← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

chapter 001 04

Trích nội dung chương

99. We might say that when the astral body, following the second initiation, can be used as a medium of expression for the energy of love, a far easier rapport with the Hierarchy of Love may be achieved. 99. Chúng ta có thể nói rằng khi thể cảm dục, sau lần điểm đạo thứ hai, có thể dùng làm phương tiện biểu lộ năng lượng tình thương, thì có thể đạt được sự giao cảm dễ dàng hơn nhiều với Thánh đoàn Bác ái.


99. We might say that when the astral body, following the second initiation, can be used as a medium of expression for the energy of love, a far easier rapport with the Hierarchy of Love may be achieved.

99. Chúng ta có thể nói rằng khi thể cảm dục, sau lần điểm đạo thứ hai, có thể dùng làm phương tiện biểu lộ năng lượng tình thương, thì có thể đạt được sự giao cảm dễ dàng hơn nhiều với Thánh đoàn Bác ái.

This is due to the fact that the link between the astral body and the buddhic consciousness becomes at this stage increasingly close.

Điều này là do ở giai đoạn này, mối liên kết giữa thể cảm dục và tâm thức Bồ đề ngày càng chặt chẽ.

100. Yes, it is precisely this astral-buddhic link which brings love into the astral body.

100. Đúng vậy, chính mối liên kết cảm dục–Bồ đề này đưa tình thương vào thể cảm dục.

101. This occurs at the second initiation under the inspiration of Neptune, the planet most closely related to the “Heart of the Sun”. From the “Heart of the Sun” come buddhic energies which inform the buddhic plane. It is at the second initiation that the disciple learns, experientially, the real meaning of solar fire.

101. Điều này diễn ra ở lần điểm đạo thứ hai dưới cảm hứng của Sao Hải Vương, hành tinh có liên hệ mật thiết nhất với “Tâm của Mặt Trời”. Từ “Tâm của Mặt Trời” phát ra những năng lượng Bồ đề thấm nhuần cõi Bồ đề. Chính ở lần điểm đạo thứ hai, đệ tử học được, qua trải nghiệm, ý nghĩa thực sự của Lửa Thái dương.

They constitute essentially a pair of opposites which will eventually fuse; then the astral body will disappear as does the soul body at a later stage of development.

Về bản chất, chúng tạo thành một cặp đối cực cuối cùng sẽ dung hợp; khi đó, thể cảm dục sẽ biến mất, cũng như thể linh hồn biến mất ở một giai đoạn phát triển về sau.

102. It is often somewhat enigmatical to consider the manner in which the astral body ‘disappears’ while much is said about the manner in which the causal body does so.

102. Việc xem xét cách thể cảm dục ‘biến mất’ thường có phần bí ẩn, trong khi người ta đã nói nhiều về cách thể nguyên nhân biến mất.

103. Here we have an important hint—that the astral body disappears through fusion with the buddhic vehicle. We might say, from one perspective, that the astral body becomes the vehicle for the expression of buddhi and that the astral atoms are transformed to act as carriers of the buddhic energy—how, we may only imagine.

103. Ở đây chúng ta có một gợi ý quan trọng—rằng thể cảm dục biến mất qua sự dung hợp với hiện thể Bồ đề. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể nói rằng thể cảm dục trở thành hiện thể để Bồ đề biểu lộ, và các nguyên tử cảm dục được chuyển đổi để làm những phương tiện chuyên chở năng lượng Bồ đề—còn điều đó diễn ra thế nào, chúng ta chỉ có thể tưởng tượng.

104. It is also eventually possible that mind, emotions and body become an externalized expression of the Spiritual Triad. Would this mean that atmic, buddhic and manasic atoms form that which used to be the mental, emotional and physical bodies, or that the atoms of the mental, emotional and physical levels are so transformed in the mayavirupa of the Master that they act as unobstructed ‘carriers’ of the triadal energy?

104. Cuối cùng, cũng có thể thể trí, cảm xúc và thân thể trở thành biểu hiện ngoại hiện của Tam Nguyên Tinh Thần. Liệu điều này có nghĩa là các nguyên tử atma, Bồ đề và manas tạo thành những gì trước kia là thể trí, thể cảm xúc và thể xác, hay các nguyên tử thuộc những cấp độ trí tuệ, cảm xúc và hồng trần được chuyển đổi trong huyễn thân của Chân sư đến mức chúng làm những ‘phương tiện chuyên chở’ không bị cản trở cho năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần?

105. Something additional of interest is here suggested—that the disappearance of the astral body precedes the disappearance of the causal body. Does this disappearance occur during the second and third initiations and during the period leading up to the fourth? It can be assumed that during such a period, love would take the place of desire in the astral body.

105. Ở đây còn có một gợi ý thú vị khác—rằng sự biến mất của thể cảm dục đi trước sự biến mất của thể nguyên nhân. Liệu sự biến mất này có diễn ra trong các lần điểm đạo thứ hai và thứ ba, cũng như trong thời kỳ dẫn đến lần điểm đạo thứ tư không? Có thể giả định rằng trong thời kỳ ấy, tình thương sẽ thay thế dục vọng trong thể cảm dục.

106. The practical inference is that all of us should attempt to bring the astral body to such a condition that it is truly a ‘carrier’ of buddhic energy.

106. Điều có thể suy ra về mặt thực hành là tất cả chúng ta nên cố gắng đưa thể cảm dục đến một tình trạng sao cho nó thực sự là một ‘phương tiện chuyên chở’ năng lượng Bồ đề.

6. Every disciple has to discover for himself and alone for which initiation he is being prepared; the Master never gives this information.

6. Mỗi đệ tử phải tự mình và một mình khám phá xem mình đang được chuẩn bị cho cuộc điểm đạo nào; Chân sư không bao giờ cung cấp thông tin này.

107. This is another important statement. If the Master hesitates to give such information, how very wrong and unreliable it is for well-meaning aspirants and disciples to volunteer such information with respect to their associates!

107. Đây là một phát biểu quan trọng khác. Nếu Chân sư còn ngần ngại cung cấp thông tin như vậy, thì việc những người chí nguyện và đệ tử có thiện ý tự nguyện đưa ra thông tin ấy về những người cộng sự của mình thật sai lầm và thiếu đáng tin cậy biết bao!

108. There were, however, two instances in which Master DK not only hinted at the initiation which lay immediately before the disciple but actually explicitly stated the initiation. This occurred in connection with ISG-L (regarding the second initiation) and DHB (regarding the third). Probably, the initiations were potentially imminent, and the information was much needed.

108. Tuy nhiên, có hai trường hợp Chân sư DK không chỉ gợi ý về lần điểm đạo đang ở ngay trước mắt người đệ tử, mà còn thực sự nói rõ đó là lần điểm đạo nào. Điều này xảy ra với ISG-L (về lần điểm đạo thứ hai) và DHB (về lần điểm đạo thứ ba). Có lẽ những lần điểm đạo ấy có khả năng đã cận kề, và thông tin này rất cần thiết.

Light on the subject comes through the recognition of tests and the types of experience which come his way.

Ánh sáng về chủ đề ấy đến qua sự nhận biết những thử thách và các loại trải nghiệm xuất hiện trên đường y.

109. DK tells us how we are to recognize the initiation which lies immediately before us:

109. Chân sư DK cho chúng ta biết cách nhận biết lần điểm đạo đang ở ngay trước mắt mình:

1. Through recognition of tests

1. Qua việc nhận biết những thử thách

2. Through types of experiences

2. Qua những loại trải nghiệm

110. Indeed, so much has been written by DK on the nature and quality of the initiation, that we have plenty of information to guide us.

110. Quả thật, Chân sư DK đã viết rất nhiều về bản chất và phẩm tính của cuộc điểm đạo, nên chúng ta có rất nhiều thông tin để dẫn đường.

"It is a matter," I have elsewhere told you, "of interior orientation and not of outside information." Recognition and orientation are the keynotes of this phase.

Ở nơi khác, Tôi đã nói với các bạn: “Đây là vấn đề định hướng nội tâm, chứ không phải thông tin từ bên ngoài.” Nhận biết và định hướng là những chủ âm của giai đoạn này.

111. He is telling us that no outer information can confirm for us the imminence of an initiation.

111. Ngài đang nói với chúng ta rằng không thông tin bên ngoài nào có thể xác nhận cho chúng ta sự cận kề của một cuộc điểm đạo.

112. There are inner recognitions which must emerge in the consciousness of the disciple. As well, the orientation of the disciple must be inwardly recognized. Those who understand the initiations will recognize that the orientations characteristic of them are very different. Chakric and ray focus will give some hints.

112. Có những nhận biết bên trong phải xuất hiện trong tâm thức của đệ tử. Đồng thời, đệ tử cũng phải nhận biết từ bên trong sự định hướng của mình. Những ai thấu hiểu các cuộc điểm đạo sẽ nhận ra rằng những định hướng đặc trưng của chúng rất khác nhau. Sự tập trung ở các luân xa và các cung sẽ cung cấp một vài gợi ý.

7. Always there exists the need for humility. This involves:

7. Luôn luôn cần có sự khiêm nhường. Điều này bao hàm:

113. We remember that “humility is an adjusted sense of right proportion”.

113. Chúng ta nhớ rằng “khiêm nhường là ý thức đúng đắn về tỉ lệ đã được điều chỉnh”.

a. An adjusted sense of right proportion.

a. Một ý thức về tỉ lệ đúng đắn đã được điều chỉnh.

114. The suggestion is that a sense of right proportion comes only through significant adjustment of our previous perspective.

114. Điều được gợi ý là ý thức đúng đắn về tỉ lệ chỉ xuất hiện khi chúng ta điều chỉnh đáng kể góc nhìn trước đây của mình.

b. A balanced point of view.

b. Một quan điểm quân bình.

115. This involves the Libran approach. It assumes that glamor has been overcome, with its exaggerations and minimizations.

115. Điều này bao hàm cách tiếp cận của Thiên Bình. Nó giả định rằng ảo cảm, cùng những sự phóng đại và giảm nhẹ của nó, đã được khắc phục.

c. A dispassionate attitude.

c. Một thái độ không thiên chấp.

116. Again, the suggestion is that the second initiation has been taken transforming passion to dispassion. The desire nature is dying and love is taking its place through the application of solar fire to the causal body.

116. Một lần nữa, điều được gợi ý là đệ tử đã trải qua lần điểm đạo thứ hai, chuyển đổi đam mê thành trạng thái không đam mê. Bản chất dục vọng đang tàn lụi, và tình thương đang thay thế nó qua việc vận dụng Lửa Thái dương vào thể nguyên nhân.

d. Truthful recognition of assets as well as debits.

d. Sự nhận biết trung thực cả ưu điểm lẫn khuyết điểm.

117. At first this recognition is hard to countenance. After a while, however, the disciple recognizes that unless he is truthful with himself, he will accomplish nothing. By this time the lower ego has been much reduced in importance and tried and true methods are taking the place of aspiration and wishful thinking.

117. Lúc đầu, thật khó chấp nhận sự nhận biết này. Tuy nhiên, sau một thời gian, đệ tử nhận ra rằng nếu không trung thực với chính mình thì sẽ chẳng hoàn thành được gì. Đến lúc này, tầm quan trọng của phàm ngã đã giảm đi nhiều, và những phương pháp đã qua thử thách, được chứng minh là đúng đắn đang thay thế khát vọng và lối suy nghĩ theo ước muốn.

[257]

[257]

Here also I gave you a hint in stating that true humility is based on fact, on vision and on time pressures.

Ở đây, Tôi cũng đã cho các bạn một gợi ý khi khẳng định rằng sự khiêm nhường chân chính dựa trên sự thật, trên tầm nhìn và trên những áp lực của thời gian.

118. What a wonderful and ‘ponderable’ statement.

118. Một phát biểu tuyệt vời và ‘đáng suy ngẫm’ biết bao.

119. Let us tabulate: true humility is based upon:

119. Chúng ta hãy liệt kê: sự khiêm nhường đích thực dựa trên:

1. Fact

1. Sự thật

2. Vision

2. Tầm nhìn

3. Time pressures.

3. Những áp lực thời gian.

120. Planetarily, Saturn (fact and time pressures) and Jupiter (vision) are active in the process of inducing true humility.

120. Xét về các hành tinh, Sao Thổ (sự thật và những áp lực thời gian) và Sao Mộc (tầm nhìn) tích cực hoạt động trong tiến trình khơi dậy sự khiêm nhường đích thực.

121. The truly humble person faces facts and does not try to fool himself for egoistic reasons. His widened sense of vision allows him to see the place, quantity and quality of all things. As well, he learns to do what he must and not only that which he wishes to do. There is a time for the precipitation of certain energies and forces expressive of the Divine Plan. These are the necessary things, and to these necessities, which must be accomplished “in time”, the truly humble disciple subordinates himself and his many wishes.

121. Người thực sự khiêm nhường đối diện với sự thật và không cố tự lừa dối vì những lý do vị kỷ. Tầm nhìn mở rộng cho phép người ấy thấy vị trí, số lượng và phẩm tính của mọi sự vật. Đồng thời, người ấy học cách làm những gì mình phải làm chứ không chỉ những gì mình muốn làm. Có thời điểm dành cho sự ngưng tụ của một số năng lượng và mãnh lực biểu lộ Thiên Cơ. Đó là những điều cần thiết, và người đệ tử thực sự khiêm nhường đặt bản thân cùng nhiều ước muốn của mình dưới những điều cần thiết ấy, vốn phải được hoàn thành “đúng lúc”.

122. To subordinate oneself to that which must be done (and no longer to pursue what one, as a personality seeks to do) is a serious test of the lower ego.

122. Đặt bản thân dưới những gì phải làm (và không còn theo đuổi những gì mình, với tư cách một phàm ngã, tìm cách thực hiện) là một thử thách nghiêm túc đối với phàm ngã.

8. Two immediate objectives face the disciples, plus the need for one quality:

8. Trước mắt các đệ tử là hai mục tiêu tức thời, cùng sự cần thiết phải có một phẩm tính:

123. We can see what practical advice we are being given and how readily we should incorporate it into our thought life:

123. Chúng ta có thể thấy lời khuyên mình đang nhận được thiết thực đến mức nào, và chúng ta nên sẵn sàng đưa lời khuyên ấy vào đời sống tư tưởng ra sao:

a. To integrate into the inner Ashram as "practising chelas."

a. Tích hợp vào ashram nội tại với tư cách “những đệ tử đang thực hành”.

124. DK’s group consisted largely of chelas who stood on the periphery of the Ashram. He is seeking for them an achievement of greater “ashramic intimacy”.

124. Nhóm của Chân sư DK phần lớn gồm những đệ tử đứng ở ngoại vi ashram. Ngài đang tìm cách giúp họ đạt được sự “gần gũi với ashram” sâu sắc hơn.

125. Further He is demanding of His chelas that they practice what they think they know.

125. Hơn nữa, Ngài yêu cầu các đệ tử của mình thực hành những gì họ nghĩ mình biết.

126. Is there much difference between “practicing chelas” and “working disciples”? Perhaps the attitude of the truly practicing chela is more interior. What is being practised? Ashramic attitudes and requirements.

126. Có nhiều khác biệt giữa “đệ tử thực hành” và “đệ tử đang làm việc” không? Có lẽ thái độ của người đệ tử thực sự thực hành hướng vào bên trong nhiều hơn. Điều gì đang được thực hành? Những thái độ và yêu cầu của ashram.

b. To contact the Master at will.

b. Tiếp xúc với Chân sư theo ý muốn.

127. Of course this is easier said than done. Many profess to be in contact with the Master, but simply are not. So many requirements must be fulfilled before it really becomes possible. And then, there is the whole question of the type of contact and the factor of permission. These are explained somewhat in the description of that stage of discipleship called “Chela on the Thread”.

127. Dĩ nhiên, nói điều này dễ hơn làm. Nhiều người tuyên bố mình đang tiếp xúc với Chân sư, nhưng thực tế không phải vậy. Phải đáp ứng rất nhiều yêu cầu trước khi điều đó thực sự trở nên khả thi. Rồi còn cả vấn đề về loại tiếp xúc và yếu tố cho phép. Những điều này được giải thích phần nào trong phần mô tả giai đoạn của địa vị đệ tử gọi là “Đệ tử trên đường dây”.

128. We might say of point “b.” (for the sake of our greater understanding), “to contact the Master at will”—when it is needed, appropriate and allowed.

128. Để thấu hiểu rõ hơn, chúng ta có thể nói về điểm “b.” rằng: “tiếp xúc với Chân sư theo ý muốn”—khi cần thiết, thích hợp và được phép.

c. To develop divine indifference.

c. Phát triển Điềm nhiên thiêng liêng.

129. The objectives were listed under points “a.” and “b.” Divine indifference is the needed quality.

129. Các mục tiêu được liệt kê ở điểm “a.” và “b.”. Điềm nhiên thiêng liêng là phẩm tính cần thiết.

130. What do we truly care about? Is our soul focus such that we are capable of dispassion in the face of circumstances which would ordinarily call forth reactivity?

130. Chúng ta thực sự quan tâm đến điều gì? Sự tập trung vào linh hồn của chúng ta có đủ để giữ thái độ không đam mê trước những hoàn cảnh thường khơi dậy phản ứng không?

131. As life progresses, we may find that we no longer care so passionately about certain things. They are seen in proportion and no longer seem so important. We learn to care about what we learn from circumstances, how our consciousness is affected by circumstances, and not so much about circumstances themselves.

131. Khi cuộc sống tiến triển, chúng ta có thể nhận thấy mình không còn quan tâm quá mãnh liệt đến một số điều nữa. Chúng được nhìn nhận đúng tỉ lệ và không còn có vẻ quan trọng đến thế. Chúng ta học cách quan tâm đến những gì mình học được từ hoàn cảnh, đến cách hoàn cảnh tác động lên tâm thức mình, thay vì quá quan tâm đến chính hoàn cảnh.

9. In connection with the formulas, two reactions are automatically evoked in the true disciple and in the true group within the Ashram:

9. Liên quan đến các công thức, hai phản ứng tự động được gợi lên nơi người đệ tử chân chính và nhóm chân chính trong ashram:

132. The formulas, we see, have an impact both on the individual disciple and on the “true group within the Ashram”.

132. Chúng ta thấy rằng các công thức tác động lên cả người đệ tử cá nhân lẫn “nhóm chân chính bên trong ashram”.

133. There are many kinds of groups, some of them loosely affiliated with a Master and with His work. A “true group within the Ashram” is another matter. We can wonder whether the Tibetan’s New Seed Group ever became a “true group within the Ashram”. We are left with the impression that the various Groups of Nine did not.

133. Có nhiều loại nhóm, một số chỉ liên kết lỏng lẻo với một Chân sư và công việc của Ngài. Một “nhóm chân chính bên trong ashram” lại là chuyện khác. Chúng ta có thể tự hỏi liệu Nhóm Hạt Giống Mới của Chân sư Tây Tạng đã từng trở thành một “nhóm chân chính bên trong ashram” hay chưa. Chúng ta có ấn tượng rằng các Nhóm Chín Người khác nhau đã không đạt được điều ấy.

a. The reaction which is called the "formula of revelation." This designates sensitive response to the ancient formulas which are given to those being prepared for initiation. One of these I have already given to you.

a. Phản ứng được gọi là “công thức mặc khải”. Điều này chỉ sự đáp ứng nhạy cảm với những công thức cổ xưa được trao cho những người đang chuẩn bị điểm đạo. Tôi đã trao cho các bạn một trong những công thức ấy.

134. It is interesting to consider that a “formula of revelation” is a “reaction” to the presented formula. One would not usually consider a “formula of revelation” a “reaction”.

134. Thật thú vị khi xem xét rằng một “công thức mặc khải” là một “phản ứng” đối với công thức được trình bày. Thông thường, người ta sẽ không xem một “công thức mặc khải” là một “phản ứng”.

135. We note the high nature of these formulas for they are given to those who are being prepared for initiation. In the case of the Tibetan’s group that initiation was the second (for the great majority) and the third, perhaps in a few cases.

135. Chúng ta lưu ý bản chất cao siêu của những công thức này, vì chúng được trao cho những người đang được chuẩn bị để điểm đạo. Trong trường hợp nhóm của Chân sư Tây Tạng, cuộc điểm đạo ấy là lần thứ hai (đối với đại đa số) và có lẽ là lần thứ ba trong một vài trường hợp.

136. Thus, we understand that a “formula of revelation” is a kind of “sensitive response” to the ancient formulas. How ancient? It would be conservative to say, “thousands of years old”.

136. Như vậy, chúng ta thấu hiểu rằng một “công thức mặc khải” là một dạng “đáp ứng nhạy bén” với những công thức cổ xưa. Cổ xưa đến mức nào? Nói “hàng nghìn năm tuổi” vẫn là một ước tính dè dặt.

b. The reaction called the "discovery of the point within the circle."

b. Phản ứng được gọi là “sự khám phá điểm bên trong vòng tròn”.

137. So, the first “reaction” is the “formula of revelation”.

137. Vì vậy, “phản ứng” thứ nhất là “công thức mặc khải”.

138. The second reaction is the “discovery of the point within the circle”. In the case of the Ashram, this would designate the Master.

138. Phản ứng thứ hai là “khám phá điểm bên trong vòng tròn”. Trong trường hợp ashram, điều này chỉ Chân sư.

Have you ever thought, my brother, that one reason why you have not as yet contacted me freely in your waking consciousness and talked with me face to face may be due to the fact that the "circle" is for you only as yet a theory?

Huynh đệ của tôi, các bạn đã bao giờ nghĩ rằng một lý do khiến cho đến nay các bạn vẫn chưa tự do tiếp xúc với Tôi trong tâm thức tỉnh thức và trò chuyện trực diện với Tôi có thể là vì đối với các bạn, “vòng tròn” vẫn chỉ là một lý thuyết hay không?

139. DK is again very practical about a highly sensitive matter—direct, waking contact with the Master, “face to face”. He speaks as if it is a definite and desirable possibility which is evading the efforts of quite a few of His disciples.

139. Một lần nữa, Chân sư DK rất thực tế khi nói về một vấn đề hết sức tế nhị—sự tiếp xúc trực tiếp với Chân sư trong trạng thái tỉnh thức, “mặt đối mặt”. Ngài nói như thể đó là một khả năng xác thực và đáng mong muốn mà khá nhiều đệ tử của Ngài vẫn chưa đạt được dù đã nỗ lực.

140. Contact is based upon factual apprehension of inner realities. Contact cannot be based only upon theoretical understanding.

140. Sự tiếp xúc dựa trên việc thực sự nắm bắt những thực tại bên trong. Sự tiếp xúc không thể chỉ dựa trên sự thấu hiểu về mặt lý thuyết.

Until the circle of your brothers is a fact in your everyday awareness and of prime importance in your daily life, it is not possible for you to arrive at contact with the "Point."

Cho đến khi vòng tròn các huynh đệ của các bạn trở thành một sự thật trong sự nhận biết hằng ngày và có tầm quan trọng hàng đầu trong đời sống hằng ngày, các bạn chưa thể đạt đến sự tiếp xúc với “Điểm”.

141. The “circle” is the circle of one’s ashramic brothers.

141. “Vòng tròn” là vòng tròn các huynh đệ trong ashram của mình.

142. What DK is saying here is so straightforward; the Ashram and the brothers of the Ashram must be paramount, prime in the consciousness of the chela, otherwise the Master cannot be contacted. To contact the Master if the Ashram were not a prime factor in the consciousness would be a violation of a necessary sequence.

142. Điều Chân sư DK đang nói ở đây rất thẳng thắn; ashram và các huynh đệ của ashram phải có vị trí tối quan trọng, hàng đầu trong tâm thức của đệ tử, nếu không thì không thể tiếp xúc với Chân sư. Tiếp xúc với Chân sư khi ashram chưa phải là yếu tố hàng đầu trong tâm thức sẽ vi phạm một trình tự cần thiết.

143. Let us examine ourselves. Are we working as apparently ‘isolated’ disciples or are the brothers of the Ashram powerfully present in our minds.

143. Chúng ta hãy tự xem xét mình. Chúng ta đang làm việc như những đệ tử dường như ‘cô lập’, hay các huynh đệ của ashram đang hiện diện mạnh mẽ trong thể trí chúng ta.

144. DK had called together certain individuals to form groups and finally one larger group. It might have been easy enough for the members of that group to think of each other in the right way. Naturally, that might not have been sufficient, for the ashramic brothers unknown to the disciple (many of them focussed on the inner planes) are far more numerous than any small outer group standing upon the periphery of the Ashram.

144. Chân sư DK đã tập hợp một số cá nhân để thành lập các nhóm, và cuối cùng là một nhóm lớn hơn. Có lẽ các thành viên của nhóm ấy khá dễ dàng nghĩ về nhau theo cách đúng đắn. Dĩ nhiên, điều đó có thể vẫn chưa đủ, vì những huynh đệ trong ashram mà người đệ tử chưa biết đến (nhiều người trong số họ tập trung trên các cõi bên trong) đông hơn rất nhiều so với bất kỳ nhóm nhỏ bên ngoài nào đang đứng ở ngoại vi ashram.

145. DK’s outer groups no longer exist in such an organized and closely supervised manner, yet the requirement does not change. Before we can become aware of the “point”, the circle of brothers must be of real moment to us.

145. Các nhóm bên ngoài của Chân sư DK không còn tồn tại theo cách có tổ chức và được giám sát chặt chẽ như vậy, nhưng yêu cầu vẫn không thay đổi. Trước khi chúng ta có thể nhận biết “điểm”, vòng tròn các huynh đệ phải thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta.

146. I would recommend that we study the ninth Rule for Applicants which deals with some necessary preliminaries.

146. Tôi muốn đề nghị chúng ta nghiên cứu Quy luật thứ chín dành cho những Người Xin Điểm Đạo, bàn đến một số điều kiện sơ bộ cần thiết.

The disciple starts on the periphery of the Master's circle and works towards the centre; he is apt, however, to reverse this procedure in his consciousness.

Người đệ tử bắt đầu ở chu vi vòng tròn của Chân sư và tiến về trung tâm; tuy nhiên, y có khuynh hướng đảo ngược trình tự này trong tâm thức mình.

147. DK states the facts. We do not factually begin working at the center of the Ashram. Factually, we stand, with our group brothers, on the periphery, and gradually work our way in—together.

147. Chân sư DK nêu lên sự thật. Trên thực tế, chúng ta không bắt đầu làm việc ở trung tâm ashram. Trên thực tế, chúng ta đứng cùng các huynh đệ trong nhóm ở ngoại vi, rồi dần tiến vào bên trong—cùng nhau.

148. He suggests, however, that the disciple may tend to think of the center more than the circle.

148. Tuy nhiên, Ngài gợi ý rằng đệ tử có thể có khuynh hướng nghĩ đến trung tâm nhiều hơn vòng tròn.

I have stated that initiation is essentially a process of revelation.

Tôi đã khẳng định rằng điểm đạo về bản chất là một tiến trình mặc khải.

149. This point was emphasized at the outset of this section.

149. Điểm này đã được nhấn mạnh ngay từ đầu phần này.

For the disciple who is being prepared to take an initiation the emphasis is necessarily laid upon recognition—the intelligent recognition of what is to be revealed.

Đối với người đệ tử đang được chuẩn bị để tiếp nhận một cuộc điểm đạo, tất nhiên phải nhấn mạnh sự nhận biết—sự nhận biết thông tuệ về điều sắp được mặc khải.

150. This is the proper emphasis for the disciple in preparation for initiation.

150. Đây là trọng tâm thích hợp đối với đệ tử đang chuẩn bị để điểm đạo.

This requires on his part a definite emergence from the world of glamour so that there can be a clear perception of the new vision;

Điều này đòi hỏi y phải dứt khoát thoát ra khỏi thế giới ảo cảm để có thể nhận thức rõ ràng linh thị mới;

151. If we cannot recognize that which is to be revealed it is suggested that we are still englamored. The suggestion is an obvious one but one which needs emphasis: glamour prevents and distorts clear perception of the new vision.

151. Nếu chúng ta không thể nhận biết điều sắp được mặc khải, thì điều đó gợi ý rằng chúng ta vẫn đang bị ảo cảm che phủ. Đây là một gợi ý hiển nhiên nhưng cần được nhấn mạnh: ảo cảm ngăn cản và làm sai lệch sự tri giác rõ ràng về tầm nhìn mới.

a new light is thrown upon old and well-known truths so that their significance is extraordinarily [258] changed, and in that changing the plan or purpose of Deity takes on an entirely fresh meaning.

một ánh sáng mới soi chiếu những chân lý cũ và quen thuộc, khiến thâm nghĩa của chúng thay đổi một cách phi thường [258], và trong sự thay đổi ấy, Thiên Cơ hay mục đích của Thượng đế mang một ý nghĩa hoàn toàn mới.

152. We may see something of importance repeatedly and yet its real meaning escapes us. When we emerge from the field of glamour we see within a new light. In a way, we see the same thing we saw before, but now we see it far more as it is.

152. Chúng ta có thể nhìn thấy nhiều lần một điều quan trọng mà vẫn không nắm bắt được ý nghĩa thực sự của nó. Khi thoát ra khỏi trường ảo cảm, chúng ta nhìn trong một ánh sáng mới. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta vẫn nhìn thấy cùng một điều đã thấy trước kia, nhưng giờ đây nhìn thấy nó đúng với những gì nó thực sự là hơn rất nhiều.

The inexperienced neophyte is constantly receiving revelations and recording what he regards as most unusual intuitions.

Người sơ cơ thiếu kinh nghiệm liên tục tiếp nhận những sự mặc khải và ghi lại những gì y cho là các trực giác hết sức khác thường.

153. This we have constantly seen, have we not?

153. Chúng ta vẫn thường xuyên thấy điều này, phải không?

All that is really happening, however, is that he is becoming aware of soul knowledge,

Tuy nhiên, tất cả những gì thực sự đang xảy ra chỉ là y bắt đầu nhận biết tri thức của linh hồn,

154. Soul knowledge, as valuable as it is, is not the intuitive revelation pertaining to Spiritual Triad and even to Shamballa.

154. Tri thức của linh hồn, dù có giá trị đến đâu, cũng không phải là sự mặc khải trực giác thuộc về Tam Nguyên Tinh Thần và thậm chí Shamballa.

whereas for the initiate the intuition is ever the revelation of the purpose of Shamballa and the working out, both from the short range and the long range angle, of the divine Plan.

trong khi đối với điểm đạo đồ, trực giác luôn là sự mặc khải về mục đích của Shamballa và sự thực thi Thiên Cơ, xét từ cả góc độ ngắn hạn lẫn dài hạn.

155. We can see that for Master DK, revelation is no small matter and concerns the working out of Divine Purpose and Plan originating in Shamballa.

155. Chúng ta có thể thấy rằng đối với Chân sư DK, sự mặc khải không phải là chuyện nhỏ và liên quan đến sự thực thi Thiên Ý và Thiên Cơ bắt nguồn từ Shamballa.

The revelation which is accorded at initiation is given to the soul, recorded by the "mind held steady in the light" and then later—with greater or less rapidity—transferred to the brain.

Sự mặc khải ban trong điểm đạo được trao cho linh hồn, được “thể trí giữ vững trong ánh sáng” ghi nhận, rồi sau đó—nhanh hay chậm khác nhau—được chuyển dịch đến bộ não.

156. The initiate (as he is being initiated) stands in soul consciousness. That which is conferred is conferred upon him as a soul. This is so easily forgotten and personalized.

156. Điểm đạo đồ (khi đang được điểm đạo) an trụ trong tâm thức linh hồn. Những gì được trao ban đều được trao cho y với tư cách một linh hồn.Điều này rất dễ bị lãng quên và bị xem như chuyện của phàm ngã.

157. The sequence is ever soul—mind—brain.

157. Trình tự luôn là linh hồn—thể trí—bộ não.

158. Revelation has been conferred upon the soul. If we are capable of achieving the “mind held steady in the light”, we are capable of knowing (in our mental consciousness) that which the soul knows. A further step involves the transference of this knowledge (probably with inevitable reductions) to the brain.

158. Sự mặc khải đã được trao cho linh hồn. Nếu có thể đạt đến trạng thái “thể trí được giữ vững trong ánh sáng”, chúng ta có thể biết (trong tâm thức trí tuệ của mình) những gì linh hồn biết. Một bước tiếp theo là chuyển tri thức này (có lẽ với những sự suy giảm không thể tránh khỏi) đến bộ não.

159. We gather from what is here said that the transference from mind to brain is far from instantaneous. Inwardly it is highly probably that we know far more than ‘we know we know’.

159. Từ những gì được nói ở đây, chúng ta hiểu rằng sự chuyển dịch từ thể trí đến bộ não còn lâu mới diễn ra tức thời. Ở bên trong, rất có thể chúng ta biết nhiều hơn rất nhiều so với những gì ‘chúng ta biết là mình biết’.

You can see, therefore, the true intention of the system of Raja Yoga as it trains the mind to be receptive eventually to the Spiritual Triad.

Vì vậy, các bạn có thể thấy chủ đích thực sự của hệ thống Raja Yoga khi nó rèn luyện thể trí để cuối cùng có khả năng tiếp nhận Tam Nguyên Tinh Thần.

160. In the system of Raja Yoga the Spiritual Triad is not mentioned per se, but statements pointing to triadal awareness are in constant use.

160. Trong hệ thống Raja Yoga, chính Tam Nguyên Tinh Thần không được đề cập trực tiếp, nhưng những phát biểu chỉ đến sự nhận biết của Tam Nguyên Tinh Thần thì được sử dụng thường xuyên.

161. It can be gathered that the Raja Yoga system requires the building of the Antahkarana.

161. Có thể suy ra rằng hệ thống Raja Yoga đòi hỏi việc xây dựng antahkarana.

You can also see why for centuries the emphasis of the Teachers of the Ageless Wisdom has been upon the necessity for discrimination, particularly where the probationary disciple is concerned.

Các bạn cũng có thể thấy vì sao suốt nhiều thế kỷ, các Huấn sư của Minh Triết Ngàn Đời đã nhấn mạnh sự cần thiết của phân biện, đặc biệt đối với đệ tử dự bị.

162. One type of necessary discrimination is between the soul revelation of many neophytes and the triadal revelations of more experienced disciples.

162. Một loại phân biện cần thiết là phân biệt giữa sự mặc khải của linh hồn nơi nhiều người sơ cơ và những sự mặc khải của Tam Nguyên Tinh Thần nơi những đệ tử giàu kinh nghiệm hơn.

I am at this time carrying the current teaching upon initiation a step forward and am seeking to show that it is not essentially a process of soul-personality fusion (though that has to be a preliminary step) but of monad-personality integration, carried forward because of an attained alignment with the soul.

Lúc này, Tôi đang đưa giáo huấn hiện hành về điểm đạo tiến thêm một bước và tìm cách chỉ ra rằng về bản chất, đó là một tiến trình tích hợp chân thần–phàm ngã, chứ không phải dung hợp linh hồn–phàm ngã (dù điều ấy phải là bước sơ bộ); tiến trình này được xúc tiến nhờ đã đạt được sự chỉnh hợp với linh hồn.

163. DK redefines initiation in relation to the Monad and its integration with the personality. He is obviously dealing with initiation as it applies to the third degree and beyond.

163. Chân sư DK định nghĩa lại điểm đạo trong mối liên hệ với chân thần và sự tích hợp của chân thần với phàm ngã. Rõ ràng, Ngài đang bàn đến điểm đạo từ bậc ba trở lên.

164. He asks us to understand initiation in a manner more deep and comprehensive than the usual manner in which it is understood, though soul-personality fusion is an inescapable necessity.

164. Ngài yêu cầu chúng ta thấu hiểu điểm đạo một cách sâu sắc và toàn diện hơn cách thấu hiểu thông thường, dù sự dung hợp linh hồn–phàm ngã là một điều cần thiết không thể tránh khỏi.

165. We see that, indeed, He is carrying the conception of initiation beyond the capacity for attainment of many of those who will read His words.

165. Quả thật, chúng ta thấy Ngài đang đưa quan niệm về điểm đạo vượt quá khả năng thành tựu của nhiều người sẽ đọc những lời của Ngài.

166. Notice the contrast between the words “fusion” and “integration”. DK is not yet speaking of Monad-personality fusion, which, if it exists, is more the domain of the Master or the Chohan, and involves a mayavirupa.

166. Hãy lưu ý sự tương phản giữa hai từ “dung hợp” và “tích hợp”. Chân sư DK chưa nói đến sự dung hợp chân thần–phàm ngã, vốn, nếu có, thuộc phạm vi của Chân sư hay Chohan nhiều hơn, và bao hàm một huyễn thân.

Initiation is in fact the essential and inevitable process of transferring the primary triplicity of manifestation into the basic duality of spirit-matter.

Thực ra, điểm đạo là tiến trình thiết yếu và tất yếu chuyển dịch bộ ba nguyên sơ của sự biểu hiện thành nhị nguyên căn bản tinh thần–vật chất.

167. This is an important definition of initiation and is given from an angle, which for some, may be new.

167. Đây là một định nghĩa quan trọng về điểm đạo, được đưa ra từ một góc nhìn có thể còn mới mẻ đối với một số người.

168. Interestingly, on our planet we are moving (in terms of rays) from the number three to the number two. The numbers involved in defining the initiation process are the same.

168. Điều thú vị là trên hành tinh chúng ta, xét về các cung, chúng ta đang chuyển từ số ba sang số hai. Những con số dùng để định nghĩa tiến trình điểm đạo cũng giống như vậy.

It is the "dissolution of the intermediary," and to this the crucifixion and death of the Christ was dedicated and intended to be the revelation, to the initiates of the past 2000 years, of the transmutation of the trinity of manifestation into the duality of purpose.

Đó là “sự tan rã của yếu tố trung gian”, và sự đóng đinh cùng cái chết của Đức Christ nhằm phụng sự điều này, với chủ đích mặc khải cho các điểm đạo đồ trong 2000 năm qua về sự chuyển hoá từ tam vị của sự biểu hiện thành nhị nguyên của mục đích.

169. If this was the intention revelation, it certainly escaped many because of the normal tendency of human consciousness to materialize spiritual processes.

169. Nếu đây là sự mặc khải được chủ định, thì chắc chắn nhiều người đã không nắm bắt được, do khuynh hướng thông thường của tâm thức con người là vật chất hóa những tiến trình tinh thần.

I cannot word this in any other way but the enlightened will comprehend my meaning.

Tôi không thể diễn đạt điều này theo cách nào khác, nhưng những người đã giác ngộ sẽ thấu hiểu ý Tôi.

170. Presumably, the “enlightened” are those who have achieved at least the third initiation with its exposure to “light supernal”.

170. Có lẽ những người “giác ngộ” là những người đã đạt ít nhất lần điểm đạo thứ ba, qua đó tiếp xúc với “ánh sáng thiên thượng”.

The interpreters of the Gospel and many disciples of the Christian dispensation have singularly failed to grasp this revelation;

Những người diễn giải Phúc Âm và nhiều đệ tử thuộc thời kỳ Kitô giáo đã thất bại một cách đáng chú ý trong việc nắm bắt sự mặc khải này;

171. This is probably due to their spiritual status and to the rays upon which they worked—more the sixth than the second.

171. Điều này có lẽ là do trình độ tinh thần của họ và những cung mà họ hoạt động trên đó—cung sáu nhiều hơn cung hai.

172. Over the course of 2000 years, some have definitely grasped the revelation, but it has not made its way into commonly accepted Christian thought.

172. Trong suốt 2000 năm, chắc chắn đã có một số người nắm bắt được sự mặc khải ấy, nhưng nó chưa đi vào tư tưởng Cơ Đốc giáo được chấp nhận rộng rãi.

they have laid the emphasis upon the death of the personality, whereas when Christ experienced the "great void of darkness" and chanted aloud the occult mantram "My God, My God, why hast Thou forsaken Me," he was recognising simultaneously the distinction between His "robe of glory" (symbolised by the [259] partition of His garment by the Roman soldiery) and also calling the attention of all future disciples and initiates to the disappearance of the "middle principle," the soul;

họ nhấn mạnh cái chết của phàm ngã, trong khi lúc Đức Christ trải nghiệm “khoảng không đen tối vĩ đại” và xướng lớn mantram huyền bí: “Lạy Thượng đế của Con, lạy Thượng đế của Con, sao Ngài bỏ rơi Con”, Ngài đồng thời nhận biết sự phân biệt liên quan đến “áo choàng vinh quang” của Ngài (được biểu trưng bằng việc quân lính La Mã chia nhau [259] áo của Ngài), và cũng lưu ý tất cả các đệ tử cùng điểm đạo đồ tương lai đến sự biến mất của “nguyên khí trung gian”, tức linh hồn;

173. The levels of interpretation were very different. It is probable that a number of the disciples of the Christ stood at the point of the second initiation, a period of incarnational experience during which the “death of the personality” would have been important to them.

173. Các cấp độ diễn giải rất khác nhau. Có lẽ một số đệ tử của Đức Christ đang ở ngưỡng lần điểm đạo thứ hai, một giai đoạn trải nghiệm lâm phàm mà trong đó “cái chết của phàm ngã” hẳn có tầm quan trọng đối với họ.

174. The Christ was speaking of events within the causal body. Its disappearance allowed a new focusing within the Triad. Of course, this type of experience was more that of the Master Jesus. The Christ had for long been triadally focussed.

174. Đức Christ đang nói về những sự kiện bên trong thể nguyên nhân. Sự biến mất của thể này cho phép một sự tập trung mới bên trong Tam nguyên tinh thần. Dĩ nhiên, loại trải nghiệm này đúng hơn là trải nghiệm của Chân sư Jesus. Đức Christ từ lâu đã tập trung trong Tam nguyên tinh thần.

175. The forsaking “God” is clearly the Solar Angel Who is returning to the Heart of the Sun or the Central Spiritual Sun (the two higher periodical vehicles of the Solar Logos).

175. “Thượng đế” đã bỏ rơi Ngài rõ ràng là Thái dương Thiên Thần, Đấng đang trở về Tâm Mặt Trời hoặc Mặt trời Tinh thần Trung Ương (hai hiện thể chu kỳ cao hơn của Thái dương Thượng đế).

He was projecting (into the world consciousness) the recognition which must come of relation to the Father or the Monad.

Ngài đang phóng chiếu (vào tâm thức thế giới) sự nhận biết tất yếu phải đến về mối quan hệ với Cha, hay chân thần.

176. If the Christ inspired the speech on the Cross, it is easy to see the monadic origin of the words.

176. Nếu Đức Christ đã truyền cảm hứng cho lời nói trên Thập Giá, thì dễ thấy nguồn gốc chân thần của những lời ấy.

This great dissolution is culminated for us at the time of the third initiation when the Light of the Monad obliterates the light of the soul and the material atomic light of the threefold personality.

Đối với chúng ta, sự tan rã vĩ đại này đạt đỉnh điểm vào lần điểm đạo thứ ba, khi Ánh sáng của Chân thần xoá tan ánh sáng của linh hồn và ánh sáng nguyên tử vật chất của phàm ngã tam phân.

177. This is an important statement emphasizing the monadic nature of the third initiation.

177. Đây là một phát biểu quan trọng, nhấn mạnh bản chất chân thần của lần điểm đạo thứ ba.

178. The term “great dissolution”, however, is enigmatic, as we would think of it as more related to the fourth initiation.

178. Tuy nhiên, thuật ngữ “sự tan rã lớn lao” có phần bí ẩn, vì chúng ta thường cho rằng nó liên quan nhiều hơn đến lần điểm đạo thứ tư.

179. The obliterating light, however, has everything to do with the third initiation, and was the reported experience of Paul on the Road to Damascus

179. Tuy nhiên, ánh sáng xóa nhòa ấy hoàn toàn liên quan đến lần điểm đạo thứ ba, và đó là trải nghiệm được thuật lại của Paul trên đường đến Damascus

.

.

180. How can one speak of a “dissolution” at the time of the third initiation? May we think of a kind of “blotting out of form”, a kind of “hiding all difference”?

180. Làm sao có thể nói đến một “sự tan rã” vào lúc diễn ra lần điểm đạo thứ ba? Liệu chúng ta có thể nghĩ đến một dạng “xóa nhòa hình tướng”, một dạng “che khuất mọi khác biệt” chăng?

181. If so, we might call it a kind of “dissolution” of the illusions of consciousness.

181. Nếu vậy, chúng ta có thể gọi đó là một dạng “tan rã” của những ảo tưởng trong tâm thức.

But—and here is the point—the recognition of this death and its effects is only symbolically enacted and recognised at the time of the fourth initiation, the Crucifixion. All lesser dissolutions, deaths, renunciations and disappearances of that to which the lower nature holds and is held are enacted in relation to the accustomed aspects of form-life, and of conscious sensitivity and awareness; they are simply preparatory to and symbolic of the final great dissolution of the causal body, consummated at the Crucifixion.

Nhưng—và đây là điểm then chốt—sự nhận biết về cái chết này cùng những tác động của nó chỉ được diễn ra và nhận biết theo nghĩa biểu tượng vào lần điểm đạo thứ tư, sự Đóng Đinh. Mọi sự tan rã, chết, từ bỏ và biến mất nhỏ hơn của những gì mà bản chất thấp kém bám giữ và cũng ràng buộc nó đều diễn ra trong mối liên hệ với những phương diện quen thuộc của đời sống hình tướng, cùng sự nhạy cảm hữu thức và sự nhận biết; chúng chỉ là sự chuẩn bị và biểu tượng cho sự tan rã vĩ đại cuối cùng của thể nguyên nhân, hoàn tất tại sự Đóng Đinh.

182. Well, DK clarifies the matter. He places the third initiation in the category of “lesser dissolutions”. The third and lesser initiations all have their “dissolutions, deaths, renunciations and disappearances” of certain states of consciousness and energy states, but they are all somewhat like practice for the Great Renunciation.

182. Chân sư DK làm sáng tỏ vấn đề. Ngài xếp lần điểm đạo thứ ba vào loại “những sự tan rã nhỏ hơn”. Lần điểm đạo thứ ba và những lần điểm đạo thấp hơn đều có những “sự tan rã, cái chết, sự từ bỏ và sự biến mất” của một số trạng thái tâm thức và trạng thái năng lượng, nhưng tất cả đều phần nào giống như sự thực tập cho cuộc Từ Bỏ Vĩ Đại.

183. So, clearly, the earlier dissolutions are related to the “accustomed aspects of form-life” etc, and are not in relation to the ‘un-accustomed aspect’—i.e., the causal body.

183. Như vậy, rõ ràng những sự tan rã trước đó liên quan đến “những phương diện quen thuộc của đời sống hình tướng”, v.v., chứ không liên quan đến “phương diện chưa quen thuộc”—tức thể nguyên nhân.

184. DK calls the Crucifixion (as the “final great dissolution) symbolic. We might say that it is symbolic of many far greater dissolutions to come.

184. Chân sư DK gọi sự Đóng Đinh (với tư cách là “sự tan rã lớn lao cuối cùng) là mang tính tượng trưng. Chúng ta có thể nói rằng nó tượng trưng cho nhiều sự tan rã lớn lao hơn rất nhiều sẽ đến.

This leads to the resurrection or uprising of the personality-soul consciousness (duly fused and blended) into that of the monad.

Điều này dẫn đến sự phục sinh hay sự vươn lên của tâm thức phàm ngã–linh hồn (đã được dung hợp và hoà quyện đúng mức) vào tâm thức chân thần.

185. Note the term “resurrection” as here used. The resurrection process begins at the fourth initiation, and in the Christian narrative, the resurrection is much associated with the aftermath of that initiation.

185. Hãy lưu ý thuật ngữ “phục sinh” được dùng ở đây. Tiến trình phục sinh bắt đầu ở lần điểm đạo thứ tư, và trong câu chuyện Cơ Đốc giáo, sự phục sinh gắn liền nhiều với những gì diễn ra sau lần điểm đạo ấy.

186. However, the true Resurrection Initiation is expressed through the seventh initiation. We might think of it as in process from the fourth to the seventh. The true Resurrection follows the Ascension and involves the rising of the liberated Monad to the logoic plane—quite another thing to the resurrection as here described.

186. Tuy nhiên, cuộc Điểm Đạo Phục Sinh đích thực được biểu hiện qua lần điểm đạo thứ bảy. Chúng ta có thể nghĩ rằng tiến trình ấy diễn ra từ lần điểm đạo thứ tư đến lần thứ bảy. Sự Phục Sinh đích thực diễn ra sau sự Thăng Thiên và bao hàm việc Chân thần đã giải thoát vươn lên cõi Thượng đế—một điều hoàn toàn khác với sự phục sinh được mô tả ở đây.

187. We note that soul and personality consciousness are blended before they rise into monadic consciousness. This is a point never to be forgotten. Soul-personality fusion must precede Monad-personality integration, which is really Monad—soul/personality integration.

187. Chúng ta lưu ý rằng tâm thức linh hồn và tâm thức phàm ngã hòa quyện trước khi vươn lên tâm thức chân thần. Đây là một điểm không bao giờ được quên. Sự dung hợp linh hồn–phàm ngã phải đi trước sự tích hợp Chân thần–phàm ngã, vốn thực sự là sự tích hợp Chân thần—linh hồn/phàm ngã.

This is finally carried to the point of solar perfection at the Ascension initiation.

Cuối cùng, điều này đạt đến mức hoàn thiện thái dương tại cuộc điểm đạo Thăng Thiên.

188. DK seems to say that the type of resurrection of soul-personality consciousness here discussed is perfected at the Ascension initiation, which is the sixth. We can understand why He says so, as, at the sixth initiation, the Monad, as we think we understand it, is still intact.

188. Dường như Chân sư DK nói rằng loại phục sinh của tâm thức linh hồn–phàm ngã đang được bàn đến ở đây đạt đến sự hoàn thiện trong cuộc điểm đạo Thăng Thiên, tức lần thứ sáu. Chúng ta có thể thấu hiểu vì sao Ngài nói như vậy, bởi ở lần điểm đạo thứ sáu, Chân thần, theo những gì chúng ta nghĩ mình thấu hiểu, vẫn còn nguyên vẹn.

189. What becomes of the Monad at the seventh initiation (the true Resurrection) when it comes into relation with the logoic plane is a matter for cautious speculation. Perhaps the Monad changes vestures when it focuses on the seventh plane.

189. Điều gì xảy đến với Chân thần ở lần điểm đạo thứ bảy (sự Phục Sinh đích thực), khi Chân thần đi vào mối liên hệ với cõi Thượng đế, là một vấn đề cần suy đoán thận trọng. Có lẽ Chân thần thay đổi những lớp áo khi tập trung trên cõi thứ bảy.

I have given you this teaching in terms of the Christian presentation as it may be simpler for you to grasp, but there are many other formulations and approaches to these truths and the newer they are the more difficult necessarily are they to present.

Tôi đã trao cho các bạn giáo huấn này bằng cách diễn đạt của Kitô giáo, vì có thể các bạn sẽ dễ nắm bắt hơn, nhưng còn nhiều cách trình bày và tiếp cận khác đối với những chân lý này; và chúng càng mới thì tất nhiên càng khó trình bày.

190. Can we think of other presentations of the same truth? If so, do we find the Christian presentation easier of apprehension?

190. Chúng ta có thể nghĩ đến những cách trình bày khác về cùng một chân lý không? Nếu có, chúng ta có thấy cách trình bày của Cơ Đốc giáo dễ lĩnh hội hơn không?

Only those who are on the immediate verge of initiation will understand; the others will prefer to interpret these truths to themselves in the easier and well-known formulas of the preparatory stage of the at-one-ing of soul and personality.

Chỉ những người đang ở ngay ngưỡng điểm đạo mới thấu hiểu; những người khác sẽ thích tự diễn giải những chân lý này bằng các công thức dễ dàng và quen thuộc của giai đoạn chuẩn bị cho sự hợp nhất linh hồn và phàm ngã.

191. We are speaking of those who are on the verge of the third or fourth initiations. Within the psyche of such people there are transpiring realizations and revelations which are not easy to put into already formulated language.

191. Chúng ta đang nói về những người ở ngưỡng lần điểm đạo thứ ba hoặc thứ tư. Trong nội tâm của những người như vậy đang diễn ra những chứng nghiệm và sự mặc khải không dễ diễn đạt bằng ngôn ngữ đã định hình sẵn.

192. For such people, the term being has some real significance and the “Monad” is not just a word.

192. Đối với những người như vậy, thuật ngữ bản thể có một thâm nghĩa thực sự, và “Chân thần” không chỉ là một từ ngữ.

The stage of recognising the revelation which is accorded to the initiate of the major Mysteries is itself divided into lesser phases.

Bản thân giai đoạn nhận biết sự mặc khải được ban cho điểm đạo đồ của các Bí Pháp cao hơn cũng chia thành những giai đoạn nhỏ.

193. We note the idea of “recognizing the revelation”. We recall that that which is to be revealed is eternally present but for so many, unrecognized.

193. Chúng ta lưu ý ý tưởng “nhận biết sự mặc khải”. Chúng ta nhớ rằng điều sẽ được mặc khải vốn hiện hữu vĩnh cửu, nhưng đối với rất nhiều người, vẫn chưa được nhận biết.

194. Note we are speaking of the “initiate of the major Mysteries”, again suggesting that what is said here does not apply to the initiations of the threshold, but only to the truly major initiations—the third and beyond.

194. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về “điểm đạo đồ của các Bí Pháp lớn”, một lần nữa gợi ý rằng những điều nói ở đây không áp dụng cho các cuộc điểm đạo ở ngưỡng cửa, mà chỉ áp dụng cho những cuộc điểm đạo thực sự lớn—từ lần thứ ba trở lên.

These might be described as three in number though much is dependent upon the initiation to be taken and the ray of the prepared disciple. These are:

Có thể mô tả chúng thành ba giai đoạn, dù phần lớn tuỳ thuộc vào cuộc điểm đạo sẽ tiếp nhận và cung của người đệ tử đã được chuẩn bị. Đó là:

195. With certain qualifications concerning the initiation to be taken and the ray of the initiate taking the initiation, DK will describe the stage of recognizing the revelation.

195. Với một số điều kiện liên quan đến cuộc điểm đạo sắp trải qua và cung của điểm đạo đồ trải qua cuộc điểm đạo ấy, Chân sư DK sẽ mô tả giai đoạn nhận biết sự mặc khải.

1. The Stage of Penetration. This refers to the piercing through the world glamour and thereby effecting two objectives:

1. Giai Đoạn Xuyên Thấu. Điều này nói đến việc xuyên qua ảo cảm thế giới và nhờ đó đạt được hai mục tiêu:

196. We can correlate this phase with the application of the fifth ray as wielded through the ajna center. The influence of the planet Venus will be prominent.

196. Chúng ta có thể liên hệ giai đoạn này với việc vận dụng cung năm qua trung tâm ajna. Ảnh hưởng của hành tinh Sao Kim sẽ nổi bật.

197. The piercing action also suggests the Projection phase of the building of the antahkarana, which gives access to the energies of the spiritual triad.

197. Hành động xuyên thấu cũng gợi đến giai đoạn Phóng Chiếu trong việc xây dựng antahkarana, vốn cho phép tiếp cận các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần.

198. When the term “world glamour” is used, it is possible that the illusions of the lower mind are also included.

198. Khi thuật ngữ “ảo cảm thế giới” được dùng, có thể những ảo tưởng của hạ trí cũng được bao hàm.

[260]

[260]

a. The Light of the Spiritual Triad streams into the consciousness of the initiate, via the antahkarana, so that the Plan for humanity and the divine Purpose in relation to the planet become increasingly clear. This initiates relation to Shamballa.

a. Ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần tuôn vào tâm thức điểm đạo đồ qua antahkarana, khiến Thiên Cơ dành cho nhân loại và Thiên Ý liên quan đến hành tinh ngày càng rõ ràng. Điều này khởi đầu mối quan hệ với Shamballa.

199. We see the potency of the antahkarana and how, only by means of its agency are carried knowledge of the Divine Plan and Divine Purpose.

199. Chúng ta thấy sức mạnh của antahkarana và thấy rằng chỉ qua sự trung gian của nó, tri thức về Thiên Cơ và Thiên Ý mới được truyền đến.

200. What we come to understand is that the antahkarana eventually gives access to the Monad and to Shamballa.

200. Điều chúng ta dần thấu hiểu là cuối cùng antahkarana cho phép tiếp cận Chân thần và Shamballa.

201. We note that DK does not say that ‘this consummates relation to Shamballa’. Only the first phases of contact are indicated.

201. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không nói rằng “điều này hoàn tất mối liên hệ với Shamballa”. Ở đây chỉ nói đến những giai đoạn tiếp xúc đầu tiên.

b. Part of the world glamour is thus dissipated and thus a clarifying of the astral plane takes place and humanity is consequently served.

b. Nhờ vậy, một phần ảo cảm thế giới tiêu tan, cõi cảm dục trở nên sáng rõ hơn và do đó nhân loại được phụng sự.

202. We remember that we are speaking of the stage of “recognizing the revelation”. Those engaged in this process (a process necessitating the building and use of the antahkarana) are serving humanity through the clarification of the astral plane.

202. Chúng ta nhớ rằng mình đang nói về giai đoạn “nhận biết sự mặc khải”. Những người tham gia tiến trình này (một tiến trình đòi hỏi phải xây dựng và sử dụng antahkarana) đang phụng sự nhân loại bằng cách làm sáng rõ cõi cảm dục.

Every disciple who arrives at a recognition of the initiate-revelation releases light and dissipates a part of the glamour which blinds the mass of men.

Mỗi đệ tử đạt đến sự nhận biết về mặc khải dành cho điểm đạo đồ đều giải phóng ánh sáng và làm tiêu tan một phần ảo cảm đang che mờ quần chúng nhân loại.

203. Here we see the value of working upon ourselves and upon our power to recognize initiate-revelation. The very recognition is a service.

203. Ở đây, chúng ta thấy giá trị của việc rèn luyện bản thân và năng lực nhận biết sự mặc khải dành cho điểm đạo đồ. Chính sự nhận biết ấy là một sự phụng sự.

The sixth ray disciple takes far longer over this stage of penetration than do disciples on the other rays but only in this world cycle.

Đệ tử cung sáu mất nhiều thời gian hơn để vượt qua giai đoạn xuyên thấu này so với các đệ tử thuộc những cung khác, nhưng chỉ trong chu kỳ thế giới này.

204. By “world cycle” we may mean the fourth round; that would be the largest possibility. There are other cycles of great but lesser duration which could be indicated. A great Platonic Year (of approximately 25,000 years) is from one perspective, a “world cycle”.

204. Khi nói “chu kỳ thế giới”, chúng ta có thể muốn nói đến cuộc tuần hoàn thứ tư; đó sẽ là khả năng có quy mô lớn nhất. Cũng có thể muốn nói đến những chu kỳ khác có thời gian dài nhưng ngắn hơn. Theo một góc nhìn, một Năm Plato lớn (khoảng 25.000 năm) là một “chu kỳ thế giới”.

205. The sixth ray disciple (presumably the disciple whose soul is focussed upon the sixth ray) is often involved in the generation of glamor rather than its piercing and dissipation. Yet, interesting, all disciples involved in Group IX.2 (the Trained Observers, or ‘Glamour Group’) possessed the sixth ray either in the personality or astral body.

205. Đệ tử cung sáu (có lẽ là đệ tử có linh hồn tập trung trên cung sáu) thường góp phần tạo ra ảo cảm hơn là xuyên thấu và làm tiêu tan nó. Tuy nhiên, điều thú vị là tất cả các đệ tử tham gia Nhóm IX.2 (Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, hay “Nhóm Ảo Cảm”) đều có cung sáu ở phàm ngã hoặc thể cảm dục.

206. We realize that glamour is blinding, and is dissipated through extensions of the sense of sight.

206. Chúng ta nhận ra rằng ảo cảm gây mù quáng và tiêu tan nhờ sự mở rộng thị giác.

2. The Stage of Polarisation.

2. Giai Đoạn Phân Cực.

207. This is the second stage of the threefold stage of recognizing the revelation.

207. Đây là giai đoạn thứ hai trong giai đoạn tam phân của việc nhận biết sự mặc khải.

This is the stage wherein the initiate, having let in the light and penetrated through the dense fogs and mists of the world of glamour, suddenly realises just what he has done and takes a firm stand, correctly oriented towards the vision (or to word it otherwise towards Shamballa).

Đây là giai đoạn trong đó điểm đạo đồ, sau khi đã để ánh sáng đi vào và xuyên qua những lớp sương mù đậm đặc của thế giới ảo cảm, đột nhiên nhận ra chính xác điều mình đã làm và đứng vững, định hướng đúng đắn về phía linh thị (hay nói cách khác, về phía Shamballa).

208. Penetration, apparently, may not be accompanied by full understanding that penetration is actually occurring.

208. Dường như sự xuyên thấu có thể không đi kèm với sự thấu hiểu đầy đủ rằng sự xuyên thấu đang thực sự diễn ra.

209. So, in the larger process of recognizing the revelation, there comes the moment of ‘recognizing that penetration has occurred’ and its results.

209. Vì vậy, trong tiến trình rộng lớn hơn của việc nhận biết sự mặc khải, sẽ đến thời điểm “nhận biết rằng sự xuyên thấu đã diễn ra” cùng những kết quả của nó.

210. When the recognition comes, a stand is to be taken necessitating an act of will. Every stand requires will.

210. Khi sự nhận biết xuất hiện, cần xác lập một lập trường vững vàng, đòi hỏi một hành động của ý chí. Mọi lập trường vững vàng đều cần ý chí.

211. The vision in such a case is no illusory vision, but an apprehension of Shamballa, itself, at least in some measure.

211. Linh thị trong trường hợp này không phải là một linh thị hão huyền, mà là sự lĩnh hội chính Shamballa, ít nhất ở một mức độ nào đó.

212. To know and understand what we have done is to strengthen what we have done. This is a general principle.

212. Biết và thấu hiểu những gì mình đã làm là củng cố những gì mình đã làm. Đây là một nguyên khí tổng quát.

One of the things which must be grasped is that as the initiate is a point of hierarchical life (either on the periphery of the Hierarchy, or within the circle or at the centre) he is a definite part of the hierarchical effort.

Một trong những điều phải nắm bắt là: vì điểm đạo đồ là một điểm sự sống của Thánh đoàn (ở chu vi Thánh đoàn, bên trong vòng tròn hay tại trung tâm), y là một thành phần xác định trong nỗ lực của Thánh đoàn.

213. Who is a member of the Hierarchy? In some respect every aspirant and disciple is included within the circle of hierarchical life, but the initiate is a member of Hierarchy in a truer and more complete sense.

213. Ai là thành viên của Thánh đoàn? Theo một phương diện nào đó, mọi người chí nguyện và đệ tử đều nằm trong vòng tròn sự sống của Thánh đoàn, nhưng điểm đạo đồ là thành viên của Thánh đoàn theo một ý nghĩa đích thực và trọn vẹn hơn.

214. All—aspirants, disciples and initiates—are part, to a degree, of “the hierarchical effort”, but an initiate definitely so.

214. Tất cả—người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ—đều phần nào là một phần trong “nỗ lực của Thánh đoàn”, nhưng điểm đạo đồ thì chắc chắn là như vậy.

That effort is directed towards an orientation to the greater centre of life—Shamballa.

Nỗ lực ấy hướng đến sự định hướng về trung tâm sự sống lớn hơn—Shamballa.

215. Yes, we remember that Hierarchy is oriented towards Shamballa. If the initiate or initiate-disciple is definitely a part of the hierarchical effort, he, too, is oriented towards Shamballa.

215. Đúng vậy, chúng ta nhớ rằng Thánh đoàn hướng về Shamballa. Nếu điểm đạo đồ hay đệ tử–điểm đạo đồ chắc chắn là một phần trong nỗ lực của Thánh đoàn, thì y cũng hướng về Shamballa.

216. We should pause to realize the importance of this Shamballic orientation, as our usual thought may be of the Hierarchy—a thought which, of course, should not cease.

216. Chúng ta nên dừng lại để nhận ra tầm quan trọng của sự định hướng về Shamballa này, vì thông thường tư tưởng của chúng ta có thể hướng về Thánh đoàn—một tư tưởng mà dĩ nhiên chúng ta không nên ngừng duy trì.

Students are apt to believe that the orientation of the Hierarchy is towards humanity. That is not so.

Các đạo sinh thường cho rằng Thánh đoàn định hướng về nhân loại. Không phải như vậy.

217. DK is putting things in proportion for us.

217. Chân sư DK đang giúp chúng ta nhìn nhận mọi việc theo đúng tỉ lệ.

They respond to human need when the demand is effective, and are custodians of the Plan;

Các Ngài đáp ứng nhu cầu của nhân loại khi lời thỉnh cầu có hiệu lực, và là những vị gìn giữ Thiên Cơ;

218. We notice that humanity must really be in need before the Hierarchy will respond and that the demand sent up because of that need must be “effective”—i.e., sufficient in its invocatory power.

218. Chúng ta nhận thấy rằng nhân loại phải thực sự có nhu cầu thì Thánh đoàn mới đáp ứng, và lời thỉnh cầu hướng lên do nhu cầu ấy phải “có hiệu lực”—nghĩa là có đủ quyền năng khẩn cầu.

but the orientation of the entire hierarchical group is towards the first aspect, as it expresses the Will of the Logos and manifests through Shamballa.

nhưng toàn thể nhóm Thánh đoàn định hướng về phương diện thứ nhất, khi phương diện này biểu lộ Ý Chí của Thượng đế và biểu hiện qua Shamballa.

219. This is a necessary clarification for self-centered humanity.

219. Đây là một sự làm sáng tỏ cần thiết đối với nhân loại vốn tập trung vào bản thân.

Just as the disciple has to do two things: polarise his position by establishing right human relations and at the same time become a conscious, practising member of the Kingdom of God, the Hierarchy, so the initiate—upon a higher turn of the spiral—has to establish right relations with the Hierarchy and become simultaneously conscious of Shamballa.

Cũng như người đệ tử phải làm hai việc: xác lập sự phân cực của mình bằng cách thiết lập những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, đồng thời trở thành một thành viên hữu thức, đang thực hành của Thiên Giới, tức Thánh đoàn, thì điểm đạo đồ—trên một vòng xoắn ốc cao hơn—phải thiết lập những mối quan hệ đúng đắn với Thánh đoàn và đồng thời nhận biết Shamballa một cách hữu thức.

220. We have an important parallel:

220. Chúng ta có một sự tương đồng quan trọng:

1. The disciples are to:

1. Các đệ tử phải:

i. Establish right human relations

i. Thiết lập những quan hệ đúng đắn giữa người với người

ii. Become conscious, practicing members of the Kingdom

ii. Trở thành những thành viên hữu thức, đang thực hành của Thiên

of God

Giới

1. The initiates are to:

1. Các điểm đạo đồ phải:

i. Establish right relations with the Hierarchy

i. Thiết lập những mối quan hệ đúng đắn với Thánh đoàn

ii. Become simultaneously conscious of Shamballa

ii. Đồng thời trở nên có ý thức về Shamballa

221. For the initiate, the requirements are one step higher.

221. Đối với điểm đạo đồ, những yêu cầu cao hơn một bậc.

All I can impart here is the desired point of attainment [261] but the phraseology is relatively meaningless, except to those who are experienced in the processes of initiation to a greater or less degree, according to the initiations already taken.

Tất cả những gì Tôi có thể truyền đạt ở đây là mức thành tựu cần đạt [261], nhưng cách diễn đạt này tương đối vô nghĩa, ngoại trừ với những người đã có kinh nghiệm ít nhiều trong các tiến trình điểm đạo, tuỳ theo những cuộc điểm đạo đã tiếp nhận.

222. DK writes knowing that He will not be fully understood except by those who are passing through the process of initiation or who have passed through it.

222. Chân sư DK viết với sự biết rõ rằng chỉ những người đang trải qua tiến trình điểm đạo hoặc đã trải qua tiến trình ấy mới có thể thấu hiểu Ngài đầy đủ.

223. The degree to which He will be understood depends upon the initiatory experience of the one who attempts to understand.

223. Mức độ thấu hiểu Ngài tùy thuộc vào kinh nghiệm điểm đạo của người đang cố gắng thấu hiểu.

This polarisation, this point of focussed effort and this attained orientation is the basic idea lying behind the phrase "the Mountain

Sự phân cực này, điểm nỗ lực tập trung này và sự định hướng đã đạt được này là ý tưởng căn bản nằm sau cụm từ “Ngọn Núi

of Initiation

Điểm Đạo”.

."

.”

224. We are dealing with three factors which give us a fuller understanding of the phrase “the Mountain

224. Chúng ta đang bàn đến ba yếu tố giúp thấu hiểu đầy đủ hơn cụm từ “Ngọn Núi

of Initiation

Điểm Đạo

”

”

1. Polarization

1. Sự phân cực

2. The point of focussed effort

2. Điểm nỗ lực tập trung

3. The attained orientation

3. Sự định hướng đã đạt được

225. If, symbolically, we are engaged in climbing the “Mountain

225. Nếu, theo nghĩa biểu tượng, chúng ta đang leo “Ngọn Núi

of Initiation

Điểm Đạo

”, these three factors are of importance to us.

”, thì ba yếu tố này có tầm quan trọng đối với chúng ta.

The initiate "plants his feet upon the mountain top and from that point of altitude perceives the thought of God, visions the dream within the Mind of God, follows God's eye from central point to outer goal and sees himself as all that is and yet within the whole."

Điểm đạo đồ “đặt vững chân trên đỉnh núi và từ độ cao ấy nhận thức tư tưởng của Thượng đế, thấy giấc mơ trong Trí của Thượng đế, dõi theo con mắt của Thượng đế từ điểm trung tâm đến mục tiêu bên ngoài, và thấy mình là tất cả những gì hiện hữu mà vẫn ở trong toàn thể”.

226. Here is obviously a selection from the “Old Commentary” describing what the initiate does once he “plants his feet upon the mountain top”.

226. Đây rõ ràng là một đoạn trích từ “Cổ Luận”, mô tả những gì điểm đạo đồ làm một khi y “đặt chân vững trên đỉnh núi”.

227. The initiate is obviously focussed within the Spiritual Triad, and in touch with the Monad which is rapidly integrating with the soul-infused personality.

227. Điểm đạo đồ rõ ràng tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần và tiếp xúc với Chân thần, vốn đang nhanh chóng tích hợp với phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.

228. The three things done by the initiate suggest the three aspects of divinity and the first, second and third rays.

228. Ba việc điểm đạo đồ thực hiện gợi đến ba phương diện của thiên tính và các cung một, hai, ba.

229. Under the third ray, he perceives the thought of God.

229. Dưới ảnh hưởng của cung ba, y nhận thức tư tưởng của Thượng đế.

230. Under the second ray, he dreams the dream within the Mind of God (the buddhic formulation of that which is within the Divine Mind).

230. Dưới ảnh hưởng của cung hai, y mơ giấc mơ trong Trí của Thượng đế (sự định hình trên cõi Bồ đề của những gì ở trong Trí thiêng liêng).

231. Under the first ray, associated with the directing “eye”, he follows God’s eye from the central point (this involves atma) to the outer goal (as the Divine Will would manifest it) and sees himself (in Isolated Unity) as all that is and yet within the whole. He sees himself as both the individual and the whole—a state which DK has beautifully described in R&I.

231. Dưới ảnh hưởng của cung một, gắn liền với “con mắt” chỉ đạo, y dõi theo mắt của Thượng đế từ điểm trung tâm (điều này liên quan đến atma) đến mục tiêu bên ngoài (như Ý Chí thiêng liêng sẽ khiến nó biểu hiện), và thấy mình (trong Hợp Nhất Cô Lập) là tất cả những gì hiện hữu, mà vẫn ở trong toàn thể. Y thấy mình vừa là cá thể vừa là toàn thể—một trạng thái mà Chân sư DK đã mô tả rất đẹp trong R&I.

“In the state of being which we call the monadic, no difference is recognised between these two because (if I can bring such ideas down to the level of the intelligence of the aspirant) it is realised that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation, and this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know. (R&I 106)

“Trong trạng thái bản thể mà chúng ta gọi là trạng thái chân thần, không có sự khác biệt nào giữa hai điều này được nhận biết, bởi vì (nếu Tôi có thể đưa những ý tưởng như vậy xuống cấp độ trí năng của người chí nguyện) người ta chứng nghiệm rằng không có bản sắc nào tách rời tính phổ quát, cũng không có sự lĩnh hội cái phổ quát nào tách rời sự chứng nghiệm của cá nhân, và sự chứng nghiệm về việc đồng hoá với cả bộ phận lẫn toàn thể này tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của nó trong ý chí hiện tồn, vốn mang phẩm tính của Ý Chí-hướng Thiện và phát triển (từ góc độ tâm thức) nhờ ý chí hiểu biết. (R&I 106)

3. The Stage of Precipitation.

3. Giai Đoạn Ngưng Tụ.

232. We finally reach the third stage in the process of “recognising the revelation”.

232. Cuối cùng, chúng ta đến giai đoạn thứ ba trong tiến trình “nhận biết sự mặc khải”.

Having thus identified himself through penetration and polarisation with the Plan and with the Will of God (which is the key to Shamballa), he then proceeds—as a result of this triple recognition—to do his share in materialising the Plan and in bringing through into outer manifestation and expression as much of that Plan as he can.

Sau khi đã đồng hoá mình với Thiên Cơ và Ý Chí của Thượng Đế (vốn là chìa khoá dẫn đến Shamballa) qua sự xuyên thấu và phân cực như vậy, nhờ sự nhận biết tam phân này, y tiến tới thực hiện phần việc của mình trong việc hiện thực hoá Thiên Cơ và đưa nhiều nhất có thể phần Thiên Cơ ấy vào sự biểu hiện và biểu lộ bên ngoài.

233. We gather that “recognising the revelation” carries with it the demand that that which is recognized be precipitated.

233. Chúng ta hiểu rằng việc “nhận biết sự mặc khải” đi kèm với yêu cầu phải ngưng tụ điều đã được nhận biết.

234. If we are looking for an understanding of “the key to Shamballa”, DK gives it to us directly—it is the “Will of God”.

234. Nếu chúng ta đang tìm cách thấu hiểu “chìa khóa dẫn đến Shamballa”, Chân sư DK trực tiếp trao cho chúng ta—đó là “Ý Chí của Thượng Đế”.

235. Why is the recognition a “triple recognition”? There are three phases to “recognising the revelation”, but is the revelation itself triple?

235. Vì sao sự nhận biết này là một “sự nhận biết tam phân”? Có ba giai đoạn trong việc “nhận biết sự mặc khải”, nhưng bản thân sự mặc khải có mang tính tam phân không?

He thus becomes first of all an outpost of the Hierarchy (which of necessity means sensitivity to the Shamballa energy), and then increasingly an Agent of Light—the Light universal, or the Light of the Monad.

Như vậy, trước hết y trở thành một tiền đồn của Thánh đoàn (điều này tất nhiên hàm ý sự nhạy cảm với năng lượng Shamballa), rồi ngày càng trở thành một Tác Nhân của Ánh Sáng—Ánh Sáng vũ trụ, hay Ánh Sáng của Chân thần.

236. As the recognition is recognized the initiate passes through two phases:

236. Khi sự nhận biết được nhận biết, điểm đạo đồ trải qua hai giai đoạn: