of little and weak thought, but rapid action.
[23] Cho đến nay, đa số người chí nguyện trên thế giới biểu lộ những kết quả của việc suy nghĩ ít ỏi và yếu ớt, nhưng hành động nhanh chóng.
It's very myopic, you might say, flying into action in this way without proper thought.
Có thể nói, lao vào hành động như vậy mà không suy nghĩ đúng mức là rất thiển cận.
[24] The goal for students should at this time be rapid concentrated thought and slow action
[24] Lúc này, mục tiêu của các đạo sinh phải là tư duy nhanh chóng, tập trung và hành động chậm rãi.
— now, remember, sometimes things get left out of the CD-ROM, but the wise use of slow action is the way of the second-ray type, so this correlates with what he's asking for here — rapid concentrated thought and slow action correlates with the way of the second-ray disciple.
— hãy nhớ rằng đôi khi có những phần bị bỏ sót trong đĩa CD-ROM, nhưng vận dụng sáng suốt hành động chậm rãi là cách của người cung hai, nên điều này tương ứng với những gì Ngài đang yêu cầu ở đây — tư duy nhanh chóng, tập trung và hành động chậm rãi tương ứng với cách của đệ tử cung hai.
[25] That slow action however will be potent in result; there will be no lost motion
[25] Tuy nhiên, hành động chậm rãi ấy sẽ mang lại kết quả mạnh mẽ; sẽ không có động tác thừa,
— let third-ray types attend to this —
— những người cung ba hãy chú ý điều này —
[26] no delayed reactions, and no tendency towards hesitation,
[26] không có phản ứng chậm trễ, cũng không có khuynh hướng do dự.
all moving with deliberate speed, all rightly timed.
tất cả đều tiến với tốc độ có chủ đích, tất cả đều đúng thời điểm.
[27] The attention of the thinker being focussed on the mental plane, the progress of his manifested thought will be sure and inevitable
[27] Khi người tư tưởng tập trung sự chú ý trên cõi trí, tư tưởng đang biểu hiện của y sẽ tiến triển chắc chắn và tất yếu.
— and we'll get rid of that sort of "might work, might not" chanciness that occurs with not thinking a thing through but still flying into action — the old Aries mantram, "ready, fire, aim."
— và chúng ta sẽ loại bỏ tính may rủi kiểu “có thể được, có thể không” xảy ra khi chưa suy nghĩ thấu đáo mà vẫn lao vào hành động — mantram cũ của Bạch Dương: “sẵn sàng, bắn, ngắm”.
[28] When the idea is clearly grasped, the attention closely focussed, and the energy or life aspect steadily applied, the result will be irresistible appearance and potent action on the physical plane.
[28] Khi ý tưởng được nắm bắt rõ ràng, sự chú ý tập trung chặt chẽ, và năng lượng hay phương diện sự sống được vận dụng đều đặn, kết quả sẽ là sự xuất hiện không gì ngăn cản được và hành động mạnh mẽ trên cõi hồng trần.
So, all that is said here is meant to help us become effective white magicians. Well, it's a reversal, isn't it — act fast, keep going, keep going — but if thought is not there, the result will not be satisfactory.
Vì vậy, tất cả những gì nói ở đây đều nhằm giúp chúng ta trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo hữu hiệu. Đây là một sự đảo ngược, phải không — hành động nhanh, cứ tiếp tục, cứ tiếp tục — nhưng nếu không có tư tưởng, kết quả sẽ không thỏa đáng.
[29] This thought must be borne in mind if the dangers of the left hand path are to be avoided.
[29] Phải ghi nhớ tư tưởng này nếu muốn tránh những nguy hiểm của tả đạo. Ở đây, Tôi xin đưa ra một số phát biểu dưới dạng liệt kê ngắn gọn, giúp thấu hiểu đúng hơn ý nghĩa của những từ “tả đạo”. Ở đây, chúng ta chủ yếu bàn đến những hình tư tưởng do con người tạo ra:
So let us clearly grasp the idea — and let us call it, rightly, the idea presented by the soul, if this is to be white magic — the attention clearly focused in the mind, held steady in the light, and sufficient vitality brought to bear, and then we will, due to our correct motivation, setting our form upon the proper path, be effective in the field of white magic. But I think the thing to bear in mind is that we are always busy creating things, creating thoughts, creating various types of subtle and even more gross forms, and what is the quality of our creativity — this is what we are seeking to understand.
Vì vậy, hãy nắm bắt rõ ý tưởng — và hãy gọi đúng đó là ý tưởng do linh hồn đưa ra, nếu đây là Chánh Thuật — sự chú ý tập trung rõ ràng trong thể trí, được giữ vững trong ánh sáng, và có đủ sinh lực để vận dụng; khi ấy, nhờ động cơ đúng đắn, đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp, chúng ta sẽ hữu hiệu trong lĩnh vực Chánh Thuật. Nhưng tôi nghĩ điều cần ghi nhớ là chúng ta luôn bận rộn tạo ra sự vật, tạo ra tư tưởng, tạo ra nhiều loại hình tướng tinh tế và thậm chí thô trược hơn; phẩm tính của sự sáng tạo ấy là gì — đó là điều chúng ta đang tìm cách thấu hiểu.
This thought must be borne in mind if the dangers of the left hand path are to be avoided. Let me here make some statements in brief tabulated form, which will produce a truer understanding of the words "left hand path". We are dealing here primarily with those thought-forms which man creates:
Phải ghi nhớ điều này nếu muốn tránh những nguy hiểm của tả đạo. Ở đây, Tôi xin đưa ra một số phát biểu ngắn gọn theo từng mục, giúp thấu hiểu đúng hơn những từ “tả đạo”. Ở đây, chúng ta chủ yếu bàn đến những hình tư tưởng do con người tạo ra:
We need that, because there's so much glamour around it — we want to understand what the path of form is; probably in the previous solar system it was the way to go, although unquestionably there must have been a Divine Plan. There are many types of great thought-forms, including zodiacal thought-forms, which are anchored by Hierarchy on, let's call it, the subtle planes — it may even be the astral plane, but that happened long ago, and he tells us about it, probably, I suspect, in the next chapter.
Chúng ta cần điều đó, vì có quá nhiều ảo cảm quanh vấn đề này — chúng ta muốn thấu hiểu con đường của hình tướng là gì; có lẽ trong hệ mặt trời trước, đó là con đường cần theo, dù chắc chắn khi ấy phải có Thiên Cơ. Có nhiều loại hình tư tưởng vĩ đại, kể cả những hình tư tưởng hoàng đạo, mà Thánh đoàn đã neo giữ trên những gì chúng ta có thể gọi là các cõi tinh tế — thậm chí có thể là cõi cảm dục, nhưng điều đó đã xảy ra từ lâu, và tôi cho rằng có lẽ Ngài sẽ nói với chúng ta về điều đó trong chương tiếp theo.
[30] 1. The left hand path concerns the matter aspect and the life poured into the form serves only to vitalize the atoms in substance. The potency of the love aspect—as wielded by the soul—is lacking.
[30] 1. Tả đạo liên quan đến phương diện vật chất, và sự sống tuôn vào hình tướng chỉ nhằm tiếp sinh lực cho các nguyên tử trong chất liệu. Nó thiếu sức mạnh của phương diện bác ái—do linh hồn vận dụng.
He tells us that some magnetism related to love can be wielded selfishly by the one who treads the left-hand path, especially the black magician — the matter aspect is what concerns us when we think of the left-hand path. I do have a kind of memory — once I was going to an Arcane School meeting, I was a member of the Lucis Trust at the time, and I met a guy, an interesting guy, who had a lot of the fifth ray, and he was saying to me, "I'm interested in matter, only in matter," and he was making a very strong point, and somehow it impressed me that this was a different approach, and that the love energy, per se, was not really part of what he wanted to accomplish, or even an area of interest for him.
Ngài cho chúng ta biết rằng người đi theo tả đạo, đặc biệt là nhà hắc thuật, có thể vận dụng một phần từ điện liên quan đến tình thương theo cách ích kỷ — phương diện vật chất là điều chúng ta quan tâm khi nghĩ đến tả đạo. Tôi quả có một kỷ niệm — một lần tôi đến dự cuộc họp của Trường Arcane, khi ấy tôi là thành viên của Lucis Trust, và gặp một người đàn ông thú vị, có rất nhiều cung năm; ông nói với tôi: “Tôi quan tâm đến vật chất, chỉ vật chất mà thôi”, và nhấn mạnh điều này rất mạnh mẽ. Không hiểu sao tôi cảm nhận rõ đây là một cách tiếp cận khác, và chính năng lượng tình thương không thực sự là một phần trong điều ông muốn hoàn thành, thậm chí cũng không phải lĩnh vực ông quan tâm.
Now, more on the left-hand path:
Giờ đây, thêm về tả đạo:
[31] 2. The form created is constituted of mental matter, of astral matter and of physical substance. It lacks the soul contribution. Its purpose is in line with the development of form, but not in line with soul expression.
[31] 2. Hình tướng được tạo ra cấu thành từ vật chất trí tuệ, vật chất cảm dục và chất liệu hồng trần. Nó thiếu sự đóng góp của linh hồn. Mục đích của nó phù hợp với sự phát triển hình tướng, nhưng không phù hợp với sự biểu lộ của linh hồn.
We might say this is the way it was in the previous major solar system — of course the form had to be developed, and the third ray is, after all, the foundation of the emergence of the second ray, but there comes a point when we have to stop working on the foundation and start working more on the substance of love. So, I guess the main point here is that it lacks soul contribution — it's not a white magical form. So what is created by these brothers — they are all known as the Brothers of the Left-Hand Path — lacks the content of love of soul, of a mutually advantageous, cohesive relationship. These things are very important to know, because, as I say, so much glamour surrounds this idea of the left-hand path.
Có thể nói đây là cách thức trong hệ mặt trời lớn trước — dĩ nhiên hình tướng phải phát triển, và xét cho cùng cung ba là nền tảng cho sự xuất hiện của cung hai, nhưng đến một lúc chúng ta phải ngừng xây nền móng và bắt đầu làm việc nhiều hơn với chất liệu tình thương. Vì vậy, tôi cho rằng điểm chính ở đây là nó thiếu sự đóng góp của linh hồn — nó không phải hình tướng thuộc Chánh Thuật. Do đó, những gì các huynh đệ này tạo ra — tất cả họ đều được gọi là các Huynh Đệ Tả Đạo — thiếu nội dung bác ái của linh hồn, thiếu một mối quan hệ cố kết, cùng có lợi. Những điều này rất quan trọng cần biết, vì như tôi nói, có quá nhiều ảo cảm bao quanh ý tưởng về tả đạo.
[32] 3. The left hand path, therefore, is the path of progress for substance or matter.
[32] 3. Vì vậy, tả đạo là con đường tiến bộ của chất liệu hay vật chất.
Sometimes substance can be used in a philosophical manner, and can relate to something very high, like we might say love-substance, the quality of matter, and will-substance, the quality of love — but here, generally, when we talk about substance we're talking about a type of matter which is of a higher nature than that which it substantiates: astral matter substantiates etheric substance, etheric substance substantiates dense physical matter, mental matter substantiates astral matter — that's the way it works. So the left-hand path, therefore, is the path of progress for substance or matter — this is not necessarily incorrect, it is a question of timing and motive.
Đôi khi chất liệu có thể được dùng theo nghĩa triết học, và có thể liên quan đến điều gì đó rất cao, chẳng hạn có thể nói chất liệu bác ái, phẩm tính của vật chất, và chất liệu ý chí, phẩm tính của bác ái — nhưng ở đây, nhìn chung, khi nói về chất liệu, chúng ta nói đến một loại vật chất có bản chất cao hơn cái mà nó làm nền tảng: vật chất cảm dục làm nền tảng cho chất liệu dĩ thái, chất liệu dĩ thái làm nền tảng cho vật chất hồng trần đậm đặc, vật chất trí tuệ làm nền tảng cho vật chất cảm dục — đó là cách vận hành. Vì vậy, tả đạo là con đường tiến bộ của chất liệu hay vật chất — điều này không nhất thiết sai, mà là vấn đề thời điểm và động cơ.
[33] It is not the path of progress for the soul aspect.
[33] Đó không phải là con đường tiến bộ của phương diện linh hồn.
We might say that, in this second major solar system, the solar system of divine love, it is not the path of progress for the soul aspect — but, of course, you can constantly improve the form if it works under the motivation of the soul, we're always trying to do that, to come up with better techniques that involve the form in order to express the soul. So we cannot say that we should not have progress for substance or matter, as long as it is under the guidance of soul motivation, but it is not the path of progress for the soul aspect per se.
Có thể nói rằng trong hệ mặt trời lớn thứ hai này, hệ mặt trời của bác ái thiêng liêng, đó không phải con đường tiến bộ của phương diện linh hồn — nhưng dĩ nhiên, chúng ta có thể không ngừng cải thiện hình tướng nếu nó hoạt động dưới động cơ của linh hồn; chúng ta luôn cố gắng làm vậy, tìm ra những kỹ thuật tốt hơn có sử dụng hình tướng để biểu đạt linh hồn. Vì vậy, không thể nói rằng chúng ta không nên có sự tiến bộ về chất liệu hay vật chất, miễn là sự tiến bộ ấy chịu sự hướng dẫn của động cơ linh hồn; nhưng đó không phải con đường tiến bộ của chính phương diện linh hồn.
[34] It is the "way of the Holy Ghost" but not the way of the Son of God.
[34] Đó là “con đường của Chúa Thánh Thần” nhưng không phải con đường của Con của Thượng đế.
The Holy Ghost, of course, is very important in our system, as long as it is subservient to the Son of God — we're in a solar system that can be called the system of the Divine Son.
Dĩ nhiên, Chúa Thánh Thần rất quan trọng trong hệ của chúng ta, miễn là phụng sự Con của Thượng đế — chúng ta ở trong một hệ mặt trời có thể gọi là hệ của Người Con Thiêng Liêng.
[35] I express this truth in these words as it serves peculiarly to make the distinction clear and yet preserves the integrity of substance-matter and their Unity within the One Life.
[35] Tôi diễn đạt chân lý này bằng những lời ấy vì cách nói này đặc biệt giúp làm rõ sự phân biệt, đồng thời vẫn bảo toàn tính toàn vẹn của chất liệu-vật chất và sự Hợp Nhất của chúng trong Sự Sống Duy Nhất.
We are not trying to do away with substance-matter as usually considered, not at all, but we are trying, in our solar system, to put first things first — we really wouldn't want to do away with the Holy Ghost, would we, but we would not want to emphasize one aspect of divinity in perpetuity, forgetting about the importance of the others. We might say, in a very profound way, that those who follow the left-hand path surely are afraid of the energy of love — they feel it will compromise them, reduce them, make them lose what they are, somehow tear their accomplishments from them, because they, after all, have to give all, and without giving all, all cannot be received — but that is the peculiar fear, they are clinging their acquisitions to themselves.
Chúng ta không tìm cách loại bỏ chất liệu-vật chất theo cách hiểu thông thường, hoàn toàn không; nhưng trong hệ mặt trời của mình, chúng ta cố gắng đặt điều quan trọng trước — chúng ta thực sự không muốn loại bỏ Chúa Thánh Thần, phải không, nhưng cũng không muốn mãi nhấn mạnh một phương diện thiên tính mà quên tầm quan trọng của những phương diện khác. Theo một nghĩa rất sâu xa, có thể nói rằng những người theo tả đạo hẳn sợ năng lượng tình thương — họ cảm thấy nó sẽ làm tổn hại họ, thu nhỏ họ, khiến họ đánh mất chính mình, bằng cách nào đó tước khỏi họ những thành tựu đã đạt được, bởi xét cho cùng họ phải cho đi tất cả, và nếu không cho đi tất cả thì không thể nhận được tất cả — nhưng đó là nỗi sợ đặc thù ấy, họ đang khư khư giữ lấy những gì đã tích lũy.
[36] 4. All forms created at every stage are either confined to the left hand path or embrace it and yet go beyond it, and follow the right hand way.
[36] 4. Mọi hình tướng được tạo ra ở mọi giai đoạn hoặc chỉ giới hạn trong tả đạo, hoặc bao hàm tả đạo nhưng vượt lên trên nó và đi theo chánh đạo.
Form is necessary, but if continued according to its own values and tendencies alone, it proves obstructive — the members of the Black Lodge are called the Brothers of Form, they are also called the forces of obstruction.
Hình tướng là cần thiết, nhưng nếu chỉ tiếp tục theo những giá trị và khuynh hướng riêng, nó trở thành chướng ngại — các thành viên Hắc đoàn được gọi là các Huynh Đệ của Hình Tướng, họ còn được gọi là các mãnh lực cản trở.
[37] This sentence provides food for thought and its meaning is difficult to gather.
[37] Câu này chứa đựng nhiều điều đáng suy ngẫm và khó nắm bắt ý nghĩa.
Form must be sustained, all previous acquisitions must be used, but the motivation changes, and the context in which the use occurs is no longer personal and selfish — for the sake of the perpetuation of the form, the form is sacrificed to the expression of the second aspect of divinity, rather than have its preservation attempted at all costs, usually the cost of the love energy. This sentence provides food for thought, and its meaning is difficult to gather. I'm thinking about some of those horrible people who tried to live off the blood and vitality of others, at various points in history, so that they could maintain the youthfulness of the form — they would vampirize, rob, steal the vitality of others, and so their thought resulted in so much carnage and horror, and the motive was simply to sustain their own form; it was deep selfishness.
Phải duy trì hình tướng, phải sử dụng tất cả những gì đã đạt được trước đó, nhưng động cơ thay đổi, và bối cảnh sử dụng không còn mang tính cá nhân, ích kỷ — vì mục đích duy trì hình tướng; hình tướng được hiến dâng cho sự biểu đạt của phương diện thiên tính thứ hai, thay vì tìm cách bảo tồn nó bằng mọi giá, thường là bằng cái giá của năng lượng tình thương. Câu này gợi nhiều điều đáng suy ngẫm, và ý nghĩa của nó khó nắm bắt. Tôi đang nghĩ đến một số người kinh khủng từng cố sống nhờ máu và sinh lực của người khác, ở những thời điểm khác nhau trong lịch sử, để duy trì sự trẻ trung của hình tướng — họ hút, cướp đoạt, đánh cắp sinh lực của người khác, và vì thế tư tưởng của họ dẫn đến biết bao tàn sát và kinh hoàng, trong khi động cơ chỉ đơn giản là duy trì hình tướng của chính mình; đó là sự ích kỷ sâu sắc.
[38] It should be borne in mind that all forms, whether they follow the right or left hand way, are alike up to a certain point.
[38] Cần ghi nhớ rằng mọi hình tướng, dù đi theo chánh đạo hay tả đạo, đều giống nhau đến một mức độ nhất định;
"Let the magician set his form upon the proper path" — not only are the forms alike up to a certain point, but the white magician and the black magician are also alike up to a certain point; after all, they can both take the second initiation, and they can both stand before the Christ in this era when the Christ is the Initiator, and that is a shocking thing to contemplate. I'm sure the Great Ones see the potentials for evildoing in such an initiate, but everyone must be left to the exercise of his or her own free will.
“Hãy để nhà huyền thuật đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp.” — không chỉ các hình tướng giống nhau đến một mức độ nhất định, mà nhà huyền thuật chánh đạo và nhà hắc thuật cũng giống nhau đến một mức độ nhất định; xét cho cùng, cả hai đều có thể trải qua lần điểm đạo thứ hai, và cả hai đều có thể đứng trước Đức Christ trong kỷ nguyên này, khi Đức Christ là Đấng Điểm đạo; đó là điều thật kinh ngạc khi chiêm ngưỡng. Tôi chắc rằng Các Đấng Cao Cả thấy được những tiềm năng làm điều ác nơi một điểm đạo đồ như vậy, nhưng phải để mỗi người tự thực thi ý chí tự do của mình.
[39] They travel the same progressive stages and at one time in their career they appear uniform and alike.
[39] chúng trải qua cùng những giai đoạn tiến triển, và vào một thời điểm trong quá trình tồn tại, chúng có vẻ đồng nhất và giống nhau.
But how are these forms used, and with what motive? So we ask ourselves — we create all the time, consciously or unconsciously, and when we can get some sort of mental grasp on all this, what are the motives of our creations?
Nhưng những hình tướng này được sử dụng như thế nào, và với động cơ gì? Vì vậy, chúng ta tự hỏi — chúng ta luôn sáng tạo, hữu thức hay vô thức, và khi có thể phần nào nắm bắt tất cả điều này bằng trí tuệ, thì động cơ của những sáng tạo ấy là gì?
[40] Only when their purpose appears does the distinction become apparent, and hence the training of the aspirant in right motive as a preparatory step to true occult work.
[40] Chỉ khi mục đích của chúng xuất hiện thì sự khác biệt mới trở nên rõ ràng; do đó, người chí nguyện cần được rèn luyện về động cơ đúng đắn như một bước chuẩn bị cho công việc huyền bí đích thực.
You can have a gun, and will it be used aggressively to undermine freedom, or will it be used in the cause of freedom — a gun is a gun, but how does it fit into the purpose for which it is used, and thus, with any form, motive becomes the higher factor to consider. Motive often has a lot to do with the orientation of the astral body, and, of course, higher yet, whether we can grasp the orientation of the soul, and the orientation even of higher aspects of our nature.
Một người có thể có một khẩu súng; nó sẽ được dùng để xâm phạm, phá hoại tự do, hay được dùng vì sự nghiệp tự do — súng vẫn là súng, nhưng nó phù hợp thế nào với mục đích sử dụng? Vì vậy, với bất cứ hình tướng nào, động cơ trở thành yếu tố cao hơn cần xem xét. Động cơ thường liên quan rất nhiều đến định hướng của thể cảm dục, và dĩ nhiên, ở mức cao hơn nữa, là liệu chúng ta có thể nắm bắt định hướng của linh hồn, thậm chí định hướng của những phương diện cao hơn trong bản chất mình hay không.
So, we're almost to Rule Ten, that great big one, and we have finished looking at the succinct statements about the words "left-hand path" — it serves only the matter aspect, it lacks soul contribution, although interestingly he tells us some quite powerful black magicians do work upon the higher mental plane; it's a path of progress for substance or matter, not the path of progress for the soul, and all forms are alike for quite a while, but they have to show themselves and prove themselves according to the purpose for which they are created and how they are used.
Chúng ta gần đến Quy luật Mười, quy luật rất dài ấy, và đã xem xét xong những phát biểu súc tích về các từ “tả đạo” — nó chỉ phụng sự phương diện vật chất, thiếu sự đóng góp của linh hồn, dù điều thú vị là Ngài cho biết một số nhà hắc thuật khá mạnh quả có hoạt động trên cõi thượng trí; đó là con đường tiến bộ của chất liệu hay vật chất, không phải con đường tiến bộ của linh hồn, và mọi hình tướng đều giống nhau trong một thời gian khá dài, nhưng chúng phải bộc lộ và chứng tỏ mình theo mục đích tạo ra chúng và cách sử dụng chúng.
[41] The question might be asked: What is meant by occult work?
[41] Có thể đặt câu hỏi: Công việc huyền bí có nghĩa là gì?
We are all seeking to be workers in what I quite persistently call spiritual Occultism these days, because Occultism per se has such a bad name, due to superstition and the common understanding of investigators, not the enlightened understanding.
Tất cả chúng ta đều tìm cách trở thành những người hoạt động trong lĩnh vực mà ngày nay tôi kiên trì gọi là huyền bí học tinh thần, bởi chính huyền bí học mang tiếng xấu đến vậy do mê tín và cách hiểu thông thường của những người tìm hiểu, chứ không phải cách hiểu sáng suốt.
[42] True occult work involves:
[42] Công việc huyền bí đích thực bao gồm:
[42b] 1. The contacting of the Plan.
[42b] 1. Tiếp xúc với Thiên Cơ.
We all have to ask ourselves to what extent have we done this, and what has been the result.
Tất cả chúng ta đều phải tự hỏi mình đã làm điều này đến mức nào, và kết quả là gì.
[43] 2. Right desire to co-operate with the Plan.
[43] 2. Ước muốn đúng đắn nhằm hợp tác với Thiên Cơ.
The members of the Black Lodge are constantly trying to find out what really is the Plan, so they can obstruct it — I guess the higher aspects of the Plan are concealed from them — and what a great responsibility it is on our part if aspects of the Plan should be vouchsafed to us, given to us, and we have to protect those things, both by word of mouth and by thought.
Các thành viên Hắc đoàn không ngừng cố tìm ra Thiên Cơ thực sự là gì để có thể cản trở — tôi cho rằng những phương diện cao hơn của Thiên Cơ được giấu kín đối với họ — và trách nhiệm của chúng ta lớn lao biết bao nếu những phương diện của Thiên Cơ được trao phó, được ban cho chúng ta; chúng ta phải bảo vệ những điều ấy, cả trong lời nói lẫn tư tưởng.
[44] 3. The work of thought-form building and the confining of the attention of the creator of these thought-forms to the mental plane.
[44] 3. Công việc xây dựng hình tư tưởng và giữ sự chú ý của người tạo ra những hình tư tưởng ấy trên cõi trí.
That comes first, always, but we have to add the other vehicles to the thought-form.
Điều đó luôn đến trước, nhưng chúng ta phải bổ sung những hiện thể khác vào hình tư tưởng.
[45] This is of so potent a nature that the thought-forms created have a life cycle of their own and never fail to manifest and perform their work.
[45] Việc này có sức mạnh đến mức những hình tư tưởng được tạo ra có chu kỳ sống riêng và luôn biểu hiện, thực hiện công việc của chúng.
We might say that every thought created has its own effect, even if a tiny physical one.
Có thể nói rằng mỗi tư tưởng được tạo ra đều có tác động riêng, dù chỉ là một tác động rất nhỏ trên cõi hồng trần.
[46] 4. The direction of the thought-form from the mental plane and the confining of the attention to that specific enterprise, knowing that right thought and right orientation lead to correct functioning and the sure avoidance of the left hand path.
[46] 4. Điều khiển hình tư tưởng từ cõi trí và giới hạn sự chú ý vào công việc cụ thể ấy, với sự hiểu biết rằng tư tưởng đúng đắn và định hướng đúng đắn dẫn đến hoạt động đúng đắn và bảo đảm tránh được tả đạo.
So we have seen what true occult work involves — contacting the Plan, right desire to cooperate with the Plan, thought-form building upon the mental plane, and directing the thought-form to the correct path, knowing that right thought and right orientation lead to correct functioning and the sure avoidance of the left-hand path. This is a very important section.
Như vậy, chúng ta đã thấy công việc huyền bí chân chính bao gồm những gì — tiếp xúc với Thiên Cơ, mong muốn đúng đắn được hợp tác với Thiên Cơ, xây dựng hình tư tưởng trên cõi trí, và hướng hình tư tưởng vào con đường đúng đắn, biết rằng tư tưởng đúng đắn và định hướng đúng đắn dẫn đến hoạt động đúng đắn và chắc chắn tránh được tả đạo. Đây là một phần rất quan trọng.
[47] This is a lesson little appreciated by aspirants. They engage in emotional desire for the appearance of their thought-form and the manifestation of the idea. They spend much time following the orthodox methods of work and in physical plane activities.
[47] Đây là một bài học mà ít người chí nguyện nhận thức đầy đủ. Họ chìm vào ham muốn cảm xúc mong hình tư tưởng của mình xuất hiện và ý tưởng được biểu hiện. Họ dành nhiều thời gian làm theo những phương pháp làm việc chính thống và tham gia các hoạt động trên cõi hồng trần.
Which can manifest a thought-form, yes, indeed.
Quả thật, những điều ấy có thể làm cho một hình tư tưởng biểu hiện.
[48] They wear themselves out by identifying themselves with the form they have created instead of remaining detached from it, and acting solely as the directing agents.
[48] Họ làm mình kiệt sức vì đồng hoá với hình tướng mình đã tạo ra, thay vì giữ sự tách rời với nó và chỉ hành động như những tác nhân điều khiển.
That's a big lesson — the debilitating, hands-on attitude. They need to learn to work from the plane of mind.
Đó là một bài học lớn — thái độ trực tiếp nhúng tay vào mọi việc khiến người ta suy kiệt. Họ cần học cách làm việc từ cõi trí.
[49] Learn to work on the plane of mind. Build there your form, remembering that if you submerge yourself in the form for which you are responsible it may obsess and dominate you and then the form will be the dominant factor and not the purpose of its existence.
[49] Hãy học cách làm việc trên cõi trí. Hãy xây dựng hình tướng của các bạn ở đó, và nhớ rằng nếu các bạn đắm chìm trong hình tướng mà mình chịu trách nhiệm, nó có thể ám ảnh và chi phối các bạn; khi ấy, chính hình tướng sẽ là yếu tố chi phối, chứ không phải mục đích tồn tại của nó.
A strong warning not to submerge ourselves within the form we have created.
Một lời cảnh báo mạnh mẽ rằng chúng ta không nên đắm chìm trong hình tướng do mình tạo ra.
[50] When the form controls then comes the danger that it may be turned in the wrong direction and find its way on to the left hand path and so increase the power of matter and its hold over sentient souls
[50] Khi hình tướng nắm quyền kiểm soát, nguy cơ xuất hiện: nó có thể bị chuyển sang hướng sai lầm và đi vào tả đạo, qua đó gia tăng quyền lực của vật chất và sự kìm giữ của vật chất đối với các linh hồn có tri giác.
— and this was not what was intended.
— và đây không phải là điều đã được dự định.
[51] It might be briefly added that anything that tends to increase the power of matter and add to the potent energy of form-substance produces a tendency to the left hand path and a gradual attraction away from the Plan and the Purpose which it veils and hides.
[51] Có thể nói thêm một cách ngắn gọn rằng bất cứ điều gì có xu hướng gia tăng quyền lực của vật chất và tăng thêm năng lượng mạnh mẽ của hình tướng-chất liệu đều tạo ra khuynh hướng đi vào tả đạo và dần dần lôi kéo rời xa Thiên Cơ cùng Thiên Ý mà nó che phủ và giấu kín.
So, we have here a number of warnings — are we somehow too close to the forms we create? Those of us who've been involved in creating organizations, works of art, books, or whatever — how immersed are we in our creations, and can our creations thereby be taken off the path for which they were intended, and instead be used in a negative way?
Ở đây, chúng ta có một số lời cảnh báo — liệu có phải bằng cách nào đó chúng ta quá gắn bó với những hình tướng mình tạo ra? Những ai trong chúng ta từng tham gia tạo dựng các tổ chức, tác phẩm nghệ thuật, sách hay bất cứ thứ gì khác — chúng ta đắm chìm đến mức nào trong những sáng tạo của mình, và liệu vì thế mà những sáng tạo ấy có thể bị đưa chệch khỏi con đường đã định, để rồi bị sử dụng theo cách tiêu cực hay không?
[52] All work and all created thought-forms (whether they materialize as an organization, a religion, a school of thought, a book or a life work of any kind) which express spiritual ideals and lay the emphasis upon the life-aspect come under the category of white magic.
[52] Mọi công việc và mọi hình tư tưởng được tạo ra (dù chúng hiện hình thành một tổ chức, một tôn giáo, một trường phái tư tưởng, một cuốn sách hay bất kỳ sự nghiệp trọn đời nào) biểu lộ các lý tưởng tinh thần và nhấn mạnh phương diện sự sống đều thuộc phạm trù chánh thuật.
A really good definition of white magic in relation to the form — how clear that is.
Một định nghĩa thực sự hay về Chánh Thuật trong mối liên hệ với hình tướng — thật rõ ràng biết bao.
[53] They then form part of the stream of life which we call the right hand Path, because it leads humanity out of form into life, and away from matter into consciousness,
[53] Khi ấy, chúng trở thành một phần của dòng sự sống mà chúng ta gọi là chánh đạo, vì dòng ấy dẫn nhân loại ra khỏi hình tướng để đi vào sự sống, và rời vật chất để đi vào tâm thức.
though matter is redeemed upon this right-hand path.
dù vật chất được cứu chuộc trên chánh đạo này.
[54] In an ashram of one of the Great Ones not long ago, a disciple asked his master to express this truth to him in such a way that though the words might be few yet the import would be worthy of continuous consideration. His master made this reply:
[54] Cách đây không lâu, trong ashram của một trong Các Đấng Cao Cả, một đệ tử thỉnh cầu Chân sư của mình diễn đạt chân lý này sao cho dù lời ít, ý nghĩa vẫn đáng để suy ngẫm liên tục. Chân sư của người đệ tử ấy đáp:
[54b] "Only the Sons of Men know the distinction between the magic of the right and left hand ways and when they have achieved, these two ways will disappear. When the Sons of Men know the distinction which exists between matter and substance, the lesson of this epoch will be grasped."
[54b] “Chỉ những người con của nhân loại mới biết sự khác biệt giữa huyền thuật của chánh đạo và tả đạo, và khi họ thành tựu, hai con đường ấy sẽ biến mất. Khi những người con của nhân loại biết sự khác biệt giữa vật chất và chất liệu, họ sẽ nắm được bài học của thời đại này.
I wonder if we are dealing here with the cosmic ethers and the dense physical body of the Planetary or Solar Logos.
Tôi tự hỏi liệu ở đây chúng ta có đang bàn đến các dĩ thái vũ trụ và thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế hay không.
[55] Other lessons will be left but this one passes. Matter and substance together work out the way of darkness. Substance and purpose blended indicate the way of light.
[55] Những bài học khác sẽ còn lại, nhưng bài học này sẽ qua đi. Vật chất và chất liệu cùng nhau tạo nên con đường bóng tối. Chất liệu hòa quyện với mục đích chỉ ra con đường ánh sáng.”
I would like to ponder on this, and I'm sure you would too, but I immediately think of the cosmic ethers and the dense physical body of the Solar Logos — in other words, the lower three subplanes of the cosmic physical plane, and the higher four — and I think that the work of this epoch is to treat the cosmic ethers as substance, and the dense physical body, the lower three subplanes, as matter inherited from the previous solar system, which has to be redeemed. So if we're going to work only in those lower 18 subplanes, or perhaps on occasion in the lower 21, we will be captivated by a great material deva, we are told, and we will not be working out the intended soul magic, white magic, divine love magic of our present second-ray solar system. Obviously there's a lot more we could get into here, but we have to have the experience eventually — I suppose we will make our way onto the cosmic astral plane, and it is said that even there some of the dark ones can be found, in a cosmic form of Black Magic — but maybe not on the cosmic mental plane. For all intents and purposes, matter is the lower 21 subplanes, and substance is the higher 28 subplanes of our cosmic physical plane. I'm not sure what an "epoch" is — it seems like a long period of time, and this one will pass, as an earlier type of expression. We have to learn the difference between the 18 lower subplanes and the higher three mental planes — that gives us a kind of transitional spiritual work within the dense physical body of the Solar Logos, but, building the antahkarana, we have to move beyond it. Well, this book is not always easy.
Tôi muốn suy ngẫm về điều này, và tôi chắc các bạn cũng vậy, nhưng tôi lập tức nghĩ đến các dĩ thái vũ trụ và thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế — nói cách khác, ba cõi phụ thấp và bốn cõi phụ cao của cõi hồng trần vũ trụ — và tôi nghĩ rằng công việc của thời đại này là xem các dĩ thái vũ trụ như chất liệu, còn thể xác đậm đặc, tức ba cõi phụ thấp, như vật chất được kế thừa từ hệ mặt trời trước, vốn phải được cứu chuộc. Vì vậy, nếu chúng ta chỉ làm việc trong 18 cõi phụ thấp ấy, hoặc có lẽ đôi khi trong 21 cõi phụ thấp, thì theo lời dạy, chúng ta sẽ bị một thiên thần vật chất vĩ đại mê hoặc, và sẽ không thực hiện huyền thuật linh hồn, Chánh Thuật, huyền thuật của tình thương thiêng liêng như dự định dành cho hệ mặt trời cung hai hiện nay của chúng ta. Hiển nhiên, ở đây còn nhiều điều nữa mà chúng ta có thể đi sâu, nhưng cuối cùng chúng ta phải có trải nghiệm — tôi cho rằng chúng ta sẽ tiến vào cõi cảm dục vũ trụ, và người ta nói rằng ngay cả ở đó vẫn có thể tìm thấy một số kẻ thuộc bóng tối, trong một dạng Hắc thuật vũ trụ — nhưng có lẽ không phải trên cõi trí vũ trụ. Xét trên thực tế, vật chất là 21 cõi phụ thấp, còn chất liệu là 28 cõi phụ cao của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta. Tôi không chắc một “thời đại” là gì — dường như đó là một khoảng thời gian dài, và thời đại này sẽ qua đi như một kiểu biểu đạt trước kia. Chúng ta phải học cách phân biệt giữa 18 cõi phụ thấp và ba cõi thượng trí — điều đó mang lại cho chúng ta một loại công việc tinh thần chuyển tiếp trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, nhưng khi xây dựng antahkarana, chúng ta phải vượt ra ngoài thể xác ấy. Cuốn sách này không phải lúc nào cũng dễ hiểu.
I think we're at the end — I believe we began on page 265, and we're already on page 271, 265 to 271, and we're going to begin 9.5 — here we have finished 9.4, Rule Nine, and we have finished program number 16. All right, friends, that'll be it for the moment, and we'll continue our work together when it proves possible to do so. Meanwhile, work within the dense physical plane has to be accomplished now and then, so I'll get into this as soon as possible. All the very best, lots of love, study hard, see you later.
Tôi nghĩ chúng ta đã đến phần cuối — tôi tin rằng chúng ta đã bắt đầu ở trang 265, và giờ đã đến trang 271, từ 265 đến 271, và chúng ta sẽ bắt đầu phần 9.5 — ở đây chúng ta đã hoàn tất phần 9.4, Quy luật Chín, và đã hoàn tất chương trình số 16. Các bạn thân mến, tạm thời chúng ta dừng ở đây, và sẽ tiếp tục cùng nhau làm việc khi có thể. Trong lúc này, thỉnh thoảng vẫn phải hoàn thành công việc trên cõi hồng trần đậm đặc, nên tôi sẽ trở lại với việc này sớm nhất có thể. Chúc các bạn mọi điều tốt đẹp nhất, gửi đến các bạn thật nhiều tình thương, hãy chuyên tâm học tập, hẹn gặp lại.