← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

128. Let us assess the sequence:

Trích nội dung chương

2. A number of expansions of consciousness which follow the preliminary recognition of Hierarchy, and these expansions have to be consciously recognized 2. Một số sự mở rộng tâm thức tiếp nối sự nhận biết ban đầu về Thánh đoàn, và những sự mở rộng này phải được nhận biết một cách có ý thức


128. Let us assess the sequence:

128. Chúng ta hãy xem xét trình tự:

1. Factual recognition of the reality of the Spiritual Hierarchy as a liberated group of souls

1. Nhận biết xác thực rằng Thánh đoàn thực sự hiện hữu như một nhóm các linh hồn đã giải thoát

2. A number of expansions of consciousness which follow the preliminary recognition of Hierarchy, and these expansions have to be consciously recognized

2. Một số sự mở rộng tâm thức tiếp nối sự nhận biết ban đầu về Thánh đoàn, và những sự mở rộng này phải được nhận biết một cách có ý thức

3. Initiation itself—arising as the “effect” of the conscious recognition of the expansions of consciousness. It becomes clear that initiation is not simply an expansion of consciousness.

3. Chính cuộc điểm đạo—phát sinh như “hệ quả” của việc nhận biết có ý thức những sự mở rộng tâm thức. Rõ ràng điểm đạo không chỉ đơn thuần là một sự mở rộng tâm thức.

129. Each conscious recognition of an expansion of consciousness is a “stabilizing point of crisis”—a very interesting phrase. Stabilization through crisis!

129. Mỗi lần nhận biết có ý thức một sự mở rộng tâm thức là một “điểm khủng hoảng tạo sự ổn định”—một cụm từ rất thú vị. Ổn định thông qua khủng hoảng!

130. Also, what a magnificently clear phrase: “the occasional become the constant and the intended become the intentional”.

130. Và đây là một cách diễn đạt sáng rõ tuyệt vời: “điều thỉnh thoảng xảy ra trở thành điều thường hằng và điều được dự định trở thành ý hướng chủ động”.

131. There are occasional moments when the vistas seen by the initiate dawn on the consciousness of one who is not yet initiate. But these are but fleeting glimpses. Through the process of initiation, these glimpses become a constant realization.

131. Đôi khi có những khoảnh khắc mà các chân trời điểm đạo đồ nhìn thấy bắt đầu hé mở trong tâm thức của một người chưa được điểm đạo. Nhưng đó chỉ là những thoáng thấy mong manh. Thông qua tiến trình điểm đạo, những thoáng thấy ấy trở thành sự chứng nghiệm thường hằng.

132. That which is “intended” is not yet accomplished; though through approach to initiation and through the rite itself, one realizes the method of utilizing the will, or the intention, to make manifest that which had previously simply been intended.

132. Điều “được dự định” vẫn chưa được hoàn thành; tuy nhiên, nhờ tiến đến gần điểm đạo và thông qua chính nghi thức ấy, người ta nhận ra phương pháp vận dụng ý chí, hay ý hướng, để làm hiển lộ điều trước đó mới chỉ là dự định.

133. Those who merely intend have not yet learned to activate and utilize the fulfilling will; they have not yet learned intentionality.

133. Những người chỉ mới dự định thì chưa học được cách khơi hoạt và vận dụng ý chí hoàn thành; họ vẫn chưa học được khả năng chủ động vận dụng ý hướng.

The Hierarchy is now a fact in your life and your awareness. What is the next fact or point of integration or consciously achieved inclusiveness? A study of the formulas and their correct use will reveal this to you.

Giờ đây, Thánh đoàn là một sự thật trong đời sống và sự nhận biết của các bạn. Sự thật kế tiếp, hay điểm tích hợp kế tiếp, hay tính bao gồm được thành tựu một cách hữu thức kế tiếp là gì? Việc nghiên cứu các công thức và sử dụng chúng đúng cách sẽ mặc khải điều này cho các bạn.

134. We begin with the fact that Hierarchy is established as a fact in consciousness, and we look ahead from there. For the chelas to whom DK was writing, this was indeed so, for DK, their Master, was communicating to them through AAB.

134. Chúng ta bắt đầu từ việc Thánh đoàn đã được xác lập như một thực tại trong tâm thức, rồi từ đó nhìn về phía trước. Với những đệ tử mà Chân sư DK đang viết cho, quả thực là như vậy, vì Chân sư DK, Chân sư của họ, đang giao tiếp với họ qua Bà AAB.

135. One would think that these formulas would not be suitable for anyone beneath the rank of accepted disciple, but if they are used before all the five “major initiations” (from one to five), then even those applying for the first degree must be able to use them in some manner.

135. Người ta có thể nghĩ rằng những công thức này không phù hợp với bất kỳ ai chưa đạt địa vị đệ tử được chấp nhận, nhưng nếu chúng được sử dụng trước cả năm “cuộc điểm đạo chính” (từ thứ nhất đến thứ năm), thì ngay cả những người đang xin được điểm đạo bậc một cũng phải có khả năng sử dụng chúng theo một cách nào đó.

136. The study of the formulas and the capacity to work with them correctly, will lead on from the point of establishing the Hierarchy as factual in consciousness.

136. Việc nghiên cứu các công thức và khả năng làm việc đúng cách với chúng sẽ dẫn người ta tiến xa hơn từ điểm đã xác lập Thánh đoàn như một thực tại trong tâm thức.

137. For the individual for whom the existence of the Hierarchy is factual, what is the next step?

137. Với người đã nhận biết sự hiện hữu của Thánh đoàn là một thực tại, bước tiếp theo là gì?

1. The achievement of recognition of the next fact

1. Đạt đến sự nhận biết thực tại tiếp theo

2. The achievement of the next point of integration

2. Đạt đến điểm tích hợp tiếp theo

3. The achievement of the next point of “consciously achieved inclusiveness”

3. Đạt đến mức độ tiếp theo của “tính bao gồm đạt được một cách có ý thức”

138. The formulas are obviously very useful in leading the disciple towards the next stages of unfoldment as described above.

138. Rõ ràng các công thức rất hữu ích trong việc dẫn dắt đệ tử đến những giai đoạn khai mở tiếp theo như đã mô tả ở trên.

I have laid the emphasis upon visualisation and given you some hints connected both with initiation and the creative work of the imagination, because these teachings and the development of these faculties will require calling into play your understanding, if the formulas connected with initiation are to be given.

Tôi đã nhấn mạnh sự hình dung và đưa ra cho các bạn một vài gợi ý liên quan đến cả điểm đạo lẫn công việc sáng tạo của sự tưởng tượng, vì những giáo huấn này cùng sự phát triển các năng lực ấy sẽ đòi hỏi các bạn vận dụng sự thấu hiểu, nếu muốn được trao các công thức liên quan đến điểm đạo.

139. DK is telling us how to approach these formulas. Visualization and the creative work of the imagination are necessary.

139. Chân sư DK đang chỉ cho chúng ta cách tiếp cận các công thức này. Sự hình dung và công việc sáng tạo của sự tưởng tượng là cần thiết.

140. We have to understand the manner in which visualization and creative imagination can be used in relation to these teachings. In fact, the development of the two faculties mentioned cannot occur without understanding.

140. Chúng ta phải thấu hiểu cách vận dụng sự hình dung và sự tưởng tượng sáng tạo trong mối liên hệ với những giáo huấn này. Thực ra, hai năng lực vừa nêu không thể phát triển nếu thiếu sự thấu hiểu.

141. We can see from the first that the formulas cannot be approached solely with the aid of the concrete mind.

141. Ngay từ đầu, chúng ta có thể thấy rằng không thể tiếp cận các công thức chỉ nhờ trí cụ thể.

These six formulas are therefore formulas of integration, and one or two hints may here be imparted.

Vì vậy, sáu công thức này là những công thức tích hợp, và ở đây có thể truyền đạt một hai gợi ý.

142. We remember that just a little earlier in this instruction, DK offered us an ancient mantram as a formula for group integration. The six formulas are more advanced.

142. Chúng ta nhớ rằng chỉ trước đó một chút trong huấn thị này, Chân sư DK đã trao cho chúng ta một mantram cổ xưa làm công thức tích hợp nhóm. Sáu công thức này cao cấp hơn.

143. Below, DK begins to discuss the formulas without actually really describing them or presenting them in any detail. This may contribute, at first, to some difficulty in understanding the full implications of His discussion.

143. Dưới đây, Chân sư DK bắt đầu bàn về các công thức mà chưa thực sự mô tả hay trình bày chúng một cách chi tiết. Ban đầu, điều này có thể phần nào gây khó khăn cho việc thấu hiểu đầy đủ những hàm ý trong phần thảo luận của Ngài.

144. The formulas (and explanatory literature about them) can be quite extensive, so this is not the place to attempt to list them. I would suggest that those interested may enter DINA II and read the six formulas, just as a preliminary to this discussion.

144. Các công thức (cùng tài liệu giải thích về chúng) có thể khá dài, nên đây không phải chỗ để cố gắng liệt kê chúng. Tôi xin gợi ý những ai quan tâm có thể tìm đọc sáu công thức trong DINA II, chỉ để chuẩn bị bước đầu cho phần thảo luận này.

Formula One concerns, as I have told you, integration into a Master's group, and it has two uses—if I might so [248] express it from your particular point of view.

Như Tôi đã nói với các bạn, Công thức Một liên quan đến sự tích hợp vào nhóm của một Chân sư, và có hai công dụng—nếu Tôi có thể diễn đạt như [248] vậy từ quan điểm riêng của các bạn.

145. Our entire theme in this instruction is integration into a Master’s group. The first mantram discussed—“I am one with my group brothers, etc.”—is given precisely for that purpose, and now we see the same is true for Formula One, though, no doubt, in a still more occult manner.

145. Toàn bộ chủ đề của chúng ta trong huấn thị này là sự tích hợp vào nhóm của một Chân sư. Mantram đầu tiên được bàn đến—“Tôi là một với các huynh đệ trong nhóm của tôi, v.v.”—được trao chính vì mục đích đó, và giờ đây chúng ta thấy Công thức Một cũng như vậy, dù chắc chắn theo một cách còn huyền bí hơn.

One produces a group inclusiveness, which integrates you with your group brothers into my group and brings a revelation of the hidden side of a chela's life. When I say this I refer to his new astral conditioning. This is given the name of the Revelation of Group Feeling.

Công dụng thứ nhất tạo ra tính bao gồm của nhóm, tích hợp các bạn cùng những huynh đệ trong nhóm vào nhóm của Tôi và đem lại sự mặc khải về mặt ẩn kín trong đời sống của một đệ tử. Khi nói điều này, Tôi muốn nói đến ảnh hưởng định hình mới đối với thể cảm dục của y. Điều này mang tên Sự Mặc Khải về Cảm Nhận Nhóm.

146. We are speaking of the first use of Formula One.

146. Chúng ta đang nói về công dụng thứ nhất của Công thức Một.

147. The first use has some sub-purposes:

147. Công dụng thứ nhất có một số mục đích phụ:

1. It integrates a group member and all his group brothers into the Tibetan’s (or the Master’s) group.

1. Nó tích hợp một thành viên của nhóm cùng tất cả các huynh đệ trong nhóm của người ấy vào nhóm của Chân sư Tây Tạng (hoặc của Chân sư).

2. It brings a “revelation of the hidden side of the chela’s life”

2. Nó mang lại “sự mặc khải về khía cạnh ẩn giấu trong đời sống của đệ tử”

148. DK speaks of a new “astral conditioning” related to the “Revelation of Group Feeling”. We recognize that these words are related to the purposes given for the practice of Meditations I and II in DINA II.

148. Chân sư DK nói về một “sự định hình về mặt cảm dục” mới liên quan đến “Sự Mặc Khải về Cảm Nhận Nhóm”. Chúng ta nhận ra rằng những lời này liên quan đến các mục đích đã nêu cho việc thực hành Bài thiền I và II trong DINA II.

149. We must remember that the majority of DK’s chelas were being prepared for the second initiation—if not in their current incarnations, then in incarnations immediately ahead.

149. Chúng ta phải nhớ rằng phần lớn đệ tử của Chân sư DK đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai—nếu không trong những kiếp hiện tại thì trong những kiếp ngay sau đó.

150. At the second initiation, the astral body must be re-conditioned, rendered more responsive to the energy of love-wisdom.

150. Ở lần điểm đạo thứ hai, thể cảm dục phải được định hình lại, trở nên đáp ứng hơn với năng lượng Bác Ái – Minh Triết.

151. We must also remember the group implications of the second degree, to be associated with the sign Aquarius and the Fellowcraft Degree of Masonry. The divisiveness of Mars is ended and a new influence of Venus occurs in relation to the astral body, rendering it far more soul-responsive.

151. Chúng ta cũng phải nhớ những hàm ý về nhóm của bậc điểm đạo thứ hai, vốn liên quan đến dấu hiệu Bảo Bình và bậc Thợ Bạn trong Hội Tam Điểm. Tính chia rẽ của Sao Hỏa chấm dứt, và một ảnh hưởng mới của Sao Kim tác động đến thể cảm dục, khiến thể này đáp ứng với linh hồn nhiều hơn hẳn.

This subject is vaster in its implications than you might surmise, for it concerns united group sensitivity or response, outwards to the world of men, inwards to the Hierarchy, and upwards to the Monad.

Chủ đề này có những hàm ý rộng lớn hơn các bạn có thể phỏng đoán, vì nó liên quan đến sự nhạy cảm hay đáp ứng hợp nhất của nhóm, hướng ra thế giới loài người, hướng vào Thánh đoàn và hướng lên chân thần.

152. Three modes of response are associated with the Revelation of Group Feeling and the reconditioning of astral sensitivity:

152. Ba phương thức đáp ứng gắn liền với Sự Mặc Khải về Cảm Nhận Nhóm và việc định hình lại sự nhạy cảm cảm dục:

1. Response outwards to the world of men

1. Đáp ứng hướng ra ngoài đến thế giới nhân loại

2. Response inwards to the Hierarchy

2. Đáp ứng hướng vào trong đến Thánh đoàn

3. Responsive upwards to the Monad

3. Đáp ứng hướng lên trên đến chân thần

153. These ‘directions’ of response are interesting, are they not. Humanity is definitely, in this context, an externality, correlated as it is with the throat center.

153. Những ‘hướng’ đáp ứng này thật thú vị, phải không. Trong ngữ cảnh này, nhân loại rõ ràng là một thực tại bên ngoài, vì có mối tương quan với trung tâm cổ họng.

154. Hierarchy is an ‘internality’, associated with the heart center.

154. Thánh đoàn là một ‘thực tại bên trong’, gắn liền với trung tâm tim.

155. For the Monad (inherently, a ‘member’ of Shamballa) is reserved the direction “upwards”.

155. Hướng “lên trên” được dành cho chân thần (vốn là một ‘thành viên’ của Shamballa).

156. The “Kingdom of Heaven is within”, the Christ has told us. We might well say, equivalently, “The Kingdom of God is within”—i.e., the Kingdom of Souls, the fifth kingdom, the Hierarchy.

156. Đức Christ đã nói với chúng ta: “Nước Trời ở bên trong”. Chúng ta hoàn toàn có thể nói một cách tương đương: “Thiên Giới ở bên trong”—nghĩa là Giới các Linh hồn, giới thứ năm, Thánh đoàn.

157. Interestingly, the Monad, per se, is a member of the sixth kingdom—the Kingdom of Planetary Lives.

157. Điều thú vị là chính chân thần lại là một thành viên của giới thứ sáu—Giới các Sự Sống Hành tinh.

158. We all know how readily we respond astrally to the level of humanity. But there is also an appropriate astral response to the Hierarchy and, as well, to the Monad which is ‘located’ on the second systemic plane (counting from above) just as the astral plane is located on the second systemic plane (counting from below). The two are resonant in this way.

158. Tất cả chúng ta đều biết mình dễ dàng đáp ứng về mặt cảm dục với cấp độ nhân loại như thế nào. Nhưng cũng có một sự đáp ứng cảm dục thích hợp đối với Thánh đoàn và cả chân thần, vốn ‘tọa lạc’ trên cõi thứ hai của hệ mặt trời (tính từ trên xuống), cũng như cõi cảm dục nằm trên cõi thứ hai của hệ mặt trời (tính từ dưới lên). Hai cõi cộng hưởng với nhau theo cách này.

159. Let us note the word “united” in “united group sensitivity”. The meditations given and the discussion of Formula One do not concern especially the response of the re-conditioning of the astral response of the individual disciple, but of the entire group of disciples—unitedly.

159. Chúng ta hãy lưu ý từ “hợp nhất” trong “sự nhạy cảm hợp nhất của nhóm”. Các bài thiền đã trao và phần thảo luận về Công thức Một không đặc biệt đề cập đến sự đáp ứng hay việc định hình lại đáp ứng cảm dục của cá nhân đệ tử, mà của toàn bộ nhóm đệ tử—như một thể thống nhất.

It does not concern the sum total of the petty moods and feelings of the personalities of the group members.

Nó không liên quan đến tổng thể những tâm trạng và cảm xúc vụn vặt của phàm ngã các thành viên trong nhóm.

160. DK has said it even more directly.

160. Chân sư DK đã nói điều đó còn trực tiếp hơn nữa.

161. The astral vehicle is to become the reflector of the energy of love.

161. Thể cảm dục phải trở thành tấm gương phản chiếu năng lượng bác ái.

Its second use is to bring about contact with the Master of your group—in this case myself, the Master D.K. This is a process which I have already done my best to help you to achieve through my instructions re the Full Moon contact—something you have most inadequately understood and attempted. Perhaps now you will work harder at the production of "contact relationship" as it is esoterically called. It is with Formula One that you must now work.

Công dụng thứ hai là tạo sự tiếp xúc với Chân sư của nhóm các bạn—trong trường hợp này là chính Tôi, Chân sư DK. Đây là một tiến trình mà Tôi đã cố gắng hết sức để giúp các bạn thành tựu qua những huấn thị về sự tiếp xúc vào kỳ Trăng Tròn—một điều mà các bạn đã thấu hiểu và cố gắng thực hiện hết sức thiếu sót. Có lẽ giờ đây các bạn sẽ nỗ lực hơn để tạo ra điều mà huyền bí học gọi là “mối quan hệ tiếp xúc”. Chính với Công thức Một mà giờ đây các bạn phải làm việc.

162. DK now discusses the second use of Formula One. The first use was “integration into a Master’s group”. The second is “contact with the Master of your group”.

162. Giờ đây, Chân sư DK bàn về công dụng thứ hai của Công thức Một. Công dụng thứ nhất là “sự tích hợp vào nhóm của một Chân sư”. Công dụng thứ hai là “sự tiếp xúc với Chân sư của nhóm các bạn”.

163. We see that contact with the Master follows upon integration into the Master’s group. This should be remembered by eager students who seem to place contact before the arduous work of integration.

163. Chúng ta thấy rằng sự tiếp xúc với Chân sư diễn ra sau khi đã tích hợp vào nhóm của Ngài. Những đạo sinh nhiệt thành dường như đặt việc tiếp xúc trước công việc tích hợp gian nan cần ghi nhớ điều này.

164. We may remember that the kind of contact to be achieved at the time of the Full Moon is group contact. The Master is not particularly interested in strictly individual appeal.

164. Chúng ta có thể nhớ rằng loại tiếp xúc cần đạt được vào thời điểm Trăng Tròn là tiếp xúc nhóm. Chân sư không đặc biệt quan tâm đến lời thỉnh cầu thuần túy cá nhân.

165. It is clear that as simple as may have been the instructions regarding the desired Full Moon contact, it was not really comprehended nor attempted (in the correct manner). This offers another pause for reflection.

165. Rõ ràng, dù những huấn thị về sự tiếp xúc mong muốn vào lúc Trăng Tròn có đơn giản đến đâu, người ta vẫn chưa thực sự thấu hiểu hay cố gắng thực hiện chúng (theo cách đúng đắn). Điều này lại cho chúng ta một dịp dừng lại suy ngẫm.

166. The name of the desired type of contact with the Master is called “contact relationship”.

166. Loại tiếp xúc mong muốn với Chân sư được gọi là “mối quan hệ tiếp xúc”.

167. When disciples truly understand why they are to do something, they tend to work harder at it. There is, initially, a surprising inability on the part of many to simply follow the Master’s instructions. Much time is thereby lost.

167. Khi các đệ tử thực sự thấu hiểu vì sao họ phải làm một điều gì đó, họ có xu hướng nỗ lực hơn để thực hiện điều ấy. Ban đầu, nhiều người tỏ ra thiếu khả năng chỉ đơn giản làm theo những huấn thị của Chân sư, đến mức đáng ngạc nhiên. Vì thế, rất nhiều thời gian bị lãng phí.

168. We are moving through a brief description of the various formulas without detailing their content.

168. Chúng ta đang lần lượt xem qua phần mô tả ngắn gọn về các công thức khác nhau mà chưa đi sâu vào nội dung của chúng.

Formula Two deals with alignment; not alignment as it is understood in the very necessary preparatory work of the Arcane School. That form of alignment is the production of effective and direct contact with the soul.

Công thức Hai đề cập đến sự chỉnh hợp; không phải sự chỉnh hợp theo cách hiểu trong công việc chuẩn bị hết sức cần thiết của Trường Arcane. Hình thức chỉnh hợp đó là tạo sự tiếp xúc hữu hiệu và trực tiếp với linh hồn.

169. We are informed that Formula Two deals with alignment, but the alignment is not of a preliminary nature.

169. Chúng ta được cho biết rằng Công Thức Hai đề cập đến sự chỉnh hợp, nhưng sự chỉnh hợp này không mang tính chất sơ bộ.

170. For there to be an alignment, a minimum of two factors are required.

170. Để có sự chỉnh hợp, cần tối thiểu hai yếu tố.

171. In this section Teachings on Initiation are being offered, and it is thus assumed that a preliminary approach to occult meditation has been somewhat mastered. Yet how many of us can say with assurance that our alignment and contact with the soul is all that it should be—i.e., “effective and direct”?

171. Phần này trình bày những Giáo Huấn về Điểm Đạo, vì thế mặc nhiên giả định rằng người học đã phần nào thành thạo cách tiếp cận sơ bộ với tham thiền huyền môn. Tuy nhiên, có bao nhiêu người trong chúng ta có thể quả quyết rằng sự chỉnh hợp và tiếp xúc của mình với linh hồn đã đạt đúng mức cần có—nghĩa là “hữu hiệu và trực tiếp”?

The alignment to which this formula refers is connected with the antahkarana. This will be our next consideration when Formula One has brought about certain changes in consciousness.

Sự chỉnh hợp mà công thức này nói đến liên quan đến antahkarana. Đây sẽ là điều tiếp theo chúng ta xem xét khi Công thức Một đã tạo ra những thay đổi nhất định trong tâm thức.

172. We see how gradually the Tibetan proceeds in introducing His chelas to this new mode of work.

172. Chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng từng bước giới thiệu cho các đệ tử của Ngài phương thức làm việc mới này.

173. Initial work on the antahkarana may be undertaken somewhat before the second initiation. As the majority of DK’s chelas stood at that point in their development, we can see that it was both useful and appropriate to introduce the antahkarana work to them.

173. Công việc ban đầu với antahkarana có thể bắt đầu một thời gian trước lần điểm đạo thứ hai. Vì phần lớn đệ tử của Chân sư DK đang ở mức phát triển ấy, chúng ta có thể thấy rằng việc giới thiệu công việc với antahkarana cho họ vừa hữu ích vừa thích hợp.

174. We note the implication that successful work with any one of the successive formulas seems to be dependent upon the correct utilization of the formulas which preceded it. We also remember that these formulas can be used before each of the major initiations. We can, therefore, understand what a considerable scope of work is being presented in this discussion.

174. Chúng ta lưu ý hàm ý rằng việc vận dụng thành công bất kỳ công thức nào trong chuỗi công thức kế tiếp nhau dường như tùy thuộc vào việc sử dụng đúng đắn những công thức đi trước. Chúng ta cũng nhớ rằng có thể sử dụng những công thức này trước mỗi cuộc điểm đạo chính. Vì vậy, chúng ta có thể thấu hiểu phạm vi công việc rộng lớn đến mức nào đang được trình bày trong phần thảo luận này.

175. As DK’s chelas were being prepared for the second initiation (the majority) or the third (perhaps a few), it would be their obligation to learn how the various formulas could be used correctly for their particular stage of unfoldment.

175. Vì các đệ tử của Chân sư DK đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai (phần lớn) hoặc lần thứ ba (có lẽ một vài người), họ có bổn phận học cách sử dụng đúng đắn các công thức khác nhau cho giai đoạn khai mở cụ thể của chính họ.

I shall not consider these formulas at present.

Hiện tại, Tôi sẽ không xem xét các công thức này.

176. We see that we are only being given what DK considers an introduction to the formulas.

176. Chúng ta thấy rằng mình chỉ đang được cung cấp những gì Chân sư DK xem là phần giới thiệu về các công thức.

I will only point out their major implications which will be seldom what you think, conditioned as you are by the terms and interpretations of the lower mind.

Tôi chỉ nêu ra những hàm ý chính của chúng, vốn hiếm khi giống với điều các bạn nghĩ, vì các bạn đang chịu ảnh hưởng của những thuật ngữ và cách diễn giải của hạ trí.

177. What DK is doing is offering an interpretation of the formulas from the perspective of their “major implications”. He is leading His chelas beyond the reflex interpretations offered by their lower mind.

177. Điều Chân sư DK đang làm là đưa ra cách diễn giải các công thức từ góc nhìn về những “hàm ý chính” của chúng. Ngài đang dẫn dắt các đệ tử của mình vượt khỏi những cách diễn giải theo phản xạ do hạ trí của họ đưa ra.

178. His purpose is to ensure that His chelas lose some of their trust in their lower mind interpretations. The ready interpretations, offered in accordance with the habitual thoughts of the lower mind, cannot be the correct ones.

178. Mục đích của Ngài là bảo đảm rằng các đệ tử của mình bớt tin cậy vào những cách diễn giải của hạ trí. Những cách diễn giải có sẵn, được đưa ra theo những tư tưởng quen thuộc của hạ trí, không thể là những cách diễn giải đúng.

179. This brings me to a point: when we study DK we use, of course, the lower mind, but the testimony of the lower mind is never sufficient to apprehend the depth what He has offered.

179. Điều này đưa tôi đến một điểm: dĩ nhiên, khi nghiên cứu giáo huấn của Chân sư DK, chúng ta sử dụng hạ trí, nhưng những gì hạ trí xác nhận không bao giờ đủ để lĩnh hội chiều sâu của những điều Ngài đã đưa ra.

Formula Three is related to certain changes in the egoic lotus.

Công thức Ba liên quan đến một số thay đổi trong Hoa Sen Chân Ngã.

180. For those who may be somewhat familiar with the six stanzas of Formula Three, we have here quite an extraordinary statement.

180. Đối với những ai có thể đã phần nào quen thuộc với sáu bài kệ của Công Thức Ba, ở đây chúng ta có một phát biểu hết sức phi thường.

181. These six are particularly associated with the third initiation (and are called, by one of the Masters—so we are told—“the seed of all philosophies”). (DINA II 284)

181. Sáu bài kệ này đặc biệt gắn liền với lần điểm đạo thứ ba (và theo lời chúng ta được biết, một trong các Chân sư gọi chúng là “hạt giống của mọi triết học”). (DINA II 284)

182. As the abstract mind is accessed (which must be done if philosophy is truly to be pursued) and as the third initiation is approached, there must be certain corresponding changes in the egoic lotus (in fact all nine of the usual petals are said to be fully opened at the time of this initiation).

182. Khi tiếp cận trí trừu tượng (điều phải làm nếu thực sự muốn theo đuổi triết học) và khi tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba, hẳn phải có những thay đổi tương ứng nhất định trong Hoa Sen Chân Ngã (thực ra, người ta nói rằng cả chín cánh hoa thông thường đều nở hoàn toàn vào thời điểm cuộc điểm đạo này).

“By the time the third Initiation is reached, a wondrous transformation has transpired. The outer sphere is palpitating with every colour in the rainbow, and is of wide radius; the streams of electrical energy circulating in it are so powerful that they are escaping beyond the periphery of the circle, resembling the rays of the sun. The nine petals are fully unfolded, forming a gracious setting for the central jewel, and their orange hue is now of a gorgeous translucence, shot with many colours, that of the egoic ray predominating. “ (TCF 763)

“Đến khi đạt tới lần Điểm Đạo thứ ba, một sự chuyển đổi kỳ diệu đã diễn ra. Khối cầu bên ngoài đang rung lên với mọi sắc màu của cầu vồng và có bán kính rộng lớn; các dòng năng lượng điện lưu chuyển trong đó mạnh đến mức tràn ra ngoài chu vi vòng tròn, giống như những tia sáng mặt trời. Chín cánh hoa đã khai mở hoàn toàn, tạo thành một nền thanh nhã cho bảo ngọc trung tâm, và giờ đây sắc cam của chúng mang vẻ trong mờ lộng lẫy, đan xen nhiều màu sắc, trong đó màu của cung chân ngã chiếm ưu thế. “ (TCF 763)

183. We may judge that the use of Formula Three contributes to this development.

183. Chúng ta có thể nhận định rằng việc sử dụng Công Thức Ba góp phần vào sự phát triển này.

These changes might be inadequately expressed in the terms of the Old Commentary:

Có thể diễn đạt những thay đổi này, dù chưa đầy đủ, bằng những lời trong Cổ Luận:

"There is that which transmutes knowledge into wisdom within a flash of time; there is that which changes sensitivity into love within an area of space; there is [249] that which alters sacrifice into bliss where neither time nor space exists."

“Có cái chuyển hoá tri thức thành minh triết trong một chớp thời gian; có cái biến đổi sự nhạy cảm thành tình thương trong một vùng không gian; có [249] cái biến sự hi sinh thành chí phúc nơi không có cả thời gian lẫn không gian.”

184. Here is an extraordinary statement.

184. Đây là một phát biểu phi thường.

185. We are looking for the nature of “that”. There may be three different kinds of ‘thats’

185. Chúng ta đang tìm hiểu bản chất của “cái ấy”. Có thể có ba loại “cái ấy” khác nhau.

186. We have transmutation, change and alteration, each, perhaps, with a slightly different meaning.

186. Chúng ta có sự chuyển hoá, thay đổi và biến đổi, mỗi từ có lẽ mang một ý nghĩa hơi khác nhau.

187. The transmutation of knowledge into wisdom is largely the work of Venus.

187. Việc chuyển hoá tri thức thành minh triết phần lớn là công việc của Sao Kim.

“He needs to grasp the spiritual side of Venus which emphasises that the Son of God who is the Son of mind is the instrument of God's love; he must learn, therefore, to transmute knowledge into wisdom.” (EA 394)

“Y cần nắm bắt phương diện tinh thần của Sao Kim, vốn nhấn mạnh rằng Con của Thượng đế, cũng là Con của Trí Tuệ, là khí cụ của tình thương Thượng đế; vì vậy, y phải học cách chuyển hoá tri thức thành minh triết.” (EA 394)

188. The term “transmutation” suggests that “knowledge” is of a lower order than “wisdom”, because that into which something is transmuted is always ‘higher’ in nature than that which is transmuted.

188. Thuật ngữ “chuyển hoá” gợi ý rằng “tri thức” thuộc một cấp thấp hơn “minh triết”, bởi điều mà một thứ được chuyển hoá thành luôn có bản chất “cao hơn” thứ được chuyển hoá.

189. When we see a term like “flash”, we suspect that either Mercury or Uranus is also involved.

189. Khi thấy một từ như “thoáng”, chúng ta ngờ rằng Sao Thủy hoặc Sao Thiên Vương cũng có liên quan.

190. Knowledge involves sequentiality; wisdom suggests simultaneity.

190. Tri thức bao hàm tính tuần tự; minh triết gợi lên tính đồng thời.

191. We seem to be dealing with a kind of instant enlightenment or “Satori”.

191. Dường như chúng ta đang bàn đến một loại giác ngộ tức thời hay “đốn ngộ”.

192. Each part of the statement would have to be carefully pondered, but it is my thought that in each case it is the Spirit, and especially the influences of Uranus and Neptune which accomplish this transmutation, change and alteration.

192. Mỗi phần của phát biểu này đều cần được suy ngẫm cẩn thận, nhưng tôi cho rằng trong mỗi trường hợp, chính Tinh thần, và đặc biệt là những ảnh hưởng của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, thực hiện sự chuyển hoá, thay đổi và biến đổi ấy.

193. “Spirit”, then, is the primary ‘that’.

193. Vậy, “Tinh thần” là ‘cái ấy’ chủ yếu.

194. Knowledge is time-conditioned. The implication is that Wisdom is ageless. Only a certain type of consciousness can accomplish this transmutation. Suddenly, one must simply see differently. The heart is definitely involved in this process because the heart is an organ of synthesis.

194. Tri thức chịu sự chi phối của thời gian. Hàm ý ở đây là Minh triết vượt thời gian. Chỉ một loại tâm thức nhất định mới có thể thực hiện sự chuyển hoá này. Đột nhiên, người ta đơn giản phải thấy theo một cách khác. Chắc chắn tim có tham gia vào tiến trình này, bởi tim là một cơ quan tổng hợp.

195. The putting of many ‘pieces’ together, so that they are a whole and no longer need be regarded as sequentially related (as they would under the lower influence of Saturn) is a task for Mercury, which instantaneously unites the many into one.

195. Việc kết hợp nhiều “mảnh” lại với nhau để chúng trở thành một tổng thể và không còn cần được xem là có quan hệ tuần tự (như dưới ảnh hưởng thấp của Sao Thổ) là nhiệm vụ của Sao Thủy, vốn tức khắc hợp nhất cái nhiều thành cái một.

196. There is the implication that those who have come into the possession of wisdom are no longer bound by time as they were hitherto. They have entered a dimension from which they can perceive what we can all the “always so”.

196. Điều này hàm ý rằng những ai đã có được minh triết không còn bị thời gian ràng buộc như trước. Họ đã bước vào một chiều kích mà từ đó họ có thể nhận biết điều chúng ta có thể gọi là “luôn luôn như vậy”.

197. Time can reasonably be correlated with the third and first aspects of divinity. Space can be correlated with the second aspect.

197. Có thể liên hệ một cách hợp lý thời gian với phương diện thứ ba và thứ nhất của thiên tính. Có thể liên hệ không gian với phương diện thứ hai.

198. When dealing with the change of “sensitivity into love within an area of space”, we are speaking of the transference of the energy of the solar plexus (through which is mediated sensitivity) into the heart center—the organ of love.

198. Khi bàn đến việc biến “sự nhạy cảm thành tình thương trong một vùng không gian”, chúng ta đang nói đến sự chuyển dịch năng lượng của tùng thái dương (nơi làm trung gian cho sự nhạy cảm) vào trung tâm tim—cơ quan của tình thương.

199. Space is Jupiterian and Jupiter is related primarily to the second ray.

199. Không gian mang tính chất Sao Mộc, và Sao Mộc chủ yếu liên quan đến cung hai.

200. It is as if we are changing lunar (and Martian) sensitivity into cohesive, Jupiterian encompassment.

200. Dường như chúng ta đang biến sự nhạy cảm thuộc Mặt Trăng (và Sao Hỏa) thành sự bao trùm mang tính cố kết của Sao Mộc.

201. Just as knowledge is particular, so is sensitivity. Wisdom is encompassing and so is love. Wisdom relates more to perception and thus to the Doctrine of the Eye (in this case the “Single Eye”) whereas love relates to the heart.

201. Tri thức mang tính riêng biệt, và sự nhạy cảm cũng vậy. Minh triết mang tính bao trùm, và tình thương cũng vậy. Minh triết liên quan nhiều hơn đến sự nhận biết, do đó liên quan đến nhãn pháp (trong trường hợp này là “Con Mắt Duy Nhất”), trong khi tình thương liên quan đến tim.

202. Sensitivity still involves a duality within the field of space—the space of the one sensitive, and the space of the object of sensitivity.

202. Sự nhạy cảm vẫn bao hàm một nhị nguyên trong trường không gian—không gian của người nhạy cảm và không gian của đối tượng mà sự nhạy cảm hướng đến.

203. Love overcomes this dichotomy or duality: the ‘space’ of the previous two becomes one. The one who truly loves ‘shares the same space’ as the one loved. “Lo, I am with you even unto the end of the Age”.

203. Tình thương vượt qua sự phân đôi hay nhị nguyên này: “không gian” của hai bên trước đó trở thành một. Người thực sự yêu thương “chia sẻ cùng một không gian” với người mình yêu thương. “Này, Ta ở cùng các ngươi cho đến tận cùng của Kỷ Nguyên”.

204. So, in our own energy systems, have we filled the “space” of which we are aware sufficiently to have transmuted specific sensitivities into a generalized ‘spatial’ love?

204. Vậy, trong các hệ thống năng lượng của chính mình, chúng ta đã lấp đầy “không gian” mà mình nhận biết đủ để chuyển hoá những sự nhạy cảm cụ thể thành một tình thương “không gian” bao quát hay chưa?

205. As for the alteration of “sacrifice into bliss where neither time nor space exists”, the Spirit will know what is to be done.

205. Còn về việc biến “sự hi sinh thành chí phúc nơi cả thời gian lẫn không gian đều không tồn tại”, Tinh thần sẽ biết cần phải làm gì.

206. True sacrifice is a ‘blissful disengagement’ from all that would hold us in the worlds of relativity. When all difference is hidden and form is blotted out, there is only the One into which all diversity dissolved. The usual presentations of diversity (though cognized) are known for what they are—fundamentally the One.

206. Sự hi sinh đích thực là một “sự thoát ly trong chí phúc” khỏi tất cả những gì có thể giữ chúng ta trong các cõi tương đối. Khi mọi khác biệt đều ẩn đi và hình tướng bị xóa mờ, chỉ còn Đấng Duy Nhất, trong đó mọi tính đa dạng đều tan biến. Những biểu hiện thông thường của tính đa dạng (dù vẫn được nhận biết) được biết đúng như bản chất của chúng—về căn bản là Đấng Duy Nhất.

207. Without diversity there can be neither time nor space. That “where” is in the inmost recesses of the Spirit, which may be quite inaccessible until knowledge is transmuted into wisdom and sensitivity is changed into love. First things first.

207. Không có tính đa dạng thì không thể có thời gian hay không gian. “Nơi” ấy nằm trong chốn sâu thẳm nhất của Tinh thần, có thể hoàn toàn không thể tiếp cận cho đến khi tri thức chuyển hoá thành minh triết và sự nhạy cảm biến thành tình thương. Việc trước phải làm trước.

208. This amazing little paragraph holds potential for a life-time of contemplation. Where, in the majority of channeled material offered today as authentic, can one find anything so poignantly true as this?

208. Đoạn văn ngắn đáng kinh ngạc này chứa đựng tiềm năng cho cả một đời chiêm ngưỡng. Trong phần lớn những tài liệu truyền dẫn hiện nay được giới thiệu là xác thực, người ta có thể tìm thấy ở đâu một điều chân thực đến thấm thía như thế này?

Formula Four has a specific effect upon the "jewel in the lotus," awakening it to life;

Công thức Bốn có tác động đặc thù lên “Bảo Ngọc Trong Hoa Sen”, đánh thức nó vào sự sống;

209. The number four is particularly connected with the “jewel in the lotus”. We see this by noting the division of the three usual tiers of petals in the egoic lotus, and adding the synthesis petals and jewel considered as a unit (which often they are).

209. Số bốn đặc biệt gắn liền với “Bảo Ngọc Trong Hoa Sen”. Chúng ta thấy điều này khi lưu ý sự phân chia thành ba tầng cánh hoa thông thường trong Hoa Sen Chân Ngã, rồi cộng thêm các cánh hoa tổng hợp và bảo ngọc, được xem như một đơn vị (như chúng thường được xem).

210. Interestingly it is buddhic stream of energy which is responsible for creating the three synthesis petals (at the time of origin of the egoic lotus). But we may wonder whether the Jewel itself might not have an additional correlation with the atmic plane. Certainly, there is a direct line from the Monad to it. (TCF, Chart VIII

210. Điều thú vị là chính dòng năng lượng Bồ đề tạo ra ba cánh hoa tổng hợp (vào thời điểm Hoa Sen Chân Ngã hình thành). Nhưng chúng ta có thể tự hỏi liệu chính Bảo Ngọc còn có thêm mối tương quan với cõi atma hay không. Chắc chắn có một đường trực tiếp từ Chân thần đến bảo ngọc ấy. (TCF, Biểu đồ VIII

211. Vulcan, the occult Fashioner of the jewel, is also connected with Taurus and the fourth ray. Perhaps the fourth ray is Vulcan’s secondary monadic ray.

211. Vulcan, Đấng Chế Tác huyền bí của bảo ngọc, cũng liên quan đến Kim Ngưu và cung bốn. Có lẽ cung bốn là cung chân thần thứ yếu của Vulcan.

212. Formula Four is solar in many respects and filled with colour (colour is always associated with the number four).

212. Về nhiều phương diện, Công Thức Bốn mang tính thái dương và tràn đầy màu sắc (màu sắc luôn gắn liền với số bốn).

213. It has been reasonably suggested that the monadic ray of our Solar Logos is the fourth (I would say the secondary monadic ray or monadic subray). This gives another reason for the correlation.

213. Đã có một gợi ý hợp lý rằng cung chân thần của Thái dương Thượng đế chúng ta là cung bốn (tôi cho rằng đó là cung chân thần thứ yếu hay cung phụ chân thần). Điều này đưa ra thêm một lý do cho mối tương quan ấy.

this it does (through effects produced) upon the three planes of the three worlds, thus bringing about changes in the seven wheels (centres) so that the "dynamic point at the centre of each wheel obliterates the lesser points of force, and thus the wheel begins to turn upon itself."

công thức thực hiện điều này (qua những hiệu quả được tạo ra) trên ba cõi của ba cõi giới, nhờ đó tạo ra những thay đổi trong bảy bánh xe (các trung tâm), sao cho “điểm năng động ở trung tâm mỗi bánh xe xoá tan những điểm mãnh lực nhỏ hơn, và như vậy bánh xe bắt đầu tự quay quanh mình”.

214. We are perhaps familiar with the idea that every chakra is threefold, with the centermost point being a “jewel”.

214. Có lẽ chúng ta đã quen với ý tưởng rằng mỗi luân xa đều có cấu trúc tam phân, với điểm ở chính giữa là một “bảo ngọc”.

215. We have an important piece of information to correlate with the idea that at a certain point of development the “wheel turns upon itself”. In TCF we are given a fivefold sequence (in the discussion of five universal symbols beginning with a circle and ending with a rotating swastika), and this piece of information should be inserted in the fourth or fifth stage where the rotating cross appears.

215. Chúng ta có một thông tin quan trọng để liên hệ với ý tưởng rằng ở một mức phát triển nhất định, “bánh xe tự xoay quanh chính nó”. Trong TCF, chúng ta được cung cấp một chuỗi ngũ phân (trong phần thảo luận về năm biểu tượng phổ quát, bắt đầu bằng một vòng tròn và kết thúc bằng một chữ vạn đang quay), và thông tin này cần được đưa vào giai đoạn thứ tư hoặc thứ năm, nơi xuất hiện thập giá đang quay.

216. This correlation would seem to associate the power of Vulcan (or spiritual will) with the point at which the wheel begins to turn on itself. The process may even begin at the first initiation, before which Vulcan is so important.

216. Mối tương quan này dường như liên kết quyền năng của Vulcan (hay ý chí tinh thần) với thời điểm bánh xe bắt đầu tự xoay quanh chính nó. Tiến trình này thậm chí có thể bắt đầu ở lần điểm đạo thứ nhất, trước đó Vulcan có vai trò rất quan trọng.

“When the threefold basic fire and the threefold pranic fire meet and merge, then evolution proceeds with greatly increased velocity. This is effected definitely at the first Initiation when the polarisation becomes fixed in one or other of the three higher centres,—which centre being dependent upon a man's ray.

“Khi lửa căn bản tam phân và lửa prana tam phân gặp nhau và hòa nhập, tiến hoá sẽ tiếp diễn với tốc độ gia tăng rất lớn. Điều này nhất định được thực hiện ở lần Điểm Đạo thứ nhất, khi sự phân cực trở nên cố định tại một trong ba trung tâm cao hơn,—trung tâm nào thì tùy thuộc vào cung của mỗi người.

The result of this merging leads to a change in the action of the centres. They become ‘wheels turning upon themselves,’ and from a purely rotary movement become fourth dimensional in action, and manifest as radiant whirling centres of living fire.” (TCF 124)

Kết quả của sự hòa nhập này dẫn đến một thay đổi trong hoạt động của các trung tâm. Chúng trở thành ‘những bánh xe tự xoay quanh chính mình’, và từ một chuyển động thuần túy xoay tròn, hoạt động của chúng trở thành bốn chiều, biểu hiện như những trung tâm lửa sống động, xoáy tròn và tỏa sáng.” (TCF 124)

217. This brings me to a point. In the quest for Pure Reason, every uncorrelated piece of information is of great value. The wisdom is surely scattered through DK’s books, and the assembly and assimilation (a huge task—which cannot be done by computers!) is up to us. Every little point properly integrated can open up vistas of previously unimagined revelation. This is the world of Mercury leading to the holistic perceptions of Jupiter: meticulous entirety within a unified field.

217. Điều này đưa tôi đến một điểm. Trong cuộc tìm kiếm Lý Trí Thuần Khiết, mỗi thông tin chưa được liên hệ với những thông tin khác đều có giá trị lớn. Chắc chắn minh triết nằm rải rác trong các sách của Chân sư DK, và việc tập hợp, đồng hóa chúng (một nhiệm vụ khổng lồ—mà máy tính không thể thực hiện!) là phần việc của chúng ta. Mỗi điểm nhỏ được tích hợp đúng đắn đều có thể mở ra những chân trời mặc khải trước đây chưa từng hình dung. Đây là thế giới của Sao Thủy dẫn đến những nhận biết toàn diện của Sao Mộc: sự toàn vẹn đến từng chi tiết trong một trường hợp nhất.

Formula Five awakens the Will, but any interpretation of this awakening would prove meaningless to you until the previous four formulas have established an effect upon you and the needed interior changes have taken place.

Công thức Năm đánh thức Ý Chí, nhưng mọi cách diễn giải về sự thức tỉnh này đều sẽ vô nghĩa đối với các bạn cho đến khi bốn công thức trước đã tạo được tác động lên các bạn và những thay đổi nội tâm cần thiết đã diễn ra.

218. DK was indeed writing for the future when He gave these formulas. In the few short years remaining to His active participation with His group of twenty-four, there was no way the necessary assimilation could be accomplished.

218. Quả thực, Chân sư DK đã viết cho tương lai khi Ngài đưa ra những công thức này. Trong vài năm ngắn ngủi còn lại mà Ngài tích cực làm việc với nhóm hai mươi bốn người của mình, không có cách nào hoàn thành sự đồng hóa cần thiết.

219. There is no way, either, that we can accomplish it—so deep are intuitively demanding are these formulas.

219. Cũng không có cách nào để chúng ta hoàn thành điều ấy—những công thức này sâu sắc và đòi hỏi trực giác đến như vậy.

220. This is yet another confirmation of the sequentiality of the Formulas for Initiation. They are nothing to be learned and memorized with the concrete mind. They must be thoroughly integrated into the spiritual process through which we are all passing.

220. Đây lại là một sự xác nhận nữa về tính tuần tự của các Công Thức Điểm Đạo. Chúng không phải là những điều để học và ghi nhớ bằng trí cụ thể. Chúng phải được tích hợp trọn vẹn vào tiến trình tinh thần mà tất cả chúng ta đang trải qua.

221. That Formula Five should awaken the Will is fitting, as the number five can be correlated with both the major head center and with the atmic plane (which, we are told, the major head center rules—in addition to its higher associations with the monadic and logoic planes).

221. Việc Công Thức Năm đánh thức Ý Chí là thích hợp, vì có thể liên hệ số năm với cả trung tâm đầu chính lẫn cõi atma (theo lời chúng ta được biết, trung tâm đầu chính cai quản cõi này—ngoài những mối liên hệ cao hơn của nó với cõi chân thần và cõi Thượng đế).

Formula Six is sometimes called "the word of death."

Công thức Sáu đôi khi được gọi là “linh từ của sự chết”.

222. Here, indeed, is the association with the Monad—the Author of eternal life and of all that is considered to be “death” in the lower worlds.

222. Quả thực, ở đây có mối liên hệ với Chân thần—Đấng Khởi Sinh sự sống vĩnh cửu và tất cả những gì được xem là “sự chết” trong các cõi thấp.

It negates the destructive effect of the death process which is going on all the time within the mechanism of the disciple or initiate.

Nó phủ định tác động huỷ diệt của tiến trình chết đang liên tục diễn ra trong bộ máy của đệ tử hay điểm đạo đồ.

223. We are presented with the occult idea that the “word of death” negates death, as usually understood in the lower worlds.

223. Chúng ta được giới thiệu ý tưởng huyền bí rằng “linh từ của sự chết” phủ định sự chết theo cách hiểu thông thường trong các cõi thấp.

The death proceeds with its needed work, but it is not destructive in effect.

Sự chết vẫn tiếp tục công việc cần thiết của nó, nhưng tác động của nó không mang tính huỷ diệt.

224. What is being destroyed and what is not?

224. Điều gì đang bị hủy hoại và điều gì không?

225. Understanding death all depends upon the perspective from which we are seeing.

225. Việc thấu hiểu sự chết hoàn toàn tùy thuộc vào góc nhìn của chúng ta.

This formula has never been given out before to disciples, but can now be known because the Piscean Age is one in which at last the power of physical death is definitely broken and the signature of the Resurrection is revealed.

Trước đây, công thức này chưa từng được công bố cho các đệ tử, nhưng giờ đây có thể được biết đến, vì Kỷ Nguyên Song Ngư là thời kỳ mà cuối cùng quyền lực của cái chết thể xác dứt khoát bị phá vỡ và dấu ấn của sự Phục Sinh hiển lộ.

226. Pisces is ruled by both Pluto and also by Jupiter and Neptune (two deeply second ray planets associated with the Christ Consciousness).

226. Song Ngư do cả Sao Diêm Vương lẫn Sao Mộc và Sao Hải Vương cai quản (hai hành tinh mang đậm tính chất cung hai, gắn liền với Tâm thức Christ).

227. The end of the Piscean Age has evidenced an extraordinary destruction of the physical form, and we have far from concluded this process.

227. Cuối Kỷ Nguyên Song Ngư đã chứng kiến sự hủy diệt phi thường của hình tướng hồng trần, và chúng ta còn lâu mới kết thúc tiến trình này.

228. The destruction of the many forms will reveal the “signature of Resurrection”.

228. Sự hủy diệt vô số hình tướng sẽ làm hiển lộ “dấu ấn của sự Phục Sinh”.

229. This sixth formula seems to be a blend of influence of both Pisces and Aries. Aries is definitely the sign of resurrection, though DK says that the “signature” of Resurrection is revealed” in Pisces.

229. Công thức thứ sáu này dường như là sự kết hợp ảnh hưởng của cả Song Ngư và Bạch Dương. Bạch Dương chắc chắn là dấu hiệu của sự phục sinh, dù Chân sư DK nói rằng “dấu ấn” của sự Phục Sinh “được mặc khải” trong Song Ngư.

230. Pluto seems to be the planet in Pisces which brings death (though Neptune and Jupiter are also implicated in this bringing, each through the power of the Law of Attraction”)

230. Sao Diêm Vương dường như là hành tinh trong Song Ngư mang đến sự chết (dù Sao Hải Vương và Sao Mộc cũng tham gia vào việc này, mỗi hành tinh thông qua quyền năng của Định luật Hấp Dẫn”)

231. The symbol of Pluto also shows it implicated in the resurrection process, for it is the upward pointing arrow, according to DK. The rising of kundalini from the base of the spine center to the crown center is a physical symbol of resurrection, and Pluto is definitely implicated in this process of rising, Pluto ruling the basal center.

231. Biểu tượng của Sao Diêm Vương cũng cho thấy hành tinh này tham gia vào tiến trình phục sinh, vì theo Chân sư DK, đó là mũi tên hướng lên. Sự vươn lên của hỏa xà từ trung tâm đáy cột sống đến trung tâm đỉnh đầu là một biểu tượng hồng trần của sự phục sinh, và Sao Diêm Vương chắc chắn tham gia vào tiến trình vươn lên này, vì Sao Diêm Vương cai quản trung tâm đáy cột sống.

232. The triangle Aries, Pluto Shamballa will be activated at the fifth initiation in which the base of the spine center is focal (cf. R&I 340).

232. Tam giác Bạch Dương, Sao Diêm Vương, Shamballa sẽ được kích hoạt ở lần điểm đạo thứ năm, khi trung tâm đáy cột sống giữ vai trò trọng tâm (xem R&I 340).

In this esoteric negation of death are the deeply hidden and impressive causes of the two stages of the world war (1914-1945), and in this formula lies the significance lying behind the "fight for freedom" of the peoples of the world. It is sometimes called "the formula of liberation."

Trong sự phủ định cái chết theo huyền bí học này có những nguyên nhân ẩn giấu sâu xa và gây ấn tượng mạnh của hai giai đoạn thế chiến (1914-1945), và chính trong công thức này có thâm nghĩa nằm sau “cuộc đấu tranh vì tự do” của các dân tộc trên thế giới. Đôi khi nó được gọi là “công thức giải thoát”.

233. We are to conceive of the two stages of the world war (from 1914-1945) as a process of wide-spread physical death which contributed to the “esoteric negation of death”

233. Chúng ta cần quan niệm hai giai đoạn chiến tranh thế giới (từ 1914-1945) là một tiến trình chết về thể xác trên diện rộng, góp phần vào sự “phủ định huyền bí đối với sự chết”.

234. The “fight for freedom” which was dramatically present (at least in the second phase of the world war) connected this phase with the Lords of Liberation. It is also clear that Formula Six must involve the Lords of Liberation who are Shamballic Beings. It may also be suggested that the Law of Freedom (of Sirian origin) may be connected with Formula Six.

234. “Cuộc đấu tranh vì tự do”, vốn hiện diện đầy kịch tính (ít nhất trong giai đoạn thứ hai của chiến tranh thế giới), đã liên kết giai đoạn này với các Đấng Giải Thoát. Cũng rõ ràng rằng Công Thức Sáu hẳn phải liên quan đến các Đấng Giải Thoát, vốn là những Sinh Mệnh thuộc Shamballa. Cũng có thể gợi ý rằng Định luật Tự Do (có nguồn gốc từ Sao Thiên Lang) có thể liên quan đến Công Thức Sáu.

235. Because its number is six, this Formula must also be related to the Monad which is focussed upon the sixth plane and which controls the esoteric negation of death, with death considered as ‘life’ within the five worlds of human and superhuman evolution.

235. Vì con số của nó là sáu, Công Thức này cũng hẳn phải liên quan đến Chân thần, vốn tập trung trên cõi thứ sáu và kiểm soát sự phủ định huyền bí đối với sự chết, trong đó sự chết được xem là “sự sống” trong năm cõi tiến hoá của nhân loại và siêu nhân loại.

If you were a disciple who had access to the archives wherein instructions for disciples are contained, you would be confronted (in relation to the six formulas referred to above) by six large sheets of some unknown metal. These look as if made of silver and are in reality composed of that metal which is the allotrope of silver and which is therefore to silver what the diamond is to carbon.

Nếu các bạn là những đệ tử có quyền tiếp cận các kho lưu trữ chứa những huấn thị dành cho đệ tử, thì (liên quan đến sáu công thức nói trên) trước mắt các bạn sẽ là sáu tấm lớn làm bằng một kim loại chưa được biết đến. Chúng trông như làm bằng bạc, nhưng thực ra cấu tạo từ một kim loại là dạng thù hình của bạc, và do đó, quan hệ của nó với bạc giống như quan hệ của kim cương với carbon.

236. From this we learn that there are disciples who can, indeed, have access to such records. Of course, the word “disciple” is a protean term, so even a Master of the Wisdom is a “disciple”.

236. Từ đây, chúng ta biết rằng quả thực có những đệ tử có thể tiếp cận các hồ sơ như thế. Dĩ nhiên, từ “đệ tử” là một thuật ngữ có nhiều nghĩa, nên ngay cả một Chân sư Minh Triết cũng là một “đệ tử”.

237. We seem to be talking about archives of a physical nature—not strictly astral or mental ‘libraries’.

237. Dường như chúng ta đang nói đến những kho lưu trữ có bản chất hồng trần—không phải những “thư viện” thuần túy cảm dục hay trí tuệ.

238. It may be presumed that the reason for the kind of material utilized (the allotrope of silver) is for purposes of the most durable storage capacity. The symbolism of silver and its allotrope also cannot be overlooked.

238. Có thể giả định rằng lý do sử dụng loại vật liệu này (dạng thù hình của bạc) là nhằm bảo đảm khả năng lưu trữ bền vững nhất. Cũng không thể bỏ qua ý nghĩa biểu tượng của bạc và dạng thù hình của nó.

239. Of the Christ and the Master Jesus (and their relationship) it is said:

239. Về Đức Christ và Chân sư Jesus (cùng mối quan hệ giữa Các Ngài), có lời nói rằng:

“Some day the gold and the silver threads of the Gospel story will be disentangled, and men will know the two interpretations which can be put upon the events and episodes in the career of Jesus the Christ.” (R&I 93). Master Jesus, therefore, is associated with the term “silver” and the Christ with “gold”.

“Một ngày nào đó, những sợi chỉ vàng và bạc trong câu chuyện Phúc Âm sẽ được gỡ tách, và con người sẽ biết hai cách diễn giải có thể áp dụng cho những sự kiện và tình tiết trong cuộc đời của Đức Jesus Christ.” (R&I 93). Vì vậy, Chân sư Jesus gắn liền với từ “bạc”, còn Đức Christ gắn liền với “vàng”.

Silver refers to the Moon and the lunar vehicles; gold to the soul.

Bạc chỉ Mặt Trăng và các hiện thể thái âm; vàng chỉ linh hồn.

240. These formulas are those which help the personality (of silver) become the soul (of gold).

240. Những công thức này giúp phàm ngã (thuộc bạc) trở thành linh hồn (thuộc vàng).

241. Diamond appears at the end of the process which compresses carbon to the point that its perfection emerges. By analogy, this allotrope of silver represents the perfection of silver. Symbolically then, we are talking about the perfection of the vehicles of the soul (the soul is considered golden) or even, of the vehicles of the Monad. From this higher perspective, the Monad would be of gold and the all the lesser vehicles within the five worlds of human and superhuman evolution.

241. Kim cương xuất hiện ở cuối tiến trình nén cacbon đến mức sự hoàn hảo của nó hiển lộ. Theo phép tương đồng, dạng thù hình này của bạc tượng trưng cho sự hoàn hảo của bạc. Vậy, về mặt biểu tượng, chúng ta đang nói đến sự hoàn hảo của các hiện thể của linh hồn (linh hồn được xem là có tính chất vàng), hoặc thậm chí của các hiện thể của Chân thần. Từ góc nhìn cao hơn này, Chân thần sẽ thuộc vàng, và tất cả các hiện thể thấp hơn trong năm cõi tiến hoá của nhân loại và siêu nhân loại.

242. The Monad and the soul are already the inner initiate residing within their respective vehicles. The vehicles have to become initiate.

242. Chân thần và linh hồn vốn đã là điểm đạo đồ bên trong, cư ngụ trong các hiện thể tương ứng của mình. Các hiện thể phải trở thành điểm đạo đồ.

243. Usually, we speak of the transmutation of base metal (or lead) into gold. In this instance, we are speaking of the transmutation of silver into gold.

243. Thông thường, chúng ta nói đến sự chuyển hoá kim loại thường (hay chì) thành vàng. Trong trường hợp này, chúng ta đang nói đến sự chuyển hoá bạc thành vàng.

Upon these sheets are words, symbols, and symbolic forms.

Trên những tấm này có các từ ngữ, biểu tượng và hình dạng mang tính biểu tượng.

244. The use of symbols is often the manner in which the Hierarchy stores the knowledge and wisdom related to the hierarchical level of perception.

244. Việc sử dụng biểu tượng thường là cách Thánh đoàn lưu giữ tri thức và minh triết liên quan đến cấp độ nhận biết của Thánh đoàn.

These, when related to each other, contain the formulas which the disciple has to interpret and integrate in his waking consciousness.

Khi liên hệ với nhau, chúng chứa đựng những công thức mà người đệ tử phải diễn giải và tích hợp vào tâm thức tỉnh thức của mình.

245. It is not enough to decipher the symbols singly. They have to be related to each other to give the meaning of the formulas.

245. Chỉ giải mã từng biểu tượng riêng lẻ thì chưa đủ. Phải liên hệ chúng với nhau để làm rõ ý nghĩa của các công thức.

246. We note that the meaning of the symbols has to be brought through—rightly interpreted and integrated into the waking consciousness of the disciple. Hence the labor. That which the intuition reveals has to be made part of waking brain-consciousness.

246. Chúng ta lưu ý rằng ý nghĩa của các biểu tượng phải được truyền xuống—được diễn giải đúng và tích hợp vào tâm thức tỉnh thức của đệ tử. Vì thế mới cần sự lao công. Những gì trực giác mặc khải phải trở thành một phần của tâm thức tỉnh thức nơi bộ não.

This must be done through the medium of living processes.

Điều này phải được thực hiện qua những tiến trình sống.

247. This is another way of saying that the six formulas have to be lived.

247. Đây là một cách nói khác rằng sáu công thức phải được sống trong thực tế.

[250] As I cannot show you these formulas upon the physical plane, the best that I can do is to describe them to you, and in this Instruction I will seek to describe Formula One.

250] Vì Tôi không thể cho các bạn thấy những công thức này trên cõi hồng trần, điều tốt nhất Tôi có thể làm là mô tả chúng cho các bạn, và trong Huấn Thị này, Tôi sẽ tìm cách mô tả Công thức Một.

248. The formulas as they appear on those sheets composed of the allotrope of silver cannot be revealed or shown—as they are. The Tibetan will interpret them for us, describing them the best He can within the language familiar to us.

248. Không thể tiết lộ hay cho thấy nguyên dạng các công thức như chúng hiện ra trên những tấm làm bằng dạng thù hình của bạc ấy. Chân sư Tây Tạng sẽ diễn giải chúng cho chúng ta, mô tả chúng hết khả năng của Ngài bằng ngôn ngữ quen thuộc với chúng ta.

The comprehension of the words and symbols produces two reactions in the consciousness of the disciple—and when a group of disciples are working with the same formula (as is the case in this group) this is intensified and of still greater value.

Việc thấu hiểu các từ ngữ và biểu tượng tạo ra hai phản ứng trong tâm thức người đệ tử—và khi một nhóm đệ tử cùng làm việc với một công thức (như trường hợp của nhóm này), điều này được tăng cường và có giá trị lớn hơn nữa.

249. We are looking at the effect (“two reactions”) produced by the comprehension of the words and symbols.

249. Chúng ta đang xem xét tác động (“hai phản ứng”) do việc thấu hiểu các từ ngữ và biểu tượng tạo ra.

250. We are also alerted to the value of simultaneous group concentration upon the same formula. The group approach is of greater value than the individual approach.

250. Chúng ta cũng được lưu ý về giá trị của việc cả nhóm đồng thời tập trung vào cùng một công thức. Cách tiếp cận theo nhóm có giá trị lớn hơn cách tiếp cận cá nhân.

The first reaction is called the "Formula of Revelation" and is related to the united sensitivity of the group. As, together, the group members brood upon and come to an understanding of the formula, they will swing into a responsiveness to the feeling and sensitive reactions of the individuals in the group, and these, together, constitute and form the astral body of the group.

Phản ứng thứ nhất được gọi là “Công thức Mặc Khải” và liên quan đến sự nhạy cảm hợp nhất của nhóm. Khi các thành viên trong nhóm cùng nhau suy ngẫm sâu xa và đi đến chỗ thấu hiểu công thức, họ sẽ chuyển sang trạng thái đáp ứng với cảm nhận và những phản ứng nhạy cảm của từng cá nhân trong nhóm; những điều này cùng nhau cấu thành và tạo nên thể cảm dục của nhóm.

251. There are two reactions in the consciousness of the disciple caused by the correct use of Formula one:

251. Việc sử dụng đúng Công thức Một tạo ra hai phản ứng trong tâm thức của đệ tử:

1. The first is called “the Formula of Revelation

1. Phản ứng thứ nhất được gọi là “Công Thức Mặc Khải

2. The second is called “the discovery of the point within the circle”

2. Phản ứng thứ hai được gọi là “sự khám phá điểm bên trong vòng tròn”

252. We have discussed the importance of increasing the sensitivity of the group astral body, so that there arises the “revelation of group feeling” and the re-conditioning of that collective astral body.

252. Chúng ta đã thảo luận về tầm quan trọng của việc gia tăng sự nhạy cảm của thể cảm dục nhóm, để từ đó xuất hiện “sự mặc khải về cảm nhận của nhóm” và sự định hình lại thể cảm dục tập thể ấy.

253. The astral bodies of the group members, taken together, form the astral body of the group which is to be re-conditioned. The group, unitedly, is to become increasingly sensitive. It is quite fascinating that group brooding and pondering upon Formula One will produce this increased astral sensitivity—in the group sense.

253. Các thể cảm dục của những thành viên trong nhóm, hợp lại, tạo thành thể cảm dục của nhóm cần được định hình lại. Toàn nhóm phải cùng trở nên ngày càng nhạy cảm hơn. Thật thú vị khi việc cả nhóm suy ngẫm sâu lắng và nghiền ngẫm Công thức Một sẽ làm gia tăng sự nhạy cảm cảm dục này—theo ý nghĩa nhóm.

254. Not only will the group as a whole become more sensitive, but the sensitivity of individual members of the group to the feelings and sensitive reactions of other individual members of the group will be greatly increased.

254. Không chỉ toàn thể nhóm trở nên nhạy cảm hơn, mà sự nhạy cảm của từng thành viên trong nhóm đối với cảm nhận và những phản ứng nhạy cảm của các thành viên khác trong nhóm cũng sẽ gia tăng đáng kể.

255. As we examine the formula we will have to determine why we think this may occur.

255. Khi xem xét công thức, chúng ta sẽ phải xác định vì sao chúng ta nghĩ điều này có thể xảy ra.

When this reaction has been established (and a spirit of non-criticism and of love will greatly aid in the process), the group together can arrive at the second purpose of the formula, which is called "the discovery of the point within the circle."

Khi phản ứng này đã được thiết lập (và tinh thần không chỉ trích cùng tình thương sẽ hỗ trợ rất nhiều cho tiến trình ấy), cả nhóm có thể cùng nhau đạt đến mục đích thứ hai của công thức, được gọi là “sự khám phá điểm bên trong vòng tròn”.

256. DK offers us an expedient to promote the revelation of group feeling and the re-conditioning of the group astral body: it is the spirit of non-criticism and of love. By now, this should come as no surprise.

256. Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một phương tiện để thúc đẩy sự mặc khải về cảm nhận của nhóm và việc định hình lại thể cảm dục nhóm: đó là tinh thần không chỉ trích và tình thương. Đến lúc này, điều đó hẳn không còn gây ngạc nhiên.

257. The second reaction or purpose is the “the discovery of the point within the circle”.

257. Phản ứng hay mục đích thứ hai là “sự khám phá điểm bên trong vòng tròn”.

This signifies—as far as the group is involved—the revelation of the central coherent force of the group itself. This is—at the same time and until after the higher initiation which we call the fourth initiation—the Master at the centre of the group.

Xét trong phạm vi nhóm, điều này có nghĩa là sự mặc khải về mãnh lực cố kết ở trung tâm của chính nhóm. Đồng thời, mãnh lực này—cho đến sau cuộc điểm đạo cao hơn mà chúng ta gọi là lần điểm đạo thứ tư—chính là Chân sư ở trung tâm nhóm.

258. The point within the circle is the Master. This holds good until after the fourth initiation, when the point might be the Christ or, even, Sanat Kumara. We remember that these six formulas are to be used in connection with the five major initiations. There is no reason to think that some much higher expression of these formulas would not also apply to the sixth and seventh initiations.

258. Điểm bên trong vòng tròn là Chân sư. Điều này vẫn đúng cho đến sau lần điểm đạo thứ tư, khi điểm ấy có thể là Đức Christ hoặc thậm chí là Sanat Kumara. Chúng ta nhớ rằng sáu công thức này được dùng trong mối liên hệ với năm cuộc điểm đạo chính. Không có lý do gì để cho rằng một biểu hiện cao hơn nhiều của những công thức này lại không thể áp dụng cho lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy.

259. It is interesting to consider that the re-conditioning of the group astral body must precede the revelation of the Master. In one way the Master is equivalent to the soul, and the astral body is especially resonant to the soul just as the physical body is resonant to the personality and the mind to the Monad.

259. Thật đáng suy ngẫm khi việc định hình lại thể cảm dục nhóm phải diễn ra trước sự mặc khải về Chân sư. Theo một phương diện, Chân sư tương đương với linh hồn, và thể cảm dục đặc biệt cộng hưởng với linh hồn, cũng như thể xác cộng hưởng với phàm ngã và thể trí cộng hưởng với Chân thần.

This is, consequently, the correspondence to the "jewel in the lotus," where the individual is concerned, to the Hierarchy, where humanity is concerned, and to the central point of life in all forms.

Do đó, điều này tương ứng với “Bảo Ngọc Trong Hoa Sen” khi xét đến cá nhân, với Thánh đoàn khi xét đến nhân loại, và với điểm sự sống trung tâm trong mọi hình tướng.

260. We have here the individual, the group and larger group correspondences. The formula can apply on all three levels.

260. Ở đây, chúng ta có những sự tương ứng ở cấp cá nhân, nhóm và nhóm lớn hơn. Công thức có thể áp dụng ở cả ba cấp độ.

1. For the individual, the point within the circle is the “jewel in the lotus”.

1. Đối với cá nhân, điểm bên trong vòng tròn là “Bảo Ngọc Trong Hoa Sen”.

2. For the ashramic group, the point within the circle is the Master of the Ashram.

2. Đối với nhóm ashram, điểm bên trong vòng tròn là Chân sư của ashram.

3. For humanity as a whole, the point within the circle is the Hierarchy, itself.

3. Đối với toàn thể nhân loại, điểm bên trong vòng tròn là chính Thánh đoàn.

Of form and of consciousness, the circle and the point are the natural symbols.

Vòng tròn và điểm là những biểu tượng tự nhiên của hình tướng và tâm thức.

261. The circle and the point symbolize the extent of the consciousness within the form.

261. Vòng tròn và điểm tượng trưng cho phạm vi của tâm thức bên trong hình tướng.

262. As the symbol is here described, we may imagine that the circle represents form and the point, consciousness. I am not sure this is the best way to consider the symbol.

262. Theo cách biểu tượng được mô tả ở đây, chúng ta có thể hình dung rằng vòng tròn biểu thị hình tướng, còn điểm biểu thị tâm thức. Tôi không chắc đây là cách tốt nhất để xem xét biểu tượng ấy.

263. It may be better, perhaps, to think of the center as the center of consciousness or Spirit. The circle would be the form containing both Spirit and the consciousness. The extent or radius of the circle would indicate the degree of consciousness.

263. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu nghĩ đến tâm điểm như là trung tâm của tâm thức hay Tinh thần. Vòng tròn sẽ là hình tướng chứa đựng cả Tinh thần lẫn tâm thức. Phạm vi hay bán kính của vòng tròn sẽ chỉ mức độ tâm thức.

This applies equally to the atom, to man, to the planet and to the solar system. The concept must constitute the foundational idea in all reflection upon this formula.

Điều này áp dụng như nhau cho nguyên tử, con người, hành tinh và hệ mặt trời. Khái niệm này phải tạo thành ý tưởng nền tảng trong mọi suy tư về công thức này.

264. Every one of the four principle entities described in TCF can be symbolized by the point within the circle.

264. Mỗi một trong bốn thực thể chính được mô tả trong Luận về Lửa Vũ Trụ đều có thể được biểu trưng bằng điểm bên trong vòng tròn.

265. Whenever thinking of an entity, the point within the circle represents the major symbol for that entity. We usually think of the point within the circle as representing the Sun or the Solar Logos. It can equally represent the atom of matter/substance, the human being or the Planetary Logos—and even greater Entities.

265. Mỗi khi nghĩ đến một thực thể, điểm bên trong vòng tròn là biểu tượng chủ yếu của thực thể ấy. Chúng ta thường nghĩ rằng điểm bên trong vòng tròn biểu thị Mặt Trời hay Thái dương Thượng đế. Nó cũng có thể biểu thị nguyên tử vật chất/chất liệu, con người hoặc Hành Tinh Thượng đế—và cả những Thực Thể vĩ đại hơn nữa.

Now for the formula itself:

Giờ đến chính công thức:

"A line of fire between two blazing points. A stream of water blue—again a line—emerging from the earth—and ending in the ocean. A tree with root above and flowers below.

“Một đường lửa giữa hai điểm rực cháy. Một dòng nước xanh—lại là một đường—trào lên từ đất—và kết thúc trong đại dương. Một cây có rễ ở trên và hoa ở dưới.

266. We see immediately that the formula is described in pictographic terms.

266. Chúng ta thấy ngay rằng công thức được mô tả bằng ngôn ngữ tượng hình.

267. We can offer no definitive interpretation of these symbols. Each student must arrive at his or her own conclusions. DK will probably elaborate some meanings, but it is not important for us to know them now; rather we seek our own understanding.

267. Chúng ta không thể đưa ra một cách diễn giải dứt khoát về những biểu tượng này. Mỗi đạo sinh phải tự đi đến những kết luận của riêng mình. Có lẽ Chân sư DK sẽ giải thích thêm một số ý nghĩa, nhưng việc biết những ý nghĩa ấy ngay lúc này không quan trọng đối với chúng ta; thay vào đó, chúng ta tìm kiếm sự thấu hiểu của chính mình.

268. We want to understand the relative positioning of the various factors in the formula. We may find this positioning more intricate and more in question than at first we may imagine.

268. Chúng ta muốn thấu hiểu vị trí tương đối của các yếu tố khác nhau trong công thức. Chúng ta có thể nhận thấy cách sắp đặt vị trí này phức tạp hơn và có nhiều điều cần xem xét hơn so với hình dung ban đầu.

269. We may consider the line of fire the sutratma or life-thread.

269. Chúng ta có thể xem đường lửa là sinh mệnh tuyến hay sợi dây sự sống.

270. The two blazing points may be considered the point of Spirit (or Monad) and the soul center. One point can be conceived as above the other—the Monad or Spirit above the soul center.

270. Hai điểm rực cháy có thể được xem là điểm Tinh thần (hay Chân thần) và trung tâm linh hồn. Có thể hình dung một điểm ở trên điểm kia—Chân thần hay Tinh thần ở trên trung tâm linh hồn.

271. The tree with root above and flowers below can be considered the “Tree of Life”, representing the root and the expressive form of any living entity—in this case either of man or of a group of human beings (as might form a group related to the Master’s Ashram or the Ashram itself.).

271. Cây có rễ ở trên và hoa ở dưới có thể được xem là “Cây Sự Sống”, biểu thị cội rễ và hình tướng biểu hiện của bất kỳ thực thể sống nào—trong trường hợp này là con người hoặc một nhóm người (có thể tạo thành một nhóm liên hệ với ashram của Chân sư hoặc chính ashram ấy.).

272. We notice that the word “root” is singular, not plural. We do not speak of “roots”, though flowers is plural. This tree, it would seem, has a single “root” and that “root” may be considered the soul.

272. Chúng ta nhận thấy từ “rễ” ở số ít, không phải số nhiều. Chúng ta không nói đến “những chiếc rễ”, mặc dù hoa ở số nhiều. Dường như cây này chỉ có một “rễ”, và “rễ” ấy có thể được xem là linh hồn.