← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

Commentary 40 – Bình Giảng 40

Trích nội dung chương

1. Becoming an outpost of Hierarchy. Every member of the Hierarchy is sensitive to Shamballic energy. 1. Trở thành một tiền đồn của Thánh đoàn. Mỗi thành viên của Thánh đoàn đều nhạy cảm với năng lượng Shamballa.


1. Becoming an outpost of Hierarchy. Every member of the Hierarchy is sensitive to Shamballic energy.

1. Trở thành một tiền đồn của Thánh đoàn. Mỗi thành viên của Thánh đoàn đều nhạy cảm với năng lượng Shamballa.

2. Becoming, increasingly, an “Agent of Light”—the universal light of the Monad. In this instance, the universal light is solar logoic light. The solar system is, from one perspective, the ‘universe’ in which we live.

2. Ngày càng trở thành một “Tác Nhân của Ánh Sáng”—ánh sáng phổ quát của Chân thần. Trong trường hợp này, ánh sáng phổ quát là ánh sáng của Thái dương Thượng đế. Theo một góc nhìn, hệ mặt trời là “vũ trụ” mà chúng ta đang sống trong đó.

237. DK has described the high destiny which lies before the gradually ascending initiate. This destiny indeed embraces more than we would normally conceive when thinking about the initiation process. In certainly gives us adequate incentive to strive towards our higher possibilities.

237. Chân sư DK đã mô tả vận mệnh cao cả đang chờ đợi điểm đạo đồ từng bước tiến lên. Quả thực, vận mệnh này bao hàm nhiều hơn những gì chúng ta thường hình dung khi nghĩ về tiến trình điểm đạo. Điều đó chắc chắn mang lại đủ động lực để chúng ta phấn đấu hướng đến những khả năng cao hơn của mình.

I have no more to say today anent initiation. Ponder upon that which I have given and grasp as far as you imaginatively can the magnificence of the initiatory process—so vastly more inclusive than has been indicated by any of the teaching given hitherto.

Hôm nay, Tôi không nói thêm về điểm đạo. Hãy suy ngẫm những gì Tôi đã trao và, trong khả năng tưởng tượng của mình, hãy nắm bắt sự huy hoàng của tiến trình điểm đạo—có tính bao gồm rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì bất kỳ giáo huấn nào được trao cho đến nay từng chỉ ra.

238. We are enjoined to use our imagination in the attempt to grasp the nature of an initiation process of great scope. When DK uses a word like “magnificence” it should arrest our attention.

238. Chúng ta được khuyên hãy dùng sự tưởng tượng để cố gắng nắm bắt bản chất của một tiến trình điểm đạo có phạm vi rộng lớn. Khi Chân sư DK dùng một từ như “vẻ huy hoàng”, điều ấy phải khiến chúng ta đặc biệt chú ý.

239. If we pause to reflect, we will understand how very much has been given in this instruction. The danger is to read once through lightly and not return. Rather, a ponderous and pondering approach is needed if we are to extract the vital essence of what has been conferred.

239. Nếu dừng lại suy ngẫm, chúng ta sẽ thấu hiểu giáo huấn này đã trao cho chúng ta nhiều đến mức nào. Mối nguy là đọc lướt một lần rồi không quay lại. Thay vào đó, cần một cách tiếp cận kỹ lưỡng và suy ngẫm sâu nếu chúng ta muốn rút ra tinh túy thiết yếu của những gì đã được truyền trao.

After the war is over and the new world, with its coming civilisation and culture begins to take shape, an increasing emphasis will be laid upon the purpose of the Controlling Deity or basic Life or Energy as it is working out through humanity.

Sau khi chiến tranh kết thúc và thế giới mới, cùng nền văn minh và văn hoá sắp tới, bắt đầu thành hình, người ta sẽ ngày càng nhấn mạnh mục đích của Thượng đế Chủ Quản, hay Sự Sống hoặc Năng Lượng căn bản, khi mục đích ấy đang được thực thi qua nhân loại.

240. DK is telling us of the importance of a growing apprehension of the Purpose of Deity—God, the Planetary Logos, as He expresses Himself through the Will aspect.

240. Chân sư DK đang nói với chúng ta về tầm quan trọng của việc ngày càng lĩnh hội sâu hơn Thiên Ý của Thượng đế—Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế, khi Ngài biểu lộ qua phương diện Ý Chí.

This will be done by those who are trained esotericists.

Những nhà bí truyền học đã qua huấn luyện sẽ thực hiện điều này.

241. Naturally it would be beyond the scope of even the advanced human being.

241. Dĩ nhiên, điều ấy vượt quá khả năng ngay cả của người tiến hóa cao.

Much that is now being said by world leaders and serving workers in every nation is an indication of an unconscious response to the Shamballa energy.

Nhiều điều mà các nhà lãnh đạo thế giới và những người hoạt động phụng sự trong mọi quốc gia đang nói hiện nay cho thấy một sự đáp ứng vô thức với năng lượng Shamballa.

242. It is expected that the true esotericist will respond consciously to this greatest of all planetary energies.

242. Người ta kỳ vọng nhà bí truyền học đích thực sẽ đáp ứng một cách hữu thức với năng lượng vĩ đại nhất trong mọi năng lượng hành tinh này.

Towards the end of the century and during the first few decades of the twenty-first century, teaching anent Shamballa will be given forth.

Vào cuối thế kỷ và trong vài thập niên đầu của thế kỷ hai mươi mốt, giáo huấn về Shamballa sẽ được công bố.

243. Will this teaching be given by DK after 2025, or will it also be given by those esotericists who can truly comprehend it and help it make sense to at least some human beings?

243. Liệu Chân sư DK sẽ truyền ban giáo huấn này sau năm 2025, hay những nhà bí truyền học thực sự có thể thấu hiểu nó và giúp ít nhất một số người hiểu được nó cũng sẽ truyền ban giáo huấn ấy?

The effort of the abstract mind of man will be towards the comprehension of this, just as the [262] goal of hierarchical contact marks the present effort of the disciple.

Nỗ lực của trí trừu tượng nơi con người sẽ hướng đến việc thấu hiểu điều này, cũng như mục tiêu [262] tiếp xúc với Thánh đoàn đang đánh dấu nỗ lực hiện tại của người đệ tử.

244. This is an important statement. Each of us has an abstract mind. How should this abstract mind be used? To what end?

244. Đây là một phát biểu quan trọng. Mỗi chúng ta đều có một trí trừu tượng. Nên sử dụng trí trừu tượng này như thế nào? Nhằm mục đích gì?

245. Here the answer is given: towards the comprehension of the teaching anent Shamballa. How many of us have used our abstract mind in this manner with any consistency?

245. Ở đây có câu trả lời: để lĩnh hội giáo huấn về Shamballa. Bao nhiêu người trong chúng ta đã sử dụng trí trừu tượng theo cách này một cách nhất quán?

Glamour is disappearing; illusions are being dissipated; the stage of penetration into a new dimension, into a new phase of effort and of attainment is rapidly being promulgated.

Ảo cảm đang biến mất; những ảo tưởng đang tiêu tan; giai đoạn xuyên thấu vào một chiều kích mới, vào một giai đoạn nỗ lực và thành tựu mới đang nhanh chóng được loan truyền.

246. DK is looking at the world as it appeared to His inner vision in the 1940’s. It is true that much glamour and illusion have been dissipated. It is also true that some powerfully motivated groups are still potently under the sway of glamor and illusion and are posing a considerable danger for the continuation of the human race.

246. Chân sư DK đang nhìn thế giới như nó hiện ra trước linh thị của Ngài vào những năm 1940. Quả thật, nhiều ảo cảm và ảo tưởng đã tiêu tan. Cũng đúng là một số nhóm có động cơ mạnh mẽ vẫn chịu sự chi phối sâu sắc của ảo cảm và ảo tưởng, và đang gây ra mối nguy hiểm đáng kể cho sự tồn tục của nhân loại.

This is being done in spite of all the horror and agony and will be one of the first results of respite from war.

Điều này đang diễn ra bất chấp mọi nỗi kinh hoàng và đau đớn, và sẽ là một trong những kết quả đầu tiên của thời gian ngơi nghỉ sau chiến tranh.

247. When this instruction was written, WWII was still raging. In the midst of it all, DK witnessed the dissipation of the glamorous and illusory forces.

247. Khi huấn thị này được viết ra, Chiến tranh Thế giới thứ Hai vẫn đang diễn ra ác liệt. Giữa tất cả những điều ấy, Chân sư DK đã chứng kiến sự tiêu tan của các mãnh lực ảo cảm và ảo tưởng.

The war itself is shattering illusions, revealing the need for change and producing a demand for a future new world and a coming beauty in living which will be revolutionary and a material response to an intensive initiation process in which all disciples can share and for which advanced aspirants can prepare themselves.

Chính chiến tranh đang đập tan những ảo tưởng, bộc lộ nhu cầu thay đổi và tạo ra đòi hỏi về một thế giới mới trong tương lai cùng một vẻ đẹp sắp đến trong đời sống, mang tính cách mạng và là sự đáp ứng trên bình diện vật chất đối với một tiến trình điểm đạo mãnh liệt mà mọi đệ tử đều có thể tham dự, và những người chí nguyện tiến bộ có thể tự chuẩn bị cho mình.

248. This is stated as a fact and also as a great ideal. We have, however, yet to see that “coming beauty in living” (at least globally in any significant measure). Perhaps quite a few have been witnessing “a material response to an intensive initiation process”. Following the war, and especially in the 60’s and 70’s there was an extraordinary urge among millions towards the expansion of consciousness. It still persists, but is in danger of being overcome by highly charged inferior forces.

248. Điều này được khẳng định như một sự thật, đồng thời như một lý tưởng cao cả. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa thấy “vẻ đẹp sắp đến trong đời sống” ấy (ít nhất là trên toàn cầu, ở một mức độ đáng kể). Có lẽ khá nhiều người đã chứng kiến “một sự đáp ứng trên phương diện vật chất đối với một tiến trình điểm đạo chuyên sâu”. Sau chiến tranh, và đặc biệt trong những năm 1960 và 1970, hàng triệu người đã có một thôi thúc phi thường hướng tới sự mở rộng tâm thức. Thôi thúc ấy vẫn còn, nhưng có nguy cơ bị các mãnh lực thấp kém mang sức kích động mạnh lấn át.

THE FORMULAS

CÁC CÔNG THỨC

Now that you have, presumably, brooded for some months on my instructions on the Formulas, I will seek to impart to you some of the deeper implications.

Giờ đây, có lẽ các bạn đã suy ngẫm sâu xa trong vài tháng về những huấn thị của Tôi đối với các Công Thức, Tôi sẽ tìm cách truyền đạt cho các bạn một số hàm ý sâu xa hơn.

249. This is DK’s method of working. He offers much that is enigmatical in the hope of evoking the intuition of His chelas. Later He offers specific interpretations of that which was earlier offered. Thus are ideas corrected, including, presumably, some of the ideas offered in the last commentary.

249. Đây là phương pháp làm việc của Chân sư DK. Ngài đưa ra nhiều điều bí ẩn với hy vọng khơi dậy trực giác của các đệ tử của Ngài. Sau đó, Ngài đưa ra những diễn giải cụ thể về điều đã trình bày trước đó. Nhờ vậy, các ý tưởng được sửa lại cho đúng, có lẽ bao gồm cả một số ý tưởng đã nêu trong bài bình giảng trước.

Formula One. — "A line of fire between two blazing points. A stream of water blue, again a line, emerging from the earth and ending in the ocean. A tree with root above and flowers below.

Công thức Một. — “Một đường lửa giữa hai điểm rực cháy. Một dòng nước xanh, lại là một đường, trào lên từ đất và kết thúc trong đại dương. Một cây có rễ ở trên và hoa ở dưới.

"Out of the fire and always at the midway point appears the eye of God (Shiva). Upon the stream, between the two extremes, there floats the eye of vision; a thread of light unites the two.

“Từ trong lửa và luôn ở điểm ở giữa xuất hiện con mắt của Thượng đế (Shiva). Trên dòng nước, giữa hai đầu cực, con mắt linh thị trôi nổi; một sợi dây ánh sáng nối liền cả hai.

"Deep in the tree, between the root and flowers, the eye again is seen. The eye that knows, the eye that sees, the directing eye—one made of fire, one fluid as the sea, and two which look from here to there. Fire, water and the earth—all need the vital air. The air is life. The air is God."

“Sâu trong cây, giữa rễ và hoa, con mắt lại hiện ra. Con mắt biết, con mắt thấy, con mắt chỉ đạo—một mắt bằng lửa, một mắt linh động như biển cả, và hai mắt nhìn từ đây đến đó. Lửa, nước và đất—tất cả đều cần khí mang sinh lực. Khí là sự sống. Khí là Thượng đế.”

250. This is the complete formula and we offered a rather extensive interpretation of it in the previous commentary.

250. Đây là toàn bộ công thức, và chúng ta đã đưa ra một diễn giải khá sâu rộng về công thức này trong bài bình giảng trước.

These formulas and their implications have caused some of you concern because of their extreme difficulty of interpretation.

Những công thức này cùng các hàm ý của chúng đã khiến một số các bạn băn khoăn vì chúng vô cùng khó diễn giải.

251. We have been told that the concrete mind alone will not serve for a meaningful interpretation. The intuition is required.

251. Chúng ta đã được cho biết rằng chỉ riêng trí cụ thể sẽ không đủ để đưa ra một diễn giải có ý nghĩa. Cần có trực giác.

I would ask you to bear in mind that you are individually [263] quite unable to grasp the extent of your own comprehension because the mind (the major conditioning factor in a disciple's life in the early stages of his training) knows far more than the brain is capable of recording.

Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng, xét riêng từng người, các bạn [263] hoàn toàn không thể nắm bắt mức độ thấu hiểu của chính mình, vì thể trí (yếu tố định hình chủ yếu trong đời sống người đệ tử ở những giai đoạn huấn luyện đầu tiên) biết nhiều hơn rất nhiều so với khả năng ghi nhận của bộ não.

252. This is an encouraging statement and tends to promote the process of intuitive pondering even if the results seem meager.

252. Đây là một phát biểu khích lệ và có xu hướng thúc đẩy tiến trình suy ngẫm bằng trực giác, ngay cả khi kết quả có vẻ ít ỏi.

253. Because we are not quite aligned and integrated beings, we do not know (in brain consciousness) what we know within our mind and soul.

253. Vì chúng ta chưa phải là những con người hoàn toàn chỉnh hợp và tích hợp, nên trong tâm thức bộ não, chúng ta không biết những gì mình biết trong thể trí và linh hồn.

Later, in the life of the initiate, the soul registers consciously for the disciple who can identify himself with the soul, far more than the concrete mind is able to register.

Về sau, trong đời sống điểm đạo đồ, đối với người đệ tử có thể đồng hoá mình với linh hồn, linh hồn ghi nhận một cách hữu thức nhiều hơn rất nhiều so với khả năng ghi nhận của trí cụ thể.

254. DK is identifying two kinds of cleavages—one between brain and mind and a still higher cleavage between mind and soul.

254. Chân sư DK đang chỉ ra hai loại phân cách—một giữa bộ não và thể trí, và một phân cách còn cao hơn giữa thể trí và linh hồn.

255. We see that if we are to register that which the soul knows (or that which we, as a soul, know), we have to identify with the soul or as a soul. This will require a special attitude of mind which prevents it from becoming a consuming limitation.

255. Chúng ta thấy rằng nếu muốn ghi nhận những gì linh hồn biết (hay những gì chúng ta biết với tư cách là linh hồn), chúng ta phải đồng hoá mình với linh hồn hoặc như một linh hồn. Điều này đòi hỏi một thái độ đặc biệt của thể trí để ngăn nó trở thành một giới hạn lấn át mọi thứ.

I would ask you, therefore, to cease gauging your capacity to understand and instead simply to brood and reflect.

Vì vậy, Tôi muốn các bạn ngừng đo lường khả năng thấu hiểu của mình và thay vào đó, chỉ đơn giản suy ngẫm sâu xa và suy tư.

256. DK is encouraging His chelas to stop pulling themselves up by the roots to see if they are growing. So often He asks them simply to do what He suggests. So often, they did not, thus damaging their process and the progress of the group.

256. Chân sư DK đang khuyến khích các đệ tử của Ngài ngừng tự nhổ mình lên tận rễ để xem mình có đang lớn lên hay không. Ngài rất thường yêu cầu họ chỉ đơn giản làm theo những gì Ngài gợi ý. Họ rất thường không làm như vậy, qua đó gây tổn hại cho tiến trình của chính mình và sự tiến bộ của nhóm.

Let me briefly summarise for you some of the things I indicated anent these formulas in my previous instructions:

Hãy để Tôi tóm lược ngắn gọn cho các bạn một số điều Tôi đã chỉ ra về những công thức này trong các huấn thị trước:

257. We are receiving a clarification.

257. Chúng ta đang nhận được sự làm sáng tỏ.

1. They are concerned with the six relationships, as the disciple succeeds in establishing them.

1. Chúng liên quan đến sáu mối quan hệ, khi người đệ tử thành công trong việc thiết lập chúng.

258. There are six formulas and six responses to these formulas which we could call “formulas of revelation”.

258. Có sáu công thức và sáu sự đáp ứng đối với những công thức này mà chúng ta có thể gọi là “các công thức mặc khải”.

2. These six relationships are not six initiations but six intermediate expansions of consciousness, occurring between the major initiations.

2. Sáu mối quan hệ này không phải là sáu cuộc điểm đạo mà là sáu lần mở rộng tâm thức trung gian, diễn ra giữa các cuộc điểm đạo chính yếu.

259. It would seem that the use for the formulas is principally during the process between initiations.

259. Dường như các công thức chủ yếu được sử dụng trong tiến trình giữa các cuộc điểm đạo.

260. The “major initiations” as that term is here used, may well mean our usual initiations—one through five.

260. “Các cuộc điểm đạo chính”, theo cách dùng thuật ngữ này ở đây, rất có thể hàm ý những cuộc điểm đạo mà chúng ta thường nói đến—từ lần thứ nhất đến lần thứ năm.

261. We note that between initiations it is most necessary for expansions of consciousness to occur. Such expansions represent the necessary movement from the established initiatory state to the next initiatory state.

261. Chúng ta lưu ý rằng giữa các cuộc điểm đạo, những lần mở rộng tâm thức là điều hết sức cần thiết. Những lần mở rộng ấy biểu thị sự chuyển dịch cần thiết từ trạng thái điểm đạo đã xác lập sang trạng thái điểm đạo kế tiếp.

3. They are definitely formulas of integration:

3. Chúng rõ ràng là những công thức tích hợp:

262. We remember that the whole purpose of the initiatory process is the integration of the Monad and personality, or soul-infused personality.

262. Chúng ta nhớ rằng toàn bộ mục đích của tiến trình điểm đạo là sự tích hợp giữa chân thần và phàm ngã, hay phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.

263. The various possible forms of integration promoted by these formulas are given below:

263. Các hình thức tích hợp khả dĩ khác nhau mà những công thức này thúc đẩy được trình bày dưới đây:

a. They concern integration progressively into a Master's group.

a. Chúng liên quan đến việc từng bước tích hợp vào nhóm của một Chân sư.

264. We recall that this involves first a continuous awareness of the circle of brothers, and then a growing awareness of the “point at the centre”.

264. Chúng ta nhớ rằng điều này trước hết bao hàm sự nhận biết liên tục về vòng tròn các huynh đệ, rồi đến sự nhận biết ngày càng tăng về “điểm ở trung tâm”.

b. They also concern integration into some state of group sensitivity, on some one plane, for consciousness of sensitive response is the keynote of all the planes throughout the solar system.

b. Chúng cũng liên quan đến việc tích hợp vào một trạng thái nhạy cảm nhóm nào đó, trên một cõi nhất định, vì tâm thức đáp ứng nhạy cảm là chủ âm của mọi cõi trong khắp hệ mặt trời.

265. The members of the ashramic group must, together, become sensitive.

265. Các thành viên của nhóm ashram phải cùng nhau trở nên nhạy cảm.

266. On each plane a particular possibility for group sensitivity exists.

266. Trên mỗi cõi đều có một khả năng riêng biệt về sự nhạy cảm nhóm.

267. Another important principle is being brought to our attention: “consciousness of sensitive response is the keynote of all the planes throughout the solar system”. Thus, through the correct individual and group response to the formulas, increasing sensitivity upon all the planes of our solar system may be achieved. Such sensitivity (to exist in relation to the highest planes of the cosmic physical plane) would, of course, necessitate initiations beyond even the fifth.

267. Một nguyên khí quan trọng khác đang được nêu ra để chúng ta chú ý: “tâm thức đáp ứng nhạy cảm là chủ âm của mọi cõi trong toàn hệ mặt trời”. Như vậy, qua sự đáp ứng đúng đắn của cá nhân và nhóm đối với các công thức, có thể đạt được sự nhạy cảm ngày càng tăng trên mọi cõi của hệ mặt trời chúng ta. Dĩ nhiên, để sự nhạy cảm ấy hiện hữu trong mối liên hệ với các cõi cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ, cần có những cuộc điểm đạo vượt cả lần thứ năm.

4. They are also formulas of revelation. This is peculiarly so in connection with Formula One. They bring about, when rightly used:

4. Chúng cũng là những công thức mặc khải. Điều này đặc biệt đúng đối với Công Thức Một. Khi được sử dụng đúng cách, chúng đem lại:

268. Here DK discusses the formulas as “formulas of revelation”. Earlier he told us that the correct sensitive response to the ancient formulas should be called a “formula of revelation”. We shall have to proceed cautiously to gather His full meaning.

268. Ở đây, Chân sư DK bàn về các công thức như “những công thức mặc khải”. Trước đó, Ngài đã cho chúng ta biết rằng sự đáp ứng nhạy cảm đúng đắn đối với các công thức cổ xưa nên được gọi là một “công thức mặc khải”. Chúng ta sẽ phải tiến hành thận trọng để nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa của Ngài.

a. The revelation of group feeling.

a. Sự mặc khải về cảm nhận nhóm.

269. This is a reconditioning, especially, of the group astral body so that its content is understood and can be moved towards harmonization, and responsiveness to the buddhic energy.

269. Đây là một sự điều chỉnh lại, đặc biệt đối với thể cảm dục của nhóm, để có thể thấu hiểu nội dung của thể này và đưa nó hướng tới sự hài hòa cùng khả năng đáp ứng với năng lượng Bồ đề.

b. The revelation of the Master as He is, the centre of light and power within the circle.

b. Sự mặc khải về Chân sư đúng như thực tại của Ngài, trung tâm ánh sáng và quyền năng bên trong vòng tròn.

270. This is the revelation of the “point within the circle”.

270. Đây là sự mặc khải về “điểm bên trong vòng tròn”.

c. The revelation of the point of life at the centre of all forms.

c. Sự mặc khải về điểm sự sống ở trung tâm của mọi hình tướng.

271. This is the revelation of a more ubiquitous point reminiscent of the “Relinquished Point” in the third phase of the Leo process (EA 332). The point of life at the center of all forms is, in a way, the same point. The unity of all life is thus revealed.

271. Đây là sự mặc khải về một điểm hiện diện khắp nơi hơn, gợi nhớ đến “Điểm Đã Từ Bỏ” trong giai đoạn thứ ba của tiến trình Sư Tử (EA 332). Theo một nghĩa nào đó, điểm sự sống ở trung tâm mọi hình tướng là cùng một điểm. Qua đó, tính hợp nhất của mọi sự sống được mặc khải.

These effects, resulting from right comprehension of the formulas, might be regarded as reactions—automatic and inevitable;

Những hiệu quả này, phát sinh từ việc lĩnh hội đúng các công thức, có thể được xem là những phản ứng—tự động và tất yếu;

272. Our task, then, is to comprehend the formulas correctly, and the three revelations here listed will follow.

272. Vậy nhiệm vụ của chúng ta là lĩnh hội các công thức một cách đúng đắn, rồi ba sự mặc khải được liệt kê ở đây sẽ tiếp nối.

I used this word "reaction" in my last instruction. These reactions are frequently, and I might say usually, unconscious and it is only gradually that the disciple wakes up to the fact that by quiet reflection upon the formula, certain [264] expansions of consciousness, a greater sensitivity and an intuitive recognition of the hitherto unseen and unrealised have wrought definite changes in his subjective nature.

Tôi đã dùng từ “phản ứng” này trong huấn thị trước. Những phản ứng này thường diễn ra, và Tôi có thể nói là thông thường diễn ra, một cách vô thức; chỉ dần dần người đệ tử mới nhận ra rằng, nhờ lặng lẽ suy ngẫm về công thức, những lần mở rộng tâm thức nhất định, [264] sự nhạy cảm lớn hơn và sự nhận biết bằng trực giác về những gì trước đây chưa thấy và chưa nhận ra đã tạo nên những thay đổi rõ rệt trong bản chất chủ quan của y.

273. Here DK speaks of the “reactions” just mentioned—the reaction being considered a “formula of revelation”.

273. Ở đây, Chân sư DK nói về những “phản ứng” vừa được đề cập—phản ứng ấy được xem là một “công thức mặc khải”.

274. He adds an important point—that the reactions are usually unconscious.

274. Ngài bổ sung một điểm quan trọng—rằng những phản ứng ấy thường diễn ra một cách vô thức.

275. He also asks for “quiet reflection” upon the formulas.

275. Ngài cũng yêu cầu “lặng lẽ suy tư” về các công thức.

276. From quiet reflection we may expect:

276. Từ sự lặng lẽ suy tư, chúng ta có thể mong đợi:

1. Certain expansions of consciousness

1. Một số lần mở rộng tâm thức

2. A greater sensitivity

2. Sự nhạy cảm lớn hơn

3. An intuitive recognition of that which hitherto has been unseen and unrealized.

3. Sự nhận biết bằng trực giác về những gì trước đó chưa từng thấy và chưa từng nhận ra.

277. From such quiet reflection, we will see that definite changes in the subjective nature have been wrought. The process is subtle and occult, difficult to understand—nothing obvious. Ours is the task of following the instructions to quietly reflect, in the trust that the developments of which Master DK speaks will emerge.

277. Từ sự lặng lẽ suy tư như vậy, chúng ta sẽ thấy những thay đổi rõ rệt đã diễn ra trong bản chất nội tâm. Tiến trình này tinh tế và huyền bí, khó thấu hiểu—không có gì hiển nhiên. Nhiệm vụ của chúng ta là tuân theo huấn thị để lặng lẽ suy tư, với niềm tin rằng những bước phát triển mà Chân sư DK nói đến sẽ xuất hiện.

He does the required work and the results naturally and simply happen.

Y thực hiện công việc cần thiết và các kết quả tự nhiên, đơn giản xuất hiện.

278. It’s so simple, and yet many disciples simply lack the trust.

278. Điều này thật đơn giản, vậy mà nhiều đệ tử lại thiếu niềm tin.

Here is a hint as to the need for occult obedience. I have the responsibility of indicating to you the work I want done and the steps to be taken. You subsequently have to do the work.

Đây là một gợi ý về sự cần thiết của việc tuân phục trong huyền bí học. Tôi có trách nhiệm chỉ cho các bạn công việc Tôi muốn thực hiện và những bước cần tiến hành. Sau đó, các bạn phải làm công việc ấy.

279. We have here a very concrete example of occult obedience. Often it is phrased in terms of a relation between the disciple and his soul/Solar Angel. Here, it is put in terms of simple obedience to the Master’s suggestions.

279. Ở đây, chúng ta có một ví dụ rất cụ thể về sự tuân phục huyền bí. Điều này thường được diễn đạt qua mối quan hệ giữa người đệ tử và linh hồn/Thái dương Thiên Thần của y. Ở đây, nó được trình bày như sự tuân phục đơn giản đối với những gợi ý của Chân sư.

Most of you, living normally as you do in the world of effects and not in the world of causes, are preoccupied with the possible results and the phenomenal differences (if I might call them so) which are expected by you to eventuate from the work.

Phần lớn các bạn, vốn thường sống trong thế giới của những kết quả chứ không phải trong thế giới của các nguyên nhân, đều bận tâm đến những kết quả có thể xảy ra và những khác biệt về mặt hiện tượng (nếu Tôi có thể gọi như vậy) mà các bạn mong đợi công việc sẽ đem lại.

280. This is a rather objective orientation, superficial really, and common. It arises, perhaps, from eagerness for progress.

280. Đây là một định hướng khá thiên về ngoại giới, thực ra là hời hợt và phổ biến. Có lẽ nó phát sinh từ sự nóng lòng muốn tiến bộ.

Therefore, instead of concentrating upon exactitude of work and meticulous obedience, your energy goes into the thought of what will happen, into the consideration of the difficulties of the work, and into your belief that no results are demonstrating in your particular case.

Vì thế, thay vì tập trung vào sự chính xác trong công việc và việc tuân phục tỉ mỉ, các bạn lại dồn năng lượng vào việc nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra, cân nhắc những khó khăn của công việc, và tin rằng riêng trường hợp của mình thì không có kết quả nào biểu hiện.

281. The contrast between what DK expects and what usually happens is stark.

281. Sự tương phản giữa những gì Chân sư DK mong đợi và những gì thường xảy ra thật rõ rệt.

282. DK expects the chela to concentrate upon doing the work with exactitude. He also expects meticulous obedience to His recommendations.

282. Chân sư DK mong đợi người đệ tử tập trung thực hiện công việc một cách chính xác. Ngài cũng mong đợi sự tuân phục tỉ mỉ đối với những lời khuyên của Ngài.

283. Instead He receives:

283. Thay vào đó, Ngài nhận được:

1. The chela’s energy directed to the thought of what will happen

1. Năng lượng của người đệ tử hướng vào ý nghĩ về điều sẽ xảy ra

2. The chela’s thought focussed on the difficulties of the work (which certainly stops progress).

2. Tư tưởng của người đệ tử tập trung vào những khó khăn của công việc (điều này chắc chắn ngăn cản sự tiến bộ).

3. The chela’s belief that no results are occurring in his particular case.

3. Niềm tin của người đệ tử rằng không có kết quả nào đang xảy ra trong trường hợp riêng của mình.

284. Obviously, what we tend to do as chelas is not what we should be doing.

284. Rõ ràng, những gì chúng ta có xu hướng làm với tư cách đệ tử không phải là những gì chúng ta nên làm.

Primarily what I am doing in giving you these formulas is to aid you to work in the world of causes and so draw you consciously out of the world of effects.

Khi trao cho các bạn những công thức này, điều chủ yếu Tôi đang làm là giúp các bạn hoạt động trong thế giới của các nguyên nhân, qua đó đưa các bạn một cách hữu thức ra khỏi thế giới của những kết quả.

285. DK has just told us that His chelas tend to work in thee world of effects—presumably the world of the senses or, if slightly expanded, the world which comprises the eighteen lower sub-planes of the cosmic physical plane.

285. Chân sư DK vừa cho chúng ta biết rằng các đệ tử của Ngài có xu hướng làm việc trong thế giới của các kết quả—có lẽ là thế giới của các giác quan, hoặc nếu mở rộng thêm đôi chút, là thế giới bao gồm mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

286.

286.

What He is attempting to do is draw His chelas into the world of causes, which includes the higher three levels of the mental plane and, judging from the definitions of the scope of the initiatory process, the levels of the spiritual triad as well.

Điều Ngài đang cố gắng làm là đưa các đệ tử của Ngài vào thế giới của các nguyên nhân, bao gồm ba cấp độ cao của cõi trí và, xét theo những định nghĩa về phạm vi của tiến trình điểm đạo, cả các cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần nữa.

Therefore, I would ask you to do the indicated work, to concentrate your minds upon these formulas of power—"working without attachment," as the Gita expresses it—and refrain from looking for results, knowing that they will be there, e'en though unrecognised by you, until your focus is more definitely subjective.

Vì vậy, Tôi muốn các bạn thực hiện công việc đã chỉ dẫn, tập trung thể trí vào những công thức quyền năng này—“hành động không chấp trước”, như kinh Gita diễn đạt—và đừng tìm kiếm kết quả, mà hãy biết rằng chúng sẽ hiện hữu, dù các bạn chưa nhận ra, cho đến khi sự tập trung của các bạn hướng rõ rệt hơn vào đời sống chủ quan.

287. Here the ancient formulas which are also “formulas of revelation” are called “formulas of power”. This may suggest that they put the chela in touch with his monadic nature.

287. Ở đây, những công thức cổ xưa, cũng là “các công thức mặc khải”, được gọi là “các công thức quyền năng”. Điều này có thể gợi ý rằng chúng giúp người đệ tử tiếp xúc với bản chất chân thần của mình.

288. We are asked to work in a certain way—meticulously following the Master’s instructions and doing so without attachment to results.

288. Chúng ta được yêu cầu làm việc theo một cách nhất định—tuân theo tỉ mỉ các huấn thị của Chân sư và thực hiện mà không chấp trước vào kết quả.

289. We are to have faith and to expect recognition later, when we have developed a more “subjective” focus.

289. Chúng ta cần có đức tin và mong đợi sự nhận biết sẽ đến về sau, khi đã phát triển sự tập trung hướng vào “nội giới” nhiều hơn.

I did not say "introspective," my brother, but "subjective." To be an introvert really means that you, as a thinking personality, are always looking in to your inner feeling and thought life. That is not living subjectively; it is living as an outer observer who looks within.

Huynh đệ của tôi, Tôi không nói “nội quan”, mà là “chủ quan”. Là một người hướng nội thực ra có nghĩa là các bạn, với tư cách một phàm ngã biết suy nghĩ, luôn nhìn vào đời sống cảm xúc và tư tưởng bên trong mình. Đó không phải là sống chủ quan; đó là sống như một người quan sát bên ngoài nhìn vào bên trong.

290. DK is offering an important distinction between subjectivity and introversion.

290. Chân sư DK đang đưa ra một sự phân biệt quan trọng giữa việc hướng vào nội giới và sự hướng nội.

291. Introversion is still a personal orientation, involving some of the higher sub-planes of the eighteen lower sub-planes.

291. Sự hướng nội vẫn là một định hướng cá nhân, liên quan đến một số cõi phụ cao hơn trong mười tám cõi phụ thấp.

292. The observer doing the introspecting is the observer within the personality brain consciousness. This is not at all the true inner observer—the disciple as the soul-in-incarnation.

292. Người quan sát đang thực hiện nội quan là người quan sát trong tâm thức bộ não của phàm ngã. Đây hoàn toàn không phải là người quan sát bên trong đích thực—người đệ tử với tư cách linh hồn đang nhập thể.

293. The distinction seems clear and yet many confuse the two orientations.

293. Sự phân biệt dường như rõ ràng, vậy mà nhiều người vẫn nhầm lẫn hai định hướng này.

To live subjectively means that the focus of your consciousness is within and that from that point you look in two directions: outward at the personality upon the physical plane and inward at the soul. Ponder on this.

Sống chủ quan có nghĩa là tiêu điểm tâm thức của các bạn nằm bên trong, và từ điểm ấy các bạn nhìn theo hai hướng: ra ngoài, vào phàm ngã trên cõi hồng trần, và vào trong, đến linh hồn. Hãy suy ngẫm về điều này.

294. This is most interesting as it becomes apparent that it is the disciple (positioned midway between the personality and the soul) who is the seat of the subjective attitude.

294. Điều này hết sức thú vị, vì rõ ràng chính người đệ tử (ở vị trí giữa phàm ngã và linh hồn) là nơi đặt thái độ hướng vào nội giới.

295. Often when we use the term “disciple” we think “personality”, but it is not so. The distinction must be clearly held in mind.

295. Khi dùng thuật ngữ “đệ tử”, chúng ta thường nghĩ đến “phàm ngã”, nhưng không phải như vậy. Cần ghi nhớ rõ sự phân biệt này.

296. Thus, we are now to discriminate between the outer observer and the true disciple or inner observer—a position of consciousness which is neither personality consciousness nor full soul consciousness.

296. Như vậy, giờ đây chúng ta cần phân biện giữa người quan sát bên ngoài và người đệ tử đích thực, hay người quan sát bên trong—một vị trí tâm thức không phải là tâm thức phàm ngã, cũng chưa phải là tâm thức linh hồn trọn vẹn.

The distinction is very real and one that you should grasp. The man who knows the difference between living an introspective life and a subjective life is well on the way to being a true esotericist.

Sự phân biệt ấy rất thực và các bạn cần nắm bắt. Người biết phân biệt giữa đời sống nội quan và đời sống chủ quan đang tiến vững vàng trên con đường trở thành một nhà bí truyền học đích thực.

297. Here is another golden statement. We may often wonder, “just what is the true esotericist?” Here we are told in relation to the “Attitude of the Observer”—the often used occult practice.

297. Đây lại là một phát biểu quý báu. Chúng ta có thể thường tự hỏi: “Nhà bí truyền học đích thực chính xác là gì?” Ở đây, chúng ta được giải đáp trong mối liên hệ với “Thái Độ của Người Quan Sát”—pháp thực hành huyền bí thường được sử dụng.

298. When we function as the observer how do we function? Here we are given the proper method.

298. Khi hoạt động với tư cách người quan sát, chúng ta hoạt động như thế nào? Ở đây, chúng ta được chỉ dẫn phương pháp đúng đắn.

Let us look for a minute at Formula One and seek its [265] simplest interpretation, and yet an advanced one from the angle of the neophyte (which you should not be).

Chúng ta hãy xem xét Công Thức Một trong chốc lát và tìm cách diễn giải [265] đơn giản nhất của nó, nhưng vẫn là một cách diễn giải cao đối với góc nhìn của người sơ cơ (mà các bạn không nên còn là người như vậy).

299. To whom is DK speaking? To the members of the New Seed Group—supposedly tested disciples.

299. Chân sư DK đang nói với ai? Với các thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới—những người được cho là các đệ tử đã qua thử thách.

300. Perhaps not too many who are truly neophytes will read and ponder these ancient formulas—at least not for any significant amount of time. They are too difficult for the neophyte’s consciousness.

300. Có lẽ không có quá nhiều người thực sự là người sơ cơ sẽ đọc và suy ngẫm về những công thức cổ xưa này—ít nhất là không trong một khoảng thời gian đáng kể. Chúng quá khó đối với tâm thức của người sơ cơ.

I will take one or two general ideas which emerge from an analysis of the whole and then a few sentences which—when interpreted—may throw light upon certain basic and practical significances.

Tôi sẽ chọn một hoặc hai ý tưởng tổng quát xuất hiện khi phân tích toàn thể, rồi chọn vài câu mà—khi được diễn giải—có thể soi sáng một số thâm nghĩa căn bản và thực tiễn.

301. It will be interesting to see whether the interpretation in the last commentary accords with the clarifications now given by DK.

301. Sẽ thật thú vị khi xem liệu cách diễn giải trong bài bình giảng trước có phù hợp với những điều Chân sư DK đang làm sáng tỏ hay không.

I would first have you note the emphasis upon the "eye" in this formula. It is a keynote and appears in various guises. Behind all the ideas lies the concept of seeing, of a Seeing One, looking on at the created Whole.

Trước hết, Tôi muốn các bạn lưu ý đến sự nhấn mạnh vào “con mắt” trong công thức này. Đó là một chủ âm và xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Đằng sau mọi ý tưởng là khái niệm về sự thấy, về một Đấng Thấy đang nhìn Toàn Thể được sáng tạo.

302. One of the major keys to the initiatory process is sight. At the first initiation the candidate sees (inwardly) the soul for the first time.

302. Một trong những chìa khóa chủ yếu của tiến trình điểm đạo là khả năng thấy. Ở lần điểm đạo thứ nhất, ứng viên lần đầu tiên thấy linh hồn từ bên trong.

303. Initiation is directly related to the fifth ray, and so are sight and vision.

303. Điểm đạo liên quan trực tiếp đến cung năm, và khả năng thấy cùng tầm nhìn cũng vậy.

This same concept is to be found in the fundamental Masonic symbol of the Eye of God which dominates everything within the Temple

Cũng có thể tìm thấy khái niệm này trong biểu tượng căn bản của Hội Tam Điểm: Con Mắt của Thượng đế bao quát mọi sự trong Đền Thờ.

. In this formula we have:

Trong công thức này, chúng ta có:

304. Masonry is presently and symbolically, a system which depicts the process of initiation. If the “All-seeing Eye” dominates everything within the Temple

304. Hiện nay, xét về mặt biểu tượng, Hội Tam Điểm là một hệ thống mô tả tiến trình điểm đạo. Nếu “Con Mắt Thấy Tất Cả” ngự trị mọi thứ bên trong Đền Thờ

, we see the inseparability of the initiatory process and the “Eye”.

, chúng ta thấy tính bất khả phân giữa tiến trình điểm đạo và “Con Mắt”.

1. The Eye of God. Shiva is the first Person of the Trinity, the Destroyer, but at the same time the Final Absorber, the Whole and yet the part.

1. Con Mắt của Thượng đế. Shiva là Ngôi thứ nhất của Ba Ngôi, Đấng Hủy Diệt, nhưng đồng thời cũng là Đấng Hấp Thu Cuối Cùng, là Toàn Thể nhưng cũng là thành phần.

305. In the state of “Isolated Unity” the perceiver realizes the Whole in relation to all the parts. Yet the vision of the parts and their unity also exists.

305. Trong trạng thái “Hợp Nhất Cô Lập”, người tri giác chứng nghiệm Toàn Thể trong mối liên hệ với mọi bộ phận. Tuy vậy, tầm nhìn về các bộ phận và sự hợp nhất của chúng cũng hiện hữu.

306. Is it clear that the “Destroyer” can be the “Final Absorber”? This final absorption, though an act of restitution, is also an act of destruction—in relation to the forms which previously existed.

306. Có rõ vì sao “Đấng Hủy Diệt” có thể là “Đấng Thu Hút Tối Hậu” không? Sự thu hút tối hậu này, dù là một hành động hoàn nguyên, cũng là một hành động hủy diệt—đối với những hình tướng đã tồn tại trước đó.

This is the organ of the divine Will or Power, the Eye, through Whose directed gaze the power flows outward to its created Whole. In the case of the human spirit, it is the Monad.

Đây là cơ quan của Ý Chí hay Quyền Năng thiêng liêng, là Con Mắt mà qua ánh nhìn có định hướng của Ngài, quyền năng tuôn ra Toàn Thể do Ngài sáng tạo. Trong trường hợp tinh thần con người, đó là Chân thần.

307. The “Eye of God” is the Monad. How often do we think of the Monad as an “Eye”?

307. “Con Mắt của Thượng đế” là chân thần. Chúng ta có thường nghĩ đến chân thần như một “Con Mắt” không?

308. The directing power of the Monad is released through a “directed gaze”. We see how, through one of the powers of the eye, the Monad sustains the Whole.

308. Quyền năng chỉ đạo của chân thần được phóng thích qua một “ánh nhìn có định hướng”. Chúng ta thấy chân thần duy trì Toàn Thể thông qua một trong những quyền năng của con mắt như thế nào.

309. The same can be said on a larger scale of the planetary logoic Monad and of the solar logoic Monad in relation to the solar system.

309. Cũng có thể nói như vậy ở quy mô lớn hơn về chân thần của Hành Tinh Thượng đế và chân thần của Thái dương Thượng đế trong mối liên hệ với hệ mặt trời.

2. The Eye of Vision, indicating this time not the directing energy, but the conscious Observer, the Soul, whether cosmic, solar or human.

2. Con Mắt của Tầm Nhìn, lần này chỉ Người Quan Sát hữu thức, tức Linh Hồn, dù là linh hồn vũ trụ, thái dương hay con người, chứ không phải năng lượng điều khiển.

310. The Eye of Vision relates to the Soul and its consciousness. It does not direct; it observes.

310. Con Mắt của Tầm Nhìn liên quan đến Linh Hồn và tâm thức của Linh Hồn. Nó không chỉ đạo; nó quan sát.

311. With which “Eye” do we (the “I”) ‘I-dentify’?

311. Chúng ta (cái “Tôi”) ‘đồng hoá mình’ với “Con Mắt” nào?

3. The Eye that Knows. This is the disciple who, from stage to stage, reacts increasingly to the direction of the spiritual will and to the growth of sensitive response, and in both his brain and his mind consciousness in the three worlds knows.

3. Con Mắt Biết. Đây là người đệ tử, qua từng giai đoạn, ngày càng đáp ứng với sự chỉ đạo của ý chí tinh thần và với sự phát triển của khả năng đáp ứng nhạy cảm; trong cả tâm thức bộ não lẫn tâm thức thể trí của mình nơi ba cõi giới, y biết.

312. The disciple is still dualistic and the “Eye that Knows” is really two eyes—a right and a left, guaranteeing the ability to “look from here to there”.

312. Người đệ tử vẫn mang tính nhị nguyên, và “Con Mắt Biết” thực ra là hai con mắt—một bên phải và một bên trái, bảo đảm khả năng “nhìn từ đây sang đó”.

313. We note that the disciple, as the third in this sequence of eyes, responds both to the directing eye (the Monad) and to the eye of “sensitive response” (the soul). Through the disciple the quality of these two eyes is expressed in the dualistic world of form.

313. Chúng ta lưu ý rằng người đệ tử, với tư cách là thành phần thứ ba trong chuỗi những con mắt này, đáp ứng với cả con mắt chỉ đạo (chân thần) lẫn con mắt của “sự đáp ứng nhạy cảm” (linh hồn). Qua người đệ tử, phẩm tính của hai con mắt này biểu lộ trong thế giới hình tướng mang tính nhị nguyên.

That knowledge is limited in the neophyte, deepening in the disciple and profound in the Master, but it is all related to vision.

Sự hiểu biết ấy còn hạn chế ở người sơ cơ, sâu hơn ở người đệ tử và thâm sâu ở Chân sư, nhưng tất cả đều liên quan đến tầm nhìn.

314. All of the types here mentioned are related to “The Eye that Knows”. Even a Master is a disciple and, thus, expresses His own particular manifestation of “The Eye that Knows”.

314. Tất cả các loại được đề cập ở đây đều liên quan đến “Con Mắt Biết”. Ngay cả một Chân sư cũng là một đệ tử và do đó biểu lộ sự biểu hiện riêng biệt của Ngài về “Con Mắt Biết”.

4. At the same time this formula tells us that there are four eyes:

4. Đồng thời, công thức này cho chúng ta biết có bốn con mắt:

315. Naturally, we would expect this if we understand the nature of “The Eye that Knows”

315. Đương nhiên, chúng ta sẽ dự liệu điều này nếu thấu hiểu bản chất của “Con Mắt Biết”

a. "One made of fire" . . . the eye of God.

a. “Một con mắt làm bằng lửa”... con mắt của Thượng đế.

316. The Monad is the fiery eye, the eye of fire.

316. Chân thần là con mắt rực lửa, con mắt của lửa.

317. What is the true constitution of the Monad? Is it not a spark descending from the One Flame?

317. Cấu tạo đích thực của chân thần là gì? Chẳng phải đó là một tia lửa giáng xuống từ Ngọn Lửa Duy Nhất sao?

b. "One fluid as the sea" . . . the eye of vision.

b. “Một con mắt linh động như biển cả”... con mắt của tầm nhìn.

318. The fluidity reminds one of both Mercury (quick silver) and of Neptune (god of the ocean or sea). This is a buddhic eye, fluidly fusing the many perceptions into a recognizable unity.

318. Tính linh động gợi nhớ đến cả Sao Thủy (thủy ngân) lẫn Sao Hải Vương (vị thần của đại dương hay biển cả). Đây là một con mắt Bồ đề, dung hợp linh động nhiều tri giác thành một sự hợp nhất có thể nhận biết.

c. "And two which look from here to there, the eye that knows." These are the eye of the disciple and the eye of the personality. There is a clue to this in a statement in The Secret Doctrine that the right eye [266] is the eye of buddhi and the left eye the eye of manas—these are the eyes of the high grade integrated personality, en rapport with the soul.

c. “Và hai con mắt nhìn từ đây đến kia, con mắt biết.” Đó là con mắt của người đệ tử và con mắt của phàm ngã. Một manh mối cho điều này nằm trong lời khẳng định của Giáo Lý Bí Nhiệm rằng mắt phải [266] là con mắt của Bồ đề và mắt trái là con mắt của manas—đó là đôi mắt của phàm ngã tích hợp ở cấp độ cao, giao cảm với linh hồn.

319. There are two human eyes and one of them symbolizes the disciple and one the personality.

319. Con người có hai mắt, một mắt tượng trưng cho đệ tử và mắt kia tượng trưng cho phàm ngã.

320. Both the centers of consciousness called “disciple” and “personality” are here referred to as “eyes”, and this is correct for both of them are sources of sight. One can see as a disciple responsive to the soul (this would in this case correlate more with the eye of buddhi) or one can see as a personality in a limited, mental, egoistic manner (which, in this case, would correlate more with thee eye of manas, for the personality is considered the vehicle of intelligence).

320. Cả hai trung tâm tâm thức được gọi là “đệ tử” và “phàm ngã” ở đây đều được nói đến như những “con mắt”, và điều này là đúng vì cả hai đều là nguồn của khả năng nhìn. Người ta có thể nhìn như một đệ tử đáp ứng với linh hồn (trong trường hợp này, điều đó tương ứng nhiều hơn với con mắt Bồ đề), hoặc có thể nhìn như một phàm ngã theo cách hạn hẹp, thiên về trí tuệ và vị kỷ (trong trường hợp này, điều đó tương ứng nhiều hơn với con mắt manas, vì phàm ngã được xem là vận cụ của trí thông tuệ).

321. Thus, we see that Monad, soul, disciple and personality are all “eyes”. As well, they are all “I’s”.

321. Như vậy, chúng ta thấy rằng chân thần, linh hồn, đệ tử và phàm ngã đều là những “con mắt”. Đồng thời, tất cả cũng đều là những “cái Tôi”.

d. "Fire, water and the earth all need the vital air. The air is life." The clue again to this is to be found in The Secret Doctrine, I.80, where we find the words "Matter is the Vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence, and Soul is the Vehicle on a higher plane for the manifestation of Spirit and these three are a Trinity, synthesised by Life, which pervades them all."

d. “Lửa, nước và đất đều cần sinh khí. Khí là sự sống.” Một lần nữa, manh mối cho điều này nằm trong Giáo Lý Bí Nhiệm, I.80 [ấn bản thứ nhất: 49], nơi chúng ta đọc thấy những lời: “Vật chất là Hiện thể cho sự biểu hiện của Linh Hồn trên cõi hiện tồn này, và Linh Hồn là Hiện thể trên một cõi cao hơn cho sự biểu hiện của Tinh Thần; ba yếu tố này là một Tam Vị, được Sự Sống tổng hợp, và Sự Sống thấm nhuần cả ba.”

322. The air, in this case is pure energy, pure vitality, life. The “vital air” pervades the fire, water and earth discussed in the formula, just as Life pervades Spirit, Soul and Matter.

322. Trong trường hợp này, khí là năng lượng thuần khiết, sinh lực thuần khiết, sự sống. “Khí mang sự sống” thấm nhuần lửa, nước và đất được bàn đến trong công thức, cũng như Sự sống thấm nhuần Tinh thần, Linh hồn và Vật chất.

323. In this case, we cannot think of air as simply the energy of the systemic buddhic. Plane. Perhaps it can be conceived in relation to the energy of the cosmic buddhic plane, on which the Pleiades are focussed (and on which, the chart on TCF 344 shows the seven Rishis of the Great Bear focussed).

323. Trong trường hợp này, chúng ta không thể nghĩ rằng khí chỉ là năng lượng của cõi Bồ đề thuộc hệ mặt trời. Có lẽ có thể quan niệm khí trong mối liên hệ với năng lượng của cõi Bồ đề vũ trụ, nơi chòm Thất Nữ tập trung (và cũng là nơi mà biểu đồ trong TCF 344 cho thấy bảy Đấng Thánh Triết của chòm Đại Hùng tập trung).

You can see, therefore, upon careful reflection how simple this matter is, exoterically considered, and how the key to understanding lies in conscious identification with all three, both sequentially through growth and simultaneously through initiation. I have here given you an occult hint.

Vì vậy, khi suy ngẫm cẩn thận, các bạn có thể thấy vấn đề này đơn giản đến mức nào nếu xét về mặt ngoại môn, và chìa khóa để thấu hiểu nằm ở sự đồng hóa hữu thức với cả ba, vừa tuần tự qua sự tăng trưởng, vừa đồng thời qua điểm đạo. Ở đây, Tôi đã trao cho các bạn một gợi ý huyền bí.

324. The Tibetan makes the interpretation of Formula I appear rather straightforward. To deeply understand the formula however, is another matter.

324. Chân sư Tây Tạng khiến việc diễn giải Công Thức I có vẻ khá đơn giản. Tuy nhiên, thấu hiểu sâu sắc công thức ấy lại là chuyện khác.

325. He is telling us that if we wish to understand, we have to identify—with all three eyes.

325. Ngài đang nói với chúng ta rằng nếu muốn thấu hiểu, chúng ta phải đồng hoá với—cả ba con mắt.

326. We can do this sequentially as we grow in consciousness. But if we learn to identify as the Spirit aspect, all three identifications can occur simultaneously. This becomes possible through the faculties which grow through the initiatory process.

326. Chúng ta có thể thực hiện điều này một cách tuần tự khi tâm thức phát triển. Nhưng nếu học cách đồng hoá với phương diện Tinh thần, cả ba sự đồng hoá có thể diễn ra đồng thời. Điều này trở nên khả thi nhờ những năng lực phát triển qua tiến trình điểm đạo.

327. Saturn is the planet of sequence, and Uranus, the planet of the Hierophant, the planet of simultaneity.

327. Sao Thổ là hành tinh của tính tuần tự, còn Sao Thiên Vương, hành tinh của Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo, là hành tinh của tính đồng thời.

328. One who can only see through the eyes of the personality and of the disciple cannot possibly apply the necessary simultaneity. This becomes possible only with identification when Spirit is becoming a reality.

328. Người chỉ có thể nhìn qua con mắt của phàm ngã và của đệ tử không thể vận dụng tính đồng thời cần thiết. Điều này chỉ trở nên khả thi nhờ sự đồng hoá, khi Tinh thần đang trở thành một thực tại.

329. In the terms that DK has discussed initiation in this instruction, only the Spirit-identified individual is the true disciple.

329. Theo cách Chân sư DK bàn về điểm đạo trong huấn thị này, chỉ người đồng hoá với Tinh thần mới là đệ tử chân chính.

Secondly, I would have you note how this formula refers to the antahkarana:

Thứ hai, Tôi muốn các bạn lưu ý cách công thức này đề cập đến antahkarana:

330. The use of the word “line” suggests the antahkarana.

330. Việc dùng từ “đường” gợi đến antahkarana.

1. "A line of fire between two blazing points"—the monad and the soul.

1. “Một đường lửa giữa hai điểm rực cháy”—chân thần và linh hồn.

331. One strand of the triangular antahkarana precisely connects the soul and Monad.

331. Một sợi của antahkarana hình tam giác nối chính xác linh hồn với chân thần.

332. Even the connection between the soul-infused personality and the Monad involves the soul—absorbed, as it were, into the personality.

332. Ngay cả sự kết nối giữa phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và chân thần cũng bao hàm linh hồn—có thể nói là linh hồn đã được hấp thu vào phàm ngã.

2. "A line, emerging from the earth and ending in the ocean"—referring to the sutratma which, when the antahkarana is completed, blends all types of consciousness, spirit and matter, into one living whole, the ultimate Reality.

2. “Một đường xuất hiện từ đất và kết thúc trong đại dương”—chỉ sutratma, vốn khi antahkarana hoàn tất sẽ hòa hợp mọi loại tâm thức, tinh thần và vật chất thành một toàn thể sống động, Thực Tại tối hậu.

333. This is the greater of the lines and the ocean in which this line ends is the ‘Ocean

333. Đây là đường lớn hơn trong các đường ấy, và đại dương nơi đường này kết thúc là ‘Đại Dương

of Life

Sự Sống

’. It is the line which connects and fuses all.

’. Đó là đường kết nối và dung hợp tất cả.

These are some of the more obvious significances;

Đây là một số thâm nghĩa dễ nhận thấy hơn;

334. We might say that these are obvious to the Tibetan but certainly not to the neophyte or someone largely unfamiliar with the teaching.

334. Chúng ta có thể nói rằng những điều này là rõ ràng đối với Chân sư Tây Tạng, nhưng chắc chắn không rõ ràng đối với người sơ cơ hoặc người còn rất xa lạ với giáo huấn.

deeper ones will emerge when these are realities and not speculative theories in your life.

những thâm nghĩa sâu xa hơn sẽ xuất hiện khi chúng trở thành thực tại trong đời sống các bạn, thay vì những lý thuyết suy đoán.

335. Our obligation is to turn speculative theory into the reality (which already is).

335. Bổn phận của chúng ta là biến lý thuyết suy đoán thành thực tại (vốn đã hiện hữu).

It will be apparent to you consequently the need for definite work upon the instructions given you upon the antahkarana.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ sự cần thiết phải thực hành cụ thể những huấn thị đã trao về antahkarana.

336. DK is linking the antahkarana work to the work that must be done upon the six formulas. We must not separate these two lines of endeavor in our mind. They are strongly interrelated and neither can be completed to best advantage without the other.

336. Chân sư DK đang liên kết công việc về antahkarana với công việc phải thực hiện đối với sáu công thức. Trong thể trí, chúng ta không được tách rời hai hướng nỗ lực này. Chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, và thiếu một trong hai thì công việc còn lại không thể hoàn tất với kết quả tốt nhất.

In connection with the above, I would call your attention to some words I wrote in my last instruction to you in reference to Formula Two. I there said that alignment "will be our next consideration when Formula One has brought about certain changes in consciousness.

Liên quan đến những điều trên, Tôi muốn các bạn chú ý đến một số lời Tôi đã viết trong huấn thị trước về Công Thức Hai. Ở đó, Tôi nói rằng sự chỉnh hợp “sẽ là điều tiếp theo chúng ta xem xét khi Công Thức Một đã tạo nên một số thay đổi trong tâm thức.

337. DK hoped for the desired results. Often, however, it seems that He was forced to continue offering new material even though His chelas had not assimilated the old. After all, He was writing for a wider group of chelas and even for the reincarnated aspects of His present chelas.

337. Chân sư DK đã hy vọng đạt được những kết quả mong muốn. Tuy nhiên, dường như Ngài thường buộc phải tiếp tục đưa ra tài liệu mới dù các đệ tử của Ngài chưa lĩnh hội được tài liệu cũ. Xét cho cùng, Ngài đang viết cho một nhóm đệ tử rộng lớn hơn, và cả cho những phương diện sẽ tái sinh của các đệ tử hiện thời của Ngài.

I shall not consider these formulas at present. I will only point out their major implications which will be seldom what you think, conditioned as you are by the terms and the interpretations of the lower concrete mind."

Hiện giờ Tôi sẽ không xem xét các công thức này. Tôi sẽ chỉ nêu những hàm ý chính yếu của chúng, vốn hiếm khi là những gì các bạn nghĩ, bởi các bạn còn chịu ảnh hưởng của những thuật ngữ và cách diễn giải của hạ trí cụ thể.”

338. Again, we have the hint that the concrete mind cannot fathom these formulas and that those individuals overly conditioned by the concrete mind will find themselves limited in arriving at an accurate interpretation.

338. Một lần nữa, chúng ta nhận được gợi ý rằng trí cụ thể không thể thấu triệt những công thức này, và những người chịu ảnh hưởng quá nhiều của trí cụ thể sẽ gặp hạn chế trong việc đạt đến một cách diễn giải chính xác.

339. We are to be ready for surprises. If the interpretation of the formulas seems too obvious, we are probably approaching in a superficial manner.

339. Chúng ta cần sẵn sàng đón nhận những điều bất ngờ. Nếu việc diễn giải các công thức có vẻ quá hiển nhiên, có lẽ chúng ta đang tiếp cận một cách hời hợt.

340. The work here presented is truly occultism, and requires a subjective (not introspective) approach.

340. Công việc trình bày ở đây thực sự là huyền bí học, và đòi hỏi một cách tiếp cận hướng vào thực tại bên trong (không phải tự xem xét nội tâm).

Commentary 40 – Bình Giảng 40

DINA II [267-276]

DINA II [267-276]

Scorpio FMN/SFF 2006

Hổ Cáp FMN/SFF 2006

LAWS-Living Ageless Wisdom School

LAWS-Trường Sống Theo Minh Triết Ngàn Đời

(Underlining, Bolding, Highlighting by MDR)

(MDR gạch dưới, in đậm và tô sáng)

(It is recommended that you study this commentary with your DINA II book handy,

(Khuyến nghị các bạn nghiên cứu bài bình giảng này với sách DINA II sẵn bên cạnh,

to facilitate continuity of understanding).

để việc thấu hiểu được liên tục).

[267] (Refer to DINA II or CD ROM for diagrams)—

[267] (Xem các sơ đồ trong DINA II hoặc CD ROM)—

PART III

PHẦN III

In past instructions we have seen that teaching upon the subject of initiation is given by me (as by all the Masters) in three ways:

Trong những huấn thị trước, chúng ta đã thấy rằng Tôi (cũng như tất cả các Chân sư) giảng dạy về đề tài điểm đạo theo ba cách:

1. Master DK seems to be telling us of a certain consistency to be found in the ways various Masters teach upon the subject of initiation.

1. Dường như Chân sư DK đang nói với chúng ta về một sự nhất quán nhất định trong cách các Chân sư khác nhau giảng dạy về chủ đề điểm đạo.

1. By Hints. These—if seen and followed—will evoke the intuition. Initiation is never taken unless the intuition is becoming active.

1. Bằng những Gợi Ý. Những gợi ý này—nếu được nhận ra và làm theo—sẽ gợi lên trực giác. Không bao giờ có thể tiếp nhận điểm đạo nếu trực giác chưa bắt đầu hoạt động.

2. Intuition is the seed of initiation. The intuition begins to show itself when the soul (on the higher mental plane) is contacted. The soul reflects the buddhic principle which is a truer seat of the intuition.

2. Trực giác là hạt giống của điểm đạo. Trực giác bắt đầu biểu lộ khi có sự tiếp xúc với linh hồn (trên cõi thượng trí). Linh hồn phản chiếu nguyên khí Bồ đề, vốn là nơi an trú đích thực hơn của trực giác.

3. There is always the possibility that the hint will evade detection and, if detected, will not be followed or applied.

3. Luôn có khả năng người ta không nhận ra gợi ý, và ngay cả khi nhận ra, cũng không làm theo hoặc áp dụng.

Spiritual instinct, the lowest aspect of the intuition, indicates readiness for the first initiation; an illumined mind and spiritual intelligence are the definite sign that a man can take the second initiation, whilst spiritual perception or intuitive instinct signifies preparedness for the Transfiguration, the third initiation.

Bản năng tinh thần, phương diện thấp nhất của trực giác, cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất; một thể trí được soi sáng và trí thông minh tinh thần là dấu hiệu rõ rệt cho thấy một người có thể tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai, trong khi tri giác tinh thần hay bản năng trực giác biểu thị sự sẵn sàng cho cuộc Biến hình, lần điểm đạo thứ ba.

4. This is a most important section and one often quoted. Let us tabulate for clarity:

4. Đây là một đoạn hết sức quan trọng và thường được trích dẫn. Chúng ta hãy liệt kê cho rõ:

1. Readiness for the first initiation is indicated by spiritual instinct (the lowest aspect of the intuition).

1. Bản năng tinh thần (phương diện thấp nhất của trực giác) cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất.

2. Readiness for the second initiation is indicated by an illumined mind and spiritual intelligence

2. Một thể trí được soi sáng và trí thông tuệ tinh thần cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ hai

3. Readiness for the third initiation is indicated spiritual perception or intuitive instinct

3. Tri giác tinh thần hay bản năng trực giác cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba

5. The first initiation is possible where there is an urge for soul contact. Neptune the planet of transcendence may be active and Mars the planet of idealism. The regulatory powers of Saturn, Uranus and Vulcan are also needed, however, to discipline the physical nature, with Pluto as the destroyer of obstacles.

5. Lần điểm đạo thứ nhất có thể diễn ra khi có sự thôi thúc tiếp xúc với linh hồn. Sao Hải Vương, hành tinh của sự siêu vượt, và Sao Hỏa, hành tinh của lý tưởng chủ nghĩa, có thể đang hoạt động. Tuy nhiên, cũng cần những quyền năng điều hòa của Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Vulcan để rèn luyện bản chất hồng trần, cùng với Sao Diêm Vương trong vai trò đấng hủy diệt những chướng ngại.

6. The second initiation is possible when certain glamorous, emotional tendencies are being overcome. Venus and Mercury will provide the necessary spiritual intelligence and illumination. An elevation of the lower Martian and Neptunian tendencies is also required so that idealism is regulated by thought of increasing clarity.

6. Lần điểm đạo thứ hai có thể diễn ra khi một số khuynh hướng cảm xúc và ảo cảm đang được khắc phục. Sao Kim và Sao Thủy sẽ cung cấp trí thông tuệ tinh thần và sự soi sáng cần thiết. Cũng cần nâng cao những khuynh hướng thấp của Sao Hỏa và Sao Hải Vương để lý tưởng chủ nghĩa được điều hòa bằng tư duy ngày càng sáng rõ.

7. The third initiation is that in which Mars and the Moon are featured as raising a conflict with more enlightened forces. The transfiguring power of Venus is required. Neptune, Jupiter and Mercury giving access to the intuition of the buddhic plane will be of value in producing “spiritual perception and intuitive instinct”.

7. Lần điểm đạo thứ ba là lần mà Sao Hỏa và Mặt Trăng nổi bật trong vai trò khơi lên xung đột với những mãnh lực được soi sáng hơn. Cần có quyền năng Biến hình của Sao Kim. Sao Hải Vương, Sao Mộc và Sao Thủy, khi mở lối tiếp cận trực giác của cõi Bồ đề, sẽ có giá trị trong việc tạo ra “tri giác tinh thần và bản năng trực giác”.

2. By the use of certain great Formulas (one of which has already been given to you) certain definite revelations become possible.

2. Nhờ sử dụng một số Công Thức vĩ đại (một trong số đó đã được trao cho các bạn), một số sự mặc khải rõ rệt trở nên khả hữu.

8. The “Formulas”, we remember, are called “Formulas of Revelation”.

8. Chúng ta nhớ rằng các “Công Thức” được gọi là “Các Công Thức Mặc Khải”.

These formulas are six in number; they contain the six prerequisites for initiation, and they are sometimes in the form of words and sometimes in the form of symbols.

Có sáu công thức như thế; chúng chứa đựng sáu điều kiện tiên quyết cho điểm đạo, đôi khi mang hình thức ngôn từ, đôi khi mang hình thức biểu tượng.

9. The Formulas, so it seems, are useful with respect to all initiations. They seem to govern the interim between initiations preparing the way for the initiation ahead.

9. Dường như các Công Thức hữu ích đối với tất cả các cuộc điểm đạo. Chúng dường như chi phối khoảng thời gian giữa các cuộc điểm đạo, chuẩn bị con đường cho cuộc điểm đạo phía trước.

10. That being said, it is clear that each of the formulas seems to have a particular resonance with a certain initiation.

10. Dù vậy, rõ ràng mỗi công thức dường như có một sự cộng hưởng đặc biệt với một cuộc điểm đạo nhất định.

11. We have been reminded that the disciple must interpret and integrate these formulas in his waking consciousness, and that this must be done through the medium of living processes.

11. Chúng ta đã được nhắc rằng đệ tử phải diễn giải và tích hợp những công thức này vào tâm thức tỉnh thức của y, và phải thực hiện điều đó thông qua những tiến trình sống.

These serve to develop the "initiate hearing" and the "initiate sight."

Chúng giúp phát triển “thính giác của điểm đạo đồ” và “thị giác của điểm đạo đồ”.

12. It could be that the formulas which are presented in words contribute to the development of “initiate hearing” and those with a more visual presentation, especially, to “initiate sight”.

12. Có thể những công thức trình bày bằng ngôn từ góp phần phát triển “thính giác của điểm đạo đồ”, còn những công thức có cách trình bày trực quan hơn đặc biệt góp phần phát triển “thị giác của điểm đạo đồ”.

They deal with the six relationships:

Chúng đề cập đến sáu mối quan hệ:

13. We are reminded of the importance of the hexagon, in which so many significant dual, triple and quadruple relationships can be identified (cf. TCF 373)

13. Chúng ta được nhắc về tầm quan trọng của hình lục giác, trong đó có thể nhận diện rất nhiều mối quan hệ nhị phân, tam phân và tứ phân mang thâm nghĩa (đối chiếu TCF 373)

14. These formulas are used prior to all the major initiations. The meaning of the term “major initiations” seems to change in different contexts. While these formulas could be used before the first initiation (in some reduced manner), they would seem more useful from the period preceding the second initiation to that preceding the seventh.

14. Những công thức này được sử dụng trước tất cả các cuộc điểm đạo chủ yếu. Ý nghĩa của thuật ngữ “các cuộc điểm đạo chủ yếu” dường như thay đổi theo những ngữ cảnh khác nhau. Tuy những công thức này có thể được sử dụng trước lần điểm đạo thứ nhất (ở một mức độ giảm bớt nào đó), nhưng chúng có vẻ hữu ích hơn từ giai đoạn trước lần điểm đạo thứ hai đến giai đoạn trước lần điểm đạo thứ bảy.

15. From another perspective, the “major initiations” are the Birth Initiation through the Initiation of Revelation (cf. DINA II 246), and are, thus, five. For this reason, they are said to have five significances.

15. Từ một góc nhìn khác, “các cuộc điểm đạo chủ yếu” là từ Cuộc Điểm Đạo Giáng Sinh đến Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải (đối chiếu DINA II 246), và như vậy có năm cuộc. Vì lý do này, người ta nói chúng có năm thâm nghĩa.

16. As most sincere and continuous students of the Bailey work have taken the first initiation, these formulas can be used, especially, to prepare for the second degree, and it will be largely within the context of preparation for this initiation that they may usefully be interpreted for the majority of those who will study them.

16. Vì phần lớn những đạo sinh chân thành và bền bỉ nghiên cứu các tác phẩm của Bà Bailey đã tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất, nên những công thức này có thể được sử dụng đặc biệt để chuẩn bị cho bậc điểm đạo thứ hai; và đối với đa số những người sẽ nghiên cứu chúng, việc diễn giải các công thức chủ yếu trong bối cảnh chuẩn bị cho cuộc điểm đạo này có thể mang lại ích lợi.

Formula One . . . Deals with integration into an Ashram and is concerned with the revelation of group feeling. It is related to the astral nature.

Công Thức Một... Đề cập đến sự tích hợp vào một ashram và liên quan đến sự mặc khải về cảm nhận nhóm. Nó liên hệ với bản chất cảm dục.

17. The first and second group meditations in DINA II have the same objective—the “revelation of group feeling”.

17. Bài thiền nhóm thứ nhất và thứ hai trong DINA II có cùng một mục tiêu—“sự mặc khải cảm thức nhóm”.

18. Through the use of this formula we are dealing with the harmonization of the group astral body.

18. Thông qua việc sử dụng công thức này, chúng ta đang xử lý sự hài hòa hóa thể cảm dục của nhóm.

19. Those who have not taken the first initiation cannot (under almost all circumstances) be brought into an Ashram—even onto the periphery of the Ashram. (There was one exception amongst the Tibetan’s students.)

19. Những người chưa tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất không thể được đưa vào một ashram (trong hầu hết mọi hoàn cảnh)—ngay cả ở ngoại vi ashram. (Có một trường hợp ngoại lệ trong số các đạo sinh của Chân sư Tây Tạng.)

20. Here for the sake of stimulating the memory is what DK said about Formula One in the last instruction:

20. Để gợi lại trí nhớ, sau đây là điều Chân sư DK đã nói về Công Thức Một trong huấn thị trước:

Formula One concerns, as I have told you, integration into a Master's group, and it has two uses—if I might so express it from your particular point of view. One produces a group inclusiveness, which integrates you with your group brothers into my group and brings a revelation of the hidden side of a chela's life. When I say this I refer to his new astral conditioning. This is given the name of the Revelation of Group Feeling. This subject is vaster in its implications than you might surmise, for it concerns united group sensitivity or response, outwards to the world of men, inwards to the Hierarchy, and upwards to the Monad. It does not concern the sum total of the petty moods and feelings of the personalities of the group members. Its second use is to bring about contact with the Master of your group—in this case myself, the Master D.K. This is a process which I have already done my best to help you to achieve through my instructions re the Full Moon contact—something you have most inadequately understood and attempted. Perhaps now you will work harder at the production of "contact relationship" as it is esoterically called. It is with Formula One that you must now work. (DINA II 247-248)

Như Tôi đã nói với các bạn, Công thức Một liên quan đến sự tích hợp vào nhóm của một Chân sư, và có hai công dụng—nếu Tôi có thể diễn đạt như [248] vậy từ quan điểm riêng của các bạn. Công dụng thứ nhất tạo ra tính bao gồm của nhóm, tích hợp các bạn cùng những huynh đệ trong nhóm vào nhóm của Tôi và đem lại sự mặc khải về mặt ẩn kín trong đời sống của một đệ tử. Khi nói điều này, Tôi muốn nói đến ảnh hưởng định hình mới đối với thể cảm dục của y. Điều này mang tên Sự Mặc Khải về Cảm Nhận Nhóm. Chủ đề này có những hàm ý rộng lớn hơn các bạn có thể phỏng đoán, vì nó liên quan đến sự nhạy cảm hay đáp ứng hợp nhất của nhóm, hướng ra thế giới loài người, hướng vào Thánh đoàn và hướng lên chân thần. Nó không liên quan đến tổng thể những tâm trạng và cảm xúc vụn vặt của phàm ngã các thành viên trong nhóm. Công dụng thứ hai là tạo sự tiếp xúc với Chân sư của nhóm các bạn—trong trường hợp này là chính Tôi, Chân sư DK. Đây là một tiến trình mà Tôi đã cố gắng hết sức để giúp các bạn thành tựu qua những huấn thị về sự tiếp xúc vào kỳ Trăng Tròn—một điều mà các bạn đã thấu hiểu và cố gắng thực hiện hết sức thiếu sót. Có lẽ giờ đây các bạn sẽ nỗ lực hơn để tạo ra điều mà huyền bí học gọi là “mối quan hệ tiếp xúc”. Chính với Công thức Một mà giờ đây các bạn phải làm việc. (DINA II 247-248)

Formula Two . . . Deals with alignment. It concerns the revelation of the group antahkarana and is related to the mind nature, in which the antahkarana is anchored.

Công Thức Hai... Đề cập đến sự chỉnh hợp. Nó liên quan đến sự mặc khải về antahkarana nhóm và liên hệ với bản chất thể trí, nơi antahkarana được neo giữ.

21. The concepts of alignment, antahkarana and the mind nature are correlated. If we correlate Formula Two particularly with the second initiation, we are reminded that preparatory to that initiation, the disciple must develop spiritual intelligence and an illumined mind. We can see how the cultivation of the antahkarana would assist in these developments.

21. Các khái niệm chỉnh hợp, antahkarana và bản chất trí tuệ có tương quan với nhau. Nếu liên hệ Công Thức Hai một cách đặc biệt với lần điểm đạo thứ hai, chúng ta được nhắc rằng để chuẩn bị cho cuộc điểm đạo ấy, đệ tử phải phát triển trí thông tuệ tinh thần và một thể trí được soi sáng. Chúng ta có thể thấy việc vun bồi antahkarana sẽ hỗ trợ những sự phát triển này như thế nào.