CHRISTIAN GNOSIS
CHARLES W. LEADBEATER
EDITED WITH A FOREWORD BY
STEN VON KRUSENSTIERNA
INTRODUCTION AND NOTES BY
RICHARD SMOLEY
Theosophical Publishing House
Wheaton, Illinois • Chennai, India
Find more books like this at www.questbooks.net
CONTENTS – MỤC LỤC
INTRODUCTION TO THE SECOND EDITION – LỜI GIỚI THIỆU CHO ẤN BẢN THỨ HAI5
THE DIVINE PLAN: EVOLUTION – THIÊN CƠ: TIẾN HÓA24
ABOUT GOD – VỀ THƯỢNG ĐẾ25
2 – 231
THE DESCENT INTO MATTER – SỰ GIÁNG VÀO VẬT CHẤT31
3 – 342
MADE IN THE IMAGE OF GOD – ĐƯỢC TẠO NÊN THEO HÌNH ẢNH CỦA THƯỢNG ĐẾ42
4 – 456
THE HUMAN SOUL – LINH HỒN CON NGƯỜI56
5 – 568
THE METHOD OF HUMAN PROGRESS – PHƯƠNG PHÁP TIẾN BỘ CỦA CON NGƯỜI68
6 – 683
Reincarnation – Sự tái sinh83
7 – 794
THE JUST LAW – ĐỊNH LUẬT CÔNG MINH94
8 – 8106
Salvation – Sự Cứu Rỗi106
PART TWO – PHẦN HAI115
THE INNER TEACHING OF EARLY CHRISTIANITY – GIÁO LÝ NỘI TẠI CỦA CƠ ĐỐC GIÁO SƠ KỲ115
9 – 9115
The Original Teaching – Giáo Lý Nguyên Thủy116
10 – 10126
THE ORIGIN OF THE CREEDS – NGUỒN GỐC CỦA CÁC TÍN ĐIỀU126
11 – 11139
The Father Almighty – Đức Cha Toàn Năng139
12 – 12143
THE SON – ĐỨC CON143
13 – 13155
The Incarnation – Sự Nhập Thể155
14 – 14163
15 – 15170
THE DESCENT INTO HELL – SỰ GIÁNG XUỐNG ĐỊA NGỤC170
16 – 16182
The Resurrection – Sự Phục Sinh182
17 – 17187
The Ascension – Sự Thăng Thiên187
18 – 18196
THE HOLY GHOST – ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN196
19 – 19213
The Church And The Saints – Giáo Hội Và Các Thánh213
20 – 20220
The Remission Of Sins – Sự Xá Miễn Tội Lỗi220
21 – 21227
THE RESURRECTION OF THE DEAD – SỰ PHỤC SINH CỦA NGƯỜI CHẾT227
PART THREE – PHẦN BA234
VARIOUS SUBJECTS – CÁC CHỦ ĐỀ KHÁC NHAU234
22 – 22234
OUR LADY – ĐỨC MẸ235
23 – 23245
The Hosts Of Heaven – Các Đạo Quân Của Thiên Đàng245
24 – 24266
The Communion Of Saints – Sự Thông Công Của Các Thánh267
25 – 25282
The Sacraments – Các Bí Tích282
26 – 26290
The Holy Eucharist – Thánh Thể Thiêng290
27 – 27302
HOLY ORDERS – CÁC CHỨC THÁNH302
28 – 28310
Healing – Chữa Lành310
29 – 29322
Ceremonial – Nghi Lễ322
30 – 30327
The vision of st. John – Linh ảnh của Thánh John327
31 – 31337
Exoteric And Esoteric – Ngoại môn và Nội môn337
32 – 32350
A New Attitude Towards Sin – Một Thái độ Mới Đối với Tội lỗi351
33 – 33363
A Rational Creed – Một Tín điều Hợp lý363
NOTES – GHI CHÚ376
DIAGRAMS – CÁC SƠ ĐỒ
1.
The Three Outpourings
2.
The Principles of Man
3.
An Ultimate Physical Atom
4.
The Consecration of the Host
INTRODUCTION TO THE SECOND EDITION – LỜI GIỚI THIỆU CHO ẤN BẢN THỨ HAI
BY RICHARD SMOLEY
DO RICHARD SMOLEY
Today the word gnosis provokes a cavalcade of associations. It can mean a kind of spiritual experience akin to enlightenment. It can refer to the ancient Christian mystical schools of the early centuries AD or even to a spate of new religious movements that lay claim to the ancient Gnostic heritage.
Ngày nay, từ gnosis gợi lên cả một đoàn những liên tưởng. Nó có thể hàm ý một loại kinh nghiệm tinh thần gần với giác ngộ. Nó có thể chỉ các trường phái thần bí Kitô giáo cổ xưa trong những thế kỷ đầu Công nguyên, hoặc thậm chí chỉ một loạt các phong trào tôn giáo mới tự nhận kế thừa di sản Ngộ đạo cổ xưa.
For Charles W. Leadbeater, whose essays constitute this volume, the meaning of gnosis is different. In ancient Christianity, he tells us, gnosis was a “technical term. It did not mean ordinary wisdom, but the special religious teaching to those who are at the stage of the perfect” (p. 88). He quotes the apostle Paul: “We speak the wisdom of God in a mystery, even the hidden wisdom, which God ordained before the world unto our glory” (1 Cor. 2:7). 1 And he goes on to argue—echoing the great Church Father Origen—that this “hidden wisdom” could not have been the teachings of exoteric Christianity, since these were widely known even to the ancient public.
Đối với Charles W. Leadbeater, người mà các tiểu luận hợp thành tập sách này, ý nghĩa của gnosis lại khác. Ông nói với chúng ta rằng trong Kitô giáo cổ xưa, gnosis là một “thuật ngữ chuyên môn. Nó không có nghĩa là minh triết thông thường, mà là giáo huấn tôn giáo đặc biệt dành cho những ai ở giai đoạn của người toàn thiện” (tr. 88). Ông trích lời tông đồ Phaolô: “Chúng tôi nói minh triết của Thượng đế trong một huyền nhiệm, tức là minh triết ẩn tàng, mà Thượng đế đã định trước khi có thế gian để làm vinh quang cho chúng ta” (1 Côr. 2:7). 1 Và ông tiếp tục lập luận — vọng lại lời của vị Giáo phụ vĩ đại Origen — rằng “minh triết ẩn tàng” này không thể là các giáo huấn của Kitô giáo ngoại môn, vì những giáo huấn ấy đã được công chúng cổ đại biết đến rộng rãi.
It is this “hidden wisdom” that is the topic of this book. It would be foolish of me to spell out these ideas in an introduction, since Leadbeater himself does so clearly and at length, but as a preliminary it would be helpful to say something about these teachings and their context, as well as about the man who presents them.
Chính “minh triết ẩn tàng” này là chủ đề của cuốn sách. Sẽ là thiếu khôn ngoan nếu tôi trình bày tường tận các ý tưởng ấy trong một lời giới thiệu, vì chính Leadbeater đã làm điều đó một cách rõ ràng và dài rộng; nhưng như một bước mở đầu, sẽ hữu ích nếu nói đôi điều về các giáo huấn này và bối cảnh của chúng, cũng như về con người trình bày chúng.
Charles Webster Leadbeater was born in Stockport, England, in 1854 (some sources have given this date incorrectly as 1847). He started his career as a bank clerk, but, thanks to a vocation to the priesthood and help from an influential relative, he was able to pursue theological studies and was ordained as a priest in the Church of England in 1879. In 1883 he joined the Theosophical Society, which had been formed in 1875 with the partial object of exploring “the hidden mysteries of nature and the latent powers in man.”
Charles Webster Leadbeater sinh tại Stockport, Anh, năm 1854 (một số nguồn đã ghi sai ngày này là 1847). Ông khởi đầu sự nghiệp với tư cách nhân viên ngân hàng, nhưng nhờ ơn gọi vào chức linh mục và sự giúp đỡ của một người thân có ảnh hưởng, ông có thể theo đuổi các nghiên cứu thần học và được thụ phong linh mục trong Giáo hội Anh năm 1879. Năm 1883, ông gia nhập Hội Thông Thiên Học, được thành lập năm 1875 với một phần mục tiêu là khảo sát “những huyền nhiệm ẩn tàng của thiên nhiên và các quyền năng tiềm tàng nơi con người.”
One aspect of the Theosophical Society that especially appealed to Leadbeater was its claim that it had been founded under the inspiration of hidden Masters of Wisdom, individuals on earth who were possessed of certain extraordinary powers (such as clairvoyance and telekinesis) and who were in communication with the founders of the Society, notably H. P. Blavatsky and Henry Steel Olcott. Leadbeater wanted to be the disciple of such a Master and even wrote a letter to that effect, transmitted through a “spirit guide” in March 1884. In October of that year, he received a reply—a letter written in blue pencil and signed “KH”—the initials used by Koot Hoomi, one of the Masters. In it Koot Hoomi told him what was involved in the discipleship he sought. The letter also suggested that Leadbeater visit India “for a few months.”
Một phương diện của Hội Thông Thiên Học đặc biệt lôi cuốn Leadbeater là tuyên bố của hội rằng hội đã được thành lập dưới cảm hứng của các Chân sư Minh Triết ẩn mật, những cá nhân trên Trái Đất sở hữu một số quyền năng phi thường nào đó, như thông nhãn và khả năng di chuyển vật thể bằng tâm lực, và giao tiếp với những người sáng lập Hội, đặc biệt là H. P. Blavatsky và Henry Steel Olcott. Leadbeater muốn làm đệ tử của một Chân sư như thế và thậm chí đã viết một lá thư bày tỏ điều ấy, được chuyển qua một “vị hướng dẫn tinh thần” vào tháng Ba năm 1884. Tháng Mười năm ấy, ông nhận được hồi âm — một lá thư viết bằng bút chì xanh và ký “KH” — các chữ viết tắt được Koot Hoomi, một trong các Chân sư, sử dụng. Trong thư, Koot Hoomi cho ông biết địa vị đệ tử mà ông tìm kiếm bao hàm điều gì. Lá thư cũng gợi ý rằng Leadbeater nên thăm Ấn Độ “trong vài tháng.”
At the time Leadbeater had no personal ties in England, so he resolved to go to India and stay there indefinitely. He arrived at the end of 1884. The following year he embarked upon a course of study (which he mentions occasionally in this collection) that enabled him to develop certain psychic faculties, notably clairvoyance. This faculty would inform much of his writing for the rest of his life.
Vào thời điểm đó, Leadbeater không có ràng buộc cá nhân nào ở Anh, nên ông quyết định sang Ấn Độ và ở lại đó vô thời hạn. Ông đến nơi vào cuối năm 1884. Năm sau, ông bắt đầu một khóa học, đôi khi ông nhắc đến trong tuyển tập này, giúp ông phát triển một số năng lực thông linh, đặc biệt là thông nhãn. Năng lực này sẽ thấm nhuần phần lớn trước tác của ông trong suốt phần đời còn lại.
Leadbeater became a close associate of Annie Besant, who had joined the Theosophical Society in 1889 and would become its leader in the following decade. Together with Besant, Leadbeater conducted inquiries into the psychic realms that led to such works as the 1895 collection Occult Chemistry, in which the authors described their visions of subatomic particles (objects that were still unknown to science, which still regarded the atom as an irreducible entity). Other works inspired by his research include The Astral Plane, Invisible Helpers, The Other Side of Death, Man Visible and Invisible, and The Chakras. These last two proved to be particularly influential, and to this day there are very few New Age books on the subtle bodies of man or the chakras that are not more or less directly influenced by Leadbeater.
Leadbeater trở thành cộng sự thân cận của Annie Besant, người đã gia nhập Hội Thông Thiên Học năm 1889 và sẽ trở thành lãnh đạo của hội trong thập niên sau đó. Cùng với Besant, Leadbeater tiến hành những khảo cứu vào các cảnh giới thông linh, dẫn đến những tác phẩm như tuyển tập Hóa Học Huyền Bí năm 1895, trong đó các tác giả mô tả các linh ảnh của họ về những hạt hạ nguyên tử, những đối tượng khi ấy khoa học vẫn chưa biết đến, vì khoa học vẫn xem nguyên tử là một thực thể không thể phân chia. Các tác phẩm khác được gợi hứng từ nghiên cứu của ông gồm Cõi Cảm Dục, Những Người Trợ Giúp Vô Hình, Bên Kia Cái Chết, Con Người Hữu Hình và Vô Hình, và Các Luân Xa. Hai tác phẩm cuối tỏ ra có ảnh hưởng đặc biệt, và cho đến ngày nay, rất ít sách Thời Đại Mới về các thể tinh anh của con người hoặc về các luân xa mà không chịu ảnh hưởng ít nhiều trực tiếp từ Leadbeater.
In 1906, Leadbeater fell afoul of accusations of sexual impropriety with young boys. Evidently he had—very much against the mores of the time—advised them to masturbate. Whether he did anything more is rather hard to determine, but, in any event he left the Theosophical Society in 1906 and pursued his own occult researches for the next three years, until Annie Besant, at this point the president of the society, invited him to return. He did so and settled at the society’s world headquarters at Adyar, near Madras (today’s Chennai), India. In 1909 he took an interest in a young Brahmin boy, Jiddu Krishnamurti, foreseeing that he would display remarkable qualities. Besant agreed, predicting that Krishnamurti would serve as a vehicle for the new “World Teacher” who was destined to come and inaugurate a new cycle for humanity. Krishnamurti was taken up by Besant and Leadbeater and given the finest English education available at the time. The Theosophists even formed a society, the Order of the Star, to promote Krishnamurti’s work as World Teacher.
Năm 1906, Leadbeater vướng vào những cáo buộc về hành vi tình dục không đúng mực với các thiếu niên. Rõ ràng, ông đã — điều này đi ngược rất mạnh với phong hóa thời ấy — khuyên họ thủ dâm. Liệu ông có làm điều gì hơn thế hay không thì khá khó xác định, nhưng trong mọi trường hợp, ông rời Hội Thông Thiên Học năm 1906 và tiếp tục các nghiên cứu huyền bí riêng trong ba năm kế tiếp, cho đến khi Annie Besant, lúc này là chủ tịch hội, mời ông trở lại. Ông đã trở lại và định cư tại trụ sở thế giới của hội ở Adyar, gần Madras, nay là Chennai, Ấn Độ. Năm 1909, ông chú ý đến một thiếu niên Bà-la-môn trẻ, Jiddu Krishnamurti, tiên kiến rằng cậu sẽ biểu lộ những phẩm tính phi thường. Besant đồng ý, dự đoán rằng Krishnamurti sẽ phụng sự như một hiện thể cho “Đức Chưởng Giáo” mới, Đấng được định sẽ đến và mở đầu một chu kỳ mới cho nhân loại. Krishnamurti được Besant và Leadbeater nhận bảo trợ và được trao nền giáo dục Anh tốt nhất thời bấy giờ. Những nhà Thông Thiên Học thậm chí còn thành lập một hội, Dòng Ngôi Sao, để thúc đẩy công việc của Krishnamurti với tư cách Đức Chưởng Giáo.
The predictions for Krishnamurti did have some validity. He became one of the most influential spiritual teachers of the twentieth century but in the opposite way to what Besant and Leadbeater had expected. In 1929, in a famous speech, “Truth Is a Pathless Land,” he dissolved the Order of the Star. “You can form other organizations and expect someone else,” he told his followers. “With that I am not concerned, nor with creating new cages, new decorations for those cages. My only concern is to set men absolutely, unconditionally free.” 2
Các dự đoán dành cho Krishnamurti quả có phần đúng. Ông trở thành một trong những huấn sư tinh thần có ảnh hưởng nhất của thế kỷ hai mươi, nhưng theo hướng ngược lại với điều Besant và Leadbeater đã mong đợi. Năm 1929, trong bài diễn văn nổi tiếng “Chân lý là một vùng đất không có lối mòn,” ông giải tán Dòng Ngôi Sao. “Các bạn có thể lập những tổ chức khác và trông đợi một người nào khác,” ông nói với những người theo mình. “Tôi không quan tâm đến điều đó, cũng không quan tâm đến việc tạo ra những chiếc lồng mới, những vật trang trí mới cho các chiếc lồng ấy. Mối quan tâm duy nhất của tôi là giải phóng con người một cách tuyệt đối, vô điều kiện.” 2
Undaunted by this reversal, Leadbeater continued his work and promoted the concept of a new, previously unknown member of the hierarchy of adepts: the World Mother, whom he also mentions in Christian Gnosis. He died in Perth, Western Australia, on March 1, 1934.
Không nản lòng trước sự đảo ngược này, Leadbeater tiếp tục công việc của mình và cổ xúy khái niệm về một thành viên mới, trước đó chưa được biết đến, trong Thánh Đoàn các chân sư: Đức Mẹ Thế Giới, người mà ông cũng nhắc đến trong Gnosis Kitô Giáo. Ông mất tại Perth, Tây Úc, ngày 1 tháng 3 năm 1934.
Such are the bare facts of Leadbeater’s life. To understand their relationship to this present work, we need to begin with his clairvoyant experience while observing the Christian sacraments. He noticed that even when an uninspired priest was performing a mass in front of an ignorant congregation, certain “thought-forms” of an unusual nature were created. He would discuss this experience in a number of works, notably The Science of the Sacraments , which gives a thorough description of these astral thought-forms and even related them to certain well-known types of church structure.
Đó là những dữ kiện trần trụi về đời Leadbeater. Để thấu hiểu mối liên hệ của chúng với tác phẩm hiện tại này, chúng ta cần bắt đầu với kinh nghiệm thông nhãn của ông khi quan sát các bí tích Kitô giáo. Ông nhận thấy rằng ngay cả khi một linh mục không có cảm hứng đang cử hành thánh lễ trước một cộng đoàn thiếu hiểu biết, vẫn có một số “hình tư tưởng” có bản chất khác thường được tạo ra. Ông sẽ bàn về kinh nghiệm này trong một số tác phẩm, đặc biệt là Khoa Học về các Bí Tích, tác phẩm mô tả kỹ lưỡng các hình tư tưởng cảm dục này và thậm chí liên hệ chúng với một số kiểu cấu trúc nhà thờ quen thuộc.
Leadbeater began to turn these ideas into practice in 1915. At this point, the English Theosophist James Wedgwood (1883–1951) came to Sydney. Wedgwood had been ordained as a priest by Arnold Harris Mathew (1852–1919), Old Catholic Archbishop of Great Britain, who, by his secession from the Old Catholic Church of Utrecht, was considered to be a “wandering bishop” in an independent sacramental line.
Leadbeater bắt đầu đưa các ý tưởng này vào thực hành năm 1915. Vào lúc ấy, nhà Thông Thiên Học người Anh James Wedgwood (1883–1951) đến Sydney. Wedgwood đã được Arnold Harris Mathew (1852–1919), Tổng giám mục Cựu Công giáo của Đại Anh, thụ phong linh mục; do việc tách khỏi Giáo hội Cựu Công giáo Utrecht, Mathew được xem là một “giám mục lang thang” trong một dòng bí tích độc lập.
The concept of wandering bishops and independent sacramental lines may sound peculiar, but it is extremely important for placing Christian Gnosis in the context of Christianity as a whole. The idea comes from a peculiarity in Roman Catholic doctrine: an ordinary priest can be unfrocked—that is, he can be stripped of his role and his office—but a bishop cannot be unconsecrated. (The correct terminology is that a priest is ordained, whereas a bishop is consecrated.) A bishop remains a bishop even if he “wanders”—that is, separates himself from the Church. Stephan A. Hoeller, bishop of the Ecclesia Gnostica in Hollywood and himself the holder of an independent sacramental lineage, explains the concept thus: “Due to an early tradition, articulated but not invented by St. Augustine, the orthodoxy and validity of apostolic succession were not considered identical. Bishops could be heretics, yet could exercise their office as stewards of the sacraments in a valid manner. This doctrine (known as the Augustinian doctrine of orders) has been held to this day by the Roman Catholic Church. Provided the ‘wandering ones’ held the same intentions when ordaining their successors as those traditionally held by sacramental Christendom over the ages, they could pass on their sacred powers and administer the sacraments in a manner that the popes would recognize as valid.” 3
Khái niệm về các giám mục lang thang và các dòng bí tích độc lập có thể nghe lạ lùng, nhưng nó cực kỳ quan trọng để đặt Gnosis Kitô Giáo vào bối cảnh của Kitô giáo nói chung. Ý tưởng này xuất phát từ một điểm đặc thù trong giáo lý Công giáo La Mã: một linh mục thông thường có thể bị tước áo dòng — nghĩa là bị tước vai trò và chức vụ — nhưng một giám mục thì không thể bị giải thánh hiến. Thuật ngữ đúng là linh mục được thụ phong, còn giám mục được thánh hiến. Một giám mục vẫn là giám mục ngay cả khi ông “lang thang” — tức là tách mình khỏi Giáo hội. Stephan A. Hoeller, giám mục của Ecclesia Gnostica tại Hollywood và chính ông là người nắm giữ một truyền thừa bí tích độc lập, giải thích khái niệm này như sau: “Do một truyền thống sớm, được Thánh Augustine diễn đạt nhưng không phát minh, tính chính thống và tính hữu hiệu của sự kế nhiệm tông truyền không được xem là đồng nhất. Các giám mục có thể là dị giáo, nhưng vẫn có thể thi hành chức vụ của mình như những người quản nhiệm các bí tích một cách hữu hiệu. Giáo lý này, được gọi là giáo lý Augustine về các chức thánh, vẫn được Giáo hội Công giáo La Mã giữ cho đến ngày nay. Miễn là những ‘người lang thang’ giữ cùng ý hướng khi thụ phong cho những người kế nhiệm như các ý hướng mà Kitô giáo bí tích truyền thống đã giữ qua các thời đại, họ có thể truyền lại các quyền năng thiêng liêng của mình và cử hành các bí tích theo một cách mà các giáo hoàng sẽ công nhận là hữu hiệu.” 3
Holders of these traditions included bishops of the South Indian Church, which traces its origins to the apostle Thomas, and the Old Catholic Church of Holland, the first bishop of which was consecrated in 1724 and which is still (somewhat grudgingly) granted status as a legitimate apostolic church by Rome. It was in the Dutch Old Catholic line that Mathew held his episcopate. Mathew had also consecrated Frederick Samuel Willoughby as a bishop (although he suspended him from the English branch of the Dutch Old Catholic Church because of a scandal involving homosexuality), and Willoughby in turn consecrated Wedgwood in 1916. Wedgwood and Leadbeater formed the Liberal Catholic Church, also in 1916, with Wedgwood as first Presiding Bishop.
Những người nắm giữ các truyền thống này bao gồm các giám mục của Giáo hội Nam Ấn, vốn truy nguyên nguồn gốc đến tông đồ Tôma, và Giáo hội Cựu Công giáo Hà Lan, vị giám mục đầu tiên của giáo hội này được thánh hiến năm 1724 và hiện vẫn được Rôma công nhận, dù có phần miễn cưỡng, là một giáo hội tông truyền hợp pháp. Chính trong dòng Cựu Công giáo Hà Lan mà Mathew giữ chức giám mục của mình. Mathew cũng đã thánh hiến Frederick Samuel Willoughby làm giám mục, mặc dù ông đình chỉ Willoughby khỏi nhánh Anh của Giáo hội Cựu Công giáo Hà Lan do một vụ tai tiếng liên quan đến đồng tính luyến ái; rồi đến lượt Willoughby thánh hiến Wedgwood năm 1916. Wedgwood và Leadbeater thành lập Giáo hội Công giáo Tự do, cũng vào năm 1916, với Wedgwood là Giám mục Chủ tọa đầu tiên.
While the strands of the wandering bishops’ lines can become extremely hard to sort out, the basic picture is clear. The Liberal Catholic Church was intended to serve as a combination of the Catholic sacramental heritage with a theology that was close to that of Theosophy. While there is no formal connection between the Liberal Catholic Church and the Theosophical Society, in practice there is much overlap, and many Liberal Catholic clergy are Theosophists.
Dù các nhánh của những dòng giám mục lang thang có thể trở nên cực kỳ khó phân định, bức tranh căn bản vẫn rõ ràng. Giáo hội Công giáo Tự do được dự định phụng sự như một sự kết hợp giữa di sản bí tích Công giáo và một nền thần học gần với Thông Thiên Học. Dù không có mối liên hệ chính thức giữa Giáo hội Công giáo Tự do và Hội Thông Thiên Học, trên thực tế có nhiều phần chồng lấn, và nhiều giáo sĩ Công giáo Tự do là các nhà Thông Thiên Học.
This background helps explain what we have in this volume, which hews quite closely to many aspects of Catholic practice and even doctrine but interprets them in Theosophical terms. Indeed much of this book consists of a line-by-line exegesis of the great Catholic creeds—particularly the Nicene and Apostles’ creeds—in light of this thought.
Bối cảnh này giúp giải thích điều chúng ta có trong tập sách này, vốn bám khá sát nhiều phương diện của thực hành Công giáo và thậm chí cả giáo lý Công giáo, nhưng diễn giải chúng theo các thuật ngữ Thông Thiên Học. Thật vậy, phần lớn cuốn sách này gồm một diễn giải từng dòng về các tín điều Công giáo lớn — đặc biệt là Tín điều Nicaea và Tín điều các Tông đồ — dưới ánh sáng của tư tưởng này.
Certainly Leadbeater’s theology diverges from traditional Catholic teaching in any number of respects. One of the most notable ones is the nature and person of Christ. Unlike Catholicism and Eastern Orthodoxy, which, over the course of innumerable church councils, pieced together a view of the dual nature of Christ as truly God and truly man, Leadbeater’s Christology entails a version of adoptionism. That is, Christ and the man Jesus are not identical in the sense that orthodox theologians would understand: to Leadbeater, the Christ is a discarnate being known as the World Teacher, who has taken incarnation on many occasions and who, in the first century AD, took over the physical person of the disciple Jesus when the latter was baptized by John. (Besant and Leadbeater apparently believed that the same World Teacher would use the human form of Krishnamurti in the same way.)
Chắc chắn thần học của Leadbeater khác với giáo huấn Công giáo truyền thống ở nhiều phương diện. Một trong những điểm đáng chú ý nhất là bản chất và ngôi vị của Đức Christ. Khác với Công giáo và Chính thống giáo Đông phương, vốn qua vô số công đồng giáo hội đã ghép lại một quan điểm về bản tính kép của Đức Christ như vừa thật là Thượng đế vừa thật là con người, Kitô học của Leadbeater bao hàm một phiên bản của thuyết nhận làm con nuôi. Nghĩa là Đức Christ và con người Jesus không đồng nhất theo nghĩa mà các nhà thần học chính thống sẽ hiểu: đối với Leadbeater, Đức Christ là một Sinh Mệnh không có thể xác được biết đến như Đức Chưởng Giáo, Đấng đã nhập thể nhiều lần và, vào thế kỷ thứ nhất Công nguyên, đã tiếp nhận con người hồng trần của đệ tử Jesus khi vị này được Gioan làm phép rửa. Rõ ràng Besant và Leadbeater tin rằng cùng Đức Chưởng Giáo ấy sẽ sử dụng hình tướng con người của Krishnamurti theo cùng cách.
Still other teachings that Leadbeater advances in these essays depart from conventional Christian thought: reincarnation, karma, and evolution. Reincarnation has always had a shadowy place in Christian teaching: it is difficult to find any specific condemnation of it by any of the great Church councils—which were generous in their anathemas against most other doctrines—but, on the other hand, none of the Church Fathers taught it, and most of them denounced it, even Origen, whom Leadbeater—incorrectly, in my view—presents as an advocate of the teaching. Origen did believe in the preexistence of the soul, and while some passages in his writings seem to incline toward reincarnation, it is also the case that he repudiates it specifically and vigorously on a number of occasions. (See my endnote on the subject.)
Còn những giáo huấn khác mà Leadbeater nêu ra trong các tiểu luận này cũng rời xa tư tưởng Kitô giáo thông thường: luân hồi, nghiệp quả, và tiến hoá. Luân hồi luôn có một vị trí mờ bóng trong giáo huấn Kitô giáo: khó tìm thấy bất kỳ sự lên án cụ thể nào đối với nó từ bất kỳ công đồng lớn nào của Giáo hội — các công đồng vốn rất rộng rãi trong những lời nguyền rủa đối với hầu hết các giáo lý khác — nhưng mặt khác, không Giáo phụ nào giảng dạy điều ấy, và đa số các vị lên án nó, kể cả Origen, người mà Leadbeater — theo quan điểm của tôi, không chính xác — trình bày như một người bênh vực giáo huấn này. Origen quả có tin vào sự tiền hiện hữu của linh hồn, và tuy một số đoạn trong trước tác của ông dường như nghiêng về luân hồi, sự thật cũng là ông bác bỏ nó một cách rõ ràng và mạnh mẽ trong nhiều dịp. Xem chú thích cuối của tôi về chủ đề này.
The idea of evolution is also absent from Christianity and indeed from Western esoteric thought until the nineteenth century. I do not mean the Darwinian view of the evolution of species, but the evolution of the individual spirit in its descent from the unseen realms to the world of matter and its slow but inevitable return to its source. As Theosophy—and Leadbeater—depict this process, this evolution entails numberless incarnations, each of which contributes slowly and perhaps infinitesimally to the development of the Ego—(the Theosophical term for the permanent, immortal “I” as opposed to the perishable body and personality). Esoteric study and development accelerates this process but does not fundamentally alter it. Nor, apparently, can this evolution be reversed: a human soul, no matter how corrupt or evil, cannot return to the state of a plant or an animal.
Ý tưởng về tiến hoá cũng vắng bóng trong Kitô giáo và thật ra trong tư tưởng bí truyền phương Tây cho đến thế kỷ mười chín. Tôi không nói đến quan điểm Darwin về sự tiến hoá của các loài, mà nói đến sự tiến hoá của tinh thần cá nhân trong cuộc giáng hạ từ các cảnh giới vô hình xuống thế giới vật chất và sự trở về chậm rãi nhưng tất yếu của nó với nguồn cội. Như Thông Thiên Học — và Leadbeater — mô tả tiến trình này, sự tiến hoá này bao hàm vô số lần nhập thể, mỗi lần đóng góp một cách chậm rãi và có lẽ vô cùng nhỏ bé vào sự phát triển của Chân ngã — thuật ngữ Thông Thiên Học chỉ cái “Tôi” trường tồn, bất tử, đối lập với thể xác và phàm ngã hư hoại. Việc nghiên cứu và phát triển huyền bí học làm gia tốc tiến trình này nhưng không làm thay đổi nó một cách căn bản. Và rõ ràng sự tiến hoá này cũng không thể đảo ngược: một linh hồn con người, dù đồi bại hay tà ác đến đâu, cũng không thể trở lại trạng thái của một cây cỏ hay một con vật.
Personally, I find it difficult to find anything but the faintest traces of the doctrine of evolution in esoteric thought, Eastern or Western, before the advent of Theosophy in the late nineteenth century. While the Eastern religions do teach reincarnation, they do not as a rule present it in an evolutionary context. According to them, the living spirit—what some Eastern schools call the jiva or “life principle”—can and does pass through endless incarnations, as a man, as a god, as an animal. But it does not evolve or develop; it is trapped in this endless cycle and returns to these states over and over again. This is, in fact, the Wheel of Kama—of life and death—that is presented in so many Buddhist works of art. Only enlightenment can take one off this whirligig. Thus evolution, in this sense, is most likely an innovation introduced by Theosophy in the wake of scientific discoveries of the nineteenth century. If it existed as a part of the “hidden wisdom” before this point, it was very hidden indeed.
Cá nhân tôi thấy khó tìm được điều gì ngoài những dấu vết mờ nhạt nhất của giáo lý tiến hoá trong tư tưởng bí truyền, Đông phương hay Tây phương, trước khi Thông Thiên Học xuất hiện vào cuối thế kỷ mười chín. Dù các tôn giáo Đông phương có dạy về luân hồi, nói chung họ không trình bày nó trong một bối cảnh tiến hoá. Theo họ, tinh thần sống động — điều mà một số trường phái Đông phương gọi là jiva hay “nguyên khí sự sống” — có thể và quả thật đi qua vô tận các lần nhập thể, làm người, làm thần, làm thú vật. Nhưng nó không tiến hoá hay phát triển; nó bị mắc kẹt trong chu kỳ vô tận này và trở lại các trạng thái ấy hết lần này đến lần khác. Thật vậy, đây là Bánh xe của Kama — của sự sống và cái chết — được trình bày trong rất nhiều tác phẩm nghệ thuật Phật giáo. Chỉ giác ngộ mới có thể đưa một người ra khỏi vòng quay ấy. Vì vậy, tiến hoá, theo nghĩa này, rất có thể là một đổi mới do Thông Thiên Học đưa vào sau các khám phá khoa học của thế kỷ mười chín. Nếu nó đã tồn tại như một phần của “minh triết ẩn tàng” trước thời điểm này, thì quả thật nó đã được ẩn giấu rất sâu.
I mention these ideas only as examples; Leadbeater himself spells out many of his other doctrinal positions, all the while emphasizing that, unlike the Catholic Church, the Liberal Catholic Church does not insist upon adherence or belief on the part of its communicants; it administers the sacraments as a service to all those who seek them out.
Tôi chỉ nhắc đến các ý tưởng này như những ví dụ; chính Leadbeater trình bày tường tận nhiều lập trường giáo lý khác của ông, đồng thời luôn nhấn mạnh rằng, khác với Giáo hội Công giáo, Giáo hội Công giáo Tự do không đòi hỏi sự tuân thủ hay niềm tin từ phía những người rước lễ; giáo hội cử hành các bí tích như một sự phụng sự dành cho tất cả những ai tìm đến chúng.
It would be inappropriate to lengthen this book further by any more discussion of Leadbeater’s theological ideas or of the circumstances by which this book was created; these are outlined in the foreword by Sten von Krusenstierna, late Presiding Bishop of the Liberal Catholic Church, who assembled these writings into this volume.
Sẽ không thích hợp nếu làm cuốn sách này dài thêm bằng bất kỳ thảo luận nào nữa về các ý tưởng thần học của Leadbeater hoặc về những hoàn cảnh khiến cuốn sách này được tạo thành; những điều này đã được phác họa trong lời tựa của Sten von Krusenstierna, cố Giám mục Chủ tọa của Giáo hội Công giáo Tự do, người đã tập hợp các bài viết này thành tập sách hiện nay.
I need only say something about the present edition. This volume contains the full text of Leadbeater’s writings in The Christian Gnosis as published by St. Alban Press in 1983. (The definite article in the title has been left out as a concession to the current taste for brevity.) I have omitted a short biography of Leadbeater by Krusenstierna, although I have relied on it for the biographical sketch in this introduction. I have not cut or changed Leadbeater’s text in any way, except to alter the punctuation, particularly the internal punctuation of sentences. For example, Leadbeater’s use of commas to separate parts of compound sentences and relative clauses is different from early twenty-first century usage, so I have modified these to some degree. In every case, however, I have taken pains to avoid changing the meaning or even the nuance of the original text. I have made the capitalization of words more consistent and changed spellings to accord with American orthography. I have also added references for some citations, including biblical quotations that Leadbeater did not identify. Leadbeater’s biblical citations are indicated by parentheses (); mine are inserted in square brackets [].
Tôi chỉ cần nói đôi điều về ấn bản hiện tại. Tập sách này chứa toàn văn các trước tác của Leadbeater trong Gnosis Kitô Giáo như đã được St. Alban Press xuất bản năm 1983. Mạo từ xác định trong nhan đề đã được lược bỏ như một sự nhượng bộ đối với thị hiếu hiện nay chuộng sự ngắn gọn. Tôi đã bỏ một tiểu sử ngắn về Leadbeater do Krusenstierna viết, mặc dù tôi đã dựa vào đó cho phác thảo tiểu sử trong lời giới thiệu này. Tôi không cắt bỏ hay thay đổi văn bản của Leadbeater theo bất kỳ cách nào, ngoại trừ việc sửa dấu câu, đặc biệt là dấu câu bên trong các câu. Chẳng hạn, cách Leadbeater dùng dấu phẩy để tách các phần của câu ghép và các mệnh đề quan hệ khác với lối dùng đầu thế kỷ hai mươi mốt, nên tôi đã điều chỉnh chúng ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tôi đã hết sức cẩn trọng để tránh thay đổi ý nghĩa hoặc thậm chí sắc thái của nguyên văn. Tôi đã làm cho cách viết hoa các từ nhất quán hơn và đổi chính tả cho phù hợp với chính tả Mỹ. Tôi cũng thêm các tham chiếu cho một số trích dẫn, gồm cả các trích dẫn Kinh Thánh mà Leadbeater không xác định. Các trích dẫn Kinh Thánh của Leadbeater được ghi bằng ngoặc đơn (); của tôi được chèn trong ngoặc vuông [].
The endnotes come from three sources. Some are Leadbeater’s own; some were added by Sten von Krusenstierna; the rest are my additions. These are indicated with the initials CWL, SVK, and RS, respectively. In the case of my notes, I have not attempted to give exhaustive annotations of every concept or figure mentioned by Leadbeater; I have focused on identifying things that may seem unclear to the contemporary reader.
Các chú thích cuối đến từ ba nguồn. Một số là của chính Leadbeater; một số do Sten von Krusenstierna thêm vào; phần còn lại là các bổ sung của tôi. Chúng được chỉ bằng các chữ viết tắt CWL, SVK, và RS, theo thứ tự tương ứng. Trong trường hợp các chú thích của tôi, tôi không cố đưa ra các chú giải đầy đủ về mọi khái niệm hay nhân vật mà Leadbeater nhắc đến; tôi tập trung vào việc nhận diện những điều có thể có vẻ không rõ đối với độc giả đương thời.
Finally, two acknowledgments are in order. First, I would like to thank Jeffrey Forth, former national secretary of the Theosophical Society in America, who first brought this book to my attention. I would also like to thank Graham Wale, Presiding Bishop of the Liberal Catholic Church, for his gracious help and permission in allowing Quest Books to reprint the work.
Cuối cùng, cần có hai lời tri ân. Trước hết, tôi muốn cảm ơn Jeffrey Forth, cựu thư ký toàn quốc của Hội Thông Thiên Học tại Mỹ, người đầu tiên đưa cuốn sách này đến sự chú ý của tôi. Tôi cũng muốn cảm ơn Graham Wale, Giám mục Chủ tọa của Giáo hội Công giáo Tự do, vì sự giúp đỡ nhã nhặn và sự cho phép của ông trong việc cho Quest Books tái bản tác phẩm này.
This is an age of acute interest in the “hidden wisdom” of Christianity and in the truths that lie behind the official doctrines. Written nearly a century ago, Leadbeater’s essays in this volume still present a readable, clear, and inspiring introduction to this Christian gnosis.
Đây là một thời đại quan tâm sâu sắc đến “minh triết ẩn tàng” của Kitô giáo và đến những chân lý nằm sau các giáo lý chính thức. Được viết gần một thế kỷ trước, các tiểu luận của Leadbeater trong tập sách này vẫn trình bày một lời giới thiệu dễ đọc, rõ ràng và đầy cảm hứng về gnosis Kitô giáo này.
Richard Smoley
Richard Smoley
Wheaton, Illinois
Wheaton, Illinois
November 2010
Tháng Mười Một năm 2010
Richard Smoley’s books include Inner Christianity: A Guide to the Esoteric Tradition; Conscious Love: Insights from Mystical Christianity ; Forbidden Faith: The Secret History of Gnosticism; The Dice Game of Shiva: How Consciousness Creates the Universe; The Essential Nostradamus; and Hidden Wisdom: A Guide to the Western Inner Traditions (with Jay Kinney). Formerly the editor of Gnosis : A Journal of the Western Inner Traditions, he is currently editor of Quest : Journal of the Theosophical Society in America and of Quest Books.
Các sách của Richard Smoley gồm Kitô Giáo Nội Môn: Hướng Dẫn về Truyền Thống Bí Truyền; Tình Yêu Hữu Thức: Những Minh Kiến từ Kitô Giáo Thần Bí; Đức Tin Bị Cấm: Lịch Sử Bí Mật của Ngộ Đạo; Trò Chơi Xúc Xắc của Shiva: Tâm Thức Tạo Ra Vũ Trụ Như Thế Nào; Nostradamus Thiết Yếu; và Minh Triết Ẩn Tàng: Hướng Dẫn về các Truyền Thống Nội Môn Phương Tây (viết cùng Jay Kinney). Trước đây là biên tập viên của Gnosis: Một Tạp Chí về các Truyền Thống Nội Môn Phương Tây, hiện ông là biên tập viên của Quest: Tạp Chí của Hội Thông Thiên Học tại Mỹ và của Quest Books.
FOREWORD – LỜI TỰA
BY STEN VON KRUSENSTIERNA
DO STEN VON KRUSENSTIERNA
C. W. Leadbeater’s consecration to the episcopate in 1916 at the age of sixty-two was followed in the next ten years by an amazingly creative literary output from his hand. The Liberal Catholic Church was not the only object of this activity; in addition to such remarkable works as The Science of the Sacraments and The Hidden Side of Christian Festivals there were books on such different subjects as The Hidden Life in Freemasonry , The Masters and the Path , and The Chakras published during this period.
Việc C. W. Leadbeater được thánh hiến vào hàng giám mục năm 1916, ở tuổi sáu mươi hai, được nối tiếp trong mười năm sau đó bởi một sản lượng văn chương sáng tạo đáng kinh ngạc từ tay ông. Giáo hội Công giáo Tự do không phải là đối tượng duy nhất của hoạt động này; ngoài những tác phẩm đáng chú ý như Khoa Học về các Bí Tích và Mặt Ẩn của các Lễ Hội Kitô Giáo, còn có các sách về những chủ đề rất khác nhau như Đời Sống Ẩn Tàng trong Hội Tam Điểm, Các Chân sư và Đường Đạo, và Các Luân Xa được xuất bản trong giai đoạn này.
In the foreword to The Science of the Sacraments (first edition, 1920) Bishop Leadbeater wrote: “I have not of set purpose introduced any statement of the theological belief induced by the wider knowledge gained by this development of faculty, though indications of them inevitably peep through here and there. If time is given to me, I hope later to prepare a second volume dealing with that side of the question.”
Trong lời tựa cho Khoa Học về các Bí Tích (ấn bản thứ nhất, 1920), Giám mục Leadbeater viết: “Tôi đã không cố ý đưa vào bất kỳ phát biểu nào về niềm tin thần học phát sinh từ tri thức rộng lớn hơn có được nhờ sự phát triển năng lực này, mặc dù những dấu hiệu của chúng tất yếu lộ ra đây đó. Nếu tôi còn được thời gian, sau này tôi hy vọng sẽ chuẩn bị một tập thứ hai bàn đến phương diện ấy của vấn đề.”
In other contexts he mentions his intention of producing a volume containing an interpretation of Christian doctrine and giving the theological outlook of the Liberal Catholic Church.
Trong những bối cảnh khác, ông nhắc đến ý định soạn một tập sách chứa một diễn giải về giáo lý Kitô giáo và trình bày viễn cảnh thần học của Giáo hội Công giáo Tự do.
In 1924, the Rev. F. W. Pigott (later to become the third presiding bishop of the Liberal Catholic Church) visited Sydney, where he was consecrated as regionary bishop for Great Britain and Ireland. Like Bishop Leadbeater himself, Bishop Pigott had previously been a priest in Anglican orders; he was also well versed in the theology of the period. Bishop Leadbeater gave him the as yet unfinished manuscript of his “theological” book to obtain his opinion.
Năm 1924, Linh mục F. W. Pigott, về sau trở thành giám mục chủ tọa thứ ba của Giáo hội Công giáo Tự do, đến thăm Sydney, nơi ông được thánh hiến làm giám mục miền cho Đại Anh và Ireland. Giống như chính Giám mục Leadbeater, Giám mục Pigott trước đó từng là linh mục trong hàng giáo phẩm Anh giáo; ông cũng rất am tường nền thần học của thời kỳ ấy. Giám mục Leadbeater trao cho ông bản thảo còn chưa hoàn tất của cuốn sách “thần học” của mình để xin ý kiến.
After reading a few chapters, Bishop Pigott returned it to him with the remark that it was “not theology.” Bishop Leadbeater, who had great confidence in Pigott, put the manuscript away with the remark, “then we had better forget all about it.” That is the story as Bishop Lawrence Burt, at that time a priest and master of ceremonies at the pro-Cathedral of St. Alban in Sydney, told me many years later. Bishop Pigott also mentions the incident in The Liberal Catholic of April 1954:
Sau khi đọc vài chương, Giám mục Pigott trả lại bản thảo cho ông với nhận xét rằng đó “không phải là thần học.” Giám mục Leadbeater, người rất tin tưởng Pigott, cất bản thảo đi và nói, “vậy thì tốt hơn là chúng ta quên hết chuyện đó đi.” Đó là câu chuyện như Giám mục Lawrence Burt, lúc ấy là một linh mục và trưởng nghi lễ tại tiền Nhà thờ Chính tòa St. Alban ở Sydney, đã kể với tôi nhiều năm sau. Giám mục Pigott cũng nhắc đến sự việc này trong Người Công Giáo Tự Do số tháng Tư năm 1954:
A book of Christian theology was written by him at about, or soon after, the time of the writing of The Science of the Sacraments , The Hidden Side of Christian Festivals and a masonic book. In the year 1924 the theological book in typescript was handed to me when I was at Sydney to read and, presumably, to comment upon. I read only a few chapters, then gave it up. It was mostly a very Leadbeaterish harangue against a variety of Christianity which by then was obsolete or at least obsolescent amongst Christians of education. It was rather a sort of Christianity which perhaps does or did survive amongst Salvation Army teachers but not amongst the more refined and thoughtful congregations. So I advised that it be not published, and apparently it never was published.
Một cuốn sách về thần học Kitô giáo đã được ông viết vào khoảng, hoặc không lâu sau, thời điểm ông viết Khoa Học về các Bí Tích, Mặt Ẩn của các Lễ Hội Kitô Giáo và một cuốn sách về Hội Tam Điểm. Năm 1924, cuốn sách thần học dưới dạng bản đánh máy được trao cho tôi khi tôi ở Sydney để đọc và, có lẽ, để bình luận. Tôi chỉ đọc vài chương, rồi bỏ cuộc. Phần lớn đó là một bài đả kích rất kiểu Leadbeater chống lại một dạng Kitô giáo mà đến lúc ấy đã lỗi thời, hoặc ít nhất đang trở nên lỗi thời, trong giới Kitô hữu có học. Đó đúng hơn là một loại Kitô giáo có lẽ vẫn còn, hoặc đã từng còn, tồn tại giữa các giáo viên của Đạo quân Cứu tế, nhưng không còn giữa các cộng đoàn tinh tế và biết suy nghĩ hơn. Vì vậy tôi khuyên không nên xuất bản nó, và rõ ràng nó chưa bao giờ được xuất bản.
However, it is obvious that Bishop Pigott himself felt that a book on theology was needed, for, on the ship on his way back to England, he wrote The Parting of the Ways , a book which for many years was the main source of theological study for Liberal Catholic clergy.
Tuy nhiên, rõ ràng chính Giám mục Pigott cảm thấy cần có một cuốn sách về thần học, vì trên tàu trên đường trở về Anh, ông đã viết Sự Chia Đường, một cuốn sách trong nhiều năm là nguồn chính cho việc nghiên cứu thần học của hàng giáo sĩ Công giáo Tự do.
With the great changes which took place in Christian theology after the Second World War, several bishops, including myself, felt that Bishop Leadbeater’s unpublished book, if it could be found, might still contain much useful material. A search for the manuscript was begun. It was finally located by Bishop Charles Shores at the headquarters of the Theosophical Society at Adyar, Madras, where Leadbeater had spent the last four years of his life. With the permission of the president of the Society, copies were made, one of which was sent to the presiding bishop at the time, Dr. A. G. Vreede, who had eight chapters from the manuscript—after some editing—published in The Liberal Catholic in various issues from 1961 to 1963.
Với những thay đổi lớn lao diễn ra trong thần học Kitô giáo sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, một số giám mục, trong đó có tôi, cảm thấy rằng cuốn sách chưa xuất bản của Giám mục Leadbeater, nếu có thể tìm thấy, vẫn có thể chứa nhiều chất liệu hữu ích. Một cuộc tìm kiếm bản thảo được bắt đầu. Cuối cùng, Giám mục Charles Shores tìm thấy nó tại trụ sở của Hội Thông Thiên Học ở Adyar, Madras, nơi Leadbeater đã sống bốn năm cuối đời. Với sự cho phép của chủ tịch Hội, các bản sao được thực hiện, một trong số đó được gửi đến giám mục chủ tọa lúc bấy giờ, Tiến sĩ A. G. Vreede, người đã cho xuất bản tám chương từ bản thảo — sau một số biên tập — trong Người Công Giáo Tự Do qua nhiều số từ năm 1961 đến 1963.
A copy of this manuscript forms the basis of this book. In addition, I was given at a later date, among other material, a number of chapters from the book. Some of these chapters contain additional material. As far as can be established, the original manuscript contained twenty-two chapters. The whole manuscript appears to be unfinished and contains perhaps a half or two-thirds of the contents originally planned by the author. No name had yet been given to the work.
Một bản sao của bản thảo này tạo thành nền tảng của cuốn sách này. Ngoài ra, vào một thời điểm sau đó, tôi được trao, cùng với các tư liệu khác, một số chương của cuốn sách. Một vài chương trong số này chứa chất liệu bổ sung. Theo những gì có thể xác lập, bản thảo nguyên thủy gồm hai mươi hai chương. Toàn bộ bản thảo dường như chưa hoàn tất và có lẽ chứa một nửa hoặc hai phần ba nội dung mà tác giả ban đầu dự định. Tác phẩm khi ấy vẫn chưa được đặt tên.
When going through Bishop Leadbeater’s papers, including copies of talks and articles, I formed the opinion that most of his writings could be placed into four different categories:
Khi xem qua các giấy tờ của Giám mục Leadbeater, gồm các bản sao các bài nói chuyện và bài viết, tôi hình thành nhận định rằng phần lớn trước tác của ông có thể được xếp vào bốn loại khác nhau:
1. Handwritten material: This is written by Bishop Leadbeater himself in ink or pencil in small, clear handwriting on scraps of paper, sometimes on the backs of envelopes, giving the impression that it must have been written at odd moments.
1. Tư liệu viết tay: Loại này do chính Giám mục Leadbeater viết bằng mực hoặc bút chì, với nét chữ nhỏ, rõ, trên các mảnh giấy, đôi khi ở mặt sau phong bì, tạo ấn tượng rằng hẳn chúng được viết vào những lúc rảnh rỗi bất chợt.
2. Dictated material: This was dictated by him to assistants or secretaries and usually taken down in shorthand. Many of his clairvoyant investigations were taken down in this way by Ernest Wood and others and later edited for publication.
2. Tư liệu đọc cho chép: Loại này do ông đọc cho các phụ tá hoặc thư ký chép và thường được ghi bằng tốc ký. Nhiều cuộc khảo sát thông nhãn của ông đã được Ernest Wood và những người khác ghi lại theo cách này, rồi sau đó biên tập để xuất bản.
3. Lectures, talks, or sermons: During his period in Australia (1914– 1930), there were nearly always secretaries present who took down his talks in shorthand. He usually spoke from notes. The typewritten lecture or sermon was later corrected by himself or by one of his literary assistants, such as Professor Wood or the Rev. Herbrand Williams. Some of these were published as articles in various journals such as The Liberal Catholic or The Theosophist .
3. Bài giảng, bài nói chuyện, hoặc bài thuyết giáo: Trong thời gian ông ở Úc (1914–1930), gần như luôn có các thư ký hiện diện để ghi tốc ký các bài nói chuyện của ông. Ông thường nói dựa trên ghi chú. Bài giảng hoặc bài thuyết giáo đánh máy sau đó được chính ông hoặc một trong các phụ tá văn chương của ông, như Giáo sư Wood hoặc Linh mục Herbrand Williams, sửa lại. Một số bài này được xuất bản thành bài viết trong nhiều tạp chí khác nhau như Người Công Giáo Tự Do hoặc Nhà Thông Thiên Học.
4. Question-and-answer sessions: These were a common feature during his days in Sydney. At one time they were weekly occurrences which usually took place at the pro-Cathedral of St. Alban or at Leadbeater’s residence, The Manor, Mosman. This material was also taken down in shorthand and later typed. Some of it was edited by his literary assistants and either condensed into articles or published as “Questions and Answers” in The Liberal Catholic .
4. Các buổi hỏi đáp: Đây là một nét thường thấy trong những ngày ông ở Sydney. Có thời chúng diễn ra hằng tuần, thường tại tiền Nhà thờ Chính tòa St. Alban hoặc tại nơi cư trú của Leadbeater, The Manor, Mosman. Tư liệu này cũng được ghi bằng tốc ký rồi sau đó đánh máy. Một phần được các phụ tá văn chương của ông biên tập và hoặc cô đọng thành bài viết, hoặc xuất bản dưới dạng “Hỏi và Đáp” trong Người Công Giáo Tự Do.
Most of his later works contain material drawn from all the four sources mentioned. The present work is no exception. The talks and sermons usually have a more vivid style than the written or dictated sources. An example of this is the delightful chapter “About God,” which is a shortened version of a talk given to a group on the shore of the Pacific Ocean.
Phần lớn các tác phẩm về sau của ông chứa chất liệu rút ra từ cả bốn nguồn vừa nêu. Tác phẩm hiện tại cũng không ngoại lệ. Các bài nói chuyện và bài thuyết giáo thường có phong cách sinh động hơn các nguồn viết tay hoặc đọc cho chép. Một ví dụ về điều này là chương thú vị “Về Thượng đế,” vốn là một phiên bản rút ngắn của một bài nói chuyện được trình bày trước một nhóm người trên bờ Thái Bình Dương.
In 1978, the present editor, after several requests, decided to make an attempt to complete the manuscript and prepare it for publication. This proved much more difficult and took much longer than anticipated, especially since my only qualification for this task was a deep appreciation of C. W. Leadbeater’s writings. I have also been somewhat hampered by lack of time and by my lack of proficiency in the English language. As editor, I had to attempt to conceive what would have been the intention of the author if he had completed the book himself. Some guidance was found in articles published in The Liberal Catholic between 1924 and 1930. There were indications that some of these would have been included in the proposed work.
Năm 1978, sau nhiều lời yêu cầu, biên tập viên hiện tại quyết định thử hoàn tất bản thảo và chuẩn bị để xuất bản. Việc này tỏ ra khó khăn hơn nhiều và mất thời gian lâu hơn dự liệu, nhất là vì tư cách duy nhất của tôi đối với nhiệm vụ này là lòng trân trọng sâu sắc đối với các tác phẩm của C. W. Leadbeater. Tôi cũng phần nào bị trở ngại vì thiếu thời gian và vì chưa thành thạo tiếng Anh. Với tư cách biên tập viên, tôi phải cố gắng hình dung đâu sẽ là ý định của tác giả nếu chính ông đã hoàn tất cuốn sách. Một vài chỉ dẫn đã được tìm thấy trong các bài viết đăng trên Người Công Giáo Tự Do từ năm 1924 đến 1930. Có những dấu hiệu cho thấy một số bài trong đó hẳn đã được đưa vào tác phẩm dự kiến.
The main sources from which the book as now presented has been compiled are:
Những nguồn chính mà từ đó cuốn sách như hiện được trình bày đã được biên soạn là:
1. The eighteen chapters of the unfinished manuscript;
1. Mười tám chương của bản thảo chưa hoàn tất;
2. Articles in The Liberal Catholic covering subjects not dealt with in the original manuscript;
2. Các bài viết trong Người Công Giáo Tự Do bàn về những đề tài không được đề cập trong bản thảo gốc;
3. Some unpublished talks and sermons to which the editor had access.
3. Một số bài nói chuyện và bài giảng chưa xuất bản mà biên tập viên có điều kiện tiếp cận.
The purpose of adding material of the last two categories was to try to complete the work by giving a fuller coverage of Liberal Catholic teaching as propounded by Bishop Leadbeater. This has, however, not been fully achieved because of lack of suitable material on some subjects. The resulting work is definitely not a book on theology in the usual sense (Bishop Pigott was quite right in this), but it is “theological” insofar as it deals with such subjects as God, Christ, man, and the universe and contains definite interpretations of the ancient doctrines of the Church.
Mục đích của việc thêm tài liệu thuộc hai loại sau là cố gắng hoàn tất tác phẩm bằng cách trình bày đầy đủ hơn giáo huấn Công Giáo Tự Do như Giám mục Leadbeater đã nêu ra. Tuy nhiên, điều này chưa đạt được trọn vẹn vì thiếu tài liệu thích hợp về một số đề tài. Tác phẩm hình thành chắc chắn không phải là một cuốn sách về thần học theo nghĩa thông thường, trong điểm này Giám mục Pigott hoàn toàn đúng, nhưng nó mang tính “thần học” trong chừng mực bàn đến những đề tài như Thượng đế, Đức Christ, con người và vũ trụ, đồng thời chứa đựng những diễn giải rõ ràng về các giáo lý cổ xưa của Giáo Hội.
Two chapters in the original manuscript, in which the author refutes the “hell and damnation” doctrines held by many Churches in the nineteenth century, have been omitted. Also a chapter entitled “Why is Christianity Not More Successful?” and another, entitled “God’s Attitude Towards Man,” which was published in the September 1929 issue of The Liberal Catholic , have been omitted as being no longer relevant. Some of the chapters and articles have been severely edited, mainly to avoid duplication of subject matter. Some of the material contained in various chapters of the original manuscript can also be found in The Christian Creed and has been omitted. Even so, some duplication here and there has been unavoidable. As far as possible. the original script has been followed. A title for the book had to be chosen, as the manuscript had no title.
Hai chương trong bản thảo gốc, trong đó tác giả bác bỏ các giáo lý “địa ngục và đọa phạt” được nhiều Giáo Hội trong thế kỷ mười chín chủ trương, đã bị lược bỏ. Ngoài ra, một chương nhan đề “Vì Sao Kitô Giáo Không Thành Công Hơn?” và một chương khác nhan đề “Thái Độ của Thượng đế Đối Với Con Người,” đã được đăng trong số tháng Chín năm 1929 của Người Công Giáo Tự Do, cũng bị lược bỏ vì không còn thích hợp. Một số chương và bài viết đã được biên tập khá mạnh, chủ yếu để tránh lặp lại nội dung đề tài. Một phần tài liệu chứa trong nhiều chương của bản thảo gốc cũng có thể tìm thấy trong Tín Điều Kitô Giáo và đã được lược bỏ. Dù vậy, đôi chỗ vẫn không tránh khỏi sự lặp lại. Trong chừng mực có thể, bản văn gốc đã được theo sát. Cần phải chọn một nhan đề cho cuốn sách, vì bản thảo không có nhan đề.
We are much indebted to the Rev. John Clarke for his valuable advice and assistance in the final editing of this work.
Chúng tôi rất biết ơn Mục sư John Clarke vì lời khuyên quý báu và sự trợ giúp của ông trong giai đoạn biên tập cuối cùng của tác phẩm này.
+ Sten von Krusenstierna
+ Sten von Krusenstierna
Presiding Bishop
Giám mục Chủ tọa
Liberal Catholic Church
Giáo Hội Công Giáo Tự Do
Easter 1983
Lễ Phục Sinh 1983
A UTHOR’S P REFACE – L ỜI T ỰA CỦA TÁC GIẢ
Long ago I was taught many things by certain great oriental teachers; I verified a number of these facts for myself by investigation and by experiment, and so I pass them on to you with confidence that I am not misleading you. Yet it is not because I say so that you should believe these things; if you accept them, it should be because they seem to you inherently reasonable.
Từ lâu, tôi đã được một số vị huấn sư Đông phương vĩ đại dạy cho nhiều điều; tôi đã tự mình kiểm chứng một số sự kiện ấy bằng khảo sát và thực nghiệm, và vì thế tôi truyền đạt lại cho các bạn với niềm tin chắc rằng tôi không làm các bạn lầm lạc. Tuy nhiên, các bạn không nên tin những điều này chỉ vì tôi nói như vậy; nếu các bạn chấp nhận chúng, thì nên là vì chúng tự thân có vẻ hợp lý đối với các bạn.
This is no new doctrine. Two thousand five hundred years ago, people questioned the Lord Buddha as to which of the many forms of religious teaching was correct. “What are we to believe? There are many systems of philosophy; which of these do you recommend?”
Đây không phải là giáo lý mới. Hai nghìn năm trăm năm trước, người ta đã hỏi Đức Phật rằng trong nhiều hình thức giáo huấn tôn giáo, hình thức nào là đúng. “Chúng con phải tin điều gì? Có nhiều hệ thống triết học; Ngài khuyên dùng hệ thống nào?”
The answer of the Enlightened One was admirable, for was he not, after all, the wisest man on earth? “Do not believe in a thing,” he said, “merely because it is said, or because it has been handed down from antiquity. Nor in rumors as such.” (How many people accept rumors without the slightest attempt to verify them!) “Do not believe in the writings of sages, merely because sages wrote them; do not believe in fancies which you may suspect to have been inspired by a deva [that is, do not believe in supposed spiritual or angelic inspiration] nor in inferences drawn from some haphazard assumption you may have made.” (People often jump to a conclusion from which they build up a whole system of inferences, while the basis, founded on the merest imagination, may be wrong from the beginning.) “Do not believe because of what seems an analogical necessity,” because an analogy which holds good in one case does not necessarily hold good in another.
Câu trả lời của Đấng Giác Ngộ thật đáng ngưỡng mộ, vì rốt cuộc chẳng phải Ngài là người minh triết nhất trên Trái Đất sao? “Đừng tin một điều,” Ngài nói, “chỉ vì người ta nói như vậy, hoặc vì nó đã được truyền lại từ thời cổ. Cũng đừng tin vào những lời đồn với tư cách chỉ là lời đồn.” Biết bao người chấp nhận lời đồn mà không hề có chút cố gắng nào để kiểm chứng! “Đừng tin vào các trước tác của bậc hiền triết chỉ vì các bậc hiền triết đã viết chúng; đừng tin vào những điều tưởng tượng mà các bạn có thể ngờ là đã được một thiên thần truyền cảm hứng, nghĩa là đừng tin vào sự cảm hứng tinh thần hay thiên thần được giả định, cũng đừng tin vào những suy luận rút ra từ một giả định ngẫu nhiên nào đó mà các bạn có thể đã đặt ra.” Người ta thường vội đi đến một kết luận, rồi từ đó xây dựng cả một hệ thống suy luận, trong khi nền tảng, vốn đặt trên sự tưởng tượng mong manh nhất, có thể đã sai ngay từ đầu. “Đừng tin vì điều gì đó có vẻ là một tất yếu tương đồng,” bởi một sự tương đồng đúng trong một trường hợp không nhất thiết đúng trong trường hợp khác.
“Do not believe on the mere authority of your own teachers. But believe when the writing, doctrine, or saying is corroborated by your own consciousness. For thus I have taught you, not to believe merely because you have heard; but when you believe of your own consciousness [that is, when it agrees with your own reason and common sense], then act accordingly and abundantly.”
“Đừng tin chỉ dựa trên thẩm quyền của chính các huấn sư của các bạn. Nhưng hãy tin khi văn bản, giáo lý hay lời nói được chính tâm thức của các bạn xác nhận. Vì như thế, Ta đã dạy các bạn không tin chỉ vì các bạn đã nghe; nhưng khi các bạn tin bằng chính tâm thức của mình, nghĩa là khi điều ấy phù hợp với lý trí và lương tri của chính các bạn, thì hãy hành động tương ứng và một cách dồi dào.”
That is a very fine statement for any religious teacher to make. When you know for yourself, that is best of all; failing this, you can only take the best possible hypothesis—you can only accept that system which you see and feel to be reasonable and coherent, that which best accounts for all the various phenomena which you see before you.
Đó là một lời tuyên bố rất cao đẹp mà bất cứ vị huấn sư tôn giáo nào cũng có thể đưa ra. Khi các bạn tự mình biết, đó là điều tốt nhất; nếu chưa đạt được điều ấy, các bạn chỉ có thể chọn giả thuyết tốt nhất có thể, chỉ có thể chấp nhận hệ thống mà các bạn thấy và cảm nhận là hợp lý và nhất quán, hệ thống giải thích tốt nhất tất cả những hiện tượng khác nhau mà các bạn thấy trước mắt.
What we put before you here seems to us to follow that system. You may accept it if it seems so to you also; but if you find some other system which seems to account for things better, you must assent to that. Short of actual knowledge, there is a definite intuition of the truth that comes sometimes to a person. Generally it is quite safe to be guided by that, for it usually comes from an eager leaping out of the soul towards a truth which it had known in other lives.
Điều chúng tôi đặt trước các bạn ở đây dường như đối với chúng tôi là đi theo hệ thống ấy. Các bạn có thể chấp nhận nó nếu nó cũng có vẻ như vậy đối với các bạn; nhưng nếu các bạn tìm thấy một hệ thống khác dường như giải thích sự vật tốt hơn, các bạn phải tán đồng hệ thống ấy. Nếu chưa có tri thức thực sự, đôi khi vẫn có một trực giác rõ ràng về chân lý đến với một người. Nói chung, để trực giác ấy hướng dẫn là khá an toàn, vì nó thường xuất phát từ sự vươn bật háo hức của linh hồn hướng về một chân lý mà linh hồn đã biết trong những kiếp sống khác.
I base my confidence on what I know and what I have seen. May you all attain equal knowledge and equal certainty! That is the true basis, I believe, of religious faith—knowledge (when you reach it), and, in the meantime, your own reason and common sense. For God has given us our intellect, and He must mean us to use it with regard to the highest science of all—the science of our religion, the study of our relation to Himself.
Tôi đặt niềm tin của mình trên điều tôi biết và điều tôi đã thấy. Cầu mong tất cả các bạn đạt được tri thức tương đương và sự chắc chắn tương đương! Tôi tin rằng đó là nền tảng đích thực của đức tin tôn giáo: tri thức, khi các bạn đạt đến nó, và trong khi chờ đợi, là lý trí và lương tri của chính các bạn. Vì Thượng đế đã ban cho chúng ta trí năng, và Ngài hẳn muốn chúng ta sử dụng nó đối với khoa học cao nhất trong mọi khoa học, khoa học về tôn giáo của chúng ta, sự nghiên cứu mối quan hệ của chúng ta với chính Ngài.
The Author
Tác giả
PART ONE – PHẦN MỘT
THE DIVINE PLAN: EVOLUTION – THIÊN CƠ: TIẾN HÓA
1 – 1
ABOUT GOD – VỀ THƯỢNG ĐẾ
Because we are still comparatively unevolved, any god that we could fully understand would not be much of a god. We are better acquainted with things below—with animals, trees, and rocks. Now and again we meet a man whom, in an expansive moment, we might acknowledge to be greater than ourselves; but, as a general rule, we are rather inclined to think that we are as good as anyone else if not a great deal better.
Vì chúng ta vẫn còn tương đối chưa tiến hóa, bất cứ vị thần nào mà chúng ta có thể thấu hiểu trọn vẹn cũng sẽ không phải là một vị thần cao cả gì. Chúng ta quen thuộc hơn với những điều ở bên dưới, với động vật, cây cối và đá tảng. Thỉnh thoảng chúng ta gặp một người mà, trong một khoảnh khắc rộng mở, chúng ta có thể thừa nhận là cao cả hơn chính mình; nhưng theo quy luật chung, chúng ta lại khá có khuynh hướng nghĩ rằng mình cũng tốt đẹp như bất cứ ai khác, nếu không muốn nói là tốt hơn rất nhiều.
There is a certain danger of being conceited when we compare ourselves with things “beneath” us. We are proud, for example, of our intellect. But those who have come to know something of the Masters realize, first of all, that their own boasted intellect is merely the first rudiments of one; in comparison with the Masters’ it is as the slight lessening of the darkness which comes before the dawn. Further insight reveals that, in fact, we have nothing that we can truly call our own. Our intellect, together with our other good qualities, is but a dim reflection of the powers of the Logos shining through.
Có một mối nguy nào đó về sự tự phụ khi chúng ta so sánh mình với những sự vật “bên dưới” chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta tự hào về trí năng của mình. Nhưng những ai đã biết được đôi điều về các Chân sư thì trước hết nhận ra rằng trí năng mà họ hằng khoe khoang chỉ là những mầm mống sơ khai đầu tiên của một trí năng; so với trí năng của các Chân sư, nó giống như sự giảm bớt rất nhẹ của bóng tối trước bình minh. Sự sáng suốt sâu hơn cho thấy rằng, thật ra, chúng ta không có gì có thể thực sự gọi là của riêng mình. Trí năng của chúng ta, cùng với những phẩm tính tốt đẹp khác, chỉ là phản chiếu mờ nhạt của các quyền năng của Thượng Đế đang chiếu xuyên qua.
The Masters tell us that they themselves, with their wonderful powers which seem to us so godlike, are but as dust under the feet of still higher beings. We cannot fully appreciate these Great Ones; still less can we comprehend the Logos. As for Parabrahma , the Absolute, He is not personal in any way; He is not what we would call an existence.
Các Chân sư bảo chúng ta rằng chính Các Ngài, với những quyền năng kỳ diệu dường như quá giống Thượng đế đối với chúng ta, cũng chỉ như bụi dưới chân những Đấng còn cao cả hơn. Chúng ta không thể trân trọng đầy đủ Các Đấng Cao Cả này; lại càng ít có thể thấu hiểu Thượng Đế. Còn về Parabrahma, Đấng Tuyệt Đối, Ngài không mang tính ngôi vị theo bất cứ cách nào; Ngài không phải là điều chúng ta gọi là một sự hiện hữu.
Of the Absolute nothing whatever can be rightly said save He is not this, He is not that; He cannot be defined on any plane that we have ever imagined or thought. As the Buddha put it, “Look not for Brahm or the beginning there.” However earnest the seeker, He can never be grasped. “Veil after veil may lift but there must be veil after veil behind.” It is useless to speculate; Brahma can be understood only on His own level.
Về Đấng Tuyệt Đối, không điều gì có thể được nói đúng đắn ngoài việc Ngài không phải cái này, Ngài không phải cái kia; Ngài không thể được định nghĩa trên bất cứ cõi nào mà chúng ta từng tưởng tượng hay suy nghĩ. Như Đức Phật đã nói: “Đừng tìm Brahm hay khởi đầu ở đó.” Dù người tìm kiếm tha thiết đến đâu, y cũng không bao giờ nắm bắt được Ngài. “Màn che này có thể vén lên sau màn che khác, nhưng đằng sau vẫn phải còn màn che nối tiếp màn che.” Suy đoán là vô ích; Brahma chỉ có thể được thấu hiểu trên chính cấp độ của Ngài.
The Logos – Thượng Đế
When we speak of God we mean, for all practical purposes, the Logos of our solar system. The Logos is more comprehensible than the Absolute because He has risen by slow degrees from our own humanity. The physical matter in the sun and in the planets of our system forms His physical body; the astral matter within the limits of the system is His astral body; the mental matter is His mental body. Thus we are all part of Him. We are part, too, of the “seven Mighty Spirits before [His) throne” [Rev. 4:5] through whom He pours Himself out into His universe. That is to say, the astral matter which makes up our astral bodies is also astral matter of one or other of the Seven Spirits. The force which flows out from the Logos reaches us principally through one of those seven channels, and so it is said that we belong to the Ray of which that particular Spirit is the head.
Khi chúng ta nói về Thượng đế, xét trong mọi mục đích thực tiễn, chúng ta muốn nói đến Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta. Thượng Đế dễ hiểu hơn Đấng Tuyệt Đối vì Ngài đã vươn lên từng bước chậm rãi từ chính nhân loại của chúng ta. Vật chất hồng trần trong mặt trời và trong các hành tinh thuộc hệ của chúng ta tạo thành thể xác của Ngài; vật chất cảm dục trong giới hạn của hệ là thể cảm dục của Ngài; vật chất trí tuệ là thể trí của Ngài. Như vậy, tất cả chúng ta đều là một phần của Ngài. Chúng ta cũng là một phần của “bảy Đấng Tinh Thần Hùng Mạnh trước ngai của Ngài” mà qua Các Ngài, Ngài tuôn đổ chính mình vào vũ trụ của Ngài. Nghĩa là, vật chất cảm dục cấu tạo nên các thể cảm dục của chúng ta cũng là vật chất cảm dục của một trong Bảy Đấng Tinh Thần ấy. Mãnh lực tuôn ra từ Thượng Đế đến với chúng ta chủ yếu qua một trong bảy kênh ấy, và vì thế người ta nói rằng chúng ta thuộc về cung mà vị Đấng Tinh Thần đặc thù ấy đứng đầu.
All that we have been taught about God—all that is good and beautiful—is true of the Solar Logos. But we have also heard a great deal about God that is far from good. Men have said that He is capable of anger and jealousy, that He slaughtered thousands of people at different times because they did something of which He did not approve or failed to do something that He ordered. But the truth is that we all come from Him, we all belong to Him, and we are all on our way back to Him.
Tất cả những gì chúng ta đã được dạy về Thượng đế, tất cả những gì tốt lành và đẹp đẽ, đều đúng về Thái dương Thượng đế. Nhưng chúng ta cũng đã nghe rất nhiều điều về Thượng đế vốn còn xa mới là tốt lành. Người ta đã nói rằng Ngài có thể nổi giận và ghen tuông, rằng Ngài đã tàn sát hàng nghìn người vào những thời điểm khác nhau vì họ làm điều gì đó mà Ngài không chấp thuận, hoặc không làm điều gì đó mà Ngài truyền lệnh. Nhưng sự thật là tất cả chúng ta đều đến từ Ngài, tất cả chúng ta đều thuộc về Ngài, và tất cả chúng ta đều đang trên đường trở về với Ngài.
God is, and can only be, good. His laws are made for our evolution and our helping; He does not change His laws or outrage them, so if we break them certain effects are bound to follow. The suffering that results to ourselves is not inflicted by Him; it is the natural consequence of our own actions. On the other hand, the Great Ones, who have been men like ourselves and have risen from our humanity, assure us that by working according to the law (which is the law of evolution) we shall one day stand where they do now.
Thượng đế là thiện, và chỉ có thể là thiện. Các định luật của Ngài được lập ra cho sự tiến hóa và sự trợ giúp chúng ta; Ngài không thay đổi các định luật của Ngài hay xúc phạm chúng, vì vậy nếu chúng ta vi phạm chúng thì những hiệu quả nhất định tất yếu phải theo sau. Sự đau khổ xảy đến với chính chúng ta không phải do Ngài giáng xuống; đó là hệ quả tự nhiên của các hành động của chính chúng ta. Mặt khác, Các Đấng Cao Cả, những vị đã từng là con người như chúng ta và đã vươn lên từ nhân loại của chúng ta, bảo đảm với chúng ta rằng bằng cách làm việc theo định luật, vốn là định luật tiến hóa, một ngày kia chúng ta sẽ đứng nơi Các Ngài hiện đang đứng.
Our Solar Logos has a life of His own among His peers. Each of His worlds sends up to Him a stream of devotion, and He in turn pours back upon it a great flood of spiritual influence. That stream, flowing through space, caused initially by the devotion of His people, forms, as it were, the seven-stringed lyre of Apollo, which He plays upon as one plays upon a harp. This music of the spheres ascends to the Great Logos as the praise and glory which is due to Him.
Thái dương Thượng đế của chúng ta có một đời sống riêng giữa những Đấng đồng hàng với Ngài. Mỗi thế giới của Ngài gửi lên Ngài một dòng sùng tín, và đến lượt Ngài tuôn trở lại trên đó một trận lũ lớn ảnh hưởng tinh thần. Dòng ấy, chảy qua không gian, lúc đầu do lòng sùng tín của dân Ngài gây nên, tạo thành, có thể nói, cây đàn lia bảy dây của Apollo, mà Ngài gảy như người ta gảy đàn hạc. Âm nhạc của các khối cầu này thăng lên đến Thượng Đế Vĩ Đại như lời tán tụng và vinh quang xứng đáng dâng lên Ngài.
Our sun is a sun of the fourth order; therefore our Logos is a Logos of the Fourth Order. Just as our planets depends upon their sun and derive from it the life which sustains them, so does our Solar Logos (and perhaps millions of others like Him) depend upon a Solar Logos of the Third Order. And the thousands of Logoi of the Third Order depend upon a Logos of the Second Order; He, in His turn, “circles around” one of the First Order, and those of the First Order depend upon Parabrahm . We have been told these things, but in reality they can have very little meaning for us since they are so far beyond the world of our present experience.
Mặt trời của chúng ta là một mặt trời thuộc cấp thứ tư; vì vậy Thượng Đế của chúng ta là một Thượng Đế thuộc Cấp Thứ Tư. Cũng như các hành tinh của chúng ta tùy thuộc vào mặt trời của chúng và nhận từ đó sự sống duy trì chúng, Thái dương Thượng đế của chúng ta, và có lẽ hàng triệu Đấng khác giống Ngài, cũng tùy thuộc vào một Thái dương Thượng đế thuộc Cấp Thứ Ba. Và hàng nghìn Thượng Đế thuộc Cấp Thứ Ba tùy thuộc vào một Thượng Đế thuộc Cấp Thứ Hai; đến lượt Ngài, “xoay quanh” một Đấng thuộc Cấp Thứ Nhất, và những Đấng thuộc Cấp Thứ Nhất tùy thuộc vào Parabrahm. Chúng ta đã được cho biết những điều này, nhưng trong thực tế chúng có thể có rất ít ý nghĩa đối với chúng ta, vì chúng vượt quá xa thế giới kinh nghiệm hiện tại của chúng ta.
It is good to remind ourselves that, in fact, even the things we think we understand are a very long way from our comprehension. Take the most ordinary things around us; we do not know how a tree grows, for instance. We know that it absorbs certain elements from the earth, but how it turns these into bark and leaves nobody really understands. We think we know things, and if we can name them and stick a label on them we are then quite sure that we have mastered them. But, as a matter of fact, there are very few things which we understand completely.
Thật tốt khi tự nhắc mình rằng, thật ra, ngay cả những điều chúng ta nghĩ mình thấu hiểu cũng còn rất xa tầm lĩnh hội của chúng ta. Hãy lấy những điều bình thường nhất quanh ta; chẳng hạn, chúng ta không biết một cái cây lớn lên như thế nào. Chúng ta biết rằng nó hấp thụ một số nguyên tố từ đất, nhưng nó biến chúng thành vỏ và lá ra sao thì không ai thực sự thấu hiểu. Chúng ta nghĩ mình biết các sự vật, và nếu có thể gọi tên chúng rồi dán nhãn cho chúng, khi ấy chúng ta hoàn toàn chắc rằng mình đã làm chủ chúng. Nhưng trên thực tế, có rất ít điều mà chúng ta thấu hiểu trọn vẹn.
The Solar System – Hệ Mặt Trời
The solar system may be likened to a lotus flower. By raising one’s consciousness to a higher level one may see that the planets—those spheres of fire—circling round the sun are like the tips of the lotus petals, or like the tips of the fingers of a hand. Most of the petals grow under the water—only the tips emerge, and where they break the surface they appear to be separate. The sun, floating in space, might represent the pistil among the stamens. Or it might be seen as the center floating overhead, a reflection of that which is the heart of the flower down below. The planets are linked together, not only fundamentally but subordinately. They are all, as it were, part of one great calyx.
Hệ mặt trời có thể được ví như một đóa hoa sen. Bằng cách nâng tâm thức của mình lên một cấp độ cao hơn, người ta có thể thấy rằng các hành tinh, những khối cầu lửa ấy, xoay quanh mặt trời giống như đầu mút của các cánh hoa sen, hoặc như đầu ngón tay của một bàn tay. Phần lớn các cánh hoa mọc dưới nước, chỉ các đầu mút nhô lên, và nơi chúng phá vỡ mặt nước, chúng dường như tách biệt. Mặt trời, lơ lửng trong không gian, có thể tượng trưng cho nhụy giữa các nhị. Hoặc nó có thể được thấy như trung tâm lơ lửng phía trên, một phản chiếu của cái là trái tim của đóa hoa ở bên dưới. Các hành tinh được liên kết với nhau, không chỉ về căn bản mà còn theo cách phụ thuộc. Tất cả, có thể nói, đều là một phần của một đài hoa lớn.
When the Logos begins to form a system, His first step is to delimit the sphere of His activities, which extends far outside the orbit of the outermost planet of the system-to-be. Having made His limit, it is said that He then thinks the whole of His system into existence on what, to Him, corresponds to our mental plane. He determines the number of planets and satellites that He will bring into being, and the stage of development that shall be reached on each set of worlds. He makes, in fact, a gigantic and detailed thought-form of the complete system.
Khi Thượng Đế bắt đầu tạo thành một hệ, bước đầu tiên của Ngài là xác định giới hạn khối cầu hoạt động của Ngài, vốn mở rộng rất xa bên ngoài quỹ đạo của hành tinh ngoài cùng của hệ-sẽ-thành. Sau khi đã đặt giới hạn của Ngài, người ta nói rằng Ngài bèn tư tưởng toàn bộ hệ của Ngài thành hiện hữu trên cái, đối với Ngài, tương ứng với cõi trí của chúng ta. Ngài xác định số lượng hành tinh và vệ tinh mà Ngài sẽ đưa vào hiện hữu, và giai đoạn phát triển sẽ đạt được trên mỗi nhóm thế giới. Thật ra, Ngài tạo nên một hình tư tưởng khổng lồ và chi tiết của toàn bộ hệ.
In Greek philosophy, the thought-form is built up in the intelligible world. This thought-plan is not exactly a mold into which matter is poured; it is rather an existence on that high plane which is brought down, bit by bit, to the lower planes as the great Beings who are working under the Logos require it as a pattern.
Trong triết học Hy Lạp, hình tư tưởng được xây dựng trong thế giới khả niệm. Thiên Cơ tư tưởng này không hẳn là một khuôn mẫu để vật chất được rót vào; đúng hơn, nó là một hiện hữu trên cõi cao ấy, được đưa xuống, từng chút một, đến các cõi thấp hơn khi các Đấng vĩ đại đang làm việc dưới quyền Thượng Đế cần nó như một mô hình.
It is in reference to the intelligible world that we say everything exists in the beginning. The physical world does not exist at that stage, but its plan in the mind of the Logos has existed from the time when He resolved to form this system. Each part, as has been said, is brought down into manifestation as it is needed.
Chính khi nói về thế giới khả niệm mà chúng ta nói rằng mọi sự đều hiện hữu từ lúc khởi đầu. Thế giới hồng trần chưa hiện hữu ở giai đoạn ấy, nhưng Thiên Cơ của nó trong trí của Thượng Đế đã hiện hữu từ thời điểm Ngài quyết định tạo thành hệ này. Mỗi phần, như đã nói, được đưa xuống vào biểu hiện khi nó cần đến.
The Logos builds His system out of matter. The one thing which penetrates everywhere, as far as we know, is what the scientists call the ether of space. Theosophists call it koilon . 4 What we call matter is built out of bubbles blown in this substance. In The Secret Doctrine there is the statement that “Fohat digs holes in space.” When I first read that many years ago, I thought of each “hole in space” as a solar system. When I came to know a little more, I concluded that the “holes” which Fohat “dug” are these tiny bubbles of infinitesimal smallness.
Thượng Đế xây dựng hệ của Ngài bằng vật chất. Một điều thâm nhập khắp nơi, theo như chúng ta biết, là cái mà các nhà khoa học gọi là dĩ thái của không gian. Các nhà Thông Thiên Học gọi nó là koilon. 4 Cái chúng ta gọi là vật chất được xây dựng từ các bọt nhỏ được thổi trong chất liệu này. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm có lời khẳng định rằng “Fohat đào các lỗ trong không gian.” Khi lần đầu tôi đọc câu ấy nhiều năm trước, tôi nghĩ mỗi “lỗ trong không gian” là một hệ mặt trời. Khi tôi biết thêm đôi chút, tôi kết luận rằng những “lỗ” mà Fohat “đào” chính là các bọt nhỏ li ti đến mức vô cùng nhỏ bé này.
There are some 14,000 millions 5 of these bubbles in an ultimate physical atom. Eighteen of those atoms make up a chemical atom of hydrogen, the lightest of our elements.
Có khoảng 14.000 triệu 5 bọt như thế trong một nguyên tử hồng trần tối hậu. Mười tám nguyên tử ấy tạo thành một nguyên tử hóa học hydro, nguyên tố nhẹ nhất của chúng ta.
To us, the bubbles may seem to be absolutely empty, but the breath of God is within them, and no power that we know can alter them in any way. An ancient Indian writing tells us that the Logos (not the Logos of our solar system) breathed into these bubbles and that thus it is His breath out of which everything is built. If He were to choose to draw in His breath, at that instant everything would fall into nothingness because the bubbles would have disappeared. St. Augustine declares that “If God were to cease from speaking the Word even for a moment, heaven and earth would vanish.”
Đối với chúng ta, các bọt ấy có thể dường như hoàn toàn trống rỗng, nhưng hơi thở của Thượng đế ở trong chúng, và không quyền năng nào mà chúng ta biết có thể thay đổi chúng theo bất cứ cách nào. Một trước tác Ấn Độ cổ cho chúng ta biết rằng Thượng Đế, không phải Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta, đã thở vào các bọt này và như vậy chính hơi thở của Ngài là cái từ đó mọi sự được xây dựng. Nếu Ngài chọn rút hơi thở của Ngài vào, ngay khoảnh khắc ấy mọi sự sẽ rơi vào hư vô vì các bọt đã biến mất. Thánh Augustine tuyên bố rằng “Nếu Thượng đế ngừng xướng Linh từ dù chỉ trong một khoảnh khắc, trời và đất sẽ biến mất.”
2 – 2
THE DESCENT INTO MATTER – SỰ GIÁNG VÀO VẬT CHẤT
The Trinity – Ba Ngôi
We must now try to understand something about the nature of the Deity and His manifestation in matter, which, as far as we are concerned, means the making of our solar system. All religions put forth some kind of theory to explain the origin of man and of the worlds, and most agree in describing the manifestation of the Deity as threefold. The Absolute (of whom we can know nothing except that He is) is the supreme God who rules over millions of universes. It is said that the process of cosmic evolution is similar to that of our solar system and that even in the absolute Logos or Deity there is the same threefold manifestation. We cannot actually know that, because the Absolute is so far above anything that we can see or touch; we can only infer that it must be so from what we see at lower levels.
Bây giờ chúng ta phải cố gắng thấu hiểu đôi điều về bản chất của Thượng đế và sự biểu hiện của Ngài trong vật chất, điều mà xét về phía chúng ta có nghĩa là việc tạo nên hệ mặt trời của chúng ta. Mọi tôn giáo đều đưa ra một loại lý thuyết nào đó để giải thích nguồn gốc của con người và của các thế giới, và đa số đồng thuận trong việc mô tả sự biểu hiện của Thượng đế là tam phân. Đấng Tuyệt Đối, Đấng mà chúng ta không thể biết gì ngoài việc Ngài hiện hữu, là Thượng đế tối thượng cai quản hàng triệu vũ trụ. Người ta nói rằng tiến trình tiến hóa vũ trụ tương tự như tiến trình của hệ mặt trời chúng ta, và rằng ngay trong Thượng Đế hay Thượng đế tuyệt đối cũng có cùng sự biểu hiện tam phân ấy. Chúng ta không thể thực sự biết điều đó, vì Đấng Tuyệt Đối cao hơn quá xa bất cứ điều gì chúng ta có thể thấy hay chạm đến; chúng ta chỉ có thể suy ra rằng điều ấy hẳn phải như vậy từ những gì chúng ta thấy ở các cấp độ thấp hơn.
In the case of our own solar system it is certain that we have this threefold manifestation because it is possible to look back and to see what has happened in the past. It is possible to see how the forces are flowing now, and from that we can deduce that there must be three centers of activity—three such aspects through which the force flows; three Persons, as it is stated, in one God.
Trong trường hợp hệ mặt trời của chính chúng ta, chắc chắn chúng ta có sự biểu hiện tam phân này, vì có thể nhìn lại và thấy điều đã xảy ra trong quá khứ. Có thể thấy các mãnh lực đang tuôn chảy như thế nào hiện nay, và từ đó chúng ta có thể suy luận rằng phải có ba trung tâm hoạt động, ba phương diện như thế mà qua đó mãnh lực tuôn chảy; ba Ngôi Vị, như người ta nói, trong một Thượng đế.
It would be well, first, to define the word “person.” It is derived from two Latin words, per , “through,” and sona , “a sound.” 6 It therefore signifies “that through which the sound comes.” The name was first given in Rome to the mask which was worn by a minor actor or supernumerary who played several parts. He would, for instance, play the part of a soldier in one act, a man in the crowd in another, a policeman in a third. Only the principal actors dressed their part fully. The supernumerary wore an ordinary peasant’s dress and changed only his headdress and his mask, which indicated the particular part he was playing at the time. If, for example, he were acting the part of a soldier, he would wear an appropriate mask and a soldier’s helmet.
Trước hết, tốt hơn nên định nghĩa từ “ngôi vị.” Từ này bắt nguồn từ hai từ La-tinh, per, “xuyên qua,” và sona, “một âm thanh.” 6 Vì vậy, nó có nghĩa là “cái mà qua đó âm thanh phát ra.” Tên gọi này trước tiên được dùng ở La Mã để chỉ chiếc mặt nạ mà một diễn viên phụ hay vai quần chúng đeo khi đóng nhiều vai. Chẳng hạn, y có thể đóng vai một người lính trong một hồi, một người trong đám đông ở hồi khác, một cảnh sát ở hồi thứ ba. Chỉ những diễn viên chính mới ăn mặc đầy đủ theo vai diễn. Diễn viên quần chúng mặc y phục nông dân thông thường và chỉ thay đổi mũ đội đầu cùng chiếc mặt nạ, vốn chỉ ra vai đặc thù mà y đang đóng vào lúc ấy. Ví dụ, nếu y đang đóng vai một người lính, y sẽ đội chiếc mặt nạ thích hợp và mũ sắt của lính.
The mask was the persona because the sound of the actor’s voice came out through it. The three Persons of the Blessed Trinity are in reality three manifestations or aspects of the One God. Even that is not quite correct because they are more than mere aspects—a theory long ago condemned by the Church as heresy.
Chiếc mặt nạ là persona vì âm thanh của giọng nói diễn viên phát ra qua nó. Ba Ngôi Vị của Ba Ngôi Chí Phúc thực ra là ba sự biểu hiện hay ba phương diện của Thượng đế Duy Nhất. Ngay cả điều đó cũng chưa thật hoàn toàn đúng, vì Các Ngài còn hơn các phương diện đơn thuần, một lý thuyết đã bị Giáo Hội kết án từ lâu là tà thuyết.
However, it is as near as we can come to representing this mystery to ourselves to say that in these three parts which the Deity plays He is represented by three Persons. We may employ analogies, but we must do so with care; they may help a little but it is well not to push them too far. To take a very simple analogy, we can imagine one man as the mayor of a city, the manager of a bank and, at the same time, the colonel of the local militia. In these three parts he would wear three different sets of clothing and, though he would act whatever part he was representing at a given moment, still he would always be one and the same man. Now the three Persons of the Blessed Trinity are very much more than that, but They may be thought of as God acting in different directions or in different capacities. This is indeed only a small part of the truth; the whole truth cannot be grasped at our present stage.
Tuy nhiên, điều gần nhất mà chúng ta có thể dùng để tự biểu thị mầu nhiệm này là nói rằng trong ba vai trò mà Thượng đế đảm nhiệm, Ngài được biểu thị bằng ba Ngôi Vị. Chúng ta có thể dùng các phép tương đồng, nhưng phải dùng một cách thận trọng; chúng có thể giúp phần nào, nhưng tốt hơn là không đẩy chúng đi quá xa. Lấy một phép tương đồng rất đơn giản, chúng ta có thể hình dung một người vừa là thị trưởng của một thành phố, vừa là quản lý của một ngân hàng, đồng thời là đại tá của lực lượng dân quân địa phương. Trong ba vai trò ấy, ông sẽ mặc ba bộ trang phục khác nhau, và tuy ông sẽ hành động theo bất cứ vai trò nào ông đang đại diện vào một khoảnh khắc nhất định, ông vẫn luôn là một và cùng một con người. Nay ba Ngôi Vị của Ba Ngôi Chí Phúc còn vượt xa điều đó rất nhiều, nhưng có thể nghĩ về Các Ngài như Thượng đế đang hành động theo những hướng khác nhau hoặc trong những năng lực khác nhau. Quả thật đây chỉ là một phần nhỏ của chân lý; toàn thể chân lý không thể được nắm bắt ở giai đoạn hiện tại của chúng ta.
Our Solar System – Hệ Mặt Trời của Chúng Ta
It is difficult for us to imagine anything antecedent to our solar system.
Thật khó cho chúng ta hình dung bất cứ điều gì có trước hệ mặt trời của chúng ta.
One theory concerning the origins of our system is that two suns came into collision, striking one another, not head on, but glancingly, and thus set the planets in motion round the sun in their present orbits. That may or may not be true, but the reality goes a great deal further than that. Each solar system, as we learn from occult study, is the physical body, the expression of a Deity or Logos, and it may be that, in some cases, He indeed gathered the material for His physical body by means of such a collision. At any rate, in the case of our own solar system, occult investigation has shown that the Logos first decided upon a point where He could make His system, and then set up a great vortex into which He drew matter out of surrounding space and proceeded gradually to ensoul it. We do not know much about the original condition of that matter, but it appears that at a certain stage in the proceedings there is only atomic matter; that is to say, the atoms lie far apart and equidistant and are not in any way aggregated to make forms of any sort whatever. We do not know it as a definite fact, but they may be thought of as floating in empty space as motes float in a sunbeam. They are, however, indescribably smaller than any motes we can see with our physical eye. Ancient philosophy sometimes called this primordial matter “virgin matter,” meaning that it was not yet interpenetrated or affected by the stream of life from the Logos.
Một lý thuyết về nguồn gốc của hệ chúng ta cho rằng hai mặt trời đã va chạm, đụng vào nhau không trực diện mà sượt qua, và như vậy đặt các hành tinh chuyển động quanh mặt trời trong các quỹ đạo hiện tại của chúng. Điều đó có thể đúng hoặc không đúng, nhưng thực tại còn đi xa hơn rất nhiều. Mỗi hệ mặt trời, như chúng ta học được từ nghiên cứu huyền bí, là thể xác, là biểu hiện của một Thượng đế hay Thượng Đế, và có thể trong một số trường hợp, Ngài quả thật đã gom góp vật liệu cho thể xác của Ngài bằng một va chạm như thế. Dù sao, trong trường hợp hệ mặt trời của chính chúng ta, khảo sát huyền bí đã cho thấy rằng trước hết Thượng Đế quyết định một điểm nơi Ngài có thể tạo lập hệ của Ngài, rồi thiết lập một xoáy lực lớn mà vào đó Ngài hút vật chất từ không gian chung quanh và tiến hành phú linh nó dần dần. Chúng ta không biết nhiều về tình trạng nguyên thủy của vật chất ấy, nhưng dường như ở một giai đoạn nhất định trong diễn trình chỉ có vật chất nguyên tử; nghĩa là các nguyên tử nằm cách xa nhau, cách đều nhau, và không kết tụ theo bất cứ cách nào để tạo thành bất kỳ hình tướng nào. Chúng ta không biết điều đó như một sự kiện xác định, nhưng có thể nghĩ về chúng như đang trôi nổi trong không gian trống rỗng, như những hạt bụi lơ lửng trong một tia nắng. Tuy nhiên, chúng nhỏ hơn không thể tả so với bất kỳ hạt bụi nào mà chúng ta có thể thấy bằng mắt hồng trần. Triết học cổ đôi khi gọi vật chất nguyên thủy này là “vật chất trinh nguyên,” nghĩa là nó chưa bị dòng sự sống từ Thượng Đế thâm nhập hay tác động.
The Planes of Matter – Các Cõi của Vật Chất
Occult investigation has further shown that in our solar system there are seven great planes or levels of matter and that man possesses bodies corresponding to, and by which he is able to contact, each one of them. There is the physical world, which we know, to a certain extent, as far as its lower subdivisions are concerned; the astral plane, which is the world in which feelings are expressed; the mental plane, which is built of the matter set in motion by our thought; the intuitional plane; the spiritual plane, where the triple spirit of man manifests itself; the monadic plane, where the Monad, the divine spark in man, resides; and finally the divine plane, on which is the triple manifestation of the Logos.
Khảo sát huyền bí còn cho thấy rằng trong hệ mặt trời của chúng ta có bảy cõi lớn hay bảy cấp độ vật chất, và con người sở hữu các thể tương ứng với từng cõi ấy, nhờ đó y có thể tiếp xúc với mỗi cõi. Có thế giới hồng trần, mà chúng ta biết đến một mức độ nào đó xét theo các phân phần thấp của nó; cõi cảm dục, là thế giới trong đó các cảm xúc được biểu lộ; cõi trí, được xây bằng vật chất do tư tưởng của chúng ta đặt vào chuyển động; cõi trực giác; cõi tinh thần, nơi tinh thần tam phân của con người biểu hiện chính nó; cõi chân thần, nơi Chân Thần, tia lửa thiêng liêng trong con người, trú ngụ; và sau cùng là cõi thiêng liêng, trên đó có sự biểu hiện tam phân của Thượng Đế.
Each of these planes is divided into seven subplanes. They must not be imagined as lying one above the other like the shelves of a bookcase; rather must we think of them as filling the same space and interpenetrating one another just as air and water in a bottle of aerated water take up the same space, because the air “crowds in” between the molecules of the water. If we pour sugar into the aerated water, we have solid particles floating among the liquid and the gaseous matter; air, water and solids now interpenetrate each other and occupy the same space. In like manner, the different types of the matter of the solar system interpenetrate one another. When spirit ensouls matter, it comes into the finer matter first and gradually energizes matter of increasing density. We call this a “descent” because it is coming nearer to the physical-plane matter.
Mỗi cõi này được chia thành bảy cõi phụ. Không nên hình dung chúng nằm chồng lên nhau như các ngăn của một tủ sách; đúng hơn, chúng ta phải nghĩ về chúng như lấp đầy cùng một không gian và thâm nhập lẫn nhau, giống như không khí và nước trong một chai nước có ga chiếm cùng một không gian, vì không khí “chen vào” giữa các phân tử nước. Nếu chúng ta đổ đường vào nước có ga, chúng ta có những hạt rắn lơ lửng giữa vật chất lỏng và vật chất khí; không khí, nước và chất rắn lúc này thâm nhập lẫn nhau và chiếm cùng một không gian. Tương tự, các loại vật chất khác nhau của hệ mặt trời thâm nhập lẫn nhau. Khi tinh thần phú linh vật chất, nó đi vào vật chất tinh anh hơn trước và dần dần tiếp năng cho vật chất có độ đậm đặc ngày càng tăng. Chúng ta gọi điều này là một “sự giáng xuống” vì nó đang đến gần hơn với vật chất cõi hồng trần.
When the Deity of the solar system manifests Himself in these planes, He appears as threefold upon that highest division which we call the divine plane. It is obviously impossible to picture this divine manifestation in any way, for it is entirely beyond our power either of representation or comprehension. In our limited consciousness we imagine the Three Persons as separate, yet They are really one. The first manifestation, which in Christian terminology is called God the Father, remains always at that highest level; the second—God the Son—descends one level and manifests Himself on the sixth or monadic plane. The Third—God the Holy Ghost—descends yet further to the higher part of the spiritual plane. The Holy Trinity is often spoken of as manifesting as Power, Wisdom, and Intelligence. The Father is said to be the Creator, and yet He creates through the Son; that is to say, Power is exercised through Wisdom, and both Father and Son, as Power-Wisdom, work through Intelligence. Another definition of the three Persons is Will, Wisdom, and Activity, and in that case we may think of the Holy Ghost as the “Arm of the Lord” outstretched to do His work.
Khi Thượng đế của hệ mặt trời tự biểu hiện trong các cõi này, Ngài hiện ra như tam phân trên phân phần cao nhất mà chúng ta gọi là cõi thiêng liêng. Hiển nhiên không thể hình dung sự biểu hiện thiêng liêng này theo bất cứ cách nào, vì nó hoàn toàn vượt ngoài quyền năng biểu tượng hay lĩnh hội của chúng ta. Trong tâm thức giới hạn của mình, chúng ta tưởng tượng Ba Ngôi Vị là tách biệt, nhưng Các Ngài thật sự là một. Sự biểu hiện thứ nhất, trong thuật ngữ Kitô giáo được gọi là Thượng đế Cha, luôn luôn ở lại cấp độ cao nhất ấy; Ngôi thứ hai, Thượng đế Con, giáng xuống một cấp độ và biểu hiện chính Ngài trên cõi thứ sáu hay cõi chân thần. Ngôi thứ ba, Thượng đế Chúa Thánh Thần, giáng xuống xa hơn nữa đến phần cao của cõi tinh thần. Ba Ngôi Thánh thường được nói là biểu hiện thành Quyền Năng, Minh Triết và Trí Tuệ. Người ta nói Cha là Đấng Sáng Tạo, tuy vậy Ngài sáng tạo qua Con; nghĩa là Quyền Năng được vận dụng qua Minh Triết, và cả Cha lẫn Con, với tư cách Quyền Năng-Minh Triết, hoạt động qua Trí Tuệ. Một định nghĩa khác về ba Ngôi Vị là Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động, và trong trường hợp đó chúng ta có thể nghĩ về Chúa Thánh Thần như “Cánh Tay của Chúa” vươn ra để thực hiện công việc của Ngài.
Now we find the same arrangement in the soul of man on the lower part of the spiritual plane. On the plane below—the intuitional—two principles manifest, giving rise to the intuitive nature. On the higher mental, there appears only one, manifesting as the intelligence. These three principles in man (which we call spirit, intuition, and intelligence) not only represent or reflect the three Persons of the Blessed Trinity, but in some way that as yet we cannot fully comprehend they are that Blessed Trinity. God is in every man, and every man is a manifestation of Him, even to the extent of mirroring in his soul that mysterious arrangement of three who yet are one. Here, then, we have the true meaning of the saying that God created man in His own image—not the physical body of man, but the constitution of his soul reproducing with marvelous exactitude the method of divine manifestation.
Bây giờ chúng ta thấy cùng một sự sắp đặt ấy trong linh hồn con người trên phần thấp của cõi tinh thần. Trên cõi bên dưới, cõi trực giác, hai nguyên khí biểu hiện, làm phát sinh bản chất trực giác. Trên cõi thượng trí, chỉ có một nguyên khí xuất hiện, biểu hiện thành trí tuệ. Ba nguyên khí này trong con người, mà chúng ta gọi là tinh thần, trực giác và trí tuệ, không chỉ biểu thị hay phản chiếu ba Ngôi Vị của Ba Ngôi Chí Phúc, mà theo một cách nào đó chúng ta chưa thể thấu hiểu trọn vẹn, chúng là Ba Ngôi Chí Phúc ấy. Thượng đế ở trong mỗi người, và mỗi người là một sự biểu hiện của Ngài, thậm chí đến mức phản chiếu trong linh hồn mình sự sắp đặt mầu nhiệm gồm ba mà vẫn là một. Vậy ở đây chúng ta có ý nghĩa đích thực của câu nói rằng Thượng đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của chính Ngài, không phải thể xác của con người, mà là cấu tạo linh hồn của y tái hiện với độ chính xác kỳ diệu phương pháp biểu hiện thiêng liêng.
The Three Outpourings – Ba Lần Tuôn Đổ
It is from the Third Person—the Holy Ghost—that the first movement towards the formation of the system comes. In the Jewish account of the Creation we are told that at this stage the Spirit “brooded upon the face of the water” of space or the seas of matter (Latin maria , plural of mare , “sea”). As soon as the Holy Spirit descends, this matter, which before was inert, unproductive or “virgin,” at once begins to show signs of life. Through His glorious vitality, the atoms, which were all alike and equidistant, are awakened to new powers of attraction and repulsion and form aggregations and combinations of all kinds, bringing into existence the lower subdivisions of each level until we have, in full activity, the marvelous complexity of the forty-nine subplanes of our system.
Chính từ Ngôi Thứ Ba, Chúa Thánh Thần, mà chuyển động đầu tiên hướng đến việc tạo thành hệ phát xuất. Trong trình thuật Do Thái về Sáng Tạo, chúng ta được cho biết rằng ở giai đoạn này, Đấng Tinh Thần “ấp ủ trên mặt nước” của không gian hay các biển vật chất, tiếng La-tinh maria, số nhiều của mare, “biển”. Ngay khi Chúa Thánh Thần giáng xuống, vật chất này, trước kia vốn trơ, không sinh sản hay “trinh nguyên,” lập tức bắt đầu cho thấy những dấu hiệu của sự sống. Qua sinh lực huy hoàng của Ngài, các nguyên tử, vốn tất cả đều giống nhau và cách đều nhau, được đánh thức đến những quyền năng mới của hút và đẩy, rồi tạo thành các kết tụ và tổ hợp đủ loại, đưa vào hiện hữu các phân phần thấp hơn của mỗi cấp độ cho đến khi chúng ta có, trong hoạt động trọn vẹn, sự phức tạp kỳ diệu của bốn mươi chín cõi phụ thuộc hệ của chúng ta.
When the field has thus been prepared for its activity, the second great outpouring of the Divine Life begins—the outflow of what is sometimes called monadic essence. This comes from the Second Person of the Trinity—God the Son. Slowly and steadily, but with resistless force, this mighty influence pours itself in great waves downwards through the various planes, giving to matter further powers of combination and making for itself forms or bodies out of that matter, each successive wave spending a whole aeon in each of the seven kingdoms of nature. It thus ensouls in succession what are called the three elemental kingdoms in which the spirit, moving downwards, immerses itself at last in physical matter and passes into the mineral kingdom. Having thus reached the lowest point of its destined course, it turns to begin its grand upward sweep towards divinity, pressing onward through the vegetable and animal kingdoms until it reaches the human kingdom, where it meets the outpouring from the First Person of the Blessed Trinity.
Khi trường hoạt động đã được chuẩn bị như vậy cho hoạt động của nó, lần tuôn đổ lớn thứ hai của Sự Sống Thiêng Liêng bắt đầu, tức là sự tuôn ra của cái đôi khi được gọi là tinh chất chân thần. Điều này đến từ Ngôi Thứ Hai của Ba Ngôi, Thượng đế Con. Chậm rãi và đều đặn, nhưng với mãnh lực không thể cưỡng lại, ảnh hưởng hùng mạnh này tuôn thành những làn sóng lớn xuống qua các cõi khác nhau, ban cho vật chất thêm những quyền năng kết hợp và tự tạo cho mình các hình tướng hay các thể từ vật chất ấy, mỗi làn sóng kế tiếp trải qua trọn một đại kiếp trong mỗi giới trong bảy giới của thiên nhiên. Như vậy, nó lần lượt phú linh những gì được gọi là ba giới hành khí, trong đó tinh thần, khi chuyển động xuống dưới, sau cùng dìm mình vào vật chất hồng trần và đi vào giới kim thạch. Sau khi đã đạt đến điểm thấp nhất của lộ trình đã định, nó quay lại để bắt đầu vòng quét vĩ đại hướng thượng về thiên tính, tiến tới qua giới thực vật và giới động vật cho đến khi nó đạt đến giới nhân loại, nơi nó gặp lần tuôn đổ từ Ngôi Thứ Nhất của Ba Ngôi Chí Phúc.
The life of the Second Person ensouls all these lower kingdoms until it reaches the human kingdom, where that which has been the ensouler becomes, in its turn, the ensouled, for from that vivified matter which has acted as a soul for the animal is formed the causal body of man. It is into the causal body, then, that the Third Outpouring from the First Person, God the Father, descends, and so the individuality, the Ego, of the man is formed.
Sự sống của Ngôi Thứ Hai phú linh tất cả các giới thấp này cho đến khi nó đạt đến giới nhân loại, nơi cái đã là yếu tố phú linh đến lượt nó trở thành cái được phú linh, vì từ vật chất đã được tiếp sinh lực ấy, vốn đã tác động như linh hồn cho con vật, thể nguyên nhân của con người được hình thành. Vậy chính vào thể nguyên nhân mà Lần Tuôn Đổ Thứ Ba từ Ngôi Thứ Nhất, Thượng đế Cha, giáng xuống, và như thế cá thể tính, Chân ngã, của con người được hình thành.
It used to be thought that man was the only reasoning animal. Assuredly, man has a far better brain than an animal, but anyone who has kept a pet dog or cat and made a friend of it knows that along certain lines the higher domesticated animals do reason and deduce one thing from another. The animal, while alive, is a separate soul just as much as any man, but when its body dies its soul is no longer a permanently separate entity. It remains as a separate thing in the astral life for some considerable time, but after that it goes back into what is called the group soul, whereas the man’s soul, when the body dies, passes through various intermediate stages and then returns to take another body. Man is a separate entity, a living soul, forever. That is the difference between the lowest man and the highest animal. And so we are told in the Bible that the spirit of the beast goeth “downward”—that is, back again into his group-soul but “the spirit of man goeth upward” [Eccl. 3:21] and eventually attains union with the Monad or Spirit.
Trước kia người ta từng nghĩ rằng con người là động vật duy nhất biết lý luận. Chắc chắn con người có bộ não tốt hơn nhiều so với động vật, nhưng bất cứ ai từng nuôi một con chó hay mèo cưng và kết bạn với nó đều biết rằng theo một số đường lối nhất định, các động vật thuần dưỡng cao hơn quả thật biết lý luận và suy ra điều này từ điều khác. Khi còn sống, con vật là một linh hồn riêng biệt cũng như bất kỳ con người nào, nhưng khi thể của nó chết, linh hồn của nó không còn là một thực thể riêng biệt thường tồn. Nó vẫn còn như một điều riêng biệt trong đời sống cảm dục trong một thời gian đáng kể, nhưng sau đó nó trở về với cái được gọi là Hồn nhóm, trong khi linh hồn con người, khi thể chết, đi qua nhiều giai đoạn trung gian rồi trở lại để nhận một thể khác. Con người là một thực thể riêng biệt, một linh hồn sống động, mãi mãi. Đó là sự khác biệt giữa con người thấp nhất và con vật cao nhất. Và vì vậy Kinh Thánh nói với chúng ta rằng tinh thần của thú vật “đi xuống”, nghĩa là trở lại Hồn nhóm của nó, nhưng “tinh thần của con người đi lên” và cuối cùng đạt đến sự hợp nhất với Chân Thần hay Tinh Thần.
Nothing in this great system is lost. If it is true that the Second Outpouring is, as it were, absorbed into the first, without that second the first could not have been. All that has been gained by the Second Outpouring is transferred into and welded into the first. This is put clearly in the Quicunque vult : 7 “yet he is not two, but one Christ; one, not by conversion of the Godhead into flesh; but by taking the Manhood into God.”
Không gì trong hệ thống vĩ đại này bị mất. Nếu đúng là Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, có thể nói, được hấp thụ vào lần thứ nhất, thì nếu không có lần thứ hai ấy, lần thứ nhất đã không thể có được. Tất cả những gì Lần Tuôn Đổ Thứ Hai đã đạt được đều được chuyển vào và hàn gắn vào lần thứ nhất. Điều này được diễn đạt rõ ràng trong Quicunque vult: 7 “tuy vậy Ngài không phải là hai, mà là một Đức Christ; một, không phải bằng sự chuyển đổi Thần Tính thành xác thịt, mà bằng việc thu nhận Nhân Tính vào Thượng đế.”
Divine Energy – Năng Lượng Thiêng Liêng
The Deity sends forth from itself various forces or forms of energy. There may be many of which we know nothing, but there are some which have been observed. It is not easy to find the origin or source of some of these forces, for they descend from planes higher than those which are accessible to us. But all power is divine power and comes forth from one or another of the three aspects of the Logos.
Thượng đế phát ra từ chính mình nhiều mãnh lực hay hình thức năng lượng khác nhau. Có thể có nhiều mãnh lực mà chúng ta không biết gì, nhưng có một số đã được quan sát. Không dễ tìm ra nguồn gốc hay cội nguồn của một số mãnh lực này, vì chúng giáng xuống từ các cõi cao hơn những cõi mà chúng ta có thể tiếp cận. Nhưng mọi quyền năng đều là quyền năng thiêng liêng và phát xuất từ một trong ba phương diện của Thượng Đế.
We find, too, that a great many of these forces—light, heat, electricity, and certain rays described in scientific experiments—appear to be variants of the same force and under certain conditions they can be changed one into the other.
Chúng ta cũng thấy rằng rất nhiều mãnh lực này, ánh sáng, nhiệt, điện và một số tia được mô tả trong các thí nghiệm khoa học, dường như là những biến thể của cùng một mãnh lực, và trong những điều kiện nhất định chúng có thể được chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác.
Apart from the group of forces just mentioned, we find another force which we call the life force and which long ago subdivided itself to a great degree. It comes forth at the Second Outpouring from the second aspect of the Logos, through millions of channels, showing itself on every plane of our system, yet fundamentally it is one and the same force. On the intuitional or buddhic plane, it displays itself as the Christ-principle which gradually unfolds itself within the soul of man.
Ngoài nhóm mãnh lực vừa được đề cập, chúng ta còn thấy một mãnh lực khác mà chúng ta gọi là sinh lực, và từ lâu nó đã tự phân chia đến một mức độ rất lớn. Nó phát xuất trong Lần Tuôn Đổ Thứ Hai từ phương diện thứ hai của Thượng Đế, qua hàng triệu kênh, biểu lộ trên mọi cõi của hệ chúng ta, nhưng về căn bản nó vẫn là một và cùng một mãnh lực. Trên cõi trực giác hay cõi Bồ đề, nó biểu lộ như nguyên khí Christ, vốn dần dần khai mở bên trong linh hồn con người.
This force must not be confused with the force of vitality or prāna, which pours forth from the sun and is an expression of the first or Father aspect of the Logos. The vitality itself is not life but is necessary for the maintenance of life in a form.
Không được nhầm lẫn mãnh lực này với mãnh lực sinh khí hay prana, vốn tuôn đổ từ mặt trời và là một biểu hiện của phương diện thứ nhất hay phương diện Cha của Thượng Đế. Bản thân sinh khí không phải là sự sống, nhưng cần thiết để duy trì sự sống trong một hình tướng.
Another distinct force, coming forth from the third aspect of the Logos is called the Serpent Fire, known in India under the name of kundalini . This force is the same as that which emanates from the Holy Ghost at the First Outpouring, but now it is on its path of return. On its outgoing path, it forms out of the bubbles in koilon the atoms which are used as building stones by the Second Outpouring in the creation of living forms. On its return path—in the form of the Serpent Fire—it plays a part in the evolution of the bodies of all living creatures.
Một mãnh lực phân biệt khác, phát xuất từ phương diện thứ ba của Thượng Đế, được gọi là Lửa Xà, được biết ở Ấn Độ dưới tên kundalini. Mãnh lực này cũng chính là mãnh lực xuất lộ từ Chúa Thánh Thần trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, nhưng giờ đây nó đang ở trên con đường trở về. Trên con đường đi ra, nó tạo thành từ các bọt trong koilon những nguyên tử được Lần Tuôn Đổ Thứ Hai dùng như các viên đá xây dựng trong việc sáng tạo các hình tướng sống. Trên con đường trở về — trong hình thức Lửa Xà — nó đóng một vai trò trong sự tiến hoá của các thể thuộc mọi sinh vật sống.
We know all these forces as distinct and separate on the physical plane, but this does not mean that they may not be connected at a higher level. There is much that one knows on higher planes that simply cannot be put into language down here.
Chúng ta biết tất cả các mãnh lực này như những mãnh lực phân biệt và riêng rẽ trên cõi hồng trần, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng không thể liên hệ với nhau ở một cấp độ cao hơn. Có nhiều điều người ta biết trên các cõi cao hơn mà đơn giản là không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ dưới này.
Diagram 1. The Three Outpourings
Sơ đồ 1. Ba Lần Tuôn Đổ
This diagram shows the seven planes of our system. The symbols used to designate the three Persons of the Trinity are of great antiquity. The First Person—the Father—is symbolized by a point within a circle; the Second Person—the Son—by a horizontal bar within a circle; and the Third Person—the Holy Spirit—by a cross within a circle. They are placed outside time and space, only the streams of life and force flowing from Them are shown descending into our system of planes. The First Outpouring, coming from the Third Person—God the Holy Ghost—is shown as a straight line descending to the lowest and densest plane, vivifying matter on its way. The Second Outpouring, emanating from the Second Person—God the Son—is that stream of life sent out into matter already vitalized by the First Outpouring and is shown descending to the lowest point in matter, after which it rises until it reaches the mental plane. In both of these outpourings the divine life becomes more veiled as it descends into matter (shown darker in the diagram). The Third Outpouring, coming from the First Person—God the Father—descends only as far as the intuitional plane, and its link with the Second Outpouring is symbolized by a triangle within a circle, representing the individual triune soul of man, the reincarnating Ego. The force of the Third Person also rises again after touching its lowest point in matter, but now in the form of what is called the Serpent Fire or kundalini , so we must imagine that the vertical line in the center returns upon its path.
Sơ đồ này trình bày bảy cõi của hệ chúng ta. Các biểu tượng được dùng để chỉ ba Ngôi của Ba Ngôi có tính cổ xưa rất lớn. Ngôi Thứ Nhất — Cha — được biểu thị bằng một điểm trong một vòng tròn; Ngôi Thứ Hai — Con — bằng một vạch ngang trong một vòng tròn; và Ngôi Thứ Ba — Chúa Thánh Thần — bằng một thập giá trong một vòng tròn. Các Ngài được đặt bên ngoài thời gian và không gian; chỉ những dòng sự sống và mãnh lực tuôn chảy từ Các Ngài được trình bày như đang đi xuống vào hệ các cõi của chúng ta. Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, đến từ Ngôi Thứ Ba — Thượng Đế Chúa Thánh Thần — được biểu thị bằng một đường thẳng đi xuống đến cõi thấp nhất và đậm đặc nhất, làm linh hoạt vật chất trên đường đi. Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, xuất lộ từ Ngôi Thứ Hai — Thượng Đế Ngôi Con — là dòng sự sống được phóng vào vật chất đã được tiếp sinh lực bởi Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, và được trình bày như đi xuống đến điểm thấp nhất trong vật chất, sau đó nó vươn lên cho đến khi đạt tới cõi trí. Trong cả hai lần tuôn đổ này, sự sống thiêng liêng trở nên bị che phủ hơn khi đi xuống vào vật chất, được biểu thị bằng màu tối hơn trong sơ đồ. Lần Tuôn Đổ Thứ Ba, đến từ Ngôi Thứ Nhất — Thượng Đế Ngôi Cha — chỉ đi xuống đến cõi trực giác, và mối liên kết của nó với Lần Tuôn Đổ Thứ Hai được biểu thị bằng một tam giác trong một vòng tròn, tượng trưng cho linh hồn tam phân cá biệt của con người, tức Chân ngã tái sinh. Mãnh lực của Ngôi Thứ Ba cũng lại vươn lên sau khi chạm đến điểm thấp nhất của nó trong vật chất, nhưng giờ đây dưới hình thức của cái được gọi là Lửa Xà hay kundalini, vì vậy chúng ta phải hình dung rằng đường thẳng đứng ở trung tâm quay trở lại theo chính con đường của nó.
____________________
____________________
3 – 3
MADE IN THE IMAGE OF GOD – ĐƯỢC TẠO NÊN THEO HÌNH ẢNH CỦA THƯỢNG ĐẾ
We are told that God made man in His own image. Some have held this to mean that it is the physical body of man which is made in the likeness of the physical body of God. But that cannot be so, for God has no physical vehicle, unless we accept the manifestations of the solar system on the physical plane as the physical manifestation of God. That, indeed, they are, since there is nothing which is not God. He not only permeates everything, but He literally is everything. All the spirit, all the power, all the energy in the world is the Divine Spirit and Power and Energy, and the very matter through which it acts is only another manifestation of Him. It is literally true that there is nothing but God at all levels from the highest to the lowest, for it is the Divine Life itself which surrounds us everywhere. But when it is said that God made man in His own image, it is the man himself—the soul—to which we refer, and not the physical body.
Chúng ta được dạy rằng Thượng Đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của chính Ngài. Một số người cho rằng điều này có nghĩa là thể xác của con người được tạo nên giống như thể xác của Thượng Đế. Nhưng không thể như vậy, vì Thượng Đế không có hiện thể hồng trần, trừ khi chúng ta chấp nhận những biểu hiện của hệ mặt trời trên cõi hồng trần như biểu hiện hồng trần của Thượng Đế. Quả thật, chúng chính là như vậy, vì không có gì không phải là Thượng Đế. Ngài không chỉ thấm nhập mọi sự, mà theo đúng nghĩa đen, Ngài là mọi sự. Tất cả tinh thần, tất cả quyền năng, tất cả năng lượng trong thế gian đều là Tinh Thần, Quyền Năng và Năng Lượng Thiêng Liêng, và chính vật chất mà qua đó nó hoạt động chỉ là một biểu hiện khác của Ngài. Theo đúng nghĩa đen, quả thật không có gì ngoài Thượng Đế ở mọi cấp độ, từ cao nhất đến thấp nhất, vì chính Sự Sống Thiêng Liêng bao quanh chúng ta ở khắp nơi. Nhưng khi nói rằng Thượng Đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của chính Ngài, thì chúng ta đang nói đến chính con người — linh hồn — chứ không phải thể xác.
How can the soul of man be made in the image of God? There are Three Persons in that ever-Blessed Trinity, and yet those Three are One. The same phenomenon appears in man. But man is threefold in another sense, as we are told in the New Testament. He is made up of body, soul, and Spirit; but it is not in this way that he is three in one. It is rather the soul itself which is triple, which has three aspects or manifestations.
Linh hồn con người có thể được tạo nên theo hình ảnh của Thượng Đế như thế nào? Có Ba Ngôi trong Ba Ngôi hằng Chân Phúc ấy, nhưng Ba Ngôi ấy là Một. Hiện tượng tương tự xuất hiện nơi con người. Nhưng con người còn tam phân theo một ý nghĩa khác, như chúng ta được dạy trong Tân Ước. Y được cấu thành bởi thể xác, linh hồn và Tinh Thần; nhưng không phải theo cách này mà y là ba trong một. Đúng hơn, chính linh hồn là tam phân, có ba phương diện hay ba biểu hiện.
The Spirit in man is the divine power of the Godhead in him, the divine energy leaping forth directly from Him at a tremendously higher level than anything we can understand.
Tinh Thần trong con người là quyền năng thiêng liêng của Thượng Đế nơi y, là năng lượng thiêng liêng trực tiếp phóng ra từ Ngài ở một cấp độ cao hơn khủng khiếp so với bất cứ điều gì chúng ta có thể thấu hiểu.
There are seven different planes of nature, which are sometimes called “worlds” or “heavens.” Thus we find references in the Bible to other and higher worlds, as when St. Paul speaks of having been caught up into the third heaven [2 Cor. 12:2], showing that he recognized at least three higher states than this earth.
Có bảy cõi khác nhau của thiên nhiên, đôi khi được gọi là “các thế giới” hay “các cõi trời.” Vì vậy, chúng ta thấy trong Kinh Thánh có những tham chiếu đến các thế giới khác và cao hơn, như khi Thánh Phaolô nói rằng ông đã được đưa lên đến tầng trời thứ ba [2 Cor. 12:2], cho thấy rằng ông thừa nhận ít nhất ba trạng thái cao hơn Trái Đất này.
Most people think of heaven as a place of happiness and delight, and so it is, for all higher levels are in every way better, more joyous, and less restricted than the physical plane. But, strictly speaking, “heaven” means that which is “heaved up” or raised above us; therefore any state higher than our own might be spoken of as heaven, and it is in that sense that we speak of the “seven heavens” or the seven conditions higher than this physical life.
Hầu hết mọi người nghĩ về thiên đường như một nơi hạnh phúc và hoan lạc, và quả thật là như vậy, vì mọi cấp độ cao hơn đều tốt đẹp hơn, hoan hỉ hơn và ít bị giới hạn hơn cõi hồng trần về mọi phương diện. Nhưng, nói một cách nghiêm ngặt, “thiên đường” có nghĩa là cái được “nâng lên” hay được đưa lên cao hơn chúng ta; vì vậy bất kỳ trạng thái nào cao hơn trạng thái của chúng ta cũng có thể được gọi là thiên đường, và chính theo ý nghĩa đó mà chúng ta nói về “bảy tầng trời” hay bảy trạng thái cao hơn đời sống hồng trần này.
The Spirit – Tinh Thần
The Spirit of man—the divine spark which is part of the divine fire—rests on a plane so high that at our present stage of evolution we cannot respond to it.
Tinh Thần của con người — tia lửa thiêng liêng vốn là một phần của lửa thiêng liêng — an trú trên một cõi cao đến nỗi ở giai đoạn tiến hoá hiện nay, chúng ta không thể đáp ứng với nó.
Further on in our evolution, when we have more fully developed our powers, we shall come clearly and definitely into touch with that Spirit, and we shall know that we are God and that God is in us. But for the present we are nearly at the bottom of the ladder that will take us to that stupendous height. The evolution before us is so vast that what we have already achieved will seem to us as nothing when we look back upon it from the immense heights of that distant future.
Về sau trong tiến hoá của chúng ta, khi chúng ta đã phát triển đầy đủ hơn các quyền năng của mình, chúng ta sẽ tiếp xúc rõ ràng và xác định với Tinh Thần ấy, và chúng ta sẽ biết rằng chúng ta là Thượng Đế và rằng Thượng Đế ở trong chúng ta. Nhưng hiện nay chúng ta gần như ở đáy chiếc thang sẽ đưa chúng ta lên đến tầm cao kỳ vĩ ấy. Sự tiến hoá trước mắt chúng ta bao la đến nỗi những gì chúng ta đã đạt được sẽ dường như chẳng là gì khi chúng ta nhìn lại nó từ những đỉnh cao mênh mông của tương lai xa xôi ấy.
There are those who approach this most profound of all subjects with the firm conviction that they are capable of understanding it fully. God alone understands it fully and because, in a sense, we also are God, we shall begin to comprehend it fully when we have developed to the full “measure of the stature of the fullness of Christ” (Eph. 4:13). At present we are but children in these studies. We can understand enough to guide us in our daily living; we can always understand enough to show us the next step which we have to take, and that is enough for us at the moment.
Có những người tiếp cận đề tài sâu xa nhất trong mọi đề tài này với niềm xác tín vững chắc rằng họ có khả năng thấu hiểu nó trọn vẹn. Chỉ Thượng Đế mới thấu hiểu nó trọn vẹn; và vì, theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta cũng là Thượng Đế, nên chúng ta sẽ bắt đầu thấu hiểu nó trọn vẹn khi chúng ta đã phát triển đến trọn “tầm vóc viên mãn của Đức Christ” (Eph. 4:13). Hiện nay, chúng ta chỉ là trẻ nhỏ trong các nghiên cứu này. Chúng ta có thể thấu hiểu đủ để hướng dẫn chúng ta trong đời sống hằng ngày; chúng ta luôn có thể thấu hiểu đủ để thấy bước kế tiếp mà mình phải đi, và điều đó là đủ cho chúng ta trong lúc này.
The Spirit itself, which we sometimes call the Monad, exists on a plane which is far beyond the reach of our consciousness. The first contact which we can make with it is on a plane below its own, where it shows itself as threefold. Then, in its further downward movement, it puts out a very small part of itself into a much lower level, and that is what is called the soul, or Ego, in man. This soul or Ego passes on from life to life at its own level—a level very much lower than that of the Spirit, but still much higher than our life on this physical plane.
Chính Tinh Thần, mà đôi khi chúng ta gọi là chân thần, tồn tại trên một cõi vượt xa tầm với của tâm thức chúng ta. Sự tiếp xúc đầu tiên mà chúng ta có thể tạo lập với nó là trên một cõi thấp hơn cõi riêng của nó, nơi nó biểu lộ như tam phân. Rồi, trong chuyển động đi xuống xa hơn, nó phóng ra một phần rất nhỏ của chính nó vào một cấp độ thấp hơn nhiều, và đó là cái được gọi là linh hồn, hay Chân ngã, trong con người. Linh hồn hay Chân ngã này tiếp diễn từ kiếp sống này sang kiếp sống khác ở cấp độ riêng của nó — một cấp độ thấp hơn rất nhiều so với Tinh Thần, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với đời sống của chúng ta trên cõi hồng trần này.
The Soul – Linh Hồn
The soul contains within itself the triple manifestation of the Spirit. It is said that God the Father remains on His own level and that God the Son descends into incarnation and takes upon Himself the robe of flesh. This was known to other and older religions than Christianity—to the great Hindu religion as well as to that of ancient Egypt. Indeed, it will be found to be implied, if not expressed, in all the great religions of the past.
Linh hồn chứa trong chính nó biểu hiện tam phân của Tinh Thần. Người ta nói rằng Thượng Đế Ngôi Cha vẫn ở trên cấp độ riêng của Ngài, còn Thượng Đế Ngôi Con đi xuống nhập thể và khoác lấy chiếc áo xác thịt. Điều này đã được các tôn giáo khác và xưa hơn Kitô giáo biết đến — trong tôn giáo Ấn Độ vĩ đại cũng như trong tôn giáo của Ai Cập cổ đại. Thật vậy, nếu không được diễn đạt rõ ràng, thì người ta cũng sẽ thấy nó được hàm ý trong tất cả các tôn giáo lớn của quá khứ.
Just as the Second Person of the Trinity descends lower than the First, so does the Third Person—God the Holy Ghost, the Flame of God—pour Himself out upon His people at a still lower level. And we find this arrangement repeated also in the soul of man. For the soul of man (as has been said before) is triple, made up of atma , the Breath or Spirit of God; buddhi , Intuitional Wisdom; and manas , intelligence. These, taken together, make what is called the incarnating Ego which goes on from life to life. We have all had many of these earth lives in the past (although most of us do not remember them), and we shall have many more in the future.
Cũng như Ngôi Thứ Hai của Ba Ngôi đi xuống thấp hơn Ngôi Thứ Nhất, thì Ngôi Thứ Ba — Thượng Đế Chúa Thánh Thần, Ngọn Lửa của Thượng Đế — cũng tuôn đổ chính Ngài xuống dân của Ngài ở một cấp độ còn thấp hơn nữa. Và chúng ta cũng thấy sự sắp đặt này được lặp lại trong linh hồn con người. Vì linh hồn con người, như đã nói trước đây, là tam phân, được cấu thành bởi atma, Hơi Thở hay Tinh Thần của Thượng Đế; Bồ đề, Minh Triết Trực Giác; và manas, trí năng. Ba điều này, hợp lại, tạo thành cái được gọi là Chân ngã nhập thể, vốn tiếp diễn từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Tất cả chúng ta đều đã có nhiều kiếp sống trên Trái Đất trong quá khứ, dù phần lớn chúng ta không nhớ chúng, và chúng ta sẽ còn có nhiều kiếp sống nữa trong tương lai.
That is the method of the soul’s evolution. It descends into this earthly life, where it gains certain experiences and develops certain faculties and returns to its own plane for a time of rest and of assimilation.
Đó là phương pháp tiến hoá của linh hồn. Nó đi xuống vào đời sống trần thế này, nơi nó thu nhận một số kinh nghiệm và phát triển một số năng lực, rồi trở về cõi riêng của nó trong một thời gian nghỉ ngơi và đồng hoá.
It is in his threefold constitution that man is made “in the image of God.” And this threefold manifestation is more than mere symbolism; it is the representation of the Trinity in the Godhead, which manifests itself through man just insofar as he will allow it to do so.
Chính trong cấu tạo tam phân của mình mà con người được tạo nên “theo hình ảnh của Thượng Đế.” Và biểu hiện tam phân này còn hơn là biểu tượng đơn thuần; nó là sự đại diện của Ba Ngôi trong Thượng Đế, biểu lộ qua con người đúng theo mức độ mà y cho phép nó làm như vậy.
When the soul “puts itself down” into incarnation, it takes not only a physical body but a mental one, which is commonly called the mind, and an emotional body, through which the emotions function. The latter is sometimes called the “astral” body because it shines and is luminous when it is seen by means of higher sight. In each life these bodies are taken anew.
Khi linh hồn “đưa chính mình xuống” vào nhập thể, nó không chỉ mang lấy một thể xác mà còn một thể trí, thường được gọi là trí, và một thể cảm xúc, qua đó các cảm xúc hoạt động. Thể sau đôi khi được gọi là thể “cảm dục” vì nó sáng rực và phát quang khi được thấy bằng nhãn quan cao hơn. Trong mỗi kiếp sống, các thể này được khoác lấy lại từ đầu.
Only after having assumed these intermediate vehicles can the soul come into touch with an embryo and be born into the physical world. When, at the end of that life, the physical body is worn out, the process is reversed and the soul lays aside one by one the temporary vehicles which it had assumed. So it is that the soul, during incarnation, is temporarily reflected in its three lower vehicles, which collectively constitute the personality of man.
Chỉ sau khi đã đảm nhận các hiện thể trung gian này, linh hồn mới có thể tiếp xúc với một phôi thai và được sinh ra trong thế giới hồng trần. Khi, vào cuối kiếp sống ấy, thể xác đã hao mòn, tiến trình được đảo ngược và linh hồn lần lượt gạt bỏ các hiện thể tạm thời mà nó đã đảm nhận. Vì vậy, trong thời gian nhập thể, linh hồn được phản chiếu tạm thời trong ba hiện thể thấp của nó, những hiện thể này hợp lại tạo thành phàm ngã của con người.
The Causal Body – Thể Nguyên Nhân
The causal body is the permanent vehicle of the soul or Ego in the higher mental world and consists of matter of the first, second, and third subdivisions of that world. In most people it is not yet fully active, only the matter belonging to the third subdivision being vivified. As the soul develops its latent possibilities through its long course of evolution, the higher matter is gradually brought into action, but it is only in the perfected man—the adept—that it is developed to its fullest capacity.
Thể nguyên nhân là hiện thể thường tồn của linh hồn hay Chân ngã trong thế giới thượng trí, và gồm vật chất thuộc các phân khu thứ nhất, thứ hai và thứ ba của thế giới ấy. Nơi phần lớn mọi người, nó chưa hoạt động đầy đủ; chỉ vật chất thuộc phân khu thứ ba được làm linh hoạt. Khi linh hồn phát triển những khả năng tiềm ẩn của nó qua dòng tiến hoá lâu dài, vật chất cao hơn dần dần được đưa vào hoạt động; nhưng chỉ nơi con người hoàn thiện — vị chân sư — nó mới được phát triển đến năng lực đầy đủ nhất.
When a man reaches the stage where he is capable of abstract thought and unselfish emotions, the matter of the causal body is aroused in response. Its vibrations show themselves to the clairvoyant observer as colors and instead of being, as heretofore, merely a transparent ovoid, it gradually becomes a sphere filled with matter of the most lovely and delicate hues indicative of the spiritual development of the soul.
Khi một người đạt đến giai đoạn có khả năng tư tưởng trừu tượng và những cảm xúc vô kỷ, vật chất của thể nguyên nhân được khơi dậy để đáp ứng. Các rung động của nó biểu lộ với người quan sát thông nhãn như những màu sắc; và thay vì chỉ là một hình trứng trong suốt như trước kia, nó dần dần trở thành một khối cầu đầy vật chất có những sắc thái đẹp đẽ và tinh tế nhất, biểu thị sự phát triển tinh thần của linh hồn.
In the course of evolution in the lower worlds, the soul introduces into its vehicles qualities which are undesirable for its development—qualities such as pride, irritability, and sensuality. These show themselves as vibrations in the various bodies, but since they are vibrations in the lower subdivisions of their respective worlds, they cannot reproduce themselves in the causal body, which is built exclusively of the matter of the three higher subdivisions of the mental world. Each section of the astral body, for instance, acts strongly upon the corresponding section of the mental body, but only upon that. The causal body can be affected only by the three higher sections of the astral body, and the vibrations of those parts represent only good qualities.
Trong tiến trình tiến hoá ở các thế giới thấp, linh hồn đưa vào các hiện thể của nó những phẩm tính không thích hợp cho sự phát triển của nó — những phẩm tính như kiêu hãnh, dễ cáu giận và nhục dục. Những điều này biểu lộ như các rung động trong các thể khác nhau; nhưng vì chúng là những rung động trong các phân khu thấp của những thế giới tương ứng, nên chúng không thể tự tái tạo trong thể nguyên nhân, vốn được xây dựng hoàn toàn bằng vật chất của ba phân khu cao hơn của thế giới trí tuệ. Chẳng hạn, mỗi phần của thể cảm dục tác động mạnh mẽ lên phần tương ứng của thể trí, nhưng chỉ lên phần đó mà thôi. Thể nguyên nhân chỉ có thể chịu ảnh hưởng bởi ba phần cao hơn của thể cảm dục, và các rung động của những phần ấy chỉ đại diện cho các phẩm tính tốt đẹp.
The practical effect of this is that the individual can build into the Ego or soul nothing but good qualities. Any evil qualities he may develop in his personality are transitory in nature and are discarded as he advances, because his causal body has no matter within it which can express such qualities.
Hiệu quả thực tiễn của điều này là cá nhân không thể xây dựng vào Chân ngã hay linh hồn điều gì ngoài các phẩm tính tốt đẹp. Bất kỳ phẩm tính xấu nào y có thể phát triển trong phàm ngã của mình đều có bản chất nhất thời và bị loại bỏ khi y tiến tới, bởi vì thể nguyên nhân của y không có vật chất nào bên trong có thể biểu hiện những phẩm tính như thế.
The Mental Body – Thể Trí
The mental body, expressing the concrete thought of the individual, is ovoid in shape and built of matter of the four lower subdivisions of the mental world. We find here the same color scheme as in the causal body. There are in it certain segments which correspond to particular departments in the physical brain. The mental body is, in general, so imperfectly developed in most people that great numbers of these special departments have not yet been brought into activity, or only very slightly so. This is why, for instance, only some people have a head for mathematics, while others can appreciate music but not poetry, and so on. The matter of the mental body should be circulating freely, but sometimes thoughts on certain subjects are allowed to become set and they solidify and harden into a kind of wart. Such a “wart” manifests itself as a prejudice, and until free circulation is restored it is impossible for the person to think clearly in regard to that subject.
Thể trí, biểu hiện tư tưởng cụ thể của cá nhân, có hình trứng và được xây dựng bằng vật chất của bốn phân khu thấp của thế giới trí tuệ. Ở đây chúng ta thấy cùng một hệ thống màu sắc như trong thể nguyên nhân. Trong nó có một số phân đoạn tương ứng với những bộ phận đặc thù trong bộ não hồng trần. Nói chung, nơi phần lớn mọi người, thể trí phát triển không hoàn chỉnh đến mức rất nhiều bộ phận đặc biệt này chưa được đưa vào hoạt động, hoặc chỉ hoạt động rất ít. Đây là lý do, chẳng hạn, chỉ một số người có đầu óc toán học, trong khi những người khác có thể thưởng thức âm nhạc nhưng không thưởng thức thi ca, v.v. Vật chất của thể trí nên lưu chuyển tự do, nhưng đôi khi các tư tưởng về một số đề tài nào đó được để cho trở nên cố định, rồi chúng đông đặc và cứng lại thành một thứ mụn cóc. Một “mụn cóc” như thế biểu lộ như một thành kiến, và cho đến khi sự lưu chuyển tự do được phục hồi, người ấy không thể suy nghĩ rõ ràng về đề tài đó.
Good thoughts produce vibrations in the finer matter of the mental body, which tends to flow in the upper part of the ovoid, whereas bad thoughts such as those of selfishness or jealousy gravitate towards the lower part. Vague, ill-defined thoughts float for a while in space and then slowly disintegrate. Every thought builds a form. A man can make a thought-form and aim it at another with the object of helping him. This is one of the lines of activity adopted by those who wish to serve humanity. Such a thought-form may act like a “guardian angel.” Any person who habitually thinks pure and strong thoughts is a great power for good in the world.
Những tư tưởng tốt tạo ra các rung động trong vật chất tinh anh hơn của thể trí, vốn có khuynh hướng lưu chuyển ở phần trên của hình trứng, trong khi những tư tưởng xấu như tư tưởng ích kỷ hay ganh tị thì bị kéo xuống phần dưới. Những tư tưởng mơ hồ, không rõ nét trôi nổi một thời gian trong không gian rồi chậm rãi tan rã. Mỗi tư tưởng xây dựng một hình tướng. Một người có thể tạo ra một hình tư tưởng và hướng nó đến người khác với mục đích giúp đỡ y. Đây là một trong những đường hoạt động được những người muốn phụng sự nhân loại áp dụng. Một hình tư tưởng như thế có thể hoạt động như một “thiên thần hộ mệnh.” Bất cứ người nào thường xuyên suy nghĩ những tư tưởng trong sạch và mạnh mẽ đều là một quyền năng lớn lao hướng thiện trong thế gian.
The Astral Body – Thể Cảm Dục
The astral body is the expression of the soul on the astral plane and is the vehicle of passion and emotion. The name “astral” originated with the medieval alchemists. It means “starry” and was probably used because of the luminous appearance of the astral body. This body exhibits many colors expressing the great variety of human feelings and emotions.
Thể cảm dục là biểu hiện của linh hồn trên cõi cảm dục và là hiện thể của đam mê và cảm xúc. Tên gọi “cảm dục” có nguồn gốc từ các nhà luyện kim thời trung cổ. Nó có nghĩa là “như sao” và có lẽ được dùng vì vẻ ngoài phát sáng của thể cảm dục. Thể này biểu hiện nhiều màu sắc, diễn tả sự đa dạng lớn lao của các tình cảm và cảm xúc con người.
When the astral body is comparatively quiet, its colors indicate those emotions which the person habitually entertains. When there is a rush of a particular feeling, the rate of vibration which expresses that feeling dominates the entire astral body for a time. If it be, for example, devotion, the whole of the astral body is tinged with blue.
Khi thể cảm dục tương đối yên tĩnh, các màu sắc của nó biểu thị những cảm xúc mà người ấy thường nuôi dưỡng. Khi có một làn sóng mạnh của một cảm xúc đặc thù, nhịp độ rung động biểu hiện cảm xúc ấy sẽ chi phối toàn bộ thể cảm dục trong một thời gian. Nếu, chẳng hạn, đó là lòng sùng tín, toàn thể thể cảm dục sẽ nhuốm màu xanh lam.
The permanent colors of the astral react upon the mental body. They produce in it the corresponding colors, but several octaves higher, in the same way that a musical note produces overtones. The mental body, in its turn, influences the causal body in the same way, and thus all the good qualities expressed in the lower vehicles establish themselves by degrees in the soul. The negative qualities are unable to do this, as their rates of vibration find no corresponding vibrations in the higher mental matter of which the casual body is built.
Các màu sắc thường tồn của thể cảm dục tác động lên thể trí. Chúng tạo ra trong thể trí các màu sắc tương ứng, nhưng cao hơn vài quãng tám, giống như cách một nốt nhạc tạo ra các âm bồi. Đến lượt mình, thể trí ảnh hưởng đến thể nguyên nhân theo cùng cách ấy, và như vậy mọi phẩm tính tốt đẹp được biểu hiện trong các hiện thể thấp dần dần thiết lập chính chúng trong linh hồn. Các phẩm tính tiêu cực không thể làm điều này, vì nhịp độ rung động của chúng không tìm thấy rung động tương ứng nào trong vật chất thượng trí mà thể nguyên nhân được xây dựng bằng đó.
The Physical Body – Thể Xác
We have described the vehicles which are the expressions of the soul in the mental world and in the world of emotions. They are vehicles which the soul provides for itself. But in the physical world, the vehicle is provided for it by nature under certain laws. Although also, in a sense, an expression of the soul, this vehicle is far from being a perfect manifestation.
Chúng ta đã mô tả các hiện thể vốn là những biểu hiện của linh hồn trong thế giới trí tuệ và trong thế giới của các cảm xúc. Chúng là những hiện thể mà linh hồn tự cung cấp cho mình. Nhưng trong thế giới hồng trần, thiên nhiên cung cấp hiện thể cho linh hồn theo một số định luật nhất định. Dù theo một ý nghĩa nào đó, hiện thể này cũng là một biểu hiện của linh hồn, nhưng nó còn xa mới là một biểu hiện hoàn hảo.
The physical body of man is a wonderful instrument and one of great complexity. Besides the part which is dense enough to be visible to the eye, there is the part we call the etheric body. In this part of the body there are certain force centers through which energy flows from one vehicle or body to the other.
Thể xác của con người là một khí cụ kỳ diệu và có độ phức tạp lớn. Ngoài phần đủ đậm đặc để mắt thấy được, còn có phần mà chúng ta gọi là thể dĩ thái. Trong phần này của thể có một số trung tâm mãnh lực mà qua đó năng lượng tuôn chảy từ hiện thể hay thể này sang hiện thể hay thể khác.
Three principal forces flow through the seven chakras or force centers in the etheric body, and we may think of them as representing the three aspects of the Logos. One is the expression of the Second Outpouring, from the Second Aspect of the Logos—that stream of life which is sent into the matter already vitalized by the action of the Third Aspect in the First Outpouring. This, the primary or life force, is reflected in the incarnation of Christ, who was born “of the Holy Ghost and the Virgin Mary.”
Ba mãnh lực chính tuôn chảy qua bảy luân xa hay trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái, và chúng ta có thể nghĩ về chúng như đại diện cho ba phương diện của Thượng Đế. Một mãnh lực là biểu hiện của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, từ Phương Diện Thứ Hai của Thượng Đế — dòng sự sống được phóng vào vật chất đã được tiếp sinh lực bởi tác động của Phương Diện Thứ Ba trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất. Mãnh lực này, tức mãnh lực nguyên thủy hay sinh lực, được phản chiếu trong sự nhập thể của Đức Christ, Đấng đã được sinh ra “bởi Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Maria.”
The second force is the Serpent Fire which comes forth from God the Holy Ghost. It rests in the chakra at the base of the spine. The third is what we call vitality.
Mãnh lực thứ hai là Lửa Xà, phát xuất từ Thượng Đế Chúa Thánh Thần. Nó an trú trong luân xa ở đáy cột sống. Mãnh lực thứ ba là cái chúng ta gọi là sinh khí.
Vitality – Sinh Khí
We keep our physical bodies alive not only by food and drink and by breathing good air, but also by drawing into ourselves vitality, called in the East prana . Prana is a fluid, or perhaps we should rather call it a kind of element which comes to us from the sun. Those who have clairvoyant sight are able to see it as tiny particles, and even slightly sensitive people when looking at a clear sky can see myriads of tiny shining points dancing about in constant and rapid motion. They can more easily be seen on a fine day, because when there is bright sunlight they are generated in immense numbers and are especially active. We draw these vitality globules into our physical bodies, and currents of them flow along our nerves and through our whole system.
Chúng ta giữ cho thể xác mình sống không chỉ bằng thức ăn, đồ uống và bằng việc hít thở không khí tốt, mà còn bằng cách thu hút vào mình sinh khí, được gọi ở phương Đông là prana. Prana là một lưu chất, hoặc có lẽ đúng hơn chúng ta nên gọi nó là một loại nguyên tố đến với chúng ta từ mặt trời. Những người có nhãn quan thông nhãn có thể thấy nó như những hạt nhỏ li ti, và ngay cả những người hơi nhạy cảm, khi nhìn vào bầu trời trong, cũng có thể thấy vô số điểm sáng nhỏ li ti đang nhảy múa trong chuyển động liên tục và nhanh chóng. Chúng có thể được thấy dễ dàng hơn vào một ngày đẹp trời, bởi vì khi có ánh nắng rực rỡ, chúng được sinh ra với số lượng mênh mông và đặc biệt linh hoạt. Chúng ta thu hút các sinh khí cầu này vào thể xác của mình, và các dòng của chúng tuôn chảy dọc theo các dây thần kinh và khắp toàn bộ hệ thống của chúng ta.
When a person makes magnetic passes over another and tries to give him strength, what he really does is to pour into him more prana. When we take food into our bodies, before it can be assimilated it must go through the process of digestion. In the same way when we draw these vitality globules 8 into ourselves they must be broken up into their component parts before the body is able to assimilate them. A person who is ill has lost for the time being the power of breaking up these atoms of life and distributing them through his body, therefore he can be very much helped by someone else drawing the “predigested” atoms from his own body and pouring them into him. The patient feels stronger and better after that is done because life is coursing once more through his veins.
Khi một người thực hiện những đường chuyền từ tính trên người khác và cố gắng truyền sức mạnh cho y, điều y thật sự làm là tuôn đổ vào y thêm prana. Khi chúng ta đưa thức ăn vào thể mình, trước khi nó có thể được đồng hoá, nó phải trải qua tiến trình tiêu hoá. Cũng như vậy, khi chúng ta thu hút các sinh khí cầu này 8 vào mình, chúng phải được phân giải thành các phần cấu thành trước khi thể có thể đồng hoá chúng. Một người bệnh tạm thời đã mất quyền năng phân giải các nguyên tử sự sống này và phân phối chúng khắp thể mình; vì vậy y có thể được giúp đỡ rất nhiều bởi một người khác, người này rút các nguyên tử “đã được tiêu hoá trước” từ chính thể của mình và tuôn đổ chúng vào y. Sau khi điều đó được thực hiện, bệnh nhân cảm thấy mạnh hơn và khá hơn, vì sự sống lại một lần nữa lưu chuyển qua các tĩnh mạch của y.
Those who are clairvoyant enough to see the health aura which radiates from the body will notice, in the case of a person who is ill, that the radiation is far less strong than in a man in good health and that, instead of shooting straight out in all directions from the body, the lines of radiation fall droopingly like the waters of a fountain which has been turned low.
Những người đủ thông nhãn để thấy hào quang sức khoẻ tỏa ra từ thể sẽ nhận thấy, trong trường hợp một người bệnh, rằng bức xạ yếu hơn rất nhiều so với nơi một người khoẻ mạnh, và thay vì phóng thẳng ra mọi hướng từ thể, các đường bức xạ rủ xuống như nước của một đài phun đã bị vặn nhỏ.
The vitality globules are a manifestation of God the Father who, by pouring out this stream of vitality, is in a very real sense giver of life to us and to His system.
Các sinh khí cầu là một biểu hiện của Thượng Đế Ngôi Cha, Đấng, bằng cách tuôn đổ dòng sinh khí này, theo một ý nghĩa rất thực, là Đấng ban sự sống cho chúng ta và cho hệ của Ngài.
This, then, is the constitution of man. In the first place he is a Spirit, a Monad, a spark of the Divine.
Vậy đây là cấu tạo của con người. Trước hết, y là một Tinh Thần, một chân thần, một tia lửa của Thiêng Liêng.
For the purposes of human evolution, the monad manifests itself in lower worlds. When it descends one stage into the spiritual world it shows itself as a triple spirit, just as the Deity in worlds infinitely higher has three aspects. One of these aspects remains always in that world, and we call that the spirit in man. The second aspect manifests itself in the intuitional world, and we speak of it as the intuition in man. The third manifests itself in the higher mental world, and we call it the intelligence in man.
Vì các mục đích của tiến hoá nhân loại, chân thần biểu lộ trong các thế giới thấp hơn. Khi nó đi xuống một giai đoạn vào thế giới tinh thần, nó biểu lộ như một tinh thần tam phân, cũng như Thượng đế trong những thế giới cao hơn vô hạn có ba phương diện. Một trong các phương diện này luôn luôn ở lại trong thế giới ấy, và chúng ta gọi đó là tinh thần trong con người. Phương diện thứ hai biểu lộ trong thế giới trực giác, và chúng ta nói về nó như trực giác trong con người. Phương diện thứ ba biểu lộ trong thế giới thượng trí, và chúng ta gọi nó là trí năng trong con người.
The soul or Ego is a partial expression of the monad, formed in order that he may enter evolution and may return eventually to the Spirit with qualities developed by experience. The soul in its turn puts down a part of itself for the same purpose into yet lower worlds, and we call that the personality. Just as the soul is a small and imperfect expression of the Monad, so is the personality an imperfect expression of the soul, so that what we usually think of as a person is in truth only a fragment of a fragment.
Linh hồn hay Chân ngã là một biểu hiện phần nào của chân thần, được hình thành để y có thể đi vào tiến hoá và cuối cùng trở về với Tinh Thần cùng với những phẩm tính được phát triển qua kinh nghiệm. Đến lượt mình, linh hồn đưa một phần của chính nó xuống các thế giới còn thấp hơn cho cùng mục đích ấy, và chúng ta gọi đó là phàm ngã. Cũng như linh hồn là một biểu hiện nhỏ bé và bất toàn của Chân Thần, phàm ngã cũng là một biểu hiện bất toàn của linh hồn, đến nỗi điều chúng ta thường nghĩ là một con người thật ra chỉ là một mảnh của một mảnh.
We find, then, that man is the result of an elaborate evolutionary scheme, and that in him three streams of divine life converge. The idea of God having made man in His own image, when properly understood, is seen to embody a great truth.
Vậy chúng ta thấy rằng con người là kết quả của một hệ thống tiến hoá tinh vi, và trong y ba dòng sự sống thiêng liêng hội tụ. Ý tưởng rằng Thượng Đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của chính Ngài, khi được thấu hiểu đúng đắn, được thấy là hàm chứa một chân lý lớn lao.
Diagram 2. The Principles of Man
Sơ đồ 2. Các Nguyên Khí của Con Người
In the diagram on the opposite page, an attempt has been made to show the relationship between the Persons of the Holy Trinity in manifestation and how this relationship is mirrored in the principles of man. We do not know in what form the Logos exists outside the limits of His system; all that can be said with certainty is that when His life appears in the highest world of the solar system, it pours down in three mighty streams to give rise to the Triple Spirit or, what we call in Christianity, the Three Persons of the Trinity. They are here represented by three circles (A, B, and C). The First Person, the Father (A), does not descend below the divine plane. The Second Person, the Son, descends to the monadic plane, where He is represented as dual (D). The Third Person, the Holy Ghost, passing through the monadic plane, descends to the spiritual plane (F). The symbols used for the three aspects of the Trinity are the same as in diagram 1.
Trong sơ đồ ở trang đối diện, người ta đã cố gắng trình bày mối quan hệ giữa các Ngôi của Ba Ngôi Thánh trong biểu hiện, và cách mối quan hệ này được phản chiếu trong các nguyên khí của con người. Chúng ta không biết Thượng Đế tồn tại dưới hình thức nào bên ngoài các giới hạn của hệ Ngài; tất cả những gì có thể nói chắc chắn là khi sự sống của Ngài xuất hiện trong thế giới cao nhất của hệ mặt trời, nó tuôn xuống trong ba dòng hùng mạnh để làm phát sinh Tinh Thần Tam Phân, hay điều chúng ta gọi trong Kitô giáo là Ba Ngôi của Ba Ngôi. Ở đây Các Ngài được biểu thị bằng ba vòng tròn (A, B và C). Ngôi Thứ Nhất, Cha (A), không đi xuống thấp hơn cõi thiêng liêng. Ngôi Thứ Hai, Con, đi xuống cõi chân thần, nơi Ngài được biểu thị như nhị phân (D). Ngôi Thứ Ba, Chúa Thánh Thần, đi qua cõi chân thần, đi xuống cõi tinh thần (F). Các biểu tượng được dùng cho ba phương diện của Ba Ngôi cũng giống như trong sơ đồ 1.
The consciousness of man is a unity, not a multiplicity; but as it manifests itself in the different bodies or vehicles, it presents different aspects. These aspects of consciousness are here termed “principles.” A principle is not a body, but the expression of consciousness in a body. The Monad (1), termed by St. Paul the Spirit, is the divine spark in man, the divine source of human consciousness. When the Monad manifests itself a plane lower—the spiritual plane—it is always as a triplicity (2, 3, and 4). Principle 2, the Spirit, does not descend below that level. The other two principles manifest in the next lower world—the intuitional—giving rise to the dual intuitive nature. Principle 5 does not manifest below that level. Principle 6 pours itself down into the next world—the higher mental—and manifests as the intelligence in man. Principles 2, 5, and 7 together constitute the soul or Ego in man, the reincarnating center of consciousness which persists through the whole series of human lives. In the lower worlds, the soul or Ego is reflected in principles 9 (the mind), 10 (the emotions), and 11 (the physical body). These three collectively constitute the transitory personality of one life. The link between the soul and the personality is called the antahkarana in Indian philosophy (8). If we think of the Ego as the true man, then the personality is the hand which he dips down into matter in order to work through it, and the antahkarana is the arm linking that hand to his body.
Tâm thức của con người là một nhất thể, không phải một đa thể; nhưng khi nó biểu lộ trong các thể hay hiện thể khác nhau, nó trình hiện các phương diện khác nhau. Ở đây, các phương diện này của tâm thức được gọi là “các nguyên khí.” Một nguyên khí không phải là một thể, mà là sự biểu hiện của tâm thức trong một thể. Chân thần (1), được Thánh Phaolô gọi là Tinh Thần, là tia lửa thiêng liêng trong con người, là nguồn thiêng liêng của tâm thức con người. Khi Chân thần biểu lộ một cõi thấp hơn — cõi tinh thần — nó luôn luôn biểu lộ như một bộ ba (2, 3 và 4). Nguyên khí 2, Tinh Thần, không đi xuống thấp hơn cấp độ ấy. Hai nguyên khí kia biểu lộ trong thế giới thấp kế tiếp — cõi trực giác — làm phát sinh bản chất trực giác nhị phân. Nguyên khí 5 không biểu lộ thấp hơn cấp độ ấy. Nguyên khí 6 tự tuôn xuống thế giới kế tiếp — cõi thượng trí — và biểu lộ như trí năng trong con người. Các nguyên khí 2, 5 và 7 hợp lại tạo thành linh hồn hay Chân ngã trong con người, trung tâm tâm thức tái sinh tồn tại suốt toàn bộ chuỗi các kiếp sống nhân loại. Trong các thế giới thấp, linh hồn hay Chân ngã được phản chiếu trong các nguyên khí 9 (thể trí), 10 (các cảm xúc), và 11 (thể xác). Ba nguyên khí này hợp lại tạo thành phàm ngã nhất thời của một kiếp sống. Mối liên kết giữa linh hồn và phàm ngã được gọi là antahkarana trong triết học Ấn Độ (8). Nếu chúng ta nghĩ về Chân ngã như con người chân thật, thì phàm ngã là bàn tay mà y nhúng xuống vật chất để làm việc qua nó, và antahkarana là cánh tay nối bàn tay ấy với thân thể của y.
____________________
____________________
4 – 4
THE HUMAN SOUL – LINH HỒN CON NGƯỜI
In a previous chapter I described how the Holy Spirit, in the First Outpouring, descends into and vivifies matter of the various planes, first building their respective atoms and then aggregating those atoms into elements.
Trong một chương trước, tôi đã mô tả cách Chúa Thánh Thần, trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, đi xuống vào và làm linh hoạt vật chất của các cõi khác nhau, trước hết xây dựng các nguyên tử tương ứng của chúng, rồi kết hợp các nguyên tử ấy thành các nguyên tố.
Into the matter so vivified the Second Outpouring comes down from God the Son, and the Divine Life, of which that outpouring consists, incarnates or draws the matter together into bodies or vehicles which it can inhabit. At the lowest level of materiality that Life ensouls the mineral kingdom. As it evolves, it becomes definite enough to ensoul the vegetable kingdom and still later, the animal. When it has risen to the highest level of the animal kingdom a remarkable change takes place and an entirely new factor is introduced—that of the Third Outpouring, which comes from the First Aspect of the Logos, commonly called God the Father.
Vào vật chất đã được làm linh hoạt như thế, Lần Tuôn Đổ Thứ Hai đi xuống từ Thượng Đế Ngôi Con, và Sự Sống Thiêng Liêng, vốn cấu thành lần tuôn đổ ấy, nhập thể hay kéo vật chất lại thành các thể hay hiện thể mà nó có thể cư ngụ. Ở cấp độ vật chất thấp nhất, Sự Sống ấy phú linh giới kim thạch. Khi tiến hoá, nó trở nên xác định đủ để phú linh giới thực vật và về sau nữa là giới động vật. Khi nó đã vươn đến cấp độ cao nhất của giới động vật, một thay đổi đáng chú ý diễn ra và một yếu tố hoàn toàn mới được đưa vào — đó là Lần Tuôn Đổ Thứ Ba, đến từ Phương Diện Thứ Nhất của Thượng Đế, thường được gọi là Thượng Đế Ngôi Cha.
That force which has hitherto been the ensouler now becomes, in its turn, the ensouled, and the force from the First Person seizes upon what has heretofore been the soul of the animal and of it makes for itself a body of matter so exceedingly fine as to be utterly imperceptible to our physical senses.
Mãnh lực cho đến nay vẫn là nguyên lý phú linh, giờ đây đến lượt nó trở thành cái được phú linh, và mãnh lực từ Ngôi Thứ Nhất nắm lấy cái trước đây là linh hồn của con vật, rồi từ đó tạo cho chính mình một thể bằng vật chất tinh vi đến mức hoàn toàn không thể nhận biết bằng các giác quan hồng trần của chúng ta.
Thus is born the Ego or soul in its causal body. At once it draws into itself the result of all the experience that has been gained by the animal soul during all the aeons of its previous development, so that nothing of the qualities which have been acquired in the course of its evolution is lost.
Như vậy Chân ngã hay linh hồn được sinh ra trong thể nguyên nhân của nó. Ngay lập tức, nó thu hút vào chính mình kết quả của mọi kinh nghiệm mà hồn động vật đã thu được trong suốt vô số đại kiếp phát triển trước đó, để không một phẩm tính nào đã được đạt được trong tiến trình tiến hoá của nó bị mất đi.
The wonderful force that rushes from the highest aspect known to us of the Solar Logos is, in very truth, the actual life of God Himself. So are also the First and Second Outpourings, but they have come down slowly and gradually through all the subplanes, drawing round themselves the matter of each of these and enmeshing themselves in it so thoroughly that it is scarcely possible to discern them for what they are, or to recognize them as divine life at all. But the Third Outpouring flashes straight down from its source without involving itself in any way in the intermediate matter. It is pure white light, uncontaminated by anything through which it has passed.
Mãnh lực kỳ diệu phóng xuống từ phương diện cao nhất của Thái dương Thượng đế mà chúng ta biết, thật sự chính là sự sống đích thực của chính Thượng Đế. Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất và Lần Tuôn Đổ Thứ Hai cũng như vậy, nhưng chúng đã đi xuống chậm rãi và dần dần qua tất cả các cõi phụ, thu hút quanh mình vật chất của từng cõi phụ ấy và tự vướng vào đó trọn vẹn đến mức hầu như không thể phân biện chúng đúng như bản chất của chúng, hay nhận ra chúng là sự sống thiêng liêng. Nhưng Lần Tuôn Đổ Thứ Ba lóe thẳng xuống từ nguồn của nó mà không vướng vào vật chất trung gian theo bất kỳ cách nào. Nó là ánh sáng trắng tinh khiết, không bị nhiễm ô bởi bất cứ điều gì mà nó đã đi qua.
The Monad – Chân Thần
This third stream of the Divine Life has, in fact, issued forth from the Logos long ages ago and is hovering at an intermediate point in the second of our planes. When hovering at that level it is called the Monad, which we may think of as a part of that which cannot be divided—a spark thrown off from the divine fire, yet ever united to it. A paradox, truly, to our mortal intellect, yet enshrining an eternal truth which is far beyond our comprehension.
Dòng thứ ba này của Sự Sống Thiêng Liêng, thật ra, đã phát xuất từ Thượng Đế từ những thời đại rất xa xưa và đang lơ lửng ở một điểm trung gian trong cõi thứ hai của chúng ta. Khi lơ lửng ở cấp độ ấy, nó được gọi là chân thần, mà chúng ta có thể nghĩ như một phần của cái không thể bị phân chia — một tia lửa được phóng ra từ lửa thiêng liêng, nhưng vẫn luôn hợp nhất với nó. Quả thật là một nghịch lý đối với trí năng hữu tử của chúng ta, nhưng lại chứa đựng một chân lý vĩnh cửu vượt xa sự lĩnh hội của chúng ta.
The general method of the descent of spirit into matter seems to be always the same, though the diverse conditions of the different planes naturally produce many variations in detail. The Logos Himself puts down the Monad—a tiny fragment of Himself—into a level far below His own. Of course, such a descent must mean a most severe limitation, though it is all too far above the utmost reach of our consciousness to be described or understood. In exactly the same way, the Monad puts down a fragment of himself, which becomes the Ego or soul, and the limitation is enormously increased. The same thing happens once more when the Ego repeats the operation and projects a minute fragment which we call the personality into the mental, emotional, and physical bodies of man.
Phương pháp chung của sự đi xuống của tinh thần vào vật chất dường như luôn luôn giống nhau, dù các điều kiện đa dạng của những cõi khác nhau tự nhiên tạo ra nhiều biến thể trong chi tiết. Chính Thượng Đế đưa Chân thần — một mảnh nhỏ bé của chính Ngài — xuống một cấp độ thấp hơn rất xa cấp độ của Ngài. Dĩ nhiên, một sự đi xuống như thế hẳn phải hàm ý một giới hạn cực kỳ nghiêm trọng, dù tất cả điều đó vẫn quá cao so với tầm với tối đa của tâm thức chúng ta để có thể mô tả hay thấu hiểu. Theo đúng cùng cách ấy, Chân thần đưa xuống một mảnh của chính nó, mảnh này trở thành Chân ngã hay linh hồn, và sự giới hạn gia tăng vô cùng lớn. Điều tương tự lại xảy ra một lần nữa khi Chân ngã lặp lại thao tác ấy và phóng chiếu một mảnh cực nhỏ mà chúng ta gọi là phàm ngã vào các thể trí, cảm xúc và hồng trần của con người.
The last tiny fragment is the point of consciousness, which those who are clairvoyant can see moving about within man. According to one system of symbology it is seen as a “golden man the size of a thumb,” 9 who dwells in the heart; and to another it is seen as a brilliant star of light. A man may keep this star of consciousness where he will, that is to say, in any one of the seven principal centers of his body. Which of these is most natural to a man depends largely upon his Ray, and I think also upon his race and subrace. Those of us who belong to the fifth subrace of the fifth root race nearly always keep that consciousness in the brain, in the center dependent upon the pituitary body. There are, however, men of other races to whom it comes more natural to keep it habitually in the heart, the throat, or the solar plexus.
Mảnh nhỏ bé cuối cùng này là điểm tâm thức, mà những người thông nhãn có thể thấy đang di chuyển bên trong con người. Theo một hệ thống biểu tượng học, nó được thấy như một “người vàng có kích thước bằng ngón tay cái,” 9 cư ngụ trong tim; và theo một hệ thống khác, nó được thấy như một ngôi sao ánh sáng rực rỡ. Một người có thể giữ ngôi sao tâm thức này ở nơi nào y muốn, nghĩa là ở bất kỳ một trong bảy trung tâm chính của thể y. Trung tâm nào là tự nhiên nhất đối với một người phụ thuộc phần lớn vào cung của y, và tôi nghĩ cũng phụ thuộc vào nhân loại và giống dân phụ của y. Những người trong chúng ta thuộc giống dân phụ thứ năm của Giống dân gốc thứ năm hầu như luôn giữ tâm thức ấy trong bộ não, ở trung tâm phụ thuộc vào tuyến yên. Tuy nhiên, có những người thuộc các nhân loại khác mà đối với họ, việc thường xuyên giữ nó trong tim, cổ họng hay tùng thái dương lại tự nhiên hơn.
The Personality – Phàm Ngã
This star of consciousness is the representative of the soul in these lower planes, and as it manifests through those vehicles we call it the personality; this is the man as he is known to his friends down here.
Ngôi sao tâm thức này là đại diện của linh hồn trong các cõi thấp này, và khi nó biểu lộ qua các hiện thể ấy, chúng ta gọi nó là phàm ngã; đây là con người như y được bạn bè của mình biết đến dưới này.
But though the personality is absolutely part of the Ego or soul—though the only life and power in it are those of the Ego—it nevertheless often forgets this fact and, coming to regard itself as an entirely separate entity, works down here for its own ends. It has always a line of communication with the Ego (sometimes referred to as the antahkarana ), but it usually makes no effort to use it. In the case of those who have never studied these matters, the personality is, to all intents and purposes, the man, and the Ego manifests itself only very rarely and partially.
Nhưng mặc dù phàm ngã tuyệt đối là một phần của Chân ngã hay linh hồn — mặc dù sự sống và quyền năng duy nhất trong nó là sự sống và quyền năng của Chân ngã — tuy nhiên, nó thường quên sự kiện này và, đi đến chỗ xem mình như một thực thể hoàn toàn riêng biệt, làm việc dưới này vì các mục đích riêng của nó. Nó luôn có một đường liên lạc với Chân ngã, đôi khi được gọi là antahkarana, nhưng thường không nỗ lực sử dụng đường ấy. Trong trường hợp những người chưa bao giờ nghiên cứu các vấn đề này, phàm ngã, xét theo mọi ý nghĩa thực tế, chính là con người, và Chân ngã chỉ biểu lộ rất hiếm hoi và từng phần.
Man’s evolution in its earlier stages consists in the opening up of his line of communication, so that the Ego may be increasingly able to assert itself through it, and finally entirely to dominate the personality, so that it may have no separate thought or will, but merely (as it should be) an expression of the Ego on these lower planes. It must, of course, be understood that the Ego, belonging as it does to an altogether higher plane, can never fully express itself down here; the most we can hope for is that the personality will contain nothing which is not intended by the Ego—that it will express as much of it as can be expressed in this lower world.
Sự tiến hoá của con người trong các giai đoạn đầu gồm việc mở ra đường liên lạc của y, để Chân ngã ngày càng có thể khẳng định chính nó qua đường ấy, và cuối cùng hoàn toàn chế ngự phàm ngã, để phàm ngã không còn tư tưởng hay ý chí riêng biệt, mà chỉ đơn thuần, như nó phải là, một biểu hiện của Chân ngã trên các cõi thấp này. Dĩ nhiên, cần thấu hiểu rằng Chân ngã, vì thuộc về một cõi hoàn toàn cao hơn, không bao giờ có thể biểu lộ trọn vẹn chính nó dưới này; điều nhiều nhất chúng ta có thể hy vọng là phàm ngã sẽ không chứa điều gì không do Chân ngã dự định — rằng nó sẽ biểu hiện nhiều nhất có thể về Chân ngã trong thế giới thấp này.