← Cõi Trung Giới E-V (New)

Qui luật này không có ngoại lệ; dù trong một giới hạn, con người có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian cư trú ở cảnh ấy.

Needless to say this class is millions of times larger than those [47] of which we have spoken, and the character and condition of its members vary within extremely wide limits. Within similarly wide limits may vary also the length of their lives upon the astral plane, for while there are those who pass only a few days or hours there, others remain upon this level for many years and even centuries.

Thành phần này nhiều gấp triệu lần những thành phần được kể ở trên, họ có đặc tính và điều kiện rất khác biệt nhau. Những người có đặc tính tương tự cũng khác nhau về thời gian mà họ đã trải qua ở trung giới, có người chỉ mới qua đây vài ngày hay vài giờ, có người đã ở đây nhiều năm hay nhiều thế kỷ.

A man who has led a good and pure life, whose strongest feelings and aspirations have been unselfish and spiritual, will have no attraction to this plane, and will, if entirely left alone, find little to keep him upon it, or to awaken him into activity even during the comparatively short period of his stay. For it must be understood that after death the true man is withdrawing into himself, and just as at the first step of that process he casts off the physical body, and almost directly afterwards the etheric double, so it is intended that he should as soon as possible cast off also the astral or desire body, and pass into the heaven-world, where alone his spiritual aspirations can bear their perfect fruit.

Một người đã sống đời tốt lành, trong sạch, không ích kỷ, và có khát vọng tâm linh cao cả, sẽ không bị thu hút vào cõi này. Nếu được hoàn toàn tự do, họ không có gì để quyến luyến nơi đây, hay cần hoạt động trong thời gian tương đối ngắn tạm thời ở cõi này. Sau khi chết, con người thật rút đi, bước đầu tiên là thoát ra khỏi thể xác, và hầu như ngay sau đó ra khỏi thể phách. Linh hồn ấy cũng có ý định rời bỏ luôn thể cảm dục, hay thể cảm dục, càng sớm càng tốt để vào cõi trời chân phúc, vì chỉ nơi đây, những nguyện vọng tâm linh mới có thể đơm bông kết trái.

The noble and pure-minded man will be able to do this, for he has subdued all earthly passions during life; the force of his will has been directed into higher channels, and there is therefore but [48] little energy of lower desire to be worked out on the astral plane. His stay there will consequently be short, and most probably he will have little more than a dreamy half-consciousness of existence until he sinks into the sleep during which his higher principles finally free themselves from the astral envelope and enter upon the blissful life of the heaven-world.

Chỉ người có tinh thần cao thượng và trong sạch mới có thể làm được điều này, vì họ đã chinh phục mọi đam mê thế tục; sức mạnh của ý chí họ hướng về con đường cao cả hơn, và như thế sẽ không còn nhiều năng lực dành cho ham muốn thấp kém cần phải tinh luyện ở cõi trung giới. Do đó thời gian họ phải sống ở cõi này rất ngắn ngủi, và thường thì họ chỉ có phân nửa ý thức như trong giấc mơ cho đến khi chìm vào giấc ngủ say, khi ấy các “nguyên lý” [22] cao của họ sẽ tự giải thoát ra khỏi lớp áo trung giới, và vào đời sống chân phúc cõi thượng giới.

For the person who has not as yet entered upon the path of occult development, what has been described is the ideal state of affairs, but naturally it not attained by all, or even by the majority. The average man has by no means freed himself from all lower desires before death, and it takes a long period of more or less fully conscious life on the various subdivisions of the astral plane to allow the forces which he has generated to work themselves out, and thus release the ego.

Đối với người chưa bước vào đường phát triển tâm linh thì những gì mô tả ở đoạn trên chỉ là lý tưởng, rất ít người đạt được. Người trung bình không thể nào thoát khỏi hết mọi ham muốn thấp kém trước khi chết, họ cần phải trải qua một thời gian dài ở những cảnh khác nhau của cõi trung giới, có thể thức tỉnh nhiều hay ít, và chờ cho các lực mà họ đã phát ra dần dần tiêu tan để chân ngã được giải thoát.

Every one after death has to pass through all the subdivisions of the astral plane on his way to the heaven­world, though it must not be inferred that he will be conscious upon all of them. Precisely as it is necessary that the physical body should contain within its constitution physical matter in all its conditions, solid, liquid, gaseous, and etheric, [49] so it is indispensable that the astral vehicle should contain particles belonging to all the corresponding subdivisions of astral matter, though the proportions may vary greatly in different cases.

Sau khi chết, mọi người đều phải trải qua tất cả các cảnh của cõi trung giới, trên đường đến cõi thượng giới, nhưng không nhất thiết là họ ý thức tất cả các cảnh ấy. Thể xác được cấu tạo bằng chất liệu cõi trần với mọi trạng thái: đặc, lỏng, hơi và dĩ thái; giống như thế, thể cảm dục cũng chứa những chất liệu thuộc mọi cảnh cõi trung giới, mặc dù tỷ lệ giữa các chất liệu ấy thay đổi rất lớn tùy theo từng trường hợp.

It must be remembered that along with the matter of his astral body a man picks up the corresponding elemental essence, and that during his life this essence is segregated from the ocean of similar matter around, and practically becomes for that time what may be described as a kind of artificial elemental. This has temporarily a definite separate existence of its own, and follows the course of its own evolution downwards into matter without any reference to (or indeed any knowledge of) the convenience or interest of the ego to whom it happens to be attached—thus causing that perpetual struggle between the will of the flesh and the will of the spirit to which religious writers so often refer.

Ta nên nhớ, ngoài chất liệu thuộc mọi cảnh cõi trung giới, thể cảm dục còn thu hút các tinh hoa chất (elemental essence) tương ứng; trong suốt đời sống của thể cảm dục, tinh hoa chất này tách rời khỏi biển cả tinh hoa chất tương tự ở chung quanh, và trong thời gian ấy nó trở thành một loài tinh linh nhân tạo (artificial elemental). Tạm thời nó có đời sống riêng, và theo đuổi dòng tiến hóa hướng hạ, tức đi sâu vào vật chất, mà không để ý gì đến sự thuận tiện và lợi ích của linh hồn. Điều này tạo nên sự tranh chấp liên tục giữa ý muốn của thể xác và ý muốn của tinh thần, mà các tôn giáo thường đề cập đến.

Yet though it is “a law of the members warring against the law of the mind”, though if the man obeys it instead of controlling it his evolution will be seriously hindered, it must not be thought of as in any way evil in itself, for it is still a Law—still an outpouring of the Divine Power going [50] on its orderly course, though that course in this instance happens to be downwards into matter instead of upwards and away from it, as ours is.

Dù “luật của những thành viên thường đối nghịch với luật của trí tuệ,” [23] nếu con người tuân theo thay vì kiểm soát nó, sự tiến hóa của họ sẽ bị cản trở nghiêm trọng. Thật ra chính nó không xấu, vì luật là luật! đó chỉ là sự tuôn tràn của năng lực thiêng liêng theo trật tự ấn định, gặp lúc năng lực này trên đường đi xuống tiến sâu vào vật chất, thay vì đi lên rời khỏi vật chất như trong giai đoạn con người.

When the man passes away at death from the physical plane the disintegrating forces of Nature begin to operate upon his astral body, and this elemental thus finds his existence as a separate entity endangered. He sets to work therefore to defend himself, and to hold the astral body together as long as possible; and his method of doing this is to rearrange the matter of which it is composed in a sort of stratified series of shells, leaving that of the lowest (and therefore coarsest and grossest) sub-plane on the outside, since that will offer the greatest resistance to disintegration.

Khi chết, con người rời khỏi cõi trần, lực phân hủy của thiên nhiên bắt đầu tác động lên thể cảm dục. Khi ấy, loài tinh linh trước đây vẫn bám vào thể cảm dục nhận thấy có nguy cơ đối với đời sống riêng của nó. Để tự vệ, nó cố gắng giữ cho thể cảm dục tồn tại càng lâu càng tốt, bằng cách sắp xếp lại chất liệu cấu tạo nên thể cảm dục thành những lớp vỏ đồng tâm, phần chất liệu của cảnh thấp nhất, tức thô kệch nhất ở ngoài cùng, vì ít bị ảnh hưởng của sự phân hủy nhất.

A man has to stay upon this lowest subdivision until he has disentangled so much as is possible of his true self from the matter of that sub-plane; and when that is done his consciousness is focussed in the next of these concentric shells (that formed of the matter of the sixth subdivision), or to put the same idea in other words, he passes on to the next sub-plane. We might say that when the astral body has exhausted its attractions to one level, the greater part of its grosser particles fall away, and it finds [51] itself in affinity with a somewhat higher state of existence. Its specific gravity, as it were, is constantly decreasing, and so it steadily rises from the denser to the lighter strata, pausing only when it is exactly balanced for a time.

Sau khi chết, con người phải ở cảnh thấp nhất của cõi trung giới, cho đến khi họ trút bỏ hết các chất liệu thuộc cảnh ấy ra khỏi thể cảm dục. Kế đó tâm thức họ tập trung vào lớp vỏ kế tiếp, lớp vỏ này do chất liệu của cảnh thứ sáu; nói khác đi, họ chuyển sang cảnh kế tiếp, tức cảnh thứ sáu cõi trung giới. Ta có thể nói, khi thể cảm dục không còn bị thu hút bởi một cảnh nào, thì phần lớn chất liệu thô kệch của cảnh ấy bị rơi ra, và thể cảm dục có hấp lực với trạng thái sống cao hơn. Trọng lực của nó giảm dần, và nó được liên tục nâng lên từ tầng lớp đậm đặc đến tầng lớp thanh nhẹ hơn, chỉ ngưng nghỉ trong một lúc khi có sự quân bình.

This is evidently the explanation of a remark frequently made by the departed who appear at séances to the effect that they are about to rise to a higher sphere, from which it will be impossible, or not so easy, to communicate through a medium; and it is as a matter of fact true that a person upon the highest subdivision of this plane would find it almost impossible to deal with any ordinary medium.

Sự kiện này giải thích lời các vong linh thường nói trong các buổi cầu hồn rằng họ sắp lên một vùng cao hơn, từ nơi đó họ không thể, hoặc rất khó liên lạc qua đồng cốt. Thật vậy, một người ở cảnh cao nhất của cõi trung giới, hầu như không thể nào liên hệ được với người đồng cốt bình thường.

Thus we see that the length of a man’s detention upon any level of the astral plane will be precisely in proportion to the amount of its matter which is found in his astral body, and that in turn depends upon the life he has lived, the desires he has indulged, and the class of matter which by so doing he has attracted towards him and built into himself. It is, therefore, possible for a man, by pure living and high thinking, to minimize the quantity of matter belonging to the lower astral levels which he attaches to himself, and to raise it in each case [52] to what may be called its critical point, so that the first touch of disintegrating force should shatter its cohesion and resolve it into its original condition, leaving him free at once to pass on to the next sub-plane.

Ta biết rằng thời gian con người phải ở một cảnh nào của cõi trung giới tùy thuộc vào số lượng chất liệu của cảnh đó trong thể cảm dục, và số lượng chất liệu này được thu hút vào cơ cấu của thể cảm dục do lối sống và những ham muốn của họ khi còn ở cõi trần. Như thế, một người có đời sống trong sạch và tư tưởng thanh cao, sẽ làm giảm chất liệu thuộc những cảnh thấp của cõi trung giới trong thể cảm dục họ, nâng thể cảm dục lên mức độ gọi là “điểm tới hạn”, để khi lực phân hủy vừa bắt đầu tác động sẽ làm tan rã ngay sự kết dính của chất liệu thô kệch, và trả nó về tình trạng nguyên thủy, khi đó con người tức khắc được giải thoát và bước qua cảnh cao hơn.

In the case of a thoroughly spiritually-minded person this condition has been attained with reference to all the subdivisions of astral matter, and the result is a practically instantaneous passage through that plane, so that he recovers consciousness for the first time in the heaven-world. As was explained before, we never think of the sub-planes as being divided from one another in space, but rather as interpenetrating one another; so that when we say that a person passes from one subdivision to another, we do not necessarily mean that he moves in space at all, but that the focus of his consciousness shifts from the outer shell to that next within it.

Đối với người có đời sống hoàn toàn tinh thần, sự kiện nâng cao này có thể đạt được ở tất cả mọi cảnh của cõi trung giới; khi rời bỏ xác thân, họ lập tức đi xuyên qua khỏi cõi này và tâm thức họ thức tỉnh trở lại ở cõi thượng giới. Như đã được giải thích, không có sự phân chia giữa cảnh này với cảnh kia trên phương diện không gian, mà những cảnh xuyên thấu vào nhau. Như thế, khi ta nói một người đi từ cảnh này qua cảnh kia, không có nghĩa là họ di chuyển trong không gian, mà là sự tập trung tâm thức chuyển từ lớp vỏ bên ngoài vào bên trong.

The only persons who normally awake to consciousness on the lowest level of the astral plane are those whose desires are gross and brutal—drunkards, sensualists, and such like. There they remain for a period proportioned to the strength of their desires, often suffering terribly from the fact [53] that while these earthly lusts are still as strong as ever, they now find it impossible to gratify them, except occasionally in a vicarious manner when they are able to seize upon some like-minded person, and obsess him.

Chỉ những người có dục vọng thấp hèn và thú tính thô bạo, những kẻ nghiện ngập, trác táng… mới thức tỉnh ở cảnh thấp nhất cõi trung giới. Họ phải ở đây lâu hay mau tùy theo sức mạnh của dục vọng, họ thường rất đau khổ vì sức mạnh dục vọng vẫn còn mà không có cách gì để thỏa mãn, vì không còn xác thân, trừ khi họ ám ảnh được một người có bản chất tương tự và thỏa mãn một cách gián tiếp qua người đó.

The ordinarily decent man has little to detain him on that seventh sub-plane; but if his chief desires and thoughts had centred in more worldly affairs, he is likely to find himself in the sixth subdivision, still hovering about the places and persons with which he was most closely connected while on earth. The fifth and the fourth sub-planes are of similar character, except that as we rise through them mere earthly associations appear to become of less and less importance, and the departed tends more and more to mould his surroundings into agreements with the more persistent of his thoughts.

Đối với một người bình thường, không có gì để giữ họ lại ở cảnh thứ bảy cả. Tuy nhiên, nếu ham muốn và tư tưởng của họ tập trung vào những công việc trần gian, họ thường được ở vào cảnh thứ sáu, và quanh quẩn những nơi và những người mà họ có liên hệ gần gũi ở cõi trần. Cảnh thứ năm và thứ tư có đặc tính tương tự nhau, ngoại trừ khi nâng cao từ cảnh tứ năm lên cảnh thứ tư, sự liên hệ với cõi trần trở nên càng ít đi, và người quá cố tiến dần vào thế giới của tư tưởng.

By the time we reach the third subdivision we find that this characteristic has entirely superseded the vision of the realities of the plane; for here the people are living in imaginary cities of their own—not each evolved entirely by his own thought, as in the heaven-world, but inheriting and adding to the structures erected by the thoughts of their predecessors. Here it is that the churches and [54] schools and “dwellings in the summerland,” so often described at spiritualistic séances, are to be found; though they often seem much less real and much less magnificent to an unprejudiced living observer than they are to their delighted creators.

Cảnh thứ ba có đặc tính khác hẳn, con người sống trong những đô thị tưởng tượng của riêng họ. Khác với cõi thượng giới, mỗi đô thị này không được hoàn toàn tạo ra do tư tưởng của riêng họ, mà họ chỉ thừa hưởng và thêm thắt vào các cấu trúc được tạo nên bởi tư tưởng của những người đi trước. Nơi đây có nhà thờ, trường học và nơi cư trú của những người tin tưởng vào “thế giới trường hạ”, thường được mô tả trong các buổi cầu hồn. Tuy nhiên, đối với một quan sát viên không thành kiến, cảnh tượng này ít thực và ít huy hoàng hơn đối với những cư dân đã tạo ra nó.

The second sub-plane seems especially the habitat of the selfish or unspiritual religionist; here he wears his golden crown and worships his own grossly material representation of the particular deity of his country and time. The highest subdivision appears to be specially appropriate to those who during life have devoted themselves to materialistic but intellectual pursuits, following them not for the sake of benefiting their fellowmen thereby, as from motives of selfish ambition or for the sake of intellectual exercise. Such persons will often remain upon this level for many long years—happy enough indeed in working out their intellectual problems, but doing no good to anyone, and making but little progress on their way towards the heaven-world.

Cảnh thứ hai hình như đặc biệt dành cho những người có niềm tin cứng nhắc vào tôn giáo, mà không sống đời tâm linh, và tính tình còn ích kỷ. Nơi đây họ đội vương miện bằng vàng và tôn thờ hình tượng vật chất đại diện cho vị thần linh đặc biệt của xứ sở trong giai đoạn họ sống. Cảnh cao nhất hình như đặc biệt thích hợp với những nhà trí thức, khi còn sống ở cõi trần, họ hiến mình cho việc nghiên cứu về vật chất; tuy nhiên, ý tưởng của họ không hoàn toàn vì lợi ích cho nhân loại, mà thường do tham vọng cá nhân hoặc chỉ vì muốn cho trí não hoạt động. Người như thế thường ở lại cảnh này nhiều năm, họ thật sự vui thú với những vấn đề cần giải quyết bằng trí não, nhưng không làm gì có ích lợi cho người khác; họ tiến rất chậm trên đường lên cõi trời chân phúc.

It must be clearly understood, as before explained, that the idea of space is not in any way to be associated with these sub-planes. A departed entity functioning upon any one of them might drift [55] with equal ease from England to Australia, or wherever a passing thought might take him; but he would not be able to transfer his consciousness from that sub-plane to the next above it until the process of detachment described had been completed.

Như đã được trình bày, ý tưởng về không gian hoàn toàn không áp dụng được ở những cảnh của cõi trung giới. Một người đang sống với thể cảm dục ở Anh Quốc có thể di chuyển dễ dàng, nhanh chóng đến Úc Châu hoặc bất cứ nơi nào họ nghĩ đến. Tuy nhiên tâm thức họ không thể chuyển từ cảnh thấp lên cảnh cao hơn, trước khi những chất liệu thuộc cảnh thấp bị loại hết ra khỏi thể cảm dục.

To this rule there is no kind of exception, so far as we are yet aware, although naturally a man’s actions when he finds himself conscious upon any sub-plane may within certain limits either shorten or prolong his connection with it.

Qui luật này không có ngoại lệ; dù trong một giới hạn, con người có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian cư trú ở cảnh ấy.

But the amount of consciousness that a person has upon a given sub-plane does not invariably follow precisely the same law. Let us consider an extreme example of possible variation in order that we may grasp its method. Suppose a man who has brought over from his past incarnation tendencies requiring for their manifestation a very large amount of the matter of the seventh or lowest sub-plane, but has in his present life been fortunate enough to learn in his very earliest years the possibility and necessity of controlling these tendencies. It is scarcely probable that such a man’s efforts at control should be entirely and uniformly successful; but if they were, the substitution of finer for grosser [56] particles in his astral body would progress steadily, though slowly.

Nhưng mức độ tâm thức mà một người có trên một cõi phụ nhất định không luôn luôn tuân theo chính xác cùng một quy luật. Hãy xem xét một ví dụ cực đoan về sự biến đổi có thể xảy ra để chúng ta có thể hiểu rõ phương pháp của nó. Giả sử một người mang từ kiếp trước của mình những khuynh hướng đòi hỏi để biểu lộ phải có một lượng lớn vật chất của cõi phụ thứ bảy hoặc cõi phụ thấp nhất, nhưng trong kiếp hiện tại, người đó may mắn được học từ những năm đầu tiên rằng có thể và cần thiết phải kiểm soát những khuynh hướng này. Khó có khả năng là những nỗ lực kiểm soát của người ấy sẽ hoàn toàn và đều đặn thành công; nhưng nếu điều đó xảy ra, thì việc thay thế các hạt thô hơn bằng các hạt tinh tế hơn [56] trong thể cảm xúc của y sẽ tiến triển một cách đều đặn, dù chậm.

This process is at best gradual, and it might well happen that the man died before it was half completed. In that case there would undoubtedly be enough matter of the lowest sub-plane left in his astral body to ensure him no inconsiderable residence there; but it would be matter through which in this incarnation his consciousness had never been in the habit of functioning, and as it could not suddenly acquire this habit the result would be that the man would rest upon that sub-plane until his share of its matter was disintegrated but would be all the while in a condition of unconsciousness—that is to say, he would practically sleep through the period of his sojourn there, and so would be entirely unaffected by its many disagreeables.

Tiến trình thay thế thường xảy ra chậm chạp, và rất có thể người ấy chết khi việc thay thế mới được nửa chừng. Trong trường hợp này, chất liệu thô kệch của cảnh thứ bảy vẫn còn nhiều trong thể cảm dục, đủ để giữ người ấy ở cảnh thấp nhất cõi trung giới. Tuy trong kiếp sống vừa qua, dù không còn thói quen theo đuổi những ham muốn thấp hèn, người ấy vẫn phải lưu lại cảnh thấp nhất này chờ cho chất liệu thô kệch tan rã hết. Trong thời gian lưu lại ở cảnh thứ bảy, người ấy hoàn toàn không tỉnh thức, như ngủ một giấc dài, và không bị ảnh hưởng khó chịu của cảnh thấp này.

The student of occultism, however, may make of his astral life something quite different from all this. The ordinary man, on awaking from the moment of unconsciousness which always seems to occur at death, finds himself in certain conditions which the desire-elemental has created for him by his rearrangement of the matter of the astral body. [57] He can receive vibrations from without only through that type of matter which the elemental has left on the outside, and consequently his vision is limited to that particular sub-plane. The man accepts this limitation as part of the conditions of his new life; indeed he is quite unconscious that there is any limitation, and he supposes that what he sees is all that there is to see, since he knows nothing of the elemental or of its action.

Tuy nhiên, sinh viên huyền bí học có thể làm cho cuộc sống thể cảm dục của mình trở thành một cái gì đó hoàn toàn khác với tất cả những điều này. Sau khi chết, người bình thường gần như lúc nào cũng bất tỉnh, họ chỉ tỉnh lại ở cảnh thích hợp, do sự sắp xếp chất liệu thể cảm dục bởi những tinh linh dục vọng (desire-elemental). Họ chỉ có thể cảm nhận được những rung động từ bên ngoài phù hợp với loại chất liệu lớp vỏ ngoài cùng của thể cảm dục do tinh linh sắp xếp, và tầm nhìn của họ bị hạn chế trong cảnh ấy. Con người bằng lòng với sự hạn chế như một phần của cuộc sống mới, thật ra họ không ý thức được sự giới hạn, và tưởng là đã thấy được tất cả, vì họ không biết gì về tinh linh và tác động của chúng.

The Theosophical student, however, understands all this, and therefore he knows that the limitation is not necessary. Knowing this he will at once set himself to resist the action of the desire-elemental, and will insist upon retaining his astral body in the same condition as during his earth-life—that is to say, with all its particles intermingled and in free motion. The consequence of this will be that he will be able to receive the vibrations from the matter of every astral sub-plane simultaneously, and so the whole astral world will be fully open to his sight. He will be able to move about in it just as freely as he could during physical sleep, and he can therefore find and communicate with any person in the astral plane, no matter to what [58] subdivision that person may for the moment be confined.

Khi thấu hiểu Minh Triết Thiêng Liêng, học giả biết sự hạn chế ấy không cần thiết. Họ lập tức kháng cự lại hành động của tinh linh dục vọng, và cố giữ thể cảm dục ở nguyên tình trạng như lúc họ còn sống ở cõi trần, tức những phần tử chất liệu thể cảm dục hòa lẫn nhau và di động tự do. Kết quả là họ có thể cảm nhận đồng loạt rung động từ những chất liệu thuộc mọi cảnh cõi trung giới, và toàn thể cõi trung giới mở rộng trước mắt họ. Họ có thể tự do di chuyển qua mọi cảnh cõi trung giới, như trong lúc còn sống họ đã làm khi xác thân ngủ say, và họ có thể tìm gặp bất cứ ai, ở bất cứ cảnh nào của cõi trung giới.

The effort to resist the rearrangement, and restore the astral body to its former condition, is precisely similar to that which has to be made in resisting a strong desire during physical life. The elemental is afraid in his curious semi-conscious way, and he endeavours to transfer his fear to the man; so that the latter constantly finds a strong instinct creeping over him of some indescribable danger which can only be avoided by permitting the rearrangement. If, however, he steadily resists this unreasoning sense of dread by the calm assertion of his own knowledge that there is no cause for fear, he wears out in time the resistance of the elemental, just as he has resisted the prompting of desire many a time during his earthly life. Thus he becomes a living power during his astral life, able to carry on the work of helping others as he used to do during his hours of sleep.

Cách thức chống với sự sắp xếp lại và duy trì thể cảm dục nguyên tình trạng như trước khi chết, tương tự như sự cố gắng chống lại một ham muốn mạnh mẽ lúc còn sống. Sau khi thể xác chết, với tâm thức mơ màng, tinh linh rất sợ không còn chỗ nương tựa, nó cố truyền sự sợ hãi đó cho con người, làm cho người ấy luôn cảm thấy bất an về một hiểm nguy khó tả, mà họ chỉ có thể tránh được nếu để yên cho thể cảm dục được sắp xếp lại. Nếu họ vẫn cương quyết chống lại cảm giác sợ hãi vô lý ấy bằng cách sử dụng trí tuệ, và bình tĩnh khẳng định rằng không có lý do gì phải sợ, thì họ sẽ làm yếu dần sự đối kháng của tinh linh, giống như họ đã nhiều lần chống lại những ham muốn lúc còn sống. Được vậy, họ trở thành một năng lực sinh động trong suốt đời sống cõi trung giới, họ có thể thực hành công việc cứu trợ kẻ khác như họ thường làm khi tại thế, trong lúc ngủ.

It may be said in passing that communication is limited on the astral plane by the knowledge of the entity, just as it is here. While a pupil able to use his mind-body can communicate his thoughts to the human entities there present more readily and [59] rapidly than on earth, by means of mental impressions, the inhabitants of the plane are not usually able to exercise this power, but appear to be restricted by limitations similar to those that prevail on earth, though perhaps less rigid. The result of this is that they are found associating there as here, in groups drawn together by common sympathies, belief, and language.

Cũng như ở cõi trần, do thiếu kiến thức, sự giao tiếp giữa những cư dân cõi trung giới thường bị hạn chế. Trong khi những đệ tử sử dụng được năng lực thể trí, có thể giao tiếp bằng tư tưởng một cách nhanh chóng với những cư dân ở đó, bằng cách gây ấn tượng lên trí não họ. Cư dân cõi trung giới thường không thể sử dụng được năng lực tư tưởng này, do đó họ bị giới hạn như ở cõi trần, nhưng ít khắt khe hơn. Kết quả là ta thấy những hội đoàn được thành lập rải rác đó đây, nhiều nhóm người tụ hợp nhau do đồng sở thích, cảm nghĩ, tư tưởng và cùng ngôn ngữ.

The poetic idea of death as a universal leveller is a mere absurdity born of ignorance, for, as a matter of fact, in the vast majority of cases the loss of the physical body makes no difference whatever in the character or intellect of the person, and there are therefore as many different varieties of intelligence among those whom we usually call the dead as among the living.

Vì thiếu hiểu biết mà trong thi thơ có ý tưởng cho rằng sau khi chết mọi người đều như nhau. Thật ra trong hầu hết mọi trường hợp sau khi rời bỏ xác thân, tính tình và trí tuệ con người không thay đổi, do đó có nhiều cấp bậc trí tuệ khác nhau trong số những người mà ta gọi là đã chết, cũng như những người còn sống.

The popular religious teaching of the West as to man’s post-mortem adventures has long been so wildly inaccurate that even intelligent people are often terribly puzzled when they recover consciousness in the astral world after death. The condition in which the new arrival finds himself differs so radically from what he has been led to expect that it is no uncommon case for him to refuse at first to believe that he has passed through the portals of [60] death at all; indeed, of so little practical value is our much-vaunted belief in the immortality of the soul that most people consider the very fact that they are still conscious an absolute proof that they have not died.

Các tín ngưỡng bình dân ở Tây phương thường kể một cách rất sai lạc rằng: một người dù thông minh đến đâu, sau khi chết và tỉnh lại ở cõi trung giới, cũng thường cảm thấy mình lú lẫn. Thực sự, người mới rời bỏ xác thân lên cõi trung giới, cảm thấy tình trạng của họ khác xa với những gì mà tín ngưỡng bình dân đã dạy, làm cho họ không tin là mình đã bước qua cửa tử. Hơn nữa, vì tin tưởng vào sự bất tử của linh hồn, nên khi cảm thấy mình vẫn còn ý thức, con người cho đó là bằng chứng rõ rằng họ chưa chết.

The horrible doctrine of eternal punishment, too, is responsible for a vast amount of most pitiable and entirely groundless terror among those newly arrived in this higher life. In many cases they spend long periods of acute mental suffering before they can free themselves from the fatal influence of that hideous blasphemy, and realize that the world is governed not according to the caprice of some demon who gloats over human anguish, but according to a benevolent and wonderfully patient law of evolution. Many members of the class we are considering do not really attain an intelligent appreciation of this fact of evolution at all, but drift through their astral interlude in the same aimless manner in which they have spent the physical portion of their lives. Thus after death, exactly as before it, there are the few who comprehend something of their position and know how to make the best of it, and the many who have not yet acquired that knowledge; and then, just as now, the ignorant are [61] rarely ready to profit by the advice or example of the wise.

Giáo lý khủng khiếp về sự trừng phạt vĩnh cửu cũng chịu trách nhiệm cho một nỗi sợ hãi đáng thương và hoàn toàn vô căn cứ ở những người mới bước vào đời sống cao hơn này. Trong nhiều trường hợp, họ phải trải qua những khoảng thời gian dài chịu đựng nỗi đau tinh thần gay gắt trước khi có thể giải thoát khỏi ảnh hưởng tai hại của sự báng bổ ghê tởm đó và nhận ra rằng thế giới được điều hành không phải theo ý thích thất thường của một ác quỷ thích thú trước sự thống khổ của con người, mà là theo một định luật tiến hóa nhân từ và vô cùng kiên nhẫn. Nhiều thành viên thuộc nhóm mà chúng ta đang xem xét không thực sự đạt được một sự thấu hiểu có trí tuệ về thực tế tiến hóa này, mà trôi dạt qua giai đoạn trung gian cảm dục của họ theo cách vô định hướng như cách họ đã trải qua phần đời vật lý của mình. Như vậy, sau khi chết cũng giống hệt như trước khi chết, có một số ít người hiểu được vị trí của họ và biết cách tận dụng tối đa nó, và số đông không đạt được sự thấu hiểu đó; và sau khi chết, cũng như lúc sống, những người thiếu hiểu biết hiếm khi sẵn sàng học hỏi từ lời khuyên hoặc tấm gương của người khôn ngoan.

But of whatever grade the entity’s intellect may be, it is always a fluctuating and on the whole a gradually diminishing quantity, for the lower mind of the man is being drawn in opposite directions by the higher spiritual nature which acts on it from above its level and the strong desire-forces which operate from below; and therefore it oscillates between the two attractions, with an ever­increasing tendency towards the former as the forces of lower desire wear themselves out.

Nhưng bất kể cấp độ trí tuệ của thực thể là gì, nó luôn là một đại lượng dao động và nhìn chung là một lượng giảm dần từ từ, vì hạ trí của con người đang bị lôi kéo theo các hướng đối lập bởi bản chất tinh thần cao hơn tác động từ trên xuống và các mãnh lực ham muốn mạnh mẽ hoạt động từ bên dưới; do đó, nó dao động giữa hai lực hấp dẫn, với một khuynh hướng ngày càng tăng về phía lực hấp dẫn của bản chất cao hơn khi các mãnh lực ham muốn thấp dần suy yếu.

Here comes in one of the objections to the spiritualistic séance. An exceedingly ignorant or degraded man may no doubt learn much by coming into contact after his death with a circle of earnest sitters under the control of some reliable person, and so may be really helped and raised. But in the ordinary man the consciousness is steadily rising from the lower part of the nature towards the higher; and obviously it cannot be helpful to his evolution that this lower part should be reawakened from the natural and desirable unconsciousness into which it is passing, and dragged back into touch with earth in order to communicate through a medium. [62]

Đây là một trong những phản đối đối với buổi cầu hồn. Một người cực kỳ thiếu hiểu biết hoặc đồi bại có thể, không nghi ngờ gì, học hỏi được nhiều bằng cách tiếp xúc sau khi chết với một vòng người ngồi cầu nguyện chân thành dưới sự kiểm soát của một người đáng tin cậy, nhờ đó thực sự được giúp đỡ và nâng đỡ. Nhưng đối với người bình thường, tâm thức đang dần dần nâng lên từ phần bản chất thấp hơn tiến về phía cao hơn; rõ ràng là điều này không thể có lợi cho sự tiến hóa của họ khi phần bản chất thấp hơn này bị đánh thức trở lại từ trạng thái vô thức tự nhiên và mong muốn mà nó đang tiến vào, rồi bị kéo trở lại tiếp xúc với trần thế để thông qua một đồng cốt mà truyền đạt.

The peculiar danger of this will be seen when it is recollected that since the real man is all the while steadily withdrawing into himself, he is as time goes on less and less able to influence or guide this lower portion, which nevertheless, until the separation is complete, has the power to generate karma, and under the circumstances is evidently far more likely to add evil than good to its record.

Nguy cơ đặc biệt của điều này sẽ được thấy rõ khi nhớ rằng, vì con người thật sự đang dần dần rút lui vào bản thân, theo thời gian, y ngày càng ít có khả năng ảnh hưởng hoặc hướng dẫn phần thấp hơn này; phần này, dù sao đi nữa, cho đến khi sự tách biệt hoàn tất, vẫn có khả năng tạo ra nghiệp quả, và trong tình huống đó, rõ ràng là nó có nhiều khả năng thêm vào các nghiệp xấu hơn là nghiệp tốt cho hồ sơ của nó.

Apart altogether from any question of development through a medium, there is another and much more frequently exercised influence which may seriously retard a disembodied entity on his way to the heaven-world, and that is the intense and uncontrolled grief of his surviving friends or relatives. It is one among many melancholy results of the terribly inaccurate and even irreligious view that we in the West have for centuries been taking of death, that we not only cause ourselves an immense amount of wholly unnecessary pain over this temporary parting from our loved ones, but we often also do serious injury to those for whom we bear so deep an affection by means of this very regret which we feel so acutely.

Hoàn toàn không liên quan đến bất kỳ câu hỏi nào về sự phát triển qua trung gian, có một ảnh hưởng khác thường xuyên hơn có thể nghiêm trọng làm chậm trễ một thực thể vô hình trên con đường đến cõi thiên đàng, đó là nỗi buồn mãnh liệt và không kiểm soát được của bạn bè hoặc thân nhân còn sống. Đây là một trong nhiều hệ quả đáng buồn của cái nhìn khủng khiếp thiếu chính xác và thậm chí là thiếu tôn giáo mà chúng ta ở phương Tây đã giữ suốt nhiều thế kỷ về cái chết; không chỉ khiến chúng ta tự tạo ra cho mình một lượng lớn nỗi đau hoàn toàn không cần thiết vì sự chia ly tạm thời với những người thân yêu, mà chúng ta còn thường vô tình gây tổn thương nghiêm trọng cho những người mà chúng ta yêu thương sâu sắc thông qua chính sự tiếc nuối mà chúng ta cảm thấy mãnh liệt đó.

When our departed brother is sinking peacefully and naturally into the unconsciousness which [63] precedes his awakening amid the glories of the heaven-world, he is too frequently aroused from his dreamy happiness into vivid remembrance of the earth-life which he has lately left, solely by the action of the passionate sorrows and desires of his friends on earth, which awaken corresponding vibrations in his own desire-body, and so cause him acute discomfort.

Khi người thân chúng ta từ giã cõi trần, chìm dần một cách tự nhiên và bình an vào vô thức, trước khi tỉnh lại ở cõi trời chân phúc huy hoàng, thì người ấy thường bị đánh thức khỏi giấc mộng êm đềm bởi những kỷ niệm sống động trong cuộc đời thế gian, do tác động của sự đau buồn luyến tiếc từ những người thân còn ở cõi trần. Sự đau buồn này khơi dậy những rung động tương ứng trong thể tình cảm của người quá cố, làm cho người ấy cũng cảm thấy rất đau khổ.

It would be well if those whose comrades have passed on before them would learn from these undoubted facts the duty of restraining for the sake of those friends a grief which, however natural it may be, is yet in its essence selfish. Not that occult teaching counsels forgetfulness of the dead—far from it; but it does suggest that a man’s affectionate remembrance of his departed friend is a force which, if properly directed into the channel of earnest good wishes for his progress towards the heaven-world and his quiet passage through the intermediate state, might be of real value to him, whereas when wasted in mourning for him and longing to have him back again it is not only useless but harmful. It is with a true instinct that the Hindu religion prescribes its Shraddha ceremonies and the Catholic Church its prayers for the dead. [64]

Những ai có bạn bè đã ra đi, cần hiểu biết các điều trên vì lợi ích của người quá cố. Bổn phận người ở lại là tự kiềm chế sự bi thương, dù đó là tình cảm tự nhiên phát xuất từ bên trong, nhưng bản chất vẫn có sự ích kỷ. Những giáo huấn huyền môn này không dạy ta quên hẳn người quá cố, mà nó chỉ gợi ý rằng lòng thương nhớ đối với người thân đã ra đi là một sức mạnh, nếu được hướng đi đúng đường sẽ là năng lực chúc lành, đưa người quá cố bình an vượt qua trạng thái trung gian ở cõi trung giới, và mau đến cõi trời chân phúc. Được vậy sẽ hữu ích cho người đã ra đi, sự phí sức thương tiếc và mong ước người thân trở lại, không những vô ích mà còn có hại. Do khuynh hướng đúng đắn, tự nhiên, mà Ấn Độ Giáo tổ chức lễ Shraddha, và các nhà thờ Thiên Chúa Giáo tổ chức lễ cầu nguyện cho người chết.

It sometimes happens, however, that the desire for communication is from the other side, and that the dead man has something which he specially desires to say to those whom he has left behind. Occasionally this message is an important one, such as, for example, an indication of the place where a missing will is concealed; but more often it seems to us quite trivial. Still, whatever it may be, if it is firmly impressed upon the mind of the dead person, it is undoubtedly desirable that he should be enabled to deliver it, as otherwise the anxiety to do so would perpetually draw his consciousness back into the earth-life, and prevent him from passing to higher spheres. In such a case a psychic who can understand him, or a medium through whom he can write or speak, is of real service to him.

Tuy nhiên, đôi khi xảy ra trường hợp mong muốn giao tiếp đến từ phía bên kia, và người đã khuất có điều gì đó mà họ đặc biệt muốn nói với những người mà họ đã để lại phía sau. Đôi khi thông điệp này là một điều quan trọng, chẳng hạn như chỉ dẫn nơi giấu một di chúc bị mất; nhưng thường thì nó dường như khá tầm thường đối với chúng ta. Tuy nhiên, dù nó có thể là gì, nếu điều đó đã được khắc sâu trong tâm trí của người đã khuất, thì chắc chắn điều mong muốn là họ có thể truyền đạt nó, bởi nếu không, mong muốn này sẽ liên tục kéo tâm thức của họ trở lại cuộc sống trần gian và ngăn cản họ tiến đến những cảnh giới cao hơn. Trong trường hợp như vậy, một nhà tâm linh có thể hiểu họ, hoặc một trung gian thông qua đó họ có thể viết hoặc nói, sẽ thực sự giúp ích cho họ.

Why cannot he write or speak without a medium? it may be asked. The reason is that one state of matter can ordinarily act only upon the state next below it, and, as he has now no denser matter in his organism than that of which the astral body is composed, he finds it impossible to set up vibrations in the physical substance of the air or to move the physical pencil without borrowing living matter of the intermediate order contained in the etheric [65] double, by means of which an impulse can readily be transferred from the one plane to the other. He is unable to borrow this material from an ordinary person, because such a man’s principles would be too closely linked together to be separated by any means likely to be at his command, but the very essence of mediumship is the ready separability of the principles, so from a medium he can draw without difficulty the matter he needs for his manifestation, whatever it may be.

Tại sao vong linh không thể nói hay viết nếu không có đồng cốt làm trung gian? Lý do là khi người chết đang ở một cảnh nào đó của cõi trung giới, thường chỉ có thể tác động lên cảnh thấp hơn kế đó. Thể cảm dục đã loại bỏ hết chất liệu thô kệch thuộc các cảnh thấp hơn, nên họ không thể tạo ra rung động trong vật chất cõi trần để truyền ra không khí thành tiếng nói, và cũng không thể di động được cây viết chì nếu không mượn chất liệu trung gian từ thể phách người đồng; đây là phương cách truyền rung động từ cảnh này qua cảnh kia. Người chết không thể mượn chất liệu từ một người bình thường, vì các thể của người bình thường liên kết nhau rất chặt chẽ, không thể tách rời do ý muốn của người chết. Trái lại ở người đồng, các thể tách rời ra dễ dàng, và người chết có thể mượn chất liệu họ cần dùng từ người đồng để biểu lộ ở cõi trần.

When he cannot find a medium or does not understand how to use one he sometimes makes clumsy and blundering endeavours to communicate on his own account, and by the strength of his will he sets elemental forces blindly working, perhaps producing such apparently aimless manifestations as stone-throwing, bell-ringing, etc. It consequently frequently happens that a psychic or medium going to a house where such manifestations are taking place may be able to discover what the entity who produces them is attempting to say or do, and may thus put an end to the disturbance. This would not, however, invariably be the case, as these elemental forces are occasionally set in motion by entirely different causes. [66]

Nếu người chết không thể tìm được người đồng, hay không biết cách sử dụng đồng cốt, đôi khi họ tự cố gắng một cách vụng về và sai lầm để liên lạc với người sống. Với sức mạnh của ý muốn, họ tạo ra năng lực khiến cho các tinh linh tác động một cách mù quáng, khi ấy có thể xảy ra những hiện tượng ngoài ý muốn như ném đá, rung chuông v.v… Thường khi một người có khả năng thông linh hay một người đồng đến nơi đang bị những hiện tượng kể trên phá quấy, dễ khám phá được ý muốn của người chết, và có thể làm chấm dứt sự quấy rầy. Tuy nhiên, các hiện tượng kể trên có thể do những nguyên nhân khác, vì các tinh linh tác động theo những động lực khác nhau.

4. The Shade - U Hồn

When the separation of the principles is complete, the astral life of the person is over, and, as before stated, he passes into the mental condition. But just as when he dies to this plane he leaves his physical body behind him, so when he dies to the astral plane he leaves a disintegrating astral body behind him. If he has purged himself from all earthly desires during life, and directed all his energies into the channels of unselfish spiritual aspiration, the higher ego will be able to draw back into itself the whole of the lower mind which he put forth into incarnation; in that case the body left behind on the astral plane will be a mere corpse like the abandoned physical body, and it will then come not into this class but into the next.

Khi sự phân tách các nguyên lý hoàn tất, đời sống cảm dục của người đó kết thúc, và như đã nói trước đó, y chuyển sang tình trạng thuộc cõi trí. Nhưng giống như khi y rời bỏ cõi này, y để lại thể xác của mình, thì khi y rời bỏ cõi cảm dục, y cũng để lại một thể cảm dục đang phân rã phía sau. Nếu trong đời sống, y đã thanh lọc bản thân khỏi mọi ham muốn trần tục và hướng mọi năng lượng của mình vào các kênh khao khát tinh thần vị tha, thì chân ngã sẽ có thể thu hồi toàn bộ hạ trí mà y đã đưa vào nhập thể; trong trường hợp đó, thể xác để lại trên cõi cảm dục sẽ chỉ là một xác chết như thể xác bị bỏ rơi, và do đó nó sẽ không thuộc vào loại này mà thuộc vào loại tiếp theo.

Even in the case of a man of somewhat less perfect life almost the same result may be attained if the forces of lower desire are allowed to work themselves out undisturbed in the astral plane. But the majority of mankind make but trifling and perfunctory efforts while on earth to rid themselves of the less elevated impulses of their nature, and consequently doom themselves not only to a greatly prolonged sojourn in the intermediate world, but [67] also to what cannot be described otherwise than as a loss of a portion of the lower mind.

Ngay cả trong trường hợp của một người có cuộc sống không hoàn hảo đến mức đó, gần như cùng kết quả cũng có thể đạt được nếu các mãnh lực của dục vọng thấp được cho phép tự nhiên bộc lộ trên cõi cảm dục mà không bị gián đoạn. Nhưng đa số nhân loại chỉ nỗ lực nhỏ nhặt và qua loa trong khi sống trên trần gian để giải phóng bản thân khỏi những thôi thúc kém cao cả của bản chất mình, và do đó tự định đoạt cho mình không chỉ một sự lưu lại kéo dài đáng kể trong thế giới trung gian mà còn một sự mất mát một phần của hạ trí.

This is, no doubt, a material method of expressing the reflection of the higher manas in the lower, but a very fairly accurate idea of what actually takes place will be obtained by adopting the hypothesis that the manasic principle sends down a portion of itself into the lower world of physical life at each incarnation, and expects to be able to withdraw it again at the end of the life, enriched by all its varied experiences. The ordinary man, however, usually allows himself to be so pitiably enslaved by all sorts of base desires that a certain portion of this lower mind becomes closely interwoven with the desire-body, and when the separation takes place at the close of his astral life the mental principle has, as it were, to be torn apart, the degraded portion remaining within the disintegrating astral body.

Đây chắc chắn là một cách biểu đạt vật chất của sự phản chiếu của manas cao vào manas thấp, nhưng một ý niệm khá chính xác về những gì thực sự xảy ra sẽ được hình thành nếu ta chấp nhận giả thuyết rằng nguyên lý manasic gửi xuống một phần của chính nó vào thế giới thấp hơn của đời sống vật chất ở mỗi lần nhập thể và kỳ vọng có thể thu hồi lại phần đó vào cuối đời sống, được làm phong phú thêm bởi tất cả các trải nghiệm đa dạng của nó. Tuy nhiên, con người bình thường thường tự cho phép bản thân bị nô lệ một cách đáng thương bởi đủ loại ham muốn thấp hèn, đến mức một phần của hạ trí trở nên đan xen chặt chẽ với thể dục vọng; và khi sự phân tách diễn ra vào cuối đời sống cảm dục của y, nguyên lý trí tuệ dường như phải bị xé rời, phần suy thoái còn lại trong thể cảm dục đang phân rã.

This body then consists of the particles of astral matter from which the lower mind has not been able to disengage itself, which therefore retain it captive; for when the man passes into the heaven-world these clinging fragments adhere to a portion of his mind, and as it were wrench it away. The [68] proportion of the matter of each level present in the decaying astral vehicle will therefore depend on the extent to which the mind has become inextricably entangled with the lower passions. It will be obvious that as the mind in passing from level to level is unable to free itself completely from the matter of each, the astral remnant will show the presence of each grosser kind which has succeeded in retaining its connection with it.

Thể cảm dục này gồm có những phần tử chất liệu cõi trung giới, cộng với phần hạ trí còn dính chặt vào đó, khi con người qua cõi trời chân phúc bỏ lại nó, mảnh hạ trí bị tách rời này còn giữ lại được một phần trí tuệ. Tỷ lệ chất liệu thuộc mỗi cảnh của cõi trung giới hiện diện trong thể cảm dục này tùy thuộc vào tình trạng vướng mắc của cái trí với các dục vọng thấp hèn. Khi thể hạ trí chuyển từ cảnh thấp qua cảnh cao, một phần của nó bị kết dính với chất liệu thể cảm dục của cảnh thấp, và trong thể cảm dục còn lại cho thấy có một số chất liệu thô kệch đã thành công trong việc duy trì liên hệ với nó.

Thus comes into existence the class of entity which has been called “The Shade”—an entity, be it observed, which is not in any sense the real individual at all, for he has passed away into the heaven-world; but nevertheless, it not only bears his exact personal appearance, but possesses his memory and all his little idiosyncrasies, and may therefore readily be mistaken for him, as indeed it frequently is at séances. It is not conscious of any act of impersonation, for as far as its intellect goes it must necessarily suppose itself to be the individual, but one can imagine the horror and disgust of the friends of the departed, if they could only realize that they had been deceived into accepting as their comrade a mere soulless bundle of all his lowest qualities. [69]

Như thế, xuất hiện một thực thể gọi là u hồn (shade), mà nếu quan sát kỹ, ta sẽ thấy nó không phải là con người thật, vì người ấy đã chuyển qua cõi thượng giới. Thực thể này, ngoài hình dáng giống hệt người cũ, nó còn có một ít trí nhớ và những đặc tính nhỏ nhặt cố hữu của người ấy, do đó ta dễ bị nhầm lẫn là người thật, như ở những buổi cầu hồn. Nó không có ý thức về sự mạo nhận, vì cái trí giới hạn, nó chỉ nghĩ được rằng nó chính là cá nhân đó. Bạn bè của người quá cố sẽ ghê sợ khi biết họ đã bị đánh lừa để chấp nhận là bạn, một mớ các bản chất thấp kém nhất, không có linh hồn của người quá cố.

The length of life of a shade varies according to the amount of the lower mind which animates it, but as this is all the while in process of fading out, its intellect is a steadily diminishing quantity, though it may possess a great deal of a certain sort of animal cunning; and even quite towards the end of its career it is still able to communicate by borrowing temporary intelligence from the medium. From its nature it is exceedingly liable to be swayed by all kinds of evil influences and, having separated from its ego, it has nothing in its constitution capable of responding to anything higher. It therefore lends itself readily to various minor purposes of some of the baser sort of black magicians. So much of mental matter as it possesses gradually disintegrates and returns to its own plane, though not to any individual mind, and thus the shade fades by almost imperceptible gradations into a member of our next class.

Thời gian u hồn tồn tại tùy thuộc vào số lượng chất liệu hạ trí còn lại làm cho nó sinh động, chất liệu này sẽ giảm dần với thời gian, nên trí khôn của u hồn cũng giảm theo, dù còn vài xảo quyệt thú tính. Đến gần cuối sự sống của nó, u hồn vẫn có thể liên hệ qua đồng cốt bằng cách mượn tạm trí khôn của người đồng. Do bản chất, u hồn rất dễ bị ảnh hưởng bởi mọi lực bất hảo. Vì đã tách rời khỏi chân ngã, trong cơ cấu của nó không còn gì có thể đáp ứng được với điều cao cả, nên nó thường bị các người hắc đạo bậc thấp sử dụng trong những việc nhỏ nhặt. Khi chất liệu thuộc hạ trí dần dần tan rã hết và trở về cõi của nó, u hồn từ từ phai nhạt và trở thành thực thể khác gọi là ma hình.

The Shell - Ma Hình

This is absolutely the mere astral corpse in the later stages of its disintegration, every particle of the mind having left it. It is entirely without any kind of consciousness or intelligence and drifts passively about upon the astral currents just as a cloud might be swept in any direction by [70] a passing breeze; but even yet it may be galvanized for a few moments into a ghastly burlesque of life if it happens to come within reach of a medium’s aura. Under such circumstances it still exactly resembles its departed personality in appearance, and may even reproduce to some extent his familiar expressions or handwriting, but it does so merely by the automatic action of the cells of which it is composed, which tend under stimulation to repeat the form of action to which they are most accustomed. Whatever amount of intelligence may lie behind any such manifestation has no connection with the original man, but is lent by the medium or his “guides” for the occasion.

Đây hoàn toàn chỉ là cái vỏ của thể cảm dục trong giai đoạn cuối của sự tan rã, tất cả những phần tử của hạ trí đã rời bỏ nó. Nó hoàn toàn không có ý thức và không hiểu biết, trôi dạt theo các dòng lưu chuyển trung giới như một đám mây bị gió đưa đi lang thang khắp nơi. Tuy nhiên, trong chốc lát nó có thể trở nên linh động một cách dị kỳ dễ sợ, nếu nó lọt được vào vòng hào quang của một đồng cốt. Trong trường hợp này, nó xuất hiện rất giống với người đã bỏ nó lại, và cũng có thể lặp lại vài câu nói quen thuộc hay chữ viết của người chết. Do tác động máy móc của những tế bào còn lại trong cấu trúc, khi bị kích thích nó có khuynh hướng lặp lại hoạt động mà nó rất quen thuộc. Dù có sự khôn ngoan ẩn phía sau những biểu lộ ấy, nó cũng không có liên quan gì đến con người thật, mà chỉ là công cụ của người đồng, hay của người hướng dẫn người đồng sử dụng trong lúc ấy. Ngoài ra nó cũng thường được tạm thời làm cho sống động bằng cách thức khác, sẽ được đề cập đến trong đề mục sau.

It is, however, more frequently temporarily vitalized in quite another manner, which will be described under the next head. It has also the quality of being still blindly responsive to such vibrations—usually of the lowest order—as were frequently set up in it during its last stage of existence as a shade, and consequently persons in whom evil desires or passions are predominant will be likely, if they attend physical séances, to find these intensified and as it were thrown back upon them by the unconscious shells. [71]

Tuy nhiên, nó thường được tiếp sinh lực tạm thời theo một cách hoàn toàn khác, sẽ được mô tả ở phần tiếp theo. Nó cũng có đặc tính vẫn đáp ứng một cách mù quáng với những rung động—thường là thuộc loại thấp nhất—mà trước đây nó đã nhiều lần phát ra trong giai đoạn cuối của sự tồn tại dưới dạng một bóng ma, và do đó, những người có ham muốn hoặc đam mê tà ác chiếm ưu thế, nếu họ tham gia các buổi cầu hồn vật lý, có khả năng sẽ thấy những điều này được khuếch đại và như thể bị phản hồi lại bởi những vỏ thể vô thức đó.

There is also another variety of corpse which it is necessary to mention under this head, though it belongs to a much earlier stage of man’s post-mortem history. It has been stated above that after the death of the physical body the astral vehicle is comparatively quickly rearranged, and the etheric double cast off—this latter body being destined to slow disintegration, precisely as is the astral shell at a later stage of the proceedings.

Ngoài ra có một loại “vỏ” khác cần được kể ra, nó thuộc về giai đoạn khi con người vừa mới chết. Sau khi chết, thể cảm dục rút ra khỏi thể xác và thường nhanh chóng tái sắp xếp, khi ấy thể phách cũng tách rời ra và tan rã từ từ giống như sự tan rã của vỏ thể cảm dục ở giai đoạn cuối.

This etheric shell, however, does not drift aimlessly about, as does the variety with which we have hitherto been dealing; on the contrary, it remains within a few yards of the decaying physical body, and since it is readily visible to any one even slightly sensitive, it accounts for many of the commonly current stories of church-yard ghosts. A psychically developed person passing one of our great cemeteries may see many of these bluish-white, misty forms hovering over the graves where are laid the physical vestures which they have recently left; and as they, like their lower counterparts, are in stages of disintegration, the sight is by no means pleasant.

Tuy nhiên, vỏ thể dĩ thái này không trôi dạt một cách vô định, như loại mà chúng ta đã đề cập trước đây; ngược lại, nó nằm trong phạm vi vài thước từ thể xác đang phân hủy, và vì dễ dàng nhìn thấy đối với bất kỳ ai có chút nhạy cảm, nó giải thích cho nhiều câu chuyện phổ biến về những bóng ma trong nghĩa trang. Một người có phát triển tâm linh khi đi qua một trong những nghĩa trang lớn có thể thấy nhiều hình dạng mờ ảo, màu trắng xanh lơ, lơ lửng trên các ngôi mộ, nơi các lớp áo vật lý mà họ vừa rời bỏ được đặt xuống; và vì chúng, giống như các đối tượng thấp hơn của chúng, đang trong giai đoạn phân rã, nên cảnh tượng này không mấy dễ chịu.

This also, like the other kind of shell, is entirely devoid of consciousness and intelligence; and though [72] it may under certain circumstances be galvanized into a horrible form of temporary life, this is possible only by means of some of the most loathsome rites of one of the worst forms of black magic, about which the less said the better. It will thus be seen that in the successive stages of his progress from earth-life to the heaven-world, man casts off and leaves to slow disintegration no less than three corpses—the dense physical body, the etheric double, and the astral vehicle—all of which are by degrees resolved into their constituent elements and their matter utilized anew on their respective planes by the wonderful chemistry of Nature.

Giống như loại vỏ khác, loại vỏ này hoàn toàn không có ý thức và trí tuệ; và mặc dù trong một số hoàn cảnh nhất định, nó có thể bị kích động để tạm thời sống dậy theo một hình thức kinh hoàng, điều này chỉ có thể xảy ra qua một số nghi lễ ghê tởm nhất của một trong những dạng hắc thuật tồi tệ nhất—về điều này, càng nói ít càng tốt. Như vậy, sẽ thấy rằng trong các giai đoạn tiến hóa kế tiếp của mình từ đời sống trần thế đến cõi thiên đàng, con người vứt bỏ và để lại cho sự phân rã chậm không dưới ba xác chết—thể xác đậm đặc, thể dĩ thái, và thể cảm dục—tất cả đều dần dần được phân giải thành các yếu tố cấu thành của chúng và vật chất của chúng được tái sử dụng trên các cõi tương ứng của chúng bởi phép hóa học tuyệt vời của Tự nhiên.

5. The Vitalized Shell - Ma Hình Được Làm Sinh Động.

This entity ought not, strictly speaking, to be classified under the head “human” at all, since it is only its outer vesture, the passive, senseless shell, that was once an appanage of humanity; such life, intelligence, desire, and will as it may possess are those of the artificial-elemental animating it, and that, though in truth a creation of man’s evil thought is not itself human. It will therefore perhaps be better to deal with it more fully under its appropriate class among the artificial entities, as its nature and [73] genesis will be more readily comprehensible by the time that part of our subject is reached.

Lẽ ra thực thể này không được liệt kê chung trong phần nói về nhân loại, vì nó chỉ là lớp áo bên ngoài, thụ động, lớp vỏ không cảm giác, mà đã có lần nó thuộc thành phần con người. Sự sống, trí khôn, ham muốn và ý thích mà nó có được là do các tinh linh nhân tạo làm linh hoạt, và dù do tư tưởng xấu của con người tạo ra, nó cũng không thuộc hàng ngũ nhân loại. Có lẽ chúng ta sẽ đề cập đầy đủ hơn về các ma hình được làm sinh động này trong nhóm những thực thể nhân tạo.

Let it suffice here to mention that it is always a malevolent being—a true tempting demon, whose evil influence is limited only by the extent of its power. Like the shade, it is frequently used to further the horrible purposes of the Voodoo and Obeah forms of magic. Some writers have spoken of it under the name “elementary,” but as that title has at one time or another been used for almost every variety of post-mortem entity, it has become so vague and meaningless that it is perhaps better to avoid it.

Hầu hết các ma hình đều gây ảnh hưởng xấu, mức độ xấu ác mà nó ảnh hưởng tùy thuộc vào sức mạnh làm nó sinh động. Cũng như các u hồn, nó thường được sử dụng bởi các nhóm hắc thuật hạ đẳng để trù ếm, bùa ngải, như Voodoo hay Obead. Một vài tác giả gọi nó là “âm ma” (elementary), nhưng từ ngữ này được dùng để chỉ nhiều thực thể khác nhau sau khi chết, và ý nghĩa của nó không được rõ ràng, nên chúng ta tránh dùng nó.

6. The Suicide And The Victim Of Sudden Death - Người Tự Tử Và Ngưòi Chết Bất Thần..

It will be readily understood that a man who is torn from physical life hurriedly while in full health and strength, whether by accident or suicide, finds himself upon the astral plane under conditions differing considerably from those which surround one who dies either from old age or from disease. In the latter case the hold of earthly desires upon the entity is sure to be more or less weakened, and probably the very grossest particles are already eliminated, so that the man is likely to find himself on the sixth or fifth subdivision of the astral world, or perhaps even [74] higher; the principles have been gradually prepared for separation, and the shock is therefore not so great.

Một người bị tách rời khỏi xác thân một cách vội vã trong lúc còn khỏe mạnh và dồi dào sinh lực, do tai nạn hay do tự tử, sẽ đến cõi trung giới trong tình trạng rất khác biệt với những người chết vì tuổi già hay bệnh hoạn. Chắc hẳn người già và người bệnh lâu ngày, không nhiều thì ít sự ham muốn vật chất ở thế gian cũng giảm bớt, và thể tình cảm của họ loại bỏ rất nhiều chất liệu thô kệch. Sau khi rời bỏ xác thân, những người này thường thức tỉnh ở cảnh thứ sáu hoặc thứ năm cõi trung giới, và có thể còn cao hơn. Các “nguyên lý” (principles) đã chuẩn bị dần cho sự tách rời, nên khi ra đi họ không bị chấn động mạnh.

In the case of the accidental death or suicide none of these preparations have taken place, and the withdrawal of the principles from their physical encasement has been aptly compared to the tearing of the stone out of an unripe fruit; much of the grossest kind of astral matter may still cling round the personality, which will consequently be held in the seventh or lowest subdivision of the plane. This has already been described as anything but a pleasant abiding-place, yet it is by no means the same for all those who are compelled for a time to inhabit it. Those victims of sudden death whose earth-lives have been pure and noble have no affinity for this plane, and so the time of their sojourn upon it is passed, to quote from an early letter on this subject, either in “happy ignorance and full oblivion, or in a state of quiet slumber, a sleep full of rosy dreams.”

Trong trường hợp tự tử hoặc chết bất thần, không có sự chuẩn bị như trên, các nguyên lý phải rút ra khỏi thể xác một cách đột ngột, ví như hạt bị tách ra khỏi trái cây chưa chín. Phần lớn chất liệu thô kệch cõi trung giới vẫn còn kết chặt với thể cảm dục, do đó họ sẽ bị giữ lại ở cảnh thứ bảy, tức cảnh thấp nhất cõi trung giới, cảnh này, như đã được miêu tả, không phải là nơi thú vị để sống. Điều đó không có nghĩa là tình trạng của những người phải trải qua một thời gian ở đấy đều giống nhau. Những người đã sống một cuộc đời trong sạch, cao quí, bị chết thình lình do tai nạn, họ không có hấp lực với cảnh đó, và thời gian họ bị bắt buộc phải lưu lại nơi đó được mô tả như: “niềm hạnh phúc vô thức đầy quên lãng, hoặc trong trạng thái ngủ yên đầy mộng đẹp.”

On the other hand, if men’s earth-lives have been low and brutal, selfish and sensual, they will be conscious to the fullest extent in this undesirable region; and it is possible for them to develop into [75] terribly evil entities. Inflamed with all kinds of horrible appetites which they call no longer satisfy directly now they are without a physical body, they gratify their loathsome passions vicariously through a medium or any sensitive person whom they can obsess; and they take a devilish delight in using all the arts of delusion which the astral plane puts in their power in order to lead others into the same excesses which have proved so fatal to themselves.

Trái lại nếu ở cõi trần, họ có đời sống thấp hèn, tàn ác, ích kỷ và nuông chiều theo dục vọng, thì họ sẽ có đầy đủ ý thức ở cảnh mà không ai muốn tới. Họ sẽ có thể trở thành những hồn ma bóng quỷ ghê rợn, bị thiêu đốt bởi mọi loại thèm muốn khủng khiếp mà không thể nào được thỏa mãn vì đã mất xác thân. Họ chỉ còn cách thỏa mãn những đam mê bẩn thỉu xuyên qua đồng cốt hoặc bất cứ người nào dễ bị họ ám ảnh. Họ có thể tìm được lạc thú thấp hèn bằng mọi cách gây ảo tưởng mà cõi trung giới sẵn sàng tiếp sức, để xúi giục kẻ bị ám ảnh làm những hành động quá đáng, tai hại.

Quoting again from the same letter: “These are the Pisachas, the incubi and succubæ of mediæval writers—demons of thirst and gluttony, of lust and avarice, of intensified craft, wickedness, and cruelty, provoking their victims to horrible crimes, and reveling in their commission.” From this class and the last are drawn the tempters—the devils of ecclesiastical literature; but their power falls utterly before purity of mind and purpose; they can do nothing with a man unless he has first encouraged in himself the vices into which they seek to draw him.

Sau đây là một đoạn trích dẫn từ những tác giả thời trung cổ viết về đề tài này: “Những hồn ma liêu trai, nam hay nữ, quyến dụ người nằm mộng ái ân với chúng, những ma quỷ đói khát, đầy dục vọng, tham lam, gian xảo, hung ác và tàn bạo, xúi giục nhũng người bị ám ảnh phạm những tội ác khủng khiếp, và hoan lạc say sưa thế cho chúng.” Những loại ma quái ấy đã được kinh sách Cơ Đốc Giáo mô tả là sự cám dỗ của ma quỷ. Tuy nhiên, theo thời gian, sức mạnh của chúng sẽ tàn lụi trước sự trong sạch hóa của thể trí, và chúng sẽ chẳng làm gì được một người bình thường, ngoại trừ người ấy có sẵn tính xấu mà chúng muốn lợi dụng.

One whose psychic sight has been opened will often see crowds of these unfortunate creatures hanging round butchers’ shops, public-houses, or other even more disreputable places—wherever the [76] gross influences in which they delight are to be found, and where they encounter men and women still in the flesh who are like­minded with themselves. For such an entity as one of these to meet with a medium with whom he is in affinity is indeed a terrible misfortune; not only does it enable him to prolong enormously his dreadful astral life, but it renews for perhaps an indefinite period his power to generate evil karma, and so prepare for himself a future incarnation of the most degraded character, besides running the risk of losing a large portion of such mind-power as he may happen to possess. If he is fortunate enough not to meet with a sensitive through whom his passions can be vicariously gratified, the unfulfilled desires will gradually burn themselves out, and the suffering caused in the process will probably go far towards working off the evil karma of the past life.

Người có nhãn thông, thường thấy những đám vong linh vô phước ấy bám theo các hàng bán thịt, quán rượu, hoặc các nơi tồi tệ hơn, những nơi mà chúng tìm được sự thỏa mãn các dục vọng thấp hèn qua những người nam hay nữ ở thế gian có tính tình giống như chúng. Thật vô phước cho vong linh như vậy nếu gặp đồng cốt hợp với nó, chẳng những làm cho nó kéo dài rất lâu thời gian khủng khiếp ở cảnh thấp cõi trung giới, mà còn có thể thêm sức cho nó tạo thêm nghiệp quả xấu xa, làm cho kiếp tái sinh tương lai trở nên thấp hèn hơn, ngoài ra còn có nguy cơ bị mất phần lớn trí thông minh. Trái lại, nếu may mắn không gặp người dễ thụ cảm với nó để thỏa mãn dục lạc, thì những ham muốn không được thỏa mãn sẽ dần dần tự tan rã, và sự đau khổ nó phải chịu đựng có thể làm giảm bớt các nghiệp quả mà nó đã gây ra trong kiếp vừa qua.

The position of the suicide is further complicated by the fact that his rash act has diminished the power of the ego to withdraw its lower portion into itself, and therefore has exposed him to various additional dangers; but it must be remembered that the guilt of suicide differs considerably according to its circumstances, from the morally blameless act [77] of Seneca or Socrates through all degrees down to the heinous crime of the wretch who takes his own life in order to escape from the entanglements into which his villainy has brought him; and the position after death varies accordingly.

Tình trạng của người tự tử còn phức tạp hơn nhiều, vì hành động thiếu suy nghĩ ấy làm giảm năng lực của chân ngã thu hồi phần thấp của nó về, và có thể đem lại thêm nguy hiểm cho họ. Tuy nhiên tội tự tử khác biệt rất nhiều tùy theo mỗi trường hợp, từ hành động không đáng trách về phương diện luân lý như của Seneca hoặc Socrates, đến mọi cấp độ thấp kém như tự tử để trốn tránh trách nhiệm về tội ác đã gây ra của những hung phạm, và tình trạng sau khi chết của những người tự tử cũng khác nhau.

It should be noted that this class, as well as the shades and the vitalized shells are all what may be called minor vampires; that is to say, whenever they have the opportunity they prolong their existence by draining away the vitality from human beings whom they find themselves able to influence. This is why both medium and sitters are often so weak and exhausted after a physical séance. A student of occultism is taught how to guard himself from their attempts, but without that knowledge it is difficult for one who puts himself in their way to avoid being more or less laid under contribution by them.

Những vong linh thuộc loại này cũng như u hồn và ma hình được làm sinh động, đôi khi được gọi chung là “ma cà rồng cơ hội”, vì khi có dịp, chúng thường kéo dài đời sống bằng cách rút sinh lực từ những người mà chúng ảnh hưởng được. Vì vậy mà đồng cốt và những người phụ tá chung quanh thường bị suy yếu và mệt lả sau buổi cầu hồn. Sinh viên huyền môn được dạy cách thức giữ mình, tránh bị những thực thể này thu hút sinh lực. Người thiếu hiểu biết khó tránh khỏi bị tổn hại khi đến gần những nơi chúng tụ họp.

7. The Vampire And Werewolf - Ma Cà Rồng Và Ma Sói.

There remain two even more vile but happily rare possibilities to be mentioned before this part of our subject is completed, and though they differ widely in many ways we may yet perhaps group them together, since they have in common the qualities of unearthly horror and of extreme rarity—the latter arising [78] from the fact that they are really legacies from earlier races—hideous anachronisms, appalling relics of a time when man and his surroundings were in many ways not what they are now.

Hai loại này càng đáng ghê tởm hơn, nhưng may thay rất hiếm, dù chúng khác nhau về nhiều phương diện, nhưng ta có thể gom lại cùng một nhóm, vì chúng có chung những tính chất kỳ dị, khủng khiếp và rất hiếm hoi. Chuyện về ma sói thật ra là di sản từ những giống dân tiền sử để lại, đó là những di tích khủng khiếp từ thời đại mà con người và hoàn cảnh sống chung quanh rất khác xa với thời hiện tại.

We of the fifth root race ought to have evolved beyond the possibility of meeting such a ghastly fate as is indicated by either of the two headings of this sub-section, and we have so nearly done it that these creatures are commonly regarded as mere mediaeval fables; yet there are examples to be found occasionally even now, though chiefly in countries where there is a considerable strain of fourth-race blood, such as Russia or Hungary. The popular legends about them are probably often considerably exaggerated, but there is nevertheless a terribly serious substratum of truth beneath the eerie stories which pass from mouth to mouth among the peasantry of Eastern Europe. The general characteristics of such tales are too well known to need more than a passing reference; a fairly typical specimen of the vampire story, though it does not profess to be more than the merest fiction, is Sheridan le Fanu’s Carmilla, while a very remarkable account of an unusual form of this [79] creature is to be found in Isis Unveiled vol. i., p. 454.

Chúng ta thuộc giống dân chánh thứ năm, đã tiến hóa khỏi giai đoạn có thể chịu số phận đáng sợ của một trong hai loại vừa kể, gần như những sinh vật này chỉ được nhắc đến trong những truyện cổ tích thời trung cổ. Ngày nay chúng ta có thể biết một vài thí dụ xảy ra ở một chi chủng thuộc giống dân thứ tư ở các nước như Nga Sô và Hung Gia Lợi. Những chuyện cổ tích về đề tài này được truyền khẩu ở thôn quê các nước Đông Âu, và thường bị thêm thắt quá đáng, tuy nhiên cũng có một phần sự thực bên trong. Đặc tính chung của các chuyện ấy đã quá quen thuộc, nên chúng ta chỉ cần nói phớt qua. Chuyện điển hình về ma cà rồng, dù chỉ được trình bày như một chuyện tưởng tượng, là chuyện “Carmilla”, và câu chuyện đáng kinh tởm hơn: “Dracula”. Có một hình thức bất thường khác đáng để ý về sinh vật này được trình bày trong quyển “Nữ Thần Isis Được Tiết Lộ” (Isis Unveiled)

Readers of Theosophical literature will be aware that it is just possible for a man to live a life so absolutely degraded and selfish, so utterly wicked and brutal, that the whole of his lower mind may become entirely enmeshed in his desires, and finally separate from its spiritual source in the higher self. Some students even seem to have supposed that such an occurrence is quite common, and that we may meet scores of such “soulless men”, as they have been called, in the street every day of our lives; but this, happily, is untrue. To attain the appalling pre-eminence in evil which thus involves the entire loss of a personality and the weakening of the developing individuality behind, a man must stifle every gleam of unselfishness or spirituality, and must have absolutely no redeeming point whatever; and when we remember how often, even in the worst of villains, there is to be found something not wholly bad, we shall realize that the abandoned personalities must always be a very small minority. Still, comparatively few though they be, they do exist, and it is from their ranks that the still rarer vampire is drawn. [80]

Độc giả của văn học Thông Thiên Học sẽ biết rằng hoàn toàn có khả năng một người có thể sống một cuộc đời hoàn toàn suy đồi và ích kỷ, độc ác và tàn bạo đến mức toàn bộ hạ trí của y hoàn toàn bị vướng vào dục vọng của y và cuối cùng tách biệt khỏi nguồn gốc tinh thần trong chân ngã. Một số học viên thậm chí có vẻ cho rằng sự kiện như vậy là khá phổ biến và rằng chúng ta có thể gặp hàng chục “người không có linh hồn” như vậy, như họ đã được gọi, trên đường phố mỗi ngày; nhưng may thay, điều này là không đúng. Để đạt đến mức đáng sợ trong cái ác đến mức mất hoàn toàn phàm ngã và suy yếu cá nhân tính đang phát triển phía sau, một người phải dập tắt mọi tia hy vọng về lòng vị tha hay tinh thần, và hoàn toàn không có điểm gì đáng chuộc tội; và khi nhớ lại rằng ngay cả ở những kẻ phản diện tồi tệ nhất cũng có thể tìm thấy điều gì đó không hoàn toàn xấu xa, chúng ta sẽ nhận ra rằng những phàm ngã bị bỏ rơi này luôn luôn là một thiểu số rất nhỏ. Tuy vậy, dù chúng tương đối ít ỏi, chúng vẫn tồn tại, và chính từ hàng ngũ của những người này mà những kẻ hút máu còn hiếm hoi hơn nữa được tuyển chọn.

The lost entity would very soon after death find himself unable to stay in the astral world, and would be irresistibly drawn in full consciousness into “his own place”, the mysterious eighth sphere, there slowly to disintegrate after experiences best left undescribed. If, however, he perishes by suicide or sudden death, he may under certain circumstances, especially if he knows something of black magic, hold himself back from that appalling fate by a death in life scarcely less appalling—the ghastly existence of the vampire.

Những thực thể tự đánh mất mình như thế sẽ sớm nhận thấy họ không thể ở cõi trung giới được, và họ sẽ bị lôi kéo vào “nơi riêng của họ”, mà không cưỡng lại được, trong tình trạng thức tỉnh hoàn toàn, đó là cõi thứ tám huyền linh (còn gọi là cõi A-tỳ) [25], nơi đây, sau khi chịu đựng những kinh nghiệm, họ bị tan rã từ từ, mà tốt hơn chúng ta không nên nói đến. Khi người như vậy bị chết đột ngột hay tự tử, trong vài trường hợp nếu họ biết về hắc thuật, họ có thể giữ mình khỏi rơi vào số phận hãi hùng ở cõi A-tỳ, và chọn sống đời gớm ghiếc của loại ma cà rồng.

Since the eighth sphere cannot claim him until after the death of the body, he preserves it in a kind of cataleptic trance by the horrible expedient of the transfusion into it of blood drawn from other human beings by his semi­materialized astral, and thus postpones his final destiny by the commission of wholesale murder. As popular “superstition” again rightly supposes, the easiest and most effectual remedy in such a case is to exhume and burn the body, thus depriving the creature of his point d’ appui. When the grave is opened the body usually appears quite fresh and healthy, and the coffin is not infrequently filled with blood. In countries [81] where cremation is the custom, vampirism of this sort is naturally impossible.

Vì cõi thứ tám không thể “bắt” được họ chừng nào thể xác của họ chưa thật sự chết, nên họ cố giữ xác thân sống cố định trong một tư thế, như người đang xuất thần. Với thể cảm dục được vật chất hóa phân nửa (semi-materialized), họ dùng thủ đoạn gớm ghiếc là đi hút máu người khác, đem về truyền cho cái xác bất động của họ, để duy trì sự sống cho thể xác. Như vậy, họ tạm thời gác lại được vận số cuối cùng bằng cách phạm vào hàng loạt án mạng. Người bình dân tin tưởng khá đúng rằng phương pháp dễ dàng và có hiệu quả nhất là khai quật tử thi và hỏa thiêu, như thế sẽ làm mất điểm tựa của ma cà rồng. Khi ngôi mộ được khai quật thì thấy xác chết còn tươi và quan tài thường dính đầy máu. Ở các nước có phong tục hỏa táng, thì không thể có ma cà rồng.

The Werewolf, though equally horrible, is the product of a somewhat different karma, and indeed ought perhaps to have found a place under the first instead of the second division of the human inhabitants of this plane, since it is always during a man’s lifetime that he first manifests under this form. It invariably implies some knowledge of magical arts—sufficient at any rate to be able to project the astral body.

Ma sói cũng rất kinh khiếp, nhưng do loại nghiệp quả khác với ma cà rồng, ta có thể xếp vào loại cư dân “còn sống” hơn là vào loại “đã chết” của cõi trung giới, vì nó luôn luôn bắt đầu xảy ra trong lúc con người còn đang sống. Người ấy cần phải có một số hiểu biết về huyền thuật, đủ để có thể phóng thể cảm dục ra.

When a perfectly cruel and brutal man does this, there are certain circumstances under which the body may be seized upon by other astral entities and materialized, not into the human form, but into that of some wild animal—usually the wolf; and in that condition it will range the surrounding country killing other animals, and even human beings, thus satisfying not only its own craving for blood, but that of the fiends who drive it on.

Khi một người rất độc ác và tàn bạo, phóng thể cảm dục ra ngoài, thì có vài trường hợp thể xác của họ có thể bị sử dụng bởi những thực thể khác ở cõi trung giới để hiện hình thành những loại thú hoang, thường là chó sói. Trong hình dạng ấy nó chạy quanh vùng, giết hại các thú vật khác và cả con người, để thỏa mãn sự thèm khát máu tươi cho nó và cho loại ma quỷ đang điều khiển nó.

In this case, as so often with ordinary materialization, any wound inflicted upon that animal form will be reproduced upon the human physical body by the extraordinary phenomenon of repercussion; though after the death of that physical body, the [82] astral (which will probably continue to appear in the same form) will be less vulnerable. It will then, however, be also less dangerous, as unless it can find a suitable medium it will be unable to materialize fully. In such manifestations there is probably a great deal of the matter of the etheric double, and perhaps also a toll is levied upon the gaseous and liquid constituents of the physical body, as in the case of some materializations. In both cases the fluidic body appears able to pass to much greater distances from the physical than is ever otherwise possible, so far as is yet known, for a vehicle, which contains at least a certain amount of etheric matter.

Trong trường hợp này, như thường thấy với việc hiện hình vật chất thông thường, bất kỳ vết thương nào gây ra trên hình thể thú vật đó sẽ được tái tạo trên thể xác con người qua hiện tượng phản ứng đặc biệt; mặc dù sau khi thể xác chết, thể cảm dục (có lẽ vẫn tiếp tục xuất hiện dưới cùng hình thức) sẽ ít dễ bị tổn thương hơn. Tuy nhiên, lúc đó nó cũng sẽ ít nguy hiểm hơn, vì nếu không tìm được một trung gian phù hợp, nó sẽ không thể hiện hình hoàn toàn. Trong những biểu hiện như vậy, có lẽ có một lượng lớn chất của thể dĩ thái, và có thể cả các thành phần khí và lỏng của thể xác cũng bị lấy đi, như trong một số trường hợp hiện hình vật chất. Trong cả hai trường hợp, thể chất lưu động dường như có khả năng di chuyển đến khoảng cách xa hơn nhiều so với thể xác, điều này cho đến nay chỉ có thể thực hiện với một phương tiện chứa ít nhất một lượng vật chất dĩ thái nhất định.

It has been the fashion of this age to scoff at what are called the foolish superstitions of the ignorant peasantry; but as in the above cases, so in many others, the occult student finds on careful examination that obscure or forgotten truths of Nature lie behind what at first sight appears mere nonsense, and he learns to be cautious in rejecting as well as cautious in accepting. Intending explorers of the astral plane need have little fear of encountering the very unpleasant creatures described under this head, for, as before stated, they are even [83] now extremely rare, and as time goes on their number will happily steadily diminish. In any case their manifestations are usually restricted to the immediate neighbourhood of their physical bodies, as might be supposed from their extremely material nature.

Thời đại này có thói quen chế giễu những gì được gọi là mê tín ngớ ngẩn của tầng lớp nông dân thiếu hiểu biết; nhưng như trong các trường hợp trên, và nhiều trường hợp khác, học viên huyền bí sau khi xem xét kỹ lưỡng nhận thấy rằng có những chân lý bị che khuất hoặc lãng quên của Tự nhiên ẩn sau những điều thoạt nhìn có vẻ vô lý, và y học cách thận trọng khi bác bỏ cũng như thận trọng khi chấp nhận. Những người có ý định khám phá cõi cảm dục hầu như không cần lo ngại về việc gặp phải những sinh vật rất khó chịu được mô tả trong phần này, vì như đã nói trước đó, chúng hiện tại cực kỳ hiếm, và khi thời gian trôi qua, may thay số lượng của chúng sẽ giảm dần. Trong mọi trường hợp, các biểu hiện của chúng thường bị giới hạn ở khu vực lân cận của thể xác của chúng, điều này có thể suy ra từ bản chất vô cùng vật chất của chúng.

8. The Man In The Grey World - Người Ở Thế Giới Xám.

I have already explained that the vampire and the werewolf are anachronisms, that they belonged to the evolution of an earlier root-race. But though we have developed beyond that particular form of manifestation of it, the type of person who clings desperately to physical life because he has no certainty that there is any other still persists among us. Having been intensely material, having had no ideas, no conceptions of any sort beyond the physical during earth-life, he becomes crazy with fear when he finds himself altogether cut adrift from it.

Tôi đã giải thích ma cà rồng và ma sói là những thực thể ở sai thời đại, chúng thuộc về giai đoạn tiến hóa của giống dân trước. Còn một loại khác là hạng người cố bám víu một cách vô vọng vào cuộc sống trần gian, vì họ không biết là có đời sống ở các cõi khác. Vì quá thiên về vật chất, họ không có ý tưởng hay quan niệm về đời sống nào khác ngoài đời sống cõi vật chất, họ sợ hãi một cách điên cuồng khi nhận thấy mình sắp phải lìa bỏ cuộc sống trần gian.

Sometimes such men make frantic efforts to return into some sort of touch with physical life. Most do not succeed, and gradually give up the struggle; as soon as they do that, they slip off at once into the natural moment of unconsciousness and shortly awaken in the astral world. But those, whose will is strong enough to attain a partial and [84] temporary success hold on tenaciously to at least some fragments of their etheric double, and sometimes even manage to draw particles from their physical bodies.

Những người đó cố gắng cuồng nhiệt để được tiếp xúc trở lại với thế gian bằng một hình thức nào đó, nhưng phần đông không thành công và dần dần từ bỏ ý định. Khi bỏ ý định trở lại cõi trần, tự nhiên họ sẽ rơi ngay vào tình trạng vô thức trong một khoảng thời gian ngắn, sau đó tỉnh thức lại ở cõi trung giới. Trái lại, những người kiên trì và có ý chí đủ mạnh, có thể tạm thời thành công trong việc giữ lại ít nhất vài mảnh của thể phách họ, và đôi khi có thể thu hút được những phần tử thuộc thể xác.

We may say that the actual definition of death is the full and final separation of the etheric double from the dense body—or, to put it in other words, the breaking up of the physical body by withdrawing its etheric part from its lower part. So long as a link is maintained we may have conditions of catalepsy, trance or anaesthesia; when the link is finally broken, death has taken place.

Như chúng ta biết, định nghĩa của sự chết là: sự tách rời cuối cùng và trọn vẹn của thể phách ra khỏi thể xác [26], nói khác đi là sự tan rã của thể xác do sự rút lui của phần dĩ thái khỏi phần thấp hơn. Cho nên, khi nào vẫn còn có sự nối liền giữa thể phách và thể xác, thì ta có những tình trạng như: cơ thể giữ nguyên dạng (catalepsy), xuất thần (trance), hoặc hôn mê (anaesthesia); khi sự nối kết bị đứt lìa, ta có tình trạng “chết”.

When a man withdraws from his dense body at death, then, he takes with him the etheric part of that vehicle. But that etheric matter is not in itself a complete vehicle—only part of one. Therefore while that etheric matter still clings round him, he is neither on one plane nor the other. He has lost the organs of his physical senses, and he cannot use those of the astral body because he is still enveloped in this cloud of etheric matter. He lives for awhile—fortunately only for awhile—in a dim grey world of restlessness and discomfort, in which he can see clearly neither physical nor astral happenings, but catches occasional glimpses of both as [85] through a world of heavy fog, in which he wanders, lost and helpless.

Lúc chết, con người rút ra khỏi thể xác (thể đậm đặc), họ cũng đem theo luôn thể phách, tức phần dĩ thái của xác thân. Phần dĩ thái của xác thân, mà ta có thói quen gọi là “thể phách”, thật ra chính nó không phải là một “thể”, mà chỉ là một phần của xác thân. Như vậy, khi con người vẫn còn bám vào thể phách, thì họ không thuộc cõi trần, mà cũng không thuộc cõi trung giới. Họ đã mất giác quan của thể xác, trong khi không thể sử dụng được giác quan thể cảm dục, vì họ vẫn còn bị đám mây của thể phách bao bọc. Họ phải sống một thời gian ngắn—cũng may là chỉ một thời gian ngắn—trong một thế giới mờ xám rất khó chịu và không yên ổn. Trong thế giới này, họ không thể thấy rõ những gì xảy ra ở cõi trần cũng như ở cõi trung giới, tuy nhiên, đôi khi họ cũng thoáng thấy cả hai, như qua đám sương mù dày đặc, trong đó họ đi lang thang, lạc lõng và bơ vơ.

There is no reason whatever why any human being should suffer such unpleasantness at all; but he fears that in letting go that shred of consciousness he may lose all consciousness for ever—may in fact be annihilated; so he grasps desperately at this which is left to him. In time, however, he must let go, for the etheric double begins to disintegrate, and then he slips quite happily into the fuller and wider life.

Không có lý do gì để bất cứ người nào phải chịu khổ như thế. Chỉ vì lúc lâm chung, con người sợ rằng khi mất một phần nhỏ ý thức cuối cùng là sẽ mất đi vĩnh viễn tất cả ý thức, và đối với họ là bị hủy diệt hoàn toàn; vì thế, họ cố bám víu một cách tuyệt vọng vào cái gì còn lại. Tuy nhiên theo thời gian, dù muốn hay không, con người cũng phải để mọi việc trôi chảy, vì thể phách sẽ bắt đầu tan rã, và tự nhiên họ sẽ đi vào một đời sống rộng rãi, đầy đủ và hạnh phúc hơn.

Such people may sometimes be found drifting miserably and even wailingly about the astral plane, and it is one of the hardest tasks of the helper to persuade them that they have nothing to do but to forget their fear, to relax their tenseness, and to let themselves sink gently into the peace and oblivion which they need so sorely. They seem to regard such a suggestion as a ship-wrecked man far away from land might receive an order to abandon his supporting spar, and trust himself to the stormy sea.

Trong cõi trung giới, đôi khi ta thấy những người như thế trôi nổi khổ sở, và kêu khóc thảm thương. Khuyên giải và thuyết phục họ là một trong những công tác khó khăn của những vị cứu trợ, làm cho họ biết họ chỉ cần quên nỗi sợ hãi, thư dãn các căng thẳng, để cho tâm trí êm ả chìm vào lãng quên và bình an. Hình như tâm trạng của người như thế đối với lời khuyên, gần giống với tâm trạng của người đắm tàu giữa biển khơi đầy sóng gió, được khuyên hãy bỏ cái phao mà họ đang ôm chặt, để tin tưởng vào chính mình.

9. The Black Magician Or His Pupil - . Nhà Hắc Thuật Và Đệ Tử Của Họ.

This person corresponds at the other extremity of the scale to our second class of departed entities, the pupil awaiting reincarnation, but in this case, instead of [86] obtaining permission to adopt an unusual method of progress, the man is defying the natural process of evolution by maintaining himself in astral life by magical arts—sometimes of the most horrible nature.

Trong bảng sắp xếp các thực thể đã bỏ xác thân, những người này ở vị trí đối cực, tương đương với hạng thứ nhì, tức những đệ tử đang chờ đợi tái sinh. Nhưng thay vì họ phải xin phép để được áp dụng phương pháp phát triển không thông thường, thì họ bất chấp sự tiến hóa thiên nhiên, duy trì sự sống ở cõi trung giới bằng cách sử dụng các ma thuật, đôi khi rất khủng khiếp.

It would be easy to make various subdivisions of this class, according to their objects, their methods, and the possible duration of their existence on this plane, but as they are by no means fascinating objects of study, and all that in occult student wishes to know about them is how to avoid them, it will probably be more interesting to pass on to the examination of another part of our subject. It may, however, be just mentioned that every such human entity which prolongs its life thus on the astral plane beyond its natural limit invariably does so at the expense of others, and by the absorption of their life in some form or another.

Ta có thể chia nhóm người này thành những nhóm phụ, tùy theo mục đích của họ, phương pháp họ áp dụng và thời gian họ ở lại cõi trung giới. Đây không phải là một đề tài hấp dẫn để nghiên cứu, sinh viên huyền môn chỉ cần biết làm cách nào để tránh xa họ. Duy có một điều cần ghi nhận là họ muốn kéo dài sự sống ở cõi trung giới ngoài giới hạn ấn định của thiên nhiên, do hấp thu sinh lực của người khác bằng mọi cách.

II. NON-HUMAN

It might have been thought fairly obvious, even to the most casual glance, that many of the terrestrial arrangements of Nature which affect us most nearly have not been designed exclusively with a view to our comfort, to even our ultimate advantage. [87] Yet it was probably unavoidable that the human race, at least in its childhood, should imagine that this world and everything it contains existed solely for its own use and benefit; but undoubtedly we ought by this time to have grown out of that infantile delusion and realized our proper position and the duties that attach to it.

Điều đó hẳn sẽ khá hiển nhiên, ngay cả với cái nhìn thoáng qua nhất, rằng nhiều sự sắp xếp của Tự nhiên trên trần thế có ảnh hưởng trực tiếp đến chúng ta không hẳn được thiết kế chỉ nhằm mang lại sự thoải mái, thậm chí là lợi ích cuối cùng cho chúng ta. Tuy nhiên, có lẽ điều đó là không thể tránh khỏi rằng nhân loại, ít nhất là trong thời kỳ thơ ấu của mình, đã tưởng rằng thế giới này và mọi thứ trong đó tồn tại chỉ để phục vụ và mang lại lợi ích cho chính mình; nhưng chắc chắn rằng đến giờ, chúng ta nên vượt qua ảo tưởng ấu trĩ đó và nhận thức đúng đắn về vị trí của mình cùng với những trách nhiệm gắn liền với nó.

That most of us have not yet done so is shown in a dozen ways in our daily life—notably by the atrocious cruelty habitually displayed towards the animal kingdom under the name of sport by many who probably consider themselves highly civilized people. The veriest tyro in the holy science of occultism knows that all life is sacred and that without universal compassion there is no true progress; but it is only as he advances in his studies that he discovers how manifold evolution is, and how comparatively small a place humanity really fills in the economy of Nature.

Trong cuộc sống hàng ngày, phần lớn con người vẫn chưa ý thức được điều đó, họ làm nhiều việc tác hại đến những vật chung quanh, nhất là sự ác độc của những người tự cho là văn minh, với mục đích thể thao, đi săn bắn giết hại, gây căm phẫn đối với giới cầm thú. Dù người mới học hỏi chút ít về huyền môn, cũng nên biết mọi sự sống đều thiêng liêng, và nếu không có lòng từ ái thì không thể có tiến bộ thực sự. Khi tiến lên trên đường học hỏi, con người sẽ hiểu biết nhiều hơn về sự tiến hóa, và nhận thức được vị trí khiêm tốn của nhân loại trong toàn thể thiên nhiên.

It becomes clear to him that as earth, air, and water support myriads of forms of life which, though invisible to the ordinary eye, are revealed to us by the microscope, so the higher planes connected with our earth have an equally dense population of whose existence we are ordinarily [88] completely unconscious. As his knowledge increases he becomes more and more certain that in one way or another the utmost use is being made of every possibility of evolution, and that wherever it seems to us that in Nature force is being wasted or opportunity neglected, it is not the scheme of the universe that is in fault, but our ignorance of its method and intention.

Con người đã biết rõ đất, nước, không khí nuôi dưỡng vô số hình thức sự sống, mà mắt thường không trông thấy được, nhưng được thấy với kính hiển vi. Cũng giống thế, các cõi cao nối tiếp với cõi trần, chứa đông đảo những cư dân mà bình thường chúng ta không hề biết đến. Khi hiểu biết nhiều hơn, con người sẽ xác quyết rằng sự tiến hóa là điều cần thiết. Dù con người nhận thấy hình như trong thiên nhiên có những lực bị lãng phí hay bị bỏ quên, thật ra đó không phải là kế hoạch của vũ trụ lầm lỗi, mà vì chúng ta chưa hiểu thấu đáo cách thức vận hành của nó.

For the purposes of our present consideration of the non-human inhabitants of the astral plane it will be best to leave altogether out of consideration those early forms of the universal life which are evolving, in a manner of which we can have little comprehension, through the successive encasement of atoms, molecules, and cells. If we commence at the lowest of what are usually called the elemental kingdoms, we shall even then have to group together under this general heading an enormous number of inhabitants of the astral plane upon whom it will be possible to touch only slightly, as anything like a detailed account of them would swell this manual to the dimensions of an encyclopaedia.

Để phục vụ cho việc xem xét hiện tại về các cư dân phi nhân loại của cõi cảm dục, tốt nhất là chúng ta nên loại bỏ khỏi sự cân nhắc những dạng sống sơ khởi của sự sống phổ quát, những dạng đang tiến hóa theo một cách thức mà chúng ta khó có thể thấu hiểu, thông qua việc lần lượt bao bọc trong các nguyên tử, phân tử và tế bào. Nếu chúng ta bắt đầu từ cấp độ thấp nhất của những gì thường được gọi là các giới nguyên tố, thì ngay cả khi đó, chúng ta vẫn sẽ phải nhóm chung dưới tiêu đề này một số lượng lớn cư dân của cõi cảm dục, mà chúng ta chỉ có thể đề cập một cách sơ lược, vì bất kỳ mô tả chi tiết nào về họ cũng sẽ khiến tài liệu này phình to đến mức độ của một bách khoa toàn thư.

The most convenient method of arranging the non-human entities will perhaps be in four classes [89]—it being understood that in this case the class is not, as previously, a comparatively small subdivision, but usually a great kingdom of Nature at least as large and varied as, say, the animal or vegetable kingdom. Some of these classes rank considerably below humanity, some are our equals, and others again rise far above us in goodness and power. Some belong to our scheme of evolution—that is to say, they either have been or will be men like ourselves; others are evolving on entirely distinct lines of their own. (See the diagram of “The Evolution of Life” in The Hidden Side of Things, p. 86.)

—Cách sắp xếp thuận tiện nhất là chia các thực thể không thuộc nhân loại thành bốn loại. Trong trường hợp này, mỗi loại không phải chỉ là một nhóm nhỏ như ở phần trước, mà là cả một giới to lớn trong thiên nhiên, giống như ở cõi trần ta có giới động vật hoặc giới thực vật. Một số loại có sự tiến hóa thấp kém hơn con người, một số ngang hàng, và một số cao hơn con người rất nhiều về đức tính cũng như về năng lực. Vài loài có cùng đường tiến hóa với nhân loại, có nghĩa là chúng đã hoặc sẽ trở thành con người; vài loại tiến hóa theo đường hướng hoàn toàn khác biệt với đường tiến hóa của ta. (xin xem sơ đồ sự tiến hóa trong quyển “Khía Cạnh Ẩn Khuất của Sự Vật” (The Hidden Side of Things).

Before proceeding to consider them it is necessary in order to avoid the charge of incompleteness, to mention that in this branch of the subject two reservations have been made. First, no reference is made to the occasional appearances of high Adepts from other planets of the solar system and of even more august Visitors from a still greater distance, since such matters cannot fitly be described in an essay for general reading; and besides it is practically inconceivable, though theoretically possible, that such glorified Beings should ever need to manifest themselves on a plane so low as the astral. If for [90] any reason they should wish to do so, the body appropriate to the plane would be temporarily created out of astral matter belonging to this planet, as in the case of the Nirmanakaya.

Trước khi tiến hành xem xét về họ, để tránh bị cho là thiếu sót, cần thiết phải đề cập rằng trong nhánh này của đề tài, hai ngoại lệ đã được đưa ra. Thứ nhất, không có tham chiếu nào đến các lần xuất hiện thỉnh thoảng của các Chân Sư cao cấp từ các hành tinh khác trong hệ mặt trời, và thậm chí cả những vị Khách tôn quý hơn từ những khoảng cách xa hơn nữa, vì những vấn đề như vậy không phù hợp để mô tả trong một tiểu luận dành cho người đọc phổ thông; thêm vào đó, mặc dù về mặt lý thuyết có thể, nhưng thực tế gần như không thể tưởng tượng được rằng những Đấng tôn vinh như vậy cần phải hiện hình trên một cõi thấp đến mức cõi cảm dục. Nếu vì bất kỳ lý do nào mà các Ngài muốn làm điều đó, thể phù hợp với cõi này sẽ được tạo ra tạm thời từ vật chất cảm dục thuộc về hành tinh này, như trong trường hợp của các vị Nirmanakaya.

Secondly, quite outside of and entirely unconnected with the four classes into which we are dividing this section, there are two other great evolutions which at present share the use of this planet with humanity; but about them it is forbidden to give any particulars at this stage of the proceedings, as it is not apparently intended under ordinary circumstances either that they should be conscious of man’s existence or man of theirs. If we ever do come into contact with them it will most probably be on the purely physical plane, for in any case their connection with our astral plane is of the slightest since the only possibility of their appearance there depends upon an extremely improbable accident in an act of ceremonial magic, which fortunately only a few of the most advanced sorcerers know how to perform. Nevertheless, that improbable accident has happened at least once, and may happen again, so that but for the prohibition above mentioned it would have been necessary to include them in our list. [91]

Thứ hai, hoàn toàn bên ngoài và không liên quan gì đến bốn nhóm mà chúng ta đang phân chia trong phần này, có hai chu kỳ tiến hóa lớn khác hiện đang cùng chia sẻ việc sử dụng hành tinh này với nhân loại; nhưng về họ, hiện tại bị cấm không được cung cấp bất kỳ chi tiết nào, vì dường như trong hoàn cảnh bình thường, cả họ lẫn loài người đều không được phép có ý thức về sự tồn tại của nhau. Nếu chúng ta có tiếp xúc với họ, khả năng cao nhất có lẽ sẽ là trên cõi thuần vật lý, vì trong mọi trường hợp, sự liên kết của họ với cõi cảm dục của chúng ta là rất ít, bởi khả năng duy nhất cho sự xuất hiện của họ tại đó phụ thuộc vào một tai nạn cực kỳ hiếm có trong một hành động huyền thuật nghi lễ, mà may thay chỉ một số ít pháp sư tiên tiến nhất biết cách thực hiện. Dẫu vậy, tai nạn hiếm có đó đã từng xảy ra ít nhất một lần và có thể xảy ra lần nữa, nên nếu không có sự cấm đoán đã đề cập, sẽ là cần thiết để bao gồm họ trong danh sách của chúng ta.

The Elemental Essence belonging to our own evolution - Loài tinh hoa chất thuộc đường tiến hóa của chúng ta..

As the name “elementary” has been given indiscriminately by various writers to any or all of man’s possible post-mortem conditions, so this word “elemental” has been used at different times to mean any or all non-human spirits, from the most god-like of the Devas down through every variety of nature-spirit to the formless essence which pervades the kingdoms lying behind the mineral, until after reading several books the student becomes absolutely bewildered by the contradictory statements made on the subject. For the purposes of this treatise let it be understood that elemental essence is merely a name applied during certain stages of its evolution to monadic essence, which in its turn may be defined as the outpouring of Spirit or Divine Force into matter.

Vì từ ngữ “âm ma” (elementary) đã được nhiều tác giả dùng để chỉ mọi trạng thái của con người sau khi chết, nên từ ngữ “tinh linh” (elemental) được sử dụng trong nhiều trường hợp để chỉ những thực thể không thuộc nhân loại, từ những vị cao cả như Đại Thiên Thần xuống các tinh linh thiên nhiên (nature spirit), đến những loài tinh hoa chất không hình thể thâm nhập vào giới kim thạch. Sau khi đọc qua vài quyển sách, độc giả có thể hoàn toàn bị lạc lối do sự trình bày mâu thuẫn của các danh từ ấy. Trong quyển sách này, chúng ta nên hiểu từ ngữ “tinh hoa chất” (elemental essence) chỉ là tên gọi cho một vài giai đoạn tiến hóa đến “tinh chất chân thần” (monadic essence), mà ta có thể định nghĩa “tinh chất chân thần” là sự tuôn tràn của tinh thần, hay năng lực thiêng liêng vào vật chất.

We are all familiar with the idea that before this outpouring arrives at the stage of individualization at which it forms the causal body of man, it has passed through and ensouled in turn six lower phases of evolution—the animal, vegetable, mineral, and three elemental kingdoms. When energizing through those respective stages it has sometimes been called the animal, vegetable, or mineral [92] monad—though this term is distinctly misleading, since long before it arrives at any of these kingdoms it has become not one, but many monads. The name was, however, adopted to convey the idea that, though differentiation in the monadic essence had already long ago set in, it had not yet been carried to the extent of individualization.

Chúng ta đã quen với ý niệm là trước khi luồng năng lực thiêng liêng ấy đến giai đoạn cá nhân hóa để tạo thành “nhân thể” (causal body) của con người, nó phải trải qua và cung cấp sinh khí cho sáu giai đoạn tiến hóa thấp: cầm thú, thảo mộc, kim thạch và ba loài tinh hoa chất. Khi nó truyền sinh lực cho những giai đoạn thấp này, đôi lúc nó còn được gọi là chân thần (monad) động vật, thực vật hay kim thạch. Từ ngữ này rất dễ gây nhầm lẫn, vì rất lâu trước khi tiến đến các giai đoạn ấy nó đã trở thành nhiều chân thần, chớ không phải một. Tuy nhiên từ ngữ này đã được sử dụng để diễn tả ý tưởng là: dù sự phân chia trong tinh chất chân thần đã bắt đầu từ lâu, nhưng nó vẫn chưa phân biệt ngã tính.

When this monadic essence is energizing through the three great elemental kingdoms which precede the mineral, it is called by the name of “elemental essence.” Before, however, its nature and the manner in which it manifests can be understood, the method in which spirit enfolds itself in its descent into matter must be realized.

Trước khi tiến đến loài kim thạch, tinh chất chân thần đi xuyên qua ba loài tinh linh và được truyền thêm năng lượng, khi đó nó được gọi là “tinh hoa chất” (elemental essence). Muốn hiểu bản chất và phương cách nó biểu lộ, ta cần nhận biết cách mà tinh thần tự bao bọc trên đường đi vào vật chất.

Be it remembered, then, that when spirit resting on any plane (it matters not which—let us call it plane No. 1) wills to descend to the plane next below (let us call that plane No. 2) it must enfold itself in the matter of that plane—that is to say, it must draw round itself a veil of the matter of plane No. 2. Similarly when it continues its descent to plane No. 3, it must draw round itself the matter of that plane, and we shall then have, say, an atom whose body or outer covering consists of the matter of plane No. 3. The force energizing in it—its [93] soul, so to speak—will however not be spirit in the condition in which it was on plane No. 1, but will be that divine force plus the veil of the matter of plane No. 2. When a still further descent is made to plane No. 4, the atom becomes still more complex, for it will then have a body of No. 4 matter, ensouled by spirit already twice veiled—in the matter of planes 2 and 3. It will be seen that, since this process repeats itself for every sub-plane of each plane of the solar system, by the time the original force reaches our physical level it is so thoroughly veiled that it is small wonder men often fail to recognize it as spirit at all.

Khi tinh thần đang ở một cõi (bất kỳ là cõi nào, hãy gọi là cõi số 1), muốn đi xuống cõi thấp hơn kế cận (hãy gọi là cõi số 2), thì nó phải tự bao bọc bằng chất liệu của cõi số 2. Cũng vậy, khi nó tiếp tục đi xuống cõi số 3, nó phải thu hút chất liệu của cõi số 3 để tạo thành nguyên tử thân thể của nó, hay lớp bao bọc quanh nó. Ở giai đoạn này, phần sinh lực bên trong, gọi tổng quát là linh hồn, không phải là phần tinh thần trong tình trạng ở cõi số 1, mà nó là lực thiêng liêng cộng thêm lớp màn vật chất của cõi số 2. Khi tiếp tục xuống cõi số 4, thì nguyên tử của nó càng trở nên phức tạp hơn, vì nó có một thân thể thuộc chất liệu cõi số 4, được làm sinh động bởi phần tinh thần đã được bao bọc bằng hai lớp màng bằng chất liệu của cõi số 2 và 3. Tiến trình này được lặp lại đối với mỗi cảnh của các cõi trong thái dương hệ, cho đến lúc lực nguyên thủy xuống đến cõi vật chất, thì nó được bao bọc kín đến nỗi con người không còn nhận ra nó là tinh thần nữa.

Suppose that the monadic essence has carried on this process of veiling itself down to the atomic level of the mental plane, and that, instead of descending through the various subdivisions of that plane, it plunges down directly into the astral plane, ensouling, or aggregating round it a body of atomic astral matter; such a combination would be the elemental essence of the astral plane, belonging to the third of the great elemental kingdoms—that immediately preceding the mineral. In the course of its 2,401 differentiations on the astral plane it draws to itself many and various combinations of [94] the matter of its several sub-divisions; but these are only temporary, and it still remains essentially one kingdom, whose characteristic is monadic essence involved down to the atomic level of the mental plane only, but manifesting through the atomic matter of the astral plane.

Theo tiến trình tự bao bọc này, giả sử tinh chất chân thần đã đi xuống đến cảnh thứ nhất cõi thượng giới (tức mức độ nguyên tử cõi thượng giới), thay vì từ đó nó đi xuống từng cảnh của cõi thượng giới (tức cảnh thứ 2, thứ 3…đến thứ 7), nó lại lao trực tiếp xuống cõi trung giới. Nơi đây nó thu nạp chung quanh nó một thể nguyên tử chất liệu cõi trung giới, mà nó là sự sống sinh động ở bên trong. Sự phối hợp này là tinh hoa chất của cõi trung giới, nó thuộc loại thứ ba trong ba loài tinh hoa chất, nếu xếp theo thứ tự thì vị trí của loài tinh hoa chất thứ ba ở ngay trước loài kim thạch. Trong tiến trình phân biệt 2,401 lần của nó ở cõi trung giới, nó thu nạp vào nhiều hợp chất khác nhau từ một số cảnh của cõi này. Nhưng những hợp chất này chỉ tạm thời, và chủ yếu là nó vẫn duy trì cùng một loại, có đặc tính là tinh chất chân thần liên kết với mức độ nguyên tử (cảnh số 1) cõi thượng giới, nhưng biểu hiện qua nguyên tử chất liệu cõi trung giới.

The two higher elemental kingdoms exist and function respectively upon the higher and the lower levels of the mental plane; but we are not at the moment concerned with them.

Hai loài tinh hoa chất cao hơn chỉ hiện tồn và hoạt động ở những cảnh cao và thấp cõi thượng giới, nhưng ta không nghiên cứu hai loài này nơi đây.

To speak, as we so often do, of an elemental in connection with the group we are now considering is somewhat misleading, for strictly speaking there is no such thing. What we find is a vast store of elemental essence, wonderfully sensitive to the most fleeting human thought, responding with inconceivable delicacy in an infinitesimal fraction of a second to a vibration set up in it even by an entirely unconscious exercise of human will or desire.

Ta nhận thấy có một kho vô tận những tinh hoa chất, chứ không phải “một” tinh hoa chất như vài tác giả diễn tả. Chúng vô cùng nhạy cảm đối với mọi thay đổi của tư tưởng con người, chúng đáp ứng một cách rất tinh vi, nhanh chóng từng sát-na [27], đối với một rung động phát ra từ ý muốn hoặc dục vọng của con người, dù ý muốn hay dục vọng này chỉ xảy ra trong vô thức.

But the moment that by the influence of such thought or exercise of will it is moulded into a living force—into something that may correctly be described as an elemental—it at once ceases to belong to the category we are discussing, and becomes a member of the artificial class. Even then [95] its separate existence is usually of the most evanescent character, and as soon as its impulse has worked itself out it sinks back into the undifferentiated mass of that particular subdivision of elemental essence from which it came.

Khi chịu ảnh hưởng của tư tưởng hay ý muốn phát ra, tinh hoa chất sẽ được đúc khuôn thành một lực sống động, mà đôi khi nó được mô tả như một tinh linh, khi ấy nó không còn thuộc vào loại mà chúng ta đang đề cập nơi đây, mà thuộc vào nhóm tinh linh nhân tạo. Sự hiện tồn riêng rẽ của tinh linh nhân tạo thường không bền, khi xung động đã tạo nên nó chấm dứt nó trở vào trong khối chưa phân hóa của loại tinh hoa chất đặc biệt mà từ đó nó xuất ra.

It would be tedious to attempt to catalogue these subdivisions, and indeed even if a list of them were made it would be unintelligible except to the practical student who can call them up before him and compare them. Some idea of the leading lines of classification can, however, be grasped without much trouble, and may prove of interest.

Phân loại các loài tinh hoa chất là công việc rất nhàm chán, nếu liệt kê ra cũng rất khó hiểu, ngoại trừ người chuyên nghiên cứu về chúng, có thể gọi chúng hiện ra trước mặt để so sánh. Tuy nhiên muốn hiểu biết một vài loại chính cũng không khó lắm, và điều này rất hữu ích.

First comes the broad division which has given the elementals their name—the classification according to the kind of matter which they inhabit. Here, as usual, the septenary character of our evolution shows itself, for there are seven such chief groups, related respectively to the seven states of physical matter—to “earth, water, air, and fire,” or to translate from mediæval symbolism to modern accuracy of expression, to the solid, the liquid, the gaseous, and the four etheric conditions.

Trước hết là cách phân loại tổng quát tùy theo loại chất liệu mà loài tinh hoa chất cư ngụ. Theo đặc tính “thất phân” của sự tiến hóa, chúng được chia thành bảy nhóm chính, liên hệ đến bảy trạng thái của vật chất: đất, nước, không khí, và lửa; chuyển dịch từ biểu tượng thời trung cổ sang từ ngữ hiện đại là: chất đặc, chất lỏng, chất hơi, và 4 trạng thái của chất dĩ thái.

It has long been the custom to pity and despise the ignorance of the alchemists of the middle ages, because they gave the title of “elements” to [96] substances which modern chemistry has discovered to be compounds; but in speaking of them thus slightingly we have done them great injustice, for their knowledge on this subject was really wider, not narrower, than ours. They may or may not have catalogued all the eighty or ninety substances which we now call elements; but they certainly did not apply that name to them, for their occult studies had taught them that in that sense of the word there was but one element, of which these and all other forms of matter were but modifications—a truth which some of the greatest chemists of the present day are just beginning to suspect.

Từ lâu, chúng ta có thói quen thương hại lẫn khinh thường sự thiếu hiểu biết của các nhà luyện kim thời trung cổ, vì họ gọi là “nguyên tố” những chất mà các nhà hóa học hiện đại đã khám phá ra là những hợp chất. Phê bình như thế là bất công quá đáng, vì kiến thức của họ về vấn đề ấy rộng rãi hơn, chớ không hạn hẹp hơn chúng ta. Có thể họ có hoặc không có bảng danh mục của tám hay chín mươi chất mà chúng ta gọi là những nguyên tố, nhưng chắc rằng họ không dùng cùng một tên gọi như chúng ta hiện nay, vì khoa huyền bí học đã dạy họ: theo một ý nghĩa thì chỉ có Một “nguyên chất”, từ đó biến thể ra tất cả mọi hình thức vật chất. Sự thật này đã được một số nhà hóa học nổi tiếng hiện nay bắt đầu nghĩ đến.

The fact is that in this particular case our despised forefathers’ analysis went several steps deeper than our own. They understood and were able to observe the ether, which modern science can only postulate as a necessity for its theories; they were aware that it consists of physical matter in four entirely distinct states above the gaseous—a fact which has not yet been re-discovered. They knew that all physical objects consist of matter in one or other of these seven states, and that into the composition of every organic body all seven enter in a greater or lesser degree; hence all their talk of [97] fiery and watery humours, or “elements,” which seems so grotesque to us. It is obvious that they used the latter word as a synonym for “constituent parts,” without in the least degree intending it to connote the idea of substances which could not be further reduced. They knew also that each of these orders of matter serves as a basis of manifestation for a great class of evolving monadic essence, and so they christened the essence “elemental.”

Thực tế là, trong trường hợp cụ thể này, các bậc tổ tiên bị coi thường của chúng ta đã tiến sâu hơn vài bước trong việc phân tích so với chúng ta. Họ hiểu và có thể quan sát được dĩ thái, thứ mà khoa học hiện đại chỉ có thể giả định là cần thiết cho các lý thuyết của mình; họ biết rằng dĩ thái bao gồm vật chất vật lý ở bốn trạng thái hoàn toàn khác biệt so với khí—a fact that has not yet been re-discovered. Họ biết rằng mọi vật thể vật lý đều bao gồm vật chất ở một trong bảy trạng thái này, và trong cấu tạo của mọi cơ thể hữu cơ, tất cả bảy trạng thái này đều tham gia với mức độ lớn nhỏ khác nhau; do đó, những điều họ nói về các “dịch chất” có tính lửa hay nước, hoặc “nguyên tố,” dường như rất kỳ quặc đối với chúng ta. Rõ ràng là họ đã dùng từ “nguyên tố” này như một từ đồng nghĩa với “các thành phần cấu tạo,” mà không hề có ý nghĩa là những chất không thể phân tách thêm nữa. Họ cũng biết rằng mỗi loại vật chất này là cơ sở cho sự biểu hiện của một lớp lớn các tinh hoa chân thần đang tiến hóa, vì vậy họ gọi tinh hoa này là “nguyên tố.”

What we have to try to realize, then, is that in every particle of solid matter, so long as it remains in that condition, there resides, to use the picturesque phraseology of mediæval students, an earth elemental—that is, a certain amount of the living elemental essence appropriate to it, while equally in every particle of matter in the liquid, gaseous, or etheric states, the water, air, and fire “elementals” respectively inhere. It will be observed that this first broad division of the third of the elemental kingdoms is, so to speak, horizontal—that is to say, its respective classes stand in the relation of steps, each somewhat less material than that below it, which ascends into it by almost imperceptible degrees; and it is easy to understand how each of these classes may again he divided horizontally [98] into seven, since there are obviously many degrees of density among solids, liquids, and gases.

Điều chúng ta cần cố gắng nhận thức là, trong mọi hạt vật chất rắn, chừng nào nó còn ở trạng thái đó, thì có tồn tại, theo cách diễn đạt đầy hình ảnh của các học giả trung cổ, một “nguyên tố đất”—nghĩa là, một lượng nhất định của tinh hoa nguyên tố sống phù hợp với nó, và tương tự trong mọi hạt vật chất ở các trạng thái lỏng, khí, hoặc dĩ thái, có lần lượt tồn tại các “nguyên tố” nước, không khí và lửa. Chúng ta có thể thấy rằng sự phân chia tổng quát đầu tiên của giới nguyên tố thứ ba này, có thể nói là “theo chiều ngang”—nghĩa là, các loại tương ứng của nó đứng ở mối quan hệ như các bậc thang, mỗi bậc ít mang tính vật chất hơn so với bậc bên dưới, và bậc bên dưới dần dần hòa vào nó gần như không thể nhận thấy; và thật dễ dàng hiểu được cách mỗi loại này có thể lại được chia nhỏ “theo chiều ngang” thành bảy, vì rõ ràng có nhiều cấp độ mật độ khác nhau giữa các trạng thái rắn, lỏng và khí.

There is, however, what may be described as a perpendicular division also, and this is somewhat more difficult to comprehend, especially as great reserve is always maintained by occultists as to some of the facts which would be involved in a fuller explanation of it. Perhaps the clearest way to put what is known on the subject will be to state that in each of the horizontal classes and subclasses will be found seven perfectly distinct types of elemental, the difference between them being no longer a question of degree of materiality, but rather of character and affinities.

Tuy nhiên, có một sự phân chia mà có thể được mô tả là theo chiều dọc, và điều này khó hiểu hơn đôi chút, đặc biệt khi các nhà huyền bí luôn giữ kín về một số sự kiện sẽ liên quan nếu giải thích đầy đủ về nó. Có lẽ cách rõ ràng nhất để trình bày những gì đã biết về chủ đề này là nói rằng trong mỗi lớp và lớp phụ theo chiều ngang sẽ tồn tại bảy loại nguyên tố hoàn toàn khác biệt, sự khác biệt giữa chúng không còn là vấn đề về mức độ vật chất, mà là về đặc tính và sự tương hợp.

Each of these types so reacts upon the others that, though it is impossible for them ever to interchange their essence, in each of them seven sub-types will be found to exist, distinguished by the colouring given to their original peculiarity by the influence which sways them most readily. It will be seen that this perpendicular division and subdivision differs entirely in its character from the horizontal, in that it is far more permanent and fundamental; for while it is the evolution of the elemental kingdom to pass with almost infinite slowness through [99] its various horizontal classes and sub-classes in succession, and thus to belong to them all in turn, this is not so with regard to the types and sub-types, which remain unchangeable all the way through.

Mỗi loại này tương tác lên các loại khác theo cách mà, dù không thể thay đổi bản chất của nhau, trong mỗi loại sẽ thấy có bảy loại phụ, được phân biệt bởi sắc thái mà đặc tính ban đầu của chúng nhận được từ ảnh hưởng tác động mạnh nhất lên chúng. Sẽ thấy rằng sự phân chia và phân chia phụ theo chiều dọc này hoàn toàn khác về bản chất so với chiều ngang, bởi vì nó bền vững và căn bản hơn nhiều; bởi trong khi giới nguyên tố tiến hóa với tốc độ chậm gần như vô tận qua các lớp và lớp phụ theo chiều ngang, và như vậy lần lượt thuộc về tất cả các lớp này, thì điều này không áp dụng với các loại và loại phụ, vốn vẫn không thay đổi suốt quá trình.

A point of which we must never lose sight in endeavouring to understand this elemental evolution is that it is taking place on what is sometimes called the downward curve of the arc; that is to say, it is progressing towards the complete entanglement in matter which we witness in the mineral kingdom, instead of away from it, as is most other evolution of which we know anything. Thus for it progress means descent into matter instead of ascent towards higher planes; and this fact sometimes gives it a curiously inverted appearance in our eyes until we thoroughly grasp its object. Unless the student bears this constantly and clearly in mind, he will again and again find himself beset by perplexing anomalies.

Một điểm mà chúng ta không bao giờ được quên khi cố gắng hiểu sự tiến hóa của giới nguyên tố này là nó đang diễn ra trên cái mà đôi khi được gọi là đường cong đi xuống của cung; nghĩa là, nó đang tiến về phía sự vướng bận hoàn toàn vào vật chất như chúng ta thấy trong giới khoáng thạch, thay vì đi ra khỏi nó, như hầu hết các tiến hóa khác mà chúng ta biết đến. Do đó, đối với giới nguyên tố này, sự tiến bộ có nghĩa là đi sâu vào vật chất thay vì thăng lên các cõi cao hơn; và sự thật này đôi khi làm cho nó có vẻ kỳ lạ và ngược lại trong mắt chúng ta cho đến khi chúng ta thấu hiểu rõ mục đích của nó. Trừ khi học viên luôn ghi nhớ điều này một cách rõ ràng, họ sẽ liên tục gặp phải những nghịch lý khó hiểu.

In spite of these manifold subdivisions, there are certain properties which are possessed in common by all varieties of this strange living essence; but even these are so entirely different from any with which we are familiar on the physical plane that [100] it is exceedingly difficult to explain them to those who cannot themselves see them in action.

Mặc dù được phân chia thành nhiều nhóm nhỏ, nhưng vẫn còn một vài đặc tính chung cho tất cả các loài tinh hoa chất khác nhau. Vì các đặc tính này hoàn toàn khác với những gì chúng ta đã quen thuộc ở cõi trần, nên rất khó khăn trong việc mô tả chúng cho những người không thể tự quan sát những sinh hoạt của chúng.

Let it be premised, then, that when any portion of this essence remains for a few moments entirely unaffected by any outside influence (a condition, by the way, which is hardly ever realized) it is absolutely without any definite form of its own, though its motion is still rapid and ceaseless; but on the slightest disturbance, set up perhaps by some passing thought-current, it flashes into a bewildering confusion of restless, ever-changing shapes, which form, rush about, and disappear with the rapidity of the bubbles on the surface of boiling water.

Hãy giả thử khi một phần nào đó của tinh hoa chất, trong một lúc hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì từ bên ngoài (điều kiện này rất khó thực hiện), nó không có hình dạng riêng biệt, dù nó vẫn di chuyển nhanh chóng không ngừng nghỉ. Nhưng chỉ một xáo động nhẹ, như khi có một dòng tư tưởng thoáng qua, nó tức khắc bị xáo trộn, thay đổi hình thể, khi ẩn khi hiện nhanh chóng như những bọt trên mặt nước đang sôi.

These evanescent shapes, though generally those of living creatures of some sort, human or otherwise, no more express the existence of separate entities in the essence than do the equally changeful and multiform waves raised in a few moments on a previously smooth lake by a sudden squall. They seem to be mere reflections from the vast storehouse of the astral plane, yet they have usually a certain appropriateness to the character of the thought­stream which calls them into existence, though nearly always with some grotesque [101] distortion, some terrifying or unpleasant aspect about them.

Nói chung, hình thể của những sinh vật luôn biến dạng ấy, có khi hình người hoặc các loài khác, không cho thấy sự tồn tại riêng rẽ những thực thể trong tinh chất, mà giống như sự thay đổi của những lượn sóng trên mặt hồ lúc gặp cơn gió mạnh thổi qua. Hình như chúng chỉ là phản ảnh từ kho chứa vĩ đại của cõi trung giới, chúng thích ứng đối với đặc tính của dòng tư tưởng tạo ra chúng, mặc dù gần như luôn luôn có những biến dạng kỳ lạ, với những hình dáng kinh dị khó coi.

A question naturally arises in the mind here as to what intelligence it is that is exerted in the selection of an appropriate shape or its distortion when selected. We are not dealing with the more powerful and longer-lived artificial elemental created by a strong definite thought, but with the result produced by the stream of half­conscious, involuntary thoughts which the majority of mankind allow to flow idly through their brains. The intelligence, therefore, is obviously not derived from the mind of the thinker; and we certainly cannot credit the elemental essence itself, which belongs to a kingdom further from individualization even than the mineral, with any sort of awakening of the mental quality.

Một câu hỏi thường được nêu lên: cái trí khôn nào đã tác động trong sự lựa chọn một hình dạng thích hợp, hay sự biến dạng ấy? Nơi đây, ta không đề cập đến loại tinh linh nhân tạo mạnh mẽ và có đời sống lâu dài, được tạo nên bởi một tư tưởng mạnh mẽ chính xác. Ta chỉ xem xét đến kết quả được tạo nên bởi dòng ý thức mơ màng, và những tư tưởng không chủ tâm mà phần đông nhân loại để cho chúng vu vơ lướt qua trí não họ. Như thế, ta thấy rõ là trí khôn tác dụng vào chúng không đến từ cái trí của người suy tưởng, và chắc rằng chính tinh hoa chất cũng không có trí khôn đó, vì chúng thuộc về chủng loại còn lâu mới được cá tính hóa, lâu hơn cả kim thạch, do đó tính chất trí tuệ chưa được thức tỉnh.

Yet it does possess a marvellous adaptability which often seems to come near it, and it is no doubt this property that caused elementals to be described in one of our early books as “the semi-intelligent creatures of the astral light.” We shall find further evidence of this power when we come to consider the case of the artificial class. When we read of a good or evil elemental, it must always [102] be either an artificial entity or one of the many varieties of nature-spirits that is meant, for the elemental kingdoms proper do not admit of any such conceptions as good and evil.

Thế nhưng chúng có sự thích ứng tuyệt diệu, nên một trong những sách xuất bản ở buổi ban đầu đã mô tả chúng là “những sinh vật nửa tinh khôn của cõi trung giới.” Ta sẽ thấy rõ hơn về năng lực này của chúng trong đoạn nói về tinh linh nhân tạo. Khi đề cập đến một thực thể nhân tạo, hoặc một trong những loại tinh linh thiên nhiên, ta không nên gán cho chúng tính chất tốt hay xấu.

There is, however, undoubtedly a sort of bias or tendency permeating nearly all their subdivisions which operates to render them rather hostile than friendly towards man. Every neophyte knows this, for in most cases his very first impression of the astral plane is of the presence all around him of vast hosts of protean spectres who advance upon him in threatening guise, but always retire or dissipate harmlessly if boldly faced. It is to this curious tendency that the distorted or unpleasant aspect above mentioned must be referred, and mediæval writers tell us that man has only himself to thank for its existence. In the golden age before this sordid present, men were on the whole less selfish and more spiritual, and then the “elementals” were friendly, though now they are so no longer because of man’s indifference to, and want of sympathy with, other living beings.

Tuy nhiên, có khuynh hướng và thành kiến cho rằng hầu hết những chi nhánh tinh linh có vẻ thù địch hơn là thân thiện với loài người. Người mới đến cõi trung giới thường có ấn tượng đầu tiên là bị bao vây bởi nhiều ma quái có hình dạng thay đổi, tiến đến gần họ với vẻ hăm dọa, nhưng chúng luôn luôn rút lui hay biến mất mà không gây hại gì, nếu người ấy đối mặt với chúng bằng vẻ tự tin. Những tác giả thời trung cổ cho rằng con người nên cám ơn sự hiện diện của các tinh linh. Vào thời hoàng kim, trước thời mạt pháp hiện nay, nói chung con người ít vị kỷ và hướng về tâm linh nhiều hơn, khi ấy các tinh linh rất thân thiện với con người. Hiện nay không như vậy nữa, vì con người không còn để ý đến chúng, và cũng không có thiện cảm với chúng, cũng như với những sinh vật khác.

From the wonderful delicacy with which the essence responds to the faintest action of our minds or desires, it seems clear that this elemental [103] kingdom as a whole is much what the collective thought of humanity makes it. Any one who will think for a moment how far from elevating the action of that collective thought is likely to be at the present time, will see little reason to wonder that we reap as we have sown, and that this essence, which has no power of perception, but only blindly receives and reflects what is projected upon it, should usually exhibit unfriendly characteristics.

Tinh hoa chất đáp ứng một cách rất tinh tế và tuyệt diệu đối với mọi phát xuất dù yếu ớt của tư tưởng hoặc ham muốn, như thế, một cách tổng quát ta thấy phần nhiều loài tinh linh do tư tưởng tập thể của con người tạo nên. Suy nghĩ trong chốc lát, ta sẽ thấy ảnh hưởng lớn lao của tư tưởng tập thể trong thời hiện tại, và sẽ không ngạc nhiên với tư tưởng “con người sẽ gặt hái những gì họ đã gieo”. Tinh hoa chất không có năng lực nhận thức, chúng chỉ mù quáng nhận và phản ảnh lại những gì đã đưa đến chúng, cho nên chúng thường phô bày những đặc tính bất thiện cảm.

There can be no doubt that in later races or rounds, when mankind as a whole has evolved to a much higher level, the elemental kingdoms will be influenced by the changed thought which continually impinges upon them, and we shall find them no longer hostile, but docile and helpful as we are told that the animal kingdom will also be. Whatever may have happened in the past, it is evident that we may look forward to a passable “golden age” in the future, if we can arrive at a time when the majority of men will be noble and unselfish, and the forces of nature will co-operate willingly with them.

Chắc chắn ở những giống dân hoặc cuộc tuần hoàn kế tiếp, con người sẽ tiến hóa cao hơn, khi ấy tư tưởng tốt lành của đa số nhân loại sẽ liên tục ảnh hưởng lên loài tinh linh, làm chúng không còn thù địch với nhân loại nữa, trái lại chúng thuần thục và sẵn sàng trợ giúp con người; cũng vậy, các loài thú vật sẽ hợp tác và trợ giúp con người nhiều hơn. Ta hãy để qua một bên những gì xảy ra trong quá khứ, và hướng nhìn về một thời đại hoàng kim tương lai, lúc mà phần đông nhân loại trở nên cao thượng, không ích kỷ, thì những năng lực thiên nhiên sẽ hợp tác đầy thiện chí với con người.

The fact that we are so readily able to influence the elemental kingdoms shows us that we have a responsibility towards them for the manner in [104] which we use that influence. Indeed, when we consider the conditions under which they exist, it is obvious that the effect produced upon them by the thoughts and desires of all intelligent creatures inhabiting the same world with them must have been calculated upon in the scheme of our system as a factor in their evolution.

Vì ta có thể ảnh hưởng đến loài tinh linh, nên ta phải có trách nhiệm đối với chúng, cũng như đối với cách thức mà ta sử dụng ảnh hưởng của chúng. Khi xét đến những điều kiện hiện tồn của các tinh linh, ta thấy rõ chúng bị ảnh hưởng bởi mọi tác động thuộc tư tưởng và dục vọng của tất cả những sinh vật có lý trí đang cư trú trong cùng hệ thống thế giới này, tác động đó là một yếu tố trong sự tiến hóa của chúng.

In spite of the consistent teaching of all the great religions, the mass of mankind is still utterly regardless of its responsibility on the thought-plane; if a man can flatter himself that his words and deeds have been harmless to others, he believes that he has done all that can be required of him, quite oblivious of the fact that he may for years have been exercising a narrowing and debasing influence on the minds of those about him, and filling surrounding space with the unlovely creations of a sordid mind. A still more serious aspect of this question will come before us when we discuss the artificial elemental; but in regard to the essence it will be sufficient to state that we undoubtedly have the power to accelerate or delay its evolution according to the use which, consciously or unconsciously, we are continually making of it. [105]

Bất chấp giáo huấn của các tôn giáo lớn, phần đông nhân loại vẫn hoàn toàn không ý thức gì đến trách nhiệm của họ trên cõi tư tưởng. Người ta thường tự hào về lời nói và hành động của mình không gây hại gì cho người khác, họ tin rằng họ đã làm đúng tất cả những gì mà họ phải làm. Nhưng trên phương diện tư tưởng, trong nhiều năm họ đã gieo rắc ảnh hưởng hẹp hòi, xấu xa đến những người chung quanh, và lấp đầy khoảng không gian chung quanh bằng những sáng tạo bất thiện gây nên bởi những ý tưởng đê hèn. Còn một khía cạnh quan trọng khác của vấn đề này sẽ được thảo luận khi ta bàn về loại tinh linh nhân tạo. Đối với loài tinh hoa chất, ta đã biết rõ rằng ta có đủ năng lực thúc đẩy hoặc làm trì trệ sự tiến hóa của chúng, tùy theo cách mà ta sử dụng tư tưởng, hữu thức hay vô thức, trong cuộc sống hàng ngày.

It would be hopeless within the limits of such a treatise as this to attempt to explain the different uses to which the forces inherent in the manifold varieties of this elemental essence can he put by one who has been trained in their management. The majority of magical ceremonies depend almost entirely upon its manipulation, either directly by the will of the magician, or by some more definite astral entity evoked by him for that purpose.

Khuôn khổ quyển sách nhỏ này không thể giải thích đầy đủ mọi phương cách sử dụng các năng lực khác nhau của loài tinh hoa chất, điều này chỉ có thể thực hiện được bởi người đã được huấn luyện chuyên nghiên cứu về chúng. Phần lớn các buổi tế lễ ma thuật tùy thuộc vào sự điều khiển các tinh linh, hoặc trực tiếp do ý chí của thuật sĩ, hoặc gián tiếp bởi vài thực thể cõi trung giới được gọi đến để sai khiến.

By its means nearly all the physical phenomena of the séance-room are produced, and it is also the agent in most cases of stone-throwing or bell-ringing in haunted houses, such results as these latter being brought about either by blundering efforts to attract attention made by some earth-bound human entity, or by the mere mischievous pranks of some of the minor nature-spirits belonging to our third class. But we must never think of the “elemental” as itself a prime mover; it is simply a latent force, which needs an external power to set it in motion.

Hầu hết các hiện tượng vật chất trong những buổi cầu hồn đều do các tinh linh gây ra, trong nhiều trường hợp, chúng cũng là tác nhân chính gây ra các hiện tượng ném đá, rung chuông ở những ngôi nhà bị ma ám. Những hiện tượng này có thể do cố gắng vụng về của vong linh còn quyến luyến cõi trần để gợi sự chú ý, hoặc cũng có thể do những trò đùa tinh nghịch của những tinh linh thiên nhiên thuộc hạng thứ ba. Nhưng đừng nghĩ các tinh linh có thể tự chủ động mọi việc, chúng chỉ là năng lực tiềm ẩn, cần có một động lực từ bên ngoài làm cho chúng hoạt động.

Although all classes of the essence have the power of reflecting astral images as described above, there are varieties which receive certain impressions much more readily than others—which have, [106] as it were, favourite forms of their own into which upon disturbance they would naturally flow unless absolutely forced into some other, and such shapes tend to be a trifle less evanescent than usual.

Dù mọi loài tinh hoa chất đều có năng lực phản ảnh những hình ảnh cõi trung giới như đã mô tả, nhưng sự bén nhạy của loại này khác với loại kia trong việc tiếp nhận những ấn tượng. Sự kiện này có thể do bản chất tự nhiên của chúng thích hợp với một loại hình thể nào đó, khi bị kích thích đúng tần số thích hợp với chúng, thì hình thể chúng tạo ra có huynh hướng tồn tại lâu hơn bình thường.

Before leaving this branch of the subject it may be well to warn the student against the confusion of thought into which some have fallen through failing to distinguish this elemental essence which we have been considering from the monadic essence manifesting through the mineral kingdom. Monadic essence at one stage of its evolution towards humanity manifests through the elemental kingdom, while at a later stage it manifests through the mineral kingdom; but the fact that two bodies of monadic essence at these different stages are in manifestation at the same moment, and that one of these manifestations (the earth elemental) occupies the same space as and inhabits the other (say a rock), in no way interferes with the evolution either of one or the other, nor does it imply any relation between the bodies of monadic essence lying within both.

Trước khi rời khỏi nhánh đề tài này, có lẽ tốt nhất nên cảnh báo học viên về sự nhầm lẫn trong tư tưởng mà một số người đã mắc phải do không phân biệt được giữa bản chất hành khí mà chúng ta đã xem xét với bản chất chân thần đang biểu lộ qua giới khoáng chất. Bản chất chân thần, ở một giai đoạn trong tiến hóa hướng tới nhân loại, biểu lộ qua giới hành khí, trong khi ở một giai đoạn sau, nó biểu lộ qua giới khoáng chất; nhưng thực tế rằng hai nhóm bản chất chân thần ở các giai đoạn khác nhau này đang biểu lộ cùng một lúc, và một trong những biểu lộ này (hành khí của đất) chiếm cùng không gian và cư ngụ trong biểu lộ khác (như một tảng đá chẳng hạn), không hề ảnh hưởng đến tiến hóa của một bên hay bên kia, và cũng không ngụ ý bất kỳ mối liên hệ nào giữa các nhóm bản chất chân thần hiện diện trong cả hai.

The Astral Bodies of Animals - Thể cảm dục của loài thú.

This is an extremely large class, yet it does not occupy a particularly important position on the astral plane, [107] since its members usually stay there but a short time. The vast majority of animals have not as yet acquired permanent individualization, and when one of them dies the monadic essence which has been manifesting through it flows back again into the particular stratum whence it came, bearing with it such advancement or experience as has been attained during that life. It is not, however, able to do this quite immediately; the astral body of the animal rearranges itself just as in man’s case, and the animal has a real existence on the astral plane, the length of which, though never great, varies according to the intelligence which it has developed. In most cases it does not seem to be more than dreamily conscious, but appears perfectly happy.

Đây là một hạng rất rộng lớn, nhưng không chiếm một vị trí đặc biệt nào ở cõi trung giới, vì các phần tử của nó thường chỉ lưu lại cõi này một thời gian ngắn. Phần lớn thú vật chưa đến trình độ cá tính hóa, khi chết, tinh chất chân thần biểu hiện trong nó lại trở về tầng lớp xuất xứ, và đem theo một ít tiến bộ hay kinh nghiệm trong kiếp sống vừa qua. Việc trở về ấy không thể thực hiện tức khắc được, vì thể cảm dục của loài vật khi tách rời thể xác cũng tự sắp xếp lại như trường hợp con người, và loài vật thực sự có một đời sống ở cõi trung giới. Thời gian cư ngụ ở cõi trung giới, tuy ngắn ngủi, nhưng lâu hay mau còn tùy thuộc vào trí khôn mà con vật đã phát triển. Trong hầu hết mọi trường hợp, thời gian này thường không kéo dài hơn một giấc mộng có ý thức, nhưng chắc hẳn đó là giấc mộng đẹp.

The comparatively few domestic animals who have already attained individuality, and will therefore be reborn no more as animals in this world, have a much longer and much more vivid life on the astral plane than their less advanced fellows, and at the end of it sink gradually into a subjective condition, which is likely to last for a very considerable period. One interesting subdivision of this class consists of the astral bodies of those anthropoid apes [108] mentioned in The Secret Doctrine (vol. i., p. 184) who are already individualized, and will be ready to take human incarnation in the next round, or perhaps some of them even sooner.

Một số ít thú vật nhà đã đạt được cá nhân tính, sẽ không còn tái sinh vào hình hài thú vật nữa, chúng ở lại cõi trung giới lâu hơn và sinh động hơn những thú vật chưa tiến hóa, đến giai đoạn cuối ở cõi trung giới chúng chìm đắm dần vào trạng thái chủ quan, trạng thái này có thể kéo dài khá lâu. Trong “Giáo Lý Bí Truyền” của bà Blavatsky, có đề cập đến thể cảm dục của loài khỉ giống người (anthropoid apes), chúng đã được cá nhân tính hóa, sẵn sàng đầu thai vào hình thể con người ở cuộc tuần hoàn sắp tới, trong đó, có lẽ một số ít sẽ được chuyển kiếp sớm hơn.

Nature-Spirits of all Kinds - Loài tinh linh thiên nhiên.

So many and so varied are the subdivisions of this class that to do them anything like justice one would need to devote a separate treatise to this subject alone. Some characteristics, however, they all have in common, and it will be sufficient here to try to give some idea of those.

Có rất nhiều loài tinh linh thiên nhiên khác nhau, muốn nghiên cứu đầy đủ cần phải có một tác phẩm riêng dành cho đề tài này. Tuy nhiên chúng có những đặc tính chung, mà ta sẽ cố gắng trình bày nơi đây.

First we have to realize that we are here dealing with entities which differ radically from all that we have hitherto considered. Though we may rightly classify the elemental essence and the animal astral bodies as non-human, the monadic essence which ensouls them will, nevertheless, in the fullness of time, evolve to the level of manifesting itself through some future humanity comparable to our own, and if we were able to look back through countless ages on our own evolution in previous world-cycles, we should find that that which is now our casual body has passed on its upward path through similar stages.

Trước nhất, cần phải nhận thức đây là những thực thể hoàn toàn khác với những gì mà chúng ta đã nghiên cứu trước đây. Mặc dù ta đã xếp tinh hoa chất và thể cảm dục của thú vật vào mục “không thuộc nhân loại,” nhưng tinh chất chân thần sinh động trong chúng trong tương lai sẽ tiến hóa đến mức độ có thể biểu hiện qua hình thể nhân loại như chúng ta hiện nay. Nếu có thể nhìn lại quá khứ xa xăm về sự tiến hóa của chính chúng ta trong những chu kỳ tuần hoàn trước, ta sẽ thấy nhân thể chúng ta trên đường hướng thượng cũng đã trải qua những giai đoạn tương tự như các loài kể trên.

That, however, is not the case with the vast kingdom of nature-spirits; they neither have been, [109] nor ever will be, members of a humanity such as ours; their line of evolution is entirely different, and their only connection with us consists in our temporary occupancy of the same planet. Of course since we are neighbours for the time being we owe neighbourly kindness to one another when we happen to meet, but our lines of development differ so widely that each can do but little for the other.

Tuy nhiên, đó không phải là trường hợp của loài tinh linh thiên nhiên, chúng không phải và sẽ không bao giờ là thành phần của nhân loại. Chúng theo đường tiến hóa hoàn toàn khác hẳn với đường tiến hóa của con người, và chỉ liên hệ với con người do tạm thời cư trú trên cùng một hành tinh. Là láng giềng của nhau, con người có bổn phận đối xử tốt với chúng nếu có dịp gặp nhau. Vì hai đường tiến hóa rất khác biệt, nên rất khó có thể giúp ích được nhiều cho nhau.

Many writers have included these spirits among the elementals, and indeed they are the elementals (or perhaps, to speak more accurately, the animals) of a higher evolution. Though much more highly developed than our elemental essence, they have yet certain characteristics in common with it; for example, they also are divided into seven great classes, inhabiting respectively the same seven states of matter already mentioned as permeated by the corresponding varieties of the essence. Thus, to take those which are most readily comprehensible to us, there are spirits of the earth, water, air, and fire (or ether)—definite intelligent astral entities residing and functioning in each of those media.

Nhiều tác giả đã xếp loại những tinh linh thiên nhiên chung với loài tinh hoa chất, vì thực chất chúng là tinh linh (hay nói đúng hơn, là thú vật) của dòng tiến hóa cao hơn. Mặc dù chúng tiến hóa cao hơn loài tinh hoa chất thuộc đường tiến hóa của con người, chúng cũng có vài đặc tính chung với loài tinh hoa chất. Chúng cũng được chia thành bảy chủng loại lớn, cư ngụ, thẩm thấu vào trong bảy trạng thái của vật chất như đã được mô tả cho từng loại tinh hoa chất tương ứng. Để dễ hiểu hơn, ta có thể chia ra: tinh linh của đất, nước, không khí và lửa (hay dĩ thái), đó là những thực thể có trí khôn, cư ngụ và hoạt động trong những môi trường vật chất kể trên.

vì thực chất linh hay nói đúng hơn, là thú vậtcủa dòng It may be asked how it is possible for any kind of creature to inhabit the solid substance of a rock, or [110] of the crust of the earth. The answer is that since the nature-spirits are formed of astral matter, the substance of the rock is no hindrance to their motion or their vision, and furthermore physical matter in its solid state is their natural element—that to which they are accustomed and in which they feel at home. The same is true of those who live in water, air, or ether.

Một câu hỏi được nêu lên: loại sinh vật nào có thể sống trong chất đặc như tảng đá, hay trong vỏ cứng của quả đất? Câu trả lời là: vì loài tinh linh thiên nhiên được cấu tạo bằng chất liệu cõi trung giới, vật chất như đất, đá không làm ngăn trở sự di động và nhãn quan của chúng, và vật chất ở trạng thái đặc là nguyên tố tự nhiên của chúng, do đó chúng đã quen thuộc và cảm thấy như là nhà của chúng. Cũng giống như thế đối với những tinh linh sống trong nước, không khí và dĩ thái.

In mediæval literature, these earth-spirits are often called gnomes, while the water-spirits are spoken of as undines, the air-spirits as sylphs, and the ether-spirits as salamanders. In popular language they are known by many names—fairies, pixies, elves, brownies, peris, djinns, trolls, satyrs, fauns, kobolds, imps, goblins, good people, etc.—some of these titles being applied only to one variety, and others indiscriminately to all.

Trong các kinh sách thời trung cổ, những tinh linh đất còn được gọi là thổ thần (gnomes), tinh linh nước là thủy thần (undines), tinh linh không khí là không tinh (sylph), tinh linh dĩ thái hay lửa là hỏa thần (salamanders). Trong dân gian, chúng còn được biết với nhiều tên khác như: tiên nữ, chú lùn (pixies), thiện thần, tiểu quỷ, yêu tinh, thần mỏ, thần núi, thần rừng, thần ao hồ v.v…có khi nhiều tên được gọi cho cùng một loại.

Their forms are many and various, but most frequently human in shape and somewhat diminutive in size. Like almost all inhabitants of the astral plane, they are able to assume any appearance at will, but they undoubtedly have definite forms of their own, or perhaps we should rather say favourite forms, which they wear when they have no special object in taking an other. Under [111] ordinary conditions they are not visible to physical sight at all, but they have the power of making themselves so by materialization when they wish to be seen.

Chúng có nhiều hình dạng khác nhau, thường có vẻ giống con người, nhưng nhỏ bé hơn. Giống như hầu hết mọi cư dân cõi trung giới, chúng có thể thay đổi hình dạng theo ý muốn. Tuy nhiên, chúng có hình dạng xác định riêng, đó là hình dạng mà chúng ưa thích, nếu không có mục đích nào cần thay đổi hình dạng, thì chúng trở về hình dạng này. Trong tình trạng bình thường, con người không thể nhìn thấy chúng, nhưng nếu muốn, chúng có khả năng hiện hình để con người có thể thấy được.

There are an immense number of subdivisions or races among them, and individuals differ in intelligence and disposition precisely as human beings do. The great majority of them apparently prefer to avoid man altogether; his habits and emanations are distasteful to them, and the constant rush of astral currents set up by his restless, ill-regulated desires disturbs and annoys them. On the other hand, instances are not wanting in which nature­ spirits have as it were made friends with human beings and offered them such assistance as lay in their power, as in the well-known stories told of the Scotch brownies or of the fire-lighting fairies mentioned in spiritualistic literature. (See Spirit Workers in the Home Circle, by Morell Theobald.)

Có rất nhiều phân loại hay chủng loại tinh linh thiên nhiên, những cá thể trong mỗi phân loại lại khác nhau về trình độ trí khôn và phẩm chất, giống như đối với nhân loại. Phần đông chúng thích lẩn tránh con người, vì những thói quen và sự “tiết xuất” (emanations) của con người làm cho chúng khó chịu. Hơn nữa, những dòng lưu chuyển liên tục cõi trung giới mang theo những lo lắng, những ham muốn không được kiểm soát của con người làm quấy nhiễu chúng. Mặt khác, cũng có những tinh linh thiên nhiên kết bạn với con người và trợ giúp họ trong khả năng của chúng, như trong những câu chuyện về các thiện thần ở Tô Cách Lan, hay những hỏa thần được kể trong các chuyện về thuật giáng ma, thái độ thân thiện này tương đối hiếm.

nhữngcủa con người This helpful attitude, however, is comparatively rare, and in most cases when they come in contact with man they either show indifference or dislike, or else take an impish delight in deceiving him and playing childish tricks upon him. Many a story illustrative of this curious characteristic may [112] be found among the village gossip of the peasantry in almost any lonely mountainous district; and any one who has been in the habit of attending séances for physical phenomena will recollect instances of practical joking and silly though usually good-natured horse-play, which almost always indicate the presence of some of the lower orders of the nature-spirits.

Trong hầu hết các trường hợp, khi gặp con người, những tinh linh thiên nhiên tỏ ra không chú ý, không thích, hoặc lấy làm thích thú khi dùng những trò bịp bợm trẻ con để đánh lừa con người. Nhiều câu chuyện điển hình như thế được kể lại ở các làng mạc hẻo lánh hay những vùng núi non. Những người thường tham dự các buổi cầu hồn để tìm những hiện tượng lạ, có thể bị chọc phá, thường không có ác ý, điều này cho thấy có sự hiện diện của loại tinh linh thiên nhiên bậc thấp.

They are greatly assisted in their tricks by the wonderful power which they possess of casting a glamour over those who yield themselves to their influence, so that such victims for the time see and hear only what these fairies impress upon them, exactly as the mesmerized subject sees, hears, feels, and believes whatever the magnetizer wishes. The nature-spirits, however, have not the mesmerizer’s power of dominating the human will, except in the case of quite unusually weak-minded people, or of those who allow themselves to fall into such a condition of helpless terror that their will is temporarily in abeyance. They cannot go beyond deception of the senses, but of that art they are undoubted masters, and cases are not wanting in which they have cast their glamour over a considerable number of people at once. It is by [113] invoking their aid in the exercise of this peculiar power that some of the most wonderful feats of the Indian jugglers are performed—the entire audience being in fact hallucinated and made to imagine that they see and hear a whole series of events which have not really taken place at all.

Có một sức mạnh lạ lùng trợ giúp tinh linh thiên nhiên trong các trò phá phách ấy, do đó chúng có khả năng làm mê hoặc những người chịu xuôi theo ảnh hưởng của chúng. Khi ấy, nạn nhân tạm thời chỉ nghe và thấy những điều mà các tinh linh này gieo ấn tượng lên họ, giống như trường hợp một người bị thôi miên nghe, thấy, cảm giác và tin tưởng những điều mà nhà thôi miên muốn. Tuy nhiên, các tinh linh thiên nhiên không có năng lực thôi miên để khống chế ý chí con ngưòi, ngoại trừ người tâm trí quá yếu, hoặc người tự buông xuôi để rơi vào tình trạng quá sợ hãi, tạm thời mất ý chí. Chúng không có khả năng đi xa hơn là lường gạt giác quan con người. Chúng là “bậc thầy” trong nghệ thuật này, có những trường hợp chúng mê hoặc được cùng lúc một số đông người. Nhờ sự trợ giúp của chúng mà các nhà ảo thuật Ấn Độ thực hiện được những trò hết sức lạ lùng: trọn cử tọa bị mê hoặc với ảo giác, tưởng mình đã thấy và nghe hàng loạt sự việc mà thật ra chẳng có gì xảy ra.

We might almost look upon the nature-spirits as a kind of astral humanity, but for the fact that none of them—not even the highest—possesses a permanent reincarnating individuality. Apparently, therefore, one point in which their line of evolution differs from ours is that a much greater proportion of intelligence is developed before permanent individualization takes place; but of the stages through which they have passed, and those through which they have yet to pass, we can know little.

So với nhân loại ở cõi trần, ta có thể xem các tinh linh thiên nhiên như là nhân loại của cõi trung giới, tuy không có tinh linh nào—dù là bậc cao nhất—có chân ngã trường tồn. Có một điểm khác biệt giữa đường tiến hóa của chúng và của con người là trí tuệ của chúng được mở mang rất nhiều trước khi cá tính hóa. Tuy nhiên, chúng ta biết rất ít về những giai đoạn tiến hóa đã qua và sẽ đến của chúng.

The life-periods of the different subdivisions vary greatly, some being quite short, others much longer than our human life-times. We stand so entirely outside such a life as theirs that it is impossible for us to understand much about its conditions; but it appears on the whole to be a simple, joyous, irresponsible kind of existence, such as a party of happy children might lead among exceptionally favourable physical surroundings. [114]

Thời gian sống của các phân loại tinh linh thay đổi rất lớn, vài loài có đời sống rất ngắn, vài loài sống lâu hơn con người. Ta hoàn toàn đứng ngoài lề cuộc sống của chúng, cũng như chúng đứng ngoài lề đối với cuộc sống con người, vì thế ta khó có thể hiểu rõ tình trạng cuộc sống của chúng. Nói chung, cuộc sống của chúng có vẻ đơn giản, vui tươi, không có trách nhiệm, chúng giống những đứa trẻ vui đùa, hạnh phúc như sắp bước vào cuộc sống đầy tiện nghi.

Though tricky and mischievous, they are rarely malicious unless provoked by some unwarrantable intrusion or annoyance; but as a body they also partake to some extent of the universal feeling of distrust for man, and they generally seem inclined to resent somewhat the first appearance of a neophyte on the astral plane, so that he usually makes their acquaintance under some unpleasant or terrifying form. If, however, he declines to be frightened by any of their freaks, they soon accept him as a necessary evil and take no further notice of him, while some among them may even after a time become friendly and manifest pleasure on meeting him.

Mặc dù hay tinh nghịch và bịp bợm, nhưng chúng ít khi độc ác, trừ khi bị gây hấn bởi những kẻ phá đám, quấy rầy chúng. Một cách tổng quát, chúng có cảm giác nghi ngờ đối với con người, vì thế chúng thường có vẻ bực bội khi có người mới đến cõi trung giới, nên chúng thường hù dọa người ấy bằng cách hiện ra hình dáng khó coi, dễ sợ. Nếu con người tỏ ra không sợ hãi khi đối diện với sự chọc phá, chúng sẽ nhanh chóng coi sự hiện diện của họ như là một điều không mong muốn, nhưng bắt buộc phải chấp nhận và không còn để ý đến nữa. Sau một thời gian, đôi khi cũng có vài tinh linh kết thân với người đến cõi trung giới, và chúng tỏ ra vui vẻ khi gặp lại họ.

Some among the many subdivisions of this class are much less childlike and more dignified than those we have been describing, and it is from these sections that the lower types among the entities who have been reverenced under the name of wood-gods, or local village-gods, have been drawn. Such entities would be quite sensible of the flattery involved in the reverence shown to them, enjoy it, and are usually quite ready to do any small service they can in return. (The village-god is also often an artificial entity, but that variety will be considered in its appropriate place). [115]

Một số trong nhiều phân nhánh của lớp này ít mang tính trẻ con hơn và trang nghiêm hơn so với những gì chúng ta đã mô tả, và chính từ các phân nhánh này mà các loại thấp hơn trong số các thực thể đã từng được tôn kính dưới danh xưng thần rừng hay thần làng địa phương đã được rút ra. Những thực thể như vậy thường nhận thức được sự tâng bốc thể hiện qua sự tôn kính dành cho chúng, hưởng thụ điều đó, và thường sẵn sàng thực hiện bất kỳ sự giúp đỡ nhỏ nào mà chúng có thể đáp lại. (Thần làng cũng thường là một thực thể nhân tạo, nhưng loại đó sẽ được xem xét ở vị trí phù hợp). [115]

The Adept knows how to make use of the services of the nature-spirits when he requires them, but the ordinary magician can obtain their assistance only by processes either of invocation or evocation—that is, either by attracting their attention as a suppliant and making some kind of bargain with them, or by endeavouring to set in motion influences which would compel their obedience. Both methods are extremely undesirable, and the latter is also excessively dangerous, as the operator arouses a determined hostility which may easily prove fatal to him. Needless to say, no one studying occultism under a qualified Master would ever be permitted to attempt anything of the kind at all.

Khi cần, các vị Chân Sư biết cách sử dụng tinh linh thiên nhiên trong công việc hữu ích, nhưng các pháp sư bình thường muốn được chúng trợ giúp phải dùng nghi thức cầu đảo hay triệu thỉnh, những nghi thức này có tính cách gợi sự chú ý của các tinh linh thiên nhiên bởi những lời cầu xin hay thương lượng, hoặc gắng sức tạo ảnh hưởng buộc chúng phải vâng lời. Cả hai phương pháp, cầu xin hay bắt buộc, đều không nên dùng, và phương pháp buộc chúng phải vâng lời lại càng nguy hiểm hơn, vì nó tạo nên lòng căm thù nơi chúng, rất dễ quay ngược lại làm hại vị pháp sư. Người có học về huyền bí học với một Chân Sư đúng nghĩa, không bao giờ được phép thử làm những việc như thế.

The Devas.

The highest system of evolution connected with this earth, so far as we know, is that of the beings whom Hindus call the Devas, who are elsewhere described as Angels, sons of God, etc. They may, in fact, be regarded as a kingdom, lying next above humanity, in the same way as humanity in turn lies next above the animal kingdom, but with this important difference, that while for an animal there is no possibility of evolution (so far as we know) through any kingdom but the human man, when he attains a certain high level, finds [116] various paths of advancement opening before him of which this great Deva evolution is only one.

Như ta biết, bậc cao nhất trong sự tiến hóa liên hệ đến quả địa cầu này là những vị được người Ấn gọi là Thiên Thần (Devas), những nơi khác gọi là Thiên Sứ (Angels), con của Thượng Đế v.v…Các vị ấy ở cấp bậc kế bên trên nhân loại, giống như nhân loại ở cấp bậc ngay bên trên giới cầm thú vậy, nhưng có sự khác biệt quan trọng trong sự tiến hóa như sau: con thú không thể tiến hóa thành bất cứ loài nào khác, ngoài việc trở thành loài người, trong khi con người đến một mức độ nào đó sẽ có nhiều đường tiến hóa để họ lựa chọn, một trong những đường đó là trở thành vị đại Thiên Thần.

In comparison with the sublime renunciation of the Nirmanakaya, the acceptance of this line of evolution is sometimes mentioned in the books as “yielding to the temptation to become a god”, but it must not be inferred from this expression that any shadow of blame attaches to the man who makes this choice. The path which he selects is not the shortest, but it is nevertheless very noble, and if his developed intuition impels him towards it, it is certainly that which is best suited for his capacities. We must never forget that in spiritual as in physical climbing it is not every one who can bear the strain of the steeper path; there may be many for whom what seems the slower way is the only possiblity, and we should indeed be unworthy followers of the great Teachers if we allowed our ignorance to betray us into the slightest thought of disposal towards those whose choice differs from our own.

So sánh với sự từ bỏ cao cả của vị Ứng Thân (Nirvanakaya), người chấp nhận đi theo đường tiến hóa của Thiên Thần đôi khi bị sách vở cho là “nhượng bộ sự cám dỗ để trở thành Thần Minh”. Câu này không có ý trách móc đối với người đã chọn con đường này, vì các vị không chọn con đường ngắn nhất, mà chọn con đường rất vinh quang. Khi mở mang được trực giác để hối thúc sự tiến bộ trên con đường này, chắc chắn nó rất phù hợp với khả năng của các vị. Nên nhớ, về phương diện tinh thần cũng như vật chất, không phải bất cứ ai cũng có thể chịu đựng được sự căng thẳng khi leo trên con đường quá dốc đứng; đối với phần đông, con đường thoai thoải hơn có thể là khả năng duy nhất. Chúng ta sẽ không xứng đáng là người theo chân các bậc đại Tôn Sư, nếu vì dốt nát mà coi thường những người chọn con đường khác với con đường của chúng ta.

However confident ignorance of the difficulties of the future may allow us to feel now, it is impossible for us to tell at this stage what we shall find ourselves able to do when, after many lives of [117] patient striving, we have earned the right to choose our own future; and indeed, even those who “yield to the temptation to become gods” have a sufficiently glorious career before them, as will presently be seen. To avoid possible misunderstanding it may be mentioned par parenthése that there is another and entirely evil sense sometimes attached in the books to this phrase of “becoming a god,” but in that form it certainly could never be any kind of “temptation” to the developed man, and in any case it is altogether foreign to our present subject.

Dù sự thiếu hiểu biết tự tin về những khó khăn trong tương lai có thể cho phép chúng ta cảm thấy như vậy ngay lúc này, nhưng ở giai đoạn này, chúng ta không thể nói trước được điều gì chúng ta sẽ có thể làm khi, sau nhiều kiếp sống nỗ lực kiên nhẫn [117], chúng ta đã xứng đáng có quyền tự chọn lựa tương lai của mình; và thực tế là, ngay cả những người “chịu khuất phục trước cám dỗ trở thành thần thánh” cũng có một hành trình vẻ vang đủ đầy đang chờ đợi họ, như sẽ sớm thấy rõ. Để tránh hiểu lầm có thể xảy ra, có thể nhắc thêm bên lề rằng có một nghĩa khác, hoàn toàn xấu xa, đôi khi được gán cho cụm từ “trở thành thần thánh” trong một số sách, nhưng dưới hình thức đó, nó chắc chắn không bao giờ có thể là bất kỳ loại “cám dỗ” nào đối với người phát triển, và trong bất kỳ trường hợp nào, nó hoàn toàn xa lạ với chủ đề hiện tại của chúng ta.

In oriental literature this word “Deva” is frequently used vaguely to mean almost any kind of non-human entity, so that it often includes great divinities on the one hand, and nature-spirits and artificial elementals on the other. Here, however, its use will be restricted to the magnificent evolution which we are now considering.

Trong những kinh sách Đông Phương, từ “ThiênThần” (Devas) được dùng một cách mơ hồ để chỉ hầu hết các thực thể không thuộc nhân loại, nó bao gồm từ những tinh linh thiên nhiên và các tinh linh nhân tạo chí đến những vị thần thánh cao cả. Tuy nhiên, nơi đây từ “Thiên Thần” được dùng giới hạn để chỉ những vị có trình độ tiến hóa cao.

Though connected with this earth, the Angels are by no means confined to it, for the whole of our present chain of seven worlds is as one world to them, their evolution being through a grand system of seven chains. Their hosts have hitherto been recruited chiefly from other humanities in [118] the solar system, some lower and some higher than ours, since but a very small portion of our own has as yet reached the level at which for us it is possible to join them; but it seems certain that some of their very numerous classes have not passed in their upward progress through any humanity at all comparable to ours.

Dù liên hệ đến địa cầu, nhưng các Thiên Thần không bị hạn chế nơi đây, vì trọn bảy bầu hành tinh trong dãy tiến hóa hiện tại đều là thế giới của các vị, sự tiến hóa của các vị xuyên qua bảy dãy thuộc một hệ thống to lớn. Phần lớn những thành phần trong nhóm của các vị được chọn từ nhân loại thuộc các hệ thống thái dương hệ khác, một số thấp hơn và một số cao hơn thái dương hệ chúng ta. Cho đến nay, chỉ có một số ít nhân loại đã đạt đến trình độ có thể gia nhập hàng ngũ các vị. Tuy vậy, cũng có một vài hạng trong hàng ngũ các vị chưa tiến hóa hơn trình độ của nhân loại.

It is not possible for us at present to understand much about them, but it is clear that what may be described as the aim of their evolution is considerably higher than ours; that is to say, while the object of our human evolution is to raise the successful portion of humanity to a certain degree of occult development by the end of the seventh round, the object of the angelic evolution is to bring their foremost rank to a much higher level in the corresponding period. For them, as for us, a steeper but shorter path to still more sublime heights lies open to earnest endeavour; but what those heights may be in their case we can only conjecture.

Hiện tại, ta không thể hiểu rõ về các vị, nhưng có điều ta biết chắc là mục đích con đường tiến hóa của các vị cao siêu hơn mục đích của nhân loại rất nhiều. Có thể nói, mục đích sự tiến hóa theo đường nhân loại là nâng cao một phần nhân loại phát triển tâm linh đến một mức độ nào đó vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy, trong khi mục đích sự tiến hóa theo đường Thiên Thần là đưa các vị thuộc hạng cao đến một trình độ cao hơn nữa trong cùng một thời hạn. Đối với các vị cũng như đối với chúng ta, có con đường dốc đứng nhưng ngắn hơn đưa đến đỉnh cao tuyệt vời dành cho người cố gắng chân thành.

It is only the lower fringe of this august body that need be mentioned in connection with our subject of the astral plane. Their three lower great divisions (beginning from the bottom) are generally called Kamadevas, Rupadevas, and Arupadevas [119] respectively. Just as our ordinary body here—the lowest body possible for us—is the physical, so the ordinary body of a Kamadeva is the astral; so that he stands in somewhat the same position as humanity will do when it reaches planet F, and he, living ordinarily in an astral body, goes out of it to higher spheres in a mental vehicle just as we do in an astral body, while to enter the causal body is to him (when sufficiently developed) no greater effort than to use a mind body is to us.

Như thế chỉ có phần thấp của cơ cấu vĩ đại ấy có liên hệ đến đề tài cõi trung giới của chúng ta. Ba hạng thấp nhất (kể từ dưới lên) thường được gọi là: Cảm Dục Thiên Thần (Kamadevas), Sắc Tướng Thiên Thần (Rupadevas), và Vô Sắc Thiên Thần (Arupadevas). Nếu so sánh với con người, ta có xác thân là thể thấp nhất mà bình thường ta sử dụng, trong khi thể bình thường mà các vị Cảm Dục Thiên Thần sử dụng là thể cảm dục. Như thế, các vị ấy đang ở vị trí mà nhân loại sẽ tiến đến khi qua bầu F [30]. Bình thường, các vị sống trong thể cảm dục, và sẽ chuyển qua sống trong thể trí khi lên cõi cao hơn, như con người sau khi bỏ thể xác sẽ sống trong thể cảm dục. Khi phát triển đầy đủ các vị sẽ sống với nhân thể (causal body), cũng như chúng ta sẽ sống với thể trí.

In the same way the Rupadeva’s ordinary body is the mental, since his habitat is on the four lower or rupa levels of that plane; while the Arupadeva belongs to the three higher levels, and owns no nearer approach to a body than the causal. But for Rupa and Arupa devas to manifest on the astral plane is an occurrence at least as rare as it is for astral entities to materialize on this physical plane, so we need do no more than mention them now.

Cũng giống vậy, thể thông thường của các vị Sắc Tướng Thiên Thần là thể trí, vì các vị cư trú ở bốn cảnh thấp, tức các cảnh sắc tướng của cõi thượng giới. Còn các vị Vô Sắc Thiên Thần cư trú ở ba cảnh cao, tức các cảnh vô sắc tướng của cõi thượng giới, như thế các vị này gần nhất với nhân thể. Rất hiếm khi các vị Sắc Tướng và Vô Sắc Thiên Thần biểu hiện ở cõi trung giới, cũng hiếm như các thực thể cõi trung giới hiện hình tại cõi trần, cho nên chúng ta chỉ cần liệt kê mà thôi.

As regards the lowest division—the Kamadevas—it would be a mistake to think of all of them as immeasurably superior to ourselves, since some have entered their ranks from humanity in some respects less advanced than our own. The general [120] average among them is much higher than among us, for all that is actively or willfully evil has long been weeded out from their ranks; but they differ widely in disposition, and a really noble, unselfish, spiritually-minded man may well stand higher in the scale of evolution than some of them.

Đối với hạng thấp nhất, Cảm Dục Thiên Thần, không phải tất cả các vị ấy đều tiến hóa cao hơn chúng ta, vì có một số các vị đến từ nhân loại, trong vài khía cạnh nào đó, còn kém hơn những người có trình độ tâm linh cao. Một cách tổng quát, họ tiến hóa cao hơn phần đông nhân loại, vì các vị đã trừ bỏ tất cả những tính xấu. Giữa các vị cũng có nhiều trình độ rất khác nhau, một người ở thế gian có nếp sống tâm linh cao, tính tình cao thượng, không ích kỷ, có trình độ tiến hóa cao hơn một số các vị ấy.

Their attention can be attracted by certain magical evocations, but the only human will which can dominate theirs is that of a certain high class of Adepts. As a rule they seem scarcely conscious of us on our physical plane, but it does now and then happen that one of them becomes aware of some human difficulty which excites his pity, and he perhaps renders some assistance, just as any of us would try to help an animal that we saw in trouble. But it is well understood among them that any interference in human affairs at the present stage is likely to do far more harm than good. Above the Arupadevas there are four other great divisions, and again, above and beyond the angelic kingdom altogether, stand the great hosts of the Planetary Spirits, but the consideration of such glorified beings would be out of place in an essay on the astral plane.

Một vài loại ma thuật có thể gây sự chú ý của các vị Thiên Thần, nhưng chỉ có những Chân Sư cao cấp mới có thể điều khiển các vị ấy. Thông thường họ rất ít ý thức đến sự có mặt của chúng ta ở cõi trần, song đôi khi những khó khăn của con người được vài vị biết đến, làm khơi dậy lòng thương hại nơi các vị và ra tay giúp đỡ, cũng như con người đôi khi giúp đỡ một con thú đang gặp khó khăn vậy. Nhưng các vị hiểu rõ rằng, trong giai đoạn hiện tại, mọi sự can thiệp vào công việc của nhân loại thường có hại hơn là có lợi. Trên các vị Vô Sắc Thiên Thần còn có bốn cấp bậc lớn hơn, và ngoài thiên giới còn có những vị cao cả hơn mà chúng ta không thể đề cập trong quyển sách này.

Though we cannot claim them as belonging exactly to any of our classes, this is perhaps the [121] best place in which to mention those wonderful and important beings, the four Devarajas. In this name the word Deva must not, however, be taken in the sense in which we have been using it, for it is not over the Deva kingdom, but over the four, “elements” of earth, water, air, and fire, with their indwelling nature ­spirits and essences, that these four Kings rule. What the evolution has been through which they rose to their present height of power and wisdom we cannot tell, save only that it does not seem to have passed through anything corresponding to our own humanity.

Mặc dù không thể xếp các vị ấy vào thứ hạng nào, nhưng nơi đây ta có thể kể đến vài thực thể quan trọng và cao cả, đó là Tứ Đại Thiên Thần (Devarajas). Trong danh từ này, chữ Thiên Thần (Deva) không được sử dụng với ý nghĩa bình thường, vì các Ngài không thuộc giới Thiên Thần. Các Ngài coi sóc bốn loại “nguyên tố”: đất, nước, không khí và lửa, trong đó chứa đựng sự sống của những tinh linh thiên nhiên và các loài tinh hoa chất, các Ngài là bốn vị vua của chúng. Ta không thể biết được theo đường tiến hóa nào mà các vị đạt đến mức độ cao tột về quyền năng và trí tuệ như thế, ta chỉ biết rằng, dường như đường tiến hóa của các vị ấy hoàn toàn không giống với đường tiến hóa của nhân loại.

They are often described as the Regents of the Earth, or Angels of the four cardinal points, and the Hindu books call them the Chatur Maharajas, giving their names as Dhritarashtra, Virudhaka, Virupaksha, and Vaishravana. In the same books their elemental hosts are called Gandharvas, Kumbhandas, Nagas, and Yakshas respectively, the points of the compass appropriated to each being in corresponding order east, south, west, and north, and their symbolical colours, white, blue, red, and gold. They are mentioned in The Secret Doctrine as “winged globes and fiery wheels”; and in the Christian bible Ezekiel makes a remarkable attempt [122] at a description of them in which similar words are used. References to them are to be found in the symbology of every religion, and they have always been held in the highest reverence as the protectors of mankind.

Sách vở thường mô tả các Ngài như những vị cai quản địa cầu, hay Thiên Thần của bốn phương chánh. Kinh sách Ấn Độ gọi các Ngài là Tứ Đại Thiên Vương, có tên riêng biệt là: Dhritarashtra, Virudhaka, Virupaksha và Vaishravana. Cũng trong quyển sách ấy, bốn đoàn thể tinh linh phụ thuộc các vị đại Thiên Thần này có tên lần lượt là: Gandharvas, Kumbhandas, Nagas và Yakshas, tương ứng với bốn hướng: Đông, Nam, Tây và Bắc; màu sắc biểu tượng là: Trắng, Xanh, Đỏ, Vàng. Trong quyển Giáo Lý Bí Truyền gọi họ là “Những quả cầu có cánh và những bánh xe lửa” (winged globes and fiery wheels). Trong kinh thánh Thiên Chúa Giáo cũng cố gắng mô tả các vị ấy với những danh từ tương tự. Ta có thể gặp các vị ấy trong biểu tượng của hầu hết các tôn giáo, các vị luôn luôn được dành cho một địa vị đáng tôn kính, như là những vị bảo vệ nhân loại.

It is they who are the agents of man’s karma during his life on earth, and they thus play an extremely important part in human destiny. The great karmic deities of the Kosmos (called in The Secret Doctrine the Lipika) weigh the deeds of each personality when the final separation of its principles takes place at the end of its astral life, and give as it were the mould of an etheric double exactly suitable to its karma for the man s next birth; but it is the Devarajas who, having command of the “elements” of which that etheric double must be composed, arrange their proportion so as to fulfil accurately the intention of the Lipika.

Các vị đại Thiên Thần này coi sóc nhân quả cho đời sống con người ở địa cầu, và giữ vai trò rất quan trọng cho số mạng con người. Vị Đại Thiên Thần nhân quả của vũ trụ (Giáo Lý Bí Truyền gọi là Nghiệp Quả Tinh Quân “Lipika”) [31] cân nhắc, ghi chép hành vi của từng cá nhân vào lúc cuối giai đoạn sống ở cõi trung giới, khi ấy các thể phân ly nhau, để đến khi con người sắp tái sinh, Ngài tạo ra nhị xác thân (hay thể phách: etheric double) như là cái khuôn thích hợp cho xác thân mới. Nhưng công việc tạo ra khuôn thể phách này được thi hành do vị Đại Thiên Vương cai quản những tinh linh, kết hợp và sắp xếp với tỷ lệ các chất liệu theo đúng chủ ý của vị Nghiệp Quả Tinh Quân.

It is they also who constantly watch all through life to counterbalance the changes perpetually being introduced into man’s condition by his own free will and that of those around him, so that no injustice may be done, and karma may be accurately worked out, if not in one way then in another. A learned dissertation upon these marvellous beings will be [123] found in The Secret Doctrine, vol. i., pp. 180-186. They are able to take human material forms at will, and several cases are recorded when they have done so.

Chính các vị này luôn theo dõi suốt cuộc đời con người, để làm cân bằng lại những thay đổi không ngừng xảy ra trong cuộc sống, do sự tự do ý chí của chính con người và của những người chung quanh. Do đó, không bao giờ có sự bất công, và nghiệp quả được thể hiện chính xác bằng cách này hay cách khác. Các vị cao cả này có khả năng hiện thân thành hình dáng con người, nếu muốn, có một số trường hợp như vậy đã được ghi nhận. Trong Giáo Lý Bí Truyền có diễn tả khá đầy đủ về các vị.

All the higher nature-spirits and hosts of artificial elementals act as their agents in the stupendous work they carry out, yet all the threads are in their hands, and the whole responsibility rests upon them alone. It is not often that they manifest upon the astral plane, but when they do they are certainly the most remarkable of its non-human inhabitants. A student of occultism will not need to be told that as there are seven great classes both of nature-spirits and elemental essence there must really be seven and not four Devarajas, but outside the circle of Initiation little is known and less may be said of the higher three.

Tất cả các tinh linh thiên nhiên thuộc hạng cao và nhóm tinh linh nhân tạo đều hành động như người thừa hành trong những công tác kỳ diệu, mọi sự chỉ huy và trách nhiệm đều nằm trong tay các Thiên Thần. Rất ít khi các vị biểu hiện ở cõi trung giới, nhưng khi có sự hiện diện của các vị, thật là một sự kiện đáng chú ý. Sinh viên huyền môn đều biết rằng có bảy đại chủng loại tinh linh thiên nhiên và bảy đại chủng loại tinh hoa chất, như thế cũng có bảy cấp bậc Đại Thiên Thần chứ không phải chỉ có bốn, nhưng ba đại Thiên Thần cấp bậc quá cao, vượt ngoài hệ thống điểm đạo, ít được biết và nhắc đến trong kinh sách.

III. ARTIFICIAL—NHÂN TẠO

This, the largest class of astral entities, is also much the most important to man. Being entirely his own creation, it is inter-related with him by the closest karmic bonds, and its action upon him is direct and incessant. It is an enormous inchoate [124] mass of semi-intelligent entities, differing among themselves as human thoughts differ, and practically incapable of anything like classification or arrangement. The only division which can be usefully made is that which distinguishes between the artificial elementals made by the majority of mankind unconsciously, and those made by magicians with definite intent; while we may relegate to a third class the small number of artificially arranged entities which are not elementals at all.

Đây là loại lớn nhất trong số những thực thể cõi trung giới, và cũng là những thực thể quan trọng nhất đối với con người. Những thực thể này hoàn toàn do con người tạo ra, nên có liên quan tương tác lẫn nhau do sự trói buộc của nhân quả, chúng tác động trực tiếp và liên tục lên con người. Đó là một khối to lớn những thực thể đơn sơ, có một phần trí tuệ, chúng khác biệt với nhau như sự khác biệt của tư tưởng con người, trên thực tế ta không thể nào sắp xếp hay phân loại chúng. Sự phân chia duy nhất và hữu ích có thể thực hiện được là phân biệt loài tinh linh nhân tạo do phần đông nhân loại không ý thức tạo ra, và loài tinh linh nhân tạo do các thuật sĩ cố ý tạo ra. Ngoài ra có một số ít thực thể nhân tạo, không phải là tinh linh được xếp vào loại thứ ba.