Trích nội dung chương
the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that, behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to Earth, called by Christians the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God, and finally the self-evident truth that only through Humanity itself can the divine Plan work out. chân lý về sự tồn tại của một Đấng Thông Tuệ căn bản mà chúng ta gọi một cách mơ hồ là Thượng đế; chân lý rằng, đằng sau mọi biểu hiện bên…
the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that, behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to Earth, called by Christians the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God, and finally the self-evident truth that only through Humanity itself can the divine Plan work out.
chân lý về sự tồn tại của một Đấng Thông Tuệ căn bản mà chúng ta gọi một cách mơ hồ là Thượng đế; chân lý rằng, đằng sau mọi biểu hiện bên ngoài, quyền năng thúc đẩy vũ trụ là Tình thương; chân lý rằng một Đấng có cá thể tính vĩ đại đã đến Trái Đất, được những người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và đã hiện thân tình thương ấy để chúng ta có thể thấu hiểu; chân lý rằng cả tình thương lẫn trí thông minh đều là những hệ quả của điều được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng, chân lý hiển nhiên rằng chỉ qua chính Nhân loại, Thiên Cơ thiêng liêng mới có thể được thực thi.
437. This is a summary of the entire Great Invocation.
437. Đây là phần tóm lược toàn bộ Đại Khấn Nguyện.
438. There is nothing in this Invocation that cannot be accepted by the average, good human being.
438. Không có điều gì trong bài Khấn Nguyện này mà một người bình thường, tốt lành lại không thể chấp nhận.
439. It is very important to realize that intelligence and love are effects of the Will of God. The Will must not be separated from its two expressions—at least at this point in human history.
439. Điều rất quan trọng là nhận ra rằng trí thông tuệ và tình thương là những hiệu quả của Ý Chí của Thượng Đế. Không được tách rời Ý Chí khỏi hai biểu hiện của nó—ít nhất là ở thời điểm này trong lịch sử nhân loại.
This Plan calls mankind to the expression of Love and challenges men to "let their light shine."
Thiên Cơ này kêu gọi nhân loại biểu đạt Tình thương và thách thức con người “hãy để ánh sáng của mình tỏa chiếu”.
440. Each of us is ‘unit of light’. That light—spiritual light—must be released. Just as the light of matter has been released through the release of atomic energy, so must soul light shine through humanity.
440. Mỗi chúng ta là một “đơn vị ánh sáng”. Ánh sáng ấy—ánh sáng tinh thần—phải được giải phóng. Cũng như ánh sáng của vật chất đã được giải phóng qua việc giải phóng năng lượng nguyên tử, ánh sáng linh hồn cũng phải tỏa chiếu qua nhân loại.
Then comes the final solemn demand that this Plan of Love and Light, working through mankind, may "seal the door where evil dwells."
Tiếp đó là lời thỉnh cầu trang nghiêm cuối cùng rằng Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng này, hoạt động qua nhân loại, có thể “đóng kín cửa vào nẻo ác”.
441. The call for this ‘sealing’ is utterly serious and of the greatest moment. That “door” must be sealed within every individual, eventually. The individual sealing leads to the greater possibility of a required group sealing. This is humanity’s great and present responsibility and one that can be evaded only at the expense of an appalling peril to the entire human race.
441. Lời kêu gọi “đóng kín” này hoàn toàn nghiêm túc và có tầm quan trọng lớn lao nhất. Cuối cùng, “cánh cửa” ấy phải được đóng kín trong mỗi cá nhân. Việc đóng kín nơi từng cá nhân mở ra khả năng lớn hơn để thực hiện việc đóng kín cần thiết ở cấp độ nhóm. Đây là trách nhiệm lớn lao hiện nay của nhân loại, và việc trốn tránh trách nhiệm ấy chỉ có thể khiến toàn thể nhân loại phải đối mặt với một hiểm họa khủng khiếp.
The final line then contains the idea of restoration, indicating the keynote for the future and that the day will come when God's original idea and His initial intention will no longer be frustrated by human freewill and evil—pure materialism and selfishness;
Dòng cuối cùng chứa đựng ý tưởng phục hồi, chỉ ra chủ âm cho tương lai và cho biết sẽ đến ngày ý tưởng nguyên thủy cùng ý định ban đầu của Thượng đế không còn bị ý chí tự do và cái ác của con người—chủ nghĩa duy vật thuần túy và tính ích kỷ—cản trở;
442. We are given the definition of evil—“pure materialism and selfishness”. The terms are simple and easy to understand. We can ponder them.
442. Chúng ta được cung cấp định nghĩa về cái ác—“chủ nghĩa duy vật thuần túy và tính ích kỷ”. Những thuật ngữ này giản dị và dễ thấu hiểu. Chúng ta có thể suy ngẫm về chúng.
443. The final line of the Great Invocation expresses the great hope; the Divine Archetype will be realized upon the Earth.
443. Câu cuối cùng của Đại Khấn Nguyện biểu đạt niềm hy vọng lớn lao; Nguyên Mẫu Thiêng Liêng sẽ được hiện thực hóa trên Trái Đất.
444. We understand that humanity has become, in many respects, an obstructive force; this must be changed.
444. Chúng ta thấu hiểu rằng, về nhiều phương diện, nhân loại đã trở thành một mãnh lực cản trở; điều này phải thay đổi.
the divine purpose will then, through the changed hearts and goals of humanity, be achieved.
khi ấy, qua trái tim và mục tiêu đã thay đổi của nhân loại, thiên ý sẽ thành tựu.
445. If God’s Will is to be done on Earth, the “hearts and goals of humanity” must be changed. A new vision and with it a new sense of values must emerge.
445. Nếu Ý Chí của Thượng đế muốn được thực thi trên Trái Đất, thì “trái tim và mục tiêu của nhân loại” phải thay đổi. Một tầm nhìn mới phải xuất hiện, cùng với một ý thức mới về các giá trị.
446. There is still time for those who truly see to present this new vision to humanity and to cultivate a more spiritual sense of values.
446. Vẫn còn thời gian để những người thực sự thấy được trình bày tầm nhìn mới này cho nhân loại và vun bồi một ý thức về các giá trị mang tính tinh thần hơn.
This is the obvious and simple meaning and it ties in with the spiritual aspiration of all men everywhere.
Đây là ý nghĩa hiển nhiên và giản dị, gắn liền với khát vọng tinh thần của mọi người ở khắp nơi.
447. The disciples and aspirants of the world who make it their responsibility to present the Great Invocation must be fully aware of what it will mean to the average human being. They must not force a higher meaning upon those who cannot encompass such a meaning.
447. Các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới nhận trách nhiệm giới thiệu Đại Khấn Nguyện phải nhận thức đầy đủ bài khấn nguyện này sẽ có ý nghĩa gì đối với người bình thường. Họ không được áp đặt một ý nghĩa cao hơn lên những người chưa thể lĩnh hội ý nghĩa ấy.
There are deeper implications and upon them I will later touch, but the clarity of spiritual desire and aspiration is expressed in these words in such a form that its use offers no barrier to the different types of mind which may receive it.
Còn có những hàm ý sâu xa hơn mà sau này Tôi sẽ đề cập đến, nhưng dục vọng và khát vọng tinh thần trong sáng được diễn đạt bằng những lời này dưới một hình thức mà việc sử dụng không gây trở ngại cho các kiểu trí tuệ khác nhau có thể tiếp nhận chúng.
448. What we need, then, is a ‘barrier free’ presentation of the Great Invocation. The wording of the Invocation is already, to a great extent, ‘barrier free’. Our attitude in the presentation of the Great Invocation must also be so enlightened and so inviting that we avoid the inadvertent creation of additional barriers.
448. Vậy điều chúng ta cần là một cách trình bày Đại Khấn Nguyện “không có rào cản”. Bản thân lời văn của bài Khấn Nguyện, ở mức độ lớn, đã “không có rào cản”. Thái độ của chúng ta khi giới thiệu Đại Khấn Nguyện cũng phải sáng suốt và đầy sức thu hút đến mức tránh được việc vô tình tạo thêm những rào cản.
Only those who recognise no subjective or inner world, and who reject the concept of an inner world of causes being responsible for the outer world of effects, will deny its truth [Page 168] and usefulness; such people are fortunately few and far between.
Chỉ những người không thừa nhận một thế giới chủ quan hay bên trong nào, và bác bỏ quan niệm rằng một thế giới nguyên nhân bên trong chịu trách nhiệm về thế giới hệ quả bên ngoài, mới phủ nhận chân lý [168] và tính hữu ích của bài Khấn Nguyện; may thay, những người như vậy rất hiếm.
449. DK is telling us that the appeal of the Great Invocation will be virtually universal. It is, indeed, a “Word of Power”. We must never forget its potency. We have been told that it summarizes the present “conclusions” in the thought of Sanat Kumara!
449. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng sức thu hút của Đại Khấn Nguyện sẽ gần như mang tính phổ quát. Quả thật, đây là một “Quyền năng từ”. Chúng ta tuyệt đối không được quên uy lực của bài khấn nguyện này. Chúng ta đã được cho biết rằng nó tóm lược những “kết luận” hiện nay trong tư tưởng của Sanat Kumara!
It is apparent, therefore, that the first three stanzas or verses invoke, call for or appeal to the three aspects of divine life which are universally recognised—the mind of God, the love of God, and the will or purpose of God; the fourth stanza points out the relation of humanity to these three energies of intelligence, love and will, and mankind's deep responsibility to implement the spread of love and light on Earth.
Do đó, rõ ràng ba khổ hay đoạn thơ đầu khẩn cầu, kêu gọi hoặc hướng lời cầu xin đến ba phương diện của sự sống thiêng liêng mà mọi người đều thừa nhận—trí của Thượng đế, tình thương của Thượng đế, và ý chí hay chủ đích của Thượng đế; khổ thứ tư chỉ ra mối quan hệ của nhân loại với ba năng lượng trí thông minh, tình thương và ý chí này, cùng trách nhiệm sâu sắc của nhân loại trong việc thực hiện sự lan tỏa tình thương và ánh sáng trên Trái Đất.
450. It is humanity that must “seal the door where evil dwells”. DK tells us of our “deep responsibility to implement the spread of love and light on Earth”. By fulfilling this responsibility we will do all we can to “seal the door”.
450. Chính nhân loại phải “đóng kín cửa vào nẻo ác”. Chân sư DK nói với chúng ta về “trách nhiệm sâu sắc trong việc thực hiện sự lan tỏa tình thương và ánh sáng trên Trái Đất”. Khi hoàn thành trách nhiệm này, chúng ta sẽ làm tất cả những gì có thể để “đóng kín cánh cửa”.
451. In these perilous times we must not forget the goodness which lies (often concealed) within every human heart.
451. Trong thời kỳ đầy hiểm nguy này, chúng ta không được quên lòng tốt hiện hữu—thường ẩn giấu—trong trái tim mỗi con người.
Right here the work of the Triangles—so close to the heart of the Hierarchy at this time—becomes obvious.
Chính ở đây, công việc của các Tam Giác—hiện rất gần với tâm nguyện của Thánh đoàn—trở nên rõ ràng.
452. If the “work of the Triangles” is close to the heart of the Hierarchy are this time, this work is close to the intentions of the Christ.
452. Nếu “công việc của các Tam Giác” là điều Thánh đoàn hết sức quan tâm vào lúc này, thì công việc ấy gắn bó mật thiết với những ý định của Đức Christ.
453. Perhaps, we can sense how DK labors to find all means by which humanity can be saved from its baser tendencies.
453. Có lẽ chúng ta có thể cảm nhận được Chân sư DK nỗ lực như thế nào để tìm mọi phương cách cứu nhân loại khỏi những khuynh hướng thấp kém của chính mình.
Through the network which the Triangles are creating, light or illumination is invoked by the daily work and attitude of the Triangle members; thus light can indeed "descend on earth" and goodwill, which is the love of God and basically, the will-to-good, can also stream forth in fuller livingness into the hearts of men;
Qua mạng lưới mà các Tam Giác đang tạo ra, công việc và thái độ hằng ngày của các thành viên Tam Giác khẩn cầu ánh sáng hay sự soi sáng; nhờ đó, ánh sáng quả thực có thể “giáng xuống trần gian”, và thiện chí, vốn là tình thương của Thượng đế và về căn bản là Ý Chí-hướng Thiện, cũng có thể tuôn vào trái tim con người với sức sống tràn đầy hơn;
454. We are familiar with these ideas—simple ideas, really.
454. Chúng ta đã quen thuộc với những ý tưởng này—thực ra là những ý tưởng giản dị.
455. Does it not seem that the “work of the Triangles” must now be strengthened as never before?
455. Chẳng phải dường như “công việc của các Tam Giác” giờ đây phải được tăng cường hơn bao giờ hết sao?
456. The work of the Triangles is one of Hierarchy’s chosen methods for implementing the promise of the Great Invocation in the modern day.
456. Công việc của các Tam Giác là một trong những phương pháp Thánh đoàn đã chọn để thực hiện lời hứa của Đại Khấn Nguyện trong thời hiện đại.
thus they are transformed in their lives and the era of right human relations cannot be stopped.
qua đó, đời sống của họ được chuyển đổi và không gì có thể ngăn cản kỷ nguyên của những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.
457. Here we are given the potential of the work of the Triangles to usher in the era of Right Human Relations.
457. Ở đây, chúng ta được cho thấy tiềm năng của công việc các Tam Giác trong việc mở ra kỷ nguyên của những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người.
458. Today, we are far—very far—from the achievement of this desirable condition.
458. Ngày nay, chúng ta còn xa—rất xa—mới đạt được tình trạng đáng mong muốn này.
This is an era hitherto only dimly sensed and which only the forward-thinking people of the world have desired. Thus through the "centre which we call the race of men" the Plan of love and light works out and strikes the death blow to evil, selfishness and separateness, sealing it into the tomb of death forever; thus also the purpose of the Creator of all things will be fulfilled.
Đây là một kỷ nguyên mà cho đến nay người ta chỉ cảm nhận mơ hồ, và chỉ những người có tư duy tiến bộ trên thế giới mới mong muốn. Như vậy, qua “trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người”, Thiên Cơ của tình thương và ánh sáng được thực thi và giáng đòn chí tử vào cái ác, tính ích kỷ và tính chia rẽ, phong kín chúng vĩnh viễn trong nấm mồ của sự chết; nhờ đó, chủ đích của Đấng Sáng Tạo muôn loài cũng sẽ thành tựu.
459. The weight of responsibility upon humanity is great. We—the human race—are to strike the death blow to evil, selfishness and separateness. In doing so, we will be carrying out the Will of God. The Will of God, at this time, is intensely focussed on promoting the achievement of Right Human Relations.
459. Gánh nặng trách nhiệm đặt lên nhân loại thật lớn lao. Chúng ta—nhân loại—phải giáng đòn chí tử vào cái ác, tính ích kỷ và tính chia rẽ. Khi làm như vậy, chúng ta sẽ thực hiện Ý Chí của Thượng Đế. Vào lúc này, Ý Chí của Thượng Đế đang tập trung mãnh liệt vào việc thúc đẩy sự thành tựu những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người.
460. We might say that without the emergence of Right Human Relations, the survival of humanity would be greatly in question.
460. Chúng ta có thể nói rằng nếu những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người không xuất hiện, sự sống còn của nhân loại sẽ trở thành một dấu hỏi rất lớn.
No one can use this Invocation or prayer for illumination and for love without causing powerful changes in his own attitudes; his life intention, character and goals will be changed and his life will be altered and made spiritually useful.
Không ai có thể sử dụng bài Khấn Nguyện này, hay lời cầu nguyện cho sự soi sáng và tình thương này, mà không tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong thái độ của chính mình; ý hướng sống, tính cách và mục tiêu của y sẽ thay đổi, và đời sống của y sẽ biến đổi, trở nên hữu ích về mặt tinh thần.
461. The deeply transformative power of the Great Invocation is stated.
461. Quyền năng chuyển đổi sâu sắc của Đại Khấn Nguyện đã được khẳng định.
462. If we ever wondered how we might successfully transform our lives, we are given a method—the conscientious and understanding use of the Great Invocation.
462. Nếu chúng ta từng tự hỏi làm thế nào để chuyển đổi đời sống mình thành công, thì ở đây chúng ta được trao một phương pháp—sử dụng Đại Khấn Nguyện một cách tận tâm và thấu hiểu.
"As a man thinketh in his heart so is he" is a basic law in nature; the constant turning of the mind to the need for light and the prospect of illumination cannot and will not be ineffectual.
“Con người suy nghĩ trong lòng thế nào thì y là thế ấy” là một định luật căn bản trong tự nhiên; việc không ngừng hướng thể trí đến nhu cầu ánh sáng và triển vọng được soi sáng không thể và sẽ không vô hiệu.
463. Our lives change through the application of occult law. The implication for those who would use the Great Invocation, however, is that it must be thought and uttered ‘in the heart’. It must be used in a heart-felt manner, i.e., a soulful manner.
463. Đời sống chúng ta thay đổi qua việc áp dụng định luật huyền bí. Tuy nhiên, hàm ý đối với những ai muốn sử dụng Đại Khấn Nguyện là bài khấn nguyện ấy phải được suy tưởng và xướng lên “trong tâm”. Phải sử dụng bài khấn nguyện ấy bằng cả trái tim, nghĩa là theo cách thấm đượm linh hồn.
Also, as the work of the Triangles grows and the network spreads all over the Earth, the idea of a downpouring of light and goodwill (which is the immediate aspect of love required today among men) can be looked for;
Đồng thời, khi công việc của các Tam Giác phát triển và mạng lưới lan rộng khắp Trái Đất, có thể trông đợi ý tưởng về một sự tuôn đổ ánh sáng và thiện chí (vốn là phương diện trực tiếp của tình thương đang cần thiết giữa con người ngày nay);
464. Goodwill does not represent the fullness of love but it is the aspect of love immediately needed. Goodwill is “love in action”—the activity aspect of the third ray is combined with the second ray. Loving-understanding represents the combination of the intelligence aspect of the third ray with the second ray.
464. Thiện chí không biểu hiện sự trọn vẹn của tình thương, nhưng đó là phương diện tình thương cần có ngay lúc này. Thiện chí là “tình thương trong hành động”—phương diện hoạt động của cung ba kết hợp với cung hai. Sự thấu hiểu đầy tình thương biểu hiện sự kết hợp giữa phương diện trí thông tuệ của cung ba với cung hai.
465. Goodwill and loving-understanding—these are the great needs of humanity today and will produce global Right Human Relations—the means by which humanity may survive the perils which now menace it.
465. Thiện chí và sự thấu hiểu đầy tình thương—đây là những nhu cầu lớn lao của nhân loại ngày nay và sẽ tạo nên những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người trên toàn cầu—phương tiện giúp nhân loại có thể sống sót qua những hiểm nguy đang đe dọa mình.
nothing can prevent the appearance of the expected results, for the eternal law holds good.
không gì có thể ngăn cản những kết quả mong đợi xuất hiện, vì định luật vĩnh cửu luôn có hiệu lực.
466. As aspirants and disciples, we must count on the inevitable working out of the Good Law. To use the Great Invocation rightly is to work with occult power.
466. Là những người chí nguyện và đệ tử, chúng ta phải tin tưởng vào sự thực thi tất yếu của Định Luật Tốt Lành. Sử dụng Đại Khấn Nguyện đúng cách là làm việc với quyền năng huyền bí.
The illumination of men's [Page 169] minds, so that they can see things as they are, can apprehend right motives and the way to bring about right human relations, is now a major need;
Việc soi sáng thể trí [169] của con người, để họ có thể thấy sự vật đúng như thực trạng, nắm bắt những động cơ đúng đắn và cách tạo ra những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, hiện là một nhu cầu lớn;
467. The illumination of men’s minds will bring about an end to glamour.
467. Việc soi sáng thể trí của con người sẽ chấm dứt ảo cảm.
468. From the illumination of men’s minds will result:
468. Từ việc soi sáng thể trí của con người sẽ nảy sinh:
1. The ability to see things as they are. This will result in an un-glamored perspective.
1. Khả năng thấy sự vật đúng như thực trạng. Điều này sẽ đem lại một cách nhìn không bị ảo cảm che phủ.
2. The ability to apprehend right motives. This suggests the development of a better sense of values.
2. Khả năng lĩnh hội những động cơ đúng đắn. Điều này gợi đến sự phát triển một ý thức tốt hơn về các giá trị.
3. The ability to see the way in which Right Human Relations may be brought about.
3. Khả năng thấy được cách thiết lập những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người.
469. To the fulfilment of these particular needs, more widespread and deeper education is a necessary path.
469. Để đáp ứng những nhu cầu cụ thể này, giáo dục rộng khắp hơn và sâu sắc hơn là một con đường cần thiết.
the motivating power of goodwill is an essential to right action;
quyền năng thúc đẩy của thiện chí là điều thiết yếu cho hành động đúng đắn;
470. Illumination and goodwill—light and love—these chart the way forward.
470. Sự soi sáng và thiện chí—ánh sáng và tình thương—vạch ra con đường tiến tới.
given these two—light and love—it will not be many decades before the idea of right human relations will have become the ideal of the masses and will be rapidly taking form in all national, public and community affairs.
khi có được cả hai—ánh sáng và tình thương—thì chỉ trong vài thập niên, ý tưởng về những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người sẽ trở thành lý tưởng của quần chúng và nhanh chóng thành hình trong mọi công việc quốc gia, công cộng và cộng đồng.
471. DK hoped for progress within several decades. His words were written six decades ago.
471. Chân sư DK đã hy vọng có sự tiến bộ trong vòng vài thập niên. Những lời này của Ngài đã được viết cách đây sáu thập niên.
472. There have been many promising developments of a somewhat isolated nature. We must ask—“has the general attitude of humanity been sufficiently reoriented towards light and love?”
472. Đã có nhiều bước phát triển đầy hứa hẹn, tuy phần nào còn riêng lẻ. Chúng ta phải tự hỏi—“thái độ chung của nhân loại đã được định hướng lại đủ mức về phía ánh sáng và tình thương hay chưa?”
The history of humanity has been that of the apprehension and the use of ideas as applied to human living and as expressing forward moving concepts; today the two ideas needed are light upon our way and practical goodwill.
Lịch sử nhân loại là lịch sử nắm bắt và sử dụng những ý tưởng khi áp dụng chúng vào đời sống con người và biểu đạt những quan niệm tiến bộ; ngày nay, hai ý tưởng cần thiết là ánh sáng trên đường chúng ta đi và thiện chí thiết thực.
473. Let us emphasize the ideas which must be implemented today—
473. Chúng ta hãy nhấn mạnh những ý tưởng phải được thực hiện ngày nay—
1. “Light upon our way”
1. “Ánh sáng trên con đường của chúng ta”
2. Love
2. Tình thương
3. Practical Goodwill
3. Thiện Chí Thiết Thực
474. These ideas are certainly present and apprehended. It is sufficient application that lacks.
474. Những ý tưởng này chắc chắn đã hiện diện và đã được lĩnh hội. Điều còn thiếu là sự áp dụng đủ mức.
I would like now to touch upon some of the deeper meanings for you who are disciples or who are in training for discipleship. If I can do this, your meditation work may be useful in linking hierarchical intent with human aspiration; such should be the work of all disciples.
Giờ đây, Tôi muốn đề cập đến một số ý nghĩa sâu xa hơn dành cho các bạn là đệ tử hoặc đang được huấn luyện để đạt địa vị đệ tử. Nếu Tôi có thể làm được điều này, công việc tham thiền của các bạn có thể hữu ích trong việc nối kết ý định của Thánh đoàn với khát vọng của nhân loại; đó phải là công việc của mọi đệ tử.
475. Disciples stand between Hierarchy and humanity. This being the case, DK seeks to deepen our understanding of the Great Invocation so that we may become links between “hierarchical intent” and “human aspiration”.
475. Các đệ tử đứng giữa Thánh đoàn và nhân loại. Vì vậy, Chân sư DK tìm cách đào sâu sự thấu hiểu của chúng ta về Đại Khấn Nguyện để chúng ta có thể trở thành những mắt xích nối liền “ý định của Thánh đoàn” với “khát vọng của nhân loại”.
You will already have noted—as you have studied the Invocation—that the three major centres in our planet are linked up: Shamballa, "where the Will of God is known," the Hierarchy, where Christ rules and from whence He seeks closer contact among men, and the centre which we call Humanity.
Khi nghiên cứu bài Khấn Nguyện, hẳn các bạn đã nhận thấy ba trung tâm lớn trên hành tinh chúng ta được nối kết: Shamballa, “nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến”, Thánh đoàn, nơi Đức Christ cai quản và từ đó Ngài tìm cách tiếp xúc gần gũi hơn với nhân loại, cùng trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân loại.
476. The potential for interconnectedness between these three planetary centers is now greater than at any other time in planetary history.
476. Hiện nay, tiềm năng liên kết giữa ba trung tâm hành tinh này lớn hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử hành tinh.
477. We may remember that the “Saving Force” necessitates the cooperation and contribution of all three centers.
477. Chúng ta có thể nhớ rằng “Mãnh Lực Cứu Rỗi” đòi hỏi sự hợp tác và đóng góp của cả ba trung tâm.
478. The Christ seeks closer contact with men—so it appears, and for the right kind of contact among men.
478. Dường như Đức Christ tìm kiếm sự tiếp xúc gần gũi hơn với con người, và một hình thức tiếp xúc đúng đắn giữa con người với nhau.
There is a close relation between the first stanza and the final one; humanity's destiny is, as you know, to be the exponent of the mind of God, thus expressing active intelligence, motivated by love and implemented by will.
Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa khổ đầu và khổ cuối; như các bạn biết, vận mệnh của nhân loại là trở thành bên biểu đạt trí của Thượng đế, qua đó biểu hiện trí thông minh hoạt động, do tình thương thúc đẩy và ý chí thực hiện.
479. Man is “manas”. The expression of active intelligence is within the range of man’s capabilities, but it is an intelligence which must be “motivated by love and implemented by will”. Thus, man must contact and effectively access the two higher aspects of divinity
479. Con người là “manas”. Việc biểu lộ trí thông tuệ hoạt động nằm trong phạm vi khả năng của con người, nhưng đó là một trí thông tuệ phải “được tình thương thúc đẩy và ý chí đưa vào thực hiện”. Vì vậy, con người phải tiếp xúc và tiếp cận một cách hữu hiệu hai phương diện cao hơn của thiên tính
That time has not yet come, but if human timing is correct and right desire is potent enough, for the first time in human history this destiny can be publicly recognised and people can be swept increasingly and voluntarily into an activity which is particularly their own destiny.
Thời điểm ấy vẫn chưa đến, nhưng nếu nhân loại chọn đúng thời điểm và dục vọng đúng đắn đủ mạnh, thì lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, vận mệnh này có thể được công khai nhận biết, và con người có thể ngày càng tự nguyện cuốn vào một hoạt động vốn chính là vận mệnh riêng của họ.
480. Humanity has not yet consciously appreciated its destiny, but the opportunity is now present for it to be swept into the conscious expression of that destiny.
480. Nhân loại vẫn chưa nhận thức một cách có ý thức về vận mệnh của mình, nhưng hiện nay cơ hội đã có để nhân loại hòa vào sự biểu lộ có ý thức của vận mệnh ấy.
481. We note the requirements: correct timing and sufficiently potent “right desire”.
481. Chúng ta lưu ý những yêu cầu: đúng thời điểm và “ước muốn đúng đắn” đủ mạnh.
482. To the extent that each of us finds and expresses his individual spiritual purpose, we will contribute to the alignment of humanity with its destined purpose.
482. Mỗi chúng ta tìm ra và biểu đạt được mục đích tinh thần của riêng mình đến mức nào, thì sẽ đóng góp đến mức ấy vào sự chỉnh hợp của nhân loại với mục đích đã được định sẵn cho mình.
That again is one of the primary objectives of the Invocation; its steady use will bring about an inclusive view of spiritual development and impart a synthesis to human thinking which has hitherto been lacking.
Đó lại là một trong những mục tiêu chủ yếu của bài Khấn Nguyện; việc sử dụng đều đặn sẽ mang lại một cái nhìn bao gồm về sự phát triển tinh thần và đem đến cho tư duy nhân loại một tính tổng hợp vốn còn thiếu cho đến nay.
483. Another purpose of the Great Invocation is suggested. Humanity’s present view of spiritual development is very partial. The steady use of the Great Invocation will bring inclusivity to that view and synthesis into the realm of human thinking.
483. Một mục đích khác của Đại Khấn Nguyện được gợi ra. Quan điểm hiện nay của nhân loại về sự phát triển tinh thần còn rất phiến diện. Việc sử dụng Đại Khấn Nguyện một cách đều đặn sẽ đem tính bao gồm đến cho quan điểm ấy và đưa tính tổng hợp vào lĩnh vực tư duy nhân loại.
484. Inclusiveness is of the second ray and synthesis of the first.
484. Tính bao gồm thuộc cung hai và tính tổng hợp thuộc cung một.
485. Humanity must know what it is to do and why.
485. Nhân loại phải biết mình cần làm gì và vì sao.
As "light streams forth into the minds of men" the divine plan will be more widely sensed and the will-to-good will be more widely desired and invoked.
Khi “ánh sáng tràn vào thể trí con người”, Thiên Cơ thiêng liêng sẽ được cảm nhận rộng rãi hơn, và Ý Chí-hướng Thiện sẽ được mong muốn và khẩn cầu rộng rãi hơn.
486. To all this the work of the Triangles contributes. Those who will the good will, thereby, more easily recognize the Divine Plan and work for its implementation. Those who recognize the Divine Plan in increasing measure will fine their will-to-good strengthened. We are dealing with a virtuous circle.
486. Công việc của các Tam Giác đóng góp vào tất cả những điều này. Những ai quyết chí hướng thiện sẽ nhờ đó dễ nhận ra Thiên Cơ hơn và làm việc để thực hiện Thiên Cơ. Những ai ngày càng nhận ra Thiên Cơ sẽ thấy Ý Chí-hướng Thiện của mình được củng cố. Chúng ta đang đề cập đến một vòng tương tác tốt lành.
It is necessary always to remember that light is active energy and that love is also an energy.
Cần luôn nhớ rằng ánh sáng là năng lượng hoạt động và tình thương cũng là một năng lượng.
487. The experience of light and love impels towards the good. The union of the second and third aspects of divinity impels towards an appreciation of the first aspect and the accessing of that aspect.
487. Trải nghiệm ánh sáng và tình thương thúc đẩy con người hướng thiện. Sự hợp nhất của phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính thúc đẩy sự nhận thức về phương diện thứ nhất và việc tiếp cận phương diện ấy.
It is useful also to bear in mind that light and matter are synonymous terms scientifically [Page 170] and that the network of light is veritably substance, and therefore the carrier of goodwill.
Cũng nên ghi nhớ rằng, về mặt khoa học, ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa [170] và mạng lưới ánh sáng thực sự là chất liệu, do đó là phương tiện chuyên chở thiện chí.
488. Here is an occultly scientific statement.
488. Đây là một phát biểu mang tính khoa học huyền bí.
489. The network of light is substantial; it is real.
489. Mạng lưới ánh sáng có thực chất; nó có thật.
490. Via the substance which we call “light”, the energy of goodwill can be carried.
490. Thông qua chất liệu mà chúng ta gọi là “ánh sáng”, năng lượng thiện chí có thể được chuyên chở.
491. We come to realize that light and love in the form of goodwill are inseparable at humanity’s present stage of evolution.
491. Chúng ta dần nhận ra rằng ánh sáng và tình thương dưới hình thức thiện chí không thể tách rời nhau ở giai đoạn tiến hoá hiện nay của nhân loại.
That is why, consequently, it is necessary to realise that it is one network, composed of two types of energy.
Vì vậy, cần nhận ra rằng đó là một mạng lưới, gồm hai loại năng lượng.
492. This is something to be borne in mind by all Triangles workers.
492. Đây là điều mà tất cả những người hoạt động trong các Tam Giác cần ghi nhớ.
For this reason, the work of creating Triangles falls into two categories; some people work more easily with one type of energy than another;
Vì lý do này, công việc tạo ra các Tam Giác chia thành hai loại; một số người làm việc với loại năng lượng này dễ dàng hơn loại kia;
493. This differentiation in ease of working will occur according to ray inclination.
493. Sự khác biệt về mức độ dễ dàng trong công việc này sẽ tùy thuộc vào khuynh hướng cung.
it is interesting also to note that the Triangles of Light are basically more material than the Triangles of Goodwill because they are related to substance, to the energy which mankind wields familiarly, and to etheric matter. The Triangles of Goodwill are hierarchical in origin. I would ask you to ponder on this.
cũng thú vị khi lưu ý rằng về căn bản, các Tam Giác Ánh Sáng mang tính vật chất hơn các Tam Giác Thiện Chí vì chúng liên hệ với chất liệu, với năng lượng mà nhân loại vốn quen sử dụng, và với vật chất dĩ thái. Các Tam Giác Thiện Chí có nguồn gốc từ Thánh đoàn. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này.
494. Mind lies behind the Triangles of Light. They are more electrical in expression. Love underlies the Triangles of Goodwill; they are more magnetic in expression.
494. Trí tuệ đứng đằng sau các Tam Giác Ánh Sáng. Chúng biểu lộ tính điện nhiều hơn. Tình thương là nền tảng của các Tam Giác Thiện Chí; chúng biểu lộ từ tính nhiều hơn.
495. It is important to realize that through the creation of Triangles of Goodwill we are invoking hierarchical energy.
495. Điều quan trọng là nhận ra rằng qua việc tạo lập các Tam Giác Thiện Chí, chúng ta đang khẩn cầu năng lượng của Thánh đoàn.
496. The Triangles together carry the energy of heart and mind.
496. Các Tam Giác cùng nhau chuyên chở năng lượng của trái tim và trí tuệ.
However, in this world crisis, the origin of the network in both its aspects is hierarchical;
Tuy nhiên, trong cuộc khủng hoảng thế giới này, nguồn gốc của mạng lưới ở cả hai phương diện đều từ Thánh đoàn;
497. DK informs us of special conditions operative today. Today, the Hierarchy also impels the Triangles of Light as well as the Triangles of Goodwill.
497. Chân sư DK cho chúng ta biết về những điều kiện đặc biệt đang tác động ngày nay. Ngày nay, Thánh đoàn cũng thúc đẩy các Tam Giác Ánh Sáng cũng như các Tam Giác Thiện Chí.
the Masters work in substance (i.e., light) though not with matter;
các Chân sư làm việc trong chất liệu (tức ánh sáng), dù không làm việc với vật chất;
498. This means that the Masters work etherically but not in dense physical matter. The exponents of the other Lodge work in matter (and with the ethers as well).
498. Điều này có nghĩa là các Chân sư làm việc ở cấp độ dĩ thái, nhưng không trong vật chất hồng trần đậm đặc. Những người đại diện cho Đoàn kia làm việc trong vật chất (và cả với các loại dĩ thái).
the work to be done by Triangle members is consequently purely mental and hence exceedingly powerful—this of course when rightly done.
do đó, công việc mà các thành viên Tam Giác phải thực hiện hoàn toàn thuộc trí tuệ và vì thế vô cùng mạnh mẽ—dĩ nhiên là khi thực hiện đúng đắn.
499. DK is telling us that Triangles workers are not to work emotionally.
499. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng những người hoạt động trong các Tam Giác không nên làm việc bằng cảm xúc.
500. We can see that a degree of mental polarization is required if this work is to be “rightly done”.
500. Chúng ta có thể thấy rằng cần có một mức độ phân cực trí tuệ nếu muốn công việc này được “thực hiện đúng cách”.
501. We also learn that the mental body is essentially more powerful than the astral body as it embodies the influence of the will.
501. Chúng ta cũng học được rằng về bản chất, thể trí có quyền năng lớn hơn thể cảm dục vì nó hiện thân ảnh hưởng của ý chí.
"Energy follows thought" and the work of the Triangles is that of directing thought.
“Năng lượng đi theo tư tưởng”, và công việc của các Tam Giác là định hướng tư tưởng.
502. We see that the first and third aspects are combined in this work. The work of direction is the work of will.
502. Chúng ta thấy phương diện thứ nhất và thứ ba kết hợp trong công việc này. Công việc định hướng là công việc của ý chí.
503. All the higher centers will be involved in this work. The work of “directing thought” necessarily involves the ajna and throat centers. The power of the head center must underlie the whole process.
503. Tất cả các trung tâm cao hơn sẽ tham gia vào công việc này. Công việc “định hướng tư tưởng” tất yếu có sự tham gia của trung tâm ajna và trung tâm cổ họng. Quyền năng của trung tâm đầu phải làm nền tảng cho toàn bộ tiến trình.
504. In the work of the Triangles of Goodwill, the heart center is greatly involved, as would be natural.
504. Trong công việc của các Tam Giác Thiện Chí, trung tâm tim tham gia rất nhiều, như lẽ tự nhiên.
505. When performing the Triangles work, it can be useful to remember the chakric involvement and visualize the participation of the activated chakras.
505. Khi thực hiện công việc Tam Giác, việc ghi nhớ sự tham gia của các luân xa và hình dung sự tham gia của những luân xa đã được kích hoạt có thể hữu ích.
The work therefore falls into two categories: that of invoking divine aid (to use Christian phraseology) and then—through faith and acceptance—directing the energies of light and love (which have been invoked) to all men everywhere.
Vì vậy, công việc chia thành hai loại: khẩn cầu sự trợ giúp thiêng liêng (dùng cách nói của Kitô giáo), rồi—qua đức tin và sự chấp nhận—hướng các năng lượng ánh sáng và tình thương (đã được khẩn cầu) đến mọi người ở khắp nơi.
506. This is an important piece of practical advice:
506. Đây là một lời khuyên thực hành quan trọng:
1. First comes the invocation of light and love
1. Trước hết là khẩn cầu ánh sáng và tình thương
2. Then comes distribution of the light and love evoked
2. Sau đó là phân phối ánh sáng và tình thương đã được gợi lên
507. We note an important point: if light and love are to be properly distributed, an attitude of “faith and acceptance” is required.
507. Chúng ta lưu ý một điểm quan trọng: để phân phối ánh sáng và tình thương đúng cách, cần có thái độ “đức tin và sự chấp nhận”.
508. The work is simple but certain expedients help us perform it properly.
508. Công việc này giản dị, nhưng một số phương cách giúp chúng ta thực hiện đúng đắn.
They will, from the popular attitude, be registered as illumination and goodwill.
Theo quan điểm thông thường, người ta sẽ ghi nhận chúng như sự soi sáng và thiện chí.
509. Light and love (directed through faith and acceptance) will be registered by humanity and illumination and goodwill.
509. Nhân loại sẽ ghi nhận ánh sáng và bác ái (được dẫn hướng qua đức tin và sự chấp nhận) dưới dạng sự soi sáng và thiện chí.
It is a deeply scientific work but fundamentally simple.
Đây là một công việc mang tính khoa học sâu sắc nhưng về căn bản lại giản dị.
510. On this thought we must take our stand. There is vast occult power in this work and it simply must be propagated more widely than ever.
510. Chúng ta phải đứng vững trên tư tưởng này. Công việc này chứa đựng quyền năng huyền bí bao la và nhất thiết phải được phổ biến rộng rãi hơn bao giờ hết.
Invocation, prayer or aspiration, meditation—it matters not what word you use—by means of these three methods spiritual energies are tapped and brought into activity.
Khẩn cầu, cầu nguyện hay khát vọng, tham thiền—các bạn dùng từ nào cũng không quan trọng—qua ba phương pháp này, người ta khai thác các năng lượng tinh thần và đưa chúng vào hoạt động.
511. The three methods are—
511. Ba phương pháp ấy là—
1. Invocation
1. Khẩn cầu
2. Prayer or aspiration
2. Cầu nguyện hay khát vọng
3. Meditation
3. Tham thiền
By clear thinking, directed thought and mental perception, they can be made objects of human desire.
Bằng tư duy sáng suốt, tư tưởng có định hướng và tri giác trí tuệ, có thể khiến các năng lượng ấy trở thành đối tượng mong muốn của con người.
512. Humanity can be taught (through clear thinking, directed thought and mental perception) to desire the process of working with these three modalities of divine approach. This is already happening on a broad scale.
512. Có thể dạy nhân loại (thông qua tư duy sáng suốt, tư tưởng có định hướng và tri giác trí tuệ) mong muốn thực hành tiến trình vận dụng ba phương thức tiếp cận thiêng liêng này. Điều này đã và đang diễn ra trên quy mô rộng lớn.
Ideas are simply channels for new and desired divine energies; ideals are these ideas changed or reduced into thought forms, and thus presented to the public. Ideas telepathically become ideals, which is another phrasing of the old law, "energy follows thought."
Các ý tưởng chỉ là những kênh dẫn cho các năng lượng thiêng liêng mới mẻ và được mong muốn; các lý tưởng là những ý tưởng này đã được biến đổi hay thu giảm thành các hình tư tưởng, rồi trình bày với công chúng. Qua viễn cảm, các ý tưởng trở thành lý tưởng; đó là một cách diễn đạt khác của định luật cổ xưa, “năng lượng đi theo tư tưởng”.
513. Here is an excellent description of the relationship between ideas and ideals.
513. Đây là một mô tả tuyệt vời về mối quan hệ giữa ý tưởng và lý tưởng.
514. Ideas are divine energies but also channels for even higher divine energies.
514. Các ý tưởng là những năng lượng thiêng liêng, đồng thời cũng là những kênh dẫn cho các năng lượng thiêng liêng còn cao hơn nữa.
515. The third and sixth rays are related in the process through which ideals become thoughtforms.
515. Cung ba và cung sáu có liên hệ với nhau trong tiến trình qua đó các lý tưởng trở thành hình tư tưởng.
516. Ideals (having, naturally, a strong emotional impulsion) are more easily presented to the public than ideas.
516. Các lý tưởng (vốn đương nhiên có một xung lực cảm xúc mạnh mẽ) dễ được trình bày trước công chúng hơn các ý tưởng.
517. By means of vertical telepathy, ideas become ideals. We are speaking of what might be called ‘telepathic descent’.
517. Thông qua viễn cảm theo chiều dọc, các ý tưởng trở thành lý tưởng. Chúng ta đang nói đến điều có thể gọi là “sự giáng xuống qua viễn cảm”.
518. Ideas dwell in the formless worlds—formless form the perspective of the Solar Logos. Ideals take shape in the solar logoic worlds of form—the lower twenty one sub-planes of the cosmic physical plane.
518. Các ý tưởng tồn tại trong những thế giới vô hình tướng—vô hình tướng theo góc nhìn của Thái dương Thượng đế. Các lý tưởng thành hình trong những thế giới hình tướng của Thái dương Thượng đế—hai mươi mốt cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.
The work of the network of light and goodwill, focussed on the plane of mind, is the utilisation of this knowledge in order to affect the public consciousness.
Công việc của mạng lưới ánh sáng và thiện chí, tập trung trên cõi trí, là vận dụng tri thức này để tác động đến tâm thức công chúng.
519. We cannot avoid noticing the mental focus of the work of the network of light and goodwill.
519. Chúng ta không thể không nhận thấy sự tập trung trí tuệ trong công việc của mạng lưới ánh sáng và thiện chí.
520. Public consciousness and, thus, public opinion, are conditioned by the Triangles of Light and Goodwill. Work along this line is part of the most necessary ‘spiritual propaganda effort’ which is the responsibility at this time of all aspirants and disciples.
520. Các Tam Giác Ánh Sáng và Thiện Chí tác động lên tâm thức công chúng, và do đó, lên dư luận. Công việc theo hướng này là một phần của “nỗ lực truyền bá tinh thần” vô cùng cần thiết, vốn là trách nhiệm của mọi người chí nguyện và đệ tử vào lúc này.
These are points which should be simplified and gradually taught, and in the clearest language, to all Triangle members.
Đây là những điểm cần được giản lược và dần dần giảng dạy bằng ngôn ngữ rõ ràng nhất cho mọi thành viên Tam Giác.
521. Triangles members are doing vital work and, therefore, must know exactly what they are doing.
521. Các thành viên Tam Giác đang thực hiện một công việc thiết yếu, và vì vậy phải biết chính xác mình đang làm gì.
The work of the [Page 171] Triangles is to work with the minds of men, and with a factor which is used and exploited by leaders everywhere;
Công việc của các [171] Tam Giác là làm việc với thể trí con người và với một yếu tố mà các nhà lãnh đạo ở khắp nơi đều sử dụng và khai thác;
522. A more enlightened public is needed. Such a public will no longer become prey to demagoguery.
522. Cần có một công chúng sáng suốt hơn. Một công chúng như thế sẽ không còn trở thành con mồi của sự mị dân.
523. The factor used and exploited by leaders everywhere is public opinion.
523. Yếu tố mà các nhà lãnh đạo ở khắp nơi sử dụng và khai thác chính là dư luận.
the effort is to impress these minds with certain ideas which are necessary to human progress. People recognise the present darkness and misery, and consequently welcome light; men are tired of hating and fighting, and therefore welcome goodwill.
nỗ lực ở đây là ghi khắc vào những thể trí ấy một số ý tưởng cần thiết cho sự tiến bộ của nhân loại. Con người nhận biết bóng tối và khổ đau hiện tại, nên đón nhận ánh sáng; con người đã mệt mỏi vì thù hận và chiến đấu, nên đón nhận thiện chí.
524. DK is telling us that people everywhere are eminently ready for the right reception, understanding and practice of the Triangles work.
524. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng con người ở khắp nơi đã hết sức sẵn sàng để tiếp nhận, thấu hiểu và thực hành đúng đắn công việc Tam Giác.
525. Triangles workers are beneficently conditioning the thought atmosphere of the planet.
525. Những người hoạt động Tam Giác đang tác động một cách tốt lành lên bầu không khí tư tưởng của hành tinh.
Let me touch for a moment upon another point of view. Just as stanzas one and four are related, so stanza two and the final line are also related.
Xin hãy để Tôi đề cập đôi chút đến một quan điểm khác. Cũng như khổ một và khổ bốn có liên hệ với nhau, khổ hai và dòng cuối cũng có liên hệ.
526. DK is pointing out the interrelationships between stanzas, verses or sections of the Great Invocation.
526. Chân sư DK đang chỉ ra những mối liên hệ giữa các khổ, câu hoặc phần của Đại Khấn Nguyện.
The Plan will be restored on Earth through illumination and goodwill, and when that takes place Christ will return to Earth.
Thiên Cơ sẽ được phục hồi trên Trái Đất qua sự soi sáng và thiện chí, và khi điều đó diễn ra, Đức Christ sẽ trở lại Trái Đất.
527. Let us carefully examine the order in which these ideas are presented. The Plan must, to a degree, be restored on Earth (through illumination and goodwill) before the Christ can return to Earth.
527. Chúng ta hãy xem xét kỹ trình tự trình bày những ý tưởng này. Thiên Cơ phải được phục hồi trên Trái Đất đến một mức độ nào đó (thông qua sự soi sáng và thiện chí) trước khi Đức Christ có thể trở lại Trái Đất.
I would ask you not to misunderstand this phrase. Christ has never left the Earth and He said when bidding farewell to His disciples: "Lo, I am with you always, even until the end of the days." His Presence, however, is not recognised by the masses of men, and is only sensed and dimly hoped for by the orthodox religionist of all the world faiths.
Tôi mong các bạn đừng hiểu sai câu này. Đức Christ chưa bao giờ rời khỏi Trái Đất, và khi từ biệt các đệ tử, Ngài đã nói: “Này, Ta luôn ở cùng các ngươi, cho đến tận cùng các ngày.” Tuy nhiên, quần chúng nhân loại chưa nhận biết sự Hiện Diện của Ngài, và những tín đồ chính thống thuộc mọi tín ngưỡng thế giới chỉ cảm nhận và hy vọng một cách mơ hồ về sự Hiện Diện ấy.
528. DK makes a most important point—that the Christ is even now with us as He said He would be. His “Return” (if such a word may be used) represents the registration of His Presence by those who have forgotten it.
528. Chân sư DK nêu lên một điểm hết sức quan trọng—rằng ngay lúc này Đức Christ vẫn ở cùng chúng ta như Ngài đã nói. Sự “Trở Lại” của Ngài (nếu có thể dùng từ như vậy) biểu thị việc những người đã quên sự Hiện Diện của Ngài lại ghi nhận được sự Hiện Diện ấy.
529. One way of viewing His Return is as an intensification of the registration of His Presence. In this way He will find a new ‘home’ in the hearts and minds of men everywhere.
529. Một cách nhìn nhận sự Trở Lại của Ngài là xem đó như sự gia tăng mức độ ghi nhận sự Hiện Diện của Ngài. Theo cách này, Ngài sẽ tìm được một “mái nhà” mới trong tâm và trí của con người ở khắp nơi.
As I have earlier pointed out, the return of Christ will be expressed, in the first place, by an upsurging of the Christ consciousness in the hearts of men everywhere; its first expression will be goodwill.
Như Tôi đã chỉ ra trước đây, sự trở lại của Đức Christ trước hết sẽ biểu hiện bằng sự trỗi dậy của tâm thức Christ trong trái tim con người ở khắp nơi; biểu hiện đầu tiên của nó sẽ là thiện chí.
530. We are dealing with the various phases of the Return of the Christ.
530. Chúng ta đang bàn đến những giai đoạn khác nhau trong sự Trở Lại của Đức Christ.
531. Before the Great Lord can again walk opening among human beings, this upsurging of goodwill in the hearts of men everywhere must be achieved.
531. Trước khi Chúa Tể Vĩ Đại có thể lại công khai bước đi giữa nhân loại, thiện chí phải trỗi dậy trong tâm con người ở khắp nơi.
532. The widespread appearance and expression of the energy of goodwill will be one of the signs of His impending Reappearance.
532. Sự xuất hiện và biểu lộ rộng khắp của năng lượng thiện chí sẽ là một trong những dấu hiệu cho thấy sự Tái Lâm của Ngài đang đến gần.
533. We are speaking of the evidence that the Reappearance of the Christ is in process. The upsurging of goodwill is one of the first indications.
533. Chúng ta đang nói đến bằng chứng cho thấy sự Tái Lâm của Đức Christ đang diễn ra. Sự trỗi dậy của thiện chí là một trong những dấu hiệu đầu tiên.
In the second place, disciples everywhere will find themselves increasingly sensitive to His quality, His voice and His teaching; they will be "overshadowed" by Him in many cases, just as before, He overshadowed His disciple Jesus; through this overshadowing of disciples in all lands, He will duplicate Himself repeatedly. The effectiveness and the potency of the overshadowed disciple will be amazing.
Thứ hai, các đệ tử ở khắp nơi sẽ thấy mình ngày càng nhạy cảm với phẩm tính, tiếng nói và giáo huấn của Ngài; trong nhiều trường hợp, họ sẽ được Ngài “phủ bóng”, cũng như trước kia Ngài đã phủ bóng đệ tử Jesus của Ngài; qua sự phủ bóng các đệ tử ở mọi quốc gia này, Ngài sẽ nhiều lần tái hiện chính mình. Hiệu quả và sức mạnh của người đệ tử được phủ bóng sẽ thật đáng kinh ngạc.
534. This is an extraordinary piece of occult information—the manner in which the Christ will “duplicate Himself”.
534. Đây là một thông tin huyền bí phi thường—cách thức Đức Christ sẽ “nhân bội chính Ngài”.
535. There is a capacity through which a Master may work through His disciples. This the Christ can and will do on a far wider scale than will be possible to the normal Master.
535. Có một khả năng nhờ đó một Chân sư có thể hoạt động thông qua các đệ tử của Ngài. Đức Christ có thể và sẽ thực hiện điều này trên quy mô rộng lớn hơn nhiều so với khả năng của một Chân sư thông thường.
536. We are to be increasingly sensitive to and listen for—
536. Chúng ta cần ngày càng nhạy cảm và chú tâm lắng nghe—
1. The quality of the Christ
1. Phẩm tính của Đức Christ
2. The voice of the Christ
2. Tiếng nói của Đức Christ
3. The teaching of the Christ
3. Giáo huấn của Đức Christ
537. The process by means of which the Christ will duplicate Himself requires careful thought. We must achieve an openness to this possibility without succumbing to the glamors which may easily surround the idea.
537. Tiến trình qua đó Đức Christ sẽ nhân bội chính Ngài đòi hỏi sự suy xét kỹ lưỡng. Chúng ta phải cởi mở với khả năng này mà không sa vào những ảo cảm có thể dễ dàng bao quanh ý tưởng ấy.
538. We can see that the Christ as a Great Presence will be increasingly “with us”.
538. Chúng ta có thể thấy rằng Đức Christ, với tư cách một Đấng Hiện Diện Vĩ Đại, sẽ ngày càng “ở cùng chúng ta”.
One of the first experiments He made as He prepared for this form of activity was in connection with Krishnamurti. It was only partially successful.
Một trong những thử nghiệm đầu tiên Ngài thực hiện khi chuẩn bị cho hình thức hoạt động này có liên quan đến Krishnamurti. Thử nghiệm ấy chỉ thành công một phần.
539. In the potent expression of the initiate Krishnamurti, there were a number of distinct phases. The phase of the “overshadowing” did not, however, continue, so we are told, all the way through Krishnamurti’s last incarnation.
539. Trong sự biểu lộ đầy uy lực của điểm đạo đồ Krishnamurti, có một số giai đoạn riêng biệt. Tuy nhiên, theo những gì chúng ta được cho biết, giai đoạn “phủ bóng” đã không kéo dài suốt kiếp lâm phàm cuối cùng của Krishnamurti.
The power used by Him was distorted and misapplied by the devotee type of which the Theosophical Society is largely composed, and the experiment was brought to an end: it served, however, a most useful purpose.
Những người thuộc kiểu sùng tín, vốn chiếm phần lớn trong Hội Thông Thiên Học, đã làm sai lệch và áp dụng sai quyền năng Ngài sử dụng, nên thử nghiệm đã chấm dứt; tuy nhiên, nó đã phục vụ một mục đích vô cùng hữu ích.
540. The Hierarchy always engages in what we might call ‘testing experiments’. Some good was done through the experiment with Krishnamurti. No doubt the Christ learned much about what could be expected of the overshadowed disciple and from those surrounding the disciple.
540. Thánh đoàn luôn thực hiện điều chúng ta có thể gọi là “những thử nghiệm để kiểm chứng”. Thử nghiệm với Krishnamurti đã mang lại một số điều tốt lành. Chắc hẳn Đức Christ đã học được nhiều điều về những gì có thể trông đợi ở người đệ tử được phủ bóng và ở những người xung quanh người đệ tử ấy.
541. It is important for us to realize that devotion (so often masquerading as love) can greatly distort the expression of love.
541. Chúng ta cần nhận ra rằng lòng sùng tín (vốn rất thường khoác lốt tình thương) có thể làm méo mó nghiêm trọng sự biểu lộ của tình thương.
As a result of the war, mankind has been disillusioned;
Do chiến tranh, nhân loại đã vỡ mộng;
542. The word “disillusioned” is used in a positive sense. All of us (when thinking clearly) wish to be disabused of our illusions.
542. Từ “vỡ mộng” được dùng theo nghĩa tích cực. Tất cả chúng ta (khi tư duy sáng suốt) đều mong muốn thoát khỏi những ảo tưởng của mình.
devotion is no longer regarded as adequate or necessary to the spiritual life or its effectiveness.
lòng sùng tín không còn được xem là đủ hay cần thiết cho đời sống tinh thần hoặc hiệu quả của đời sống ấy.
543. DK has spoken of the new type of disciple—the practical mystic who utilizes both mind and heart in the attempt to create a better world, on the physical plane.
543. Chân sư DK đã nói về mẫu đệ tử mới—nhà thần bí thực tiễn vận dụng cả trí lẫn tâm trong nỗ lực tạo dựng một thế giới tốt đẹp hơn, trên cõi hồng trần.
The war was won, not through devotion or the attachment of millions [Page 172] of men to some prized ideal; it was won by the simple performance of duty, and the desire to safeguard human rights.
Chiến thắng trong chiến tranh không đến từ lòng sùng tín hay sự gắn bó của hàng triệu [172] người với một lý tưởng được trân quý nào đó; chiến thắng đến từ việc giản dị thực hiện bổn phận và mong muốn bảo vệ nhân quyền.
544. DK offers a deglamorized view of the war. It was won not only through the expression of idealistic Mars, but through submission to dutiful Saturn.
544. Chân sư DK đưa ra một cái nhìn đã loại bỏ ảo cảm về cuộc chiến. Chiến thắng không chỉ đến từ sự biểu lộ của Sao Hỏa đầy lý tưởng, mà còn từ sự tuân phục Sao Thổ coi trọng bổn phận.
545. In this “simple performance of duty” the mind controlled the astral body. Devotion was, to a degree, superseded by will.
545. Trong việc “đơn thuần thực hiện bổn phận” này, thể trí kiểm soát thể cảm dục. Ở một mức độ nào đó, ý chí đã thay thế lòng sùng tín.
Few men were heroes, as the newspapers stupidly proclaim. They were drafted and taught to fight and had to fight. It was a group recognition of duty.
Ít người là anh hùng như báo chí tuyên bố một cách ngu ngốc. Họ bị trưng tập, được huấn luyện chiến đấu và phải chiến đấu. Đó là một sự nhận biết bổn phận mang tính tập thể.
546. DK is throwing the light on what really happened during the Great War.
546. Chân sư DK đang soi sáng những gì thực sự đã xảy ra trong Đại Chiến.
547. The Great War was, significantly, a group expression. In recognizing “duty” the combatants (especially on the side of the Allies) were taught to recognize the Divine Plan and to respond to the Will of God—in however an attenuated manner.
547. Điều có ý nghĩa sâu sắc là Đại Chiến đã biểu lộ tính chất nhóm. Khi nhận biết “bổn phận”, những người tham chiến (đặc biệt là phía Đồng Minh) đã học cách nhận biết Thiên Cơ và đáp ứng Ý Chí của Thượng Đế—dù ở mức độ rất hạn chế.
When Christ again seeks to overshadow His disciples, a different reaction will be looked for. It is because of this that A.A.B. has so consistently belittled devotion and advocated spiritual independence. No devotee is independent; he is a prisoner of an idea or a person.
Khi Đức Christ một lần nữa tìm cách phủ bóng các đệ tử của Ngài, người ta sẽ mong đợi một phản ứng khác. Chính vì thế, A.A.B. đã luôn hạ thấp vai trò của lòng sùng tín và cổ vũ sự độc lập tinh thần. Không người sùng tín nào độc lập; y là tù nhân của một ý tưởng hay một con người.
548. A strictly devoted response to the Christ or to any Master is not presently desirable.
548. Hiện nay, một sự đáp ứng thuần túy sùng tín đối với Đức Christ hay bất kỳ Chân sư nào đều không phải là điều đáng mong muốn.
549. Free, independent, thinking men and women are required to do the future work. Prisoners of ideas or of persons are not required and would only hamper the required effort.
549. Công việc tương lai cần những người nam và nữ tự do, độc lập, biết suy nghĩ. Những tù nhân của ý tưởng hoặc con người không đáp ứng được yêu cầu này và chỉ cản trở nỗ lực cần thiết.
550. We must remember how strongly the Buddha advocated the same “spiritual independence”. He called it “self-reliance”.
550. Chúng ta phải nhớ Đức Phật đã mạnh mẽ cổ xúy chính “sự độc lập tinh thần” ấy đến mức nào. Ngài gọi đó là “tự lực”.
551. It is important that a sufficient number of disciples raise themselves to the level of the second degree at which time this imprisonment is overcome.
551. Điều quan trọng là phải có đủ số đệ tử tự nâng mình lên cấp độ điểm đạo thứ hai, khi ấy sự giam hãm này được khắc phục.
When Christ comes, there will be a flowering in great activity of His type of consciousness among men;
Khi Đức Christ đến, loại tâm thức của Ngài sẽ nở rộ thành hoạt động lớn lao giữa nhân loại;
552. We are to look for the flowering of the Christ Consciousness. Some degree of this flowering has already been seen, dating from the time, in 1966, when the Christ assumed the “vestures” of the Buddha.
552. Chúng ta cần trông đợi sự nở rộ của Tâm Thức Christ. Sự nở rộ này đã xuất hiện ở một mức độ nào đó, kể từ năm 1966, khi Đức Christ khoác lên những “pháp y” của Đức Phật.
when disciples are working under the recognition of the Christ, there will then come the time when He can again move among men in a public manner;
khi các đệ tử làm việc trong sự nhận biết Đức Christ, thời điểm sẽ đến để Ngài có thể một lần nữa công khai đi lại giữa con người;
553. There are a number of steps required before the Christ can opening move among men. The broad recognition of the nature and value of the disciples of the Christ and of His Masters is one of the chief requirements.
553. Có một số bước cần thực hiện trước khi Đức Christ có thể công khai đi lại giữa nhân loại. Việc nhận biết rộng rãi bản chất và giá trị của các đệ tử của Đức Christ và của các Chân sư thuộc Ngài là một trong những yêu cầu chủ yếu.
554. The Christ must establish Himself firmly within the hearts and minds of His disciples before He can express Himself publicly.
554. Đức Christ phải xác lập vững chắc sự hiện diện của Ngài trong tâm và trí các đệ tử trước khi Ngài có thể biểu lộ công khai.
He can be publicly recognised and thus do His work on the outer levels of living as well as upon the inner.
Ngài có thể được công chúng nhận biết và nhờ đó thực hiện công việc trên các cấp độ bên ngoài của đời sống cũng như các cấp độ bên trong.
555. This will happen when the disciples of the world succeed in performing their duties.
555. Điều này sẽ xảy ra khi các đệ tử trên thế giới thành công trong việc thực hiện bổn phận của mình.
556. The Hierarchy plans all impacts on humanity with great care. They operate with a supreme “skill-in-action”. They cannot be hurried into externalization.
556. Thánh đoàn hoạch định hết sức cẩn trọng mọi tác động lên nhân loại. Các Ngài hành động với “sự thiện xảo trong hành động” tối thượng. Không thể thúc ép Các Ngài ngoại hiện.
For these three events, which are connected with the inherent divinity in man, the Hierarchy is working and preparing, and it will essentially register another of the results of the successful use of the new Invocation to aid in this task of preparation.
Thánh đoàn đang làm việc và chuẩn bị cho ba sự kiện này, vốn gắn liền với thiên tính vốn có nơi con người; và về căn bản, Thánh đoàn sẽ ghi nhận đây là một kết quả nữa của việc sử dụng thành công bài Khấn Nguyện mới để hỗ trợ công việc chuẩn bị này.
557. The three events are—
557. Ba sự kiện ấy là—
1. The upsurging of goodwill in the hearts of men everywhere
1. Sự trỗi dậy của thiện chí trong tâm con người ở khắp nơi
2. The overshadowing by the Christ of prepared disciples
2. Việc Đức Christ phủ bóng các đệ tử đã được chuẩn bị
3. The flowering of the Christ consciousness and the actual, physical Reappearance of the Christ.
3. Sự nở rộ của tâm thức Christ và sự Tái Lâm thực sự của Đức Christ trên cõi hồng trần.
Those of you who are disciples will easily see the significance of the third stanza. Its meaning is that the Invocation as used by the Hierarchy (note this)
Những ai trong các bạn là đệ tử sẽ dễ dàng thấy thâm nghĩa của khổ thứ ba. Ý nghĩa của khổ này là bài Khấn Nguyện khi được Thánh đoàn sử dụng (hãy lưu ý điều này)
558. For the Hierarchy must use this Invocation daily as does the Christ…
558. Vì Thánh đoàn phải sử dụng bài Khấn Nguyện này hằng ngày, cũng như Đức Christ…
will help to bring about the evocation of the spiritual will in humanity and the recognition of the divine will by the Hierarchy.
sẽ giúp gợi lên ý chí tinh thần trong nhân loại và giúp Thánh đoàn nhận biết ý chí thiêng liêng.
559. The spiritual will within humanity is not yet sufficiently active. The discovery of Vulcan will probably coincide with its sufficient activation.
559. Ý chí tinh thần trong nhân loại vẫn chưa hoạt động đủ mạnh. Việc phát hiện Vulcan có lẽ sẽ trùng hợp với lúc ý chí ấy được khơi hoạt đầy đủ.
560. Just has humanity has far to go before achieving a true evocation of the spiritual will, the Hierarchy has not yet sufficiently contacted and implemented the divine will of Shamballa.
560. Cũng như nhân loại còn phải đi một chặng đường dài trước khi thực sự gợi lên được ý chí tinh thần, Thánh đoàn vẫn chưa tiếp xúc và thực thi đầy đủ ý chí thiêng liêng của Shamballa.
There is little that can be said to the general public anent this third stanza. They will interpret it in all simplicity as a prayer that the human will can be brought into conformity with the divine will, even though that may not be understood.
Có rất ít điều có thể nói với công chúng nói chung về khổ thứ ba này. Họ sẽ diễn giải một cách hết sức giản dị rằng đó là lời cầu nguyện để ý chí con người có thể hòa hợp với ý chí thiêng liêng, dù có thể họ không thấu hiểu ý chí ấy.
561. DK speaks of the limitations of present human understanding. If aspirants and disciples do not really understand the divine will, it cannot be expected that it will be understood by average human beings.
561. Chân sư DK nói về những giới hạn trong sự thấu hiểu hiện nay của con người. Nếu những người chí nguyện và đệ tử chưa thực sự thấu hiểu ý chí thiêng liêng, thì không thể trông đợi những người bình thường thấu hiểu được ý chí ấy.
Even from the angle of the Hierarchy, the divine will as it i essentially remains the great mystery,
Ngay cả từ góc nhìn của Thánh đoàn, ý chí thiêng liêng trong bản chất đích thực của nó vẫn là điều bí nhiệm lớn lao,
562. “The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara.” (R&I 241)
562.“Thiên Ý chưa được biết, chưa được thấy và chưa được nghe của Sanat Kumara.” (R&I 241)
but in spite of that They can and do "know and serve" the purpose; the purpose is that aspect of the divine will which seeks immediate expression on Earth.
nhưng bất chấp điều đó, Các Ngài có thể và thực sự “biết và phụng sự” thiên ý; thiên ý là phương diện của ý chí thiêng liêng đang tìm cách biểu hiện ngay trên Trái Đất.
563. We have an important progression of which we should take note:
563. Chúng ta có một trình tự quan trọng cần lưu ý:
1. Will
1. Ý Chí
2. Purpose
2. Thiên Ý
3. Plan
3. Thiên Cơ
564. From one perspective, we may relate Will to the provisioning of the entire final objective.
564. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể liên hệ Ý Chí với việc cung ứng mọi điều cần thiết cho toàn bộ mục tiêu tối hậu.
565. Purpose represents a portion of the divine will seeking immediately expression on Earth.
565. Thiên Ý biểu thị một phần của ý chí thiêng liêng đang tìm cách biểu lộ ngay trên Trái Đất.