Trích nội dung chương
In my last instruction I gave you three hints, and it might be useful if we briefly considered them. I will indicate to you the line along which light might come to you, as a group, at your particular point of development. Trong huấn thị trước, Tôi đã trao cho các bạn ba gợi ý, và có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta xem xét chúng một cách ngắn gọn. Tôi sẽ chỉ cho các bạn hướng mà ánh sáng có thể đến với các bạn, với tư cách một nhóm, ở mức độ phát triển cụ thể của mình.
d. The hints can be interpreted according to
d. Những gợi ý có thể được diễn giải tùy theo
i. The point of unfoldment of the interpreter
i. Mức độ khai mở của người diễn giải
ii. The ray type of the interpreter
ii. Loại cung của người diễn giải
8. We might presume that there will always be the following types of interpretations:
8. Chúng ta có thể giả định rằng sẽ luôn có những kiểu diễn giải sau đây:
a. The individual interpretation
a. Cách diễn giải ở cấp cá nhân
b. The group interpretation
b. Cách diễn giải ở cấp nhóm
c. The interpretation as it applies to humanity as a whole
c. Cách diễn giải áp dụng cho toàn thể nhân loại
d. The planetary interpretation
d. Cách diễn giải ở cấp hành tinh
In my last instruction I gave you three hints, and it might be useful if we briefly considered them. I will indicate to you the line along which light might come to you, as a group, at your particular point of development.
Trong huấn thị trước, Tôi đã trao cho các bạn ba gợi ý, và có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta xem xét chúng một cách ngắn gọn. Tôi sẽ chỉ cho các bạn hướng mà ánh sáng có thể đến với các bạn, với tư cách một nhóm, ở mức độ phát triển cụ thể của mình.
9. Always, a hint is meant to be an instrument to bring in the light.
9. Một gợi ý luôn nhằm làm công cụ đưa ánh sáng vào.
The first hint dealt with the changes wrought by the work done in the Ashrams which are enfolded in the one great Ashram of the Hierarchy. I said that the results of this would be that a closer relationship would be established with Sanat Kumara and His Council Chamber.
Gợi ý thứ nhất đề cập đến những thay đổi do công việc trong các ashram tạo nên, những ashram nằm trong một ashram vĩ đại duy nhất của Thánh đoàn. Tôi nói rằng kết quả của điều này sẽ là một mối quan hệ gần gũi hơn với Đức Sanat Kumara và Phòng Hội Đồng của Ngài.
10. The Ashrams have already moved “closer” to Sanat Kumara by refocusing principally on the buddhic levels of the spiritual triad.
10. Các ashram đã tiến “gần hơn” đến Sanat Kumara bằng cách tập trung trở lại chủ yếu trên các cấp độ Bồ đề của Tam Nguyên Tinh Thần.
11. The Masters will initiate new approaches according to the response to the Plan evidenced by their disciples.
11. Các Chân sư sẽ khởi xướng những cách tiếp cận mới tùy theo sự đáp ứng với Thiên Cơ mà các đệ tử của Các Ngài thể hiện.
This will be the result of the work done by the disciples of the world—in or out of incarnation.
Đây sẽ là kết quả của công việc do các đệ tử thế giới thực hiện—dù đang lâm phàm hay không.
12. It is clear that disciples have a very responsible role in promoting the changes in the ashramic work.
12. Rõ ràng các đệ tử giữ một vai trò mang trách nhiệm rất lớn trong việc thúc đẩy những thay đổi trong công việc của ashram.
13. The Masters adapt Their initiatives according to the work done by Their disciples.
13. Các Chân sư điều chỉnh những sáng kiến của Các Ngài tùy theo công việc mà các đệ tử của Các Ngài thực hiện.
I wonder how many of you pondered on the significance of the statement that the changes were brought about by the activity of the disciples; by this I mean not the senior initiates, but what you mean when you speak of a disciple.
Tôi tự hỏi có bao nhiêu người trong các bạn đã suy ngẫm về thâm nghĩa của lời khẳng định rằng hoạt động của các đệ tử tạo nên những thay đổi ấy; ở đây, Tôi không muốn nói đến các điểm đạo đồ cao cấp, mà đến những người các bạn hàm ý khi nói về một đệ tử.
14. The degree of responsibility placed upon us has greatly increased.
14. Mức độ trách nhiệm đặt lên chúng ta đã gia tăng rất nhiều.
You might naturally have assumed that the needed changes would be instituted by the Masters, or by the Christ, or even by Sanat Kumara. But it is not so. Why is this? What idea lies behind my flat statement?
Hẳn các bạn có thể tự nhiên cho rằng các Chân sư, hoặc Đức Christ, hay thậm chí Đức Sanat Kumara sẽ khởi xướng những thay đổi cần thiết. Nhưng không phải vậy. Tại sao lại thế? Ý tưởng nào nằm sau lời khẳng định dứt khoát của Tôi?
15. We are dealing with a necessary reversal of the sometimes dependent attitude of the disciple.
15. Chúng ta đang đề cập đến sự đảo ngược cần thiết đối với thái độ đôi khi còn lệ thuộc của đệ tử.
The disciples of the world are the intermediaries between the Hierarchy and Humanity. They are the product of immediate human endeavour; they set the pace for human unfoldment; they are therefore closely en rapport with the consciousness of the race of men.
Các đệ tử thế giới là những người trung gian giữa Thánh đoàn và Nhân loại. Họ là thành quả của nỗ lực nhân loại trực tiếp hiện thời; họ định nhịp cho sự khai mở của nhân loại; vì thế, họ giao cảm mật thiết với tâm thức loài người.
16. The role of disciples in the hierarchical enterprise is clearly delineated.
16. Vai trò của các đệ tử trong sự nghiệp của Thánh đoàn được phác họa rõ ràng.
17. Hierarchy does not set the pace for human development; the pace is in the hands of human beings, the foremost of which are the disciples. “By human hands and human feet.”
17. Thánh đoàn không định nhịp cho sự phát triển của nhân loại; nhịp độ ấy nằm trong tay con người, mà những người đi đầu là các đệ tử. “Bằng bàn tay và đôi chân con người.”
It is the quality of the new disciples, the rapidity with which men find their way into the ranks of the disciples, and the demand which the working disciples in the world make on behalf of humanity (which they know) that brings about the needed changes.
Chính phẩm tính của các đệ tử mới, tốc độ con người tìm được đường vào hàng ngũ đệ tử, và lời yêu cầu mà các đệ tử đang hoạt động trên thế giới đưa ra nhân danh nhân loại (mà họ biết) tạo nên những thay đổi cần thiết.
18. There are three factors that bring about the needed changes. Let us tabulate:
18. Có ba yếu tố tạo nên những thay đổi cần thiết. Chúng ta hãy lập bảng:
a. The quality of the new disciples
a. Phẩm tính của các đệ tử mới
b. The rapidity with which human beings become disciples
b. Tốc độ con người trở thành đệ tử
c. The demand of the working disciples on behalf of humanity
c. Sự thỉnh cầu của các đệ tử đang hoạt động thay cho nhân loại
The Masters are trained in the art of recognition, which is the consummation of the practice of observation;
Các Chân sư được rèn luyện trong nghệ thuật nhận biết, vốn là sự thành tựu viên mãn của việc thực hành quan sát;
19. Here is a most significant statement: observation develops into recognition. Recognition is not simply something that happens in a matter-of-fact way; it is an “art” and, therefore, must be cultivated.
19. Đây là một lời tuyên bố đầy thâm nghĩa: sự quan sát phát triển thành sự nhận biết. Sự nhận biết không đơn giản là điều diễn ra một cách hiển nhiên; đó là một “nghệ thuật” và vì vậy phải được trau dồi.
They stand ever ready to make the needed changes in the techniques or curriculum whenever human nature outgrows the old presentations of the ever-needed truths. The need is indicated to Them by Their disciples, and They then initiate the required changes.
Các Ngài luôn sẵn sàng thực hiện những thay đổi cần thiết trong kỹ thuật hay chương trình huấn luyện bất cứ khi nào bản chất con người phát triển vượt khỏi những cách trình bày cũ về các chân lý luôn cần thiết. Các đệ tử chỉ cho Các Ngài thấy nhu cầu, rồi Các Ngài khởi xướng những thay đổi cần có.
20. The Masters are alert to human growth. When humanity outgrows techniques or a curriculum, that growth is an invocation to the Masters. It is human progress (especially as indicated by the progress of the avant-guard—the disciples) which indicates to the Masters a need that must be met.
20. Các Chân sư luôn chú tâm đến sự trưởng thành của con người. Khi nhân loại phát triển vượt quá các kỹ thuật hay một chương trình huấn luyện, sự trưởng thành ấy là một lời khẩn cầu đến các Chân sư. Chính sự tiến bộ của nhân loại (đặc biệt được thể hiện qua sự tiến bộ của đội ngũ tiên phong—các đệ tử) chỉ cho các Chân sư thấy một nhu cầu cần phải đáp ứng.
When these occur at a time of crisis and are far-reaching in effect and are determining of conditions for several thousand years to come, then the entire Hierarchy meets in conclave. Upon [278] the basis of the light in this hint, you can for yourselves infer much.
Khi những thay đổi này diễn ra vào thời điểm khủng hoảng, có tác động sâu rộng và định hình hoàn cảnh trong nhiều ngàn năm tới, thì toàn thể Thánh đoàn họp mật nghị. Dựa trên [278] ánh sáng trong gợi ý này, các bạn có thể tự suy ra nhiều điều.
21. DK is telling us that, at the present time, great changes are in process. These changes will be determining for several thousand years to come; such a span of time is equivalent, perhaps, to two or more precessional Ages.
21. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng hiện nay những thay đổi lớn đang diễn ra. Những thay đổi này sẽ định hình vài nghìn năm sắp tới; khoảng thời gian ấy có lẽ tương đương với hai hoặc nhiều hơn các Kỷ Nguyên tuế sai.
22. In the year 2025 another hierarchical conclave is to occur. We can gather from what it said that it will be of the utmost importance.
22. Vào năm 2025, một cuộc mật nghị nữa của Thánh đoàn sẽ diễn ra. Từ những điều đã nói, chúng ta có thể suy ra rằng cuộc mật nghị ấy sẽ có tầm quan trọng tột bậc.
The second hint I gave indicated that mankind had evolved so well that today the goals and theories, the aims and determinations now expressed in human thinking and writing showed that the will aspect of divinity, in its first embryonic manifestation, was beginning to make its presence felt. Have you followed this hint?
Gợi ý thứ hai Tôi trao cho thấy nhân loại đã tiến hóa tốt đến mức ngày nay, những mục tiêu và lý thuyết, những mục đích và quyết tâm hiện được diễn đạt trong tư tưởng và văn phẩm của con người cho thấy phương diện ý chí của thiên tính, trong biểu hiện phôi thai đầu tiên, đã bắt đầu khiến người ta cảm nhận sự hiện diện của nó. Các bạn đã lần theo gợi ý này chưa?
23. DK’s method is clear; He offers potent thoughts to His chelas but does not explain them in entirety. First He lets the chelas work on them. Later, He returns with additional information, asking if the chelas had, themselves, extracted such information or at least some intimation of the same.
23. Phương pháp của Chân sư DK rất rõ ràng; Ngài đưa ra những tư tưởng đầy uy lực cho các đệ tử nhưng không giải thích trọn vẹn. Trước hết, Ngài để các đệ tử tự tìm hiểu những tư tưởng ấy. Sau đó, Ngài quay lại với thông tin bổ sung, hỏi xem chính các đệ tử đã rút ra được thông tin ấy hay ít nhất đã thoáng nhận ra điều tương tự hay chưa.
24. If the will aspect of humanity is, indeed, emerging, it would seem that we have another reason why much of DK’s most progressive teaching focuses on this first aspect of divinity.
24. Nếu phương diện ý chí của nhân loại quả thực đang xuất hiện, thì dường như chúng ta có thêm một lý do giải thích tại sao phần lớn giáo huấn tiến bộ nhất của Chân sư DK tập trung vào phương diện thứ nhất này của thiên tính.
25. The appearance of the will aspect serves as an invocation for more hierarchical illumination on this subject.
25. Sự xuất hiện của phương diện ý chí đóng vai trò như một lời khẩn cầu Thánh đoàn soi sáng thêm về chủ đề này.
Have you realised that the uprisings of the masses and their determination to overcome handicaps and all hindrances to a better world state are indicative of this?
Các bạn đã nhận ra rằng những cuộc nổi dậy của quần chúng và quyết tâm vượt qua những bất lợi cùng mọi trở ngại cho một tình trạng thế giới tốt đẹp hơn là dấu hiệu của điều này chưa?
26. These uprisings are a response to the Law of Freedom.
26. Những cuộc nổi dậy này là sự đáp ứng với Định luật Tự Do.
27. The influence of Uranus, Vulcan and Pluto promote the rising of the masses.
27. Ảnh hưởng của Sao Thiên Vương, Vulcan và Sao Diêm Vương thúc đẩy sự trỗi dậy của quần chúng.
28. These planets are all prominent at a time when humanity in significant numbers is to take the first initiation—ruled by the seventh ray (and thus the importance of Uranus).
28. Tất cả những hành tinh này đều nổi bật vào thời điểm một số lượng đáng kể người trong nhân loại sắp trải qua lần điểm đạo thứ nhất—do cung bảy cai quản (và do đó có tầm quan trọng của Sao Thiên Vương).
Do you grasp the fact that the revolutions of the past two hundred years are signs of the striving of the spirit aspect?
Các bạn có nắm bắt sự thật rằng những cuộc cách mạng trong hai trăm năm qua là dấu hiệu của sự nỗ lực vươn lên của phương diện tinh thần không?
29. Uranus is the planet of transformation and overthrow. The “urge to better conditions” is at work in these often violent processes.
29. Sao Thiên Vương là hành tinh của sự chuyển đổi và lật đổ. “Sự thôi thúc cải thiện hoàn cảnh” đang tác động trong những tiến trình thường mang tính bạo lực này.
30. The influence of Vulcan and Pluto always precede the taking of the first initiation (cf. EA 70).
30. Ảnh hưởng của Vulcan và Sao Diêm Vương luôn đi trước việc trải qua lần điểm đạo thứ nhất (xem EA 70).
That spirit is life and will;
Tinh thần ấy là sự sống và ý chí;
31. Life and will demonstrate in the rejection of the unacceptable.
31. Sự sống và ý chí biểu lộ qua việc khước từ những gì không thể chấp nhận.
the world today is showing signs of new life.
thế giới ngày nay đang cho thấy những dấu hiệu của sự sống mới.
32. If new “life” is emerging so is a fresh expression of the “will” for life and will are intimately allied.
32. Nếu “sự sống” mới đang xuất hiện thì một biểu hiện mới của “ý chí” cũng vậy, vì sự sống và ý chí gắn bó mật thiết với nhau.
Think this out in its modern and immediate implications and see the way that the world is going under the inspiration of the spiritual Will.
Hãy suy xét điều này trong những hàm ý hiện đại và trước mắt của nó, rồi nhìn xem thế giới đang đi theo hướng nào dưới cảm hứng của Ý Chí tinh thần.
33. The outworn forms cannot abide when the spiritual Will arises. Intelligent destruction in both the microcosmic and macrocosmic life is the prelude to a new type of freedom.
33. Những hình tướng lỗi thời không thể tồn tại khi Ý Chí tinh thần trỗi dậy. Sự hủy diệt sáng suốt trong cả sự sống tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa là bước mở đầu cho một loại tự do mới.
34. The disciples of the world are entering the Age of Aquarius under Saturn, the ruler of the atmic plane from which the stream of spiritual will emanates.
34. Các đệ tử trên thế gian đang bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình dưới ảnh hưởng của Sao Thổ, chủ tinh của cõi atma, nơi dòng ý chí tinh thần phát xạ.
The third hint I gave you was intended to suggest that it was the duty and the responsibility of the disciple, working under the inspiration of the Ashram, to "modify, qualify and adapt" the proposed plan of Shamballa (for which the Ashrams are responsible) in connection with the coming civilisation and culture.
Gợi ý thứ ba Tôi trao nhằm gợi ra rằng người đệ tử hoạt động dưới cảm hứng của ashram có bổn phận và trách nhiệm “điều chỉnh, định phẩm và thích ứng” Thiên Cơ do Shamballa đề xuất (mà các ashram chịu trách nhiệm) liên quan đến nền văn minh và văn hóa sắp tới.
35. The Divine Plan cannot be imposed; this Plan represents the Purpose in Shamballa and requires a keen awareness of current conditions in the three lower worlds so that plans may be made which facilitate the gradual appearance of that Purpose in these lower worlds.
35. Không thể áp đặt Thiên Cơ; Thiên Cơ này thể hiện Thiên Ý tại Shamballa và đòi hỏi sự nhận biết nhạy bén về những điều kiện hiện tại trong ba cõi thấp, để có thể lập những kế hoạch tạo thuận lợi cho sự xuất hiện dần dần của Thiên Ý ấy trong các cõi thấp này.
36. The Divine Purpose is represented by a first adaptation which is called the Divine Plan. The Divine Plan (for the formulation of which Shamballa and Hierarchy are responsible) is represented by the plans made by the disciples of the world. In making these intelligent and bridging plans, they “modify, qualify and adapt” the Plan proposed by Hierarchy and Shamballa.
36. Thiên Ý được thể hiện qua một sự điều chỉnh đầu tiên gọi là Thiên Cơ. Thiên Cơ (mà Shamballa và Thánh đoàn chịu trách nhiệm hoạch định) được thể hiện qua những kế hoạch do các đệ tử trên thế gian lập ra. Khi lập những kế hoạch sáng suốt làm nhịp cầu này, họ “sửa đổi, phú phẩm tính và điều chỉnh” Thiên Cơ do Thánh đoàn và Shamballa đề xuất.
37. The intentions of Hierarchy and Shamballa may be inspiring, but the outworking of these intentions requires from the disciples the utmost of adaptable intelligence and of loving, intelligent will—otherwise, the Divine Plan will not happen.
37. Những ý định của Thánh đoàn và Shamballa có thể khơi nguồn cảm hứng, nhưng việc thực hiện những ý định này đòi hỏi các đệ tử vận dụng tối đa trí tuệ linh hoạt cùng ý chí đầy tình thương và sáng suốt—nếu không, Thiên Cơ sẽ không thành hiện thực.
There is an "art of spiritual compromise" which must be learnt and which it is difficult to master, because it negates fanaticism, requires a trained and intelligent understanding of applied measures and truth, and also negates evasion of responsibility;
Có một “nghệ thuật thỏa hiệp tinh thần” cần phải học và khó thành thạo, vì nó phủ nhận sự cuồng tín, đòi hỏi sự thấu hiểu sáng suốt và có rèn luyện về những biện pháp cùng chân lý được áp dụng, đồng thời cũng phủ nhận việc trốn tránh trách nhiệm;
38. We are entering the realm of the fourth ray when we speak of the “art of spiritual compromise”.
38. Chúng ta đang bước vào lĩnh vực của cung bốn khi nói đến “nghệ thuật thỏa hiệp tinh thần”.
39. Let us ponder the effects of the “art of spiritual compromise”:
39. Chúng ta hãy suy ngẫm về những tác dụng của “nghệ thuật thỏa hiệp tinh thần”:
a. It negates fanaticism.
a. Nó phủ nhận sự cuồng tín.
b. It requires a trained and intelligent understanding of applied measures and truth. In other words, the disciple must learn what to do in what circumstances and with what ‘instruments’.
b. Nó đòi hỏi sự thấu hiểu sáng suốt và có rèn luyện về các biện pháp cùng chân lý được vận dụng. Nói cách khác, đệ tử phải học cách biết cần làm gì, trong hoàn cảnh nào và bằng những ‘công cụ’ nào.
c. It negates evasion of responsibility.
c. Nó phủ nhận việc trốn tránh trách nhiệm.
40. Through this “art of spiritual compromise” one becomes a ‘skillful friend of the emerging good’.
40. Qua “nghệ thuật thỏa hiệp tinh thần” này, mỗi người trở thành một ‘người bạn khéo léo của điều thiện đang xuất hiện’.
41. Fanatics care more about themselves that about the good that can be done. Fanaticism is the fierce preservation of a comforting ignorance.
41. Những người cuồng tín quan tâm đến bản thân hơn là đến điều thiện có thể thực hiện. Sự cuồng tín là việc quyết liệt bảo vệ một trạng thái vô minh đem lại cảm giác dễ chịu.
42. Only when the emerging values are really understood can one engage intelligently in the “art of spiritual compromise”.
42. Chỉ khi thực sự thấu hiểu những giá trị đang xuất hiện, người ta mới có thể vận dụng một cách sáng suốt “nghệ thuật dung hòa tinh thần”.
it involves also a comprehension of the time equation, of differing points in evolution, plus experience in the process of discarding the outgrown and unnecessary—no matter how good it may appear to be.
nó còn đòi hỏi sự lĩnh hội về mối tương quan thời gian, về những điểm tiến hóa khác nhau, cùng kinh nghiệm trong tiến trình loại bỏ những gì đã lỗi thời và không cần thiết—bất kể chúng có vẻ tốt đẹp đến đâu.
43. Let us tabulate further factors associated with the “art of spiritual compromise”: This art—
43. Chúng ta hãy tiếp tục liệt kê những yếu tố liên quan đến “nghệ thuật dung hòa tinh thần”: Nghệ thuật này—
a. Demands a comprehension of the time equation. The manifestation of the ideal is always subject to the factor of time. There is always resistance to the manifestation of the ideal. The right use of time overcomes as much of the resistance as possible, also preventing the frustration that arises if inevitable resistance is not carefully and intelligently considered.
a. Đòi hỏi sự thấu hiểu về yếu tố thời gian. Sự biểu hiện của lý tưởng luôn phụ thuộc vào yếu tố thời gian. Luôn có sự kháng cự đối với sự biểu hiện của lý tưởng. Việc sử dụng thời gian đúng đắn giúp vượt qua sự kháng cự ấy đến mức tối đa có thể, đồng thời ngăn ngừa cảm giác thất vọng nảy sinh khi không xem xét sự kháng cự tất yếu ấy một cách cẩn trọng và sáng suốt.
b. Demands a comprehension of different points in evolution. Not all human beings can assimilate the same truth to the same extent at the same time
b. Đòi hỏi sự thấu hiểu về những điểm tiến hoá khác nhau. Không phải mọi người đều có thể tiếp thu cùng một chân lý đến cùng một mức độ vào cùng một thời điểm
c. Demands the discarding of the outgrown and unnecessary. It is here that attachment to the virtues of the past may become problematic.
c. Đòi hỏi việc loại bỏ những gì đã lỗi thời và không còn cần thiết. Chính ở đây, sự quyến luyến những đức tính của quá khứ có thể trở thành vấn đề.
In these three hints lie much scope for individual education and expansion of consciousness, and it is in the right use of these hints that the disciple learns to serve with adequacy and precision and to render satisfactory service to the Hierarchy.
Trong ba gợi ý này có nhiều cơ hội để cá nhân học hỏi và mở rộng tâm thức; chính nhờ sử dụng đúng những gợi ý này mà người đệ tử học cách phụng sự đầy đủ, chính xác và phụng sự Thánh đoàn một cách thỏa đáng.
44. We have pondered three hints paraphrased as follows:
44. Chúng ta đã suy ngẫm về ba gợi ý, được diễn đạt lại như sau:
a. Changes in hierarchical life and approaches are largely due to the work of disciples
a. Những thay đổi trong đời sống và các cách tiếp cận của Thánh đoàn phần lớn là kết quả công việc của các đệ tử
b. The present condition of humanity shows evidence that the Spiritual Will is emerging
b. Tình trạng hiện nay của nhân loại cho thấy bằng chứng rằng Ý Chí Tinh Thần đang xuất hiện
c. Disciples of the world must “modify, qualify and adapt” the Plan as it emerges from both Shamballa and Hierarchy.
c. Các đệ tử trên thế giới phải “điều chỉnh, bổ sung phẩm tính và thích ứng” Thiên Cơ khi Thiên Cơ xuất lộ từ cả Shamballa lẫn Thánh đoàn.
I shall ever indicate to you when I give you a hint, and upon these hints I would ask you to concentrate. I shall not always elaborate as I have done today, for you must grow by solving your own problems.
Tôi sẽ luôn chỉ rõ khi trao cho các bạn một gợi ý, và Tôi muốn các bạn tập trung vào những gợi ý ấy. Tôi sẽ không phải lúc nào cũng giải thích cặn kẽ như hôm nay, vì các bạn phải tăng trưởng bằng cách tự giải quyết những vấn đề của mình.
45. If a hint seems obvious, it is an indication that the interpreter has not fathomed its depth and its extensions.
45. Nếu một gợi ý có vẻ hiển nhiên, đó là dấu hiệu cho thấy người diễn giải chưa thấu suốt chiều sâu và những ý nghĩa mở rộng của nó.
46. If DK did not indicate to us the impartation of a hint, we might overlook it entirely and, through lack of recognition and subsequent pondering, fail to extract its value.
46. Nếu Chân sư DK không chỉ rõ cho chúng ta biết rằng Ngài đang truyền đạt một gợi ý, chúng ta có thể hoàn toàn bỏ qua nó và, do không nhận ra rồi suy ngẫm về nó, không khai thác được giá trị của nó.
One of the difficulties which is associated with inaugurating [279] a new and more advanced attitude towards initiation is the offsetting of the idea that the initiate always knows all there is to know.
Một trong những khó khăn gắn liền với việc khởi xướng [279] một thái độ mới và tiến bộ hơn đối với điểm đạo là hóa giải ý tưởng cho rằng điểm đạo đồ luôn biết tất cả những gì có thể biết.
47. Imagining that complete knowledge is characteristic of an initiate does not correlate with the esoteric cosmo-conception. No matter how great the being, there is always more to learn.
47. Việc tưởng rằng tri thức toàn diện là đặc trưng của một điểm đạo đồ không phù hợp với quan niệm vũ trụ của huyền bí học. Dù sinh mệnh ấy vĩ đại đến đâu, vẫn luôn còn nhiều điều hơn nữa để học hỏi.
48. It might be well to remember here that a Master is also an initiate, and that a Master, too, does not know all there is to know. A Solar Logos is as a “crystal” when compared to certain cosmic Beings!
48. Ở đây, có lẽ nên nhớ rằng một Chân sư cũng là một điểm đạo đồ, và một Chân sư cũng không biết tất cả những gì có thể biết. Một Thái dương Thượng đế chỉ như một “tinh thể” khi so với một số Sinh Mệnh vũ trụ!
You need to remember that knowledge is associated with the factual world; it concerns the accumulated information of the ages; it is closely connected with memory and its subjective counterpart—recovery of past knowledge.
Các bạn cần nhớ rằng tri thức gắn liền với thế giới sự kiện; nó liên quan đến thông tin tích lũy qua các thời đại; nó liên hệ mật thiết với ký ức và đối phần chủ quan của ký ức—việc khôi phục tri thức quá khứ.
49. DK is making a distinction between knowledge and wisdom. A Master of the Wisdom is not a ‘Master of all Knowledge’. Masters interest Themselves in certain areas of the factual world and consult with one another in order to benefit from each other’s understanding.
49. Chân sư DK đang phân biệt tri thức với minh triết. Một Chân sư Minh Triết không phải là một ‘Chân sư của mọi Tri Thức’. Các Chân sư quan tâm đến một số lĩnh vực của thế giới sự kiện và tham khảo lẫn nhau để hưởng lợi từ sự thấu hiểu của nhau.
50. We are presented with a relationship between knowledge and memory and between knowledge and “recovery of past knowledge”. Vast stores of knowledge are available to the one who has mastered the art of recovery. And yet, “let there be no recollection and yet, let memory rule” (Rule II)
50. Chúng ta được trình bày mối quan hệ giữa tri thức và ký ức, cũng như giữa tri thức và “sự khôi phục tri thức quá khứ”. Những kho tri thức bao la luôn sẵn có cho người đã làm chủ nghệ thuật khôi phục. Tuy nhiên, “Đừng hồi tưởng, nhưng hãy để ký ức dẫn dắt.” (Quy luật II)
This means regaining again, consciously, all that the Ego has stored up as the result of many incarnations and many different experiences; it is related to the "knowledge petals" in the egoic lotus and to the concrete lower mind.
Điều này có nghĩa là lấy lại một cách hữu thức tất cả những gì Chân ngã đã tích lũy qua nhiều kiếp nhập thể và nhiều trải nghiệm khác nhau; nó liên hệ với những “cánh hoa tri thức” trong hoa sen chân ngã và với hạ trí cụ thể.
51. All of us are rich in unreclaimed knowledge, but such reclamation would not serve us until we have reached the point in our development at which such knowledge would not be an encumbrance.
51. Tất cả chúng ta đều có một kho tri thức phong phú chưa được thu hồi, nhưng việc thu hồi ấy sẽ chưa giúp ích cho chúng ta cho đến khi chúng ta đạt tới điểm phát triển mà tại đó tri thức ấy không còn là một gánh nặng.
52. Presumably the work of the “knowledge petals” and that of the mental unit are closely allied.
52. Có lẽ công việc của các “cánh hoa tri thức” và công việc của đơn vị hạ trí có liên hệ mật thiết với nhau.
Knowledge is that which brings about an effective working relation between this outer tier of petals, the concrete mind and the brain.
Tri thức là điều tạo nên mối quan hệ hoạt động hữu hiệu giữa tầng cánh hoa bên ngoài này, trí cụ thể và bộ não.
53. Here we have a most important definition of knowledge. True knowledge creates an effective working relationship between three factors.
53. Ở đây chúng ta có một định nghĩa hết sức quan trọng về tri thức. Tri thức chân chính tạo ra mối quan hệ hoạt động hữu hiệu giữa ba yếu tố.
54. The first phases of occult meditation attempt to create this working relationship. When the meditator at the outset of his efforts, aligns with the soul, the first alignment involves contacting the “light of the soul” and, hence, he contacts the knowledge petals.
54. Những giai đoạn đầu của tham thiền huyền môn nhằm tạo ra mối quan hệ hoạt động này. Khi người hành thiền chỉnh hợp với linh hồn ngay lúc bắt đầu nỗ lực, sự chỉnh hợp đầu tiên bao hàm việc tiếp xúc với “ánh sáng của linh hồn”, và do đó, y tiếp xúc với các cánh hoa tri thức.
55. We often hear of the alignment of soul—mind—brain, and it is this alignment that we are discussing. Naturally, there are deeper possible alignments.
55. Chúng ta thường nghe nói đến sự chỉnh hợp linh hồn—thể trí—bộ não, và chính sự chỉnh hợp này là điều chúng ta đang bàn đến. Dĩ nhiên, vẫn có thể có những sự chỉnh hợp sâu xa hơn.
It embodies the "intelligence equipment" of a soul in incarnation during any one life, dealing largely with the ephemeral, the transitory and the passing.
Nó hiện thân cho “trang bị trí thông minh” của một linh hồn đang nhập thể trong bất kỳ một kiếp sống nào, phần lớn đề cập đến những gì phù du, tạm thời và chóng qua.
56. Here is a further perspective on the meaning of knowledge.
56. Đây là một góc nhìn khác về ý nghĩa của tri thức.
57. While knowledge provides an indispensable foundation for spiritual development, it does not deal with the essential but, rather, with the World of Becoming which is ever transient.
57. Dù tri thức cung cấp một nền tảng không thể thiếu cho sự phát triển tinh thần, nó không đề cập đến điều cốt yếu mà đến Thế Giới Đang Trở Thành, vốn luôn vô thường.
58. Wisdom relates to principles which ‘forever endure’.
58. Minh triết liên quan đến những nguyên khí ‘tồn tại mãi mãi’.
The factor which is enduring in knowledge is simply its power to relate the past and the present, and thus produce effective, phenomenal living today.
Yếu tố bền vững trong tri thức đơn giản là năng lực liên kết quá khứ với hiện tại, qua đó tạo nên một đời sống hữu hiệu trong thế giới hiện tượng ngày nay.
59. Through knowledge, we learn from experience. One who does not learn cannot anticipate the probable pattern of the presented moment and thus, will act, unintelligently.
59. Thông qua tri thức, chúng ta học hỏi từ kinh nghiệm. Người không học hỏi sẽ không thể dự đoán mô hình có thể xảy ra của thời điểm đang hiện ra, và vì vậy sẽ hành động thiếu sáng suốt.
60. The energy structure of the present or presented moment is revealed by astrology.
60. Chiêm tinh học cho thấy cấu trúc năng lượng của thời điểm hiện tại, hay thời điểm đang hiện ra.
61. Through knowledge, the resources of the past are brought to bear on the present, leading to skill-in-action.
61. Thông qua tri thức, những nguồn lực của quá khứ được vận dụng vào hiện tại, dẫn đến sự khéo léo trong hành động.
Wisdom is the hallmark of the initiate, and this he possesses even if his practical knowledge of mundane details—historical, geographical, economic, and cultural—may leave much to be desired.
Minh triết là dấu hiệu đặc trưng của điểm đạo đồ, và y sở hữu minh triết ấy ngay cả khi kiến thức thực tiễn của y về những chi tiết thế tục—lịch sử, địa lý, kinh tế và văn hóa—còn nhiều thiếu sót.
62. The initiate understands the principles, the invariable truths lying behind and within manifested expression.
62. Điểm đạo đồ thấu hiểu các nguyên khí, những chân lý bất biến nằm đằng sau và bên trong sự biểu lộ đã biểu hiện.
63. The details of knowledge can always be gathered if there is sufficient interest, but the foundational essentials are not easily established in the human consciousness. The laws and principles substanding transient events are only understood after much exposure to the transient factors—and increasingly correct response to these factors.
63. Luôn có thể thu thập những chi tiết của tri thức nếu có đủ sự quan tâm, nhưng những điều cốt yếu làm nền tảng không dễ xác lập trong tâm thức con người. Chỉ sau nhiều lần tiếp xúc với các yếu tố nhất thời—và đáp ứng ngày càng đúng đắn với chúng—người ta mới thấu hiểu các định luật và nguyên khí làm nền cho những sự kiện nhất thời.
The disciples within a Master's Ashram can provide Him with what knowledge He may require, for they are drawn from different cultures and civilisations and among them can summarise the sum total of human knowledge at any one given time. This must not be forgotten.
Các đệ tử trong ashram của một Chân sư có thể cung cấp cho Ngài những kiến thức Ngài cần, vì họ xuất thân từ nhiều nền văn hóa và văn minh khác nhau, và cùng nhau có thể tổng hợp toàn bộ tri thức nhân loại vào bất cứ thời điểm nào. Không được quên điều này.
64. An Ashram is a global group (on outer and inner planes). Collectively its knowledge is extensive and through the knowledge of the members His Ashram the Master at the center becomes informed.
64. Một ashram là một nhóm toàn cầu (trên các cõi bên ngoài và bên trong). Xét chung toàn nhóm, tri thức của nhóm rất rộng lớn, và thông qua tri thức của các thành viên trong ashram của Ngài, Chân sư ở trung tâm trở nên am hiểu.
65. According to the Law of Economy, it would be foolish for the Master to attempt to acquire all this knowledge through His own, individual efforts.
65. Theo Định luật Tiết Kiệm, sẽ là thiếu khôn ngoan nếu Chân sư cố gắng thu nhận toàn bộ tri thức này chỉ bằng những nỗ lực cá nhân của chính Ngài.
A Master of the Wisdom always knows where to go for knowledge.
Một Chân sư Minh Triết luôn biết phải tìm tri thức ở đâu.
66. This is the ultimate efficiency. With Internet developments such as the emergence of powerful search engines like Google, we may be arriving at a small reflection of the Master’s ability.
66. Đây là hiệu quả tối ưu. Với những phát triển của mạng toàn cầu, chẳng hạn sự xuất hiện của các công cụ tìm kiếm mạnh mẽ như Google, có thể chúng ta đang tiến tới một sự phản ánh nhỏ bé về khả năng của Chân sư.
Knowledge and intelligence or mental polarisation must not be confounded in your minds.
Trong thể trí mình, các bạn không được nhầm lẫn tri thức với trí thông minh hay sự phân cực trí tuệ.
67. There is a distinction between knowledge and intelligence. This distinction is embodied by the contrast between the fifth ray (the ray of knowledge) and the third ray (the ray of intelligence).
67. Có sự khác biệt giữa tri thức và trí thông minh. Sự khác biệt này thể hiện qua sự tương phản giữa cung năm (cung tri thức) và cung ba (cung trí thông minh).
68. DK seems to equate intelligence with mental polarization. For the disciple, the term “mental polarization” has much to do with rendering the concrete mind an organ of soul light.
68. Dường như Chân sư DK xem trí thông minh tương đương với sự phân cực trí tuệ. Đối với đệ tử, thuật ngữ “sự phân cực trí tuệ” liên quan nhiều đến việc biến trí cụ thể thành một cơ quan của ánh sáng linh hồn.
69. Below there follow some useful contrasts between knowledge and wisdom.
69. Dưới đây là một số điểm đối chiếu hữu ích giữa tri thức và minh triết.
I might add to the above that knowledge deals with the ascertained and the effectual on the physical plane and in the three worlds; wisdom deals with inherent capacities and possibilities of spiritual expression.
Tôi có thể bổ sung vào những điều trên rằng tri thức đề cập đến những gì đã được xác định và có hiệu quả trên cõi hồng trần và trong ba cõi giới; minh triết đề cập đến những năng lực và khả năng biểu hiện tinh thần vốn có.
70. Knowledge is, of course, concrete when compared to wisdom.
70. Dĩ nhiên, tri thức mang tính cụ thể khi so với minh triết.
71. It would seem that wisdom is always potential in relation to the field of expression.
71. Dường như minh triết luôn mang tính tiềm năng trong tương quan với lĩnh vực biểu lộ.
72. Knowledge deals with that which has not only be proven but proven to work (i.e., it is ascertained and effectual, especially in relation to the lower eighteen sub-planes).
72. Tri thức đề cập đến những gì không chỉ đã được chứng minh mà còn được chứng minh là có tác dụng (nghĩa là đã được xác minh và có hiệu quả, đặc biệt trong tương quan với mười tám cõi phụ thấp).
73. Wisdom guides the expression of capacities and spiritual possibilities that are intended to work out on the physical plane and, in general upon the eighteen lower sub-planes. There are, however, higher types of knowledge as the cosmic physical plane is, after all, physical.
73. Minh triết hướng dẫn sự biểu lộ của các năng lực và khả năng tinh thần vốn được định hướng để thể hiện trên cõi hồng trần và, nói chung, trên mười tám cõi phụ thấp. Tuy nhiên, vẫn có những loại tri thức cao hơn, vì xét cho cùng, cõi hồng trần vũ trụ vẫn là hồng trần.
74. The factors of vision and of the heart are inherent in wisdom.
74. Những yếu tố của tầm nhìn và của tâm vốn có trong minh triết.
75. Wisdom cannot exist without the dimension of heart; knowledge can.
75. Minh triết không thể tồn tại nếu thiếu phương diện tâm; tri thức thì có thể.
Knowledge can be expressed in concepts and precepts; wisdom is revealed through ideas against which (very frequently) much mundane knowledge powerfully militates.
Tri thức có thể được diễn đạt bằng các khái niệm và lời giáo huấn; minh triết hiển lộ qua những ý tưởng mà rất nhiều tri thức thế tục thường chống lại một cách mạnh mẽ.
76. Wisdom pertains to the realm of the spiritual triad and especially to its higher two levels (and beyond). The realm of ideas begins with the buddhic plane even though in common usage, many types of thoughts are loosely called “ideas”.
76. Minh triết thuộc về lĩnh vực của tam nguyên tinh thần, đặc biệt là hai cấp độ cao hơn của tam nguyên ấy (và xa hơn nữa). Lĩnh vực ý tưởng bắt đầu từ cõi Bồ đề, dù trong cách dùng thông thường, nhiều loại tư tưởng cũng được gọi một cách lỏng lẻo là “ý tưởng”.
77. From this perspective wisdom is always ‘alive’, as the realm of solar livingness commences on the cosmic ethers of which our systemic buddhic plane is the lowest.
77. Từ góc nhìn này, minh triết luôn ‘sống động’, vì lĩnh vực của tính sống động thái dương bắt đầu trên các cõi dĩ thái vũ trụ, trong đó cõi Bồ đề của hệ mặt trời chúng ta là cõi thấp nhất.
78. We note that DK qualifies His statement by telling us that much “mundane knowledge” militates against the reception of ideas.
78. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK giới hạn phạm vi phát biểu của Ngài bằng cách cho chúng ta biết rằng nhiều “tri thức thế tục” chống lại việc tiếp nhận các ý tưởng.
The concrete mind often inhibits, as you well know, the free flow of ideas intuitively impulsed; it is with this free flow of the new ideas that the initiate is basically concerned, because it is ideas, their right application and interpretation, [280] which determine the future of humanity and of the planetary life.
Như các bạn biết rõ, trí cụ thể thường ngăn trở dòng ý tưởng tự do tuôn chảy do trực giác thúc đẩy; chính dòng tuôn chảy tự do của những ý tưởng mới này là mối quan tâm căn bản của điểm đạo đồ, bởi chính các ý tưởng, cùng việc áp dụng và diễn giải chúng một cách đúng đắn, [280] quyết định tương lai của nhân loại và của sự sống hành tinh.
79. Ideas propel human life towards its future, its destiny. Ideas, then, are of the future, whereas knowledge (ascertained and concretely formulated) is (regardless of its value) of the past.
79. Các ý tưởng thúc đẩy đời sống con người hướng tới tương lai, tới vận mệnh của nó. Như vậy, các ý tưởng thuộc về tương lai, còn tri thức (đã được xác minh và định hình cụ thể), bất kể giá trị của nó, thuộc về quá khứ.
80. Concrete knowledge (especially concerning mundane things) frequently becomes a form of mental clutter through which fresh ideas cannot penetrate from ‘above’.
80. Tri thức cụ thể (đặc biệt về những sự vật thế tục) thường trở thành một dạng tích tụ ngổn ngang trong thể trí, khiến những ý tưởng mới mẻ từ ‘trên cao’ không thể xuyên qua.
81. Although this is often the case, we need a balanced approach to knowledge and wisdom, otherwise we may run the risk of emphasizing one to the detriment of the other when both are necessary on the spiritual Path.
81. Dù điều này thường xảy ra, chúng ta cần một cách tiếp cận cân bằng đối với tri thức và minh triết; nếu không, chúng ta có thể có nguy cơ nhấn mạnh một bên đến mức gây tổn hại cho bên kia, trong khi cả hai đều cần thiết trên Đường Đạo tinh thần.
82. DK seems to be telling us that the capacity to reveal the future is focussed within the cosmic ethers (the vital body of the Solar Logos) and not within the rupa levels.
82. Dường như Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng khả năng mặc khải tương lai tập trung trong các cõi dĩ thái vũ trụ (thể sinh lực của Thái dương Thượng đế), chứ không ở các cấp độ hữu hình tướng.
83. We may gather the inference, from all the above, that the initiate’s approach to living is fresh and refreshing—spontaneous and ever new. He is constantly in touch with realms of energy which have not yet (in a cosmic physical sense) entered into concrete formulation.
83. Từ tất cả những điều trên, chúng ta có thể suy ra rằng cách điểm đạo đồ tiếp cận cuộc sống luôn tươi mới và đem lại sức sống—tự phát và luôn mới mẻ. Y liên tục tiếp xúc với những lĩnh vực năng lượng chưa đi vào sự định hình cụ thể (theo nghĩa hồng trần vũ trụ).
The first thing, therefore, that the disciple in preparation for initiation has to learn is the nature of ideas and their distinction from contacted thoughtforms—to express it simply, and therefore, from the complexity of the subject, inadequately.
Vì vậy, điều đầu tiên mà người đệ tử đang chuẩn bị cho điểm đạo phải học là bản chất của các ý tưởng và sự khác biệt giữa chúng với những hình tư tưởng mà y tiếp xúc—nói một cách đơn giản, và do tính phức tạp của đề tài, cũng là một cách diễn đạt chưa đầy đủ.
84. Our task it to distinguish ideas from thoughtforms. Of course, there are many subtleties to this process as there are thoughtforms which are excellent embodiments of ideas and in and through which ideas seem to live. The basic principle, however, is enunciated.
84. Nhiệm vụ của chúng ta là phân biệt các ý tưởng với các hình tư tưởng. Dĩ nhiên, tiến trình này có nhiều điểm tinh tế, vì có những hình tư tưởng là sự hiện thân tuyệt vời của các ý tưởng, và các ý tưởng dường như sống trong và qua những hình tư tưởng ấy. Tuy nhiên, nguyên khí căn bản đã được nêu rõ.
The primary task of the Master is to aid the disciple to develop the intuition, and at the same time, keep the mental perception in an active and wholesome state.
Nhiệm vụ chủ yếu của Chân sư là giúp đệ tử phát triển trực giác, đồng thời giữ cho khả năng nhận thức trí tuệ luôn hoạt động và lành mạnh.
85. Both buddhi and manas are required. This is one of the principles most important to understand in relation to the spiritual development of the modern, intelligent disciple.
85. Cả Bồ đề lẫn manas đều cần thiết. Đây là một trong những nguyên khí quan trọng nhất cần thấu hiểu về sự phát triển tinh thần của người đệ tử thông minh thời hiện đại.
86. We can see how the intensive study of the Formulas contributes exactly to this goal. They can only be studied with acute intelligence, but intellect, per se, is not sufficient.
86. Chúng ta có thể thấy việc nghiên cứu chuyên sâu các Công Thức đóng góp chính xác vào mục tiêu này như thế nào. Chỉ có thể nghiên cứu chúng bằng trí thông minh sắc bén, nhưng chính trí năng thì chưa đủ.
This is done, first of all, by enabling him to arrive at a right relation and correct evaluation between the abstract and the concrete realms of thought—those higher and lower aspects of the mind which are to the soul what the lower mind and the brain are to the personality. Think this out.
Trước hết, Ngài thực hiện điều này bằng cách giúp y thiết lập mối quan hệ đúng đắn và đánh giá chính xác giữa các lĩnh vực tư tưởng trừu tượng và cụ thể—những phương diện cao và thấp của thể trí có quan hệ với linh hồn tương tự như hạ trí và bộ não có quan hệ với phàm ngã. Hãy suy ngẫm kỹ điều này.
87. We are given an important analogy. Abstract and concrete realms of thought/soul = lower mind and brain/personality.
87. Chúng ta được đưa ra một phép tương đồng quan trọng. Các lĩnh vực tư tưởng trừu tượng và cụ thể/linh hồn = hạ trí và bộ não/phàm ngã.
88. It is clear from this analogy that the true soul stands ‘above’ and ‘interior to’ the abstract mind, just as the true personality is the center of energy which utilizes the concrete mind and brain.
88. Từ phép tương đồng này, rõ ràng linh hồn chân thực đứng ‘bên trên’ và ‘bên trong’ trí trừu tượng, cũng như phàm ngã chân thực là trung tâm năng lượng sử dụng trí cụ thể và bộ não.
89. Just as there can be no true personality expression without sufficient development of the concrete mind, so there can be no true soul expression without sufficient development of the abstract mind.
89. Cũng như không thể có sự biểu lộ phàm ngã chân thực nếu thiếu sự phát triển đầy đủ của trí cụ thể, không thể có sự biểu lộ linh hồn chân thực nếu thiếu sự phát triển đầy đủ của trí trừu tượng.
90. Whereas, however, the personality emerges upon the highest of the sub-planes of the concrete mind, can we say that the soul emerges on the highest sub-plane of the abstract mind?
90. Tuy nhiên, trong khi phàm ngã xuất hiện trên cõi phụ cao nhất của trí cụ thể, liệu chúng ta có thể nói rằng linh hồn xuất hiện trên cõi phụ cao nhất của trí trừu tượng không?
91. Perhaps, in a way, we can, if we determine that the true “soul” is the center of perceiving known as the spiritual triad.
91. Có lẽ, theo một cách nào đó, chúng ta có thể nói như vậy, nếu xác định rằng “linh hồn” chân thực là trung tâm tri giác được biết đến như tam nguyên tinh thần.
92. The soul is intended to utilize the abstract mind and yet to be spiritually ‘fed’ from ‘above’—i.e., from the buddhic plane and even the atmic.
92. Linh hồn có nhiệm vụ sử dụng trí trừu tượng, đồng thời được ‘nuôi dưỡng’ về mặt tinh thần từ ‘trên cao’—nghĩa là từ cõi Bồ đề và cả cõi atma.
93. The personality is intended to utilize the concrete mind and yet to be spiritually ‘fed’ from ‘above’, especially (and at first) by the two mental sub-planes immediately ‘above’ its focus on the fourth sub-plane of the mental plane.
93. Phàm ngã có nhiệm vụ sử dụng trí cụ thể, đồng thời được ‘nuôi dưỡng’ về mặt tinh thần từ ‘trên cao’, đặc biệt (và lúc đầu) từ hai cõi phụ trí tuệ ngay ‘bên trên’ tiêu điểm của nó trên cõi phụ thứ tư của cõi trí.
A true recognition of this distinction produces a new focussing of the life force within the soul which will, in the earlier stages of discipleship, work through the abstract mind and the concrete mind.
Việc thực sự nhận biết sự khác biệt ấy tạo ra một sự tập trung mới của mãnh lực sự sống trong linh hồn; trong những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử, mãnh lực này sẽ hoạt động qua trí trừu tượng và trí cụ thể.
94. We are considering that a disciple who truly recognizes the different between the abstract mind and the concrete mind will be able to experience a new focussing of the life force within the soul.
94. Chúng ta đang xem xét rằng một đệ tử thực sự nhận ra sự khác biệt giữa trí trừu tượng và trí cụ thể sẽ có thể trải nghiệm một sự tập trung mới của mãnh lực sự sống bên trong linh hồn.
95. Can we also say that a true recognition of the distinction between the mind and brain will produce a new focusing of forces within the personality? Certainly, through such a recognition and the ability to manage the two forms of expression (concrete mind and brain) the personality will become an effective and autonomous center of force.
95. Liệu chúng ta cũng có thể nói rằng việc thực sự nhận ra sự khác biệt giữa thể trí và bộ não sẽ tạo nên một sự tập trung mới của các mãnh lực bên trong phàm ngã không? Chắc chắn, thông qua sự nhận biết ấy và khả năng điều hành hai hình thức biểu lộ (trí cụ thể và bộ não), phàm ngã sẽ trở thành một trung tâm mãnh lực hữu hiệu và tự chủ.
96. It is important to recognize that in the earlier stages of discipleship the focus of the disciple’s work will be mental. He will work with the light through the abstract and concrete mind.
96. Cần nhận ra rằng trong những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử, trọng tâm công việc của đệ tử sẽ thuộc về trí tuệ. Y sẽ làm việc với ánh sáng thông qua trí trừu tượng và trí cụ thể.
97. Later a disciple will work more specifically with the buddhic principle and later still with the atmic.
97. Về sau, đệ tử sẽ làm việc chuyên biệt hơn với nguyên khí Bồ đề, và sau đó nữa là nguyên khí atma.
But the abstractions with which the disciple in training is then dealing are not in the nature of intuitions, and here is a point where confusion oft arises.
Nhưng những điều trừu tượng mà đệ tử đang được huấn luyện khi ấy đề cập đến không mang bản chất của trực giác, và đây là điểm thường nảy sinh nhầm lẫn.
98. This is a foundational point. The advancing student of esotericism is so deeply immersed in abstractions (i.e., abstract thoughts) that he fails to differentiate them from true intuitions or ideas.
98. Đây là một điểm nền tảng. Đạo sinh huyền bí học đang tiến bước đắm mình sâu trong những điều trừu tượng (nghĩa là những tư tưởng trừu tượng) đến mức không phân biệt được chúng với những trực giác hay ý tưởng chân thực.
They are merely the broad, general and universal perceptions and world inclusions which the gradually developing intelligence of mankind has registered and recognised and which the foremost thinkers of the race grasp with facility, but which seem so amazing to the neophyte.
Chúng chỉ là những nhận thức rộng lớn, tổng quát và phổ quát, cùng những quan niệm bao quát thế giới mà trí thông minh đang dần phát triển của nhân loại đã ghi nhận và nhận biết, và những nhà tư tưởng hàng đầu của nhân loại dễ dàng nắm bắt, nhưng lại có vẻ hết sức kỳ diệu đối với người sơ cơ.
99. DK is telling us that the abstractions encountered on the Path of Discipleship have already been registered by advanced humanity down the ages. These abstractions (long grasped and recognized) are not new. The intuition impresses the perceiver with that which is new.
99. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng những điều trừu tượng gặp trên Con Đường Đệ Tử đã được bộ phận tiến bộ của nhân loại ghi nhận qua các thời đại. Những điều trừu tượng này (đã được nắm bắt và nhận biết từ lâu) không phải là điều mới. Trực giác tạo ấn tượng nơi người tri giác bằng những gì mới mẻ.
They appear to him of such magnitude and importance (as objects of his enhanced vision) that he confounds them with ideas and their intuitive perception. He has not learned to discriminate between abstract thoughts and intuitive ideas. Here lies the crux of his problem.
Đối với y, chúng dường như có tầm vóc và tầm quan trọng lớn lao đến mức—với tư cách là những đối tượng trong tầm nhìn đã được nâng cao của y—y nhầm chúng với các ý tưởng và sự nhận thức trực giác về các ý tưởng ấy. Y chưa học được cách phân biện giữa những tư tưởng trừu tượng và những ý tưởng trực giác. Chính ở đây có điểm mấu chốt trong vấn đề của y.
100. These sentences are foundational to the disciple’s progress from manas to buddhi and for the fusion of the two in his consciousness.
100. Những câu này là nền tảng cho sự tiến bộ của đệ tử từ manas đến Bồ đề và cho sự dung hợp cả hai trong tâm thức của y.
101. Ideas live and touch the heart (and the heart in the head); they are impulsive, propelling towards an unprecipitated future. Abstract thoughts are analogous to Moses who could not enter the “Promised Land”. They can envision life within the “Land”, but they are not the same as the direct experience.
101. Các ý tưởng sống và chạm đến tâm (cũng như tâm trong đầu); chúng mang sức thúc đẩy, hướng tới một tương lai chưa ngưng tụ. Các tư tưởng trừu tượng tương tự như Moses, người không thể bước vào “Miền Đất Hứa”. Chúng có thể hình dung cuộc sống bên trong “Miền Đất” ấy, nhưng chúng không đồng nhất với trải nghiệm trực tiếp.
Ideas are other than this, as far as the initiate is concerned; they deal primarily with that which will eventually be, and are those formative new spiritual and creative impulses
Đối với điểm đạo đồ, ý tưởng là điều khác với những gì vừa nói; chúng chủ yếu đề cập đến những gì cuối cùng sẽ hiện hữu, và là những xung lực tinh thần và sáng tạo mới có tính tạo hình,
102. We recall that it is the possession of the buddhic faculty which makes the disciple creative in the hierarchical sense of the word.
102. Chúng ta nhớ rằng chính việc sở hữu năng lực Bồ đề khiến đệ tử có tính sáng tạo theo nghĩa mà Thánh đoàn dùng từ này.
103. Ideas are living, impulsive perceptions of a future in process of precipitation.
103. Các ý tưởng là những tri giác sống động, mang sức thúc đẩy về một tương lai đang trong tiến trình ngưng tụ.
which will supersede the old and build the "new house" in which humanity will live;
sẽ thay thế cái cũ và xây dựng “ngôi nhà mới” nơi nhân loại sẽ sống;
104. True ideas always bring something fresh and re-visioning. They are, in a sense, Uranian in nature, whereas the finest of established abstract thoughtforms are merely Saturnian.
104. Các ý tưởng chân thực luôn mang đến điều gì đó tươi mới và một tầm nhìn đổi mới. Theo một nghĩa nào đó, chúng mang bản chất Sao Thiên Vương, trong khi những hình tư tưởng trừu tượng tinh túy nhất đã được xác lập chỉ mang bản chất Sao Thổ.
105. Ideas supply the experience of that realm about which abstract thought speculates.
105. Các ý tưởng cung cấp trải nghiệm về lĩnh vực mà tư tưởng trừu tượng suy đoán.
cycle after cycle and civilisation after civilisation, the fresh stream of inflowing ideas have conditioned the dwelling places of man and his mode of life and expression; through the medium of these ever-living and ever-appearing ideas, humanity passes on to [281] something better and greater and more appropriate to the life of the slowly manifesting divinity.
hết chu kỳ này đến chu kỳ khác, hết nền văn minh này đến nền văn minh khác, dòng ý tưởng mới mẻ tuôn vào đã định hình nơi cư ngụ của con người cùng cách sống và biểu hiện của họ; qua trung gian những ý tưởng luôn sống động và không ngừng xuất hiện này, nhân loại tiến đến [281] điều tốt đẹp hơn, vĩ đại hơn và thích hợp hơn với sự sống của thiên tính đang chậm rãi biểu hiện.
106. The thought of the stream of ideas is an aid in understanding what they are. The new is ever on its way; it can be apprehended by the consciousness which is rightly and sensitively aligned. The living future is ever trying to impress and recondition conditions—the form of things as they are.
106. Quan niệm về dòng ý tưởng giúp chúng ta thấu hiểu chúng là gì. Cái mới luôn đang đến; tâm thức được chỉnh hợp đúng đắn và nhạy bén có thể nắm bắt nó. Tương lai sống động luôn tìm cách tạo ấn tượng và định hình lại các điều kiện—hình tướng hiện có của sự vật.
107. Our task as disciples is to become aware of this potentially impressive stream and to receive the energy of this stream. Once received, the energy can be embodied in thought.
107. Nhiệm vụ của chúng ta với tư cách đệ tử là nhận biết dòng chảy có khả năng tạo ấn tượng này và tiếp nhận năng lượng của nó. Một khi đã tiếp nhận, chúng ta có thể thể hiện năng lượng ấy trong tư tưởng.
108. The initiate lives in a state of attunement with this stream. His powers of mental formulation do not usurp the initial impact, but only come into activity after impression has been registered. This is the proper order.
108. Điểm đạo đồ sống trong trạng thái hòa điệu với dòng chảy này. Những năng lực định hình bằng trí tuệ của y không lấn át tác động ban đầu, mà chỉ bắt đầu hoạt động sau khi ấn tượng đã được ghi nhận. Đây là trình tự đúng đắn.
Ideas, when intuitively contacted by the disciple or initiate, via the antahkarana, must be brought consciously down to abstract levels of thinking where (expressing it symbolically) they form the blueprints, prior to the institution of the creative process which will give them phenomenal existence and being.
Khi đệ tử hoặc điểm đạo đồ tiếp xúc với các ý tưởng bằng trực giác, qua antahkarana, y phải hữu thức đưa chúng xuống các cấp độ tư duy trừu tượng, nơi chúng tạo thành những bản thiết kế—nói theo nghĩa biểu tượng—trước khi khởi đầu tiến trình sáng tạo sẽ đem lại cho chúng sự tồn tại và hiện hữu trong thế giới hiện tượng.
109. The advancing disciple really understands the difference between form and formlessness, even when the forms concerned are very subtle.
109. Đệ tử đang tiến bước thực sự thấu hiểu sự khác biệt giữa hình tướng và trạng thái vô hình tướng, ngay cả khi những hình tướng đang xét hết sức vi tế.
110. We know that “blueprints” are forms. They are abstract because they delineate and indicate but do not fulfill. They indicate the detail of concrete manifestation but are not, themselves, that manifestation. They suggest the form of that which is to be manifested without being that form; they are expressions of intended, concrete relationships.
110. Chúng ta biết rằng các “bản thiết kế” là những hình tướng. Chúng mang tính trừu tượng vì chúng phác họa và chỉ dẫn nhưng không thực hiện. Chúng chỉ ra chi tiết của sự biểu hiện cụ thể, nhưng bản thân chúng không phải là sự biểu hiện ấy. Chúng gợi ra hình tướng của điều sẽ biểu hiện mà không phải chính hình tướng ấy; chúng là sự biểu lộ của những mối quan hệ cụ thể đã được dự định.
111. It is interesting that they are ‘blue-prints’, considering that buddhic, from one perspective, is blue.
111. Thật thú vị khi chúng là những bản thiết kế ‘xanh’, xét rằng từ một góc nhìn, Bồ đề có màu xanh.
112. In terms of this section, blueprints are not “phenomenal”; they, as it were, ‘hold the form’ which is intended to be expressed phenomenally.
112. Trong phạm vi phần này, các bản thiết kế không mang tính “hiện tượng”; có thể nói, chúng ‘giữ hình tướng’ dự định sẽ biểu lộ trong thế giới hiện tượng.
113. Creative processes begin (for purposes of this discussion) on the buddhic plane; the abstract blue prints are intended to guide and hold within due bounds the impending creative process; the creative process is instituted on more concrete planes by that aspect of mind which works creatively with concretions.
113. Các tiến trình sáng tạo bắt đầu trên cõi Bồ đề (trong phạm vi cuộc thảo luận này); các bản thiết kế trừu tượng có nhiệm vụ hướng dẫn và giữ tiến trình sáng tạo sắp diễn ra trong những giới hạn thích đáng; trên các cõi cụ thể hơn, phương diện của thể trí làm việc sáng tạo với những gì đã định hình cụ thể sẽ khởi lập tiến trình sáng tạo.
114. The impulsion comes from buddhi; abstract mind serves as a kind of mediator; the more concrete creative processes effect the institution of the creative buddhic ideas. Such ideas are “creative” because they impel the institution of the new in the lower worlds of form. They create new and Plan-intended combinations.
114. Sức thúc đẩy đến từ Bồ đề; trí trừu tượng đóng vai trò như một trung gian; các tiến trình sáng tạo cụ thể hơn thực hiện việc đưa các ý tưởng Bồ đề sáng tạo vào hiện hữu. Những ý tưởng ấy có tính “sáng tạo” vì chúng thúc đẩy việc thiết lập cái mới trong các cõi hình tướng thấp. Chúng tạo ra những tổ hợp mới theo dự định của Thiên Cơ.
I would have you, therefore, remember the three factors:
Vì vậy, Tôi muốn các bạn ghi nhớ ba yếu tố:
115. DK is helping us become as clear as possible in our understanding of these distinctions, so important in the understanding of the creative process.
115. Chân sư DK đang giúp chúng ta thấu hiểu rõ ràng nhất có thể những sự phân biệt này, vốn rất quan trọng để thấu hiểu tiến trình sáng tạo.
1. The Intuition which contacts and reveals new ideas.
1. Trực giác........................ tiếp xúc và mặc khải những ý tưởng mới.
116. The Intuition deals with the revelation of the new.
116. Trực giác liên quan đến sự mặc khải cái mới.
117. It can be stimulated by such questions as,
117. Có thể kích thích trực giác bằng những câu hỏi như:
a. “What wants to happen here?”
a. “Điều gì đang muốn xảy ra ở đây?”
b. “What new possibilities lie beyond the present situation or condition?”
b. “Những khả năng mới nào nằm ngoài tình thế hay tình trạng hiện tại?”
c. “How can all this be moved forward in the best way?”
c. “Làm thế nào để đưa tất cả những điều này tiến lên theo cách tốt nhất?”
118. We can see that, in relation to the intuition, the factor of the ideal comes into play.
118. Chúng ta có thể thấy rằng, trong mối liên hệ với trực giác, yếu tố lý tưởng bắt đầu phát huy tác dụng.
2. The Abstract World in which they are given form and substance and which is to the thoughtform eventually created what the etheric body is to the dense physical vehicle.
2. Thế giới Trừu tượng............. nơi chúng nhận hình tướng và chất liệu; thế giới này có quan hệ với hình tư tưởng cuối cùng được tạo ra tương tự như thể dĩ thái có quan hệ với hiện thể xác đậm đặc.
119. This is a superb analogy—likening the abstract formulation to the function of the etheric body: the abstract pattern/the thoughtform to be created = the etheric body/dense physical vehicle.
119. Đây là một phép tương đồng tuyệt vời—so sánh sự định hình trừu tượng với chức năng của thể dĩ thái: mô hình trừu tượng/hình tư tưởng sẽ được tạo ra = thể dĩ thái/hiện thể xác đậm đặc.
120. Ideas do achieve a kind of substantial form on the higher mental plane.
120. Quả thực, các ý tưởng có được một dạng hình tướng có chất liệu trên cõi thượng trí.
121. The etheric body is living and propulsive when compared to the dense physical vehicle. We are given the suggestion that the same may be said of abstract thought and its patterning tendencies in relation to the world of concrete thought.
121. Thể dĩ thái sống động và có sức thúc đẩy khi so với hiện thể xác đậm đặc. Chúng ta được gợi ý rằng cũng có thể nói như vậy về tư tưởng trừu tượng và những khuynh hướng định hình theo mô hình của nó trong mối liên hệ với thế giới tư tưởng cụ thể.
122. We note, interestingly, that DK speaks of the “Abstract World” and not, initially, of abstract thought.
122. Điều thú vị là chúng ta nhận thấy Chân sư DK nói đến “Thế Giới Trừu Tượng”, chứ ban đầu không nói đến tư tưởng trừu tượng.
123. This “Abstract World” may, actually, include the higher reaches of the spiritual triad as well as the abstract mind.
123. Thực ra, “Thế Giới Trừu Tượng” này có thể bao gồm cả những miền cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần cũng như trí trừu tượng.
3. Concrete Thought producing the concretising of the thoughtform and thus making the idea available to mankind.
3. Tư tưởng Cụ thể................ làm cho hình tư tưởng trở nên cụ thể, qua đó đưa ý tưởng vào tầm sử dụng của nhân loại.
124. Concrete thought concretizes the pattern proposed by abstract thought and brought into impulsive revelation by the intuition.
124. Tư tưởng cụ thể cụ thể hóa mô hình do tư tưởng trừu tượng đề xuất và do trực giác thúc đẩy để đi vào sự mặc khải.
125. When a human being lives intuitively, he lives in a state of inspiration. He is fed from ‘above’. His life in form takes on a new vibrancy, a new livingness.
125. Khi một người sống bằng trực giác, y sống trong trạng thái cảm hứng. Y được nuôi dưỡng từ “bên trên”. Đời sống trong hình tướng của y có thêm một sức rung động mới, một sức sống mới.
Here, in this simple summation, is expressed for you the process which the disciple will be able to follow when he is initiate;
Bản tổng kết đơn giản này trình bày cho các bạn tiến trình mà đệ tử sẽ có thể noi theo khi trở thành điểm đạo đồ;
126. The initiate has mastered the descent from intuition to concrete though via the patterning of the “abstract world”.
126. Điểm đạo đồ đã làm chủ sự giáng hạ từ trực giác đến tư tưởng cụ thể thông qua sự định hình theo mô hình của “thế giới trừu tượng”.
127. Contact with the world of ideas is electric in nature when compared to contact with the abstract world—the world of abstract thought.
127. Sự tiếp xúc với thế giới ý tưởng có bản chất điện khi so với sự tiếp xúc với thế giới trừu tượng—thế giới tư tưởng trừu tượng.
as each initiation is taken, the scope of the idea steadily increases, and its potency also, so that it might be said that the initiate—as he progresses upon the Path of Initiation—works first with the idea, then with ideas, then with the hierarchical Plan in a wide and general sense, and finally reaches the point where he comes under the influence of the purpose of Sanat Kumara. Then the will of the Lord of the World will stand revealed to him.
qua mỗi lần điểm đạo, phạm vi của ý tưởng không ngừng mở rộng, và uy lực của nó cũng vậy, đến mức có thể nói rằng khi tiến trên Con Đường Điểm Đạo, điểm đạo đồ trước hết làm việc với một ý tưởng, rồi với nhiều ý tưởng, tiếp đến với Thiên Cơ của Thánh đoàn theo nghĩa rộng và tổng quát, và cuối cùng đạt đến điểm mà y chịu ảnh hưởng của thiên ý của Sanat Kumara. Khi ấy, ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới sẽ hiển lộ với y.
128. We have here quite an amazing progression leading to the realization of Sanat Kumara, Himself:
128. Ở đây, chúng ta có một tiến trình thật đáng kinh ngạc dẫn đến sự chứng nghiệm chính Sanat Kumara:
129. The initiate, as his stage of initiation rises,
129. Khi cấp độ điểm đạo của mình được nâng cao, điểm đạo đồ:
a. Contacts an idea
a. Tiếp xúc với một ý tưởng
b. Progresses to ideas of steadily increasing scope
b. Tiến tới nhiều ý tưởng có phạm vi ngày càng mở rộng
c. Progresses to a realization of the Divine Plan in wide and general scope
c. Tiến tới sự chứng nghiệm Thiên Cơ trong phạm vi rộng và tổng quát
d. Progresses to a recognition of the purpose of Sanat Kumara
d. Tiến tới sự nhận biết mục đích của Sanat Kumara
e. Progresses to a state in which he is influenced by the purpose of Sanat Kumara
e. Tiến tới một trạng thái trong đó y chịu ảnh hưởng của mục đích của Sanat Kumara
f. Progresses to a point at which the Lord of the World is revealed to him
f. Tiến tới một điểm mà Đức Chúa Tể Thế Giới hiển lộ với y
130. We are learning that contact with an idea is the seed which expands into the eventual revelation of the Sanat Kumara, Himself.
130. Chúng ta đang học được rằng sự tiếp xúc với một ý tưởng là hạt giống phát triển để cuối cùng dẫn đến sự mặc khải chính Sanat Kumara.
131. In this respect, Sanat Kumara is as a Great Idea impulsing all development on Earth.
131. Về phương diện này, Sanat Kumara giống như một Ý Tưởng Vĩ Đại thúc đẩy mọi sự phát triển trên Trái Đất.
132. Is it possible to differentiate between an idea and a being? We are told that an idea is a “being incorporeal”. In a sense, all beings (of whatever scope) are ideas.
132. Liệu có thể phân biệt một ý tưởng với một sinh linh hay không? Chúng ta được cho biết rằng một ý tưởng là một “sinh linh không có thân thể”. Theo một nghĩa nào đó, mọi sinh linh (dù có phạm vi đến đâu) đều là những ý tưởng.