Trích nội dung chương
[VSK: Please see the diagram for this meditation, under the meditation presentations on www.vicktorya.com] In continuing the instructions on the Science of Meditation, I would remind you that we are building upon the same fundamental truths which have been earlier laid down (in Discipleship in the New Age, Vol. I), and that our goals and objectives likewise remain the same. Our immediate concern is the bringing about a group unity rooted in love, and this requires the awakening of the heart centre into greater potency. In this connection, let me repeat what I earlier said, for it makes a fitting preface to what I shall ask you to do:
MEDITATION PART I [113-119] – THAM THIỀN PHẦN I [113-119]
[VSK: Please see the diagram for this meditation, under the meditation presentations on www.vicktorya.com]
[VSK: Xin xem sơ đồ của bài thiền này trong mục trình bày các bài thiền tại www.vicktorya.com]
[113]
[113]
PART I
PHẦN I
In continuing the instructions on the Science of Meditation, I would remind you that we are building upon the same fundamental truths which have been earlier laid down (in Discipleship in the New Age, Vol. I), and that our goals and objectives likewise remain the same. Our immediate concern is the bringing about a group unity rooted in love, and this requires the awakening of the heart centre into greater potency. In this connection, let me repeat what I earlier said, for it makes a fitting preface to what I shall ask you to do:
Tiếp tục những huấn thị về Khoa Học Tham Thiền, Tôi muốn nhắc các bạn rằng chúng ta đang xây dựng trên cùng những chân lý nền tảng đã được trình bày trước đây (trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I), và các mục đích cùng mục tiêu của chúng ta cũng vẫn như vậy. Mối quan tâm trước mắt của chúng ta là tạo nên sự hợp nhất nhóm bắt rễ trong tình thương, và điều này đòi hỏi phải đánh thức trung tâm tim để trung tâm này có uy lực lớn hơn. Về điều này, hãy để Tôi nhắc lại những gì Tôi đã nói trước đây, vì đó là lời mở đầu thích hợp cho những gì Tôi sẽ yêu cầu các bạn thực hiện:
1. Progress in the field of occultism is ever gradual and sequential.
1. Sự tiến bộ trong lĩnh vực huyền bí học luôn diễn ra dần dần và theo trình tự.
2. In relation to group work, our fundamental objective ever remains the same— “group unity rooted in love”. It is the awakened and cultivated heart center than opens the door to Hierarchy.
2. Trong công việc nhóm, mục tiêu nền tảng của chúng ta luôn như trước— “sự hợp nhất nhóm bắt rễ trong tình thương”. Chính trung tâm tim đã được đánh thức và vun bồi mở cánh cửa dẫn vào Thánh đoàn.
“Only from the heart centre can stream, in reality, those lines of energy which link and bind together. For this reason, I shall give you for your group meditation a form which will stimulate the heart into action, linking the heart centre (between the shoulder blades) to the head centre through the medium of the heart centre which is found within the head centre (the thousand-petalled lotus).
“Thực ra, chỉ từ trung tâm tim mới có thể tuôn chảy những đường năng lượng liên kết và gắn bó với nhau. Vì lý do này, Tôi sẽ trao cho các bạn một hình thức tham thiền nhóm nhằm kích thích tim hoạt động, liên kết trung tâm tim (giữa hai bả vai) với trung tâm đầu thông qua trung tâm tim nằm trong trung tâm đầu (hoa sen nghìn cánh).
3. The important linking function of the heart center is reiterated. When we wish to link ourselves to another or bind ourselves to another, we must imagine the heart to heart connection.
3. Chức năng liên kết quan trọng của trung tâm tim được nhắc lại. Khi muốn liên kết hoặc gắn bó với người khác, chúng ta phải hình dung mối liên kết từ tim đến tim.
4. From one perspective the heart centre within the head is said to be the major aspect of the thousand-petalled lotus.“b. The very top of the head. A centre consisting of twelve major petals of white and gold, and nine hundred and sixty secondary petals arranged around the central twelve.” (TCF 168)
4. Theo một góc nhìn, trung tâm tim bên trong đầu được cho là phương diện chính của hoa sen nghìn cánh.“b. Đỉnh đầu. Một trung tâm gồm mười hai cánh hoa chính màu trắng và vàng kim, cùng chín trăm sáu mươi cánh hoa phụ xếp quanh mười hai cánh trung tâm.” (TCF 168)
5. From the perspective presented here, it seems to serve a linking function.
5. Theo góc nhìn được trình bày ở đây, trung tâm này dường như đảm nhiệm chức năng liên kết.
6. When we think in terms of contact with the buddhic energy, and possibly with the monad, this twelve-petalled center has special significance. We realize that there is a link between the monadic and buddhic planes.
6. Khi xét đến sự tiếp xúc với năng lượng Bồ đề, và có thể cả với chân thần, trung tâm mười hai cánh này có thâm nghĩa đặc biệt. Chúng ta nhận ra rằng có một mối liên kết giữa cõi chân thần và cõi Bồ đề.
This heart centre, when adequately radiatory and magnetic will relate you afresh to each other and to all the world.
Khi tỏa chiếu và có từ tính đầy đủ, trung tâm tim này sẽ tái lập mối liên hệ giữa các bạn với nhau và với toàn thế giới.
7. The word “afresh” is important. Often our group relations need revivifying and the stimulation of the heart center can provide this revivification. Should we ever find our group relations becoming habitual and strictly formal, recourse to the heart center should be sought.
7. Từ “mới mẻ” rất quan trọng. Các mối quan hệ nhóm của chúng ta thường cần được hồi sinh, và sự kích thích trung tâm tim có thể đem lại sức sống mới này. Nếu có lúc nhận thấy các mối quan hệ nhóm trở thành thói quen và thuần túy mang tính hình thức, chúng ta nên tìm đến trung tâm tim.
This again—when connected by an act of the spiritual will to the solar plexus centre—will help to produce that telepathic interplay which is so much to be desired and which is so constructively useful to the spiritual Hierarchy—provided it is established within a group of pledged disciples, dedicated to the service of humanity. They can then be trusted.” (Page 87.)
Khi nối kết trung tâm này với trung tâm tùng thái dương bằng một hành động của ý chí tinh thần, điều đó lại sẽ giúp tạo nên sự tương tác viễn cảm rất đáng mong muốn và có ích về mặt xây dựng đối với Thánh đoàn—miễn là sự tương tác ấy được thiết lập trong một nhóm đệ tử đã cam kết, tận hiến cho việc phụng sự nhân loại. Khi ấy có thể tin cậy họ.” (Trang 87.)
8. Here is an important occult hint concerning chakric links which support the development of telepathy. It is not through the heart center alone that intra-group telepathy is developed. The sensitive solar plexus must also be rightly involved.
8. Đây là một gợi ý huyền bí quan trọng về những mối liên kết giữa các luân xa hỗ trợ sự phát triển viễn cảm. Viễn cảm trong nội bộ nhóm không phát triển chỉ nhờ trung tâm tim. Tùng thái dương nhạy cảm cũng phải tham gia một cách đúng đắn.
9. We learn of the high valuation which Hierarchy places upon the right kind of telepathic interplay. The constructiveness of such interplay derives in part from the fact that, through it, disciples and groups and disciples can be impressed with those aspects of the Divine Plan for which their particular Ashram is responsible.
9. Chúng ta biết rằng Thánh đoàn đánh giá cao sự tương tác viễn cảm đúng đắn. Tính xây dựng của sự tương tác ấy một phần bắt nguồn từ việc, thông qua đó, các đệ tử và các nhóm đệ tử có thể tiếp nhận ấn tượng về những phương diện của Thiên Cơ mà ashram riêng của họ chịu trách nhiệm.
10. A group of pledged disciples is definitely related to a particular Ashram. There is an implication here that unless the telepathic interplay occurs between just such disciples (who are dedicated to the service of humanity) such interplay would not be constructively useful to the spiritual Hierarchy.
10. Một nhóm đệ tử đã cam kết chắc chắn có liên hệ với một ashram cụ thể. Ở đây có hàm ý rằng nếu sự tương tác viễn cảm không diễn ra giữa chính những đệ tử như thế (những người tận tâm phụng sự nhân loại), thì sự tương tác ấy sẽ không hữu ích về mặt xây dựng đối với Thánh đoàn.
11. An important criterion determining whether Hierarchy may trust a group or not is also given; the group must consist of pledged disciples who are dedicated to the service of humanity. There is a subtle suggestion that that which may be telepathically imparted by Hierarchy to such a group requires that the group be a trusted group. In the book Glamour: A World Problem, we learn that people may become telepathically responsive to thoughts or ideas which are not intended for them. Such responsiveness serves no useful purpose.
11. Một tiêu chí quan trọng để xác định liệu Thánh đoàn có thể tin cậy một nhóm hay không cũng được nêu ra; nhóm phải gồm những đệ tử đã cam kết và tận tâm phụng sự nhân loại. Có một gợi ý tinh tế rằng những điều Thánh đoàn có thể truyền đạt bằng viễn cảm cho một nhóm như thế đòi hỏi nhóm ấy phải đáng tin cậy. Trong sách Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, chúng ta biết rằng con người có thể trở nên đáp ứng bằng viễn cảm với những tư tưởng hoặc ý tưởng không dành cho họ. Sự đáp ứng như thế không phục vụ mục đích hữu ích nào.
The activity of the heart centre never demonstrates in connection with individuals. This is a basic fact.
Hoạt động của trung tâm tim không bao giờ biểu hiện trong mối liên hệ với các cá nhân. Đây là một sự thật căn bản.
12. Here is another foundational statement and, perhaps, not as easy to assimilate as might appear. Individuals so often think in terms of their heart-center connection with each other, but is it really a heart center connection?
12. Đây là một phát biểu nền tảng khác và có lẽ không dễ lĩnh hội như thoạt nhìn. Các cá nhân rất thường nghĩ đến mối liên kết qua trung tâm tim giữa họ với nhau, nhưng đó có thực sự là một mối liên kết qua trung tâm tim không?
What devastates most disciples is the solar plexus ability (when purified [114] and consecrated) to identify itself with individuals. The heart centre cannot react, except under group impetus, group happiness or unhappiness, and other group relations.
Điều khiến phần lớn các đệ tử khốn đốn là khả năng của tùng thái dương (khi đã được thanh luyện [114] và thánh hiến) đồng hoá với các cá nhân. Trung tâm tim không thể phản ứng, trừ khi chịu sự thôi thúc của nhóm, niềm hạnh phúc hay bất hạnh của nhóm, và những mối quan hệ nhóm khác.
13. If these thoughts are pondered, it will lead to an important revision in the customary assumptions related to heart and solar plexus activity. It is the purified solar plexus (not the heart), which promotes the ability to identify with other individuals. From the wording, it seems as if it is the solar plexus itself which identifies; the consciousness of the disciple (insufficiently abstracted) would then be prone to enter that identification.
13. Việc suy ngẫm những ý tưởng này sẽ dẫn đến một sự điều chỉnh quan trọng trong các giả định thông thường liên quan đến hoạt động của tim và tùng thái dương. Chính tùng thái dương đã được thanh luyện (không phải tim) thúc đẩy khả năng đồng hoá với những cá nhân khác. Theo cách diễn đạt, dường như chính tùng thái dương thực hiện sự đồng hoá; khi ấy, tâm thức của người đệ tử (chưa được trừu xuất đầy đủ) sẽ có khuynh hướng nhập vào sự đồng hoá đó.
14. The solar plexus is a chakra that contributes, we learn, to devastation. A little study of the lives of those we know will confirm this. The word “deva” in “devastation” should be noted.
14. Chúng ta biết rằng tùng thái dương là một luân xa góp phần gây nên sự tàn phá. Chỉ cần nghiên cứu đôi chút về cuộc đời của những người chúng ta biết cũng sẽ xác nhận điều này. Cần lưu ý yếu tố “thiên thần” trong từ chỉ “sự tàn phá”.
15. Personal impetus and personal happiness or unhappiness are not sourced from the heart center but from the solar plexus.
15. Sự thôi thúc cá nhân và niềm hạnh phúc hoặc bất hạnh cá nhân không bắt nguồn từ trung tâm tim mà từ tùng thái dương.
16. Thus the heart, as it were, is not an individual organ, but a group organ.
16. Vì vậy, có thể nói tim là một cơ quan của nhóm, chứ không phải của cá nhân.
17. It is significant, however, that the heart can experience group unhappiness. The sense of group pain can, thus, enter through the heart.
17. Tuy nhiên, việc tim có thể trải nghiệm nỗi bất hạnh của nhóm có thâm nghĩa đáng chú ý. Do đó, cảm nhận về nỗi đau của nhóm có thể đi vào qua tim.
18. Let us pause to think of the nature of the impetus we experience, and of our happy and unhappy states. Do we find them derived from the solar plexus or the heart?
18. Chúng ta hãy dừng lại để suy nghĩ về bản chất của sự thôi thúc mà mình trải nghiệm, cũng như những trạng thái hạnh phúc và bất hạnh của mình. Chúng ta thấy chúng bắt nguồn từ tùng thái dương hay từ tim?
The following diagrammatic form illustrates the procedure which I suggest that you follow:
Sơ đồ sau minh họa tiến trình mà Tôi đề nghị các bạn thực hiện:
There are two points of vital light within the solar plexus centre, which makes this centre of dominant importance and a clearing house for the centres below the diaphragm to those above it.
Trong trung tâm tùng thái dương có hai điểm ánh sáng sinh động, khiến trung tâm này có tầm quan trọng chủ đạo và trở thành trạm trung chuyển từ các trung tâm dưới cơ hoành lên các trung tâm phía trên.
19. The mass of humanity is dominated by the solar plexus center.
19. Phần đông nhân loại chịu sự chi phối của trung tâm tùng thái dương.
20. That the solar plexus is a “clearing house” means that all sub-diaphragmatic energies must pass through it on the way to the higher centers. This means that the solar plexus is functionally involved in those transferences which signal preparation for the higher initiations.
20. Tùng thái dương là một “trạm trung chuyển” có nghĩa là mọi năng lượng bên dưới cơ hoành đều phải đi qua đó trên đường đến các trung tâm cao hơn. Điều này có nghĩa là về mặt chức năng, tùng thái dương tham gia vào những sự chuyển dịch báo hiệu việc chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo cao hơn.
21. The two points within the solar plexus center suggest the difference between ordinary desire and aspiration.
21. Hai điểm bên trong trung tâm tùng thái dương gợi ra sự khác biệt giữa dục vọng thông thường và khát vọng.
22. The term “vital light” is important; “vital” suggests the livingness of the two centers.
22. Thuật ngữ “ánh sáng sinh động” rất quan trọng; “sinh động” gợi đến sức sống của hai trung tâm.
23. The information here given is new to the modern occult presentation.
23. Thông tin được đưa ra ở đây là điều mới mẻ trong cách trình bày huyền bí học hiện đại.
One of these points of light is connected with the lower psychic and astral life, and the other is brought into livingness by the inflow from the head centre.
Một trong hai điểm ánh sáng này liên hệ với đời sống thông linh thấp và cảm dục, còn điểm kia được khơi dậy sức sống nhờ dòng năng lượng đi vào từ trung tâm đầu.
24. This is a vitally important piece of information. That the head center is involved in bringing the higher of the solar plexus points into livingness may suggest that this center is to be fully stimulated at the time of the second initiation when “an illumined mind and spiritual intelligence” are to be noted.
24. Đây là một thông tin hết sức quan trọng. Việc trung tâm đầu tham gia khơi dậy sức sống cho điểm cao hơn trong các điểm của tùng thái dương có thể gợi ý rằng trung tâm này sẽ được kích thích đầy đủ vào thời điểm lần điểm đạo thứ hai, khi có thể nhận thấy “một thể trí được soi sáng và trí thông tuệ tinh thần”.
I would here remind you that the centres above the diaphragm have only one vital point of energy, whilst the centres below the solar plexus also have only one, but that the solar plexus itself has two points of dynamic energy—one most ancient and awakened, being expressive of the life of the astral or lower psychic body, and the other waiting to be brought into conscious activity by the soul.
Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng các trung tâm trên cơ hoành chỉ có một điểm năng lượng sinh động, trong khi các trung tâm dưới tùng thái dương cũng chỉ có một điểm, nhưng chính tùng thái dương lại có hai điểm năng lượng năng động—một điểm rất cổ xưa và đã thức tỉnh, biểu hiện đời sống của thể cảm dục hay thể thông linh thấp, còn điểm kia đang chờ linh hồn đưa vào hoạt động hữu thức.
25. This is most interesting. Let us remember that the astral body is a unified vehicle, whereas the physical and mental bodies are divided into two parts. And yet, the chakra directly related to the astral body has two vital points of energy within it, whereas other chakras (some of them directly related to the physical and mental bodies) have only one.
25. Điều này hết sức thú vị. Chúng ta hãy nhớ rằng thể cảm dục là một hiện thể thống nhất, trong khi thể xác và thể trí đều chia thành hai phần. Thế nhưng luân xa liên hệ trực tiếp với thể cảm dục lại có hai điểm năng lượng sinh động bên trong, trong khi các luân xa khác (một số liên hệ trực tiếp với thể xác và thể trí) chỉ có một điểm.
26. The difference in the age of these two vital points of light is interesting. It is only relatively recently in the history of humanity that the higher of the two points is coming into activity.
26. Sự khác biệt về tuổi của hai điểm ánh sáng sinh động này rất thú vị. Chỉ trong thời gian tương đối gần đây của lịch sử nhân loại, điểm cao hơn trong hai điểm ấy mới bắt đầu đi vào hoạt động.
27. We are told that the higher of the two centers is “brought into conscious activity by the soul” and, earlier, that it is “brought into livingness by the inflow from the head centre”. The conclusion to be drawn is that, in this instance, the soul is working through the head center.
27. Chúng ta được cho biết rằng trung tâm cao hơn trong hai trung tâm được “linh hồn đưa vào hoạt động hữu thức” và, trước đó, rằng nó được “khơi dậy sức sống nhờ dòng năng lượng tuôn vào từ trung tâm đầu”. Kết luận rút ra là trong trường hợp này, linh hồn đang hoạt động thông qua trung tâm đầu.
28. One thing is certain—the higher of the two centers is awakened only when soul culture is proceeding.
28. Có một điều chắc chắn—trung tâm cao hơn trong hai trung tâm chỉ thức tỉnh khi sự tu dưỡng linh hồn đang diễn ra.
When this has happened, the awakening to the higher issues of life makes the disciple sensitive to the higher “psychic gift waves” (as the Tibetan occultists call them) of the spiritual world.
Khi điều này xảy ra, sự thức tỉnh trước những vấn đề cao hơn của cuộc sống khiến đệ tử trở nên nhạy cảm với những “làn sóng ân tứ thông linh” cao hơn (theo cách gọi của các nhà huyền bí học Tây Tạng) từ thế giới tinh thần.
29. The awakening of the higher of the two solar plexus points corresponds with an awakening to the “higher issues of life”. An individual for whom the awakening is occurring is at least an aspirant.
29. Sự thức tỉnh của điểm cao hơn trong hai điểm tùng thái dương tương ứng với sự thức tỉnh trước “những vấn đề cao cả hơn của cuộc sống”. Một cá nhân đang trải qua sự thức tỉnh ấy ít nhất cũng là một người chí nguyện.
30. We also learn that sensitivity to the higher “psychic gift waves” definitely involves the solar plexus. We can imagine that such waves are, as part of their usefulness, transmutative of the emotional/astral condition.
30. Chúng ta cũng biết rằng sự nhạy cảm với những “làn sóng thiên bẩm thông linh” cao hơn chắc chắn có sự tham gia của tùng thái dương. Chúng ta có thể hình dung rằng một phần công dụng của những làn sóng ấy là chuyển hoá trạng thái cảm xúc/cảm dục.
All this is a somewhat new concept for the average esotericist and theosophist, and is one of the new items of information which disciples (in preparation for initiation) are [115] told.
Tất cả những điều này là một quan niệm khá mới đối với nhà bí truyền học và người theo Thông Thiên Học thông thường, và là một trong những thông tin mới mà các đệ tử (đang chuẩn bị cho điểm đạo) [115] được truyền dạy.
31. DK is confirming that those for whom He is writing these instructions are in preparation for initiation.
31. Chân sư DK đang xác nhận rằng những người mà Ngài viết các huấn thị này cho đang chuẩn bị cho điểm đạo.
32. The initiation meant is not the first, since all those in the group (except one) had taken the Initiation of the Birth. It is, reasonably, the second initiation that is meant.
32. Cuộc điểm đạo được nói đến không phải là lần thứ nhất, vì tất cả những người trong nhóm (trừ một người) đều đã trải qua Cuộc Điểm Đạo Giáng Sinh. Có cơ sở để cho rằng điều được nói đến là lần điểm đạo thứ hai.
33. It may be useful to reflect upon whether the awakening of the higher solar plexus point corresponds to that period of development in which the building of the antahkarana may be successfully undertaken.
33. Có thể hữu ích khi suy ngẫm liệu sự thức tỉnh của điểm tùng thái dương cao hơn có tương ứng với giai đoạn phát triển mà việc xây dựng antahkarana có thể được tiến hành thành công hay không.
34. There would seem to be a correlation between the dual sign Gemini, the two points within the solar plexus center and the building of the antahkarana (with its two initial points of focus—the mental unit and the manasic permanent atom.
34. Dường như có một mối tương quan giữa dấu hiệu kép Song Tử, hai điểm bên trong trung tâm tùng thái dương và việc xây dựng antahkarana (với hai tiêu điểm ban đầu của nó—đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.
This truth lies behind the method of meditation which I shall seek to give you, and which is divided into two parts—one aspect or technique will cover approximately the first six months, and the other the second six months. This dual meditation is a group meditation and will have primarily a group effect. This fact must be most carefully recognised by each disciple.
Chân lý này là nền tảng của phương pháp tham thiền mà Tôi sẽ cố gắng trao cho các bạn, gồm hai phần—một phương diện hay kỹ thuật sẽ kéo dài khoảng sáu tháng đầu, và phần kia dành cho sáu tháng sau. Bài thiền kép này là một bài thiền nhóm và chủ yếu sẽ tạo tác động lên nhóm. Mỗi đệ tử phải nhận biết sự thật này hết sức cẩn trọng.
35. The Tibetan is preparing the ground for the offering of the first two group meditations (really one meditation) which appear in DINA II.
35. Chân sư Tây Tạng đang chuẩn bị nền tảng để trao hai bài thiền nhóm đầu tiên (thực ra là một bài thiền) xuất hiện trong DINA II.
36. The group under training was the New Seed Group consisting of twenty-four chelas. Through the instructions released to them, DK was offering a new type of intensive group training. The instructions obviously were intended to have utility far into the future.
36. Nhóm đang được huấn luyện là Nhóm Hạt Giống Mới gồm hai mươi bốn đệ tử. Thông qua những huấn thị trao cho họ, Chân sư DK đang đưa ra một hình thức huấn luyện nhóm chuyên sâu mới. Rõ ràng các huấn thị này nhằm mang lại lợi ích lâu dài trong tương lai.
I would have you ponder most earnestly upon this imparted information. The meditation which I wish to assign will be divided into two parts:
Tôi mong các bạn suy ngẫm hết sức nghiêm túc về thông tin được truyền đạt này. Bài thiền mà Tôi muốn giao sẽ chia thành hai phần:
Stage I. A stage wherein there is a lifting of the energy of the heart centre to the head by means of directed, controlled aspiration—deliberately stimulated, mentally appreciated, and emotionally propelled. I am here choosing my words with care for their symbolic import.
Giai đoạn I. Một giai đoạn trong đó năng lượng của trung tâm tim được nâng lên đầu nhờ khát vọng có định hướng và được kiểm soát—được chủ ý kích thích, được nhận thức bằng trí tuệ và được cảm xúc thúc đẩy. Ở đây, Tôi chọn từ ngữ cẩn thận vì ý nghĩa biểu tượng của chúng.
37. If love-wisdom is to be achieved, the energy of the heart center must be lifted into the head.
37. Để đạt được Bác Ái – Minh Triết, năng lượng của trung tâm tim phải được nâng lên đầu.
38. We note that “directed, controlled aspiration” is the chosen means of “lifting” energy.
38. Chúng ta lưu ý rằng “khát vọng có định hướng và được kiểm soát” là phương tiện được chọn để “nâng” năng lượng lên.
39. What does it mean that aspiration can be “directed” and “controlled”? May we say that the ‘target’ of the aspiration is clearly visualized and that the aspirational stream is not allowed to diverge towards other objectives?
39. Việc khát vọng có thể được “định hướng” và “kiểm soát” có nghĩa là gì? Liệu có thể nói rằng “đích nhắm” của khát vọng được hình dung rõ ràng và dòng khát vọng không được phép chuyển hướng sang những mục tiêu khác?
40. How does one stimulate aspiration? Perhaps it is done by reminding oneself of the value of that which is desired.
40. Làm thế nào để kích thích khát vọng? Có lẽ bằng cách tự nhắc mình về giá trị của điều mình mong muốn.
41. How does one mentally appreciate aspiration? In order for this to occur, the Attitude of the Observer must be assumed and the spiritual value of one’s aspiration must be realized even as one is engaged in the act of aspiring. This will require a dual focus of consciousness.
41. Làm thế nào để nhận thức giá trị của khát vọng bằng trí tuệ? Muốn vậy, phải giữ Thái Độ của Người Quan Sát và nhận ra giá trị tinh thần của khát vọng ngay trong khi đang khát vọng. Điều này sẽ đòi hỏi tâm thức có một tiêu điểm kép.
42. How does one propel aspiration emotionally? May we say that aspiration arises from a pool of emotional intensity? One has to want with some intensity that towards which one aspires. We may also think of the ‘motions’ (‘e-motions’) arising within the astral body as coordinated and directed. They are not simply allowed random and uncontrolled expression. The energy of emotion is made to serve a higher purpose.
42. Làm thế nào để thúc đẩy khát vọng bằng cảm xúc? Liệu có thể nói rằng khát vọng nảy sinh từ một nguồn cảm xúc mãnh liệt? Người ta phải mong muốn điều mình khát vọng với một mức độ mãnh liệt nào đó. Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng những “chuyển động” (“cảm xúc”) nảy sinh trong thể cảm dục được phối hợp và định hướng. Chúng không đơn thuần được phép biểu lộ ngẫu nhiên và thiếu kiểm soát. Năng lượng cảm xúc được hướng vào việc phục vụ một mục đích cao hơn.
Stage II. Next, the deliberate dispatch of spiritual energy to the solar plexus, through an act of the will; this will result in the awakening of the hitherto quiescent point of force which lies behind (or rather within) the active and awakened centre.
Giai đoạn II. Tiếp theo là chủ ý truyền năng lượng tinh thần đến tùng thái dương bằng một hành động của ý chí; điều này sẽ đánh thức điểm mãnh lực vốn tĩnh lặng từ trước đến nay, nằm phía sau (hay đúng hơn là bên trong) trung tâm đang hoạt động và đã thức tỉnh.
43. The word “dispatch” suggests control, directness and speed. The “spiritual energy” is not allowed to ‘trickle down’ towards the solar plexus, but is sent directly.
43. Từ “truyền” gợi đến sự kiểm soát, tính trực tiếp và tốc độ. Năng lượng tinh thần không được để “nhỏ giọt” xuống tùng thái dương mà được truyền thẳng đến đó.
44. The energy dispatched is sent from the head center. This dispatching does not simply happen. It is made to happen through an act of the will.
44. Năng lượng được truyền đi xuất phát từ trung tâm đầu. Việc truyền này không tự nhiên xảy ra. Một hành động của ý chí làm cho nó xảy ra.
45. An important occult hint is here given concerning the location or position of the ‘higher’ point of light within the solar plexus. There are a few ways to conceive the ‘location’ of the quiescent point of force relative to the long awakened point of force. One can think of it as ‘above’, ‘behind’ or ‘within’ the “active and awakened centre”. The Tibetan seems to be suggesting that the true position of the higher point is “within”. Perhaps both the words “behind” and “within” should be pondered in this regard.
45. Ở đây có một gợi ý huyền bí quan trọng về vị trí của điểm ánh sáng “cao hơn” bên trong tùng thái dương. Có vài cách hình dung “vị trí” của điểm mãnh lực tĩnh lặng so với điểm mãnh lực đã thức tỉnh từ lâu. Có thể nghĩ rằng nó ở “bên trên”, “phía sau” hoặc “bên trong” “trung tâm đang hoạt động và đã thức tỉnh”. Chân sư Tây Tạng dường như đang gợi ý rằng vị trí thực sự của điểm cao hơn là “bên trong”. Có lẽ nên suy ngẫm cả hai từ “phía sau” và “bên trong” về phương diện này.
It will be apparent to you that the first stage is occupied with what is regarded esoterically as the “withdrawal to the centre of inspiration” and it is to this withdrawal that I call you all today, prior to the definite and detailed group work—later to be outlined.
Các bạn sẽ thấy rõ rằng giai đoạn thứ nhất liên quan đến điều mà huyền bí học xem là “rút về trung tâm cảm hứng”, và hôm nay Tôi kêu gọi tất cả các bạn thực hiện sự rút về này trước khi tiến hành công việc nhóm cụ thể và chi tiết—sẽ được phác thảo sau.
46. The Tibetan proceeds with caution. His chelas are to approach the new meditation(s) step by step, habituating themselves to preliminary phases before passing on to succeeding phases.
46. Chân sư Tây Tạng tiến hành một cách thận trọng. Các đệ tử của Ngài phải tiếp cận bài thiền hoặc các bài thiền mới từng bước một, làm quen với các giai đoạn sơ bộ trước khi chuyển sang những giai đoạn tiếp theo.
Under cyclic law there are periods of outgoing and of withdrawing, of progressing in service towards the periphery of activity and also of a conscious abstraction of the consciousness from the outer circle and its centering again at the very heart of life. It is to this retreating within that I summon you—a retreat which must be continued and consciously held until the next Full Moon of May.
Theo định luật chu kỳ, có những thời kỳ hướng ra và rút vào, tiến ra phụng sự đến tận chu vi hoạt động, cũng như hữu thức thu tâm thức khỏi vòng ngoài và lại tập trung tâm thức ngay tại tâm điểm của sự sống. Tôi kêu gọi các bạn thực hiện sự lui vào bên trong ấy—một sự lui vào cần được tiếp tục và duy trì một cách có ý thức cho đến kỳ Trăng Tròn tháng Năm sắp tới.
47. Two modes of procedure are discussed—one centrifugal and the other centripetal. The Tibetan focuses on the centripetal approach—a movement from the periphery to the center. By doing this He assures Himself that His chelas can access the central point of inspiration.
47. Hai cách tiến hành được bàn đến—một cách ly tâm và cách kia hướng tâm. Chân sư Tây Tạng tập trung vào cách tiếp cận hướng tâm—một chuyển động từ chu vi vào trung tâm. Bằng cách này, Ngài bảo đảm rằng các đệ tử của Ngài có thể tiếp cận điểm cảm hứng trung tâm.
48. The “retreat” towards the center to which He summons His students corresponds with the approach of the “higher interlude” of the year, climaxing at the May Full Moon.
48. Sự “lui về” trung tâm mà Ngài kêu gọi các đạo sinh thực hiện tương ứng với thời điểm “khoảng chuyển tiếp cao” của năm đang đến gần, đạt đỉnh vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm.
You might regard it as the individual phase of alignment and of preparation to which each of you is called, and called prior to participation in the group meditation with which you will [116] be occupied for the remainder of the year, after May.
Các bạn có thể xem đây là giai đoạn chỉnh hợp và chuẩn bị của cá nhân mà mỗi người được kêu gọi thực hiện, trước khi tham gia bài thiền nhóm sẽ [116] chiếm phần công việc của các bạn trong thời gian còn lại của năm, sau tháng Năm.
49. The first phase of the process is “individual” and is considered a preparation for the “group” meditation later to be followed.
49. Giai đoạn đầu tiên của tiến trình mang tính “cá nhân” và được xem là sự chuẩn bị cho bài thiền “nhóm” sẽ thực hành sau đó.
50. There is no point proceeding unless a firm foundation has been laid. In relation to progress on the Path of Occultism, this is a principle ever to be remembered. One cannot build the occult life on a shaky foundation.
50. Tiếp tục tiến bước sẽ không có ý nghĩa gì nếu chưa đặt được nền tảng vững chắc. Đối với sự tiến bộ trên Con Đường Huyền Bí Học, đây là một nguyên khí cần luôn ghi nhớ. Không thể xây dựng đời sống huyền bí trên một nền tảng lung lay.
Stage II and its successful issue will be largely dependent upon the success achieved during Stage I.
Giai đoạn II và kết quả thành công của nó sẽ phụ thuộc phần lớn vào thành công đạt được trong Giai đoạn I.
Stage I itself is divided into two parts, and to these I now call your attention. The first part of Stage I is a short dynamic meditation, carried out every morning with the greatest regularity.
Chính Giai đoạn I lại chia thành hai phần, và giờ đây Tôi muốn các bạn chú ý đến hai phần ấy. Phần thứ nhất của Giai đoạn I là một bài thiền ngắn, năng động, thực hiện mỗi sáng với sự đều đặn cao nhất.
51. The key ingredient in all occult meditation (especially in the earlier phases) is regularity. Regularity promotes a reliable re-patterning of energies.
51. Yếu tố then chốt trong mọi sự tham thiền huyền bí (đặc biệt ở những giai đoạn đầu) là tính đều đặn. Tính đều đặn thúc đẩy việc tái lập mô hình năng lượng một cách ổn định.
52. That which is short is not necessarily without power. In fact, short dynamic meditations may be more powerful than those that are longer and more diffuse.
52. Điều ngắn gọn không nhất thiết thiếu sức mạnh. Thực ra, những bài thiền ngắn, năng động có thể mạnh mẽ hơn những bài dài và phân tán hơn.
The second part is a reflective process or cultivated recognition which will serve to condition your day’s activity. This conditioning attitude should be one of a constant recollection of purpose and objective, and a process of what has been called “intentional living.”
Phần thứ hai là một tiến trình suy ngẫm hay sự nhận biết được vun bồi, sẽ góp phần định hình hoạt động trong ngày của các bạn. Thái độ tạo ảnh hưởng này cần bao gồm việc luôn ghi nhớ mục đích và mục tiêu, cùng một tiến trình từng được gọi là “sống có chủ đích”.
53. We are given to understand the importance of “recollection of purpose and objective” if there is to be “intentional living”.
53. Chúng ta được giúp thấu hiểu tầm quan trọng của việc “nhớ lại mục đích và mục tiêu” nếu muốn “sống có chủ đích”.
54. What is “recollection”? Shall we say a constant reminding of oneself so that one remains conscious of exactly what one is doing?
54. “Nhớ lại” là gì? Liệu có thể nói đó là việc thường xuyên tự nhắc mình để luôn nhận biết chính xác điều mình đang làm?
55. If we are subject to maya, we simply do and, in the doing, remain unconscious of that which we are doing. Intentional living must be conscious living.
55. Nếu chịu sự chi phối của ảo lực, chúng ta chỉ hành động và trong khi hành động vẫn không nhận biết điều mình đang làm. Sống có chủ đích phải là sống có ý thức.
It connotes the effort to live consciously at the centre and then to work outward from there in radiatory, magnetic activity. I am not here speaking symbolically but literally for it is all a question of the focus of consciousness.
Điều này hàm ý nỗ lực sống một cách có ý thức tại trung tâm, rồi từ đó hoạt động hướng ra ngoài bằng sự tỏa chiếu và từ tính. Ở đây, Tôi không nói theo nghĩa biểu tượng mà theo nghĩa đen, vì tất cả đều là vấn đề tiêu điểm của tâm thức.
56. A true occultist lives ever “at the centre”. The secrets of the occult life are there to be found.
56. Một nhà huyền bí học chân chính luôn sống “tại trung tâm”. Những bí mật của đời sống huyền bí có thể được tìm thấy ở đó.
57. The greater the centralization, the greater the radiatory and magnetic activity.
57. Càng tập trung tại trung tâm, hoạt động phát xạ và từ tính càng mạnh.
58. The masses of humanity are engaged in what might be called ‘peripheral living’. The student of occultism learns to disengage from that swirl of maya and find his way to the center of awareness.
58. Đại đa số nhân loại đang sống theo cách có thể gọi là “sống ở ngoại vi”. Đạo sinh huyền bí học học cách thoát khỏi vòng xoáy ảo lực ấy và tìm đường đến trung tâm nhận biết.
If this attitude can be constantly held until the Full Moon of May, the individual seeds within the group periphery (could we symbolically call it the seed pod or sheath?) will become living and potent units of energy (spiritual energy) and the succeeding period of group interrelation and group activity will be correspondingly potent.
Nếu có thể liên tục duy trì thái độ này cho đến kỳ Trăng Tròn tháng Năm, những hạt giống cá nhân bên trong chu vi nhóm (theo nghĩa biểu tượng, liệu chúng ta có thể gọi đó là vỏ quả hay lớp bọc hạt giống chăng?) sẽ trở thành những đơn vị năng lượng sống động và mạnh mẽ (năng lượng tinh thần), và thời kỳ liên hệ cùng hoạt động nhóm tiếp theo sẽ có uy lực tương ứng.
59. The Tibetan uses an image which we may find suggestive as we think of our individual development and its relation to the development of the group.
59. Chân sư Tây Tạng sử dụng một hình ảnh có thể gợi nhiều suy ngẫm khi chúng ta nghĩ về sự phát triển cá nhân và mối liên hệ của nó với sự phát triển của nhóm.
60. We are given a sequence:
60. Chúng ta được chỉ ra một trình tự:
First there must be created “living and potent units of energy (spiritual energy)” within the group periphery.
Trước hết, phải tạo ra “những đơn vị năng lượng sống động và mạnh mẽ (năng lượng tinh thần)” bên trong chu vi nhóm.
Secondly, these living potent units of energy must be rightly related to each other producing a period of “group interrelation and group activity”.
Thứ hai, những đơn vị năng lượng sống động, mạnh mẽ này phải liên hệ đúng đắn với nhau, tạo nên một thời kỳ “tương quan nhóm và hoạt động nhóm”.
61. In relation to our group life, each of us in an individual seed within a group seed pod or sheath. Each of us must achieve a necessary degree of intensification before we can be related to each other in such a manner that a true and vital group will be created. There is no true group life unless the units involved have been individually vitalized. This bears consideration.
61. Xét trong đời sống nhóm của chúng ta, mỗi người là một hạt giống riêng biệt trong quả chứa hạt hay lớp vỏ bọc hạt của nhóm. Mỗi người phải đạt được một mức độ tăng cường cần thiết trước khi có thể liên hệ với nhau theo cách tạo nên một nhóm chân chính và đầy sức sống. Không thể có đời sống nhóm chân chính nếu từng đơn vị tham gia chưa được tiếp sinh lực. Điều này đáng để suy xét.
In the furtherance of this process, leading to radiatory and magnetic living, the method suggested is as follows:
Để thúc đẩy tiến trình dẫn đến lối sống tỏa chiếu và có từ tính này, phương pháp được đề nghị như sau:
62. We see that one of the main objectives of the meditation offered is to produce “radiatory and magnetic living” for both the individual and the group.
62. Chúng ta thấy rằng một trong những mục tiêu chính của bài thiền được trao là tạo ra “lối sống phát xạ và có từ tính” cho cả cá nhân lẫn nhóm.
STAGE I
GIAI ĐOẠN I
1. Reflective alignment of soul and personality, using the creative imagination in the process. This is a “feeling” or astral activity.
1. Chỉnh hợp linh hồn và phàm ngã qua suy ngẫm, sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo trong tiến trình này. Đây là một hoạt động “cảm nhận”, hay hoạt động cảm dục.
63. Although “feeling” can be ascribed to the heart (and, really, to any of the vehicles), it is most commonly ascribed to the astral nature.
63. Mặc dù “cảm nhận” có thể được quy cho tim (và thực ra cho bất kỳ hiện thể nào), nó thường được quy cho bản chất cảm dục nhất.
64. How are we to know when the soul and personality are actually aligned? We facilitate this process through the use of the creative imagination, but when alignment actually occurs there is a certain feel to it. When the correct feeling emerges, we know that the intended alignment has been achieved.
64. Làm thế nào để biết khi nào linh hồn và phàm ngã thực sự được chỉnh hợp? Chúng ta hỗ trợ tiến trình này bằng cách sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo, nhưng khi sự chỉnh hợp thực sự diễn ra, nó có một cảm nhận đặc trưng. Khi cảm nhận đúng đắn xuất hiện, chúng ta biết rằng sự chỉnh hợp mong muốn đã đạt được.
65. Each meditator will have to determine the nature of the “feeling” for himself or herself.
65. Mỗi người hành thiền sẽ phải tự xác định bản chất của “cảm nhận” ấy.
66. The fact that the alignment process is “reflective” shows that the observing consciousness is involved. One becomes the observer of the process in which one is engaged. The necessity for a dual focus in consciousness occurs in many occult processes: there is the observer at the center and, also, the one who actively engages in a specific interior process.
66. Việc tiến trình chỉnh hợp có tính “suy ngẫm” cho thấy tâm thức quan sát có tham gia. Người thực hành trở thành người quan sát chính tiến trình mình đang tham gia. Nhiều tiến trình huyền bí đòi hỏi sự tập trung kép trong tâm thức: có người quan sát ở trung tâm, đồng thời có người tích cực tham gia một tiến trình nội tâm cụ thể.
2. Assumed relation of solar plexus, heart and head, and the focus of the assuming consciousness to be in the region of the ajna centre. This is done mentally.
2. Hình dung mối liên hệ giữa tùng thái dương, tim và đầu, và hình dung tiêu điểm của tâm thức đang thực hiện điều ấy nằm trong vùng trung tâm ajna. Việc này được thực hiện bằng trí tuệ.
67. We have an interesting formulation: an “assuming consciousness” which assumes a relation between the solar plexus, heart and head. When there is an assuming consciousness, doubt is not allowed to enter. One “acts as if” and affirms the validity of the assumption.
67. Chúng ta có một cách diễn đạt thú vị: một “tâm thức đang giả định” giả định có mối liên hệ giữa tùng thái dương, tim và đầu. Khi có một tâm thức đang giả định, sự nghi ngờ không được phép xen vào. Người thực hành “hành động như thể” và khẳng định tính xác thực của giả định ấy.
68. The assumption is not an astral activity. Instead, it requires the assent of the often doubting mind.
68. Việc giả định không phải là một hoạt động cảm dục. Thay vào đó, nó đòi hỏi sự chấp thuận của thể trí vốn thường nghi ngờ.
69. One centers one’s attention in the region of the ajna center as one affirms the relation between the solar plexus, heart and head. Again, the creative imagination can be used.
69. Người thực hành tập trung sự chú ý vào vùng trung tâm ajna khi khẳng định mối liên hệ giữa tùng thái dương, tim và đầu. Một lần nữa, có thể sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo.
3. When this has been achieved and realised, there follows next the concentration of aspiration and of thought in the heart centre, imagining it to be just between the shoulder blades. It must be recognised that the concentration of thought energy is definitely there.
3. Khi đã đạt được và nhận biết điều này, tiếp theo là tập trung khát vọng và tư tưởng vào trung tâm tim, tưởng tượng trung tâm này nằm ngay giữa hai bả vai. Phải nhận biết rằng năng lượng tư tưởng tập trung đúng tại đó.
70. Although the directions seem simple, it is necessary to think about what they really mean.
70. Mặc dù các chỉ dẫn có vẻ đơn giản, vẫn cần suy nghĩ về ý nghĩa thực sự của chúng.
71. An act of concentration is asked for, and both aspiration and thought are to be concentrated. Naturally, it is important for the meditator to have an experiential understanding of the difference between aspiration and thought.
71. Chỉ dẫn yêu cầu một hành động tập trung, và cả khát vọng lẫn tư tưởng đều phải được tập trung. Dĩ nhiên, điều quan trọng là người hành thiền phải thấu hiểu qua trải nghiệm sự khác biệt giữa khát vọng và tư tưởng.
72. The inner dynamic which we call aspiration and the inner dynamic we call thought are to be recognized and concentrated or focussed within the heart center. This will give the sense of both thinking within the heart and of aspiring within the heart. If this is effectively done the solar plexus will be linked with the heart and so will the ajna center.
72. Cần nhận biết và tập trung động lực nội tâm mà chúng ta gọi là khát vọng cùng động lực nội tâm mà chúng ta gọi là tư tưởng trong trung tâm tim. Điều này sẽ đem lại cảm nhận vừa suy nghĩ trong tim, vừa khát vọng trong tim. Nếu thực hiện hiệu quả, tùng thái dương sẽ liên kết với tim, và trung tâm ajna cũng vậy.
73. If the concentration of thought energy is to be definitely within the heart, there must be a visualizing and feeling of the heart center as thought is occurring.
73. Để năng lượng tư tưởng thực sự tập trung trong tim, cần hình dung và cảm nhận trung tâm tim trong lúc tư tưởng diễn ra.
74. While it is not so difficult to talk about what it is to occur, each will have to experiment for himself or herself until some facility is gained.
74. Tuy nói về những gì sẽ xảy ra không quá khó, mỗi người vẫn phải tự thử nghiệm cho đến khi đạt được một mức độ thuần thục nào đó.
4. Then follows the conscious and pictorial (or imaginative) withdrawal of the heart’s aspiration, life and [117] devotion into the centre above the head (the thousand-petalled lotus), and its conscious focussing there.
4. Tiếp theo là hữu thức rút khát vọng, sự sống và [117] lòng sùng tín của tim vào trung tâm phía trên đầu (hoa sen nghìn cánh), bằng hình ảnh (hay sự tưởng tượng), và hữu thức tập trung chúng tại đó.
75. We note that DK is speaking of the “heart’s aspiration” and not of the aspiration of the solar plexus. It would be an act of useful discrimination to distinguish (experientially) between the aspiration of the solar plexus and the aspiration of the heart.
75. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đang nói về “khát vọng của tim”, chứ không phải khát vọng của tùng thái dương. Phân biệt qua trải nghiệm giữa khát vọng của tùng thái dương và khát vọng của tim sẽ là một hành động phân biện hữu ích.
76. One can do this by focusing first within the solar plexus and activating aspiration from that center, and then focusing with the heart and again activating aspiration. The difference in the ‘feel’ of the two processes should be noted. The nature of the heart as a “group organ” may thereby be noted.
76. Có thể làm điều này bằng cách trước tiên tập trung trong tùng thái dương và khơi dậy khát vọng từ trung tâm ấy, rồi tập trung trong tim và một lần nữa khơi dậy khát vọng. Cần lưu ý sự khác biệt trong “cảm nhận” về hai tiến trình. Qua đó cũng có thể nhận biết bản chất của tim như một “cơ quan nhóm”.
77. We note that within the heart are to be found “aspiration, life and devotion”. That “life” is to be found within the heart is readily recognized. As for “aspiration and devotion”, they are often associated with the solar plexus. We have spoken of the contrast between the aspiration centered in the heart or in the solar plexus, and a similar distinction must be made between the devotion of the solar plexus and the devotion of the heart.
77. Chúng ta lưu ý rằng trong tim có “khát vọng, sự sống và lòng sùng tín”. Việc “sự sống” hiện diện trong tim là điều dễ nhận biết. Còn “khát vọng và lòng sùng tín” thường gắn với tùng thái dương. Chúng ta đã nói về sự tương phản giữa khát vọng tập trung trong tim và khát vọng tập trung trong tùng thái dương; cũng cần phân biệt tương tự giữa lòng sùng tín của tùng thái dương và lòng sùng tín của tim.
78. We note that the thousand petalled lotus is located “above the head”. In this process, the energy of the heart is being drawn into the head. As this is done, the twelve-petalled greater lotus within the head center may be visualized as receiving the up-drawn aspiration, life and devotion of the heart.
78. Chúng ta lưu ý rằng hoa sen nghìn cánh nằm “phía trên đầu”. Trong tiến trình này, năng lượng của tim đang được rút vào đầu. Khi thực hiện điều đó, có thể hình dung hoa sen lớn mười hai cánh bên trong trung tâm đầu đang tiếp nhận khát vọng, sự sống và lòng sùng tín được rút lên từ tim.
79. It is well to bear in mind the ancient adage, “energy follows thought”. Wherever thought or attention are concentrated, energy will follow.
79. Nên ghi nhớ câu châm ngôn cổ: “năng lượng theo sau tư tưởng”. Tư tưởng hay sự chú ý tập trung ở đâu, năng lượng sẽ theo đến đó.
5. When this stage has been reached, and the conscious recognition of place and activity is being gently yet surely held, then sound the Sacred Word, OM, very softly three times, breathing out and towards:
5. Khi đã đạt đến giai đoạn này, và đang duy trì sự nhận biết hữu thức về vị trí cùng hoạt động một cách nhẹ nhàng nhưng vững chắc, hãy xướng Linh Từ Thiêng Liêng, OM, thật khẽ ba lần, thở ra và hướng tới:
80. The Tibetan is trying to avoid the undue application of force; thus He emphasizes the word “gently”. If there were an attempt to force the holding of energy within any particular center, the very process of forcing would attract attention and prevent the proper focusing.
80. Chân sư Tây Tạng đang cố tránh việc vận dụng mãnh lực quá mức; do đó, Ngài nhấn mạnh từ “nhẹ nhàng”. Nếu cố ép giữ năng lượng trong bất kỳ trung tâm cụ thể nào, chính tiến trình cưỡng ép ấy sẽ thu hút sự chú ý và ngăn cản việc tập trung đúng cách.
81. We note that it is the “conscious recognition of place and activity” that is to be held. The sense of place gives focus in space. The required activity is not scattered in many locations, but focussed within the required place.
81. Chúng ta lưu ý rằng điều cần duy trì là “sự nhận biết có ý thức về vị trí cùng hoạt động”. Cảm nhận về vị trí tạo ra một tiêu điểm trong không gian. Hoạt động cần thiết không phân tán ở nhiều nơi mà tập trung trong vị trí được yêu cầu.
82. The sounding of the OM is to be audible but soft. On other occasions, an inaudible sounding is required.
82. Việc xướng linh từ OM phải đủ nghe nhưng nhẹ nhàng. Vào những dịp khác, chỉ dẫn yêu cầu xướng thầm.
83. When one breathes the OM out towards a particular focus or target, the creative imagination must naturally be employed.
83. Khi thở linh từ OM ra hướng đến một tiêu điểm hay đích đến cụ thể, dĩ nhiên phải vận dụng sự tưởng tượng sáng tạo.
a. The Soul.
a. Linh hồn.
b. The Hierarchy.
b. Thánh đoàn.
c. Humanity.
c. Nhân loại.
These three recognised factors now constitute a definite and linked triangle of force.
Giờ đây, ba yếu tố được nhận biết này tạo thành một tam giác mãnh lực rõ rệt và liên kết.
84. Each meditator will have his particular way of visualizing or designating the factors in this triangle.
84. Mỗi người hành thiền sẽ có cách riêng để hình dung hoặc xác định các yếu tố trong tam giác này.
85. It may be facilitative to ‘see’ the three factors as linked in triangular formation.
85. Việc “thấy” ba yếu tố liên kết thành một tam giác có thể giúp tiến trình thuận lợi hơn.
6. Then say with heartfelt intent (consider the significance of those two words) the invocation which I gave you in my communication in September, 1939:
6. Sau đó, với chủ ý xuất phát từ tận đáy lòng (hãy suy xét thâm nghĩa của hai từ ấy), hãy đọc lời khẩn cầu mà Tôi đã trao cho các bạn trong thông điệp tháng Chín năm 1939:
86. We note the words “heartfelt intent”. There is a type of intent in which the mind alone is engaged. There is also an intent which engages the heart. One must practice heartfelt intent.
86. Chúng ta lưu ý cụm từ “chủ ý xuất phát từ trái tim”. Có một loại chủ ý chỉ có thể trí tham gia. Cũng có một loại chủ ý huy động cả trái tim. Cần thực hành chủ ý xuất phát từ trái tim.
The sons of men are one and I am one with them.
Những người con của nhân loại là một, và tôi là một với họ.
87. This is the fundamental recognition of unity. We might say that every true server of humanity will, to some degree, recognize the truth of this statement.
87. Đây là sự nhận biết căn bản về tính hợp nhất. Chúng ta có thể nói rằng mọi người phụng sự nhân loại chân chính đều sẽ nhận biết chân lý của lời khẳng định này ở một mức độ nào đó.
I seek to love, not hate;
Tôi tìm cách yêu thương mà không thù ghét;
I seek to serve and not exact due service;
Tôi tìm cách phụng sự và không đòi hỏi sự phục vụ đáp lại;
I seek to heal, not hurt.
Tôi tìm cách chữa lành, không gây tổn thương.
88. The soul seeks to love, serve and heal. The personality in some of its different modes of expression can hurt, exact due service and hate.
88. Linh hồn tìm cách yêu thương, phụng sự và chữa lành. Trong một số phương thức biểu lộ khác nhau, phàm ngã có thể gây tổn thương, đòi hỏi sự phục vụ đáp lại và thù ghét.
89. Our past is called to our attention and contrasted with the future we will experience when we merge fully into soulful living.
89. Chúng ta được nhắc chú ý đến quá khứ của mình và đối chiếu nó với tương lai mà chúng ta sẽ trải nghiệm khi hoàn toàn hòa vào đời sống thấm nhuần linh hồn.
Let pain bring due reward of light and love.
Cầu xin sự khổ đau đem lại phần thưởng thích đáng của ánh sáng và tình thương.
90. This is ever the way on our planet, which is so much under the sway of the fourth ray of Harmony through Conflict. It seems that on our planet there has been no other way for the mass of humanity to progress except through pain.
90. Trên hành tinh của chúng ta, con đường luôn là như vậy, vì hành tinh chịu ảnh hưởng rất mạnh của cung bốn, Hài Hòa qua Xung Đột. Dường như trên hành tinh của chúng ta, đông đảo nhân loại chưa từng có con đường tiến bộ nào khác ngoài việc đi qua đau khổ.
91. Pain sensitizes the human being and breaks the hold of selfishness.
91. Đau khổ làm con người nhạy cảm hơn và phá vỡ sự khống chế của tính ích kỷ.
92. Pain signals a deviation from the pattern of beauty intended by the Lords of Karma. Thus, pain encourages adherence to archetype. The measure of pain is the measure of deviation from archetype.
92. Đau khổ báo hiệu sự lệch khỏi mô hình vẻ đẹp mà các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả đã định. Do đó, đau khổ khuyến khích việc tuân theo nguyên mẫu. Mức độ đau khổ chính là mức độ lệch khỏi nguyên mẫu.
Let the soul control the outer form and life and all events,
Cầu xin linh hồn chế ngự ngoại thể, và cuộc sống và mọi biến cố,
93. This is true in the life of the initiate and increasingly true in the life of disciples.
93. Điều này đúng trong đời sống của điểm đạo đồ và ngày càng đúng trong đời sống của các đệ tử.
And bring to light the love which underlies the happenings of the time.
Và đưa ra ánh sáng tình thương vốn ẩn dưới những diễn biến của thời đại.
94. The consciousness is often deluded by outer occurrences. If one knows the Plan (and somewhat the Purpose), one can sense the magnetic realignment of energies and forces which indicates that love is at work beneath the outer movements.
94. Tâm thức thường bị những sự việc bên ngoài đánh lừa. Nếu biết Thiên Cơ (và phần nào Thiên Ý), người ta có thể cảm nhận sự tái chỉnh hợp từ tính của các năng lượng và mãnh lực, cho thấy tình thương đang hoạt động bên dưới những chuyển động bên ngoài.
95. If we affirm to ourselves that love underlies the happenings of the time, we shall more readily be able to detect that love.
95. Nếu tự khẳng định rằng tình thương ẩn sau những diễn biến của thời đại, chúng ta sẽ dễ nhận ra tình thương ấy hơn.
Let vision come and insight.
Cầu xin tầm nhìn tinh thần đến cùng sự thông hiểu.
96. We need vision and understanding of the Plan.
96. Chúng ta cần có tầm nhìn và sự thấu hiểu về Thiên Cơ.
Let the future stand revealed.
Cầu xin tương lai tỏ rõ.
97. We are speaking of the future that the Plan intends. Even a hint of this coming revelation will provide great incentive, and towards an ever-fuller vision of this revealed future we may powerfully aspire.
97. Chúng ta đang nói về tương lai mà Thiên Cơ hướng đến. Ngay cả một gợi ý về sự mặc khải sắp đến này cũng sẽ tạo động lực lớn lao, và chúng ta có thể khát vọng mãnh liệt hướng đến một tầm nhìn ngày càng đầy đủ hơn về tương lai được mặc khải ấy.
Let inner union demonstrate and outer cleavages be gone.
Cầu xin sự kết hợp nội tâm biểu dương và các chia rẽ bên ngoài tan biến.
98. Inner union always exists, but it must demonstrate tangibly. The second aspect triumphs over the often divisive third aspect.
98. Sự hợp nhất bên trong luôn tồn tại, nhưng phải biểu lộ một cách cụ thể. Phương diện thứ hai chiến thắng phương diện thứ ba vốn thường gây chia rẽ.
Let love prevail.
Cầu xin tình thương chế ngự.
99. Solar fire will prevail over fire by friction, harmony over discord, unity over all separativeness, and love over hate. The soul of humanity prevails over its personality.
99. Lửa Thái dương sẽ thắng Lửa ma sát, hài hòa sẽ thắng bất hòa, hợp nhất sẽ thắng mọi tính chia rẽ, và tình thương sẽ thắng thù ghét. Linh hồn của nhân loại thắng phàm ngã của nhân loại.
Let all men love.
Cầu xin mọi người yêu thương.
100. This is the great goal and will indicate that our present humanity is making its transition into the fifth kingdom of nature, the kingdom of souls.
100. Đây là mục tiêu lớn lao và sẽ cho thấy nhân loại hiện nay của chúng ta đang chuyển tiếp vào giới thứ năm của tự nhiên, giới linh hồn.
7. Endeavour throughout the day to continue holding this recollection steady and work always in due remembrance of the morning’s meditation.
7. Suốt ngày, hãy cố gắng tiếp tục giữ vững sự ghi nhớ này và luôn làm việc trong sự tưởng nhớ đúng mức đến bài thiền buổi sáng.
101. The realizations attained in morning meditation are to be sustained. A new realization and rhythm are being imposed upon consciousness and upon life as ordinarily lived.
101. Cần duy trì những nhận biết đạt được trong lúc tham thiền buổi sáng. Một nhận biết và nhịp điệu mới đang được áp đặt lên tâm thức và lên đời sống thường ngày.
102. Obviously, if we could achieve that continuity of memory which would link our high moments of soul realization with the ordinary processes of living, soul infusion would more rapidly occur.
102. Hiển nhiên, nếu có thể đạt được sự liên tục của ký ức để nối liền những thời khắc cao đẹp khi nhận biết linh hồn với những tiến trình sinh hoạt thường ngày, chúng ta sẽ được linh hồn thấm nhuần nhanh hơn.
This activity should take only a few minutes, but if it is carried out with a fully awakened consciousness and with the [118] most carefully focussed attention, the results may be most potent and effective—far more so than you may think.
Hoạt động này chỉ nên kéo dài vài phút, nhưng nếu thực hiện với tâm thức hoàn toàn tỉnh thức và với [118] sự chú tâm được tập trung hết sức cẩn thận, kết quả có thể rất mạnh mẽ và hữu hiệu—hơn nhiều so với những gì các bạn có thể nghĩ.
103. The implication is that meditation is sometimes carried on with a consciousness which is not “fully awakened”. The alertness of the meditator is required.
103. Hàm ý ở đây là đôi khi người ta tham thiền với một tâm thức chưa “hoàn toàn tỉnh thức”. Người hành thiền cần có sự tỉnh táo.
104. Master DK is a Master. He knows far more than we can know of inner dynamics and processes. We can see that that which is simple may be powerful. Ours is the task to take Him at His word and do as He suggests.
104. Chân sư DK là một Chân sư. Ngài biết về các động lực và tiến trình bên trong nhiều hơn rất nhiều so với khả năng hiểu biết của chúng ta. Chúng ta có thể thấy rằng điều đơn giản vẫn có thể mạnh mẽ. Nhiệm vụ của chúng ta là tin lời Ngài và làm theo những gì Ngài gợi ý.
The meditation should take less than ten minutes, after you have succeeded in familiarising yourself with the process; firm foundations will thus be laid for the group work and the group meditation, which I intend to give you in May, when I will give you your personal and group instructions.
Sau khi các bạn đã làm quen với tiến trình, bài thiền nên kéo dài dưới mười phút; như vậy, những nền tảng vững chắc sẽ được đặt cho công việc nhóm và bài thiền nhóm mà Tôi dự định trao cho các bạn vào tháng Năm, khi Tôi ban những huấn thị cá nhân và nhóm.
105. We have completed our discussion of the individual portion of the meditation. This is to be mastered before the portion concerning the group is to be attempted.
105. Chúng ta đã hoàn tất phần thảo luận về phần tham thiền cá nhân. Cần thành thạo phần này trước khi thử thực hành phần dành cho nhóm.
106. The requirements are clear; practice will prove the value of the method.
106. Các yêu cầu đã rõ; thực hành sẽ chứng minh giá trị của phương pháp.
At the time of the Full Moon each month—dating from the time that you receive these instructions and until further notice—I would ask you to work as follows:
Vào thời điểm Trăng Tròn mỗi tháng—kể từ khi các bạn nhận được những huấn thị này cho đến khi có thông báo tiếp theo—Tôi muốn các bạn làm việc như sau:
107. Master DK now offers a specific Full Moon approach which we analyze for hints and revelations.
107. Giờ đây, Chân sư DK đưa ra một phương pháp tiếp cận cụ thể vào dịp Trăng Tròn; chúng ta phân tích phương pháp ấy để tìm những gợi ý và mặc khải.
1. Group yourselves, all twenty-four of you, symbolically, pictorially and imaginatively around your Teacher, and—with Him—face the East, standing in a semi-circle slightly behind Him.
1. Cả hai mươi bốn người hãy tập hợp quanh huấn sư của mình bằng biểu tượng, hình ảnh và sự tưởng tượng, rồi cùng Ngài hướng về phương Đông, đứng thành một hình bán nguyệt hơi lùi phía sau Ngài.
108. The number twenty-four is important as it is the number of Shamballa.
108. Con số hai mươi bốn quan trọng vì đó là con số của Shamballa.
109. The East is always, symbolically, the place of illumination and revelation, for it is the place of the rising Sun.
109. Về mặt biểu tượng, phương Đông luôn là nơi của sự soi sáng và mặc khải, vì đó là nơi Mặt Trời mọc.
110. The Teacher, according to His spiritual status, stands slightly ahead of the group.
110. Theo địa vị tinh thần của Ngài, huấn sư đứng hơi tiến lên phía trước nhóm.
111. The group is formed in a semi-circle which symbolizes the chalice of reception.
111. Nhóm đứng thành hình bán nguyệt, tượng trưng cho chiếc chén tiếp nhận.
2. Then stretching out your hands in blessing, say together with solemn, voiced intent the formula or Mantram of Unification, beginning “The sons of men are one,” which you have been using each morning in your personal meditation. Throw the power of your focussed thought and will into and behind the words.
2. Sau đó, dang tay ban phúc lành, hãy cùng nhau đọc thành tiếng, với chủ ý trang nghiêm, công thức hay Mantram Hợp Nhất, bắt đầu bằng “Những người con của nhân loại là một,” mà các bạn vẫn dùng mỗi sáng trong bài thiền cá nhân. Hãy dồn quyền năng của tư tưởng và ý chí tập trung vào những lời ấy, làm sức mạnh nâng đỡ chúng.
112. It is effective to stretch forth the hands in blessing. This gesture can be performed both inwardly and outwardly. There seems to be hint that this meditation can be performed in a strictly interior manner, but that it can also be physicalized to aid the participating chela in the imagination of the process.
112. Đưa hai tay ra ban phúc là một cử chỉ có hiệu quả. Có thể thực hiện cử chỉ này cả bên trong lẫn bên ngoài. Dường như có một gợi ý rằng bài tham thiền này có thể được thực hiện hoàn toàn trong nội tâm, nhưng cũng có thể biểu hiện qua động tác thể xác để giúp người đệ tử tham gia hình dung tiến trình.
113. We note the call for “solemn, voiced intent”. There is a need for great seriousness; solemnity allows no distractions to enter the process.
113. Chúng ta lưu ý lời kêu gọi có “chủ ý trang nghiêm được cất thành lời”. Cần hết sức nghiêm túc; sự trang nghiêm không cho phép bất cứ điều gì gây phân tâm xen vào tiến trình.
114. There is to be concentration upon the voice (even if the meditation is performed only imaginatively). The sound of the voice may also be used if the process is performed in a more physical manner.
114. Cần tập trung vào giọng nói (ngay cả khi chỉ thực hiện bài tham thiền trong sự tưởng tượng). Cũng có thể sử dụng âm thanh của giọng nói nếu thực hiện tiến trình theo cách có nhiều hoạt động thể xác hơn.
115. We can see that this section of the meditation is to be performed dynamically as indicated by the phrase “throw the power of your focussed thought and will into and behind the words”.
115. Chúng ta có thể thấy rằng phần này của bài tham thiền phải được thực hiện một cách năng động, như cụm từ “dồn sức mạnh của tư tưởng và ý chí đã tập trung vào trong và đằng sau những lời ấy” cho thấy.
3. Stand then together in the light which streams ever from the East and see it pouring through the Master to each of you, entering by the head centre, passing from thence to the heart centre, and then from the heart it is directed by an act of the focussed will— expressed and propelled forth consciously—to the quiescent point of dim light within the solar plexus.
3. Sau đó, hãy cùng nhau đứng trong ánh sáng luôn tuôn chảy từ phương Đông và thấy ánh sáng ấy tuôn qua Chân sư đến từng người trong các bạn, đi vào qua trung tâm đầu, từ đó xuống trung tâm tim, rồi từ tim, bằng một hành động của ý chí tập trung—được biểu lộ và hữu thức thúc đẩy hướng ra—ánh sáng được dẫn đến điểm ánh sáng mờ đang tĩnh lặng trong tùng thái dương.
116. This is a potent phase of the visualization. The great Light streams from the East. For our purposes, it can be considered the Light of Hierarchy or even the Light of Shamballa.
116. Đây là một giai đoạn mạnh mẽ của sự hình dung. Ánh sáng vĩ đại tuôn chảy từ phương Đông. Trong phạm vi thực hành của chúng ta, có thể xem đó là Ánh sáng của Thánh đoàn hoặc thậm chí là Ánh sáng của Shamballa.
117. The Master is the transformer of that Light, and the focus through which it can reach the group.
117. Chân sư là Đấng chuyển đổi Ánh sáng ấy và là tiêu điểm mà qua đó ánh sáng có thể đến với nhóm.
118. The manner in which the light is to enter the disciple (and the path it is to take within his energy system) is interesting and important. The first point of entry is the head center. The next point is the heart center. From there it is propelled to the quiescent point of vital light within the solar plexus.
118. Cách ánh sáng đi vào đệ tử (và con đường nó đi trong hệ thống năng lượng của y) rất thú vị và quan trọng. Điểm đi vào đầu tiên là trung tâm đầu. Điểm tiếp theo là trung tâm tim. Từ đó, ánh sáng được đẩy đến điểm sinh quang đang tĩnh lặng bên trong tùng thái dương.
119. Earlier we read that the head is to activate the quiescent point in the solar plexus, but now we see that this activation is to proceed through the heart center.
119. Trước đó, chúng ta đã đọc rằng đầu phải kích hoạt điểm tĩnh lặng trong tùng thái dương, nhưng giờ đây chúng ta thấy rằng việc kích hoạt này phải diễn ra qua trung tâm tim.
120. Once the light is centered in the heart, the focussed will is engaged to propel it to the ‘higher’ solar plexus point. We note that the quiescent point (though described as a center of vital light) is relatively “dim”.
120. Một khi ánh sáng đã tập trung trong tim, ý chí đã tập trung được vận dụng để đẩy ánh sáng đến điểm “cao hơn” của tùng thái dương. Chúng ta lưu ý rằng điểm tĩnh lặng này (dù được mô tả là một trung tâm sinh quang) tương đối “mờ nhạt”.
121. In considering the manner of relating of the heart and higher solar plexus (as here presented), we note that the work proceeds from the top down. This phase of the mediation is, therefore, not aspirational work, but the work of the will. Aspiration is up-reaching; will is imposed from above or from within.
121. Khi xem xét cách liên kết tim với phần cao hơn của tùng thái dương (như trình bày ở đây), chúng ta lưu ý rằng công việc tiến hành từ trên xuống. Do đó, giai đoạn này của bài tham thiền là công việc của ý chí, không phải công việc của khát vọng. Khát vọng vươn lên; ý chí tác động từ trên xuống hoặc từ bên trong ra.
4. Then, withdrawing again to the head centre, endeavour consciously to see the three centres (head, heart and solar plexus) linked together so that the heads of all the group members are thinking as one and the hearts of the group members are loving as one.
4. Sau đó, lại rút về trung tâm đầu, hãy cố gắng hữu thức thấy ba trung tâm (đầu, tim và tùng thái dương) liên kết với nhau, sao cho đầu của mọi thành viên trong nhóm cùng suy nghĩ như một và tim của các thành viên cùng yêu thương như một.
122. In point 3, we were working within the heart. Now, again, we are to work within the head.
122. Ở mục 3, chúng ta làm việc trong tim. Giờ đây, một lần nữa, chúng ta phải làm việc trong đầu.
123. We see that the suggested visualization is meant to produce a group unity in which there can be united group thought and united group love.
123. Chúng ta thấy rằng sự hình dung được đề nghị nhằm tạo ra tính hợp nhất của nhóm, trong đó có thể có tư tưởng nhóm hợp nhất và tình thương nhóm hợp nhất.
124. We are to visualize this process successfully achieved. We can understand the power of this meditation/visualization to bring about group unification.
124. Chúng ta phải hình dung tiến trình này đã thành tựu. Chúng ta có thể thấu hiểu sức mạnh của bài tham thiền/sự hình dung này trong việc đem lại sự hợp nhất nhóm.
Your aspiration also (through the spiritual awakening of the solar plexus) will then surge upwards as one spontaneous movement. This will in due time create a magnetic field of light and life, within which the New Group of World Servers will live, mature and come to fruition.
Khi ấy, khát vọng của các bạn cũng sẽ dâng lên như một chuyển động tự phát duy nhất (thông qua sự thức tỉnh tinh thần của tùng thái dương). Đến thời điểm thích hợp, điều này sẽ tạo nên một trường từ tính của ánh sáng và sự sống, trong đó Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ sống, trưởng thành và đơm hoa kết quả.
125. In point 3, there was an imposition of higher light from the Source, through the Master, via the head center and then via the heart center (through an act of will) to the quiescent point within the solar plexus. We note that this was imposition from above.
125. Ở mục 3, ánh sáng cao hơn từ Cội Nguồn được truyền xuống qua Chân sư, qua trung tâm đầu rồi qua trung tâm tim (bằng một hành động của ý chí) đến điểm tĩnh lặng bên trong tùng thái dương. Chúng ta lưu ý rằng đây là một tác động áp đặt từ trên xuống.
126. The imposition will have a reflex action. If the imposition is successfully accomplished, there will be an up-surging of aspiration, and it will occur in “one spontaneous movement”. We are reminded of Master Morya’s analogy of the “pump”. The greater the downward pressure the greater the resultant up-surging.
126. Tác động áp đặt ấy sẽ tạo ra một phản ứng ngược chiều. Nếu thực hiện thành công tác động ấy, khát vọng sẽ dâng lên trong “một chuyển động tự phát duy nhất”. Chúng ta nhớ đến phép tương đồng về “máy bơm” của Chân sư Morya. Áp lực hướng xuống càng lớn thì sự dâng lên do nó tạo ra càng mạnh.
127. We can see that the proposed meditation is meant to be of service to the New Group of World Servers. Within the NGWS is to be found an occult center. The Tibetan seems to be engaging His group of chelas in processes related to the functioning of this occult center.
127. Chúng ta có thể thấy rằng bài tham thiền được đề xuất nhằm phụng sự Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Bên trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có một trung tâm huyền bí. Dường như Chân sư Tây Tạng đang đưa nhóm đệ tử của Ngài tham gia những tiến trình liên quan đến hoạt động của trung tâm huyền bí này.
128. The NGWS is not yet complete in its form and inner structure. Much necessary growth lies before it. DK is showing how this meditation to be performed at the time of the Full Moon may be utilized to promote the necessary growth and development within this world-wide subjective group.
128. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chưa hoàn chỉnh về hình tướng và cấu trúc bên trong. Nhóm còn cần tăng trưởng rất nhiều. Chân sư DK đang chỉ ra cách sử dụng bài tham thiền thực hiện vào thời điểm Trăng Tròn này để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển cần thiết trong nhóm chủ quan có phạm vi toàn thế giới ấy.
[119]
[119]
Keep the whole process, my brother, very simple and uncomplicated in your mind. If you will follow the above instructions with the simplicity of a little child, you will bring about a situation wherein work will be possible. Look not for results. Yours is to do the outlined work and this, when rightly done, makes the due result inevitable.
Huynh đệ của tôi, hãy giữ toàn bộ tiến trình thật đơn giản và không phức tạp trong thể trí các bạn. Nếu tuân theo những huấn thị trên với sự đơn sơ của một trẻ nhỏ, các bạn sẽ tạo nên một hoàn cảnh trong đó công việc có thể thực hiện. Đừng tìm kiếm kết quả. Phần việc của các bạn là thực hiện công việc đã phác thảo, và khi thực hiện đúng, kết quả thích đáng tất yếu sẽ đến.
129. As we can see from the analysis offered, it is possible to note subtleties in the process offered by the Tibetan. While such subtleties may be recognized, those who perform the meditation are to perform it in all simplicity. The many aspects of the work are to blend into a simple and flowing process which will deliver inevitable results when rightly performed.
129. Như có thể thấy từ phần phân tích đã trình bày, chúng ta có thể nhận ra những điểm tinh tế trong tiến trình mà Chân sư Tây Tạng đưa ra. Dù có thể nhận biết những điểm tinh tế ấy, những người thực hiện bài tham thiền vẫn phải thực hành một cách hoàn toàn đơn giản. Nhiều phương diện của công việc phải hòa vào một tiến trình đơn giản và trôi chảy, tất yếu đem lại kết quả khi thực hiện đúng.
130. The intelligent aspirant of the modern age may tend to overcomplicate simple processes. He may also constantly look for the results in which he is so fundamentally interested. Master DK advises simplicity and trust with an expectation of success.
130. Người chí nguyện thông minh của thời hiện đại có thể có khuynh hướng làm những tiến trình đơn giản trở nên quá phức tạp. Y cũng có thể liên tục tìm kiếm những kết quả mà y hết sức quan tâm. Chân sư DK khuyên giữ sự đơn giản và lòng tin, với niềm mong đợi thành công.
But as I told you before, “it is the inner life of reflection and the outer life of expressed love which will determine the success of the needed group relation and the potency of its future work” in the service of humanity.
Nhưng như Tôi đã nói với các bạn trước đây, “chính đời sống suy ngẫm bên trong và đời sống biểu lộ tình thương bên ngoài sẽ quyết định sự thành công của mối quan hệ nhóm cần thiết và uy lực của công việc tương lai của nhóm” trong việc phụng sự nhân loại.
131. DK expects His chelas to follow the process in all simplicity. Before closing He reminds them of the fundamentals.
131. Chân sư DK mong đợi các đệ tử của Ngài thực hiện tiến trình một cách hoàn toàn đơn giản. Trước khi kết thúc, Ngài nhắc họ về những điều căn bản.
132. Two things are needed to produce successful group relations and potent group work. These two are
132. Cần hai điều để tạo ra những mối liên hệ nhóm thành công và công việc nhóm mạnh mẽ. Hai điều ấy là
The inner life of reflection
Đời sống suy ngẫm bên trong
An outer life of expressed love
Đời sống biểu lộ tình thương bên ngoài
133. The fundamentals are simple though often evaded. Many of the chelas were very introverted. For them the inner life of reflection was somewhat natural; the outer life of expressed love, however, required practice.
133. Những điều căn bản tuy đơn giản nhưng thường bị né tránh. Nhiều đệ tử rất hướng nội. Với họ, đời sống suy ngẫm bên trong phần nào là tự nhiên; tuy nhiên, đời sống biểu lộ tình thương bên ngoài đòi hỏi thực hành.
MEDITATION PART II [120-125] – BÀI THIỀN PHẦN II [120-125]
In the last instruction, I started you on the first part of the new meditation. The completed meditation involves the process of relating heart and head and then—by an act of the will—linking up both with the quiescent point within the solar plexus—that point of which nothing has as yet been taught (though the necessity for such a point was obvious in the work of transferring energy) but which is of vital significance in all preparation for initiation.
Trong huấn thị trước, Tôi đã hướng dẫn các bạn bắt đầu phần thứ nhất của bài thiền mới. Bài thiền hoàn chỉnh bao gồm tiến trình liên kết tim với đầu, rồi—bằng một hành động của ý chí—nối kết cả hai với điểm tĩnh lặng trong tùng thái dương—điểm mà cho đến nay chưa có điều gì được giảng dạy (dù sự cần thiết của một điểm như thế đã hiển nhiên trong công việc chuyển dịch năng lượng), nhưng lại có thâm nghĩa thiết yếu trong mọi sự chuẩn bị cho điểm đạo.
134. DK tells us again His discussion of the quiescent point within the solar plexus offers a new piece of information.
134. Chân sư DK một lần nữa cho chúng ta biết rằng phần thảo luận của Ngài về điểm tĩnh lặng bên trong tùng thái dương đưa ra một thông tin mới.
135. We note that the quiescent point is “within” the solar plexus; we are naturally interested in the exact location of this point, though it can probably be better felt (at this point in our development) than visually located.
135. Chúng ta lưu ý rằng điểm tĩnh lặng nằm “bên trong” tùng thái dương; dĩ nhiên, chúng ta quan tâm đến vị trí chính xác của điểm này, dù có lẽ ở giai đoạn phát triển hiện tại, chúng ta cảm nhận nó tốt hơn là xác định vị trí bằng sự hình dung.
136. DK tells us that the necessity for the quiescent point was “obvious in the work of transferring energy”. When we think about it, do we find that it was obvious for us, and if so why?
136. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng sự cần thiết của điểm tĩnh lặng đã “hiển nhiên trong công việc chuyển dịch năng lượng”. Khi suy nghĩ về điều này, chúng ta có thấy rằng nó đã hiển nhiên đối với mình không, và nếu có thì tại sao?
137. We note that until the point in time when this teaching was released, nothing had been taught of this quiescent point of vital light—a kind of ‘higher’ solar plexus center..
137. Chúng ta lưu ý rằng cho đến thời điểm giáo huấn này được công bố, chưa có giáo huấn nào nói về điểm sinh quang tĩnh lặng này—một dạng trung tâm tùng thái dương “cao hơn”.
138. We note also the implication that only for those in preparation for initiation is this quiescent center of “vital significance”. Whether we are speaking of the first or second initiation can be debated; we may say with some assuredness, however, that the center is certainly of significance in the training of those preparing for the second initiation.
138. Chúng ta cũng lưu ý hàm ý rằng chỉ đối với những người đang chuẩn bị cho điểm đạo, trung tâm tĩnh lặng này mới có “thâm nghĩa sống còn”. Có thể tranh luận xem chúng ta đang nói về lần điểm đạo thứ nhất hay lần điểm đạo thứ hai; tuy nhiên, chúng ta có thể khá chắc chắn mà nói rằng trung tâm này quả thực có thâm nghĩa trong việc huấn luyện những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai.
That is as far as I took you in the last meditation but to it must be added the individual meditation which will aid in group integration and in the unfoldment of the individual disciple.
Đó là mức Tôi đã dẫn các bạn đến trong bài thiền trước, nhưng cần bổ sung vào đó bài thiền cá nhân, sẽ trợ giúp sự tích hợp nhóm và sự khai mở của từng đệ tử.
139. DK has here been recapitulating what He has given in the earlier instruction—Part I.
139. Ở đây, Chân sư DK đang tóm lược lại những gì Ngài đã trao trong huấn thị trước—Phần I.
140. It cannot be said that the individual meditations He gave were unimportant, for they are considered to be an aid in group integration. It is simply that the group meditations are to be considered more important, though neither type of meditation can stand entirely by itself.
140. Không thể nói rằng những bài tham thiền cá nhân Ngài đã trao là không quan trọng, vì chúng được xem là phương tiện hỗ trợ sự tích hợp nhóm. Chỉ đơn giản là cần xem các bài tham thiền nhóm quan trọng hơn, dù không loại tham thiền nào có thể hoàn toàn đứng riêng.
You will have noted, I am sure, that in the meditation assigned for daily use, I did not carry it forward to where the will is exerted and the energy in the head is driven to the quiescent centre in the solar plexus. You will have noted also that at the time of the Full Moon and in group formation, plus direct contact with myself, you were permitted together to link heart, head and solar plexus. Once a month and then only through the protective magnetic field of the group life can you complete the meditation.
Tôi tin chắc các bạn đã lưu ý rằng, trong bài thiền được giao để thực hành hằng ngày, Tôi chưa đưa bài thiền đến chỗ vận dụng ý chí và đẩy năng lượng trong đầu xuống trung tâm tĩnh lặng ở tùng thái dương. Các bạn cũng đã lưu ý rằng vào thời điểm Trăng Tròn, khi tập hợp thành nhóm và có thêm sự tiếp xúc trực tiếp với Tôi, các bạn mới được phép cùng nhau liên kết tim, đầu và tùng thái dương. Mỗi tháng một lần, và chỉ thông qua trường từ tính bảo vệ của sự sống nhóm, các bạn mới có thể hoàn tất bài thiền.
141. DK speaks of His rather reserved and measured approach to His impartation of the full meditation process.
141. Chân sư DK nói về cách tiếp cận khá dè dặt và có chừng mực của Ngài khi truyền đạt toàn bộ tiến trình tham thiền.
142. We remember from the earlier instruction that the energy of the head reached the quiescent point in the solar plexus via the heart center, from which center the will was applied.
142. Chúng ta nhớ từ huấn thị trước rằng năng lượng của đầu đi qua trung tâm tim để đến điểm tĩnh lặng trong tùng thái dương, và ý chí được vận dụng từ trung tâm tim ấy.