Trích nội dung chương
201. Các thành viên trong nhóm đã vươn lên khỏi tính vật chất, và đại dương ấy là Đại Dương Ánh Sáng. 202. All occurs in concert; all move together. The group is not only driven by the soul of all but guided and led by that soul. There is no “my soul or thy soul” but only the One Soul.
201. The group members have risen from materiality and the ocean is the Ocean of Light.
201. Các thành viên trong nhóm đã vươn lên khỏi tính vật chất, và đại dương ấy là Đại Dương Ánh Sáng.
202. All occurs in concert; all move together. The group is not only driven by the soul of all but guided and led by that soul. There is no “my soul or thy soul” but only the One Soul.
202. Mọi việc đều diễn ra trong sự phối hợp; tất cả cùng tiến bước. Nhóm không chỉ do linh hồn của tất cả thúc đẩy mà còn được linh hồn ấy hướng dẫn và dẫn dắt. Không có “linh hồn tôi hay linh hồn bạn”, mà chỉ có Linh Hồn Duy Nhất.
203. This is a great fusion formula; the group is fused with itself, with the soul of all, with Master DK and with the Sun of Wisdom (the Sun as represented in this visualization).
203. Đây là một công thức dung hợp vĩ đại; nhóm dung hợp trong nội bộ, với linh hồn của tất cả, với Chân sư DK và với Mặt Trời Minh Triết (Mặt Trời như được thể hiện trong sự hình dung này).
If you will each of you do this on the five days of the Full Moon (as earlier detailed), you will produce a group fusion of purpose which is for you the next desired step. You have worked at a group fusion in love; some success is apparent. Now work at the united evocation of the will.
Nếu mỗi người trong các bạn thực hiện điều này trong năm ngày Trăng Tròn (như đã trình bày chi tiết trước đây), các bạn sẽ tạo nên sự dung hợp nhóm về mục đích, là bước tiếp theo mà các bạn mong muốn đạt tới. Các bạn đã nỗ lực hướng đến sự dung hợp nhóm trong tình thương; một mức độ thành công đã thể hiện rõ. Giờ đây, hãy cùng nhau gợi lên ý chí.
204. The new visualization is offering another step beyond “a group fusion in love”. In addition a “united evocation of the will” is attempted. Even a brief reading of the meditation will suggest how potently it will evoke a sense of group will and purpose.
204. Sự hình dung mới đưa ra một bước tiến xa hơn “sự dung hợp của nhóm trong tình thương”. Ngoài ra, nhóm còn nỗ lực “cùng nhau gợi lên ý chí”. Dù chỉ đọc lướt bài thiền, chúng ta cũng có thể nhận thấy bài thiền sẽ gợi lên mạnh mẽ biết bao ý thức về ý chí và mục đích của nhóm.
Each month send in your Full Moon report. I would ask you to do this each month, embodying your Full Moon report [128] and your meditation report into one unit because the activity of reporting is of real service in centralising your thought and therefore your life within the group life.
Mỗi tháng, hãy gửi báo cáo Trăng Tròn của các bạn. Tôi muốn các bạn làm điều này hằng tháng, kết hợp báo cáo Trăng Tròn [128] và báo cáo tham thiền thành một bản, vì hoạt động báo cáo thực sự giúp tập trung tư tưởng, và do đó cả đời sống của các bạn, trong sự sống nhóm.
205. We are given a more than adequate reason for reporting monthly meditative progress.
205. Chúng ta nhận được một lý do hết sức thỏa đáng để báo cáo tiến bộ tham thiền hằng tháng.
It is simply in the nature of a symbolic happening—a symbol of your progress, your purpose, your contribution and your cooperation, and all from the group angle.
Nó đơn giản có tính chất một sự kiện biểu tượng—một biểu tượng cho sự tiến bộ, mục đích, đóng góp và hợp tác của các bạn, tất cả đều từ góc độ nhóm.
206. DK discusses the nature of the symbolism. It is amazing how much inner progress can be made through the right meditative use of symbolism.
206. Chân sư DK bàn về bản chất của hệ biểu tượng. Thật đáng kinh ngạc khi việc sử dụng đúng đắn các biểu tượng trong tham thiền có thể đem lại biết bao tiến bộ bên trong.
207. We note that the symbolism suggested is simple but powerfully evocative.
207. Chúng ta lưu ý rằng hệ biểu tượng được đề xuất tuy đơn giản nhưng có sức gợi lên mạnh mẽ.
Therein lies its value. The so-called informative aspect of these reports is relatively negligible as such to groups like this. But the symbolic usefulness is great and has a definite group usefulness.
Chính ở đó có giá trị của nó. Cái gọi là phương diện cung cấp thông tin của những báo cáo này, xét riêng về mặt ấy, tương đối không đáng kể đối với những nhóm như thế này. Nhưng giá trị biểu tượng của chúng rất lớn và đem lại lợi ích rõ rệt cho nhóm.
208. The reports are not principally for the sharing of knowledge. Reporting as a group activity is what is of importance.
208. Mục đích chính của các báo cáo không phải là chia sẻ tri thức. Điều quan trọng là việc báo cáo như một hoạt động nhóm .
One suggestion I will make. At the time of your Full Moon Approach to me, endeavour to have in your consciousness the words from Formula One (given in Section Three): “Upon the stream, between the two extremes, there floats the eye of vision. “
Tôi sẽ đưa ra một gợi ý. Vào lúc các bạn Tiếp Cận Tôi trong kỳ Trăng Tròn, hãy cố gắng giữ trong tâm thức những lời từ Công Thức Một (được trình bày trong Mục Ba): “Trên dòng chảy, giữa hai cực, con mắt linh thị nổi trôi.”
209. DK links Formula One to the meditation/visualization He proposes. We can see that the “eye of vision” may be considered as the soul, and its symbol the Sun.
209. Chân sư DK liên kết Công Thức Một với bài thiền/sự hình dung mà Ngài đề xuất. Chúng ta có thể thấy rằng “con mắt linh thị” có thể được xem là linh hồn, và biểu tượng của nó là Mặt Trời.
You need to remember that from one point of view these symbols are related to the antahkarana, that line between two points, and that as you build the antahkarana in your own lives so will be the growth of your understanding of the formula.
Các bạn cần nhớ rằng, từ một góc nhìn, những biểu tượng này liên hệ với antahkarana, đường nối giữa hai điểm, và khi các bạn xây dựng antahkarana trong chính cuộc sống của mình, sự thấu hiểu công thức cũng sẽ tăng trưởng tương ứng.
210. As preparation for initiation depends upon the building of the antahkarana, it can be said that all the formulas found in DINA II contribute to this process.
210. Vì việc chuẩn bị cho điểm đạo phụ thuộc vào sự xây dựng antahkarana, có thể nói rằng tất cả các công thức trong DINA II đều góp phần vào tiến trình này.
211. The symbolism in Formula One, however, is particularly suggestive of the process.
211. Tuy nhiên, hệ biểu tượng trong Công Thức Một đặc biệt gợi đến tiến trình này.
212. It is suggested that the building and use of the antahkarana is necessary for the understanding of the formulas. The antahkarana is the gateway to the activation of the intuition, without which there can be no true understanding of these rather abstruse formulas.
212. Điều này gợi ý rằng việc xây dựng và sử dụng antahkarana là cần thiết để thấu hiểu các công thức. Antahkarana là cửa ngõ dẫn đến sự kích hoạt trực giác; thiếu trực giác, không thể thực sự thấu hiểu những công thức khá khó hiểu này.
As you progress upon the “way of the chela,” so will grow your power. Use the formula actively as far as you can and do not rest satisfied with just attempting to understand some of its significances.
Khi tiến bước trên “con đường đệ tử”, quyền năng của các bạn cũng sẽ phát triển. Hãy tích cực sử dụng công thức trong khả năng của mình, và đừng bằng lòng với việc chỉ cố gắng thấu hiểu một vài thâm nghĩa của nó.
213. Understanding the formula is not equivalent to right utilization of the formula. Beyond mere understanding lies the opportunity for a dynamic entry into the energy of the symbol.
213. Thấu hiểu công thức không đồng nghĩa với việc sử dụng công thức đúng đắn. Vượt xa sự thấu hiểu đơn thuần là cơ hội bước vào năng lượng của biểu tượng một cách mạnh mẽ.
It has a magical import, and when understanding is coupled with the use of the will, this formula constitutes a Word of Power of magical service.
Công thức có ý nghĩa huyền thuật, và khi sự thấu hiểu kết hợp với việc sử dụng ý chí, công thức này trở thành một Quyền năng từ phục vụ bằng huyền thuật.
214. The magical nature of the formulas is suggested.
214. Bản chất huyền thuật của các công thức được gợi ra.
215. Understanding must be coupled with will, though understanding must necessarily precede will.
215. Sự thấu hiểu phải kết hợp với ý chí, dù nhất thiết phải có sự thấu hiểu trước ý chí.
216. Let us ponder the words, “Word of Power of magical service”. The formulas are not simply formulas for initiation, but formulas by means of which one may serve magically. This means serving with added power and effectiveness supported by the power inherent in the formulas.
216. Chúng ta hãy suy ngẫm về những lời “Quyền năng từ dùng để phụng sự bằng huyền thuật”. Các công thức không chỉ là công thức dành cho điểm đạo, mà còn là những công thức nhờ đó người ta có thể phụng sự bằng huyền thuật. Điều này hàm ý phụng sự với quyền năng và hiệu quả gia tăng, nhờ sự hỗ trợ của quyền năng vốn có trong các công thức.
217. These formulas are powerful, living patterns of energy.
217. Những công thức này là các mô hình năng lượng sống động, đầy quyền năng.
MEDITATION PART IV [128-131] – BÀI THIỀN PHẦN IV [128-131]
As I have studied the meditation work of each of you (and both you and I know whether it has been faithfully followed or not), I have become aware of a basic need and that is the need for Alignment.
Khi nghiên cứu công việc tham thiền của từng người trong các bạn (và cả các bạn lẫn Tôi đều biết công việc ấy có được thực hiện trung thành hay không), Tôi nhận ra một nhu cầu căn bản, đó là nhu cầu Chỉnh Hợp.
218. The Master is closely observant of the work He has assigned. There is an Eye that sees the truth.
218. Chân sư theo dõi sát sao công việc Ngài đã giao. Có một Con Mắt nhìn thấy sự thật.
You need a more direct contact between heart-head-soul. This, necessarily, in preparation for a still higher contact. The two parts of the exercise you have been following since the new seed group was organised have not done what was intended and only three of you have profited adequately from that work.
Các bạn cần sự tiếp xúc trực tiếp hơn giữa tim–đầu–linh hồn. Tất nhiên, điều này nhằm chuẩn bị cho một sự tiếp xúc còn cao hơn nữa. Hai phần của bài tập mà các bạn đã thực hiện kể từ khi nhóm hạt giống mới được tổ chức chưa đạt được điều dự định, và chỉ ba người trong các bạn thu được lợi ích đầy đủ từ công việc ấy.
219. This is a moment of sober assessment. The need is simple and basic—a better alignment, especially between heart, head and soul.
219. Đây là lúc đánh giá một cách tỉnh táo. Nhu cầu ấy đơn giản và căn bản—một sự chỉnh hợp tốt hơn, đặc biệt giữa tim, đầu và linh hồn.
220. DK informs His group that this preliminary alignment is needed if there is to be a still higher contact.
220. Chân sư DK cho nhóm của Ngài biết rằng cần có sự chỉnh hợp sơ bộ này để có thể đạt được một sự tiếp xúc còn cao hơn nữa.
221. His evaluation of the group’s use of Meditation I/II is that the intended results have not been achieved.
221. Ngài đánh giá rằng việc nhóm sử dụng Bài Thiền I/II chưa đạt được những kết quả dự định.
I am, therefore, giving you a very simple alignment exercise which I would ask you to follow together until further notice. I emphasise the word together and shall continue so doing in the hope that the group [129] will move forward with a uniform procedure for this will produce the greatest and most rapid results.
Vì vậy, Tôi đang trao cho các bạn một bài tập chỉnh hợp rất đơn giản mà Tôi muốn các bạn cùng nhau thực hiện cho đến khi có thông báo tiếp theo. Tôi nhấn mạnh từ cùng nhau và sẽ tiếp tục làm như vậy, với hy vọng nhóm [129] sẽ tiến lên theo một tiến trình thống nhất, vì điều này sẽ tạo ra những kết quả lớn nhất và nhanh nhất.
222. A hint is given regarding our own progress: uniform procedure produces the greatest and most rapid results.
222. Một gợi ý được đưa ra về sự tiến bộ của chính chúng ta: phương thức thống nhất đem lại những kết quả lớn nhất và nhanh nhất.
223. DK wants to avoid the strictly individual approach to these meditations as such an approach will only inhibit group progress.
223. Chân sư DK muốn tránh cách tiếp cận hoàn toàn cá nhân đối với các bài thiền này, vì cách tiếp cận như thế sẽ chỉ cản trở sự tiến bộ của nhóm.
It is good for you to have in mind that the better you do this exercise and the quicker and closer your alignment, the better will be the group alignment.
Các bạn nên ghi nhớ rằng, càng thực hiện bài tập này tốt và sự chỉnh hợp của mỗi người càng nhanh chóng, chặt chẽ, thì sự chỉnh hợp nhóm càng tốt.
224. The individual disciple is given direct responsibility for the alignment to be achieved by the group as a whole.
224. Mỗi đệ tử nhận trách nhiệm trực tiếp đối với sự chỉnh hợp mà toàn nhóm cần đạt được.
The exercise is so short and simple that you may regard it as too elementary. I assure you that it will reward any constant effort.
Bài tập ngắn và đơn giản đến mức các bạn có thể xem nó là quá sơ đẳng. Tôi bảo đảm với các bạn rằng mọi nỗ lực bền bỉ đều sẽ được đền đáp.
225. However, the implication is that the exercise given will not reward fitful effort.
225. Tuy nhiên, hàm ý ở đây là bài tập này sẽ không đem lại thành quả nếu chỉ nỗ lực thất thường.
226. There is always a danger in the assigning of apparently simple meditations. Eager and ambitious aspirants may not want to practice them simply because they are simple! Yet, power and simplicity often go together.
226. Việc giao những bài thiền có vẻ đơn giản luôn tiềm ẩn một nguy cơ. Những người chí nguyện hăng hái và đầy tham vọng có thể không muốn thực hành chúng chỉ vì chúng đơn giản! Tuy nhiên, quyền năng và sự đơn giản thường đi đôi với nhau.
It had been my intention to give another meditation, involving another centre, but the results of the work done do not warrant this.
Tôi đã định trao một bài thiền khác, liên quan đến một trung tâm khác, nhưng kết quả của công việc đã thực hiện chưa đủ để biện minh cho điều này.
227. DK hinted at this when first telling the group that they had not yet achieved the desired results from Meditation I/II.
227. Chân sư DK đã gợi ý điều này khi lần đầu cho nhóm biết rằng họ chưa đạt được kết quả mong muốn từ Bài Thiền I/II.
Perhaps a better alignment may lead to a more constant application and a more direct and understanding occult obedience. I would ask you, therefore, to do this simple alignment exercise every day.
Có lẽ sự chỉnh hợp tốt hơn có thể dẫn đến việc thực hành đều đặn hơn và sự vâng phục huyền bí trực tiếp hơn, có sự thấu hiểu hơn. Vì vậy, Tôi muốn các bạn thực hiện bài tập chỉnh hợp đơn giản này mỗi ngày.
228. The implication in this section is that the group has not followed instructions obediently. Occult obedience need not necessarily and exclusively mean obedience to the Master. It is said to mean obedience to the soul, but since the soul and the Master (and the disciple) are one, obedience to the Master is a definite part of occult obedience.
228. Hàm ý trong phần này là nhóm chưa tuân thủ các huấn thị. Sự tuân phục huyền môn không nhất thiết chỉ có nghĩa là tuân phục Chân sư. Người ta nói rằng điều đó có nghĩa là tuân phục linh hồn; nhưng vì linh hồn và Chân sư (và đệ tử) là một, nên tuân phục Chân sư là một phần rõ rệt của sự tuân phục huyền môn.
I. Start with the point of soul focus of which you know much theoretically and can know more practically. This falls into three stages:
I. Bắt đầu từ điểm tập trung của linh hồn, điều mà các bạn biết nhiều về mặt lý thuyết và có thể biết nhiều hơn qua thực hành. Phần này gồm ba giai đoạn:
229. The Master asks for a transition from theory to practice.
229. Chân sư yêu cầu chuyển từ lý thuyết sang thực hành.
230. The accepted disciple must be capable of soul focus at will.
230. Đệ tử được chấp nhận phải có khả năng tập trung nơi linh hồn theo ý muốn.
()1. Raise the consciousness into the head.
1. Nâng tâm thức lên đầu.
231. Presumably this means the etheric head.
231. Có lẽ điều này muốn nói đến phần đầu dĩ thái.
()2. Carry the thought or consciousness upward through the astral body and the mind to the soul.
2. Đưa tư tưởng hay tâm thức đi lên qua thể cảm dục và thể trí đến linh hồn.
232. This ‘upward’ movement is symbolic, though each vehicle does somewhat extend above and beyond the vehicle immediately ‘lower’.
232. Sự chuyển động “hướng lên” này mang tính biểu tượng, dù mỗi hiện thể quả có phần vươn lên cao hơn và vượt ra ngoài hiện thể ngay bên “dưới”.
()3. Identify the personality consciousness with the soul consciousness, and realise that they are one.
3. Đồng hoá tâm thức phàm ngã với tâm thức linh hồn, và nhận ra rằng cả hai là một.
233. One must isolate both types of consciousness. The soul consciousness has been established. From this vantage point one may ‘descend’ into the personality consciousness seeing it as a sub-aspect or sub-ray of the soul consciousness.
233. Người ta phải phân định riêng cả hai loại tâm thức. Tâm thức linh hồn đã được xác lập. Từ vị thế này, người ta có thể “đi xuống” tâm thức phàm ngã, thấy nó như một phương diện phụ hay cung phụ của tâm thức linh hồn.
234. Establishing soul consciousness before dealing with the personality guarantees that the personality will be dealt with in the right manner.
234. Việc xác lập tâm thức linh hồn trước khi xử lý phàm ngã bảo đảm rằng phàm ngã sẽ được xử lý đúng cách.
II. From that point, definitely and consciously, assume the attitude of the Observer. This also involves three stages:
II. Từ điểm ấy, hãy dứt khoát và hữu thức giữ thái độ của Người Quan Sát. Phần này cũng gồm ba giai đoạn:
235. The Observer is close to the soul. There are different Observers depending upon the ‘spiritual altitude’ the meditator is capable of achieving.
235. Người Quan Sát gần với linh hồn. Có những Người Quan Sát khác nhau tùy theo “độ cao tinh thần” mà người hành thiền có khả năng đạt tới.
()1. Observe the personality and consider it from the angle of the etheric body.
1. Quan sát phàm ngã và xem xét nó từ góc độ thể dĩ thái.
236. All aspects of the personality are observed, but the etheric body (as transmitter of a number of different energies) is in this case considered of foremost importance.
236. Mọi phương diện của phàm ngã đều được quan sát, nhưng trong trường hợp này, thể dĩ thái (với vai trò truyền dẫn nhiều năng lượng khác nhau) được xem là có tầm quan trọng hàng đầu.
()2. Consciously throw soul energy down into the centre at the base of the spine.
2. Một cách có ý thức, đưa năng lượng linh hồn xuống trung tâm ở đáy cột sống.
237. This is done through the imagination. Notice that definite work with the centers is being assigned, but also note that this whole process is occurring under the Master’s supervision.
237. Điều này được thực hiện qua sự tưởng tượng. Hãy lưu ý rằng công việc cụ thể với các trung tâm đang được giao, nhưng cũng cần lưu ý rằng toàn bộ tiến trình này diễn ra dưới sự giám sát của Chân sư.
Then raise it slowly, via the five centres and the two head centres (ajna and highest head centre), up into the soul body.
Rồi từ từ nâng năng lượng ấy lên, qua năm trung tâm và hai trung tâm ở đầu (ajna và trung tâm cao nhất ở đầu), vào thể linh hồn.
238. All of the seven major centers are involved in this uplifting. The spleen is a minor center and is not involved.
238. Cả bảy trung tâm chính đều tham gia vào sự nâng lên này. Trung tâm lá lách là một trung tâm phụ và không tham gia.
This produces, when correctly done, a vivifying of the sutratma [the life thread] and links the personality and soul into one blended unit. It is what might be called the acme of alignment.
Khi thực hiện đúng, điều này tiếp sinh lực cho sinh mệnh tuyến [sợi dây sự sống] và liên kết phàm ngã với linh hồn thành một đơn vị hòa quyện. Có thể gọi đây là đỉnh cao của sự chỉnh hợp.
239. It is the sutratma which vivifies with life all chakras. This active visualization activates the sutratma and increases soul personality fusion.
239. Chính sinh mệnh tuyến tiếp sinh lực cho mọi luân xa. Sự hình dung chủ động này kích hoạt sinh mệnh tuyến và tăng cường sự dung hợp linh hồn–phàm ngã.
240. If we consider the union of the extremes of soul and the base of the spine (including all intervening centers aligned and actively involved), we realize why the process here given is justifiably called “the acme of alignment”.
240. Nếu xem xét sự hợp nhất giữa hai cực là linh hồn và đáy cột sống (bao gồm tất cả các trung tâm ở giữa đã chỉnh hợp và tích cực tham gia), chúng ta nhận ra vì sao tiến trình nêu ở đây được gọi một cách xác đáng là “đỉnh cao của sự chỉnh hợp”.
241. However, what if the Monad were added to the alignment? It would seem that, for man, the ultimate “acme of alignment” would demand an aligned relationship between the highest (the Monad) and the lowest.
241. Tuy nhiên, nếu Chân Thần cũng được đưa vào sự chỉnh hợp thì sao? Dường như, đối với con người, “đỉnh cao của sự chỉnh hợp” tối hậu đòi hỏi một mối quan hệ chỉnh hợp giữa phần cao nhất (Chân Thần) và phần thấp nhất.
()3. Then endeavour to throw the attention of the united soul-personality toward the Spiritual Triad.
3. Sau đó, cố gắng hướng sự chú tâm của linh hồn–phàm ngã đã hợp nhất về phía Tam Nguyên Tinh Thần.
242. Again, this must be performed using creative visualization.
242. Một lần nữa, điều này phải được thực hiện bằng sự hình dung sáng tạo.
243. Soul-personality alignment is not sufficient; a still higher aspect of the nature (wherein the Divine Plan is appreciated impersonally) must be included.
243. Sự chỉnh hợp linh hồn–phàm ngã chưa đủ; còn phải bao gồm một phương diện cao hơn nữa của bản chất (nơi Thiên Cơ được nhận thức một cách vô ngã).
[130]
[130]
III. Reflect upon the antahkarana and its relation to soul-personality and the Monad.
III. Suy ngẫm về antahkarana và mối liên hệ của nó với linh hồn–phàm ngã và chân thần.
244. Now we see the Monad included, with the spiritual triad serving as the bridge to this highest aspect.
244. Giờ đây, chúng ta thấy Chân Thần được đưa vào, với Tam Nguyên Tinh Thần đóng vai trò cầu nối đến phương diện cao nhất này.
In your personal instructions this year, I am not going to be explicit nor am I going to give you each an individual meditation. The time for that is past. You have had much along that line.
Trong các huấn thị cá nhân dành cho các bạn năm nay, Tôi sẽ không trình bày tường tận, cũng không trao cho mỗi người một bài thiền riêng. Thời gian dành cho việc ấy đã qua. Các bạn đã nhận được nhiều điều theo hướng đó.
245. Accepted disciples should be able to intuitively create meditations which will be useful for them.
245. Các đệ tử được chấp nhận cần có khả năng dùng trực giác để tạo ra những bài thiền hữu ích cho mình.
I am going to revert to an aspect of the old system of training and give you hints and brief injunctions, leaving you to do your own interpreting, to make right application and to profit or fail to profit as seems best to you.
Tôi sẽ trở lại một phương diện của hệ thống huấn luyện cũ, trao cho các bạn những gợi ý và chỉ thị ngắn gọn, để các bạn tự diễn giải, áp dụng đúng đắn, và tùy theo cách mình cho là tốt nhất mà thu được lợi ích hoặc không.
246. DK wanted to develop a newer method of hinting, but seeing that the group (as a whole) failed to benefit from it as much as He has hoped, He utilizes a the older tried and true method.
246. Chân sư DK muốn phát triển một phương pháp gợi ý mới hơn, nhưng khi thấy toàn nhóm chưa hưởng lợi từ phương pháp ấy nhiều như Ngài đã hy vọng, Ngài sử dụng phương pháp cũ đã được kiểm chứng là hữu hiệu.
247. The hints given as injunctions were, it turns out, extremely rich and evocative.
247. Hóa ra, những gợi ý được trao dưới hình thức lời huấn thị vô cùng phong phú và giàu sức gợi mở.
These injunctions will take the form of six statements, sentences or aphorisms which will contain for you a particular message at which you can arrive if you will take each of them into your daily meditation.
Những chỉ thị này sẽ có hình thức sáu phát biểu, câu văn hoặc cách ngôn, chứa đựng một thông điệp riêng dành cho các bạn mà các bạn có thể khám phá nếu đưa từng câu vào việc tham thiền hằng ngày.
248. Imagine what is required of a Master to create so many injunctions accurately specified for each chela’s particular needs.
248. Hãy hình dung một Chân sư cần làm những gì để tạo ra nhiều lời huấn thị như thế, được xác định chính xác cho những nhu cầu riêng của từng đệ tử.
You have a year in which to do this and can, therefore, make the six statements into six seed thoughts for meditation, or reflective brooding—one for each month for six months. Then repeat with the thought in view that during the second six months you will do what you can to make the effects of the previous period of reflection, a dynamic factor in your life.
Các bạn có một năm để làm việc này; do đó, có thể dùng sáu phát biểu ấy làm sáu tư tưởng hạt giống để tham thiền hoặc suy ngẫm sâu lắng—mỗi tháng một câu trong sáu tháng. Sau đó hãy lặp lại, với ý định rằng trong sáu tháng sau, các bạn sẽ làm hết sức để biến những tác động của thời kỳ suy ngẫm trước thành một yếu tố năng động trong đời mình.
249. We see, therefore, that the first six months are dedicated to understanding and the last six months to the application of the will.
249. Vì vậy, chúng ta thấy rằng sáu tháng đầu dành cho sự thấu hiểu và sáu tháng cuối dành cho việc vận dụng ý chí.
250. We see that at this stage of the group’s development, DK was intending to communicate with them less often than He did during the DINA I stage of instruction.
250. Chúng ta thấy rằng ở giai đoạn phát triển này của nhóm, Chân sư DK dự định liên lạc với họ ít thường xuyên hơn so với giai đoạn huấn thị trong DINA I.
Thus you will externalise the results of the preceding cycle of spiritual and mental brooding.
Như vậy, các bạn sẽ ngoại hiện những kết quả của chu kỳ suy ngẫm sâu lắng về tinh thần và trí tuệ trước đó.
251. The first approach to the statements necessitates the soft line rays and especially the second and fourth rays.
251. Cách tiếp cận đầu tiên với các phát biểu đòi hỏi những cung thuộc tuyến mềm, đặc biệt là cung hai và cung bốn.
252. The second approach utilizes hard line rays for the purposes of manifestation.
252. Cách tiếp cận thứ hai sử dụng những cung thuộc tuyến cứng nhằm mục đích biểu hiện.
In this way, your subjective realisation can become an objective happening. Do this exercise each morning at the close of the alignment work, endeavouring to hold the mind steady in the light and to achieve as far as you can the brooding quality of the soul when in deep meditation.
Bằng cách này, sự nhận biết chủ quan của các bạn có thể trở thành một sự kiện khách quan. Hãy thực hiện bài tập này mỗi sáng vào cuối phần chỉnh hợp, cố gắng giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng và, trong khả năng của mình, đạt đến phẩm tính suy ngẫm sâu lắng của linh hồn khi ở trong thiền định sâu.
253. The alignment exercise is to have immediate application in helping to shed light on the six injunctions or seed thoughts.
253. Bài tập chỉnh hợp cần được áp dụng ngay để giúp soi sáng sáu lời huấn thị hay tư tưởng hạt giống.
This will not be easy at first, but if you adhere faithfully to instructions, [again, they are in need of a reminder] you will consciously realise sure gain. I suggest ten minutes’ brooding each day (with pencil in hand if you so prefer) and then—during the day—keep the seed thought or statement in what is called “the back of the mind.” There it can gestate.
Ban đầu, điều này sẽ không dễ, nhưng nếu trung thành tuân theo các huấn thị, [một lần nữa, họ cần được nhắc nhở] các bạn sẽ nhận biết rõ sự tiến bộ chắc chắn. Tôi đề nghị mỗi ngày dành mười phút suy ngẫm sâu lắng (cầm bút chì nếu các bạn thích), rồi—trong suốt ngày—giữ tư tưởng hạt giống hoặc phát biểu ấy ở nơi được gọi là “phía sau thể trí”. Ở đó, nó có thể được ấp ủ.
254. Here is DK’s sanction for that method of meditation which includes a writing implement ready to hand.
254. Đây là sự chấp thuận của Chân sư DK đối với phương pháp tham thiền có sẵn dụng cụ viết trong tầm tay.
In this way you will not only arrive at the meaning of your personal injunctions, hints or instructions (for that is what they may prove to be when you arrive at their intended meaning),
Bằng cách này, các bạn không chỉ khám phá ý nghĩa của những chỉ thị, gợi ý hoặc huấn thị riêng dành cho mình (vì chúng có thể tỏ ra là như thế khi các bạn nắm được ý nghĩa chủ định của chúng),
255. DK is speaking of the real power of the six injunctions. They may become hints or instructions, once their meaning is fathomed.
255. Chân sư DK đang nói về quyền năng thực sự của sáu lời huấn thị. Một khi thấu triệt ý nghĩa của chúng, chúng có thể trở thành những gợi ý hay chỉ dẫn.
but you will at the same time learn to cultivate the “double life pattern” of the pledged disciple.
mà đồng thời còn học cách vun bồi “mô hình đời sống kép” của người đệ tử đã cam kết.
256. We note that DK is speaking to accepted disciples but continues to speak of the patterns which pertain to living the life of pledged discipleship.
256. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đang nói với các đệ tử được chấp nhận nhưng vẫn tiếp tục nói về những mô hình liên quan đến việc sống đời sống của địa vị đệ tử đã lập nguyện.
257. One often reads of the dual life of discipleship; here is an expansion of the idea and a greater specification: “the double life pattern” of the pledged disciple.
257. Người ta thường đọc về đời sống kép của địa vị đệ tử; ở đây, ý tưởng ấy được mở rộng và xác định cụ thể hơn: “mô hình đời sống kép” của người đệ tử đã lập nguyện.
258. The so-called “back of the mind” is utilized in living this “double life pattern”.
258. Nơi được gọi là “phía sau thể trí” được sử dụng khi sống theo “mô hình đời sống kép” này.
He carries on with the lower mind and the higher mind simultaneously, and the stream of spiritual [131] thought and activity consciously flows whilst the outer pattern of his life proceeds with increasing usefulness.
Y đồng thời hoạt động bằng hạ trí và thượng trí, và dòng tư tưởng cùng hoạt động tinh thần [131] tuôn chảy một cách có ý thức, trong khi khuôn mẫu đời sống bên ngoài của y ngày càng trở nên hữu ích.
259. DK’s wording immediately above suggests reference to Formula One.
259. Cách diễn đạt ngay trên của Chân sư DK gợi đến Công Thức Một.
260. It is clear that the ability to utilize the lower and higher minds simultaneously is a requirement of pledged discipleship. The higher alignment must be secured before the lower focus is activated; otherwise there may be a falling away from the higher alignment and a preoccupation with lower concerns.
260. Rõ ràng, khả năng sử dụng đồng thời hạ trí và thượng trí là một yêu cầu của địa vị đệ tử đã lập nguyện. Phải bảo đảm sự chỉnh hợp cao hơn trước khi kích hoạt sự tập trung ở cấp thấp hơn; nếu không, người ta có thể rời khỏi sự chỉnh hợp cao hơn và mải mê với những mối bận tâm thấp hơn.
Here are the six statements* for each of you, and I will take you alphabetically as usual.
Đây là sáu phát biểu [viii]* dành cho mỗi người trong các bạn, và như thường lệ, Tôi sẽ lần lượt theo thứ tự chữ cái.
261. This DK did according to the real names of the disciples and not according to the three or four words found in their Developmental Formulas.
261. Chân sư DK làm điều này theo tên thật của các đệ tử, chứ không theo ba hay bốn từ trong các Công Thức Phát Triển của họ.
One word I would add: Seek not to interpret and understand your brother’s instructions. Telepathic interplay, unrealised, naturally exists among you and your thought and interpretations (based on insufficient knowledge) would undoubtedly impinge upon your brother’s mind. This could not fail to have effects.
Tôi muốn thêm một lời: Đừng tìm cách diễn giải và thấu hiểu các huấn thị dành cho huynh đệ của mình. Giữa các bạn tự nhiên có sự tương tác viễn cảm mà các bạn không nhận biết, và tư tưởng cùng những cách diễn giải của các bạn (dựa trên sự hiểu biết chưa đầy đủ) chắc chắn sẽ tác động đến thể trí của huynh đệ mình. Điều này không thể không gây ra tác động.
262. This is a definite warning for preserving the integrity of group process.
262. Đây là một lời cảnh báo rõ ràng nhằm gìn giữ tính toàn vẹn của tiến trình nhóm.
263. As all the disciples in the New Seed Group have now passed on, we are at liberty to ponder all of the many injunctions with profit, for they have a universal as well as specifically individual aspect.
263. Vì tất cả các đệ tử trong Nhóm Hạt Giống Mới giờ đây đều đã qua đời, chúng ta có thể tự do suy ngẫm và hưởng lợi từ tất cả những lời huấn thị phong phú ấy, vì chúng vừa có phương diện phổ quát vừa có phương diện dành riêng cho từng cá nhân.
264. The members of such a group have to learn the occult equivalent of minding their own business.
264. Các thành viên của một nhóm như thế phải học cách chỉ lo việc của mình theo ý nghĩa huyền môn.
You might interpret wrongly and in any case you know not my intentions where your brother is concerned.
Các bạn có thể diễn giải sai, và trong bất cứ trường hợp nào, các bạn cũng không biết những ý định của Tôi đối với huynh đệ mình.
265. Thus, humility is required.
265. Vì vậy, cần có lòng khiêm nhường.
Your thought might emphasise a concrete meaning whereas I might have in view a totally different application. Keep your mind, therefore, off your brother’s instructions.
Tư tưởng của các bạn có thể nhấn mạnh một ý nghĩa cụ thể, trong khi Tôi có thể nhắm đến một cách áp dụng hoàn toàn khác. Vì vậy, hãy giữ thể trí mình khỏi các huấn thị dành cho huynh đệ.
266. Nothing could be more explicit. DK and His disciples are working in a subtle world where subtleties can have a powerful effect.
266. Không gì có thể rõ ràng hơn. Chân sư DK và các đệ tử của Ngài đang hoạt động trong một thế giới vi tế, nơi những điều vi tế có thể tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ.
Your duty lies in the daily releasing of steady illumined love, free from all criticism.
Bổn phận của các bạn là hằng ngày tuôn tỏa tình thương vững bền, sáng suốt, không có bất kỳ sự chỉ trích nào.
267. This, let us remember, is our constant duty towards each other. How many of us have instinctively critical minds? Let us examine for ourselves how it stands with us.
267. Chúng ta hãy nhớ rằng đây là bổn phận thường xuyên của chúng ta đối với nhau. Có bao nhiêu người trong chúng ta có thể trí mang khuynh hướng chỉ trích theo bản năng? Chúng ta hãy tự xem xét mình đang ở tình trạng nào.
It is not your duty to aid your brother to become a better occultist and disciple. That is his concern, his soul’s concern and mine.
Giúp huynh đệ mình trở thành một nhà huyền bí học và một đệ tử tốt hơn không phải là bổn phận của các bạn. Đó là việc của người ấy, của linh hồn người ấy và của Tôi.
268. There is almost humor in this. Disciples are so ready to mind each other’s business—a subtle form of pride and perceived superiority to others.
268. Điều này gần như mang nét hài hước. Các đệ tử quá sẵn lòng xen vào chuyện của nhau—một hình thức vi tế của lòng kiêu hãnh và ý nghĩ cho rằng mình cao hơn người khác.
Many of the hints given and the sentences in which they are embodied are taken from an old Book of Rules for disciples. Some are directly from me, your Master, and are applicable to your problems or your duty.
Nhiều gợi ý và những câu văn diễn đạt chúng được trích từ một quyển Sách Quy Luật cổ dành cho các đệ tử. Một số đến trực tiếp từ Tôi, Chân sư của các bạn, và áp dụng cho những vấn đề hoặc bổn phận của các bạn.
269. DK explains the sources of the injunctions—some from an “old Book of Rules” and some of His own invention.
269. Chân sư DK giải thích nguồn gốc của các huấn lệnh—một số từ một “Quyển Quy Luật cổ” và một số do chính Ngài đặt ra.
270. Reading these injunctions is well worth the time. They are profound. If one reads simultaneously (and carefully) the instructions intended for any one disciple, one can see why the particular six injunctions were directed to him or her.
270. Dành thời gian đọc những huấn lệnh này là điều rất đáng làm. Chúng rất sâu sắc. Nếu đồng thời đọc kỹ những huấn thị dành cho một đệ tử cụ thể, chúng ta có thể thấy vì sao sáu huấn lệnh ấy lại dành riêng cho người đệ tử đó.
MEDITATION PART V [132-141] – THAM THIỀN PHẦN V [132-141]
The meditation work assigned to you thus far falls into three parts:
Công việc tham thiền đã giao cho các bạn đến nay gồm ba phần:
a. The stage of raising the energy of the heart centre into the head centre.
a. Giai đoạn nâng năng lượng từ trung tâm tim lên trung tâm đầu.
b. The stage of sending energy from the head centre to the solar plexus centre.
b. Giai đoạn đưa năng lượng từ trung tâm đầu đến trung tâm tùng thái dương.
c. A definite and planned process of alignment.
c. Một tiến trình chỉnh hợp rõ ràng và có hoạch định.
1. This is DK’s way of summarizing the substance of Meditation I/II and Meditation III.
1. Đây là cách Chân sư DK tóm lược nội dung cốt yếu của Bài thiền I/II và Bài thiền III.
2. Various stages were involved in the process but the essence is here.
2. Tiến trình này bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng phần cốt yếu nằm ở đây.
3. The union of heart and mind is promoted by the raising of the energy of the heart center into the head center.
3. Việc nâng năng lượng từ trung tâm tim lên trung tâm đầu thúc đẩy sự hợp nhất giữa trái tim và thể trí.
4. Working towards the conquest of desire by will is one of the purposes of the second part (point “b”). In occultism, all processes must be directed from the head.
4. Nỗ lực dùng ý chí để chế ngự dục vọng là một trong những mục đích của phần thứ hai (điểm “b”). Trong huyền bí học, mọi tiến trình đều phải được điều khiển từ đầu.
5. The third part (part “c”) is simply the top to bottom alignment given by the Tibetan to increase the strength and quality of group alignment.
5. Phần thứ ba (phần “c”) chỉ đơn giản là sự chỉnh hợp từ trên xuống dưới mà Chân sư Tây Tạng đưa ra nhằm tăng cường sức mạnh và phẩm tính của sự chỉnh hợp nhóm.
I found, as you know, that the great need of the group was to develop the relatively simple attitude of instantaneous relation to or contact with the soul, and through the soul [132] with the Master and His Ashram. I therefore assigned an alignment exercise when I last communicated with you, and this I did in lieu of more abstruse meditation practices.
Như các bạn biết, Tôi nhận thấy nhu cầu lớn của nhóm là phát triển một thái độ tương đối đơn giản: tức thời thiết lập mối liên hệ hoặc tiếp xúc với linh hồn, và qua linh hồn [132] với Chân sư và ashram của Ngài. Vì vậy, trong lần liên lạc gần nhất với các bạn, Tôi đã giao một bài tập chỉnh hợp thay cho những phương pháp tham thiền khó hiểu hơn.
6. DK tells again of His reason for assigning the Alignment Meditation.
6. Chân sư DK lại nói về lý do Ngài giao Bài thiền Chỉnh hợp.
7. We should impress upon ourselves that if there is an “instantaneous relation to or contact with the soul” there can easily result such contact with the Master and His Ashram. But the alignment with the soul is the first great necessity.
7. Chúng ta nên khắc sâu vào tâm trí rằng nếu có “mối liên hệ hoặc tiếp xúc tức khắc với linh hồn”, thì sự tiếp xúc như thế với Chân sư và Ashram của Ngài có thể dễ dàng diễn ra. Nhưng sự chỉnh hợp với linh hồn là điều thiết yếu lớn lao đầu tiên.
This meditation is intended to bring about three most definite results:
Bài thiền này nhằm tạo ra ba kết quả hết sức rõ rệt:
a. The interrelation of the seven centres, and therefore an uninterrupted flow of energy.
a. Mối liên hệ qua lại giữa bảy trung tâm, và do đó một dòng năng lượng tuôn chảy liên tục.
8. The first result is definitely microcosmic; it concerns the condition of the chakric system within each individual group member.
8. Kết quả đầu tiên rõ ràng thuộc tiểu thiên địa; nó liên quan đến tình trạng của hệ thống luân xa bên trong mỗi thành viên nhóm.
9. DK discovered that His chelas did not have an uninterrupted flow of energy between the seven centers.
9. Chân sư DK nhận thấy các đệ tử của Ngài chưa có một dòng năng lượng không gián đoạn giữa bảy trung tâm.
b. The interplay of energy between the members of this group in my Ashram, via the seven centres. The group thoughtform will have in it seven points of energetic life, the energies of which will be contributed by the group members. This etheric form of the group life will be an expression of the sum total of the seven types of energy as each individual member utilises them.
b. Sự tương tác năng lượng giữa các thành viên của nhóm này trong ashram của Tôi, qua bảy trung tâm. Hình tư tưởng của nhóm sẽ có trong nó bảy điểm sự sống năng động, với năng lượng do các thành viên trong nhóm đóng góp. Hình tướng dĩ thái này của sự sống nhóm sẽ biểu hiện tổng thể bảy loại năng lượng theo cách mỗi thành viên sử dụng chúng.
10. The second intended result would concern the group as a whole, and would relate the members of the group more successfully, via the seven centers within each individual member.
10. Kết quả dự kiến thứ hai sẽ liên quan đến toàn thể nhóm, và sẽ giúp các thành viên trong nhóm liên hệ với nhau hiệu quả hơn, thông qua bảy trung tâm bên trong mỗi thành viên.
11. DK speaks interestingly of animating the “seven points of energetic life” within the group thoughtform. We might say that each of the centers in this thoughtform is fed by the seven centers within the group members.
11. Chân sư DK nói một cách thú vị về việc làm sống động “bảy điểm sự sống đầy năng lượng” bên trong hình tư tưởng của nhóm. Chúng ta có thể nói rằng mỗi trung tâm trong hình tư tưởng này đều nhận sự nuôi dưỡng từ bảy trung tâm bên trong các thành viên nhóm.
12. These are occult matters. DK speaks of an “etheric form of group life” as an “expression of the sum total of the seven types of energy as each individual member utilises them”. These seven types of energy are supported by seven composite centers formed of the chakric energy of all group members.
12. Đây là những vấn đề huyền bí. Chân sư DK nói về một “hình tướng dĩ thái của sự sống nhóm” như một “biểu hiện của tổng thể bảy loại năng lượng theo cách mỗi thành viên sử dụng chúng”. Bảy loại năng lượng này được nâng đỡ bởi bảy trung tâm tổng hợp, hình thành từ năng lượng luân xa của tất cả các thành viên nhóm.
13. We are dealing with an amalgamation of many individual chakras into seven major centers or chakras which vitalize the “group thoughtform”. On these matters it would be wise to ponder.
13. Chúng ta đang bàn đến sự kết hợp nhiều luân xa cá nhân thành bảy trung tâm hay luân xa chính, vốn tiếp sinh lực cho “hình tư tưởng của nhóm”. Suy ngẫm về những vấn đề này là điều khôn ngoan.
c. The fusion, consciously and deliberately engineered, of the individual soul with the group soul, and later with the Hierarchy—via my Ashram.
c. Sự dung hợp, được thực hiện một cách có ý thức và có chủ định, của linh hồn cá nhân với hồn nhóm, rồi về sau với Thánh đoàn—qua ashram của Tôi.
14. The final result is fusion, of the individual soul with the group soul, with the Ashram and finally with Hierarchy via DK’s Ashram.
14. Kết quả cuối cùng là sự dung hợp của linh hồn cá nhân với Hồn nhóm, với Ashram và cuối cùng với Thánh đoàn thông qua Ashram của Chân sư DK.
15. We can see that a number of very esoteric results were expected from the use of this apparently simple alignment exercise.
15. Chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng bài tập chỉnh hợp có vẻ đơn giản này được kỳ vọng sẽ tạo ra một số kết quả rất huyền bí.
To do this work correctly, we will start with the premise that “energy follows thought.” This is the first and most fundamental, as well as the most ancient, premise of the esotericist. The second is related to the first and will have a place in our considerations. It states that “the eye, opened by thought, directs the energy in motion.”
Để thực hiện công việc này đúng đắn, chúng ta sẽ bắt đầu với tiền đề rằng “năng lượng theo sau tư tưởng.” Đây là tiền đề đầu tiên, căn bản nhất, đồng thời cũng cổ xưa nhất của nhà bí truyền học. Tiền đề thứ hai liên quan đến tiền đề thứ nhất và sẽ có một vị trí trong những điều chúng ta xem xét. Tiền đề ấy phát biểu rằng “con mắt, được tư tưởng mở ra, định hướng năng lượng đang chuyển động.”
16. DK is discussing the meditation work in terms of two ancient aphorisms:
16. Chân sư DK đang bàn về công việc tham thiền dựa trên hai châm ngôn cổ:
a. “energy follows thought”
a. “năng lượng đi theo tư tưởng”
b. “the eye, opened by thought, directs the energy in motion”.
b. “con mắt, được tư tưởng khai mở, điều khiển năng lượng đang vận động”.
17. These aphorisms are related directly to the use of Formula One.
17. Những châm ngôn này liên quan trực tiếp đến việc sử dụng Công thức Một.
18. The eye which is opened by thought, relates to the gradual opening of the third eye through the right kind of occult meditation.
18. Con mắt được tư tưởng khai mở liên quan đến sự khai mở dần dần của con mắt thứ ba thông qua loại tham thiền huyền bí đúng đắn.
Disciples, during the early stages of their training, are apt to regard energy as a pool or a reservoir upon which they can learn to draw, thus appropriating a quota of that energy for their need, their service and their use.
Trong những giai đoạn đầu của quá trình huấn luyện, các đệ tử thường có khuynh hướng xem năng lượng như một hồ chứa hay một nguồn dự trữ mà họ có thể học cách rút lấy, qua đó thu nhận một phần năng lượng ấy để đáp ứng nhu cầu, phụng sự và sử dụng.
19. DK speaks of a limited conception of energy often held by disciples in the early stages of their training.
19. Chân sư DK nói về một quan niệm hạn hẹp về năng lượng mà các đệ tử thường có trong những giai đoạn đầu của việc huấn luyện.
But energy is fluid and in motion; we live in a veritable sea of moving forces, qualified in countless ways, conditioned by countless minds, misdirected oft, directed wisely sometimes, yet all of them perforce finding place in the mind content of the One in Whom we live and move and have our being, and outside Whose range of influence naught can be.
Nhưng năng lượng có tính linh động và luôn chuyển động; chúng ta sống trong một biển mãnh lực chuyển động thực sự, mang vô số phẩm tính, chịu ảnh hưởng của vô số thể trí, thường bị định hướng sai, đôi khi được định hướng sáng suốt, nhưng tất cả đều tất yếu có chỗ trong nội dung thể trí của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn, và ngoài phạm vi ảnh hưởng của Ngài không gì có thể tồn tại.
20. DK offers a more sophisticated view of energy—constantly in motion instead of retained in an accessible pool. The vision is one of extraordinary complexity, but this is what the inner sight of the Master reveals.
20. Chân sư DK đưa ra một cái nhìn tinh tế hơn về năng lượng—liên tục vận động thay vì được giữ trong một hồ chứa có thể tiếp cận. Cảnh tượng ấy vô cùng phức tạp, nhưng đó chính là điều thị giác nội tại của Chân sư mặc khải.
21. This “One in Whom we live and move and have our being” is presumably the One About Whom Naught May Be Said, for DK frequently speaks of energy streams which are cosmic and lie far outside the scope of the Logos of our solar system.
21. “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu” này có lẽ là Đấng Bất Khả Tư Nghị, vì Chân sư DK thường nói về những dòng năng lượng mang tính vũ trụ và nằm rất xa ngoài phạm vi của Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta.
22. We note that streams of energy are qualified and directed by minds. This is an important hint. Our thinking changes the nature of energy and conditions the nature and direction of its flow.
22. Chúng ta lưu ý rằng các thể trí phú cho những dòng năng lượng các phẩm tính và điều khiển chúng. Đây là một gợi ý quan trọng. Tư duy của chúng ta làm thay đổi bản chất của năng lượng, đồng thời định hình bản chất và hướng chảy của nó.
Disciples have, for aeons, been using the energies and forces found in the three worlds for personality ends and for the furthering of their major interests, whatever those may be.
Suốt nhiều đại kỳ, các đệ tử đã sử dụng những năng lượng và mãnh lực trong ba cõi giới cho các mục đích của phàm ngã và để thúc đẩy những mối quan tâm chính của mình, bất kể đó là gì.
23. This represents past procedure.
23. Điều này thể hiện cách thức thực hiện trong quá khứ.
They have [133] learnt somewhat to lay hold and use a measure of soul energy, thereby enlightening their way, improving their spiritual expression in the three worlds and serving a little.
Họ đã [133] phần nào học được cách nắm bắt và sử dụng một lượng năng lượng linh hồn, nhờ đó soi sáng đường đi, cải thiện sự biểu hiện tinh thần trong ba cõi giới và phụng sự được đôi chút.
24. DK is speaking of the average disciple and offering, between the lines, a slight critique regarding intensity of service.
24. Chân sư DK đang nói về người đệ tử trung bình và kín đáo đưa ra một lời phê bình nhẹ về mức độ phụng sự.
25. It appears that the use of soul energy has not resulted in powerful effects—at least in the realm of service.
25. Dường như việc sử dụng năng lượng linh hồn chưa tạo ra những tác động mạnh mẽ—ít nhất là trong lĩnh vực phụng sự.
They are also beginning to grasp the significance of intention and of purpose, whilst an inner programme is slowly conditioning their daily lives.
Họ cũng bắt đầu nắm bắt thâm nghĩa của ý định và mục đích, trong khi một chương trình bên trong đang dần định hình đời sống hằng ngày của họ.
26. Here DK speaks of a tentative approach to the first aspect of divinity, which He references through the words “intention” and “purpose”.
26. Ở đây, Chân sư DK nói về một sự tiếp cận còn dè dặt với phương diện thứ nhất của thiên tính, mà Ngài đề cập qua các từ “ý định” và “mục đích”.
27. If a disciple is living according to an inner programme, some degree of intention and purpose is to found influencing.
27. Nếu một đệ tử đang sống theo một chương trình nội tại, thì có thể nhận thấy ý định và mục đích đang có ảnh hưởng ở một mức độ nào đó.
There comes, however, a point—a point which it is now your duty and privilege to grasp—wherein another source of energy, of inspiration and of light can be made available to disciples and can be used for service. That is the energy of the Forces of Light, originating in the Ashram and emanating thence; you stand as yet upon the periphery of the Ashram but can avail yourselves of these energies.
Tuy nhiên, sẽ đến một thời điểm—một thời điểm mà giờ đây các bạn có bổn phận và đặc ân nắm bắt—khi một nguồn năng lượng, cảm hứng và ánh sáng khác có thể trở nên sẵn có cho các đệ tử và được sử dụng để phụng sự. Đó là năng lượng của các Mãnh Lực Ánh Sáng, bắt nguồn từ ashram và phát xạ từ đó; hiện nay các bạn vẫn đứng ở ngoại vi ashram nhưng có thể sử dụng những năng lượng này.
28. The energies thus far available have been relatively microcosmic. Now DK alerts His chelas to the possibility of utilizing the “energy of the Forces of Light originating in the Ashram and emanating thence”.
28. Những năng lượng có thể tiếp cận từ trước đến nay tương đối thuộc về tiểu thiên địa. Giờ đây, Chân sư DK lưu ý các đệ tử của Ngài về khả năng sử dụng “năng lượng của các Mãnh Lực Ánh Sáng bắt nguồn từ Ashram và phát xạ từ đó”.
29. These are group energies and altogether more powerful than anything the disciple has encountered.
29. Đây là những năng lượng nhóm và mạnh mẽ hơn hẳn bất cứ điều gì người đệ tử từng gặp.
30. DK is alerting His chelas to their right to access and use such energies; they are entitled to do so because they stand upon the periphery of the Ashram.
30. Chân sư DK đang lưu ý các đệ tử của Ngài về quyền tiếp cận và sử dụng những năng lượng ấy; họ có quyền làm như vậy vì họ đứng ở ngoại vi của Ashram.
The force of the Ashram must be “routed” through the soul (if such a word is permissible). The disciple has therefore to learn the esoteric significance of a most familiar symbol—that of the Triangle and the Square.
Mãnh lực của ashram phải được “dẫn truyền” qua linh hồn (nếu có thể dùng từ như vậy). Do đó, người đệ tử phải học thâm nghĩa huyền bí của một biểu tượng hết sức quen thuộc—Tam Giác và Hình Vuông.
31. If soul alignment is properly accomplished, Ashramic energies can be “routed” to the disciple in the three worlds via the soul. Thus, the fundamental importance of the alignment between soul, mind and brain.
31. Nếu sự chỉnh hợp với linh hồn được thực hiện đúng đắn, các năng lượng ashram có thể được “dẫn truyền” đến người đệ tử trong ba cõi giới qua linh hồn. Vì vậy, sự chỉnh hợp giữa linh hồn, thể trí và bộ não có tầm quan trọng nền tảng.
32. The “Triangle” is, of course, the symbol for the soul and for its inspiring sources, the spiritual triad and, even, conceivably, the Monad.
32. Dĩ nhiên, “Tam Giác” là biểu tượng của linh hồn và những nguồn truyền cảm hứng cho linh hồn: Tam Nguyên Tinh Thần và thậm chí, có thể hình dung là cả Chân thần.
33. The “Square” is the personality within the three worlds.
33. “Hình Vuông” là phàm ngã trong ba cõi giới.
34. But these are only the preliminary meanings.
34. Nhưng đây chỉ là những ý nghĩa sơ khởi.
This has hitherto signified to him the threefold soul and the fourfold personality, or if he is advanced enough in knowledge, the Spiritual Triad and the fourfold personality .
Cho đến nay, đối với y, biểu tượng này hàm ý linh hồn tam phân và phàm ngã tứ phân, hoặc nếu y đã đủ tiến bộ về tri thức, là Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã tứ phân .
35. DK recounts the past significance of these symbols.
35. Chân sư DK nhắc lại ý nghĩa trước đây của những biểu tượng này.
Now he must view it in another light and learn to know it as the triplicity of the Ashram, the soul and the disciple himself, with the square representing humanity, the fourth kingdom in nature.
Giờ đây, y phải nhìn biểu tượng ấy dưới một ánh sáng khác và học cách nhận biết nó là bộ ba gồm ashram, linh hồn và chính người đệ tử, còn hình vuông tượng trưng cho nhân loại, giới thứ tư trong tự nhiên.
36. A more advanced interpretation of these symbols is presented—the one with which the members of Hierarchy deal.
36. Một cách diễn giải tiến bộ hơn về những biểu tượng này được trình bày—cách diễn giải mà các thành viên của Thánh đoàn đề cập đến.
37. Let us ponder the Triangle as the “triplicity of the Ashram, the soul and the disciple himself” and the “square representing humanity”. Such an image raises the whole relationship to the planetary level.
37. Chúng ta hãy suy ngẫm về Tam Giác như “bộ ba gồm Ashram, linh hồn và chính người đệ tử” và “hình vuông tượng trưng cho nhân loại”. Một hình ảnh như thế nâng toàn bộ mối liên hệ lên cấp độ hành tinh.
This is consequently a great decentralising symbol, and around it your new meditation will be built.
Vì vậy, đây là một biểu tượng có sức mạnh lớn giúp phi tập trung vào bản thân, và bài thiền mới của các bạn sẽ được xây dựng quanh biểu tượng ấy.
38. Decentralization is, we realize, a great need for all disciples. Pondering the symbol in a manner strictly microcosmic will not serve to decentralize. It is the broadened perspective which reveals the disciple as but a tiny part of a much greater whole.
38. Chúng ta nhận ra rằng việc phi tập trung vào bản thân là một nhu cầu lớn đối với mọi đệ tử. Suy ngẫm về biểu tượng này chỉ trong phạm vi tiểu thiên địa sẽ không giúp phi tập trung vào bản thân. Chính góc nhìn mở rộng mới cho thấy người đệ tử chỉ là một phần nhỏ bé của một tổng thể lớn lao hơn nhiều.
This meditation, if carefully followed, can and will bring about basic changes in your lives. The symbol is capable of being arranged in several ways, and all of them have to be mastered factually by the disciple—theoretically, visually, practically, intuitionally and factually. Each of these words will convey a specific meaning, and rightly apprehended will bring about changes in the disciple’s life, in his service, and therefore in his effect within the Ashram.
Nếu tuân theo cẩn thận, bài thiền này có thể và sẽ tạo ra những thay đổi căn bản trong đời sống các bạn. Biểu tượng có thể được sắp xếp theo nhiều cách, và người đệ tử phải thực sự làm chủ tất cả những cách ấy—về lý thuyết, bằng thị giác, trong thực hành, bằng trực giác và trên thực tế. Mỗi từ này sẽ truyền đạt một ý nghĩa riêng, và khi được lĩnh hội đúng đắn, sẽ tạo ra những thay đổi trong đời sống người đệ tử, trong việc phụng sự của y, và do đó trong tác động của y bên trong ashram.
39. The meditation under discussion, Meditation IV, is one of the most powerful in DINA II. DK is spending much time to prepare for its fullest possible understanding. The purpose of the meditation, of course, is to bring about transformation— “basic changes in your lives”, as DK puts it.
39. Bài thiền đang được bàn đến, Bài thiền IV, là một trong những bài thiền mạnh mẽ nhất trong DINA II. Chân sư DK đang dành nhiều thời gian để chuẩn bị cho sự thấu hiểu bài thiền này một cách trọn vẹn nhất có thể. Dĩ nhiên, mục đích của bài thiền là tạo ra sự chuyển đổi—“những thay đổi căn bản trong đời sống của các bạn”, như cách Chân sư DK diễn đạt.
40. The several ways of viewing the Triangle and the Square are also to be considered:
40. Cũng cần xem xét những cách nhìn khác nhau về Tam Giác và Hình Vuông:
a. Theoretically
a. Về lý thuyết
b. Visually
b. Bằng thị giác
c. Practically
c. Qua thực hành
d. Intuitionally
d. Bằng trực giác
e. Factually
e. Trên thực tế
41. Each of these methods refers to understanding or apprehension from a different level of the human energy system.
41. Mỗi phương pháp này đề cập đến sự thấu hiểu hoặc lĩnh hội từ một cấp độ khác nhau của hệ thống năng lượng con người.
42. Let us apply ourselves to a consideration of these words as we ponder the remainder of what DK has to say in His preparatory note to this meditation.
42. Chúng ta hãy chuyên tâm xem xét những từ này khi suy ngẫm phần còn lại trong lời dẫn nhập của Chân sư DK cho bài thiền này.
[134]
[134]
Let me now, brother of mine, outline for you the line of thinking which should be pursued by you as you seek to penetrate into the true significance of this symbol which is the theme of your meditation. It constitutes a normal development from the work already done.
Giờ đây, huynh đệ của tôi, hãy để Tôi phác thảo cho các bạn hướng suy tư cần theo đuổi khi tìm cách thâm nhập thâm nghĩa đích thực của biểu tượng này, vốn là chủ đề tham thiền của các bạn. Đây là một bước phát triển bình thường từ công việc đã thực hiện.
43. We are launching into an analysis of Meditation IV. The first two or three meditations (depending upon how you count them, for Meditations I and II go together) have prepared the way.
43. Chúng ta đang bắt đầu phân tích Bài thiền IV. Hai hoặc ba bài thiền đầu tiên (tùy theo cách các bạn đếm, vì Bài thiền I và II đi cùng nhau) đã chuẩn bị con đường.
In the first two meditations given, you dealt with the centres of the etheric body, and were therefore dealing with the personality, the “city which stands foursquare.”
Trong hai bài thiền đầu tiên được trao, các bạn đã làm việc với những trung tâm của thể dĩ thái, và do đó làm việc với phàm ngã, “thành đô có bốn cạnh bằng nhau”.
44. This quaternary can be related to the four cosmic ethers and the “Four Gates of Shamballa”.
44. Bộ bốn này có thể được liên hệ với bốn dĩ thái vũ trụ và “Bốn Cổng của Shamballa”.
45. A “city” is an organized system of energies.
45. Một “thành phố” là một hệ thống năng lượng có tổ chức.
You were next enjoined to practise alignment, thereby arriving at the recognition, and in some cases the contact, with the spiritual triplicity, which is that which “hovers over the square and radiates the energy of light into this waiting field of active thought.”
Tiếp đó, các bạn được chỉ thị thực hành chỉnh hợp, qua đó đi đến sự nhận biết, và trong một số trường hợp là sự tiếp xúc, với bộ ba tinh thần, vốn là cái “lơ lửng bên trên hình vuông và tỏa năng lượng ánh sáng vào trường tư tưởng năng động đang chờ đợi này”.
46. This triplicity is the soul for some and the spiritual triad for those who are more advanced.
46. Đối với một số người, bộ ba này là linh hồn, còn đối với những người tiến bộ hơn thì đó là Tam Nguyên Tinh Thần.
47. The “waiting field of active thought” is, of course, the concrete mind. Let us remember that the concrete mind also has four dimensions and, so, may be called a “square”.
47. Dĩ nhiên, “trường tư tưởng đang hoạt động và chờ đợi” là trí cụ thể. Chúng ta hãy nhớ rằng trí cụ thể cũng có bốn chiều, và vì vậy có thể được gọi là một “hình vuông”.
You will note that the entire process is therefore kept in the realm of the non-material and that the physical brain is not, at this stage, at all involved.
Do đó, các bạn sẽ nhận thấy toàn bộ tiến trình luôn nằm trong lĩnh vực phi vật chất, và ở giai đoạn này, bộ não hồng trần hoàn toàn chưa tham gia.
48. Although the square is symbolically the personality, the entirety of the personality (all its vehicles) is not involved. The personality, however, has its center on the concrete mental plane, so from this perspective the personality is involved.
48. Mặc dù hình vuông tượng trưng cho phàm ngã, nhưng toàn bộ phàm ngã (tất cả các hiện thể của nó) không tham gia. Tuy nhiên, phàm ngã có trung tâm trên cõi hạ trí, nên từ góc nhìn này, phàm ngã có tham gia.
You, as you seek to meditate, are thinking on planes of mental perception; you are focussed there, and the brain is held throughout this period in a state of waiting and attentive quiescence.
Khi tìm cách tham thiền, các bạn đang suy tư trên các cõi nhận thức trí tuệ; các bạn tập trung ở đó, và trong suốt thời gian này, bộ não được giữ trong trạng thái tĩnh lặng, chờ đợi và chú tâm.
49. If interaction with the senses is not proceeding, then the brain can be considered quiescent. As well, some kinds of rather random, dissociated thinking (if we can call it thinking) are simply the result of brain activity and have no real connection with the conscious use of the mental faculty
49. Nếu sự tương tác với các giác quan không diễn ra, thì có thể xem bộ não là tĩnh lặng. Ngoài ra, một số kiểu tư duy khá ngẫu nhiên, rời rạc (nếu chúng ta có thể gọi đó là tư duy) chỉ đơn giản là kết quả của hoạt động bộ não và không có mối liên hệ thực sự nào với việc sử dụng năng lực trí tuệ một cách có ý thức
The disciple has—as oft I have told you—to master the process of carrying on a dual thinking process, wherein he is preserving a continuity of mental impression and a constant activity connected with daily living and service. This is registered in due course by the brain. This is of major importance and one of the objectives which should provide you with ample opportunity for effort during the coming year’s work.
Như Tôi đã thường nói với các bạn, người đệ tử phải làm chủ tiến trình tư duy kép, trong đó y duy trì liên tục ấn tượng trí tuệ cùng một hoạt động thường xuyên gắn với đời sống hằng ngày và việc phụng sự. Đến đúng lúc, bộ não sẽ ghi nhận điều này. Đây là điều hết sức quan trọng và là một trong những mục tiêu sẽ đem lại cho các bạn nhiều cơ hội nỗ lực trong công việc của năm tới.
50. DK is working on helping the chelas establish a kind of dual consciousness involving both mind and brain. The concentration at first is on the mind, with the brain receiving the necessary impressions in due course.
50. Chân sư DK đang giúp các đệ tử thiết lập một loại tâm thức kép có sự tham gia của cả thể trí lẫn bộ não. Ban đầu, sự tập trung hướng vào thể trí, còn bộ não tiếp nhận những ấn tượng cần thiết vào lúc thích hợp.
51. Daily living and service require the functioning of the brain but one can focus on the plane of mental perception and retain quiescence in the brain.
51. Đời sống hằng ngày và việc phụng sự đòi hỏi bộ não phải hoạt động, nhưng chúng ta có thể tập trung trên cõi tri giác trí tuệ mà vẫn duy trì sự tĩnh lặng trong bộ não.
This threefold spiritual reality (which is the “impressing agent”) is the goal of the presented meditation work.
Thực tại tinh thần tam phân này (vốn là “tác nhân tạo ấn tượng”) là mục tiêu của công việc tham thiền được trình bày.
52. Recognition of the spiritual triad as the “impressing agent” is the goal of the meditation work here presented.
52. Nhận biết Tam Nguyên Tinh Thần là “tác nhân tạo ấn tượng” chính là mục tiêu của công việc tham thiền được trình bày ở đây.
It is not in this case the soul, whose impression upon the mind is that of love, its manifestation and its place in the Plan of the Hierarchy.
Trong trường hợp này, đó không phải là linh hồn, với ấn tượng tác động lên thể trí là tình thương, sự biểu hiện của tình thương và vị trí của nó trong Thiên Cơ của Thánh đoàn.
53. Soul impression of this kind is ruled by Venus, a planet of love and mind.
53. Ấn tượng linh hồn thuộc loại này do Sao Kim cai quản, một hành tinh của tình thương và trí tuệ.
54. The soul impresses the mind (and, thence, brain) with:
54. Linh hồn tạo ấn tượng lên thể trí (và từ đó lên bộ não) bằng:
a. Love
a. Tình thương
b. The manifestation of love
b. Sự biểu hiện của tình thương
c. The place of love in the Plan of Hierarchy
c. Vị trí của tình thương trong Thiên Cơ của Thánh đoàn
The source of the impression to which you now seek to be sensitive is the Spiritual Triad, and the quality of the impression is the will, as it implements divine purpose.
Nguồn ấn tượng mà giờ đây các bạn tìm cách trở nên nhạy cảm là Tam Nguyên Tinh Thần, và phẩm tính của ấn tượng ấy là ý chí khi thực hiện thiên ý.
55. Although the spiritual triad is triple in nature and contains the qualities of mind, love and will, it is the will which is its primary quality, for the spiritual triad is to be considered as the personality of the Monad—the representative of the will aspect in the constitution of man.
55. Mặc dù Tam Nguyên Tinh Thần có bản chất tam phân và chứa đựng các phẩm tính trí tuệ, tình thương và ý chí, nhưng ý chí là phẩm tính chủ yếu của nó, vì Tam Nguyên Tinh Thần cần được xem là phàm ngã của Chân thần—đại diện cho phương diện ý chí trong cấu tạo của con người.
I am therefore indicating a far more advanced stage, and I do so for two reasons: One is that for years the effort of all of you has been towards the registering of soul contact and the expression of loving understanding; you are familiar with what the Hierarchy (of which my Ashram is a part) seeks to accomplish, and there is nothing to be gained by a constant reiteration of the familiar.
Vì vậy, Tôi đang chỉ ra một giai đoạn tiến bộ hơn nhiều, và Tôi làm vậy vì hai lý do: Thứ nhất, trong nhiều năm, mọi nỗ lực của các bạn đều hướng đến việc ghi nhận sự tiếp xúc với linh hồn và biểu lộ sự thấu hiểu đầy tình thương; các bạn đã quen thuộc với những gì Thánh đoàn (mà ashram của Tôi là một phần) tìm cách hoàn thành, và việc liên tục nhắc lại điều quen thuộc sẽ không mang lại lợi ích gì.
56. DK is indicating the need for more advanced work because His chelas are already well familiar (at least theoretically) with the nature of soul impression. Such impression promotes “loving understanding”.
56. Chân sư DK đang chỉ ra nhu cầu về công việc tiến bộ hơn vì các đệ tử của Ngài đã rất quen thuộc (ít nhất về mặt lý thuyết) với bản chất của ấn tượng linh hồn. Ấn tượng như thế thúc đẩy “sự thấu hiểu đầy tình thương”.
I am, secondly, [135] outlining procedures, meditations and objectives which will be of use to those who come after you and who will be the hierarchy of workers at the close of this century and during the first quarter of the coming century.
Thứ hai, Tôi [135] đang phác thảo những phương thức, bài thiền và mục tiêu sẽ hữu ích cho những người đến sau các bạn, những người sẽ tạo thành hàng ngũ có thứ bậc của những người hoạt động vào cuối thế kỷ này và trong một phần tư đầu của thế kỷ tới.
57. DK is telling us that the work He is outlining in this instruction is meant for such as we are—those coming into the fullness of their service at the end of the twentieth century and the beginning of the twenty-first.
57. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng công việc Ngài phác thảo trong huấn thị này dành cho những người như chúng ta—những người bước vào giai đoạn phụng sự trọn vẹn vào cuối thế kỷ hai mươi và đầu thế kỷ hai mươi mốt.
58. We can see that, in the writing of this material, the Master is fulfilling at least two purposes simultaneously.
58. Chúng ta có thể thấy rằng khi viết tài liệu này, Chân sư đang đồng thời thực hiện ít nhất hai mục đích.
I stated that one significance of this symbol is that it stands for the triplicity of
Tôi đã nói rằng một ý nghĩa của biểu tượng này là nó tượng trưng cho bộ ba gồm
()1. The Ashram,
1. Ashram,
()2. The soul on its own plane,
2. Linh hồn trên cõi riêng của nó,
()3. The disciple upon the physical plane,
3. Người đệ tử trên cõi hồng trần,
59. A brief review. The disciple is considered to include the physical man. He is not considered only as a psychological entity.
59. Ôn lại đôi nét. Đệ tử được xem là bao gồm cả con người hồng trần. Y không được xem chỉ như một thực thể tâm lý.
whilst the square represents humanity; that this is frequently spoken of as the “city which stands foursquare,” and is familiarly referred to in modern literature and discussions as the “city of man.”
trong khi hình vuông tượng trưng cho nhân loại; nhân loại thường được nói đến như “thành đô có bốn cạnh bằng nhau”, và trong văn liệu cùng những cuộc thảo luận hiện đại, thường được gọi là “thành đô của con người”.
60. The “city which stands foursquare” and the “city of man” are equivalent terms. What, then, is the meaning of the “Holy City”?
60. “Thành phố vuông vức” và “thành phố của con người” là những thuật ngữ tương đương. Vậy “Thánh Thành” có ý nghĩa gì?
In considering the higher point of the triangle, which is the Ashram, I would remind you that radiation from Shamballa enters the triangle at that point and that, through the Ashram, will, purpose and strength can pour.
Khi xem xét đỉnh cao nhất của tam giác, tức ashram, Tôi muốn nhắc các bạn rằng bức xạ từ Shamballa đi vào tam giác tại điểm ấy, và qua ashram, ý chí, thiên ý cùng sức mạnh có thể tuôn đổ.