← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

Commentary 38 – Bình giảng 38

Trích nội dung chương

274. We must imagine whether the earth is the fundament or whether it rests upon the ocean, which can be considered the ocean of matter. Positioning the water is very important and we have some choices. 274. Chúng ta phải hình dung xem đất là nền tảng hay đất nằm trên đại dương, vốn có thể được xem là đại dương vật chất. Việc xác định vị trí của nước rất quan trọng, và chúng ta có một số lựa chọn.


273. Fire emerges from above, water from below. The water rises the fire descends.

273. Lửa xuất phát từ trên, nước từ dưới. Nước dâng lên, lửa giáng xuống.

274. We must imagine whether the earth is the fundament or whether it rests upon the ocean, which can be considered the ocean of matter. Positioning the water is very important and we have some choices.

274. Chúng ta phải hình dung xem đất là nền tảng hay đất nằm trên đại dương, vốn có thể được xem là đại dương vật chất. Việc xác định vị trí của nước rất quan trọng, và chúng ta có một số lựa chọn.

275. The “water blue” because of its color, can be understood as relating to the soul aspect.

275. Do màu sắc của nó, “nước xanh lam” có thể được hiểu là liên quan đến phương diện linh hồn.

276. From one perspective, the structure of the presented image may be understood as fire above, water in the middle, and earth below, with the inverted tree hovering above the earth, and fed by the water which emanates from the soul.

276. Từ một góc nhìn, có thể hiểu cấu trúc của hình ảnh được trình bày là lửa ở trên, nước ở giữa và đất ở dưới, với cây mọc ngược lơ lửng trên đất, được nuôi dưỡng bằng nước phát xạ từ linh hồn.

277. If the water emerges from the earth, which presumably is below, then the ocean in which the water ends will be above the earth and probably above the tree.

277. Nếu nước xuất phát từ đất, vốn được giả định là ở dưới, thì đại dương nơi nước kết thúc sẽ ở trên đất và có lẽ ở trên cây.

[251]

[251]

"Out of the fire, and always at the midway point, appears the eye of God (Shiva). Upon the stream, between the two extremes, there floats the eye of vision—a thread of light unites the two.

“Từ trong lửa, và luôn ở điểm ở giữa, xuất hiện con mắt của Thượng đế (Shiva). Trên dòng nước, giữa hai đầu cực, con mắt linh thị trôi nổi—một sợi dây ánh sáng nối liền cả hai.

278. There is a fire above (shall we call it a “Sea of Fire”?) from which the line of fire descends.

278. Có một ngọn lửa ở trên (chúng ta có nên gọi đó là một “Biển Lửa” chăng?), từ đó đường lửa giáng xuống.

279. There is probably a physiological interpretation of these symbols relating to the etheric-physical mechanism of man. In this case the “eye of God” (or the eye of Shiva”) would, indeed, be the “third eye” or the “blue eye”.

279. Có lẽ có một cách diễn giải sinh lý học về những biểu tượng này, liên quan đến bộ máy dĩ thái–hồng trần của con người. Trong trường hợp này, quả thật “con mắt của Thượng đế” (hay con mắt của Shiva”) sẽ là “con mắt thứ ba” hay “con mắt xanh lam”.

280. Interpreting the symbols on a higher turn of the spiral, we can imagine that the “eye of God” is the Monad. Shiva is the God of the first aspect and the Monad is the representative of the first aspect of divinity within man.

280. Khi diễn giải các biểu tượng ở một vòng xoắn cao hơn, chúng ta có thể hình dung rằng “con mắt của Thượng đế” là Chân thần. Shiva là Thượng đế của phương diện thứ nhất, và Chân thần là đại diện của phương diện thứ nhất của thiên tính bên trong con người.

281. The “eye of God” is, however, always at the midway point because there is no true ‘top’ or ‘apex’ in this design. There is always that which is higher than the “eye of God”.

281. Tuy nhiên, “con mắt của Thượng đế” luôn ở điểm giữa vì không có ‘đỉnh’ hay ‘chóp’ thực sự trong hình đồ này. Luôn có điều gì đó cao hơn “con mắt của Thượng đế”.

282. The embodied Spirit (in this case embodied as the Monad) has always a greater objective towards which it can strive.

282. Tinh thần nhập thể (trong trường hợp này nhập thể thành Chân thần) luôn có một mục tiêu lớn lao hơn để phấn đấu hướng tới.

283. As the Spirit rises, always merging with greater and more inclusive Entities, it every finds that the domain that it rules below, is paralleled by a domain which is superior to it.

283. Khi Tinh thần vươn lên, luôn hòa nhập với những Thực Thể vĩ đại hơn và có tính bao gồm rộng hơn, nó luôn nhận thấy rằng song song với phạm vi mình cai quản ở dưới là một phạm vi cao hơn nó.

284. That which we call the source of the line of fire, a kind of the “Sea of Fire”, also rises, depending upon the type of Entity we are considering.

284. Điều mà chúng ta gọi là nguồn của đường lửa, một dạng “Biển Lửa”, cũng vươn lên, tùy theo loại Thực Thể mà chúng ta đang xem xét.

285. In this symbolism, the world of the soul is the world of water. The “eye of vision” is the eye of the soul, and it floats in the water, or upon the stream.

285. Trong hệ biểu tượng này, thế giới của linh hồn là thế giới của nước. “Con mắt linh thị” là con mắt của linh hồn, và nó nổi trong nước hay trên dòng nước.

286. A thread of light unites the two superior eyes (the eye of vision and the eye of God). This is the light of the antahkarana, which unites soul and Monad—at least one strand of it does.

286. Một sợi dây ánh sáng nối liền hai con mắt cao hơn (con mắt linh thị và con mắt của Thượng đế). Đây là ánh sáng của antahkarana, nối liền linh hồn và Chân thần—ít nhất một sợi của antahkarana làm điều đó.

287. The line of light uniting the two eyes is the antahkarana. It parallels the line of fire also uniting the two. The line of fire is the sutratma relating to life. The line of light is the antahkarana relating to consciousness.

287. Đường ánh sáng nối liền hai con mắt là antahkarana. Nó chạy song song với đường lửa cũng nối liền cả hai. Đường lửa là sinh mệnh tuyến liên quan đến sự sống. Đường ánh sáng là antahkarana liên quan đến tâm thức.

"Deep in the tree, between the root and flowers, the eye again is seen.

“Sâu trong cây, giữa rễ và hoa, con mắt lại hiện ra.

288. There are really three eyes in the presented image. In a way, however, there is only one eye, which sees from multiple perspectives. Otherwise it would have said, “an” eye again is seen, instead of “the” eye.

288. Thực sự có ba con mắt trong hình ảnh được trình bày. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, chỉ có một con mắt nhìn từ nhiều góc độ. Nếu không, câu ấy hẳn đã nói “một” con mắt lại hiện ra, thay vì con mắt “ấy”.

289. The tree is the sum of the lower vehicles, and utilizes for its construction the matter of the eighteen lower sub-planes. Thus the tree is the personality and the eye (or the two eyes) is found within the personality.

289. Cây là tổng thể các hiện thể thấp, và sử dụng vật chất của mười tám cõi phụ thấp để kiến tạo nên nó. Vì vậy, cây là phàm ngã, và con mắt (hay hai con mắt) nằm bên trong phàm ngã.

The eye that knows, the eye that sees, the directing eye—one made of fire, one fluid as the sea, and two which look from here to there.

Con mắt biết, con mắt thấy, con mắt chỉ đạo—một mắt bằng lửa, một mắt linh động như biển cả, và hai mắt nhìn từ đây đến đó.

290. The eye that knows is the consciousness of the personality. The eye that sees is the eye of the soul, which sees intuitively. The knowing of the consciousness within the personality is of lesser scope than the seeing of the eye of the soul.

290. Con mắt biết là tâm thức của phàm ngã. Con mắt thấy là con mắt của linh hồn, nhìn thấy bằng trực giác. Sự biết của tâm thức bên trong phàm ngã có phạm vi hẹp hơn sự thấy của con mắt linh hồn.

291. The Monad, in this case, is also identified with consciousness, and not alone with the life aspect, for it is, after all, an eye, and the eye is the symbol of consciousness.

291. Trong trường hợp này, Chân thần cũng được đồng nhất với tâm thức, chứ không chỉ với phương diện sự sống, vì xét cho cùng, đó là một con mắt, và con mắt là biểu tượng của tâm thức.

292. The eye of Shiva or the eye of God is the eye of fire.

292. Con mắt của Shiva hay con mắt của Thượng đế là con mắt lửa.

293. The eye of the soul is the eye which floats upon the water and is fluid as the sea. It is, in a way, a buddhic or intuitive eye.

293. Con mắt của linh hồn là con mắt nổi trên nước và linh động như biển. Theo một nghĩa nào đó, nó là con mắt Bồ đề hay trực giác.

294. The eye of the personality (or of the soul in incarnation) is limited by objectivity and by duality, and, thus, this eye is really “two” eyes, and they look from their own position (“here”) to a position with which they do not identify, i.e., “there”.

294. Con mắt của phàm ngã (hay của linh hồn đang nhập thể) chịu giới hạn của tính khách quan và tính nhị nguyên, và vì vậy, con mắt này thực sự là “hai” con mắt; chúng nhìn từ vị trí của mình (“đây”) đến một vị trí mà chúng không đồng hoá với, tức là “đó”.

295. Knowledge is dualistic and requires two eyes.

295. Tri thức mang tính nhị nguyên và đòi hỏi hai con mắt.

Fire, water and the earth—all need the vital air. The air is life. The air is God."

Lửa, nước và đất—tất cả đều cần khí mang sinh lực. Khí là sự sống. Khí là Thượng đế.”

296. Spirit, soul and body are here called fire, water and the earth respectively.

296. Ở đây, tinh thần, linh hồn và thân thể lần lượt được gọi là lửa, nước và đất.

297. The plane of air is usually considered the buddhic plane, but in this schema the “eye of Shiva” or the “eye of God” (if it represents the Monad) is positioned ‘above’ the buddhic plane.

297. Cõi khí thường được xem là cõi Bồ đề, nhưng trong sơ đồ này, “con mắt của Shiva” hay “con mắt của Thượng đế” (nếu nó biểu thị Chân thần) nằm ‘trên’ cõi Bồ đề.

298. God is that from which the Monad emerges. Air is, therefore, that which vitalizes the Monad.

298. Thượng đế là nguồn từ đó Chân thần xuất hiện. Do đó, khí là yếu tố tiếp sinh lực cho Chân thần.

299. In this instance, is the air really fire, or is the air that from which the fire emerges?

299. Trong trường hợp này, khí thực sự là lửa, hay khí là nguồn từ đó lửa xuất hiện?

300. Let us think of the air as the highest source of vitalization.

300. Chúng ta hãy nghĩ đến khí như là nguồn tiếp sinh lực cao nhất.

301. Interestingly, when we consider the four elements, earth is the lowest, water above it and fire above the water. The air (of the buddhic plane) has a position above the fire. This correlates well with air as the origin of the lower three.

301. Điều thú vị là khi xem xét bốn nguyên tố, đất ở thấp nhất, nước ở trên đất và lửa ở trên nước. Khí (của cõi Bồ đề) có vị trí ở trên lửa. Điều này rất phù hợp với quan niệm khí là nguồn gốc của ba nguyên tố thấp hơn.

The significance of this formula is not difficult for the advanced student to grasp in connection with himself.

Đạo sinh tiến bộ không khó nắm bắt thâm nghĩa của công thức này trong mối liên hệ với chính mình.

302. This would be the microcosmic interpretation upon which we have focussed.

302. Đây chính là cách diễn giải theo tiểu thiên địa mà chúng ta đã tập trung vào.

303. I would say that the general significance of the formula may not be difficult, but there are intricate details which are, perhaps, moreso.

303. Tôi cho rằng thâm nghĩa tổng quát của công thức có thể không khó nắm bắt, nhưng có những chi tiết phức tạp có lẽ khó hơn.

The eye of knowledge, the eye of vision and the directing eye of Deity are familiar to him. But it is the great and major esoteric implications which I ask you to consider. An extension of these concepts to a Master and His ashram or His group of practising disciples, is of value to you in your reflective consciousness.

Con mắt tri thức, con mắt linh thị và con mắt chỉ đạo của Thượng đế đều quen thuộc với y. Nhưng điều Tôi yêu cầu các bạn xem xét là những hàm ý huyền bí lớn lao và chủ yếu. Việc mở rộng những khái niệm này đến một Chân sư và ashram của Ngài, hay nhóm đệ tử đang thực hành của Ngài, có giá trị đối với các bạn trong tâm thức suy tư.

304. If we extend the concept in the manner that DK suggests, we will have the Master representing the “eye of God”. The “eye of vision” will be the Ashram, and the more objective, dualistic eye, within the tree (the eye of knowledge) will be Master’s group of practising disciples.

304. Nếu mở rộng khái niệm theo cách Chân sư DK gợi ý, chúng ta sẽ thấy Chân sư biểu thị “con mắt của Thượng đế”. “Con mắt linh thị” sẽ là ashram, còn con mắt mang tính khách quan và nhị nguyên hơn, nằm trong cây (con mắt tri thức), sẽ là nhóm đệ tử đang thực hành của Chân sư.

The first and obvious interpretation concerns the eye of knowledge. But what of the eye of vision when duality is being overcome, and what of the "purpose for which the worlds were made"—the little world of the individual (once individuality is achieved) and the greater world of an organised group, integrated and functioning as a unit, and the distant subtle world of divine intent?

Cách diễn giải đầu tiên và hiển nhiên liên quan đến con mắt tri thức. Nhưng còn con mắt linh thị thì sao khi nhị nguyên đang được vượt qua, và còn “mục đích mà vì đó các thế giới được tạo ra” thì sao—thế giới nhỏ bé của cá nhân (một khi đã đạt được cá tính riêng), thế giới lớn hơn của một nhóm có tổ chức, được tích hợp và hoạt động như một đơn vị, cùng thế giới vi tế xa xôi của chủ định thiêng liêng?

305. DK gives us three worlds. The eye of knowledge pertains to the strictly human world.

305. Chân sư DK nêu ra cho chúng ta ba thế giới. Con mắt tri thức thuộc về thế giới thuần túy con người.

306. The world of the soul is not characterized by duality as the world of the human being is.

306. Thế giới của linh hồn không mang đặc trưng nhị nguyên như thế giới của con người.

307. The “eye of God”, of Shiva, or the “directing eye”, considers the “purpose for which the worlds were made”—the “distant subtle world of divine intent”.

307. “Con mắt của Thượng đế”, của Shiva, hay “con mắt chỉ đạo”, xem xét “mục đích mà vì đó các thế giới được tạo ra”—“thế giới tinh tế xa xăm của chủ đích thiêng liêng”.

308. Another mode of interpretation relates the individual to knowledge, the organized, integrated, unified group to the soul, and the higher ethers (perhaps) to the “distant subtle world of divine intent”.

308. Một cách diễn giải khác liên hệ cá nhân với tri thức; nhóm có tổ chức, đã tích hợp và hợp nhất với linh hồn; và có lẽ các cõi dĩ thái cao với “thế giới tinh tế xa xăm của chủ đích thiêng liêng”.

309. Depending upon the scope we choose to apply to this formula, its meaning changes.

309. Ý nghĩa của công thức này thay đổi tùy theo phạm vi mà chúng ta chọn để áp dụng nó.

310. Before each particular initiation the meaning will also change. The meaning of earth, water, fire and air will continue to ‘rise’ as we progress from one initiation to the other.

310. Trước mỗi cuộc điểm đạo cụ thể, ý nghĩa cũng sẽ thay đổi. Ý nghĩa của đất, nước, lửa và khí sẽ tiếp tục ‘nâng cao’ khi chúng ta tiến từ cuộc điểm đạo này sang cuộc điểm đạo khác.

311. Before the fourth initiation, the level of the causal body may be considered earth; the buddhic plane may be considered the plane of water; the atmic plane of fire; the monadic plane will, in this context, be the vitalizing air.

311. Trước lần điểm đạo thứ tư, cấp độ của thể nguyên nhân có thể được xem là đất; cõi Bồ đề có thể được xem là cõi nước; cõi atma là cõi lửa; trong ngữ cảnh này, cõi chân thần sẽ là khí tiếp sinh lực.

312. Before the fifth initiation, buddhi may represent the earth, atma the water (as it does in the chart in EA p. 35), the Monad fire, and the logoic plane, the plane of vitalizing air.

312. Trước lần điểm đạo thứ năm, Bồ đề có thể biểu thị đất, atma biểu thị nước (như trong biểu đồ ở trang 35 của Chiêm Tinh Học Nội Môn), Chân thần biểu thị lửa, và cõi thượng đế là cõi khí tiếp sinh lực.

313. We must remember the relative applications of Formula One and not become entirely fixed in our interpretation.

313. Chúng ta phải nhớ những cách áp dụng tương đối của Công thức Một và đừng hoàn toàn cố định vào cách diễn giải của mình.

I say no more in this connection.

Tôi không nói thêm về điều này.

314. DK does not want to tell the whole story, and I am not capable of doing so. Much is left to the intuition of each student.

314. Chân sư DK không muốn nói hết mọi điều, còn tôi không có khả năng làm như vậy. Nhiều điều được để lại cho trực giác của mỗi đạo sinh.

I commend to your brooding reflection these subtle implications.

Tôi gửi gắm những hàm ý tinh tế này cho sự suy tư sâu xa của các bạn.

315. The purpose of this brooding reflection is to invoke the intuition. Without the brooding the intuition will not be evoked.

315. Mục đích của sự suy ngẫm sâu lắng này là khẩn cầu trực giác. Không có sự suy ngẫm sâu lắng thì trực giác sẽ không được gợi lên.

I would ask you to ponder on them and—prior to the Wesak Full Moon—I would ask you to write your understanding of the formula from two angles. About these two angles you definitely should have ideas.

Tôi muốn các bạn suy ngẫm về chúng và—trước kỳ Trăng Tròn Wesak—Tôi muốn các bạn viết ra sự thấu hiểu của mình về công thức từ hai góc độ. Các bạn nhất định phải có những ý tưởng về hai góc độ này.

316. DK realizes that not much will be accomplished unless each student has to labour to put his or her ideas into verbal expression.

316. Chân sư DK nhận ra rằng sẽ chẳng đạt được bao nhiêu trừ khi mỗi đạo sinh phải nỗ lực diễn đạt những ý tưởng của mình thành lời.

317. I would encourage each of us to do this after sufficient brooding. We did this in the Ph.D.E. classes and the results were illuminating (though quite variable).

317. Tôi muốn khuyến khích mỗi người chúng ta làm điều này sau khi đã suy ngẫm sâu lắng đầy đủ. Chúng ta đã làm như vậy trong các lớp Ph.D.E., và kết quả mang lại nhiều sự soi sáng (dù khá khác nhau).

1. The angle of the individual.

1. Góc độ của cá nhân.

2. The angle of a group of chelas.

2. Góc độ của một nhóm đệ tử.

318. Some hints have been given for interpretation from both of these perspectives.

318. Một số gợi ý đã được đưa ra để diễn giải từ cả hai góc nhìn này.

Both these unities utilise the eye of knowledge and the eye of vision.

Cả hai đơn vị hợp nhất này đều sử dụng con mắt tri thức và con mắt linh thị.

319. An individual is a unity and so is a group a chelas.

319. Một cá nhân là một đơn vị hợp nhất, và một nhóm đệ tử cũng vậy.

320. Why is the “eye of Shiva” (or “eye of God”) not mentioned? Perhaps neither the individual nor the group of chelas has reached the point in development when the directing eye can be accessed.

320. Vì sao “con mắt của Shiva” (hay “con mắt của Thượng đế”) không được nhắc đến? Có lẽ cả cá nhân lẫn nhóm đệ tử đều chưa đạt đến mức phát triển có thể tiếp cận con mắt chỉ đạo.

321. If the group mentioned were an Ashram, and not simply an external group of chelas, the “eye of God” or of Shiva would be relevant.

321. Nếu nhóm được nhắc đến là một ashram, chứ không chỉ là một nhóm đệ tử bên ngoài, thì “con mắt của Thượng đế” hay của Shiva sẽ có liên quan.

Commentary 38 – Bình giảng 38

DINA II [252-267]

DINA II [252-267]

Virgo FMN/SFF 2006

Xử Nữ FMN/SFF 2006

LAWS-Living Ageless Wisdom School

LAWS-Trường Minh Triết Ngàn Đời Sống Động

(All Bolding, Underlining and Italics in Blue—MDR)

(Mọi phần in đậm, gạch chân và in nghiêng màu xanh lam đều do MDR thực hiện)

[252]

[252]

PART II

PHẦN II

POINTS OF REVELATION

NHỮNG ĐIỂM MẶC KHẢI

I have dealt considerably in my earlier writings with the theme, Points of Crisis. We can now approach and prove the livingness of our progress from the angle of Points of Revelation.

Trong những tác phẩm trước đây, Tôi đã đề cập khá nhiều đến chủ đề Những Điểm Khủng Hoảng. Giờ đây, chúng ta có thể tiếp cận và chứng minh sức sống của sự tiến bộ của mình từ góc độ Những Điểm Mặc Khải.

1. May we say that Points of Crisis clear the way for access to Points of Revelation?

1. Chúng ta có thể nói rằng Các Điểm Khủng Hoảng mở đường để tiếp cận Các Điểm Mặc Khải chăng?

The entire objective of the initiation preparatory process is to bring about revelation.

Toàn bộ mục tiêu của tiến trình chuẩn bị điểm đạo là đem lại sự mặc khải.

2. The theme of initiation can never be separated from one of its main objectives—the expansion of consciousness. With this expansion there also comes the emergence of additional faculties.

2. Chủ đề điểm đạo không bao giờ có thể tách rời một trong những mục tiêu chính của nó—sự mở rộng tâm thức. Cùng với sự mở rộng này, những năng lực bổ sung cũng xuất hiện.

You must ever bear in mind that that which is revealed is eternally present. There is, therefore, occult truth in the statement that there is "nothing new under the sun."

Các bạn phải luôn ghi nhớ rằng điều được mặc khải vốn hiện hữu vĩnh cửu. Vì vậy, trong lời khẳng định rằng “không có gì mới dưới ánh mặt trời” có chân lý huyền bí.

3. This is an important and sobering thought pointing to our presently low level of sensitivity.

3. Đây là một tư tưởng quan trọng khiến chúng ta tỉnh ngộ, chỉ ra mức độ nhạy cảm còn thấp của chúng ta hiện nay.

4. We cannot say, therefore, that anything is really new; we can only say that it is ‘new to us’.

4. Do đó, chúng ta không thể nói rằng bất cứ điều gì thực sự mới; chúng ta chỉ có thể nói rằng điều ấy ‘mới đối với chúng ta’.

5. Additionally we must realize that “Reality IS” and is, given the right conditions of receptivity, its registration ever accessible. Yet, such registration must be relative to the advancement of the registrant.

5. Ngoài ra, chúng ta phải nhận ra rằng “Thực Tại HIỆN HỮU”, và khi có những điều kiện tiếp nhận thích hợp, việc ghi nhận Thực Tại luôn có thể thực hiện được. Tuy nhiên, sự ghi nhận ấy phải tương ứng với mức tiến bộ của người ghi nhận.

All that is revealed upon the Path of Discipleship and of Initiation is forever there, but that which can perceive, reach out and include has developed with the ages.

Tất cả những gì được mặc khải trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo đều luôn hiện hữu, nhưng cái có thể nhận thức, vươn ra và bao gồm đã phát triển qua các thời đại.

6. Our mechanism of reception is evolving throughout the duration of the universe—objective and subjective.

6. Bộ máy tiếp nhận của chúng ta đang tiến hoá trong suốt thời gian tồn tại của vũ trụ—khách quan và chủ quan.

Upon the Path of Discipleship, in the earlier stages, the eye of vision is the illumined mind.

Trong những giai đoạn đầu trên Con Đường Đệ Tử, con mắt linh thị là thể trí được soi sáng.

7. This points the necessity that the disciple possess a well-developed and illumined mind. Mental polarization is one of the disciple’s key objectives.

7. Điều này chỉ ra sự cần thiết của việc đệ tử phải có một thể trí phát triển tốt và được soi sáng. Sự phân cực trí tuệ là một trong những mục tiêu then chốt của đệ tử.

Upon the Path of Initiation it is that of which the eye of the mind is the exteriorisation—the intuitional perception of the soul itself.

Trên Con Đường Điểm Đạo, đó là cái mà con mắt của thể trí là sự ngoại hiện—sự nhận thức bằng trực giác của chính linh hồn.

8. We are being told that the mind is the exteriorization of the soul with its natural intuitional perception.

8. Chúng ta được cho biết rằng thể trí là sự ngoại hiện của linh hồn với tri giác trực giác tự nhiên của linh hồn.

9. Does this mean that intuitional perception is the natural expression of that aspect of soul that is to be found on the higher mental plane? Or is the soul here referenced the “spiritual soul” of the buddhic plane?

9. Phải chăng điều này hàm ý tri giác trực giác là biểu hiện tự nhiên của phương diện linh hồn hiện hữu trên cõi thượng trí? Hay linh hồn được nhắc đến ở đây là “linh hồn tinh thần” của cõi Bồ đề?

But as evolution proceeds, that which is brought to the point of perceiving the existing verities differs vastly as the centuries slip away.

Nhưng khi tiến hoá tiếp diễn, cái được đưa đến chỗ nhận thức những chân lý hiện hữu trở nên khác biệt vô cùng khi các thế kỷ trôi qua.

10. DK is speaking of vast differences which exist between the mechanism of perception of those who are little evolved and the perceptual mechanism of the highly evolved.

10. Chân sư DK đang nói đến những khác biệt rất lớn giữa bộ máy tri giác của những người ít tiến hoá và bộ máy tri giác của những người tiến hoá cao.

E'en the adept of the present is pronouncedly more perceptive and more accurately interpretive and his vision more penetrative than was the adept in Atlantean days, and the initiate who will achieve initiate-perception during the coming Aquarian Age will be greatly in advance of those who now function as the adepts of today.

Ngay cả chân sư thời nay cũng có khả năng nhận thức rõ rệt hơn, diễn giải chính xác hơn và tầm nhìn thấu suốt hơn so với chân sư thời Atlantis; và điểm đạo đồ sẽ đạt được khả năng nhận thức của điểm đạo đồ trong Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp tới sẽ tiến xa hơn nhiều so với những vị hiện đang hoạt động với tư cách các chân sư ngày nay.

11. Nothing in this evolving universe is static. The descriptive category may be the same—for instance, the word “Adept”, but the capacities continue to rise and improve.

11. Không có gì trong vũ trụ đang tiến hoá này là tĩnh tại. Danh xưng phân loại có thể vẫn như cũ—chẳng hạn từ “Chân sư”—nhưng các năng lực vẫn tiếp tục gia tăng và hoàn thiện.

12. We note that DK uses the phrase “greatly in advance” to describe the accomplishments of the Aquarian adept compared to the adept of today. What is the mathematics of the spiral of ascent?

12. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK dùng cụm từ “tiến xa hơn rất nhiều” để mô tả những thành tựu của chân sư thời Bảo Bình so với chân sư ngày nay. Quy luật toán học của đường xoắn ốc đi lên là gì?

I have warned you that discipleship is becoming increasingly difficult. This is owing to the increased sensitivity to the esoteric values and realities which the modern disciple manifests.

Tôi đã cảnh báo các bạn rằng địa vị đệ tử đang ngày càng trở nên khó khăn. Điều này là do người đệ tử hiện đại biểu lộ sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với những giá trị và thực tại huyền bí.

13. It is interesting that the increasing difficulty of modern discipleship is due to the modern disciple’s increasing sensitivity—“to the esoteric values and realities”. This means that sensitivity and difficulty increase together.

13. Điều thú vị là sự khó khăn ngày càng tăng của địa vị đệ tử hiện đại bắt nguồn từ sự nhạy cảm ngày càng tăng của người đệ tử hiện đại—“đối với các giá trị và thực tại nội môn”. Điều này có nghĩa là sự nhạy cảm và sự khó khăn cùng gia tăng.

He can and does perceive that which was the goal of initiation in earlier aeons and perceives these things normally and as an established fact in a developed awareness.

Y có thể và thực sự nhận thức được điều từng là mục tiêu điểm đạo trong những đại kỳ trước, và nhận thức những điều ấy một cách bình thường, như một sự thật đã được xác lập trong sự nhận biết đã phát triển.

14. The objectives of the initiate in earlier times are today the objectives of the disciple.

14. Các mục tiêu của điểm đạo đồ thời trước ngày nay là các mục tiêu của người đệ tử.

It is the spiritual parallel of the development during material evolution of the five senses.

Đây là điều tương ứng về mặt tinh thần với sự phát triển của năm giác quan trong tiến hoá vật chất.

15. Initiate consciousness relates to the unfoldment of the higher senses. These can be studied in A Treatise on Cosmic Fire beginning TCF 188.

15. Tâm thức điểm đạo đồ liên quan đến sự khai mở các giác quan cao hơn. Có thể nghiên cứu những giác quan này trong Luận về Lửa Vũ Trụ, bắt đầu từ trang 188 của TCF.

His goal and his "pointed direction" lie far ahead and his inclusiveness opens for him doors which in earlier times only opened to the initiate knock.

Mục tiêu và “phương hướng tập trung” của y nằm xa phía trước, và tính bao gồm của y mở ra cho y những cánh cửa mà trước kia chỉ mở trước tiếng gõ của điểm đạo đồ.

16. The words “pointed direction” suggest the one-pointedness characteristic of Sagittarius—the sign of the one-pointed disciple.

16. Những từ “phương hướng nhất tâm” gợi đến tính nhất tâm đặc trưng của Nhân Mã—dấu hiệu của người đệ tử nhất tâm.

17. The hint is given that initiate consciousness is characterized by great inclusiveness.

17. Ở đây có gợi ý rằng tâm thức điểm đạo đồ mang đặc trưng là tính bao gồm rộng lớn.

18. There is also a kind of Masonic hint pointing to the importance of the “knock” given by the would-be initiate upon the door to the chamber of initiation. Different knocks indicate to those within the chamber different degrees of preparedness on the part of the one who knocks.

18. Cũng có một gợi ý mang tính Hội Tam Điểm, chỉ ra tầm quan trọng của “tiếng gõ” mà người mong được điểm đạo gõ lên cánh cửa dẫn vào điện điểm đạo. Những tiếng gõ khác nhau cho những vị bên trong điện biết các mức độ sẵn sàng khác nhau của người gõ cửa.

I consequently hold out to you no easy way but only one of difficulty and adjustment.

Do đó, Tôi không đưa ra cho các bạn một con đường dễ dàng, mà chỉ là một con đường khó khăn và điều chỉnh.

19. This is the sign of a true teacher. Those that flatter the student and offer a picture of easy progress are impostors.

19. Đây là dấu hiệu của một huấn sư chân chính. Những kẻ tâng bốc đạo sinh và vẽ ra một viễn cảnh tiến bộ dễ dàng đều là những kẻ mạo danh.

[253]

[253]

In all forward stages upon the Path of Initiation, there are three phases which concern the initiate-aspirant's reactions.

Trong mọi giai đoạn tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo, có ba giai đoạn liên quan đến những phản ứng của người chí nguyện hướng tới điểm đạo.

20. Here follows the description of the three stages.

20. Tiếp sau đây là phần mô tả ba giai đoạn ấy.

There is first of all the vision of the soul, but whereas in the past there was the vision and the starting point, now the modern disciple perceives likewise many of the intermediate stages, the opposing forces, the obstructions and the rapidly arousing handicaps and hindrances. The words I here use are chosen with deliberation.

Trước hết là linh thị của linh hồn; nhưng trong quá khứ chỉ có linh thị và điểm khởi đầu, còn ngày nay người đệ tử hiện đại cũng nhận thức được nhiều giai đoạn trung gian, các mãnh lực đối kháng, những chướng ngại cùng những bất lợi và trở lực đang nhanh chóng trỗi dậy. Những từ Tôi dùng ở đây đều đã được lựa chọn có chủ ý.

21. The Tibetan mentions a number of words which are important for the consideration of the modern disciple. The modern disciple has a greatly enhanced vision of the realities involved in treading the Path of Discipleship.

21. Chân sư Tây Tạng đề cập đến một số từ quan trọng mà người đệ tử hiện đại cần suy xét. Người đệ tử hiện đại có tầm nhìn sâu rộng hơn rất nhiều về những thực tại liên quan đến việc bước trên Con Đường Đệ Tử.

22. These words are:

22. Những từ này là:

1. Intermediate states

1. Các trạng thái trung gian

2. Opposing forces

2. Các mãnh lực đối kháng

3. Obstructions

3. Những chướng ngại

4. Rapidly arousing handicaps and hindrances.

4. Những bất lợi và trở lực đang nhanh chóng trỗi dậy.

23. We might say that the modern disciple is far less naïve about the Path of Discipleship and what may arise upon it.

23. Chúng ta có thể nói rằng người đệ tử hiện đại ít ngây thơ hơn rất nhiều về Con Đường Đệ Tử và những gì có thể nảy sinh trên đó.

24. The phrase “rapidly arousing handicaps and hindrances” is interesting in that it suggests that these handicaps and hindrances are not, at first, either visible or much intensified. It is the energy contacted on the Path of Discipleship which is responsible for arousing them from latency to fullness of expression.

24. Cụm từ “những bất lợi và trở lực đang nhanh chóng trỗi dậy” thật thú vị, vì nó gợi ý rằng ban đầu những bất lợi và trở lực này chưa hiển lộ hoặc chưa gia tăng nhiều về cường độ. Chính năng lượng mà người đệ tử tiếp xúc trên Con Đường Đệ Tử khơi dậy chúng từ trạng thái tiềm ẩn đến sự biểu lộ trọn vẹn.

25. On the way to the fulfillment of the vision many stages have to be passed through. The modern disciple has some idea of what these stages are and what he may expect when entering them.

25. Trên con đường hiện thực hoá tầm nhìn, phải trải qua nhiều giai đoạn. Người đệ tử hiện đại phần nào biết những giai đoạn ấy là gì và y có thể chờ đợi điều gì khi bước vào chúng.

26. As for “opposing forces”, the energy generated by a true disciple attracts a proportional counter-force. Some imagine that their efforts attract the attention of the Black Lodge, but this would be most unlikely unless the disciple is successfully doing work of considerable importance. Yet, opponents there will be.

26. Về “các mãnh lực đối kháng”, năng lượng do một đệ tử chân chính tạo ra thu hút một phản lực tương xứng. Một số người tưởng rằng những nỗ lực của họ thu hút sự chú ý của Hắc đoàn, nhưng điều này rất khó xảy ra, trừ khi người đệ tử đang thực hiện thành công công việc có tầm quan trọng đáng kể. Tuy nhiên, vẫn sẽ có những kẻ chống đối.

27. As for “obstructions”, there are simply, inherently part of thee Path.

27. Còn về “những chướng ngại”, chúng vốn là một phần của Đường Đạo.

He is not now totally blind nor does he move forward entirely in the dark.

Giờ đây, y không hoàn toàn mù quáng, cũng không tiến bước hoàn toàn trong bóng tối.

28. The implication is that disciples of old moved forward surrounded by greater darkness.

28. Điều này hàm ý rằng các đệ tử thời xưa tiến bước giữa bóng tối dày đặc hơn.

There is enough light in him to bring to him what is called the "little revelation," and, in that light, will he see the greater light and arrive at a truer perception.

Ánh sáng trong y đủ để đem đến cho y điều được gọi là “sự mặc khải nhỏ”, và trong ánh sáng ấy, y sẽ thấy ánh sáng lớn hơn và đạt đến một sự nhận thức chân thực hơn.

29. We see that the light thrown upon the Path as the disciple treads the Path arises from within the disciple.

29. Chúng ta thấy rằng ánh sáng chiếu rọi trên Đường Đạo khi người đệ tử bước đi trên đó phát sinh từ bên trong chính người đệ tử.

30. Lesser lights reveal greater lights.

30. Những ánh sáng nhỏ hơn làm hiển lộ những ánh sáng lớn hơn.

He sees himself, and that—for aeons—the disciple has ever been able to do. But now he also perceives and recognises his brother in the light, and this evokes personality reactions and he has to adjust himself not only to himself as he discovers himself to be, but likewise to what he finds his brother also to be. This is no easy adjustment to make, and this the earlier imparted Rules of the Road* will have indicated to you.

Y thấy chính mình, và đó là điều mà từ bao đại kỳ người đệ tử vẫn luôn có thể làm. Nhưng giờ đây, y cũng nhận thức và nhận biết huynh đệ của mình trong ánh sáng; điều này gợi lên những phản ứng của phàm ngã, và y phải điều chỉnh bản thân không chỉ với chính mình như y khám phá ra, mà còn với những gì y phát hiện về huynh đệ mình. Đây không phải là một sự điều chỉnh dễ dàng, và Các Quy Luật của Đường Đạo [xv]* đã truyền đạt trước đây hẳn đã chỉ rõ điều này cho các bạn.

31. This little section offers an important discussion. The disciple of the past possessed some insight into his own nature but, apparently, not very much insight into the nature of his brother.

31. Đoạn ngắn này đưa ra một thảo luận quan trọng. Người đệ tử thời trước có phần nào sự thấu suốt bản chất của chính mình, nhưng dường như không thấu suốt nhiều về bản chất của huynh đệ mình.

32. Now this has changed. The “discovery” (in the light) of his brother arouses his own reactions—personality reactions, and with these he has to deal whereas formerly he did not.

32. Giờ đây điều này đã thay đổi. Việc “khám phá” huynh đệ mình trong ánh sáng khơi dậy những phản ứng của chính y—những phản ứng của phàm ngã—và y phải xử lý chúng, trong khi trước kia y không phải làm như vậy.

33. The Rule of the Road which tells us that “each sees and knows the villainy of each”, is, specifically, the Rule to which DK is referring.

33. Quy Luật của Đường Đạo nói với chúng ta rằng “mỗi người đều thấy và biết sự xấu xa của người kia” chính là Quy Luật mà Chân sư DK đang đề cập đến.

34. The Rule tells us that the great revelation of a brother’s villainy must not lead to “turning back” to “spurning of each other”, to “shakiness upon the Road”, for the “Road leads forward into day”—and in that “Light of Day” the soul is seen as it is and the “villainy” melts away.

34. Quy Luật cho chúng ta biết rằng sự mặc khải lớn lao về sự xấu xa của một huynh đệ không được dẫn đến việc “quay lui”, “khinh miệt nhau”, hay “chao đảo trên Đường Đạo”, vì “Đường Đạo dẫn tiến vào ánh sáng ban ngày”—và trong “Ánh Sáng Ban Ngày” ấy, linh hồn hiển lộ đúng như thực tại của nó, còn “sự xấu xa” thì tan biến.

35. We can see that DK was seriously undertaking the training of His disciples. His methods of training are scattered in a number of books—DINA I and II, The Rays and the Initiations, Glamour a World Problem, Telepathy and the Etheric Vehicle, etc. Taken together, they offer a very complete picture of the methods and obligations of the New Discipleship.

35. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đã nghiêm túc đảm nhận việc huấn luyện các đệ tử của Ngài. Các phương pháp huấn luyện của Ngài nằm rải rác trong một số sách—Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I và II, Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái, v.v. Khi được tập hợp lại, chúng đưa ra một bức tranh rất đầy đủ về các phương pháp và bổn phận của Địa Vị Đệ Tử Mới.

I would like here, my brother, to list for you the most important of the statements made by me in the previous instruction, indicating those which embody important hints and showing you, this one time, with what care I prepare that which I seek to impart and how, therefore, I expect from you a careful study of my words. Here are these key thoughts:

Huynh đệ của tôi, ở đây Tôi muốn liệt kê cho các bạn những lời phát biểu quan trọng nhất mà Tôi đã đưa ra trong huấn thị trước, chỉ ra những lời hàm chứa các gợi ý quan trọng và, riêng lần này, cho các bạn thấy Tôi chuẩn bị cẩn thận đến mức nào những gì Tôi tìm cách truyền đạt, và do đó, Tôi mong đợi các bạn nghiên cứu lời Tôi một cách cẩn thận ra sao. Sau đây là những tư tưởng then chốt ấy:

36. We offered our interpretation of some of these ideas as found in the last instruction. No doubt there will be much light shed here on what was proposed there.

36. Chúng ta đã đưa ra cách diễn giải của mình về một số ý tưởng này trong huấn thị trước. Chắc chắn ở đây sẽ có nhiều ánh sáng soi rọi những điều đã được đề xuất ở đó.

1. Only that which you know for yourself and consciously experience is of importance.

1. Chỉ những gì các bạn tự mình biết và trải nghiệm một cách hữu thức mới có tầm quan trọng.

This refers especially to the following:

Điều này đặc biệt liên quan đến những điều sau:

37. The rest is theoretical knowledge, capable of being incorporated into the Life of Discipleship, but not yet truly understood or incorporated.

37. Phần còn lại là tri thức lý thuyết, có thể được đưa vào Đời Sống Đệ Tử, nhưng chưa thực sự được thấu hiểu hay đưa vào đời sống ấy.

a. Your perception of the vision.

a. Sự nhận thức của các bạn về linh thị.

38. It must be one’s own vision.

38. Đó phải là tầm nhìn của chính mình.

b. Your contact with me, your Master.

b. Sự tiếp xúc của các bạn với Tôi, Chân sư của các bạn.

39. It must be real and not just wishful thinking.

39. Điều đó phải có thật, chứ không chỉ là điều mình mong muốn rồi tưởng là thật.

c. Your recognition of the initiatory process.

c. Sự nhận biết của các bạn về tiến trình điểm đạo.

40. The disciple must understand the nature of the process through which he is passing. Again, it is not theoretical or imaginary, but a real process with real phases and real requirements pertaining to these phases.

40. Người đệ tử phải thấu hiểu bản chất của tiến trình mà y đang trải qua. Một lần nữa, đây không phải là lý thuyết hay tưởng tượng, mà là một tiến trình có thật, với những pha có thật và những yêu cầu có thật gắn với các pha ấy.

I told you, therefore, that you must have (for the goal) the demonstrating of the initiate-consciousness through both mind and brain and consequently upon the physical plane.

Vì vậy, Tôi đã nói với các bạn rằng mục tiêu của các bạn phải là biểu lộ tâm thức điểm đạo đồ qua cả thể trí lẫn bộ não, và do đó, trên cõi hồng trần.

41. We are reminded of the importance of the participation of both mind and brain in the initiatory process. The process of initiation is meant for physical manifestation.

41. Chúng ta được nhắc nhở về tầm quan trọng của sự tham gia của cả thể trí lẫn bộ não trong tiến trình điểm đạo. Tiến trình điểm đạo nhằm đạt đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần.

42. There are some rare occurrences when initiation can be taken “out of the body” (in the discarnate state) and, thus, without a physical brain, but the case as stated immediately above is the rule.

42. Có một số trường hợp hiếm hoi khi người ta có thể tiếp nhận điểm đạo “ngoài thân thể” (trong trạng thái không nhập thể), và do đó không có bộ não vật chất; tuy nhiên, trường hợp vừa nêu ở trên mới là thông lệ.

43. We may remember that it is particularly the sign Scorpio (one of the major signs of initiation) which brings the whole process (and its struggle) right down onto the physical plane. The same could be said of Capricorn—the major sign of initiation.

43. Chúng ta có thể nhớ rằng đặc biệt chính dấu hiệu Hổ Cáp (một trong những dấu hiệu chủ yếu của điểm đạo) đưa toàn bộ tiến trình cùng cuộc đấu tranh của nó xuống tận cõi hồng trần. Cũng có thể nói như vậy về Ma Kết—dấu hiệu chủ yếu nhất của điểm đạo.

[254]

[254]

2. Initiation is, as far as you are at present concerned, a "moment of crisis wherein the consciousness hovers upon the border line of revelation." This involves consequently:

2. Đối với các bạn hiện nay, điểm đạo là một “thời điểm khủng hoảng trong đó tâm thức lơ lửng trên ranh giới của sự mặc khải”. Do đó, điều này bao hàm:

44. This is of considerable interest. DK does not define the initiation in terms of revelation achieved—at least not here.

44. Điều này rất đáng quan tâm. Chân sư DK không định nghĩa điểm đạo theo sự mặc khải đã đạt được—ít nhất là không phải ở đây.

45. We might say that as the “Door of Initiation” is about to open “the consciousness hovers on the border line of revelation”.

45. Chúng ta có thể nói rằng khi “Cánh Cửa Điểm Đạo” sắp mở ra, “tâm thức chập chờn trên đường biên của sự mặc khải”.

a. A tremendous pull between the pairs of opposites.

a. Một sức lôi kéo mãnh liệt giữa các cặp đối cực.

46. We are speaking here of a condition which exists before revelation is achieved.

46. Ở đây chúng ta đang nói về một tình trạng tồn tại trước khi đạt được sự mặc khải.

47. At this “border line” the potential initiate realizes both the magnetism which would draw him forward and the still potent attraction which would pull him back.

47. Tại “đường biên” này, người sắp trở thành điểm đạo đồ nhận biết cả từ điện kéo y tiến lên lẫn sức hấp dẫn vẫn còn mạnh mẽ kéo y lùi lại.

b. The existence, as a result, of a field of tension.

b. Sự tồn tại của một trường căng thẳng như là kết quả.

48. The potential initiate, therefore, stands within a field of tension—the result of the pull between the pairs of opposites.

48. Do đó, người sắp trở thành điểm đạo đồ đứng trong một trường căng thẳng—kết quả của sức giằng kéo giữa các cặp đối cực.

c. The effort to stand firm at the midway point.

c. Nỗ lực đứng vững tại điểm ở giữa.

49. We see that the potential initiate can neither advance, nor can he allow himself to be drawn back. Rather, he must take a firm stand, neither advancing (yet) nor retreating.

49. Chúng ta thấy rằng người sắp trở thành điểm đạo đồ vừa không thể tiến lên, vừa không thể để mình bị kéo lùi. Thay vào đó, y phải đứng vững, chưa tiến lên mà cũng không lùi lại.

I would remind you that this does not refer to the man upon the path of life, pulled as he is between the pairs of opposites upon the plane of desire, but to the soul standing at the midway point between the monad and the personality and preparing to make the Great Renunciation—a renunciation which the personality makes possible—and to disappear, leaving the two (personality and monad) perfectly at-one.

Tôi muốn nhắc các bạn rằng điều này không nói đến con người trên đường đời đang bị giằng kéo giữa các cặp đối cực trên cõi dục vọng, mà nói đến linh hồn đứng ở điểm ở giữa chân thần và phàm ngã, chuẩn bị thực hiện Sự Từ Bỏ Vĩ Đại—một sự từ bỏ mà phàm ngã làm cho khả thi—và biến mất, để lại hai bên (phàm ngã và chân thần) hoàn toàn hợp nhất.

50. We are dealing with a very high stage of discipleship, indeed—that stage which will free the man from identification with the fourth kingdom of nature.

50. Quả thực, chúng ta đang bàn đến một giai đoạn rất cao của địa vị đệ tử—giai đoạn sẽ giải phóng con người khỏi sự đồng hoá với giới thứ tư trong thiên nhiên.

51. All human beings are pulled between the high and low—roughly considered, between “good” and “evil”. DK is not discussing this normal struggle.

51. Mọi con người đều chịu sự giằng kéo giữa cao và thấp—nói khái quát là giữa “thiện” và “ác”. Chân sư DK không bàn về cuộc đấu tranh thông thường này.

52. He is speaking of the man who can focus in causal consciousness as the soul and can ‘stand’ upon the higher mental plane.

52. Ngài đang nói về người có thể tập trung trong tâm thức nguyên nhân với tư cách linh hồn và có thể ‘đứng’ trên cõi thượng trí.

53. Such a disciple is focussed between the sense of pure being characteristic of the Spirit/Monad, and the sense of being an intelligent, individualized being functioning upon the lower eighteen sub-planes.

53. Một đệ tử như vậy tập trung ở giữa cảm thức về Bản Thể thuần khiết, vốn là đặc trưng của Tinh Thần/Chân Thần, và cảm thức mình là một sinh linh thông tuệ, đã biệt ngã hoá, đang hoạt động trên mười tám cõi phụ thấp.

54. We are being told that even at the fourth initiation, Monad and personality may be considered at-oned. In some ways the word “perfectly” seems premature for this state. Perhaps, this perfect at-one-ment may be considered factual because the Master of the fifth initiation and the Chohan of the sixth, have no need for a personality—they simply generate a will-created expressive appearance—the Mayavirupa which, though appearing as a personality, is not.

54. Chúng ta được cho biết rằng ngay ở lần điểm đạo thứ tư, có thể xem Chân Thần và phàm ngã là đã hợp nhất. Theo một vài phương diện, từ “hoàn toàn” dường như còn quá sớm đối với trạng thái này. Có lẽ sự hợp nhất hoàn toàn này có thể được xem là một sự thật, vì Chân sư của lần điểm đạo thứ năm và Đấng Chohan của lần thứ sáu không cần phàm ngã—Các Ngài chỉ tạo ra một sắc tướng biểu đạt do ý chí kiến tạo—huyễn thân, tuy có vẻ là một phàm ngã nhưng thực ra không phải.

55. We are learning that the perspective from the midway point disappears at the fourth initiation. Instead, there remains the sense of being as inclusive of soul-infused intelligence.

55. Chúng ta đang học rằng góc nhìn từ điểm ở giữa biến mất ở lần điểm đạo thứ tư. Thay vào đó, còn lại cảm thức về Bản Thể bao gồm trí thông tuệ được linh hồn thấm nhuần.

56. We note that the personality makes the fourth initiation possible—this, we assume, through an act of sacrificial will.

56. Chúng ta lưu ý rằng phàm ngã làm cho lần điểm đạo thứ tư trở nên khả thi—chúng ta giả định rằng điều này diễn ra qua một hành vi của ý chí hi sinh.

It is the man, as the soul, in full waking consciousness who takes initiation.

Chính con người, với tư cách linh hồn, trong tâm thức hoàn toàn tỉnh thức, tiếp nhận điểm đạo.

57. The Monad is already the initiate. The personality is merely the instrument and it does not take initiation.

57. Chân Thần vốn đã là điểm đạo đồ. Phàm ngã chỉ là công cụ và không tiếp nhận điểm đạo.

58. The candidate for this initiation is the Self-realized soul.

58. Ứng viên cho lần điểm đạo này là linh hồn đã chứng nghiệm Bản Ngã.

59. We can see that aspiration, per se, will never fully prepare the would-be initiate for the goal he seeks. Only identification as a soul will be a fitting preparation.

59. Chúng ta có thể thấy rằng chính khát vọng sẽ không bao giờ chuẩn bị đầy đủ cho người mong được điểm đạo để đạt mục tiêu y tìm kiếm. Chỉ sự đồng hoá mình là một linh hồn mới là sự chuẩn bị thích hợp.

Hence the emphasis upon soul contact when a man is upon the Probationary Path and passing through the early stages of discipleship.

Vì thế, sự tiếp xúc với linh hồn được nhấn mạnh khi con người ở trên Con Đường Dự Bị và trải qua những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử.

60. DK emphasizes the true method of preparation for the initiation process.

60. Chân sư DK nhấn mạnh phương pháp chuẩn bị chân chính cho tiến trình điểm đạo.

61. So many self-proclaimed ‘initiates’ are simply personalities ignorantly pretending to be initiated.

61. Rất nhiều ‘điểm đạo đồ’ tự xưng chỉ là những phàm ngã đang giả vờ đã được điểm đạo trong sự thiếu hiểu biết.

This leads, later, to the emphasis placed upon the need for two major activities—before the man can take the higher initiations:

Về sau, điều này dẫn đến việc nhấn mạnh sự cần thiết của hai hoạt động chủ yếu—trước khi con người có thể tiếp nhận những cuộc điểm đạo cao hơn:

a. Upon alignment.

a. Sự chỉnh hợp.

62. We should pause to note the importance of a seeming fundamental—alignment. Although fundamental, DK mentions alignment in relation to preparation for the higher initiations.

62. Chúng ta nên dừng lại để lưu ý tầm quan trọng của một điều có vẻ cơ bản—sự chỉnh hợp. Dù là điều cơ bản, Chân sư DK vẫn đề cập đến sự chỉnh hợp trong mối liên hệ với việc chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo cao hơn.

b. Upon the scientific building of the antahkarana.

b. Việc xây dựng antahkarana một cách khoa học.

63. This requirement is predictable. We note that the method of building is not ‘aspirational building’, but “scientific building”. No one can evade the necessity for applying himself to this process in a scientific manner.

63. Yêu cầu này có thể dự đoán được. Chúng ta lưu ý rằng phương pháp xây dựng không phải là ‘xây dựng bằng khát vọng’, mà là “xây dựng một cách khoa học”. Không ai có thể né tránh sự cần thiết phải chuyên tâm thực hiện tiến trình này một cách khoa học.

3. The revelation, given to the initiate, is not a vision of possibilities, but a factual experience, leading to:

3. Sự mặc khải được trao cho điểm đạo đồ là một trải nghiệm thực tế, chứ không phải linh thị về những khả năng, và dẫn đến:

64. Again, we are not dealing with theory but with the presentation to the consciousness of an aspect of reality—a “factual experience”.

64. Một lần nữa, chúng ta không bàn đến lý thuyết, mà đến việc một phương diện của thực tại được trình hiện trước tâm thức—một “trải nghiệm thực tế”.

65. Below we deal with the results of the factual experience of revelation.

65. Dưới đây, chúng ta bàn đến những kết quả của trải nghiệm thực tế về sự mặc khải.

a. The evocation of new powers.

a. Sự gợi lên những quyền năng mới.

b. The recognition of new modes and fields of service.

b. Sự nhận biết những phương thức và lĩnh vực phụng sự mới.

c. Freedom of movement within the bounds of the Hierarchy.

c. Sự tự do di chuyển trong phạm vi Thánh đoàn.

d. New hierarchical contacts and new responsibilities which face the initiate.

d. Những tiếp xúc mới với Thánh đoàn và những trách nhiệm mới đặt ra trước điểm đạo đồ.

66. We see that revelation brings empowerment, wider scope for service and new ways of serving, greater mobility and freedom within Hierarchy, and new contacts with those within Hierarchy and thus, new responsibilities arising from expanded powers and additional contacts.

66. Chúng ta thấy rằng sự mặc khải đem lại quyền năng, phạm vi phụng sự rộng hơn và những cách phụng sự mới, khả năng di chuyển và sự tự do lớn hơn trong Thánh đoàn, cùng những tiếp xúc mới với các vị trong Thánh đoàn; từ đó nảy sinh những trách nhiệm mới do quyền năng mở rộng và các tiếp xúc gia tăng.

67. We see that revelation entails more than simply enhancement of consciousness. With enhanced consciousness comes enhanced capacity.

67. Chúng ta thấy rằng sự mặc khải bao hàm nhiều hơn việc chỉ nâng cao tâm thức. Cùng với tâm thức được nâng cao là năng lực được gia tăng.

He, therefore, realises what St. Paul meant when—talking in hierarchical terms—he said "All things are become new." It is not simply a question of vision and contacts but of vital interrelation and of recognition which bring with them insight into the Mind of God.

Vì vậy, y nhận ra điều Thánh Paul muốn nói khi—dùng ngôn ngữ của Thánh đoàn—ông nói: “Mọi sự đều đã trở nên mới.” Đây không chỉ là vấn đề linh thị và những sự tiếp xúc, mà còn là mối tương quan sống động và sự nhận biết đem lại cái nhìn thấu suốt vào Trí của Thượng đế.

68. DK is speaking of the renewal which revelation brings.

68. Chân sư DK đang nói về sự đổi mới mà sự mặc khải đem lại.

69. What is meant by the “Mind of God”? May we say that the buddhic aspect of mind is meant—“transcendental mind” it is called, as well as the atmic aspect.

69. “Trí của Thượng đế” hàm ý điều gì? Liệu chúng ta có thể nói rằng điều được hàm ý là phương diện Bồ đề của thể trí—được gọi là “Trí Tuệ Siêu Việt”—cũng như phương diện atma?

70. In this newness, we are speaking of penetration into triadal realization.

70. Trong sự mới mẻ này, chúng ta đang nói đến việc thâm nhập sự chứng nghiệm của Tam Nguyên Tinh Thần.

71. The initiate not only sees and contacts but is related in a vital manner to that which is seen and contacted.

71. Điểm đạo đồ không chỉ nhìn thấy và tiếp xúc, mà còn có mối liên hệ sống động với điều y nhìn thấy và tiếp xúc.

[255]

[255]

4. Four lines of teaching were emphasised in past centuries and up until the year 1875:

4. Trong những thế kỷ trước và cho đến năm 1875, bốn đường hướng giáo huấn đã được nhấn mạnh:

72. We note the year 1875—the year the Theosophical Society was founded, and the year in which initiate DK became a Master of the Wisdom.

72. Chúng ta lưu ý năm 1875—năm Hội Thông Thiên Học được thành lập, và cũng là năm điểm đạo đồ DK trở thành một Chân sư Minh Triết.

a. Hints as to the changing of personality character as preparatory to initiation.

a. Những gợi ý về việc thay đổi tính cách phàm ngã để chuẩn bị cho điểm đạo.

73. These hints were important for the treading of the Probationary Path.

73. Những gợi ý này có tầm quan trọng đối với việc bước trên Con Đường Dự Bị.

b. Teaching as to the oneness of Deity and of the universal order.

b. Giáo huấn về tính nhất thể của Thượng đế và của trật tự vũ trụ.

74. This teaching was important for generating an inclusive attitude characteristic of the initiate consciousness.

74. Giáo huấn này có tầm quan trọng trong việc tạo nên một thái độ bao gồm, vốn là đặc trưng của tâm thức điểm đạo đồ.

c. Instruction as to the creative process.

c. Huấn thị về tiến trình sáng tạo.

75. This type of instruction would prepare a disciple to become a co-worker with the members of the Hierarchy.

75. Loại huấn thị này chuẩn bị cho người đệ tử trở thành người cộng tác với các thành viên của Thánh đoàn.

d. Laya yoga or the yoga of energy, working through force centres.

d. Yoga Laya, hay yoga năng lượng, hoạt động qua các trung tâm mãnh lực.

76. This would be the next step beyond physical preparation—dealing with the reality of the etheric body—in a way, the next frontier.

76. Đây là bước tiếp theo vượt ra ngoài sự chuẩn bị về thể chất—làm việc với thực tại của thể dĩ thái—xét theo một nghĩa nào đó, là địa hạt tiếp theo cần khám phá.

Two things must now happen: the imparted theories which have guided the disciple's thinking hitherto must become practical experiences, and there must be such a shift in consciousness that the present vision must become the past experience and a new and deeper and entirely different recognition must take the place of the old goals.

Giờ đây, hai điều phải xảy ra: những lý thuyết đã truyền đạt và dẫn dắt tư duy của người đệ tử cho đến nay phải trở thành những trải nghiệm thực tiễn; đồng thời phải có một sự chuyển dịch trong tâm thức sao cho linh thị hiện tại trở thành trải nghiệm quá khứ, và một sự nhận biết mới, sâu xa hơn, hoàn toàn khác biệt phải thay thế những mục tiêu cũ.

77. DK is emphasizing the continuing importance of the teaching as given before 1875, but is stating that it must become practical rather than theoretical.

77. Chân sư DK nhấn mạnh rằng giáo huấn đã được truyền dạy trước năm 1875 vẫn tiếp tục có tầm quan trọng, nhưng Ngài khẳng định rằng giáo huấn ấy phải trở thành thực tiễn thay vì chỉ là lý thuyết.

78. Vision must end in experience, and that experience assumed as part of the equipment of the disciple.

78. Tầm nhìn phải đi đến trải nghiệm, và trải nghiệm ấy phải trở thành một phần hành trang của người đệ tử.

79. New recognitions and new goals are immanent.

79. Những nhận biết mới và những mục tiêu mới đang hiện hữu tiềm tàng bên trong.

Here comes, consequently, a complete test-out of past hierarchical methods and modes of work.

Do đó, ở đây diễn ra một cuộc kiểm nghiệm toàn diện các phương pháp và phương thức làm việc trước kia của Thánh đoàn.

80. DK calls for us to put old theories to the test. The phrase “complete test-out” is arresting.

80. Chân sư DK kêu gọi chúng ta đưa những lý thuyết cũ ra kiểm nghiệm. Cụm từ “kiểm nghiệm toàn diện” thật đáng chú ý.

81. To prove theory real is the only way to transform vision into established experience.

81. Chứng minh lý thuyết là có thật là cách duy nhất để chuyển đổi tầm nhìn thành trải nghiệm đã được xác lập.

Has what the past has given proved an adequate preparation for that which will be the methods and propositions of the future? Have the foundations of truth been so securely settled that the coming superstructure will be based on such a sound reality that it can stand the impact of the new incoming solar and cosmic forces? Will the past work of the Hierarchy stand? Such are the problems with which the initiate-teachers are today faced.

Những gì quá khứ đã trao có chứng tỏ là sự chuẩn bị đầy đủ cho các phương pháp và những điều đề xuất trong tương lai hay không? Những nền móng chân lý đã được đặt vững chắc đến mức công trình bên trên sắp tới sẽ dựa trên một thực tại đủ vững vàng để chịu được tác động của những mãnh lực thái dương và vũ trụ mới đang tuôn vào hay chưa? Công việc trước kia của Thánh đoàn có đứng vững hay không? Đó là những vấn đề mà các huấn sư điểm đạo đồ đang đối diện ngày nay.

82. We see that the initiate-teachers of the race wish to work on a firm foundation. New energies of great potency are on their way and unless the disciples and their forms are adequately prepared the new “incoming solar and cosmic forces” will not be withstood.

82. Chúng ta thấy rằng các huấn sư điểm đạo đồ của nhân loại mong muốn làm việc trên một nền tảng vững chắc. Những năng lượng mới có sức mạnh lớn lao đang tiến đến, và nếu các đệ tử cùng những hình tướng của họ không được chuẩn bị đầy đủ, họ sẽ không chịu nổi các “mãnh lực thái dương và vũ trụ mới đang đi vào”.

83. As Master Morya once said, “We are tired of castles in the air”. The time of proving has come—the time of a “complete test-out”—a testing upon the outer or physical plane.

83. Như Chân sư Morya từng nói: “Chúng Tôi đã mệt mỏi với những lâu đài trên không.” Thời điểm chứng minh đã đến—thời điểm của một cuộc “kiểm nghiệm toàn diện”—một cuộc kiểm nghiệm trên cõi bên ngoài, tức cõi hồng trần.

Just as the attitudes of the disciple to daily living and to world happenings are totally unlike that of the average man because he is living increasingly in the world of meaning, so the initiate-disciple develops an attitude to living processes and to world events which is based on character (necessarily), interpreted in the world of meaning, but to them he brings a different light to bear and a motivation—based on newly acquired knowledge and understanding—which is entirely different to the two previous conditions.

Cũng như thái độ của người đệ tử đối với đời sống hằng ngày và những diễn biến trên thế giới hoàn toàn khác với thái độ của người bình thường, vì y ngày càng sống nhiều hơn trong Thế giới của ý nghĩa, người đệ tử-điểm đạo đồ cũng phát triển một thái độ đối với những tiến trình sống và các biến cố thế giới, thái độ ấy dựa trên tính cách (tất nhiên), được diễn giải trong Thế giới của ý nghĩa; nhưng y soi chiếu chúng bằng một ánh sáng khác và một động cơ—dựa trên tri thức và sự thấu hiểu mới đạt được—hoàn toàn khác với hai điều kiện trước.

84. The average man lives in the world of the senses and concentrates upon the improvement of character. The disciple lives in thee world of meaning. The “initiate-disciple” lives in a world of causality and eventually in a world of significance.

84. Người bình thường sống trong thế giới của các giác quan và tập trung cải thiện tính cách. Người đệ tử sống trong thế giới của ý nghĩa. “Người đệ tử điểm đạo đồ” sống trong một thế giới của nguyên nhân và cuối cùng trong một thế giới của thâm nghĩa.

85. We see that the initiate-disciple cannot abrogate character requirements and interpretations of life events as understood from the perspective of the world of meaning—but new light is brought to bear and a new motivation.

85. Chúng ta thấy rằng người đệ tử điểm đạo đồ không thể gạt bỏ những yêu cầu về tính cách và những cách diễn giải các biến cố trong đời sống theo góc nhìn của thế giới của ý nghĩa—nhưng một ánh sáng mới được dùng để soi rọi và một động cơ mới được đem vào.

86. DK emphasizes how different is the attitude of the initiate-disciple from that attitude which characterizes the average man or even the disciple. Let us see why.

86. Chân sư DK nhấn mạnh rằng thái độ của người đệ tử điểm đạo đồ khác biệt biết bao so với thái độ đặc trưng của người bình thường, hay thậm chí của người đệ tử. Chúng ta hãy xem vì sao.

The four lines of teaching are taken for granted; the initiate is supposed to have grasped and mastered all of it in some experimental and experiential measure.

Bốn đường hướng giáo huấn được xem là điều đương nhiên; điểm đạo đồ được cho là đã nắm bắt và làm chủ tất cả những điều ấy qua một mức độ thử nghiệm và trải nghiệm nhất định.

87. The teaching given before 1875 is (with respect to the initiate today) taken for granted as factually established. It is assumed that the initiate, through experiment, has established these lines of teaching experientially.

87. Giáo huấn được truyền dạy trước năm 1875 được xem là đã xác lập trên thực tế đối với điểm đạo đồ ngày nay. Người ta cho rằng qua thực nghiệm, điểm đạo đồ đã xác lập những đường hướng giáo huấn này bằng trải nghiệm.

88. We could pause to review these four lines and see whether we have established these lines of teaching as practical.

88. Chúng ta có thể dừng lại để ôn lại bốn đường hướng này và xem mình đã đưa những đường hướng giáo huấn ấy vào thực tiễn hay chưa.

Now the new formulas of life must control; they are life formulas, not [256] soul formulas.

Giờ đây, các công thức mới của sự sống phải nắm quyền chi phối; chúng là những công thức sự sống, chứ không phải những công thức [256] linh hồn.

89. This is a potent statement. How shall we distinguish “life formulas” from “soul formulas”? We can begin by saying that life formulas relate to Spirit and being and that soul formulas relate to the enhancement of consciousness.

89. Đây là một phát biểu đầy sức mạnh. Chúng ta phân biệt “những công thức của sự sống” với “những công thức của linh hồn” như thế nào? Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách nói rằng những công thức của sự sống liên quan đến Tinh Thần và Bản Thể, còn những công thức của linh hồn liên quan đến việc nâng cao tâm thức.

90. We might say that life formulas assist the initiate to “onward move(s) in life”. (Rule VI R&I 21)

90. Chúng ta có thể nói rằng những công thức của sự sống giúp điểm đạo đồ “tiến bước trong sự sống”. (Quy Luật VI, Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, trang 21)

New knowledge must supersede the old and it will not concern that which has hitherto been regarded as the ultimate goal.

Tri thức mới phải thay thế tri thức cũ, và sẽ không liên quan đến điều cho đến nay vẫn được xem là mục tiêu tối hậu.

91. DK ever provides the progressive picture. However, it is not so easy to change as we may think.

91. Chân sư DK luôn đưa ra bức tranh về sự tiến triển. Tuy nhiên, thay đổi không dễ dàng như chúng ta có thể tưởng.

An illustration of this is the fact that to the esotericist of the past little was known of the seven Rays and the seven ray types, and naught had been given out anent Shamballa.

Một minh hoạ cho điều này là việc nhà bí truyền học trong quá khứ biết rất ít về bảy cung và bảy loại người thuộc các cung, và chưa có điều gì về Shamballa được công bố.

92. Serious students of Master DK will recognize these two aspects of knowledge as exceedingly prominent in His presentation.

92. Những đạo sinh nghiêm túc nghiên cứu giáo huấn của Chân sư DK sẽ nhận ra hai phương diện này của tri thức nổi bật đến mức nào trong cách trình bày của Ngài.

Now the world of instructed disciples is slowly wakening to these newer values and truths and to the sevenfold source of life expression; the Will of God is going to take shape consciously in the minds of men in the future in such a manner that the old truths will condition and control as never before, but will drop automatically below the threshold of consciousness and the new emerging values and recognitions will take their place in the surface consciousness of all disciples—and their name will be Legion.

Giờ đây, giới đệ tử đã được huấn luyện đang dần thức tỉnh trước những giá trị và chân lý mới hơn này, cùng nguồn thất phân của sự biểu lộ sự sống; trong tương lai, Ý Chí của Thượng Đế sẽ thành hình một cách hữu thức trong thể trí con người theo một cách thức khiến những chân lý cũ định hình và chi phối như chưa từng có, nhưng sẽ tự động chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức, còn những giá trị và nhận biết mới đang xuất hiện sẽ thay thế chúng trong tâm thức bề mặt của tất cả các đệ tử—và danh xưng của họ sẽ là Đạo Quân.

93. Here DK speaks in yet another way of the rays and Shamballa. It may also be inferred that knowledge of the seven rays is necessary to the disciple if he is to understand the Shamballic Will of God more thoroughly.

93. Ở đây, Chân sư DK lại nói về các cung và Shamballa theo một cách khác nữa. Cũng có thể suy ra rằng đệ tử cần có tri thức về bảy cung nếu muốn thấu hiểu thấu đáo hơn Ý Chí của Thượng Đế từ Shamballa.

94. We see that the incorporation of the new truths into the consciousness of the disciple will have a beneficial effect upon the assimilation of the old truths. With respect to the revelation of truth, the principle of continuity prevails. The newer truths are not discontinuous with the truths brought forward in the past; rather the newer truths include the older.

94. Chúng ta thấy rằng việc đưa những chân lý mới vào tâm thức của đệ tử sẽ có tác dụng hữu ích đối với việc đồng hóa những chân lý cũ. Đối với sự mặc khải chân lý, nguyên lý liên tục luôn giữ vai trò chủ đạo. Những chân lý mới hơn không đứt đoạn với những chân lý đã được đưa ra trong quá khứ; đúng hơn, những chân lý mới hơn bao gồm những chân lý cũ hơn.

95. DK predicts that the modern disciple will be concerned with the newer truths in such a way that such truths will be very much to the forefront of consciousness.

95. Chân sư DK tiên đoán rằng đệ tử hiện đại sẽ quan tâm đến những chân lý mới hơn theo cách khiến các chân lý ấy giữ vị trí hết sức nổi bật trong tâm thức.

96. Perhaps some of us are already thinking clearly about the newer truths, values and recognitions such that they are at the forefront of our consciousness.

96. Có lẽ một số người trong chúng ta đã suy nghĩ rõ ràng về những chân lý, giá trị và nhận thức mới hơn, đến mức chúng giữ vị trí nổi bật trong tâm thức chúng ta.

5. The astral body provides no hindrance to the initiate-disciple, but provides a medium of facile contact with the Hierarchy.

5. Thể cảm dục không gây trở ngại cho đệ tử-điểm đạo đồ, mà cung cấp một phương tiện tiếp xúc dễ dàng với Thánh đoàn.

97. We have been using the term “initiate-disciple” which, perhaps, we should define as the initiate of the third degree. Roberto Assagioli was described as an “initiate disciple” and the Tibetan strongly infers that he has achieved that degree. (DINA II 465) The same could be said of Alice Bailey.

97. Chúng ta vẫn đang dùng thuật ngữ “đệ tử–điểm đạo đồ”, và có lẽ nên định nghĩa đó là điểm đạo đồ bậc ba. Roberto Assagioli được mô tả là một “đệ tử–điểm đạo đồ”, và Chân sư Tây Tạng hàm ý rất rõ rằng ông đã đạt đến bậc ấy. (DINA II 465) Cũng có thể nói như vậy về Alice Bailey.

98. The information given about the astral body is very important. We are likely to somewhat despise the astral body as an obstacle to spiritual contact. Indeed, there are conditions within the astral body which are definitely obstructive to such contact. But such need not be the case.

98. Thông tin được đưa ra về thể cảm dục rất quan trọng. Chúng ta dễ có phần xem thường thể cảm dục, coi đó là một chướng ngại đối với sự tiếp xúc tinh thần. Quả thật, trong thể cảm dục có những tình trạng chắc chắn cản trở sự tiếp xúc ấy. Nhưng không nhất thiết phải như vậy.