← Commentary DINA II – Teaching on meditation

MEDITATION PART III [126-128] – BÀI THIỀN PHẦN III [126-128]

Trích nội dung chương

143. Here DK speaks of driving the head center energy into the quiescent centre in the solar plexus. 143. Ở đây, Chân sư DK nói về việc dẫn năng lượng của trung tâm đầu vào trung tâm tĩnh lặng trong tùng thái dương.


143. Here DK speaks of driving the head center energy into the quiescent centre in the solar plexus.

143. Ở đây, Chân sư DK nói về việc dẫn năng lượng của trung tâm đầu vào trung tâm tĩnh lặng trong tùng thái dương.

The Full Moon work will remain as already assigned for the remainder of the year, but we will complete the meditation and I will now outline for you Stage II in the group meditation. The first half should now be so familiar to you that it will be automatic in its doing and should take only a [120] few minutes to complete.

Công việc Trăng Tròn sẽ giữ nguyên như đã giao trong thời gian còn lại của năm, nhưng chúng ta sẽ hoàn chỉnh bài thiền, và giờ đây Tôi sẽ phác thảo cho các bạn Giai đoạn II của bài thiền nhóm. Đến nay, nửa đầu hẳn đã quen thuộc với các bạn đến mức có thể thực hiện tự động và chỉ mất [120] vài phút để hoàn tất.

144. When a meditation is familiar, it can be completed as effectively in a few minutes as in many.

144. Khi một bài tham thiền đã trở nên quen thuộc, việc hoàn tất bài thiền trong vài phút có thể đạt hiệu quả ngang với việc dành nhiều thời gian hơn.

It is in the nature of a preface to the one I am now seeking to assign. It should leave each of you (if carrying it forward to a right conclusion) with the consciousness and heart energy focussed in the head.

Phần này có tính chất mở đầu cho bài thiền mà giờ đây Tôi đang muốn giao. Khi hoàn tất phần ấy (nếu thực hiện đến kết thúc đúng đắn), mỗi người trong các bạn cần có tâm thức và năng lượng tim tập trung trong đầu.

145. One of the chief objectives of the first phase of the meditation was to raise the consciousness and heart energy to the head—the place from which all truly occult meditation must proceed.

145. Một trong những mục tiêu chính của giai đoạn đầu của bài tham thiền là nâng tâm thức và năng lượng tim lên đầu—nơi khởi phát của mọi sự tham thiền huyền bí đích thực.

The activity of the true spiritual man has not been aroused, and when it is, the effect on the downflow of energy from the head centre will be threefold:

Hoạt động của con người tinh thần chân chính chưa được khơi dậy, và khi được khơi dậy, nó sẽ tạo tác động tam phân lên dòng năng lượng tuôn xuống từ trung tâm đầu:

146. We are speaking of the arousal of the true spiritual man (the soul). This had not yet been accomplished in the first phase of the meditation.

146. Chúng ta đang nói về việc khơi dậy con người tinh thần đích thực (linh hồn). Điều này vẫn chưa hoàn thành trong giai đoạn đầu của bài tham thiền.

147. It is as if the true spiritual man works from the head center.

147. Có thể nói con người tinh thần đích thực hoạt động từ trung tâm đầu.

1. The awakened point in the solar plexus will become extremely active and—if the work is correctly done—it will make that point also exceedingly magnetic, gathering all the energies of all the centres below the diaphragm (except the one at the base of the spine), and this involves the sacral centre and other little focal points of energy, up into the solar plexus. There they must be held steady until such time as the man is ready to deal with them occultly.

1. Điểm đã thức tỉnh trong tùng thái dương sẽ trở nên hết sức năng động và—nếu công việc được thực hiện đúng—điểm ấy cũng sẽ có từ tính cực mạnh, thu hút lên tùng thái dương toàn bộ năng lượng của tất cả các trung tâm dưới cơ hoành (ngoại trừ trung tâm ở đáy cột sống), bao gồm trung tâm xương cùng và những tiêu điểm năng lượng nhỏ khác. Tại đó, chúng phải được giữ ổn định cho đến khi con người sẵn sàng xử lý chúng theo phương pháp huyền bí.

148. The meditation stimulates not only the quiescent point but the already awakened point within the solar plexus—the point of ancient origin.

148. Bài tham thiền kích thích cả điểm tĩnh lặng lẫn điểm đã thức tỉnh trong tùng thái dương—điểm có nguồn gốc từ xa xưa.

149. The awakened point is to become highly magnetized so that all the energies below the diaphragm (except, at this stage, the energies of the base of the spine) may be gathered into the solar plexus center.

149. Điểm đã thức tỉnh phải trở nên có từ tính mạnh mẽ để có thể thu gom toàn bộ năng lượng dưới cơ hoành (ngoại trừ năng lượng ở đáy cột sống trong giai đoạn này) vào trung tâm tùng thái dương.

150. It is significant that the energies of the base of the spine are excluded as the base center is to be fully awakened only in the later days of spiritual development.

150. Việc loại trừ các năng lượng ở đáy cột sống có ý nghĩa quan trọng, vì trung tâm đáy cột sống chỉ được đánh thức hoàn toàn trong những giai đoạn muộn của sự phát triển tinh thần.

151. We note the inclusive nature of the solar plexus as it gathers the energy of a number of little focal points of energy which need not be specified for purposes of this meditation.

151. Chúng ta lưu ý bản chất bao gồm của tùng thái dương khi nó thu gom năng lượng từ một số tiêu điểm năng lượng nhỏ mà chúng ta không cần nêu cụ thể cho mục đích của bài tham thiền này.

152. We note that the energies gathered into the solar plexus must not be simply dealt with but must be dealt with “occultly”; this probably means that they are to be directed from the head center.

152. Chúng ta lưu ý rằng các năng lượng được thu gom vào tùng thái dương không thể chỉ được xử lý theo cách thông thường, mà phải được xử lý “theo phương pháp huyền bí”; có lẽ điều này có nghĩa là phải điều khiển chúng từ trung tâm đầu.

2. The unawakened or quiescent point of light in the solar plexus comes slowly to life and to a state of new vibratory activity. Its magnetic field steadily increases and widens until it contacts the periphery of the magnetic field surrounding the heart centre.

2. Điểm ánh sáng chưa thức tỉnh hay đang tĩnh lặng trong tùng thái dương dần dần trở nên sống động và đi vào một trạng thái hoạt động rung động mới. Trường từ tính của nó đều đặn gia tăng và mở rộng cho đến khi tiếp xúc với chu vi của trường từ tính bao quanh trung tâm tim.

153. As the process goes forward we note its bridging nature.

153. Khi tiến trình tiếp diễn, chúng ta nhận thấy bản chất bắc cầu của nó.

154. One of the major points of the exercise is to arouse the quiescent point to a new level of activity, but at first that level cannot equal the stimulation received by the already awakened center. The quiescent center comes only slowly to life.

154. Một trong những điểm chính của bài tập là khơi dậy điểm tĩnh lặng lên một cấp độ hoạt động mới, nhưng lúc đầu cấp độ ấy chưa thể sánh với mức kích thích mà trung tâm đã thức tỉnh nhận được. Trung tâm tĩnh lặng chỉ dần dần trở nên sống động.

155. In this process we are dealing with the expansion of chakric spheres of activity, their gradual contact and eventual interpenetration. What we have described here is the manner in which the solar plexus energies are raised to the heart center.

155. Trong tiến trình này, chúng ta đang đề cập đến sự mở rộng các khối cầu hoạt động của luân xa, sự tiếp xúc dần dần và cuối cùng là sự thâm nhập lẫn nhau của chúng. Điều chúng ta mô tả ở đây là cách các năng lượng tùng thái dương được nâng lên trung tâm tim.

3. When the two above stages are completed, then comes a lengthy process of transference. The solar plexus is the clearing house between the lower energies and the higher. This process is in itself dual:

3. Khi hai giai đoạn trên hoàn tất, tiếp theo là một tiến trình chuyển dịch kéo dài. Tùng thái dương là trạm trung chuyển giữa các năng lượng thấp và các năng lượng cao. Chính tiến trình này có hai mặt:

156. Once the two centers (the quiescent point/center and heart center) have made contact, a lengthy process of transference begins. All lower energies must pass through the solar plexus on the way to the higher centers.

156. Khi hai trung tâm (điểm/trung tâm tĩnh lặng và trung tâm tim) đã tiếp xúc với nhau, một tiến trình chuyển dịch lâu dài bắt đầu. Mọi năng lượng thấp đều phải đi qua tùng thái dương trên đường đến các trung tâm cao.

157. The process of transference is now described in two phases.

157. Giờ đây, tiến trình chuyển dịch được mô tả qua hai giai đoạn.

a. The two points within the solar plexus field of activity become definitely related to each other, and the lower sacral and material energies are transferred into the hitherto quiescent point of light, now awakened and intensifying in quality and potency.

a. Hai điểm trong trường hoạt động của tùng thái dương thiết lập mối liên hệ rõ rệt với nhau, và các năng lượng thấp của xương cùng cùng các năng lượng vật chất được chuyển vào điểm ánh sáng vốn tĩnh lặng cho đến lúc ấy, nay đã thức tỉnh và đang gia tăng phẩm tính cùng uy lực.

158. It is important for the transference process that the two points within the solar plexus become related to each other.

158. Việc hai điểm trong tùng thái dương thiết lập mối liên hệ với nhau có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình chuyển dịch.

159. The energies below the solar plexus are here referred to as “lower sacral and material energies” and these are transferred not only into the awakened point within the solar plexus but to the hitherto quiescent but now awakened point.

159. Ở đây, các năng lượng bên dưới tùng thái dương được gọi là “các năng lượng xương cùng và vật chất thấp”, và chúng được chuyển dịch không chỉ vào điểm đã thức tỉnh trong tùng thái dương mà còn vào điểm vốn tĩnh lặng cho đến lúc này nhưng nay đã thức tỉnh.

160. The now awakening higher point is “intensifying in quality and potency”. It can be seen that one of the objectives of this meditation is to transform the higher point from one that has responded only slowly into one that is far more fully awakened and interactive with the heart center.

160. Điểm cao hơn hiện đang thức tỉnh “gia tăng về phẩm tính và uy lực”. Có thể thấy rằng một trong những mục tiêu của bài tham thiền này là chuyển đổi điểm cao hơn từ một điểm chỉ đáp ứng chậm chạp thành một điểm thức tỉnh đầy đủ hơn nhiều và tương tác với trung tâm tim.

b. The concentrated energies in the new centre within the periphery of the solar plexus are then lifted by an act of the will into the heart centre and from thence to the head.

b. Sau đó, bằng một hành động của ý chí, các năng lượng tập trung trong trung tâm mới bên trong chu vi tùng thái dương được nâng lên trung tâm tim và từ đó lên đầu.

161. The lower center within the solar plexus, long awakened, has been greatly stimulated and has received still lower energies into its sphere of activity; this has been followed by a transference of those energies into the now rapidly awakening higher point within the solar plexus.

161. Trung tâm thấp hơn trong tùng thái dương, vốn đã thức tỉnh từ lâu, được kích thích mạnh mẽ và đã tiếp nhận các năng lượng còn thấp hơn vào khối cầu hoạt động của nó; tiếp theo là sự chuyển dịch những năng lượng ấy vào điểm cao hơn trong tùng thái dương, hiện đang thức tỉnh nhanh chóng.

162. We note that the Tibetan begins to call the higher point a “new centre”.

162. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng bắt đầu gọi điểm cao hơn là một “trung tâm mới”.

163. This is followed by a transference of energies (gathered into the higher point) into the heart center itself, and this by an act of will. Once transference into the heart center is achieved, there is a further willful transference of energies into the head center.

163. Tiếp theo là sự chuyển dịch các năng lượng (đã thu gom vào điểm cao hơn) vào chính trung tâm tim, và điều này diễn ra bằng một hành động của ý chí. Khi đã chuyển dịch vào trung tâm tim, các năng lượng lại tiếp tục được chuyển dịch lên trung tâm đầu bằng ý chí.

164. We note that in this transference process, the energies of the will are being more actively employed than in the first part of the meditation (given in the earlier instruction)

164. Chúng ta lưu ý rằng trong tiến trình chuyển dịch này, các năng lượng của ý chí được vận dụng tích cực hơn so với phần đầu của bài tham thiền (được trình bày trong huấn thị trước)

In this triple transference of the lower energies to the solar plexus, to the heart and finally to the head, we have a [121] pictorial and symbolic presentation within the life experience of the disciple of the interrelation and eventual transference of energy from the personality (symbolised by the solar plexus) to the soul (symbolised by the heart centre) and from the soul to the Monad (symbolised by the head centre).

Trong sự chuyển dịch tam phân này của các năng lượng thấp lên tùng thái dương, lên tim và cuối cùng lên đầu, chúng ta có một [121] sự trình bày bằng hình ảnh và biểu tượng, ngay trong kinh nghiệm sống của đệ tử, về mối tương quan và sự chuyển dịch năng lượng sau cùng từ phàm ngã (do tùng thái dương biểu trưng) đến linh hồn (do trung tâm tim biểu trưng), và từ linh hồn đến chân thần (do trung tâm đầu biểu trưng).

165. The symbolical nature of the triple transference is elucidated. The solar plexus stands for the personality, the heart center for the soul and the head center for the personality. Eventually, and over a long period of time, this greater transference (symbolized by the lesser) is completed.

165. Bản chất biểu tượng của sự chuyển dịch tam phân được làm sáng tỏ. Tùng thái dương đại diện cho phàm ngã, trung tâm tim cho linh hồn và trung tâm đầu cho phàm ngã. Cuối cùng, qua một thời gian dài, sự chuyển dịch lớn hơn này (do sự chuyển dịch nhỏ hơn tượng trưng) sẽ hoàn tất.

166. From an astrological perspective, we might consider the transference as one from Mars/Moon to Jupiter, and eventually to Vulcan/Sun. The Sun may also be found active at the heart center. The whole process is directed, symbolically, by Venus at the ajna center.

166. Từ góc nhìn chiêm tinh học, chúng ta có thể xem sự chuyển dịch này là từ Sao Hỏa/Mặt Trăng đến Sao Mộc, và cuối cùng đến Vulcan/Mặt Trời. Mặt Trời cũng có thể hoạt động tại trung tâm tim. Về mặt biểu tượng, toàn bộ tiến trình do Sao Kim tại trung tâm ajna điều khiển.

These correspondences are of value as they are an argument for the factual nature of the process and they also enable the aspirant to grasp somewhat the nature of the undertaking to which he is committed.

Những sự tương ứng này có giá trị vì chúng là luận cứ cho tính thực tế của tiến trình, đồng thời giúp người chí nguyện phần nào nắm bắt bản chất của công việc mà y đã cam kết thực hiện.

222. We might say, ‘committed over time ’. Note that the one affecting the transfer is called an “aspirant”, but let it be remembered that every true aspirant has taken the first initiation.

222. Chúng ta có thể nói, ‘đã cam kết qua thời gian ’. Hãy lưu ý rằng người thực hiện sự chuyển dịch được gọi là một “người chí nguyện”, nhưng cần nhớ rằng mọi người chí nguyện đích thực đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất.

Certain aspects of relationship, therefore, emerge into the consciousness of the disciple and at this point in his training the following four relations are of major importance:

Do đó, một số phương diện của mối quan hệ xuất hiện trong tâm thức đệ tử, và ở thời điểm này trong quá trình huấn luyện, bốn mối quan hệ sau có tầm quan trọng chủ yếu:

167. When we are subjected to a process of training, it is not enough that we simply perform certain required actions; it is also required that we somewhat understand the place of those actions within the larger scheme of things.

167. Khi trải qua một tiến trình huấn luyện, chúng ta không thể chỉ thực hiện một số hành động theo yêu cầu; chúng ta còn phải phần nào thấu hiểu vị trí của những hành động ấy trong trật tự rộng lớn hơn của vạn vật.

1. The relation of the energies, found below the diaphragm and corresponding to the personality life (motivated by desire), and the higher energies found above the diaphragm and motivated by the soul.

1. Mối quan hệ giữa các năng lượng dưới cơ hoành, tương ứng với đời sống phàm ngã (do dục vọng thúc đẩy), và các năng lượng cao hơn trên cơ hoành, do linh hồn thúc đẩy.

168. Symbolically (and, in fact, actually) the diaphragm is the great dividing line between personal and transpersonal (i.e., soul) energies.

168. Về mặt biểu tượng (và trên thực tế cũng vậy), cơ hoành là đường phân chia lớn giữa các năng lượng cá nhân và các năng lượng siêu cá nhân (tức là các năng lượng linh hồn).

169. It is important to note when attempting to understand personality life that it is motivated by desire. In this respect, the energy of desire and the energy of soul are great opposites. We might say that the energies of soul are the energies of love. Astrologically we are dealing with the contrast between Mars (desire) and soul/love (Venus)

169. Khi cố gắng thấu hiểu sự sống phàm ngã, cần lưu ý rằng dục vọng là động lực thúc đẩy sự sống ấy. Về phương diện này, năng lượng dục vọng và năng lượng linh hồn là hai đối cực lớn. Chúng ta có thể nói rằng các năng lượng linh hồn là các năng lượng bác ái. Về mặt chiêm tinh học, chúng ta đang đề cập đến sự tương phản giữa Sao Hỏa (dục vọng) và linh hồn/bác ái (Sao Kim)

These are as yet in the case of the average aspirant, practically entirely quiescent and only become a realised activity as the soul establishes increasing control over the disciple.

Đối với người chí nguyện thông thường, các năng lượng cao này cho đến nay hầu như vẫn hoàn toàn tĩnh lặng, và chỉ trở thành hoạt động được nhận biết khi linh hồn ngày càng thiết lập sự kiểm soát đối với đệ tử.

170. It is quite a statement that the higher energies of soul are almost entirely quiescent in the case of the average aspirant. Does DK mean the type of aspirant who has already taken the first initiation? If so He is letting us know how much we have yet to accomplish.

170. Nhận định rằng các năng lượng cao của linh hồn gần như hoàn toàn tĩnh lặng nơi người chí nguyện trung bình quả là đáng chú ý. Chân sư DK có muốn nói đến kiểu người chí nguyện đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất không? Nếu vậy, Ngài đang cho chúng ta biết mình còn phải hoàn thành nhiều đến mức nào.

2. The relation between the two points within the solar plexus itself.

2. Mối quan hệ giữa hai điểm ngay trong tùng thái dương.

171. Again we note that the two points of vital light are “within” the solar plexus.

171. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng hai điểm ánh sáng sinh lực nằm “bên trong” tùng thái dương.

These are symbolic also of the personality-soul relationship.

Hai điểm này cũng biểu trưng cho mối quan hệ phàm ngã–linh hồn.

172. We have been given two methods of symbolizing the personality and soul relationship. The first has related to the centers below and above the diaphragm. The second is, in a way, even more specific, and relates to the two points within the solar plexus—the lower representing the personality and the higher the soul.

172. Chúng ta đã được trao hai cách biểu tượng hóa mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn. Cách thứ nhất liên quan đến các trung tâm bên dưới và bên trên cơ hoành. Theo một nghĩa nào đó, cách thứ hai còn cụ thể hơn và liên quan đến hai điểm trong tùng thái dương—điểm thấp hơn đại diện cho phàm ngã, điểm cao hơn đại diện cho linh hồn.

One point is awakened, as to the lower life of man; the other point is awakening, as in the case of the aspirant, or is totally awakened as is the case of the pledged disciple, prior to the second initiation.

Một điểm đã thức tỉnh đối với đời sống thấp của con người; điểm kia đang thức tỉnh, như trường hợp người chí nguyện, hoặc đã hoàn toàn thức tỉnh, như trường hợp đệ tử đã cam kết trước lần điểm đạo thứ hai.

173. The little section immediately above is entirely explicit. The average non-aspiring man will have the lower point awakened. For the aspirant the higher point is awakening but not fully awakened. For the pledged disciple prior to the second initiation (a disciple who is likely to be, as well, an accepted disciple) the higher point is “totally awakened”. This confirms the thought earlier expressed that the process of vivifying the higher vital point is very much related to the process of preparing for the second initiation.

173. Đoạn ngắn ngay trên đây hoàn toàn rõ ràng. Nơi người bình thường chưa có khát vọng, điểm thấp hơn đã thức tỉnh. Đối với người chí nguyện, điểm cao hơn đang thức tỉnh nhưng chưa thức tỉnh hoàn toàn. Đối với người đệ tử đã cam kết trước lần điểm đạo thứ hai (một đệ tử có lẽ cũng là một đệ tử được chấp nhận), điểm cao hơn đã “hoàn toàn thức tỉnh”. Điều này xác nhận ý đã nêu trước đó rằng tiến trình tiếp sinh lực cho điểm sinh lực cao hơn có liên hệ rất chặt chẽ với tiến trình chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai.

174. It has sometimes been thought that the higher vital point is associated with two of the ten petals of the solar plexus, whereas the lower is associated with eight. Were this the case, the relation of the higher point to the second initiation would receive yet another analogical confirmation.

174. Đôi khi người ta cho rằng điểm sinh lực cao hơn liên kết với hai trong số mười cánh hoa của tùng thái dương, trong khi điểm thấp hơn liên kết với tám cánh. Nếu đúng như vậy, mối liên hệ giữa điểm cao hơn với lần điểm đạo thứ hai sẽ có thêm một sự xác nhận qua phép tương đồng.

3. The relation between the solar plexus and the heart. This is of great importance and serves to clarify the mind of the aspirant because it is symbolic again of the immediate present problem of the personality and the soul.

3. Mối quan hệ giữa tùng thái dương và tim. Điều này hết sức quan trọng và giúp làm sáng tỏ thể trí của người chí nguyện, vì một lần nữa nó biểu trưng cho vấn đề hiện tại trước mắt của phàm ngã và linh hồn.

175. This is one of the key developmental relationships, and is one on which AAB was also working.

175. Đây là một trong những mối liên hệ then chốt trong quá trình phát triển, và cũng là một mối liên hệ mà Bà AAB đang nỗ lực phát triển.

176. To contemplate the fundamental relationship between solar plexus and heart does, indeed, offer great clarification for the mind of the aspirant. The fundamental pair of opposites in the life of the aspirant (namely soul and personality) is most clearly symbolized by the contrast between these two centers (heart and solar plexus).

176. Quả thật, việc chiêm ngưỡng mối liên hệ căn bản giữa tùng thái dương và tim giúp thể trí của người chí nguyện sáng tỏ rất nhiều. Cặp đối cực căn bản trong đời sống người chí nguyện (tức linh hồn và phàm ngã) được biểu trưng rõ nhất qua sự tương phản giữa hai trung tâm này (tim và tùng thái dương).

4. The relation between the ajna centre (between the eyebrows) and the thousand-petalled lotus. When these two centres are correctly related to each other, then the man can take the third initiation at which time the potency of the Monad can begin to make its presence felt, linking heart and head and solar plexus.

4. Mối quan hệ giữa trung tâm ajna (giữa hai chân mày) và hoa sen nghìn cánh. Khi hai trung tâm này liên hệ đúng đắn với nhau, con người có thể tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba; khi ấy, uy lực của chân thần có thể bắt đầu biểu lộ sự hiện diện, liên kết tim, đầu và tùng thái dương.

177. This is the final of the series of relationships. In this relation the ajna center plays the role of the personality and the thousand-petalled lotus of the soul/spirit.

177. Đây là mối liên hệ cuối cùng trong loạt mối liên hệ này. Trong mối liên hệ ấy, trung tâm ajna đóng vai trò phàm ngã, còn hoa sen nghìn cánh đóng vai trò linh hồn/tinh thần.

178. We note that it is not only relationship that is required but correct relationship if an individual is to take the third initiation.

178. Chúng ta lưu ý rằng để một người có thể trải qua lần điểm đạo thứ ba, điều cần thiết không chỉ là mối liên hệ, mà là mối liên hệ đúng đắn.

179. At the third initiation the potency of the monad makes its presence felt in a noticeable way. We are being told that a correct linking of ajna and crown center is necessary if the presence of monadic potency is to become a significant factor in the conscious life of the disciple.

179. Tại lần điểm đạo thứ ba, uy lực của chân thần biểu lộ sự hiện diện một cách rõ rệt. Chúng ta được cho biết rằng sự liên kết đúng đắn giữa ajna và trung tâm đỉnh đầu là điều cần thiết để sự hiện diện của uy lực chân thần trở thành một yếu tố có ý nghĩa trong đời sống hữu thức của người đệ tử.

180. It is interesting and important that monadic potency acts by linking “heart, head and solar plexus. Presumably this linking is not complete until the monadic potency becomes effective.

180. Điều thú vị và quan trọng là uy lực chân thần hoạt động bằng cách liên kết “tim, đầu và tùng thái dương. Có lẽ sự liên kết này chưa hoàn tất cho đến khi uy lực chân thần bắt đầu phát huy hiệu lực.

[122]

[122]

There is an intermediate stage in which the heart and the ajna centre become aligned and related. This stage is omitted from the enumeration given above owing to the fact that it is of a sevenfold nature and the method of transition and of transference is dependent upon the ray quality. One new item of information comes naturally here.

Có một giai đoạn trung gian trong đó tim và trung tâm ajna trở nên chỉnh hợp và liên hệ với nhau. Giai đoạn này không được đưa vào phần liệt kê trên vì nó có bản chất thất phân, và phương pháp chuyển tiếp cùng chuyển dịch phụ thuộc vào phẩm tính cung. Một thông tin mới tự nhiên được nêu ra ở đây.

181. The Tibetan is offering us a new item of information concerning the linking of the heart and ajna centers. This can be presumed as an intermediate linking before heart and head are entirely linked.

181. Chân sư Tây Tạng đang cung cấp cho chúng ta một thông tin mới về sự liên kết giữa trung tâm tim và trung tâm ajna. Có thể xem đây là một sự liên kết trung gian trước khi tim và đầu được liên kết hoàn toàn.

182. We are dealing with an item of some complexity, as the stage or method of linking ajna and heart is of a sevenfold nature. We can assume that DK often leaves out details which would be too complex for His students to handle effectively.

182. Chúng ta đang đề cập đến một vấn đề khá phức tạp, vì giai đoạn hay phương pháp liên kết ajna và tim có bản chất thất phân. Chúng ta có thể cho rằng Chân sư DK thường lược bỏ những chi tiết quá phức tạp khiến các đạo sinh của Ngài khó vận dụng hiệu quả.

183. As the majority of people are uncertain of their ray energies, the stage omitted would not be of much use to them.

183. Vì đa số mọi người chưa chắc chắn về các năng lượng cung của mình, giai đoạn được lược bỏ sẽ không hữu ích nhiều cho họ.

The throat centre is not included in these relationships between centres above the diaphragm as it is to them what the sacral centre is to the solar plexus—a point of pure creative activity, set in motion by the interplay of the other centres but particularly is the throat centre energised and actuated eventually by the sacral centre itself. It is an effect or result of relation more than anything else.

Trung tâm cổ họng không nằm trong những mối quan hệ giữa các trung tâm trên cơ hoành này, vì đối với chúng, trung tâm ấy có vai trò như trung tâm xương cùng đối với tùng thái dương—một điểm hoạt động sáng tạo thuần túy, được sự tương tác của các trung tâm khác khởi động; nhưng đặc biệt, cuối cùng chính trung tâm xương cùng tiếp sinh lực và thúc đẩy trung tâm cổ họng hoạt động. Hơn bất cứ điều gì khác, nó là một hệ quả hay kết quả của mối quan hệ.

184. If we study the section above closely, we shall see that it too offers new items of information.

184. Nếu nghiên cứu kỹ đoạn trên, chúng ta sẽ thấy rằng đoạn ấy cũng cung cấp những thông tin mới.

185. To follow the analogy, if the throat center is set in motion by the interplay of other centers, this may also be true of the sacral center (its lower correspondence).

185. Theo phép tương đồng này, nếu sự tương tác của các trung tâm khác khởi động trung tâm cổ họng, thì điều đó cũng có thể đúng với trung tâm xương cùng (đối phần tương ứng thấp hơn của nó).

186. An important analogy is given: the throat center is to the higher centers (those above the diaphragm) what the sacral center is to the solar plexus.

186. Một phép tương đồng quan trọng được đưa ra: vai trò của trung tâm cổ họng đối với các trung tâm cao hơn (những trung tâm trên cơ hoành) cũng giống vai trò của trung tâm xương cùng đối với tùng thái dương.

Three other items of interest might here be mentioned. First, the throat centre is brought into real activity by the direct action of the soul, via the head centre, in conjunction with the raising of the energy of the sacral centre simultaneously. This is analogous to the fact that the solar plexus is brought into real constructive usefulness by the direct action of the soul, via the heart centre.

Ở đây có thể đề cập thêm ba điều đáng chú ý. Thứ nhất, tác động trực tiếp của linh hồn qua trung tâm đầu, kết hợp với việc đồng thời nâng năng lượng của trung tâm xương cùng, đưa trung tâm cổ họng vào hoạt động thực sự. Điều này tương tự với việc tác động trực tiếp của linh hồn qua trung tâm tim đưa tùng thái dương vào trạng thái hữu ích mang tính xây dựng thực sự.

187. The esoteric revelations continue. The higher chakras here discussed are brought into “real” activity by the direct action of the soul. In the case of the throat center the soul works via the head center (a first ray center). The process involves the sacral center as well, for its energies are raised to the throat simultaneously with the direct action of the soul upon the throat center via the head center.

187. Những sự mặc khải huyền bí tiếp tục. Tác động trực tiếp của linh hồn đưa các luân xa cao hơn đang được bàn đến ở đây vào hoạt động “thực sự”. Trong trường hợp trung tâm cổ họng, linh hồn hoạt động thông qua trung tâm đầu (một trung tâm cung một). Tiến trình này cũng bao gồm trung tâm xương cùng, vì năng lượng của nó được nâng lên cổ họng đồng thời với tác động trực tiếp của linh hồn lên trung tâm cổ họng thông qua trung tâm đầu.

188. Another important analogy is given. The solar plexus center is compared to the throat center. The activation of the solar plexus is also stimulated from the head center but, this time, via the heart center.

188. Một phép tương đồng quan trọng khác được đưa ra. Trung tâm tùng thái dương được so sánh với trung tâm cổ họng. Sự kích hoạt tùng thái dương cũng được kích thích từ trung tâm đầu, nhưng lần này thông qua trung tâm tim.

189. Thus, in this short section we are given principal means of activation of the throat and solar plexus centers. The section should be pondered.

189. Như vậy, trong đoạn ngắn này, chúng ta được trao những phương thức chủ yếu để kích hoạt trung tâm cổ họng và trung tâm tùng thái dương. Cần suy ngẫm về đoạn này.

That is why people who work creatively usually have first ray personalities at the time that the throat centre becomes dynamically active for the first time.

Đó là lý do những người hoạt động sáng tạo thường có phàm ngã cung một vào thời điểm trung tâm cổ họng lần đầu tiên hoạt động năng động.

190. How are we to know the point at which throat center becomes dynamically active for the first time? Only through an examination of previous incarnations is this possible.

190. Làm sao chúng ta biết được thời điểm trung tâm cổ họng lần đầu tiên hoạt động mạnh mẽ? Chỉ có thể biết điều này thông qua việc xem xét những kiếp nhập thể trước.

191. We may draw an inference: since one must be at least an aspirant if one is to have a first ray personality, it can be said that one must be at least an aspirant when the throat center becomes dynamically active for the first time.

191. Chúng ta có thể rút ra một suy luận: vì ít nhất phải là người chí nguyện mới có thể có phàm ngã cung một, nên có thể nói rằng khi trung tâm cổ họng lần đầu tiên hoạt động mạnh mẽ, người ấy ít nhất phải là một người chí nguyện.

192. The first ray personality fits well with a process in which the throat center is activated via the head center—a first ray center.

192. Phàm ngã cung một rất phù hợp với một tiến trình trong đó trung tâm cổ họng được kích hoạt thông qua trung tâm đầu—một trung tâm cung một.

193. We must also pause to enquire what it means for the throat center to become “dynamically active” as opposed to simply active. Does “dynamically active” mean purposefully or willfully active?

193. Chúng ta cũng phải dừng lại để tìm hiểu việc trung tâm cổ họng trở nên “hoạt động mạnh mẽ” có nghĩa gì, so với việc chỉ hoạt động đơn thuần. “Hoạt động mạnh mẽ” có nghĩa là hoạt động có chủ đích hay bằng ý chí chăng?

Secondly, the solar plexus centre is awakened by the inflow of energy of a dual nature—the energies of the heart and the head, working synchronously. This is a correspondence to the dual energy which constitutes the essential nature of the soul—atma-buddhi, or spiritual will and spiritual love.

Thứ hai, dòng năng lượng có bản chất kép—năng lượng của tim và đầu hoạt động đồng bộ—đánh thức trung tâm tùng thái dương. Điều này tương ứng với năng lượng kép tạo nên bản chất cốt yếu của linh hồn—atma-Bồ đề, hay ý chí tinh thần và tình thương tinh thần.

194. 250. DK elaborates on the awakening of the solar plexus center. He has just said that it is awakened by the soul working through the heart center. Now he adds that the solar plexus is awakened by the energy of both the heart and head working synchronously (presumably with the soul working through both).

194. 250. Chân sư DK trình bày thêm về sự thức tỉnh của trung tâm tùng thái dương. Ngài vừa nói rằng linh hồn hoạt động thông qua trung tâm tim để đánh thức trung tâm ấy. Giờ đây, Ngài bổ sung rằng năng lượng của cả tim lẫn đầu hoạt động đồng bộ sẽ đánh thức tùng thái dương (có lẽ linh hồn hoạt động thông qua cả hai).

195. We learn a new way to regard the constitution of the soul. It is dual in nature; its dual energy is described as atma-buddhi or spiritual will and spiritual love.

195. Chúng ta học được một cách nhìn mới về cấu tạo của linh hồn. Linh hồn có bản chất kép; năng lượng kép của nó được mô tả là atma–Bồ đề hay ý chí tinh thần và bác ái tinh thần.

196. The word “spiritual” alerts us to the fact that we are speaking of the spiritual triad, and that the essential energies of the soul are the energies of the spiritual triad.

196. Từ “tinh thần” giúp chúng ta nhận ra rằng mình đang nói về Tam Nguyên Tinh Thần, và các năng lượng cốt yếu của linh hồn là các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần.

The third soul energy, manas or mental energy is related more directly to the throat centre. Thirdly, it might be stated that the awakening of the centre at the base of the spine is the result of an act of the will directed from the head and resulting in the elevation of all the energies to the head, just as the solar plexus was awakened and energy was carried to the heart—also by an act of the will. The energy of the solar plexus, that great clearing house for personality energy, must be carried always to the heart.

Năng lượng thứ ba của linh hồn, manas hay năng lượng trí tuệ, liên hệ trực tiếp hơn với trung tâm cổ họng. Thứ ba, có thể nói rằng sự thức tỉnh của trung tâm ở đáy cột sống là kết quả của một hành động ý chí hướng từ đầu xuống, dẫn đến việc nâng tất cả các năng lượng lên đầu, cũng như tùng thái dương đã được đánh thức và năng lượng được đưa lên tim—cũng bằng một hành động của ý chí. Năng lượng của tùng thái dương, trạm trung chuyển lớn của năng lượng phàm ngã, phải luôn được đưa lên tim.

197. The three essential soul energies are atma, buddhi and manas. The essential soul is the spiritual triad.

197. Ba năng lượng cốt yếu của linh hồn là atma, Bồ đề và manas. Về bản chất cốt yếu, linh hồn là Tam Nguyên Tinh Thần.

198. DK goes on to describe the awakening of the energy at the base of the spine even though its true and complete awakening comes only at the fifth initiation. (cf. R&I 340)

198. Chân sư DK tiếp tục mô tả sự thức tỉnh của năng lượng ở đáy cột sống, dù sự thức tỉnh đích thực và hoàn toàn của nó chỉ diễn ra tại lần điểm đạo thứ năm. (xem R&I 340)

199. It seems that the awakening of the energies at the base of the spine is impulsed directly from the head center to the base center. The result is not only the elevation of basal energies but the elevation of all lower energies into the head.

199. Dường như sự thức tỉnh của các năng lượng ở đáy cột sống nhận xung lực trực tiếp từ trung tâm đầu đến trung tâm đáy cột sống. Kết quả không chỉ là nâng các năng lượng đáy cột sống lên, mà còn nâng mọi năng lượng thấp lên đầu.

200. Basal energies must definitely be carried to the head. The contrast between Pluto representing the basal center and Vulcan representing the head center shed much light on this dynamic.

200. Các năng lượng đáy cột sống nhất thiết phải được đưa lên đầu. Sự tương phản giữa Sao Diêm Vương, đại diện cho trung tâm đáy cột sống, và Vulcan, đại diện cho trung tâm đầu, làm sáng tỏ nhiều điều về động lực này.

201. DK stresses the point that the energies of the awakened solar plexus must always be carried to the heart. At least this is their ‘first stop’. Eventually, all energies must be carried to the head as the final point of synthesis.

201. Chân sư DK nhấn mạnh rằng các năng lượng của tùng thái dương đã thức tỉnh phải luôn được đưa lên tim. Ít nhất đây là ‘điểm dừng đầu tiên’ của chúng. Cuối cùng, mọi năng lượng đều phải được đưa lên đầu, điểm tổng hợp sau cùng.

202. We must not overlook the fact that in all these transferences, the energy of the will is involved. To apply visualization is one thing; to apply visualization plus the will is another.

202. Chúng ta không được bỏ qua thực tế rằng trong tất cả những sự chuyển dịch này, năng lượng của ý chí đều tham gia. Vận dụng sự hình dung là một việc; vận dụng sự hình dung kết hợp với ý chí lại là một việc khác.

Here I would again caution you and call attention to my earlier statement that all stimulation of the solar plexus and all focus upon that centre carries with it definite danger, and [123] disciples are enjoined to exercise wise control over the emotional nature.

Ở đây, Tôi muốn một lần nữa cảnh báo các bạn và lưu ý đến lời Tôi đã nói trước đây rằng mọi sự kích thích tùng thái dương và mọi sự tập trung vào trung tâm ấy đều mang theo nguy hiểm rõ rệt, và [123] các đệ tử được yêu cầu kiểm soát bản chất cảm xúc một cách minh triết.

203. In this rather extensive meditation process, DK definitely includes the solar plexus as a focus of attention.

203. Trong tiến trình tham thiền khá bao quát này, Chân sư DK rõ ràng đưa tùng thái dương vào làm một tiêu điểm chú ý.

204. He also warns of the dangers involved in doing so. As a disciple one cannot allow oneself to be “carried away” by the emotional nature (which may become stimulated in the course of carrying out the suggested meditative process).

204. Ngài cũng cảnh báo về những nguy hiểm đi kèm khi làm như vậy. Là một đệ tử, người ta không thể để bản chất cảm xúc “cuốn đi” (bản chất ấy có thể bị kích thích trong quá trình thực hành tiến trình tham thiền được đề nghị).

A decentralised attitude as regards personality reactions and a steadily deepening love of humanity will safeguard disciples at this stage—the stage of seeking to fit themselves for the first or the second initiation.

Thái độ phi tập trung vào bản thân đối với các phản ứng của phàm ngã và tình thương nhân loại ngày càng sâu sắc sẽ bảo vệ các đệ tử ở giai đoạn này—giai đoạn tìm cách làm cho mình thích hợp với lần điểm đạo thứ nhất hoặc thứ hai.

261. We now learn that the meditative processes being suggested are useful in preparation for either the first or second initiation.

261. Giờ đây, chúng ta biết rằng các tiến trình tham thiền được đề xuất hữu ích cho việc chuẩn bị cho hoặc lần điểm đạo thứ nhất hoặc lần điểm đạo thứ hai.

205. The accumulated information, however, seems to suggest that the meditation has rather more applicability to the preparation for the second degree.

205. Tuy nhiên, những thông tin đã tích lũy dường như cho thấy bài thiền này thích hợp hơn với việc chuẩn bị cho cấp điểm đạo thứ hai.

206. The safeguards given should be noted: decentralization and a deepening love of humanity. To become subject to emotion is to become subject to the personality, for the solar plexus (the seat of emotion) is the symbol of the personality. One cannot be carried away by emotion or become subject to emotionalism if one holds a decentralized attitude.

206. Cần lưu ý những biện pháp bảo vệ đã nêu: phi tập trung vào bản thân và tình thương nhân loại ngày càng sâu sắc. Chịu sự chi phối của cảm xúc là chịu sự chi phối của phàm ngã, vì tùng thái dương (nơi ngự trị của cảm xúc) là biểu tượng của phàm ngã. Người ta không thể bị cảm xúc cuốn đi hoặc sa vào trạng thái đa cảm nếu giữ thái độ phi tập trung vào bản thân.

207. As for a deepening love of humanity, it will place the emphasis upon the heart center and will thus assist the transference from solar plexus to heart. It will prevent the aspirant from becoming “too full of himself”.

207. Về tình thương nhân loại ngày càng sâu sắc, tình thương ấy sẽ đặt trọng tâm vào trung tâm tim và nhờ đó hỗ trợ sự chuyển dịch từ tùng thái dương lên tim. Nó sẽ ngăn người chí nguyện trở nên “quá tự mãn về bản thân”.

We will now continue with the second phase of the meditation. It was carried to the point wherein you were asked to say as a soul the great Mantram of Unification.

Giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục giai đoạn thứ hai của bài thiền. Bài thiền đã được đưa đến chỗ các bạn được yêu cầu đọc Mantram Hợp Nhất vĩ đại với tư cách linh hồn.

208. We now resume the actual meditative instructions. The foregoing was in the nature of explanation.

208. Giờ đây, chúng ta trở lại những chỉ dẫn thực hành tham thiền. Phần trước mang tính giải thích.

STAGE II

GIAI ĐOẠN II

1. Repeat rapidly Stage I, taking not more than five minutes in so doing. Lift your consciousness and relate the head and the heart. Repeat thoughtfully the mantram which eventually leads to the realisation of unity.

1. Nhanh chóng lặp lại Giai đoạn I, dành không quá năm phút cho việc này. Nâng tâm thức lên và liên kết đầu với tim. Lặp lại một cách suy ngẫm mantram cuối cùng sẽ dẫn đến sự chứng nghiệm hợp nhất.

209. The meditator has become habituated to the first stage of the meditation and may derive full value from using it with relative brevity.

209. Người hành thiền đã quen với giai đoạn thứ nhất của bài thiền và có thể nhận được đầy đủ giá trị của giai đoạn này dù thực hiện trong thời gian tương đối ngắn.

210. We have in DK’s short sentence above a summary of the essence of what is required in the first phase of the meditation.

210. Trong câu ngắn gọn trên của Chân sư DK, chúng ta có một bản tóm lược điều cốt yếu cần thực hiện trong giai đoạn thứ nhất của bài thiền.

2. With the focus of the consciousness then in the head, summon the Will to your aid and by an act of the will carry the energy focussed in the head to the solar plexus. To facilitate this process, you can use the following formula:

2. Khi tiêu điểm của tâm thức ở trong đầu, hãy triệu dụng Ý Chí để trợ giúp và bằng một hành động của ý chí, đưa năng lượng tập trung trong đầu đến tùng thái dương. Để tạo thuận lợi cho tiến trình này, các bạn có thể dùng công thức sau:

211. Now the will is definitely summoned—a thing that was not done in the first phase of the meditation. The Will (note the capitals) may be considered a higher force, seemingly external to the disciple but really deeply internal.

211. Giờ đây, ý chí được triệu thỉnh một cách dứt khoát—điều chưa được thực hiện trong giai đoạn thứ nhất của bài thiền. Có thể xem Ý Chí (hãy lưu ý cách viết hoa) là một mãnh lực cao hơn, dường như ở bên ngoài người đệ tử nhưng thực ra lại ở sâu bên trong.

212. We should not forget that as the Will is carried to the solar plexus, the heart center can be involved.

212. Chúng ta không nên quên rằng khi Ý Chí được đưa xuống tùng thái dương, trung tâm tim có thể tham gia vào tiến trình này.

213. We note that certain mantric formulas are useful in facilitating energy transferences.

213. Chúng ta lưu ý rằng một số công thức mantram hữu ích trong việc tạo thuận lợi cho những sự chuyển dịch năng lượng.

a. I am the soul. And also love I am. Above all else I am both will and fixed design.

a. Tôi là linh hồn. Và tôi cũng là tình thương. Trên hết, tôi vừa là ý chí vừa là chủ đích kiên định.

214. When the mantram says “above all else”, it may be considered to be referring to the monadic level (the level on which “fixed design” appears in greatest purity—at least with respect to the microcosmic evolution of man).

214. Khi mantram nói “trên hết”, có thể hiểu rằng câu ấy đề cập đến cấp độ chân thần (cấp độ mà “ý định kiên định” xuất hiện trong sự thuần khiết cao nhất—ít nhất là xét về sự tiến hoá tiểu thiên địa của con người).

b. My will is now to lift the lower self into the light divine. This light I am.

b. Giờ đây, ý chí của tôi là nâng phàm ngã vào ánh sáng thiêng liêng. Tôi là ánh sáng này.

215. In doing this one is lifting the solar plexus energy, the seat of the lower self. The “light divine” can be found both in the heart center and in the head center.

215. Khi làm điều này, người ta đang nâng năng lượng tùng thái dương lên; đó là nơi ngự trị của phàm ngã. Có thể tìm thấy “ánh sáng thiêng liêng” cả trong trung tâm tim lẫn trung tâm đầu.

216. One is identifying with the energies of the higher centers.

216. Người ta đang đồng hoá với năng lượng của các trung tâm cao hơn.

c. Therefore, I must descend to where the lower self awaits my coming. That which desires to lift and that which cries aloud for lifting are now at-one. Such is my will.

c. Vì vậy, tôi phải đi xuống nơi phàm ngã đang chờ tôi đến. Điều muốn nâng lên và điều lớn tiếng kêu cầu được nâng lên giờ đây là một. Ý chí của tôi là như vậy.

217. The lower self awaiting the coming of the true identity may be considered the accumulated energies of the solar plexus prepared for elevation.

217. Có thể xem phàm ngã đang chờ bản sắc chân thực đến là những năng lượng tích lũy trong tùng thái dương đã sẵn sàng để được nâng lên.

218. Whenever we see the word “cry”, the emotional nature is implied and thus the solar plexus. It is the energies of the solar plexus center which cry aloud for lifting.

218. Bất cứ khi nào thấy từ “khẩn cầu”, chúng ta đều hiểu rằng bản chất cảm xúc được hàm ý, và do đó là tùng thái dương. Chính những năng lượng của trung tâm tùng thái dương cất tiếng khẩn cầu được nâng lên.

219. The mantram facilitates the gathering of all lower energies centered in the solar plexus into the head center.

219. Mantram tạo thuận lợi cho việc thu gom tất cả những năng lượng thấp đang tập trung trong tùng thái dương vào trung tâm đầu.

Whilst saying these mantric words (taken from a very ancient disciples’ manual) vision pictorially the process of focussing—demanding—descending and at-one-ing.

Trong khi đọc những lời mantram này (trích từ một cẩm nang đệ tử rất cổ xưa), hãy hình dung bằng hình ảnh tiến trình tập trung—đòi hỏi—đi xuống và hợp nhất làm một.

220. The main action of the mantram is reduced to a few words “focussing—demanding—descending and at-one-ing”.

220. Hoạt động chính của mantram được cô đọng trong vài từ “tập trung—yêu cầu—đi xuống và hợp nhất”.

3. Pause here and endeavour to feel and sense the initiatory vibration or embryonic interplay which is being established between the awakened and the awakening points within the solar plexus. This can be done, but it involves an act of slow concentration.

3. Dừng lại ở đây và cố gắng cảm nhận và cảm biết rung động khởi đầu hay sự tương tác phôi thai đang được thiết lập giữa điểm đã thức tỉnh và điểm đang thức tỉnh trong tùng thái dương. Có thể làm được điều này, nhưng nó đòi hỏi một hành động tập trung chậm rãi.

221. The next activity is a kind of feeling activity requiring “slow” concentration. The interplay between the two points of vital light is to be felt. There will be a difference in the sensations associated with the awakened and awakening points.

221. Hoạt động tiếp theo là một dạng hoạt động cảm nhận đòi hỏi sự tập trung “chậm rãi”. Cần cảm nhận sự tương tác giữa hai điểm ánh sáng sinh động. Sẽ có sự khác biệt giữa những cảm giác gắn với điểm đã thức tỉnh và điểm đang thức tỉnh.

222. The interplay is not actively established; it is simply “initiatory” and “embryonic”. The sensing of this interplay cannot be rushed.

222. Sự tương tác chưa được thiết lập một cách tích cực; nó chỉ mới “khởi phát” và “phôi thai”. Không thể vội vàng trong việc cảm nhận sự tương tác này.

4. Then sound the OM twice from the head centre, [124] knowing yourself to be the soul which is breathing it forth.

4. Sau đó, xướng OM hai lần từ trung tâm đầu, [124] biết mình là linh hồn đang thở ra âm thanh ấy.

223. The soul is the actor in this entire meditation process. One can sound the OM identified as a personality or as a soul. One must feel and know the difference.

223. Linh hồn là chủ thể hành động trong toàn bộ tiến trình tham thiền này. Người ta có thể xướng linh từ OM khi đồng hoá với phàm ngã hoặc với linh hồn. Cần cảm nhận và biết rõ sự khác biệt.

224. Initially, the “act as if” attitude serves here; it will give way to the sense of being the soul.

224. Ban đầu, thái độ “hành động như thể” hữu ích ở đây; rồi nó sẽ nhường chỗ cho cảm nhận mình là linh hồn.

Believe this sound, carried on the breath of will and love, as capable of stimulating the solar plexus in the right way and able to transmute the lower energies so that they will be pure enough to be carried first of all to the awakening point and from that point eventually to the heart centre.

Hãy tin rằng âm thanh này, được mang trên hơi thở của ý chí và tình thương, có khả năng kích thích tùng thái dương đúng cách và có thể chuyển hoá các năng lượng thấp để chúng đủ tinh khiết, trước hết được đưa đến điểm đang thức tỉnh, rồi cuối cùng từ điểm ấy đến trung tâm tim.

225. While identified as the soul sounding the OM and breathing it forth, one engages in an act of belief, allowing no doubt to enter. This act of belief empowers the sound. The sound is carried on the breath of will and love.

225. Trong khi đồng hoá với linh hồn đang xướng linh từ OM và thở ra linh từ ấy, người ta thực hiện một hành động tin tưởng, không để bất kỳ nghi ngờ nào xen vào. Hành động tin tưởng này tiếp sức mạnh cho âm thanh. Âm thanh được chuyên chở trên hơi thở của ý chí và tình thương.

226. We note that only if the energies of the ‘lower’ solar plexus are sufficiently “pure” can be they carried first to the awakening point and thence to the heart.

226. Chúng ta lưu ý rằng chỉ khi những năng lượng của phần tùng thái dương ‘thấp’ đủ “tinh khiết”, chúng mới có thể được đưa trước hết đến điểm đang thức tỉnh, rồi từ đó đến tim.

227. This phase of the meditation is really an act of transmutation. The factor of belief is a transmutative factor.

227. Giai đoạn này của bài thiền thực sự là một hành động chuyển hoá. Yếu tố tin tưởng là một yếu tố chuyển hoá.

228. We also note the use of the word “eventually” which suggests that the up-drawn energies will reach the heart center but not immediately.

228. Chúng ta cũng lưu ý việc sử dụng từ “cuối cùng”, hàm ý rằng những năng lượng được kéo lên sẽ đến trung tâm tim, nhưng không phải ngay lập tức.

5. As you vision the energies of the solar plexus being carried up the spine to the heart centre (situated, as you know, between the shoulder blades) I would ask you to breathe out the OM again into the solar plexus but this time, having done so, draw the focussed energy up the spine towards the head.

5. Khi hình dung các năng lượng của tùng thái dương được đưa lên dọc cột sống đến trung tâm tim (như các bạn biết, nằm giữa hai bả vai), Tôi muốn các bạn lại thở ra OM vào tùng thái dương, nhưng lần này, sau khi làm như vậy, hãy kéo năng lượng đã tập trung lên dọc cột sống hướng về đầu.

229. The up-drawing of solar plexus rises first to the heart. Once this is accomplished, one (acting as the soul) breathes the OM into the solar plexus, but draws the solar plexus energy towards the head.

229. Năng lượng tùng thái dương được kéo lên trước hết đến tim. Khi điều này đã hoàn tất, người ta (hành động với tư cách linh hồn) thở ra linh từ OM vào tùng thái dương, nhưng kéo năng lượng tùng thái dương về phía đầu.

230. DK reiterates the position of the heart center and reminds us that the solar energy much be carried up the spine. Some meditators might be inclined to forget this.

230. Chân sư DK nhắc lại vị trí của trung tâm tim và nhắc chúng ta rằng năng lượng tùng thái dương phải được đưa lên dọc cột sống. Một số người hành thiền có thể có khuynh hướng quên điều này.

The vibration thus established will carry the energy to the heart, for it has to pass through that centre in the spine on its way to the head. In the early stages that is as far as it may go, but later it will pass through the heart, leaving its due quota of energy, and finally reach the head centre.

Rung động được thiết lập theo cách ấy sẽ đưa năng lượng đến tim, vì trên đường lên đầu, năng lượng phải đi qua trung tâm ấy trong cột sống. Trong những giai đoạn đầu, năng lượng có thể chỉ đi xa đến đó, nhưng về sau nó sẽ đi qua tim, để lại phần năng lượng thích đáng, rồi cuối cùng đến trung tâm đầu.

231. The energy being carried upwards towards the head will pass through the heart (a second time).

231. Năng lượng được đưa lên về phía đầu sẽ đi qua tim (lần thứ hai).

232. DK notes the sequential nature of the process. When the meditation is first used (or is used by a less advanced meditator), the solar plexus energy may only reach the heart. Later is will pass through the heart (depositing a necessary quota of energy) and finally reach the head.

232. Chân sư DK lưu ý tính tuần tự của tiến trình. Khi mới thực hành bài thiền này (hoặc khi một người hành thiền ít tiến bộ hơn thực hành), năng lượng tùng thái dương có thể chỉ đến được tim. Về sau, nó sẽ đi qua tim (để lại một phần năng lượng cần thiết) rồi cuối cùng đến đầu.

233. If we think carefully, we will find the Tibetan relating (in a most scientific way) chakras important for discipleship.

233. Nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ thấy Chân sư Tây Tạng đang liên kết (một cách hết sức khoa học) những luân xa quan trọng đối với địa vị đệ tử.

6. Then focus yourself in the heart, believing that a triangle of energy has been formed between the head, the heart and the solar plexus. Vision it then as composed of the energy of light, something resembling a triangle of neon light. The colour of this neon light so-called will be dependent upon the ray of the soul.

6. Sau đó, tập trung mình trong tim, tin rằng một tam giác năng lượng đã hình thành giữa đầu, tim và tùng thái dương. Rồi hình dung tam giác ấy gồm năng lượng ánh sáng, có phần giống một tam giác ánh sáng đèn nê-ông. Màu của cái gọi là ánh sáng nê-ông này sẽ phụ thuộc vào cung linh hồn.

234. We see how very occult this meditation actually is. Earlier we learned that the method of relating heart to ajna center was sevenfold. Now we learn that the color of the soul ray (vivid in its “neon” nature) is to be used to link the three centers involved—solar plexus, heart and head.

234. Chúng ta thấy bài thiền này thực sự mang tính huyền bí sâu sắc đến mức nào. Trước đó, chúng ta đã biết rằng phương pháp liên kết tim với trung tâm ajna là thất phân. Giờ đây, chúng ta biết rằng cần dùng màu sắc của cung linh hồn (rực sáng với tính chất “nê-ông”) để liên kết ba trung tâm liên quan—tùng thái dương, tim và đầu.

235. The ‘believing visualization’ requested is undertaken once the attention is focused in the heart center.

235. Việc ‘hình dung với lòng tin’ được yêu cầu sẽ bắt đầu khi sự chú ý đã tập trung trong trung tâm tim.

236. One can imagine that the energy of the soul ray unites these three centers via the expedient of this type of visualization.

236. Có thể hình dung rằng năng lượng của cung linh hồn hợp nhất ba trung tâm này thông qua phương tiện là kiểu hình dung này.

7. Then again repeat the Mantram of Unification, beginning “The sons of men are one...”

7. Sau đó, lại đọc Mantram Hợp Nhất, bắt đầu bằng “Những người con của nhân loại là một...”

8. Standing, therefore, in the centre of the heart see the energy of your group brothers as the radiating spokes of a great wheel of light. This wheel has twenty-four spokes and at the centre of the wheel, like the hub of the wheel, can be found your Master (D.K.). Then slowly with love, mention aloud the names of each of your group brothers, not omitting yourself.

8. Vì vậy, đứng ở trung tâm tim, hãy thấy năng lượng của các huynh đệ trong nhóm như những nan hoa tỏa ra của một bánh xe ánh sáng lớn. Bánh xe này có hai mươi bốn nan hoa, và tại trung tâm bánh xe, như trục bánh xe, là Chân sư của các bạn (Chân sư DK). Sau đó, chậm rãi và với tình thương, hãy đọc thành tiếng tên từng huynh đệ trong nhóm, không bỏ sót chính mình.

237. Each section of this meditation is powerfully occult. The great wheel of light is Shamballic in its nature as it is composed of twenty-four spokes. Master DK is seen as vitalizing and sustaining the whole.

237. Mỗi phần của bài thiền này đều mang tính huyền bí mạnh mẽ. Bánh xe ánh sáng vĩ đại có bản chất Shamballa vì nó gồm hai mươi bốn nan hoa. Chân sư DK được hình dung là Đấng tiếp sinh lực và duy trì toàn thể.

238. The phase of naming and loving follows and it is of vital importance. This entire meditation is meant to stimulate the love energy within the group.

238. Tiếp theo là giai đoạn xướng tên và yêu thương, có tầm quan trọng thiết yếu. Toàn bộ bài thiền này nhằm kích thích năng lượng tình thương trong nhóm.

239. It is significant that one’s own name must be included and, accordingly, love sent towards oneself (not as a special person) but simply as a member of the group.

239. Việc phải bao gồm cả tên của chính mình mang thâm nghĩa, và theo đó, tình thương được gửi đến bản thân (không phải như một người đặc biệt) mà đơn giản như một thành viên của nhóm.

240. The naming is to occur “aloud”, which is interesting. Naming aloud establishes the group love and unity upon the physical plane.

240. Việc xướng tên phải diễn ra “thành tiếng”, một điều thú vị. Xướng tên thành tiếng thiết lập tình thương và sự hợp nhất của nhóm trên cõi hồng trần.

9. Then see this wheel as actively moving and scintillating, and thus serving humanity through its focussed radiation. This radiation is the radiation of love.

9. Sau đó, hãy thấy bánh xe này đang chuyển động năng động và lấp lánh, qua đó phụng sự nhân loại bằng sự tỏa chiếu tập trung. Sự tỏa chiếu này là sự tỏa chiếu của tình thương.

241. Perhaps we can visualize the wheel moving in two directions—turning upon itself.

241. Có lẽ chúng ta có thể hình dung bánh xe chuyển động theo hai hướng—tự quay quanh mình.

242. What is visualized is an act of group service.

242. Điều được hình dung là một hành động phụng sự nhóm.

All the above is purely symbolic but carried out as a [125] visualisation process for some months—consistently and consciously—it will create a state of mind and of awareness which will be enduring because “as a man thinketh, so is he.”

Tất cả những điều trên hoàn toàn mang tính biểu tượng, nhưng nếu thực hiện như một [125] tiến trình hình dung trong vài tháng—một cách kiên trì và có ý thức—nó sẽ tạo nên một trạng thái trí tuệ và nhận biết bền vững, vì “con người suy nghĩ thế nào thì trở thành thế ấy”.

243. One can imagine that this visualization would create the potent sense of a vibrant, serving group. The symbolism employed will create the consciousness of which it is symbolic.

243. Có thể hình dung rằng sự hình dung này sẽ tạo ra một cảm nhận mạnh mẽ về một nhóm tràn đầy sức sống và đang phụng sự. Hệ biểu tượng được sử dụng sẽ tạo ra tâm thức mà nó tượng trưng.

10. Then close with the new Invocation and also with the Gayatri, with its emphasis upon one’s duty.

10. Sau đó, kết thúc bằng lời Khấn Nguyện mới và cả bài Gayatri, với sự nhấn mạnh đến bổn phận của mỗi người.

OM OM OM

OM OM OM

244. The “new Invocation” is, in this case, Stanza II of the Great Invocation. Stanza III, with which we are so familiar, had not yet been given out.

244. Trong trường hợp này, “bài Khấn Nguyện mới” là Bài kệ II của Đại Khấn Nguyện. Bài kệ III, vốn rất quen thuộc với chúng ta, khi ấy vẫn chưa được công bố.

This meditation process is relatively simple if you familiarise yourself with its stages for a few weeks. Much of the above is explanatory in nature and can be dispensed with when you can follow the process automatically.

Tiến trình tham thiền này tương đối đơn giản nếu các bạn làm quen với các giai đoạn của nó trong vài tuần. Phần lớn những điều trên có tính chất giải thích và có thể lược đi khi các bạn có thể tự động thực hiện tiến trình.

245. This is a most important comment, because a study of this meditation process will reveal it as not entirely simple, but rather subtle and intricate. Yet the complexities will disappear through familiarization.

245. Đây là một nhận xét hết sức quan trọng, vì việc nghiên cứu tiến trình tham thiền này sẽ cho thấy nó không hoàn toàn đơn giản, mà khá tinh tế và phức tạp. Tuy nhiên, những điều phức tạp sẽ biến mất khi đã quen thuộc.

246. The explanations seem to encumber the process until they are well digested.

246. Những lời giải thích dường như làm tiến trình thêm nặng nề cho đến khi chúng được lĩnh hội thấu đáo.

I will now proceed to give you each your personal instructions and individual meditation. This meditation should be done at some time of the day which is not the time chosen for the group meditation. I do not want the two meditations done together at the same time, for I do not want your personality problems and your possible glamours to be interjected into the group consciousness.

Giờ đây, Tôi sẽ tiếp tục trao cho từng người những huấn thị cá nhân và bài thiền riêng. Bài thiền này cần được thực hiện vào một thời điểm trong ngày khác với thời điểm đã chọn cho bài thiền nhóm. Tôi không muốn hai bài thiền được thực hiện cùng lúc, vì Tôi không muốn các vấn đề phàm ngã và những ảo cảm có thể có của các bạn xen vào tâm thức nhóm.

247. This is a wise piece of advice. The group meditation must remain undisturbed by personal issues.

247. Đây là một lời khuyên sáng suốt. Bài thiền nhóm phải duy trì được sự bình ổn, không chịu xáo trộn từ những vấn đề cá nhân.

Beware of doing this because the task of each of you is hard enough without being complicated by the personal problems of some distressed brother in the group.

Hãy thận trọng đừng làm điều này, vì nhiệm vụ của mỗi người trong các bạn vốn đã đủ khó khăn, không cần bị làm phức tạp thêm bởi các vấn đề cá nhân của một huynh đệ đang khốn khổ trong nhóm.

248. We are to realize how we could complicate each other’s way through the interjection of our personal problems into the group field.

248. Chúng ta cần nhận ra mình có thể làm cho con đường của nhau thêm phức tạp như thế nào khi đưa những vấn đề cá nhân vào trường năng lượng của nhóm.

249. From this perspective, impersonality becomes a group responsibility.

249. Từ góc nhìn này, tính phi cá nhân trở thành một trách nhiệm đối với nhóm.

In giving you your personal instructions, I shall speak with complete frankness and shall not spare you either praise or blame. If you resent what I may say, then it will simply indicate the power of your personality to react unfavourably to the truth and will consequently point out to you an area of blindness and of weakness in your consciousness.

Khi trao cho các bạn những huấn thị cá nhân, Tôi sẽ nói hoàn toàn thẳng thắn, không dè sẻn lời khen hay lời chê. Nếu các bạn bất bình trước những gì Tôi có thể nói, điều ấy chỉ cho thấy sức mạnh của phàm ngã khiến các bạn phản ứng bất lợi trước sự thật, và do đó sẽ chỉ ra một vùng mù quáng và yếu đuối trong tâm thức các bạn.

250. In describing His intention to be utterly frank, DK begins the process of frankness.

250. Khi mô tả ý định hoàn toàn thẳng thắn của Ngài, Chân sư DK bắt đầu thực hiện sự thẳng thắn ấy.

251. Resentment is a personal reaction and often hides a weakness of which the resenting one is unaware.

251. Sự bất bình là một phản ứng cá nhân và thường che giấu một điểm yếu mà người bất bình không nhận biết.

You will be thereby the gainer and will be able to grasp somewhat more clearly the nature of the battle which you have to fight.

Nhờ đó, các bạn sẽ được lợi và có thể phần nào nắm bắt rõ hơn bản chất của cuộc chiến mà mình phải chiến đấu.

252. DK seeks to see us freed of illusions. He knows that each of us has a battle to fight. We gain by learning the location and nature of our battleground. Reactivity is an important clue.

252. Chân sư DK mong thấy chúng ta thoát khỏi các ảo tưởng. Ngài biết rằng mỗi người trong chúng ta đều có một cuộc chiến phải chiến đấu. Chúng ta được lợi khi biết vị trí và bản chất chiến trường của mình. Khuynh hướng phản ứng là một manh mối quan trọng.

MEDITATION PART III [126-128] – BÀI THIỀN PHẦN III [126-128]

169. DK comments on the use of the group meditation assigned.

169. Chân sư DK bình luận về việc thực hành bài thiền nhóm đã giao.

As individuals, many of you have used regularly (and profited thereby) the meditation which I gave you thus far in this series of instructions. But speaking generally, the group as a whole has not given as much attention and thought to the processes outlined in the two parts of the one [126] meditation, as I had hoped and asked. I would ask you, therefore, to renew your activity along this line from now until May, when—if you work with tension and achieve results—I can give you another meditation which will climax the work done and bring another centre into activity.

Với tư cách cá nhân, nhiều người trong các bạn đã đều đặn thực hành (và nhờ đó được lợi từ) bài thiền mà Tôi đã trao cho các bạn cho đến nay trong loạt huấn thị này. Nhưng nhìn chung, toàn thể nhóm chưa dành đủ sự chú ý và suy ngẫm cho các tiến trình được phác thảo trong hai phần của cùng một [126] bài thiền, như Tôi đã hy vọng và yêu cầu. Vì vậy, Tôi muốn các bạn đổi mới hoạt động theo hướng này từ nay đến tháng Năm, khi ấy—nếu các bạn làm việc với sự tập trung nhất tâm và đạt kết quả—Tôi có thể trao cho các bạn một bài thiền khác, đưa công việc đã làm đến đỉnh điểm và đưa thêm một trung tâm vào hoạt động.

170. DK is speaking of Meditation I/II. The meditation process could not be considered successful if only individuals benefited from it. The group as a whole would have to benefit to a reasonable degree and this has not happened.

170. Chân sư DK đang nói về Bài thiền I/II. Không thể xem tiến trình tham thiền là thành công nếu chỉ các cá nhân được lợi ích từ đó. Toàn nhóm phải được lợi ích ở một mức độ thích đáng, và điều này chưa xảy ra.

171. We see that DK is, through the meditation process, activating certain chakras. The chakras involved in meditation I/II are the solar plexus, heart and head, with some attention to the ajna center in certain parts of the meditation.

171. Chúng ta thấy rằng thông qua tiến trình tham thiền, Chân sư DK đang khơi hoạt một số luân xa. Những luân xa liên quan trong Bài thiền I/II là tùng thái dương, tim và đầu, với sự chú ý phần nào dành cho trung tâm ajna trong một số phần của bài thiền.

172. We see that the Master is attentive to the group’s progress and will not offer a new mediation unless the intent of the meditation presently in use is reasonably fulfilled.

172. Chúng ta thấy Chân sư quan tâm đến sự tiến bộ của nhóm và sẽ không trao một bài thiền mới trừ khi mục đích của bài thiền đang thực hành đã được hoàn thành ở mức độ thích đáng.

173. Always the Full Moon in May is considered the climactic point of achievement.

173. Trăng Tròn tháng Năm luôn được xem là cao điểm của thành tựu.

There is little that I can do with you until this meditation work has been patiently and regularly done and produced effective results—from my point of view. I shall not be able to give you another meditation unless you strive afresh, and together, at the daily process outlined by me.

Tôi có thể làm rất ít với các bạn chừng nào công việc tham thiền này chưa được thực hiện kiên nhẫn, đều đặn và tạo ra những kết quả hữu hiệu—theo quan điểm của Tôi. Tôi sẽ không thể trao cho các bạn một bài thiền khác trừ khi các bạn lại cùng nhau nỗ lực thực hiện tiến trình hằng ngày mà Tôi đã phác thảo.

174. What to do when there has been a relative failure? Strive afresh!

174. Phải làm gì khi đã có một sự thất bại tương đối? Hãy nỗ lực trở lại!

175. This brief injunction is also an answer to many of our little failures. No defeat is permanent and fresh striving leads towards eventual success.

175. Lời khuyên ngắn gọn này cũng là câu trả lời cho nhiều thất bại nhỏ của chúng ta. Không có thất bại nào là vĩnh viễn, và nỗ lực mới sẽ dẫn đến thành công sau cùng.

176. DK has hopes for His group, but they are as an instrument unready. They have not upheld their part and He, on His side, is limited until they do.

176. Chân sư DK đặt hy vọng vào nhóm của Ngài, nhưng với tư cách một công cụ, họ vẫn chưa sẵn sàng. Họ chưa làm tròn phần việc của mình, và về phía Ngài, Ngài vẫn bị giới hạn cho đến khi họ làm được điều đó.

This meditation is one of the most important of the steps I shall ever ask you to take in these early preparatory stages of your work. It must precede the more definite training which may be possible if you persevere in the work outlined.

Bài thiền này là một trong những bước quan trọng nhất mà Tôi sẽ yêu cầu các bạn thực hiện trong những giai đoạn chuẩn bị ban đầu của công việc. Nó phải đi trước sự huấn luyện cụ thể hơn, vốn có thể trở nên khả thi nếu các bạn kiên trì trong công việc đã phác thảo.

177. DK is still referring to the preliminary meditation—Meditation I/II.

177. Chân sư DK vẫn đang đề cập đến bài thiền sơ bộ—Bài thiền I/II.

178. We note that a Master builds carefully leaving nothing to chance. Unless the necessary foundational work is done, His hands are tied.

178. Chúng ta lưu ý rằng một Chân sư xây dựng cẩn thận, không để điều gì tùy thuộc vào may rủi. Nếu công việc nền tảng cần thiết chưa hoàn tất, Ngài đành bó tay.

I would remind you that this is my last effort with you in this incarnation and on the physical plane.

Tôi muốn nhắc các bạn rằng đây là nỗ lực cuối cùng của Tôi với các bạn trong kiếp sống này và trên cõi hồng trần.

179. Again the reminder, and indeed, it was the case. AAB’s health was precarious and Master DK knew He had only so many years to work through her as an instrument allowing Him to contact His chelas on the physical plane.

179. Một lần nữa là lời nhắc nhở ấy, và quả thực tình hình là như vậy. Sức khỏe của AAB rất mong manh và Chân sư DK biết Ngài chỉ còn chừng ấy năm để làm việc thông qua Bà như một công cụ cho phép Ngài tiếp xúc với các đệ tử của Ngài trên cõi hồng trần.

180. The suggestion is, however, that work would continue beyond the veil as it did for PDW and CDP.

180. Tuy nhiên, điều được gợi ý là công việc sẽ tiếp tục bên kia bức màn, như đã diễn ra đối với PDW và CDP.

You have put your hand to the plough and there is no turning back for any of you, but the time factor is determined by each of you and not by me.

Các bạn đã đặt tay vào cày, và không ai trong các bạn có thể quay lui, nhưng yếu tố thời gian do từng người trong các bạn quyết định, không phải do Tôi.

181. Again, a reference to the time equation. The eventual outcome is sure, but a greater or lesser amount of time may be employed to achieve desired results and this employment of time depends upon the chela(s).

181. Một lần nữa, đây là lời đề cập đến phương trình thời gian. Kết quả cuối cùng là chắc chắn, nhưng có thể cần nhiều hay ít thời gian hơn để đạt những kết quả mong muốn, và việc sử dụng thời gian này tùy thuộc vào người đệ tử hoặc các đệ tử.

There may be times in the process of training you and preparing you for initiation when you may temporarily fail to understand the reasons for the requests I may make and for the requirements presented to you. Forget not that the aspirant to the Mysteries proceeds blindly in the early stages; only after the third initiation do the scales fall from his eyes. Therefore, follow obediently (though voluntarily) my requests as I endeavour to teach you the ancient rules.

Trong tiến trình huấn luyện và chuẩn bị các bạn cho điểm đạo, có thể có những lúc các bạn tạm thời không thấu hiểu lý do của những yêu cầu Tôi đưa ra và những đòi hỏi đặt trước các bạn. Đừng quên rằng người chí nguyện hướng đến các Bí Pháp tiến bước trong mù tối ở những giai đoạn đầu; chỉ sau lần điểm đạo thứ ba, những lớp vảy mới rơi khỏi mắt y. Vì vậy, hãy tuân theo các yêu cầu của Tôi một cách vâng phục (dù là tự nguyện), trong khi Tôi cố gắng dạy các bạn những quy luật cổ xưa.

182. The Master offers sound advice to those who may not know why they have to follow His advice. He reminds them that they cannot yet truly see. Such sight will only occur after the third degree, ruled by Venus (in one respect) and thus related to sight and the ajna center.

182. Chân sư đưa ra lời khuyên xác đáng cho những người có thể chưa biết vì sao họ phải theo lời khuyên của Ngài. Ngài nhắc họ rằng họ chưa thể thực sự thấy. Khả năng thấy như vậy chỉ xuất hiện sau cấp điểm đạo thứ ba, do Sao Kim cai quản (xét theo một phương diện), và vì thế liên hệ với thị giác và trung tâm ajna.

183. DK is asking for voluntary obedience—the will to obey. It does not seem too much to ask.

183. Chân sư DK đang yêu cầu sự vâng phục tự nguyện—ý chí vâng phục. Dường như đó không phải là một đòi hỏi quá mức.

Will you also, at this point, study anew the teaching I gave in the earlier instructions on the theme of Visualisation and explained why it is the secret of all true meditation work in its earlier stages? I seek not to repeat, but that teaching is needed by you at this stage. (Discipleship in the New Age, Vol. I. Pages 89-91.)

Vào lúc này, các bạn cũng hãy nghiên cứu lại giáo huấn Tôi đã trao trong những huấn thị trước về chủ đề Hình Dung, trong đó Tôi giải thích vì sao đây là bí quyết của mọi công việc tham thiền chân chính trong những giai đoạn đầu. Tôi không muốn lặp lại, nhưng các bạn cần giáo huấn ấy ở giai đoạn này. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I. Trang 89-91.)

184. It is clear that a renewed understanding of visualization is required for the kind of work to be assigned. It is also clear that the earlier instructions have not been fully assimilated.

184. Rõ ràng là cần thấu hiểu lại sự hình dung để thực hiện loại công việc sắp được giao. Cũng rõ ràng là những huấn thị trước chưa được lĩnh hội đầy đủ.

In connection with your Full Moon work, I seek to change the process which has been followed by you for so long—the process of entering my study and there contacting me. I will give you another symbolic process which will follow five stages:

Liên quan đến công việc Trăng Tròn của các bạn, Tôi muốn thay đổi tiến trình mà các bạn đã thực hiện bấy lâu nay—tiến trình đi vào phòng làm việc của Tôi và tiếp xúc với Tôi tại đó. Tôi sẽ trao cho các bạn một tiến trình biểu tượng khác gồm năm giai đoạn:

185. We are about to be given another powerful Full Moon meditation.

185. Chúng ta sắp được trao một bài thiền Trăng Tròn mạnh mẽ khác.

186. Perhaps the previously assigned Full Moon meditation has done its work.

186. Có lẽ bài thiền Trăng Tròn đã giao trước đây đã hoàn thành công việc của nó.

187. We note that the processes offered for visualization are symbolic, but no less potent for being so.

187. Chúng ta lưu ý rằng những tiến trình được đưa ra để hình dung đều mang tính biểu tượng, nhưng không vì thế mà kém hiệu lực.

[127]

[127]

()1. At the time of the Full Moon (covering five days) picture to yourselves an ocean of blue and upon the horizon can be seen slowly rising a blazing sun.

1. Vào thời điểm Trăng Tròn (kéo dài năm ngày), hãy hình dung một đại dương xanh thẳm, và trên đường chân trời có thể thấy một mặt trời rực cháy đang từ từ mọc lên.

188. The colors again are blue and yellow—colors often associated with Master DK.

188. Một lần nữa, những màu sắc là xanh lam và vàng—những màu thường gắn với Chân sư DK.

189. The ocean can be conceived as the Ocean of Wisdom. The Sun is the Sun of Wisdom.

189. Có thể hình dung đại dương này là Đại Dương Minh Triết. Mặt Trời là Mặt Trời Minh Triết.

()2. Picture yourself as throwing yourself into the ocean, free of all encumbrances, worries, anxieties and cares, and as swimming towards a rowboat, lying midway between you and the rising Sun.

2. Hãy hình dung mình lao xuống đại dương, thoát khỏi mọi vướng bận, lo lắng, âu lo và phiền muộn, rồi bơi về phía một chiếc thuyền chèo nằm giữa các bạn và Mặt Trời đang mọc.

190. One throws oneself into the great Ocean of Wisdom, symbolically dropping all that prevents wisdom from entering the consciousness.

190. Người ta lao mình vào Đại Dương Minh Triết bao la, về mặt biểu tượng là buông bỏ tất cả những gì ngăn minh triết đi vào tâm thức.

191. The rowboat may well be a ‘group vehicle’ intended to help the swimmers reach the Sun.

191. Chiếc thuyền chèo rất có thể là một ‘hiện thể nhóm’ nhằm giúp những người đang bơi đến được Mặt Trời.

As you swim, you become aware of your group brothers, also swimming in the same direction. You recognise, know and love each other.

Khi bơi, các bạn nhận biết những huynh đệ trong nhóm cũng đang bơi cùng hướng. Các bạn nhận ra, biết và yêu thương nhau.

192. The band of brothers (as swimmers) is recognized and all are moving forward through their own exertion.

192. Đoàn huynh đệ (trong vai những người đang bơi) được nhận ra, và tất cả đều tiến về phía trước bằng nỗ lực của chính mình.

193. The bond of love unites the swimmers.

193. Mối dây tình thương hợp nhất những người đang bơi.

()3. Then visualise yourself as climbing into the boat. When all of the group are in, then see yourselves as each grasping an oar, and together, rhythmically and steadily, rowing towards the rising Sun. There is harmony of stroke, of purpose and of direction.

3. Sau đó, hãy hình dung mình trèo lên thuyền. Khi tất cả thành viên trong nhóm đã lên thuyền, hãy thấy mỗi người nắm lấy một mái chèo, rồi cùng nhau chèo về phía Mặt Trời đang mọc, nhịp nhàng và đều đặn. Có sự hài hòa trong nhịp chèo, mục đích và phương hướng.

194. We have here an example of the “united breath and the unified rhythm”

194. Ở đây, chúng ta có một ví dụ về “hơi thở hợp nhất và nhịp điệu thống nhất”.

195. The boat has now become a vehicle of approach to Wisdom and to the Master.

195. Giờ đây, con thuyền đã trở thành một hiện thể để tiếp cận Minh Triết và Chân sư.

196. Each group member enters the boat, and each has a task to perform—rowing. The rowing is rhythmic and harmonious. The group is united in its purpose and direction. Such a visualization, of course, strengthens the sense of purpose and direction.

196. Mỗi thành viên trong nhóm bước vào thuyền, và mỗi người đều có một nhiệm vụ phải thực hiện—chèo thuyền. Việc chèo thuyền diễn ra nhịp nhàng và hòa hợp. Nhóm hợp nhất trong mục đích và phương hướng. Dĩ nhiên, sự hình dung như thế củng cố ý thức về mục đích và phương hướng.

()4. Then see—between you and the rising Sun—a figure moving toward you. It will be myself (the Master D.K.), coming from the light, in your direction. In the clear pathway of the light you can see me distinctly. You see me together.

4. Sau đó, giữa các bạn và Mặt Trời đang mọc, hãy thấy một hình người đang tiến về phía các bạn. Đó sẽ là Tôi (Chân sư DK), từ ánh sáng đi về phía các bạn. Trên con đường ánh sáng trong trẻo, các bạn có thể thấy Tôi rõ ràng. Các bạn cùng nhau thấy Tôi.

197. Master DK is a representative of the Light of Wisdom, the Light of Hierarchy.

197. Chân sư DK là một đại diện của Ánh Sáng Minh Triết, Ánh Sáng của Thánh đoàn.

()5. Then say, inaudibly, yet as a group:

5. Sau đó, hãy đọc thầm, nhưng với tư cách một nhóm:

198. This inaudibility preserves concentration and unanimity.

198. Việc không phát thành tiếng này duy trì sự tập trung và đồng tâm nhất trí.

“Into the light we move, beckoned thereto by thee. Out of the dark we come, driven thereto by the soul of all. Up from the earth we spring and into the ocean of light we plunge. Together we come. Together we move, guided and led by the soul we serve and by thee, the Master we know. The Master within and the Master without are One. That One are we. The One is all—my soul, thy soul, the Master and the soul of all.”

“Chúng con tiến vào ánh sáng, theo lời vẫy gọi của Ngài. Chúng con ra khỏi bóng tối, do linh hồn của tất cả thôi thúc. Từ đất, chúng con bật lên và lao vào đại dương ánh sáng. Chúng con cùng nhau đến. Chúng con cùng nhau tiến bước, được linh hồn mà chúng con phụng sự và Ngài, Chân sư mà chúng con biết, hướng dẫn và dẫn dắt. Chân sư bên trong và Chân sư bên ngoài là Một. Chúng con là Đấng Duy Nhất ấy. Đấng Duy Nhất là tất cả—linh hồn con, linh hồn Ngài, Chân sư và linh hồn của tất cả.”

199. The mantram is beautiful and potent in the evocation of unity.

199. Mantram này đẹp đẽ và có sức mạnh gợi lên sự hợp nhất.

200. The soul of all is a driving force. It is this soul, in all, which is to be served.

200. Linh hồn của tất cả là một mãnh lực thúc đẩy. Chính linh hồn này, hiện diện trong tất cả, là điều cần được phụng sự.