Trích nội dung chương
Prior to profiting by more information and thus piling up increased responsibility, there is a vital need for the majority of aspirants and disciples to assume a different attitude towards the opportunity to prepare for initiation with which they are all faced. Trước khi tiếp nhận thêm thông tin và nhờ đó gia tăng trách nhiệm, phần lớn những người chí nguyện và đệ tử hết sức cần có một thái độ khác đối với cơ hội chuẩn bị điểm đạo mà tất cả họ đều đang đứng trước.
Commentary 36 – Bình giảng 36
DINA II [243-251]
DINA II [243-251]
LAWS-Living Ageless Wisdom School
LAWS-Trường Sống Theo Minh Triết Ngàn Đời
(All Underlining and Bolding and Italicization in Commentary, MDR)
(Mọi chỗ gạch chân, in đậm và in nghiêng trong phần Bình giảng đều do MDR thực hiện)
SECTION THREE
PHẦN BA
TEACHINGS ON INITIATION
GIÁO HUẤN VỀ ĐIỂM ĐẠO
[243]
[243]
PART I
PHẦN I
Prior to profiting by more information and thus piling up increased responsibility, there is a vital need for the majority of aspirants and disciples to assume a different attitude towards the opportunity to prepare for initiation with which they are all faced.
Trước khi tiếp nhận thêm thông tin và nhờ đó gia tăng trách nhiệm, phần lớn những người chí nguyện và đệ tử hết sức cần có một thái độ khác đối với cơ hội chuẩn bị điểm đạo mà tất cả họ đều đang đứng trước.
1. An important equation is given: the receipt of esoteric information is equivalent to increased responsibility. The ideas is that we are obliged to use wisely in service that which we have been given.
1. Một phương trình quan trọng được nêu ra: tiếp nhận thông tin huyền bí đồng nghĩa với gia tăng trách nhiệm. Ý ở đây là chúng ta có bổn phận phải sử dụng một cách minh triết trong phụng sự những gì đã được trao cho chúng ta.
2. DK is responsible for training “aspirants of initiation” (R&I 586). True aspirants are those who have passed the first degree. It is the second degree that is facing most such aspirants. DK reminds us that all of them are faced with the opportunity to prepare for initiation, but He does not say whether it will be in this particular life cycle.
2. Chân sư DK chịu trách nhiệm huấn luyện“những người chí nguyện hướng đến điểm đạo” (R&I 586). Những người chí nguyện chân chính là những người đã vượt qua bậc thứ nhất. Chính bậc thứ hai đang chờ đợi phần lớn những người chí nguyện ấy. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng tất cả họ đều đứng trước cơ hội chuẩn bị cho điểm đạo, nhưng Ngài không nói liệu điều đó có diễn ra trong chu kỳ sống cụ thể này hay không.
The more advanced among them are conscious of impending possibilities.
Những người tiến bộ hơn trong số họ nhận biết các khả năng sắp đến.
3. The nearer we come to the portal of initiation, the more we can sense its presence. This is an internal, organic process.
3. Càng đến gần cánh cổng điểm đạo, chúng ta càng cảm nhận được sự hiện diện của nó. Đây là một tiến trình hữu cơ, diễn ra bên trong.
The significance of the proffered training has made its just appeal.
Thâm nghĩa của sự huấn luyện được trao đã tạo nên sức thu hút xứng đáng.
4. So many, it seems, do not realize the nature of the training they are receiving and do not apply themselves as they might, because they do not realize the possibilities.
4. Dường như rất nhiều người không nhận ra bản chất của sự huấn luyện mà họ đang tiếp nhận và không chuyên tâm hết mức có thể, vì họ không nhận ra những khả năng đang mở ra.
Others are so immersed in the tests and difficulties incidental to the clarification of the vision prior to the processes of initiation, that they have neither the time nor the strength to do more than live through the time of trial and, at the same time, to serve as best they can.
Những người khác lại quá chìm đắm trong các thử thách và khó khăn đi kèm với việc làm sáng tỏ tầm nhìn trước các tiến trình điểm đạo, đến mức họ không có thời gian hay sức lực để làm gì hơn ngoài việc sống qua thời kỳ thử thách và đồng thời phụng sự hết khả năng.
5. This may be particularly the case in relation to the second initiation which is, for the majority of aspirants, the most difficult to take.
5. Điều này có thể đặc biệt đúng đối với lần điểm đạo thứ hai, vốn là lần điểm đạo khó đạt nhất đối với đa số người chí nguyện.
6. DK might well be talking about the processes of deglamorization.
6. Rất có thể Chân sư DK đang nói về các tiến trình loại bỏ ảo cảm.
7. It is interesting that Sagittarius is listed as pertaining to both initiations one and two, and being a sign of vision naturally relates to the clarification of that vision.
7. Điều thú vị là Nhân Mã được liệt kê là có liên quan đến cả lần điểm đạo thứ nhất lẫn thứ hai, và vì là một dấu hiệu của tầm nhìn nên tự nhiên có liên hệ với việc làm sáng tỏ tầm nhìn ấy.
8. DK is very realistic about the demands of test and trial. It can take all we have, so that little energy is left over for more intelligent preparation for the initiation process.
8. Chân sư DK rất thực tế về những đòi hỏi của thử thách và khảo nghiệm. Chúng có thể lấy đi toàn bộ sức lực của chúng ta, khiến chẳng còn bao nhiêu năng lượng để chuẩn bị một cách sáng suốt hơn cho tiến trình điểm đạo.
Both the vision and their service suffer from their failure to develop that divine indifference which is the hallmark of the true initiate.
Cả tầm nhìn lẫn sự phụng sự của họ đều chịu tổn hại vì họ không phát triển được sự điềm nhiên thiêng liêng vốn là dấu hiệu đặc trưng của điểm đạo đồ chân chính.
9. DK suggests that if these struggling aspirants for initiation developed “divine indifference”, their vision and their service would not suffer.
9. Chân sư DK gợi ý rằng nếu những người chí nguyện đang phấn đấu hướng đến điểm đạo này phát triển được “điềm nhiên thiêng liêng”, thì tầm nhìn và việc phụng sự của họ sẽ không chịu tổn hại.
10. We note the term “true initiate”, presumably a differentiation from the stage of “probationary initiate”—the initiate of the first or second initiation.
10. Chúng ta lưu ý thuật ngữ “điểm đạo đồ chân chính”, có lẽ nhằm phân biệt với giai đoạn “điểm đạo đồ dự bị”—điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ nhất hoặc thứ hai.
Added to all this is the world situation with its inevitable all-enveloping psychic atmosphere, its attendant strains and its constant wearing anxiety, plus the hold which war sufferers have on all hearts and sympathies.
Thêm vào tất cả những điều này là tình hình thế giới với bầu không khí thông linh tất yếu bao trùm mọi sự, những căng thẳng đi kèm và nỗi lo âu liên tục làm hao mòn sức lực, cùng với sự day dứt và lòng cảm thông mà những nạn nhân chiến tranh khơi dậy trong mọi trái tim.
11. This instruction was written during the Second World War. The prevailing psychic atmosphere can be a tremendous strain upon those enveloped in it. Do we recognize such an influence in our own lives presently?
11. Huấn thị này được viết trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Bầu không khí thông linh đang bao trùm có thể gây sức ép vô cùng lớn lên những người ở trong đó. Hiện nay, chúng ta có nhận ra ảnh hưởng như thế trong chính cuộc sống của mình không?
Most aspirants and disciples believe that they are bearing enough and are tried to the limit of their capacity. This is not the case. The deeper sources of strength in them have not yet been evoked, and the tension under which they should act and live from day to day is only as yet a feeble one—it is not all-exacting. Ponder on this last phrase.
Hầu hết những người chí nguyện và đệ tử đều tin rằng mình đã gánh chịu đủ và bị thử thách đến giới hạn khả năng. Thực tế không phải vậy. Những nguồn sức mạnh sâu xa hơn trong họ vẫn chưa được gợi lên, và sức căng mà trong đó họ nên hành động và sống mỗi ngày hiện vẫn chỉ còn yếu ớt—nó chưa đòi hỏi họ phải huy động tất cả. Hãy suy ngẫm về cụm từ cuối cùng này.
12. This is a potent section. It has to do with comparing the Master’s assessment of aspirants’ and disciples’ capacity and their own assessment. The Master, it is clear, expects more of us than we expect of ourselves.
12. Đây là một đoạn đầy sức mạnh. Nó liên quan đến việc so sánh cách Chân sư đánh giá khả năng của những người chí nguyện và đệ tử với cách họ tự đánh giá. Rõ ràng, Chân sư kỳ vọng ở chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta kỳ vọng ở chính mình.
13. Our point of tension is called “feeble”—a strong word. We are told that the tension under which we should act and live is not “all exacting”.
13. Điểm tập trung nhất tâm của chúng ta được gọi là “yếu ớt”—một từ mạnh. Chúng ta được cho biết rằng mức độ căng thẳng mà chúng ta cần duy trì để hành động và sống chưa “đòi hỏi toàn bộ sức lực”.
14. What does this mean? Perhaps that the usual degree of tension does not call from us all the resources with which we are possessed, thus strengthening these resources and adding capacity to them. We are not giving all we have and consequently the exactitude of our alignment with and transmission of spiritual energies is not all it could be.
14. Điều này có nghĩa là gì? Có lẽ mức độ căng thẳng thông thường chưa huy động ở chúng ta toàn bộ những nguồn lực mà chúng ta sở hữu, qua đó củng cố các nguồn lực ấy và gia tăng khả năng của chúng. Chúng ta chưa cống hiến tất cả những gì mình có, và do đó sự chuẩn xác trong việc chỉnh hợp với các năng lượng tinh thần và truyền dẫn chúng chưa đạt đến mức có thể.
15. The soul would exact from us the maximum tension of which we (as the personality) are capable—if, as personalities, we allowed this exaction.
15. Linh hồn sẽ đòi hỏi ở chúng ta mức độ căng thẳng tối đa mà chúng ta, với tư cách phàm ngã, có thể đạt được—nếu, với tư cách những phàm ngã, chúng ta cho phép sự đòi hỏi này.
16. What do we expect of ourselves? What is expected of us? Are we willing to adjust our point of view in this regard? Are we willing to take on more? If so it requires not just the will to do so, but the intelligent consideration of the Law of Economy as it operates in our lives.
16. Chúng ta kỳ vọng gì ở bản thân? Người ta kỳ vọng gì ở chúng ta? Chúng ta có sẵn lòng điều chỉnh quan điểm của mình về điều này không? Chúng ta có sẵn lòng đảm nhận nhiều hơn không? Nếu có, điều đó không chỉ đòi hỏi ý chí thực hiện, mà còn đòi hỏi sự xem xét sáng suốt về Định luật Tiết Kiệm khi định luật ấy vận hành trong cuộc sống của chúng ta.
The objective demands being made upon all disciples and therefore upon all of you, are not simply to enable you to live through the present period as successfully—emotionally, mentally and spiritually—as possible. It goes far deeper than that, or should.
Những đòi hỏi khách quan đặt lên tất cả các đệ tử, và do đó lên tất cả các bạn, không chỉ nhằm giúp các bạn sống qua thời kỳ hiện tại thành công nhất có thể—về cảm xúc, trí tuệ và tinh thần. Điều đó đi sâu hơn nhiều, hay đúng ra phải như vậy.
17. The Master is no respecter of the comfort of the personality per se.
17. Chân sư không dành sự ưu ái nào cho sự thoải mái của chính phàm ngã.
Apart from the demands upon your spiritual resources (incident to the particular initiation which it is desired that you take) there is also the demand upon all [244] disciples to participate in the effort of humanity, as a whole, to take the first initiation with all the physical relinquishments, and the agony that ever precedes the birth of the Christ in the heart of the individual—only this time it is the hearts of all humanity.
Ngoài những đòi hỏi đối với các nguồn lực tinh thần của các bạn (gắn với cuộc điểm đạo cụ thể mà các bạn được kỳ vọng sẽ trải qua), còn có đòi hỏi rằng tất cả các [244] đệ tử phải tham gia vào nỗ lực của toàn thể nhân loại để trải qua lần điểm đạo thứ nhất, với mọi sự buông bỏ về hồng trần và nỗi thống khổ luôn đi trước sự giáng sinh của Đức Christ trong trái tim cá nhân—chỉ khác là lần này trong trái tim của toàn thể nhân loại.
18. We note that the preparation for any initiation places demands upon a disciple’s spiritual resources.
18. Chúng ta lưu ý rằng việc chuẩn bị cho bất kỳ lần điểm đạo nào cũng đặt ra những đòi hỏi đối với các nguồn lực tinh thần của một đệ tử.
19. It is not only the desire of the aspirant to take initiation; that desire emanates from within, and perhaps from the Master, Himself.
19. Mong muốn được điểm đạo không chỉ là mong muốn của người chí nguyện; mong muốn ấy phát ra từ bên trong, và có lẽ từ chính Chân sư.
20. We do not live unto ourselves alone; as disciples, our participation in humanity’s presently agonizing process is expected.
20. Chúng ta không chỉ sống cho riêng mình; với tư cách đệ tử, chúng ta được kỳ vọng sẽ tham gia vào tiến trình đầy thống khổ hiện nay của nhân loại.
21. We note that the first initiation is far from easy; there will be physical relinquishments and agony. We can see that humanity has been passing through such processes during much of the last century and the process continues into our present century.
21. Chúng ta lưu ý rằng lần điểm đạo thứ nhất hoàn toàn không dễ dàng; sẽ có những từ bỏ về vật chất và nỗi thống khổ. Chúng ta có thể thấy nhân loại đã trải qua những tiến trình như thế trong phần lớn thế kỷ trước, và tiến trình ấy vẫn tiếp tục sang thế kỷ hiện nay.
22. Have we thought of our obligation to identify with humanity (as a whole) in such a manner that our participation in humanity’s first initiation is assured?
22. Chúng ta đã nghĩ đến bổn phận phải đồng hoá với toàn thể nhân loại theo cách bảo đảm rằng mình thực sự tham gia vào lần điểm đạo thứ nhất của nhân loại chưa?
23. A deeper question: how is each of us really assisting humanity to take its first initiation? This will call for pondering.
23. Một câu hỏi sâu xa hơn: mỗi người chúng ta đang thực sự giúp nhân loại trải qua lần điểm đạo thứ nhất như thế nào? Điều này cần được suy ngẫm.
24. We are reminded of the influences of Vulcan and Pluto preceding the first initiation (cf. EA 70). Both of these planets are associated with drastic processes.
24. Chúng ta được nhắc đến những ảnh hưởng của Vulcan và Sao Diêm Vương trước lần điểm đạo thứ nhất (xem EA 70). Cả hai hành tinh này đều gắn với những tiến trình quyết liệt.
Preparatory to this first initiation, there has always to be—individually and now collectively for the first time—the denial of the lower self and the fervid acceptance by the personality of the loss of all the material factors which have held the soul a prisoner in the womb of time.
Để chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất này, luôn phải có—ở cấp độ cá nhân và nay lần đầu tiên ở cấp độ tập thể—sự phủ nhận phàm ngã và việc phàm nhân nhiệt thành chấp nhận mất đi mọi yếu tố vật chất đã giam cầm linh hồn trong lòng thời gian.
25. The astrological sign Virgo represents the “womb of time”. It is also the sign which the Christ is prepared for birth.
25. Dấu hiệu hoàng đạo Xử Nữ tượng trưng cho “lòng thai của thời gian”. Đây cũng là dấu hiệu trong đó Đức Christ được chuẩn bị để giáng sinh.
26. The evolutionary mantram of Virgo is “Let Matter Reign”. We can see that the end of that reign is demanded at the first initiation.
26. Mantram tiến hoá của Xử Nữ là “Hãy để Vật Chất ngự trị”. Chúng ta có thể thấy rằng lần điểm đạo thứ nhất đòi hỏi sự ngự trị ấy phải chấm dứt.
27. We note the mystical virtues of self-denial and fervency. The power of the sixth ray is suggested.
27. Chúng ta lưu ý những đức tính thần bí là sự quên mình và lòng nhiệt thành. Ở đây gợi lên quyền năng của cung sáu.
28. The required loss is not to be faced with remorse, but rather with “fervid” expectancy. “Fervid” is a fascinating word, suggesting zealous aspiration.
28. Sự mất mát cần thiết ấy phải được đón nhận với niềm mong đợi “nồng nhiệt” thay vì nuối tiếc. “Nồng nhiệt” là một từ thú vị, gợi lên khát vọng đầy nhiệt thành.
29. One is reminded of St. Paul’s saying: “I count all things but loss that I may win Christ.” (LOS 176)
29. Điều này gợi nhớ lời Thánh Paul: “Tôi xem mọi sự là mất mát để có thể đạt được Đức Christ.” (LOS 176)
30. This might seem an odd thing to say of an Initiate in whom the fifth and first ray were so strong, but we must not forget the sixth ray which, very reasonably, animated Paul at that time. Was it his soul ray?—the fifth being his monadic subray and the first being his major monadic ray?
30. Nói như thế về một điểm đạo đồ có cung năm và cung một mạnh đến vậy có thể nghe lạ, nhưng chúng ta không được quên cung sáu, vốn rất có thể đã tiếp sinh lực cho Paul vào thời điểm đó. Phải chăng đó là cung linh hồn của ông?—cung năm là cung phụ chân thần, còn cung một là cung chân thần chính của ông?
Hence, my brothers, the wide extent of the material destruction to be seen on every hand, the depths of physical poverty into which all men have been and are being plunged, the detachment from the priority of things which is being enforced, and the necessity for rebuilding human life on sounder values than the physical.
Do đó, các huynh đệ của Tôi, mới có sự hủy diệt vật chất trên quy mô rộng lớn mà các bạn thấy ở khắp nơi, những vực sâu thiếu thốn về vật chất mà mọi người đã và đang bị đẩy vào, sự tách rời khỏi việc đặt của cải lên hàng đầu mà hoàn cảnh đang buộc phải thực hiện, và sự cần thiết phải xây dựng lại đời sống con người trên những giá trị vững chắc hơn các giá trị hồng trần.
31. This is an extraordinary explanation of the purpose of the privations of war—particularly the world war of the last century (1914-1945) which had a dire effect upon so many.
31. Đây là một lời giải thích phi thường về mục đích của những thiếu thốn do chiến tranh gây ra—đặc biệt là cuộc thế chiến của thế kỷ trước (1914-1945), vốn đã gây ảnh hưởng khốc liệt lên biết bao người.
32. It seems, does it not, that at the first initiation there is demanded a clear and irrevocable. ‘re-prioritization’.
32. Dường như lần điểm đạo thứ nhất đòi hỏi phải “sắp xếp lại thứ tự ưu tiên” một cách rõ ràng và không thể đảo ngược, phải vậy không?
33. We note that the processes occurring preparatory to humanity’s first initiation are “enforced”. Humanity does not quite so willingly go through that door. Have we, who are now, presumably, at least initiates of the first degree achieved the necessary “detachment from the priority of things”?
33. Chúng ta lưu ý rằng những tiến trình chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất của nhân loại mang tính “bắt buộc”. Nhân loại không hoàn toàn sẵn lòng bước qua cánh cửa ấy. Liệu chúng ta, những người hiện nay có lẽ ít nhất cũng là điểm đạo đồ bậc thứ nhất, đã đạt được “sự tách rời khỏi việc đặt những thứ vật chất lên hàng đầu” cần thiết ấy chưa?
34. Two quite physical planets—Vulcan and Pluto—contribute to the etherealization of human values. At the first degree there is a definite movement from physical to etheric emphasis.
34. Hai hành tinh mang tính hồng trần khá rõ—Vulcan và Sao Diêm Vương—góp phần tinh nhẹ hoá các giá trị của con người. Ở bậc thứ nhất, có một sự chuyển dịch rõ rệt từ việc chú trọng hồng trần sang chú trọng dĩ thái.
35. This first degree represents, we see, a dramatic change of values.
35. Chúng ta thấy rằng bậc thứ nhất này biểu thị một sự thay đổi mạnh mẽ về các giá trị.
In all this disciples and initiates are today sharing and (when understanding is present and right orientation) the help which those can give who have already undergone the first initiation, is great.
Ngày nay, các đệ tử và điểm đạo đồ đều đang cùng trải qua tất cả những điều này, và (khi có sự thấu hiểu cùng định hướng đúng đắn), sự trợ giúp mà những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất có thể mang lại là rất lớn.
36. It is clear: disciples (and of course initiates) have undergone the first initiation. They have “been there” and their assistance is required as humanity passes through that which they have passed through perhaps a number of lives ago.
36. Điều này rõ ràng: các đệ tử, và dĩ nhiên các điểm đạo đồ, đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Họ đã “từng trải qua điều ấy”, và sự trợ giúp của họ là cần thiết khi nhân loại trải qua điều mà có lẽ họ đã trải qua từ nhiều kiếp trước.
37. Along this same line, we consider that the Christ re-takes the first initiation every time He is the Initiator for a new candidate passing through that pivotal experience. Perhaps, brothers of like degree also must learn so to identify with the candidate, that they, too, re-take the first degree.
37. Cũng theo hướng suy xét này, chúng ta cho rằng Đức Christ trải qua lại lần điểm đạo thứ nhất mỗi khi Ngài là Đấng Điểm đạo cho một ứng viên mới đi qua trải nghiệm then chốt ấy. Có lẽ các huynh đệ cùng bậc cũng phải học cách đồng hoá với ứng viên đến mức chính họ cũng trải qua lại bậc thứ nhất.
38. Today, that candidate is humanity.
38. Ngày nay, ứng viên ấy là nhân loại.
To this you are called, and upon your understanding response to the collective need will depend the rapidity with which you will be enabled to achieve the next expansion of consciousness or initiation which may be, for you as an individual, possible.
Các bạn được kêu gọi thực hiện điều này, và tốc độ mà các bạn có thể đạt đến sự mở rộng tâm thức hay cuộc điểm đạo kế tiếp khả thi đối với mình với tư cách cá nhân sẽ tùy thuộc vào sự đáp ứng đầy thấu hiểu của các bạn trước nhu cầu tập thể.
39. DK places our responsibility squarely before us.
39. Chân sư DK đặt trách nhiệm của chúng ta rõ ràng ngay trước mắt chúng ta.
40. Not only are we to respond, but to respond understandingly.
40. Chúng ta không chỉ phải đáp ứng mà còn phải đáp ứng với sự thấu hiểu.
41. Before us lies either an expansion of consciousness or an initiation. They may not be the same.
41. Trước mắt chúng ta là một sự mở rộng tâm thức hoặc một lần điểm đạo. Hai điều này có thể không giống nhau.
42. If we do not respond to the collective need, our progress through that expansion or initiation will be delayed.
42. Nếu chúng ta không đáp ứng nhu cầu tập thể, việc tiến qua sự mở rộng tâm thức hoặc lần điểm đạo ấy sẽ bị trì hoãn.
43. From a psychological perspective, we pass through initiation together. The door is blocked to one who will not hold the hand of his brother, instead seeking to pass through the door alone.
43. Từ góc độ tâm lý học, chúng ta cùng nhau trải qua điểm đạo. Cánh cửa khép lại trước người không chịu nắm tay huynh đệ mình mà lại tìm cách đi qua một mình.
You have, therefore, to consider your individual response to the demands of your own soul and your collective response to the collective need.
Vì vậy, các bạn phải xem xét sự đáp ứng cá nhân của mình trước những đòi hỏi của chính linh hồn mình, và sự đáp ứng tập thể của mình trước nhu cầu tập thể.
44. Both are required. We lead the individual life, but on our way to understanding group consciousness, we learn that we are inseparably members of the collective.
44. Cả hai đều cần thiết. Chúng ta sống đời sống cá nhân, nhưng trên con đường đi đến sự thấu hiểu tâm thức nhóm, chúng ta học được rằng mình là những thành viên không thể tách rời của tập thể.
45. Thus is the third aspect transformed into the second.
45. Như vậy, phương diện thứ ba được chuyển đổi thành phương diện thứ hai.
46. It is evident that DK expects the group to respond (as a whole) to collective need.
46. Rõ ràng, Chân sư DK kỳ vọng cả nhóm, như một toàn thể, đáp ứng nhu cầu tập thể.
It is the initiate in you, the Christ in you, which is now called to this collective service and the radiation today of the Christ spirit, actively present in the hearts of all disciples is the one thing which can salvage mankind, enable humanity to move forward on to the Path of Discipleship and thus evoke that new spirit which can and will build the new world.
Chính điểm đạo đồ trong các bạn, Đức Christ trong các bạn, nay được kêu gọi thực hiện sự phụng sự tập thể này, và sự tỏa chiếu ngày nay của tinh thần Christ, đang hiện diện tích cực trong trái tim mọi đệ tử, là điều duy nhất có thể cứu vớt nhân loại, giúp nhân loại tiến lên Con Đường Đệ Tử và nhờ đó gợi lên tinh thần mới có thể và sẽ xây dựng thế giới mới.
47. The responsibility is great. We can apply it to ourselves at this time—a time no is no less perilous (though not yet precipitate) than the events of the two world wars.
47. Trách nhiệm thật lớn lao. Chúng ta có thể áp dụng điều này cho chính mình vào lúc này—một thời kỳ nguy hiểm không kém thời kỳ xảy ra các biến cố của hai cuộc thế chiến, dù chưa bùng phát dữ dội.
48. We realize that the initiate is already within us. We have but to become what we are. The Solar Angel is an Initiate and so is the Monad, though not yet initiate on the lower levels of manifestation.
48. Chúng ta nhận ra rằng điểm đạo đồ đã ở trong chúng ta. Chúng ta chỉ cần trở thành điều mình vốn là. Thái dương Thiên Thần là một điểm đạo đồ, và chân thần cũng vậy, dù chưa được điểm đạo trên các cấp độ biểu hiện thấp.
49. DK writes so hearteningly. The responsibility really is tremendous—the salvage of mankind!
49. Chân sư DK viết thật khích lệ. Trách nhiệm quả thực vô cùng lớn lao—cứu vớt nhân loại!
50. We are to:
50. Chúng ta phải:
1. Assist in the salvage of mankind
1. Góp phần cứu vớt nhân loại
2. Enable humanity to move forward on the Path of Discipleship
2. Giúp nhân loại tiến bước trên Con Đường Đệ Tử
3. Evoke the new spirit which can and will build the new world
3. Khơi dậy tinh thần mới có thể và sẽ xây dựng thế giới mới
51. Only the radiation of the Christ spirit within us can do this.
51. Chỉ sự toả chiếu của tinh thần Christ trong chúng ta mới có thể làm được điều này.
52. We note that humanity is taking the first initiation. Only then will it truly be on the Path of Discipleship.
52. Chúng ta lưu ý rằng nhân loại đang trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Chỉ khi ấy nhân loại mới thực sự ở trên Con Đường Đệ Tử.
53. DK’s emphasis on application is unmistakable.
53. Sự nhấn mạnh của Chân sư DK vào việc áp dụng là hết sức rõ ràng.
I would like to deal somewhat with the theme anent the attitude of the accepted disciple towards his Master and towards the general subject of initiation, and then consider the immediate steps ahead which the disciple must take, where he is and with what equipment he has.
Tôi muốn bàn đôi chút về chủ đề thái độ của người đệ tử được chấp nhận đối với Chân sư của mình và đối với chủ đề điểm đạo nói chung, rồi xem xét những bước trước mắt mà người đệ tử phải thực hiện, ngay tại nơi y đang ở và với những gì y hiện có.
54. All those who are accepted disciples in the technical sense, are candidates for initiation.
54. Tất cả những người là đệ tử được chấp nhận theo nghĩa chuyên môn đều là ứng viên điểm đạo.
55. What is our attitude towards the One we consider to be our Master? It is an important question and our response may undergo modification as we read ahead.
55. Thái độ của chúng ta đối với Đấng mà chúng ta xem là Chân sư của mình là gì? Đây là một câu hỏi quan trọng, và câu trả lời của chúng ta có thể thay đổi khi đọc tiếp.
This is the first and necessary step. Disciples must clarify their position and must continue to learn from their Master, in spite of [245] the crises of initiation.
Đây là bước đầu tiên và cần thiết. Các đệ tử phải làm rõ vị thế của mình và phải tiếp tục học hỏi từ Chân sư, bất chấp [245] những cuộc khủng hoảng điểm đạo.
56. The clarified position probably relates to disciples’ self-assessment with respect to the Ashram.
56. Việc làm rõ vị trí có lẽ liên quan đến sự tự đánh giá của các đệ tử về vị trí của mình đối với ashram.
57. We might wonder, “What disciple, worth his salt, would refuse to continue to learn from his Master?”—and yet, it does happen.
57. Chúng ta có thể tự hỏi: “Một đệ tử xứng đáng với danh nghĩa ấy lại từ chối tiếp tục học hỏi từ Chân sư của mình sao?”—thế nhưng điều đó quả có xảy ra.
58. What DK is suggesting is that our crises may become so preoccupying that our attitude as an attentive learner suffers.
58. Điều Chân sư DK muốn nói là những cuộc khủng hoảng của chúng ta có thể chiếm hết sự chú ý đến mức làm tổn hại thái độ của một người học chuyên tâm.
Unless they act upon the proffered instruction and have confidence in His occult intention, all that the Master may say or do is of small usefulness.
Nếu họ không hành động theo huấn thị được trao và không tin tưởng vào ý hướng huyền bí của Ngài, thì tất cả những gì Chân sư có thể nói hay làm đều chẳng mấy hữu ích.
59. It is remarkable to think that there may be disciples who become inattentive to an attentive Master! DK did have this criticism of a number of those in His group. They just didn’t do as He asked.
59. Thật đáng ngạc nhiên khi nghĩ rằng có thể có những đệ tử trở nên lơ là trước một Chân sư luôn quan tâm sát sao! Chân sư DK quả đã phê bình một số người trong nhóm của Ngài về điều này. Họ đơn giản là không làm theo những gì Ngài yêu cầu.
60. We observe that He is not asking for devotion but simply for an attitude of “confidence in His occult intention”. The disciple must realize, at least somewhat, what the Master is seeking to see accomplished in His life.
60. Chúng ta nhận thấy Ngài không yêu cầu lòng sùng kính mà chỉ yêu cầu một thái độ “tin tưởng vào dụng ý huyền bí của Ngài”. Đệ tử phải nhận ra, ít nhất ở một mức độ nào đó, điều mà Chân sư đang tìm cách hoàn thành trong cuộc đời Ngài.
It serves only to increase grave responsibility with its attendant liabilities; knowledge and the pressure of spiritual energy become a danger if not used. This is a basic and important statement.
Điều đó chỉ làm gia tăng trách nhiệm nặng nề cùng những hệ lụy đi kèm; tri thức và áp lực của năng lượng tinh thần trở thành mối nguy nếu không được sử dụng. Đây là một phát biểu căn bản và quan trọng.
61. It has often been said: we must use what we know—in service.
61. Người ta thường nói: chúng ta phải sử dụng những gì mình biết—trong phụng sự.
62. Not only does proffered knowledge increase responsibility but it increases “grave responsibility”. This is no light matter.
62. Tri thức được trao không chỉ làm gia tăng trách nhiệm mà còn làm gia tăng “trách nhiệm nặng nề”. Đây không phải chuyện nhẹ nhàng.
63. Occult knowledge unused, is a danger. Spiritual energy exerts a “pressure”. If there is no correct outlet, there will grave internal consequences.
63. Tri thức huyền bí không được sử dụng là một mối nguy. Năng lượng tinh thần tạo ra một “áp lực”. Nếu không có lối thoát đúng đắn, sẽ có những hậu quả nghiêm trọng ở bên trong.
64. When DK calls attention to a statement as “basic and important” it is an invitation to ponder. How well is each of us using in service what we know and the spiritual energy arising within us due to meditative and studential processes?
64. Khi Chân sư DK lưu ý rằng một phát biểu là “căn bản và quan trọng”, đó là lời mời gọi suy ngẫm. Mỗi người chúng ta đang sử dụng hiệu quả đến đâu, trong phụng sự, những gì mình biết cùng năng lượng tinh thần phát sinh bên trong mình nhờ các tiến trình tham thiền và học tập?
There are, my brothers, two major prerequisites which are needed by all of you in connection with group integration, and they follow upon what you have had earlier when I sought to help you to integrate with your brothers. I gave you, as you will recall, as part of your group meditation the following simple integrating formula:
Các huynh đệ của Tôi, có hai điều kiện tiên quyết chủ yếu mà tất cả các bạn đều cần liên quan đến sự tích hợp nhóm, và chúng tiếp nối những gì các bạn đã nhận trước đây khi Tôi tìm cách giúp các bạn tích hợp với các huynh đệ của mình. Như các bạn sẽ nhớ, trong bài thiền nhóm, Tôi đã trao cho các bạn công thức tích hợp đơn giản sau:
65. DK is distinguishing the earlier stage of integration with one’s brothers from the later stage of group integration.
65. Chân sư DK đang phân biệt giai đoạn trước là tích hợp với các huynh đệ của mình với giai đoạn sau là tích hợp nhóm.
"I am one with my group brothers, and all that I have is theirs. May the love which is in my soul pour forth to them. May the strength which is in me lift and aid them. May the thoughts which my soul creates reach and encourage them."
"Tôi là một với các huynh đệ trong nhóm của tôi, và tất cả những gì tôi có đều thuộc về họ. Cầu mong tình thương trong linh hồn tôi tuôn đến họ. Cầu mong sức mạnh trong tôi nâng đỡ và trợ giúp họ. Cầu mong những tư tưởng do linh hồn tôi tạo ra đến với họ và khích lệ họ."
66. We give all we have to our brothers. This outflow promotes identification not only with the group but as the group.
66. Chúng ta trao tất cả những gì mình có cho các huynh đệ của mình. Dòng tuôn chảy này thúc đẩy sự đồng hoá không chỉ với nhóm mà còn như chính nhóm ấy.
67. The three aspects of divinity within us are to be shared with group members for their benefit.
67. Ba phương diện của thiên tính trong chúng ta phải được chia sẻ với các thành viên trong nhóm vì lợi ích của họ.
1. Love pours forth
1. Tình thương tuôn đổ
2. Strength lifts and aids
2. Sức mạnh nâng đỡ và trợ giúp
3. Thoughts created by the soul reach and encourage them.
3. Những tư tưởng do linh hồn tạo ra đến với họ và khích lệ họ.
68. We become a group-oriented person, giving all we have to the group—which is, in a way, our larger identity.
68. Chúng ta trở thành một người hướng về nhóm, trao tất cả những gì mình có cho nhóm—vốn, theo một nghĩa nào đó, là bản sắc rộng lớn hơn của chúng ta.
69. We remember that this mantram is a formula for group integration.
69. Chúng ta nhớ rằng mantram này là một công thức tích hợp nhóm.
Of the two prerequisites to which I now allude as needed by all of you, one of them refers to your integration into my group of "practising chelas," and the other relates to your capacity to contact me at will—a thing as yet only permitted to three of you at this time, and this because they seldom avail themselves of the privilege.
Trong hai điều kiện tiên quyết mà nay Tôi đề cập là cần thiết cho tất cả các bạn, một điều liên quan đến sự tích hợp của các bạn vào nhóm "đệ tử đang thực hành" của Tôi, và điều kia liên quan đến khả năng tiếp xúc với Tôi theo ý muốn—một điều cho đến nay chỉ ba người trong các bạn được phép vào lúc này, và đó là vì họ hiếm khi sử dụng đặc ân ấy.
70. The first prerequisite is that each disciple be integrated into DK’s group of “practising chelas”. These two words are interesting; one cannot be a true chela unless one is practicing the application of what one knows. A chela practices and is a worker.
70. Điều kiện tiên quyết thứ nhất là mỗi đệ tử phải được tích hợp vào nhóm “đệ tử thực hành” của Chân sư DK. Hai từ này thật thú vị; một người không thể là đệ tử chân chính trừ khi người ấy thực hành việc áp dụng những gì mình biết. Một đệ tử thực hành và là một người hoạt động.
71. Much has been discussed of late concerning contact with the Master. It is a desirable process, when undertaken by an accepted disciple who is aware of the incredible demands upon His Master, and who restrains himself from utilizing the privilege except in moments of great need—for the work.
71. Gần đây đã có nhiều thảo luận về việc tiếp xúc với Chân sư. Đây là một tiến trình đáng mong muốn khi do một đệ tử được chấp nhận thực hiện, người nhận biết những đòi hỏi vô cùng lớn đặt lên Chân sư của mình và tự kiềm chế việc sử dụng đặc ân ấy, trừ những lúc hết sức cần thiết—vì công việc.
72. We note that one must eventually be able to contact the Master “at will”.
72. Chúng ta lưu ý rằng cuối cùng mỗi người phải có khả năng tiếp xúc với Chân sư “bất cứ khi nào mình muốn”.
73. We should carefully note that not everyone can contact a Master simply on the basis of his or her desire to do so. This should give pause to all those who think that by some technique, a Master can be made available to them at any time. An astral thoughtform of the Master can certainly be available to them at any time, but that phenomenon is hardly the “real thing”. The Master must be protected from the importunity of those, who relatively new to the Path, would certainly not show the necessary restraint.
73. Chúng ta nên lưu ý kỹ rằng không phải ai cũng có thể tiếp xúc với một Chân sư chỉ vì mong muốn làm như vậy. Điều này nên khiến tất cả những ai nghĩ rằng bằng một kỹ thuật nào đó, họ có thể tiếp cận một Chân sư bất cứ lúc nào phải dừng lại suy xét. Một hình tư tưởng cảm dục về Chân sư chắc chắn có thể hiện diện với họ bất cứ lúc nào, nhưng hiện tượng ấy khó có thể xem là “điều chân thực”. Cần bảo vệ Chân sư khỏi sự quấy rầy của những người còn tương đối mới trên Đường Đạo, những người chắc chắn chưa thể hiện được sự tự kiềm chế cần thiết.
74. In this matter of contact at will with the Master, we should meditate on the question of permission.
74. Về vấn đề tiếp xúc với Chân sư bất cứ khi nào mình muốn, chúng ta nên tham thiền về vấn đề sự cho phép.
Our first task is therefore to attend to these requirements which call for a right attitude on your part and the use of the first of the ancient formulas which it is my intention to give for deep consideration and eventual experimental use. Before I give this formula, however, I would like to deal with a question which is bound to arise in the minds of those of you who are senior in this group.
Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là chú ý đến những yêu cầu này, vốn đòi hỏi các bạn có thái độ đúng đắn và sử dụng công thức đầu tiên trong những công thức cổ xưa mà Tôi dự định trao để các bạn suy xét sâu sắc và cuối cùng sử dụng thực nghiệm. Tuy nhiên, trước khi trao công thức này, Tôi muốn bàn đến một câu hỏi chắc chắn sẽ nảy sinh trong thể trí của những người thâm niên trong nhóm này.
75. When facing the Hierarchy, there are always requirements for contact. Without the right attitude the requirements will not be fulfilled.
75. Khi hướng đến Thánh đoàn, luôn có những yêu cầu để tiếp xúc. Nếu không có thái độ đúng đắn, những yêu cầu ấy sẽ không được đáp ứng.
76. Those eager for contact with the Hierarchy often do not realize the intensified training through which they have to pass to demonstrate their worthiness for such contact.
76. Những người khao khát tiếp xúc với Thánh đoàn thường không nhận ra sự huấn luyện tăng cường mà họ phải trải qua để chứng tỏ mình xứng đáng với sự tiếp xúc ấy.
The question might be voiced thus: "If I am in preparation for the second or the third initiation, I must have been in a group of disciples—presumably the Tibetan's—for some lives at least. Why then the need for an integrating formula?"
Câu hỏi có thể được nêu như sau: "Nếu tôi đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai hay thứ ba, hẳn tôi đã ở trong một nhóm đệ tử—có lẽ là nhóm của Chân sư Tây Tạng—ít nhất trong vài kiếp. Vậy tại sao lại cần một công thức tích hợp?"
77. We note that the preparation which the Tibetan is discussing is indeed for either the second or third initiation. The first initiation is presumed.
77. Chúng ta lưu ý rằng sự chuẩn bị mà Chân sư Tây Tạng đang bàn đến quả thực là cho lần điểm đạo thứ hai hoặc thứ ba. Lần điểm đạo thứ nhất được mặc nhiên xem là đã trải qua.
78. It is assumed that all those who are preparing for the second or third initiation have ample group experience in the past.
78. Người ta mặc nhiên cho rằng tất cả những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai hoặc thứ ba đều đã có nhiều kinh nghiệm nhóm trong quá khứ.
79. We have seen, however, that the integrating formula is, nonetheless, needed, as the groups presently taught by DK failed to integrate as desired even though the members of the group had had much previous group experience in other lives.
79. Tuy nhiên, chúng ta đã thấy rằng công thức tích hợp vẫn cần thiết, vì các nhóm hiện đang được Chân sư DK giảng dạy đã không tích hợp được như mong muốn, dù các thành viên trong nhóm đã có nhiều kinh nghiệm nhóm trong những kiếp trước.
Because, my chela, though you have been in a group of disciples prior to this, it was not my group but [246] the group of either the Master M. or the Master K.H.
Đệ tử của Tôi, đó là vì tuy trước đây các bạn đã ở trong một nhóm đệ tử, nhưng đó không phải là nhóm của Tôi mà là [246] nhóm của Chân sư M. hoặc Chân sư KH.
80. DK confirms that His chelas have, indeed, been in a group of disciples prior to their work with Him.
80. Chân sư DK xác nhận rằng các đệ tử của Ngài quả thực đã ở trong một nhóm đệ tử trước khi làm việc với Ngài.
81. It would appear that Master DK is relatively new to the training process He is offering; He became a Master in 1875, we are told, though no doubt He has been an expert Teacher for centuries.
81. Dường như Chân sư DK còn tương đối mới với tiến trình huấn luyện mà Ngài đang đưa ra; chúng ta được cho biết Ngài trở thành Chân sư vào năm 1875, dù chắc chắn Ngài đã là một huấn sư lão luyện suốt nhiều thế kỷ.
Owing to the fact of world urgency and the immensity of the work to be done by Them and owing also to the fact that They are preparing to pass through one of the highest initiations, these two Masters have handed all but a few of Their senior disciples to me and to two other of Their initiate disciples, themselves Adepts or Masters.
Do tình trạng khẩn cấp của thế giới và quy mô bao la của công việc Các Ngài phải thực hiện, cũng như do Các Ngài đang chuẩn bị trải qua một trong những cuộc điểm đạo cao nhất, hai Chân sư này đã giao hầu hết các đệ tử thâm niên của Các Ngài, chỉ trừ một số ít, cho Tôi và hai đệ tử điểm đạo đồ khác của Các Ngài, mà chính họ cũng là các Chân sư.
82. This should put things in proportion. The Chohans of Whom we often speak—Masters M. and KH—are subject to an “immensity of work”.
82. Điều này hẳn giúp chúng ta nhìn nhận mọi việc đúng mức. Các Đấng Chohan mà chúng ta thường nói đến—Chân sư M. và Chân sư KH—phải đảm đương một “khối lượng công việc vô cùng lớn lao”.
83. Should this not cause some questioning in those who think they are always in inner and even verbal contact with these Masters?
83. Chẳng phải điều này nên khiến những người nghĩ rằng mình luôn luôn tiếp xúc nội tâm, thậm chí giao tiếp bằng lời với các Chân sư này, phải tự đặt câu hỏi hay sao?
84. If Masters M. and KH are already Chohans, can this reference imply that they are preparing for the seventh initiation? The Christ began His entry into the process of the seventh initiation two thousand years ago. Those closely associated with Him (and Master M. and KH are) may be following somewhat later.
84. Nếu Chân sư M. và Chân sư KH đã là các Đấng Chohan, liệu lời đề cập này có hàm ý rằng Các Ngài đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ bảy không? Đức Christ đã bắt đầu bước vào tiến trình của lần điểm đạo thứ bảy từ hai nghìn năm trước. Những vị gắn bó mật thiết với Ngài (trong đó có Chân sư M. và Chân sư KH) có thể đang tiếp bước sau đó một thời gian.
85. The suggestion is that there is at least one Adept on the first ray and perhaps one on the second ray (in addition to the Tibetan) who are handling the load of teaching usually handled by Masters M. and KH.
85. Điều này gợi ý rằng có ít nhất một chân sư thuộc cung một và có lẽ một vị thuộc cung hai (ngoài Chân sư Tây Tạng) đang đảm đương khối lượng giảng dạy mà Chân sư M. và Chân sư KH thường đảm nhiệm.
86. Does DK mean that an Adept may be an initiate of the fourth degree, or that the rank of Adept and Master are equivalent?
86. Phải chăng Chân sư DK muốn nói rằng một chân sư có thể là một điểm đạo đồ bậc bốn, hay cấp bậc của chân sư và Chân sư là tương đương?
They have also retained in Their groups of disciples those who have started specific work under Their direction in some previous life, and a few disciples who came into incarnation in this world period having the brain and the mind awakened to their relationship to these Masters.
Các Ngài cũng giữ lại trong nhóm đệ tử của mình những người đã bắt đầu một công việc cụ thể dưới sự chỉ dẫn của Các Ngài trong một kiếp trước, và một vài đệ tử đã nhập thể trong chu kỳ thế giới này với bộ não và thể trí được đánh thức để nhận biết mối liên hệ của mình với các Chân sư ấy.
87. Master M. and KH observed the principle of continuity by retaining those who had already begun work under Their direction in former lives.
87. Chân sư M. và Chân sư KH tuân theo nguyên khí liên tục khi giữ lại những người đã bắt đầu làm việc dưới sự chỉ đạo của Các Ngài trong những kiếp trước.
88. We can see that the number of chelas in M’s or KH’s groups cannot be many. It would seem that they retained only advanced and highly consciousness disciples.
88. Chúng ta có thể thấy rằng số đệ tử trong các nhóm của Chân sư M. hoặc Chân sư KH không thể nhiều. Dường như Các Ngài chỉ giữ lại những đệ tử tiến bộ và có tâm thức phát triển cao.
These conditions do not exist in this group in relation to me—the Master chosen to lead you forward.
Những điều kiện này không hiện hữu trong nhóm này trong mối liên hệ với Tôi—Chân sư được chọn để dẫn dắt các bạn tiến lên.
89. This suggests that Master DK did not so much choose to lead these chelas forward but was chosen. Perhaps it was some combination of the two.
89. Điều này gợi ý rằng việc Chân sư DK dẫn dắt các đệ tử này tiến bước không hẳn do Ngài lựa chọn, mà là Ngài đã được chọn. Có lẽ đó là sự kết hợp nào đó của cả hai.
90. The Tibetan is saying that there are none in His group who started work in a previous incarnation either under Master M. or Master KH, or under Himself, the Tibetan.
90. Chân sư Tây Tạng đang nói rằng trong nhóm của Ngài không có ai đã bắt đầu công việc trong một kiếp trước dưới sự chỉ đạo của Chân sư M., Chân sư KH hay chính Ngài, Chân sư Tây Tạng.
91. He is also suggesting to the members of His present group that they do not have their brain and mind awakened to their relationship with Master M. and KH or with Him, the Tibetan.
91. Ngài cũng đang gợi ý với các thành viên trong nhóm hiện tại của Ngài rằng bộ não và thể trí của họ chưa thức tỉnh để nhận biết mối quan hệ với Chân sư M. và Chân sư KH, hoặc với Ngài, Chân sư Tây Tạng.
Yet (though you remember it not) all of you knew me well when working with the two Chohans, and hence the decision for you to work under my instruction and guidance. It has worked happily and with no delay so far.
Tuy vậy (dù các bạn không nhớ), tất cả các bạn đều đã biết rõ Tôi khi làm việc với hai Đấng Chohan, và do đó mới có quyết định để các bạn làm việc dưới sự huấn thị và hướng dẫn của Tôi. Cho đến nay, việc này đã diễn ra tốt đẹp và không hề trì hoãn.
92. DK seems to be telling of His long association with these Chohans. When the members of the group were associated with Them, they were also associated with Him, because He was there.
92. Chân sư DK dường như đang nói về mối liên hệ lâu dài của Ngài với các Đấng Chohan này. Khi các thành viên của nhóm gắn bó với Các Ngài, họ cũng gắn bó với Ngài, vì Ngài đã ở đó.
93. We see at work the principle of occult continuity—part of the Law of Economy.
93. Chúng ta thấy nguyên khí liên tục huyền bí đang vận hành—một phần của Định luật Tiết Kiệm.
94. It appears that it was Master M. and Master KH Who decided that the Tibetan should supervise Their former chelas.
94. Dường như chính Chân sư M. và Chân sư KH đã quyết định để Chân sư Tây Tạng giám sát các đệ tử trước đây của Các Ngài.
95. We begin to understand the close relationship in that elevated ‘family’ we call the Ashram.
95. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu mối quan hệ mật thiết trong ‘gia đình’ cao cả mà chúng ta gọi là ashram.
Another reason for the use of this formula of integration by those who have had experience of group work is that there are some in the group who are as yet far from true integration, and the experience of the older chelas can be of inestimable help if they will thus to serve the group and me. Much of what I said in the earlier instructions (Vol. I) on the relation of chelas to their Master could well be applied here and with profit.
Một lý do khác để những người đã có kinh nghiệm làm công việc nhóm sử dụng công thức tích hợp này là trong nhóm có một số người vẫn còn cách xa sự tích hợp chân thật, và kinh nghiệm của các đệ tử lâu năm có thể đem lại sự trợ giúp vô giá nếu họ có ý chí phụng sự nhóm và Tôi theo cách ấy. Nhiều điều Tôi đã nói trong những huấn thị trước đây (Tập I) về mối liên hệ giữa các đệ tử với Chân sư của họ có thể được áp dụng hữu ích ở đây.
96. DK is referring us back to what may have been learned in DINA I.
96. Chân sư DK đang hướng chúng ta trở lại những điều có thể đã học được trong DINA I.
97. He is also pointing to the inequality of development among the members of His present group. As ever, the more developed are obliged to serve those who are less so.
97. Ngài cũng chỉ ra sự phát triển không đồng đều giữa các thành viên trong nhóm hiện tại của Ngài. Như mọi khi, những người phát triển hơn có bổn phận phụng sự những người kém phát triển hơn.
98. It is interesting to see Him go to considerable lengths to justify the use of the formula of integration He proposes. Did His chelas think they were above such a formula or did not need it?
98. Thật thú vị khi thấy Ngài giải thích rất cặn kẽ lý do sử dụng công thức tích hợp mà Ngài đề xuất. Phải chăng các đệ tử của Ngài nghĩ rằng họ đã vượt quá trình độ của một công thức như thế hoặc không cần đến nó?
THE FORMULAS
CÁC CÔNG THỨC
There are six ancient formulas or symbolic forms which are to be found in the archives for disciples.
Có sáu công thức cổ xưa hay hình thức biểu tượng nằm trong các văn khố dành cho đệ tử.
99. Sometimes DK refers to the “archives of the Masters”. Here the phrase “archives for disciples” is used. In any case, the formulas are found within archives to which the Master has access, and these formulas are particularly for disciples.
99. Đôi khi Chân sư DK đề cập đến “các kho lưu trữ của các Chân sư”. Ở đây, Ngài dùng cụm từ “các kho lưu trữ dành cho đệ tử”. Dù thế nào, các công thức đều nằm trong những kho lưu trữ mà Chân sư có thể tiếp cận, và các công thức này đặc biệt dành cho đệ tử.
100. Formulas are equivalent to symbolic forms. Those studying them need to avail themselves of the ability to interpret symbols.
100. Các công thức tương đương với những hình tướng biểu tượng. Người nghiên cứu chúng cần vận dụng khả năng diễn giải biểu tượng.
They concern the six fundamental prerequisites for initiation.
Chúng liên quan đến sáu điều kiện tiên quyết căn bản cho điểm đạo.
101. This is quite an amazing statement. Did we realize or understand that initiation had associated with it “six fundamental prerequisites”.
101. Đây là một phát biểu thật đáng kinh ngạc. Liệu chúng ta đã nhận ra hay thấu hiểu rằng điểm đạo gắn liền với “sáu điều kiện tiên quyết căn bản” hay chưa.
They are used prior to all the major initiations, and have therefore five significances or meanings which will become apparent only as each of these initiations is undergone.
Chúng được sử dụng trước tất cả những cuộc điểm đạo chủ yếu, và do đó có năm thâm nghĩa hay ý nghĩa chỉ trở nên rõ ràng khi từng cuộc điểm đạo ấy được trải qua.
102. We see that it would be incorrect to think that each of these formulas is associated with only one initiation.
102. Chúng ta thấy rằng sẽ là sai lầm nếu nghĩ mỗi công thức này chỉ gắn với một cuộc điểm đạo.
103. I have called attention before to the words “major initiations”. Some might think that these initiations must be numbered from the third, but it is apparent from DK’s sentence, that initiations one through five are meant.
103. Trước đây, tôi đã lưu ý đến cụm từ “các cuộc điểm đạo chính”. Một số người có thể nghĩ rằng các cuộc điểm đạo này phải được tính từ lần thứ ba, nhưng qua câu nói của Chân sư DK, rõ ràng Ngài muốn nói đến các lần điểm đạo từ thứ nhất đến thứ năm.
104. If only initiations three through seven were meant as “major initiations”, then the majority of disciples of DK would find these formulas unusable because the majority was in process of taking the second initiation.
104. Nếu chỉ các lần điểm đạo từ thứ ba đến thứ bảy mới được gọi là “các cuộc điểm đạo chính”, thì phần lớn đệ tử của Chân sư DK sẽ thấy không thể sử dụng các công thức này, vì đa số đang trong tiến trình trải qua lần điểm đạo thứ hai.
They are in the form sometimes of symbols and sometimes of words, and are amongst the oldest formulas in the world.
Đôi khi chúng mang hình thức biểu tượng, đôi khi mang hình thức ngôn từ, và thuộc số những công thức cổ xưa nhất trên thế giới.
105. How old, we may wonder? Did they come with Sanat Kumara when He founded Shamballa and Hierarchy on this planet?
105. Chúng ta có thể tự hỏi chúng cổ xưa đến mức nào? Phải chăng chúng đã đến cùng Sanat Kumara khi Ngài thiết lập Shamballa và Thánh đoàn trên hành tinh này?
106. It would seem that they could not be used much before middle Atlantean times when the rites of initiation were widely (though of course, selectively) introduced to humanity, but they may be far older than their use for humanity on this planet.
106. Dường như chúng không thể được sử dụng nhiều trước giữa thời kỳ Atlantis, khi các nghi thức điểm đạo được đưa đến với nhân loại một cách rộng rãi (dĩ nhiên vẫn có chọn lọc), nhưng chúng có thể cổ xưa hơn rất nhiều so với thời điểm bắt đầu được sử dụng cho nhân loại trên hành tinh này.
They have been used down the ages by all disciples and initiates of the Great White Lodge.
Qua các thời đại, tất cả các đệ tử và điểm đạo đồ của Thánh đoàn đều đã sử dụng chúng.
107. Is it not amazing to be presented with such information?
107. Chẳng phải thật đáng kinh ngạc khi được cung cấp thông tin như thế sao?
108. When I consider the bulk of modern ‘channeled’ material, is there anything in it the equivalent of such knowledge? I believe the answer has to be, “No”.
108. Khi xem xét khối lượng lớn tài liệu ‘truyền dẫn’ hiện đại, tôi tự hỏi trong đó có điều gì sánh được với tri thức như thế này không? Tôi tin câu trả lời phải là “Không”.
109. Much of intelligent usefulness may be ‘channeled’ but it seems to come from the mind and, perhaps, soul of the channeler, and is thus devoid of information and perspectives which only a Master of the Wisdom can possess.
109. Nhiều điều thông tuệ và hữu ích có thể được ‘truyền dẫn’, nhưng dường như chúng đến từ thể trí và có lẽ cả linh hồn của người truyền dẫn, nên thiếu những thông tin và tầm nhìn mà chỉ một Chân sư Minh Triết mới có thể sở hữu.
They concern what are called "the six [247] relations." Each of these relations must find expression in attitude, in service, and in some deeper expansion of consciousness, to which I may not refer but which must be self-ascertained.
Chúng liên quan đến những gì được gọi là "sáu [247] mối liên hệ." Mỗi mối liên hệ này phải biểu hiện trong thái độ, trong phụng sự và trong một sự mở rộng tâm thức sâu xa hơn mà Tôi không thể đề cập, nhưng mỗi người phải tự xác định.
110. We must ponder the idea of the “six relations”. The six are penultimate to the one, or the seventh.
110. Chúng ta phải suy ngẫm về ý tưởng “sáu mối quan hệ”. Sáu là bước áp chót trước một, hay cái thứ bảy.
111. The relations are to be expressed in three ways:
111. Các mối quan hệ phải biểu lộ theo ba cách:
1. In attitude
1. Qua thái độ
2. In service
2. Qua việc phụng sự
3. In some deeper expansion of consciousness
3. Qua một sự mở rộng tâm thức sâu xa hơn nào đó
112. We see how much of initiatory unfoldment is left to the disciple. The Master may not be explicit about that which initiation reveals. This is often forgotten by those who seek ‘guidance’.
112. Chúng ta thấy biết bao phần trong sự khai mở qua điểm đạo được để lại cho đệ tử tự thực hiện. Chân sư không thể nói rõ những điều mà điểm đạo mặc khải. Những người tìm kiếm ‘sự hướng dẫn’ thường quên điều này.
It is essential that the would-be initiate discover for himself the esoteric, inner and subjective value of the formula under his consideration.
Điều thiết yếu là người mong muốn trở thành điểm đạo đồ phải tự khám phá giá trị bí truyền, bên trong và chủ quan của công thức mà mình đang suy xét.
113. Again the emphasis upon self-reliance. It is a law in the approach to the Initiator.
113. Một lần nữa, sự tự lực được nhấn mạnh. Đây là một định luật trên con đường tiếp cận Đấng Điểm đạo.
114. We are not dealing with obvious matters. The interpretation of these formulas will require all we have of subtle receptivity to the world of meaning.
114. Chúng ta không bàn đến những vấn đề hiển nhiên. Việc diễn giải các công thức này đòi hỏi toàn bộ khả năng tiếp nhận tinh tế của chúng ta đối với Thế giới của ý nghĩa.
Just one hint however in this latter connection I may give.
Tuy nhiên, về điểm sau cùng này, Tôi có thể đưa ra một gợi ý.
The disciple, when he becomes an accepted disciple (and this through the Lodge's recognition of his pledge to his own soul), arrives at a definite and factual recognition of the Hierarchy.
Khi trở thành đệ tử được chấp nhận (và điều này xảy ra khi Thánh đoàn công nhận lời cam kết của y với chính linh hồn mình), người đệ tử đạt đến sự nhận biết rõ ràng và xác thực về Thánh đoàn.
115. We are being told that until we truly pledge to our own soul, and thus become (through the Lodge’s recognition of that pledge) an “accepted disciple”, a definite and factual recognition of the Hierarchy will elude us.
115. Chúng ta đang được cho biết rằng cho đến khi thực sự cam kết với chính linh hồn mình, và nhờ đó trở thành một “đệ tử được chấp nhận” (thông qua việc Thánh đoàn công nhận lời cam kết ấy), chúng ta vẫn chưa thể có sự nhận biết rõ ràng và xác thực về Thánh đoàn.
His suppositions, his desires, his aspirational wish-life, his theories, or whatever you may choose to call his reaching out and up towards divinity, give place to clear knowledge of the liberated group of souls.
Những giả định, dục vọng, đời sống ước nguyện đầy khát vọng, lý thuyết của y, hay bất cứ cách gọi nào mà các bạn muốn dùng để chỉ nỗ lực vươn ra và hướng lên thiên tính của y, đều nhường chỗ cho tri thức rõ ràng về nhóm các linh hồn đã giải thoát.
116. Before one is an accepted disciple, one is an aspirant or probationary disciple. Both categories follow the first initiation, for a “true aspirant” is even an initiate of the first degree.
116. Trước khi là một đệ tử được chấp nhận, người ta là người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị. Cả hai hạng này đều thuộc giai đoạn sau lần điểm đạo thứ nhất, vì ngay cả một “người chí nguyện đích thực” cũng đã là điểm đạo đồ bậc một.
117. How does an aspirant or probationary disciple reach out?
117. Người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị vươn ra bằng cách nào?
1. Through suppositions
1. Qua những giả định
2. Through desires
2. Qua những dục vọng
3. Through aspirational wish-life
3. Qua đời sống mong ước đầy khát vọng
4. Through theories
4. Qua những lý thuyết
118. All these modalities suggest that supposition has not been confirmed as factual.
118. Tất cả những phương thức này đều gợi ý rằng giả định chưa được xác nhận là sự thật.
119. We will know the day when confirmation is ours.
119. Chúng ta sẽ biết ngày nào mình có được sự xác nhận ấy.
This happens not through the occurrence of convincing phenomena, but through an inflow of the intuition.
Điều này xảy ra qua một dòng trực giác tuôn vào, chứ không phải qua sự xuất hiện của những hiện tượng có sức thuyết phục.
120. Many look for convincing phenomena—perhaps a dream experience or symbolic teaching, or the appearance of the thoughtform of the Master.
120. Nhiều người tìm kiếm những hiện tượng có sức thuyết phục—có lẽ là một trải nghiệm trong mơ, một lời dạy bằng biểu tượng, hoặc sự xuất hiện của hình tư tưởng của Chân sư.
121. Such phenomena are far less convincing that intuitive confirmation.
121. Những hiện tượng như thế kém sức thuyết phục hơn rất nhiều so với sự xác nhận bằng trực giác.
He undergoes, therefore, an expansion of consciousness which may or may not be registered in the brain.
Vì vậy, y trải qua một sự mở rộng tâm thức mà bộ não có thể ghi nhận hoặc không.
122. This, of course, is the “rub”. We are all more on the inner planes than we have been able to register.
122. Dĩ nhiên, đây chính là “điểm khó”. Trên các cõi bên trong, tất cả chúng ta đều có tầm vóc lớn hơn những gì mình đã có thể ghi nhận.
123. Our task is to “bring through” what we have become or what we already are.
123. Nhiệm vụ của chúng ta là “đưa ra biểu lộ” những gì mình đã trở thành hoặc những gì mình vốn đã là.
Every step of the way from that point of recognition onward has to be consciously achieved and must involve a conscious recognition of a series of expansions. These expansions are not initiation. Have that clearly in your mind.
Từ điểm nhận biết ấy trở đi, mỗi bước trên đường đều phải được thành tựu một cách hữu thức và phải bao hàm sự nhận biết hữu thức về một loạt những sự mở rộng. Những sự mở rộng này không phải là điểm đạo. Hãy ghi nhớ rõ điều đó trong thể trí các bạn.
124. There is, as a preliminary, a point of recognition (the factual recognition of the Hierarchy) followed by a conscious recognition of a series of expansions.
124. Thoạt tiên có một điểm nhận biết (sự nhận biết xác thực về Thánh đoàn), tiếp theo là sự nhận biết có ý thức về một chuỗi những sự mở rộng.
125. DK differentiates—“expansions are not initiation”. Presumably they precede it.
125. Chân sư DK phân biệt rõ—“những sự mở rộng không phải là điểm đạo”. Có lẽ chúng diễn ra trước điểm đạo.
126. It is important to note that the expansions must be consciously recognized. It is not enough for them simply to happen.
126. Cần lưu ý rằng các sự mở rộng phải được nhận biết một cách có ý thức. Chỉ để chúng xảy ra thì chưa đủ.
The initiation lying immediately ahead is simply the effect of the recognition. They might be called "stabilising points of crisis," in which the "occasional becomes the constant and the intended becomes the intentional." Ponder on these words.
Cuộc điểm đạo ngay trước mắt chỉ đơn giản là kết quả của sự nhận biết ấy. Có thể gọi những cuộc điểm đạo này là “những điểm khủng hoảng tạo sự ổn định”, trong đó “điều thỉnh thoảng xảy ra trở thành thường xuyên và điều dự định trở thành chủ định”. Hãy suy ngẫm về những lời này.
127. Such deep things are being conveyed. The glamor surrounding initiation is nowhere to be found; only the factual, subjective process.
127. Những điều hết sức sâu xa đang được truyền đạt. Không còn thấy đâu ảo cảm bao quanh điểm đạo; chỉ có tiến trình chủ quan, xác thực.