← Commentary DINA II – Teaching on meditation

MEDITATION PART VI (141-148) – THAM THIỀN PHẦN VI (141-148)

Trích nội dung chương

61. The Tibetan helps us envision the Triangle by placing the Ashram at its highest point. Presumably, then, the soul would be on the right and the disciple on the left. 61. Chân sư Tây Tạng giúp chúng ta hình dung Tam Giác bằng cách đặt ashram ở đỉnh cao nhất của nó. Như vậy, có lẽ linh hồn sẽ ở bên phải và đệ tử ở bên trái.


61. The Tibetan helps us envision the Triangle by placing the Ashram at its highest point. Presumably, then, the soul would be on the right and the disciple on the left.

61. Chân sư Tây Tạng giúp chúng ta hình dung Tam Giác bằng cách đặt ashram ở đỉnh cao nhất của nó. Như vậy, có lẽ linh hồn sẽ ở bên phải và đệ tử ở bên trái.

62. DK is informing us that the Ashram can be considered a conduit not only for the energies of Hierarchy but for the “radiation of Shamballa”. If we ever wondered how we would place ourselves in alignment with Shamballic energies, one answer is here given—by right alignment with the Ashram.

62. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng có thể xem ashram là một kênh dẫn không chỉ cho các năng lượng của Thánh đoàn mà còn cho “bức xạ của Shamballa”. Nếu chúng ta từng tự hỏi làm thế nào để chỉnh hợp với các năng lượng Shamballa, thì ở đây có một câu trả lời—bằng sự chỉnh hợp đúng đắn với ashram.

This is a relatively new achievement within the Ashrams of the Masters. In the major group Ashram (which is the Hierarchy itself) this reaction to impression from Shamballa is arrived at as the energy pours in, via the two Great Lords, the Manu and the Christ. It is also registered by Their senior disciples, the Chohans and initiates of the sixth initiation, such as the Masters Morya and Koot Hoomi. Lately the Master R. has taken the position of Mahachohan, and that achievement has carried the entering force down into the ranks of those Masters Who have taken the fifth initiation thus enabling Them to step down this Shamballa force to Their individual Ashrams. This happening has produced a tremendous stimulation with all the attendant opportunities, manifestations, and dangers. Masters such as myself have had to learn to handle this great potency, and at the same time to make as much of it as we can (safely and wisely) available to our senior disciples.

Đây là một thành tựu tương đối mới trong các ashram của các Chân sư. Trong ashram nhóm chủ yếu (chính là Thánh đoàn), sự đáp ứng này với ấn tượng từ Shamballa hình thành khi năng lượng tuôn vào qua hai Đấng Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Manu và Đức Christ. Các đệ tử cao cấp của Các Ngài, các Đấng Chohan và những điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu, như Chân sư Morya và Chân sư Koot Hoomi, cũng ghi nhận năng lượng ấy. Gần đây, Chân sư R. đã đảm nhận cương vị Mahachohan, và thành tựu ấy đã đưa mãnh lực đang tuôn vào xuống hàng ngũ các Chân sư đã trải qua lần điểm đạo thứ năm, nhờ đó giúp Các Ngài giảm cường độ mãnh lực Shamballa này để đưa vào các ashram riêng của mình. Sự kiện này đã tạo ra một sự kích thích mãnh liệt cùng tất cả những cơ hội, biểu hiện và nguy hiểm đi kèm. Những Chân sư như Tôi đã phải học cách vận dụng quyền năng lớn lao này, đồng thời đưa nó đến với các đệ tử cao cấp của mình trong mức độ tối đa có thể (một cách an toàn và sáng suốt).

63. We are told of great hierarchical changes in relation to the energy of Shamballa.

63. Chúng ta được cho biết về những thay đổi lớn trong Thánh đoàn liên quan đến năng lượng Shamballa.

64. Usually, in relation to hierarchical circles, the energy of Shamballa has poured only through the Manu and the Christ, but lately (when exactly?—1925 or thereabouts?) Master R., now the Mahachohan, has begun to receive the Shamballa energy in a new way. This has meant that the Shamballa energy is now working its way down, through lesser initiates and disciples. Members of the various Ashrams are now in an enhanced position to receive it.

64. Thông thường, trong các giới của Thánh đoàn, năng lượng Shamballa chỉ tuôn đổ qua Đức Manu và Đức Christ, nhưng gần đây (chính xác là khi nào?—năm 1925 hay vào khoảng đó?), Chân sư R., hiện là Đức Mahachohan, đã bắt đầu tiếp nhận năng lượng Shamballa theo một cách mới. Điều này có nghĩa là năng lượng Shamballa hiện đang dần đi xuống qua các điểm đạo đồ và đệ tử ở cấp thấp hơn. Giờ đây, các thành viên thuộc những ashram khác nhau có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp nhận năng lượng ấy.

65. The line of descent from three to five is apparent in the description above.

65. Đường đi xuống từ ba đến năm thể hiện rõ trong phần mô tả trên.

66. Master DK suggests that it is a difficult energy to handle and that even He has had to learn how to do so.

66. Chân sư DK cho biết đây là một năng lượng khó vận dụng và ngay cả Ngài cũng đã phải học cách làm điều đó.

67. All these developments are definitely part of the Externalization process.

67. Tất cả những diễn biến này chắc chắn đều là một phần của tiến trình Ngoại Hiện.

It might be said symbolically that “the point of the triangle is based in the courts of Heaven (Shamballa) and from that point two streams of power pour forth into the [136] realm of soul and into the heart of the disciple. Thus is the Triad formed; then are the energies related unto the world of men; thus can the will of God appear, and thus can the Great Lord Who guards the Council Chamber of this sphere of solar Life carry His purpose to the holy groups (the Ashrams. A.A.B.), and thence into the minds of men, and this because their hearts are safeguarded by the fire of love.” Ponder upon this ancient writing: It refers to the cycle immediately confronting us, of which the work I am at this time seeking to do is but a tiny living part.

Có thể nói một cách biểu tượng rằng “đỉnh tam giác đặt nền nơi các triều đình Thiên Giới (Shamballa), và từ điểm ấy, hai dòng quyền năng tuôn vào [136] cõi linh hồn và vào trái tim người đệ tử. Như vậy Tam nguyên tinh thần hình thành; rồi các năng lượng liên kết với thế giới loài người; nhờ đó ý chí của Thượng đế có thể biểu hiện, và nhờ đó Đấng Chúa Tể Vĩ Đại, Đấng gìn giữ Phòng Hội Đồng của khối cầu Sự Sống Thái Dương này, có thể truyền thiên ý của Ngài đến các nhóm thiêng liêng (các ashram. A.A.B.), rồi từ đó vào thể trí con người, và điều này có được là vì trái tim họ được lửa tình thương bảo vệ.” Hãy suy ngẫm về đoạn văn cổ này: Nó đề cập đến chu kỳ ngay trước mắt chúng ta, mà công việc Tôi đang tìm cách thực hiện vào lúc này chỉ là một phần sống động nhỏ bé trong đó.

68. DK offers a quotation from the Old Commentary. It is potent and occult.

68. Chân sư DK đưa ra một đoạn trích từ Cổ Luận. Đoạn này đầy uy lực và mang tính huyền bí.

69. The upper point of the Triangle represents, therefore, both the Ashram and the Shamballic influence which now pours through the Ashram.

69. Vì vậy, đỉnh trên của Tam Giác biểu thị cả ashram lẫn ảnh hưởng Shamballa hiện đang tuôn đổ qua ashram.

70. The two streams of power from Shamballa (and through the Ashram) pour into the two other points of the Triangle—representing the soul and the disciple (especially the “heart of the disciple”).

70. Hai dòng quyền năng từ Shamballa (và qua ashram) tuôn vào hai đỉnh còn lại của Tam Giác—biểu thị linh hồn và đệ tử (đặc biệt là “trái tim của đệ tử”).

71. The whole process relates to the manifestation of the Will of God on Earth. Via this arrangement Sanat Kumara carries His purpose to the Ashrams and from thence into the hearts and minds of men. We note that this is only possible if the “hearts are safeguarded fry the fire of love”. Love is the great safeguard.

71. Toàn bộ tiến trình liên quan đến sự biểu hiện của Ý Chí của Thượng Đế trên Trái Đất. Qua sự sắp xếp này, Đức Sanat Kumara truyền mục đích của Ngài đến các ashram, rồi từ đó vào trái tim và thể trí của con người. Chúng ta lưu ý rằng điều này chỉ có thể xảy ra nếu “trái tim được ngọn lửa tình thương bảo vệ”. Tình thương là sự bảo vệ lớn lao.

72. We note that Shamballa (or the Earth) is referred to as a “sphere of solar Life”. Indeed, Sanat Kumara is a solar being and a direct disciple of the Solar Logos. The process indicated by the Triangle and the Square is thus a way for solar influence to reach the “city that stands foursquare” (humanity considered in its lunar aspect).

72. Chúng ta lưu ý rằng Shamballa (hay Trái Đất) được gọi là một “khối cầu thuộc Sự Sống Thái Dương”. Quả thực, Đức Sanat Kumara là một Đấng thuộc thái dương và là đệ tử trực tiếp của Thái dương Thượng đế. Do đó, tiến trình mà Tam Giác và Hình Vuông biểu thị là một con đường để ảnh hưởng thái dương đến được “thành phố vuông vức” (nhân loại xét theo phương diện thái âm).

73. Master DK, in all humility, refers to the work He is trying to do “as but a tiny living part” of the process to which the Old Commentary selection refers.

73. Với tất cả sự khiêm nhường, Chân sư DK nói đến công việc Ngài đang cố gắng thực hiện như “chỉ là một phần sống động nhỏ bé” của tiến trình mà đoạn trích Cổ Luận đề cập.

Therefore, as you prepare for the meditation process which you will undertake during this coming year, start by a consideration of the Ashram of the Hierarchy itself, of its relation to Shamballa, of its constitution, formed as it is of many Ashrams.

Vì vậy, khi chuẩn bị cho tiến trình tham thiền mà các bạn sẽ thực hiện trong năm tới, hãy bắt đầu bằng việc xem xét ashram của chính Thánh đoàn, mối liên hệ của ashram ấy với Shamballa, và cấu trúc của nó, vốn gồm nhiều ashram.

74. To prepare for Meditation IV broad considerations are required; decentralizing in their effect, they take us far beyond preoccupation with the little self.

74. Để chuẩn bị cho Bài Thiền IV, cần có những suy xét rộng lớn; với tác dụng giúp chúng ta phi tập trung vào bản thân, những suy xét ấy đưa chúng ta vượt xa sự bận tâm về bản ngã nhỏ bé.

75. We are to consider:

75. Chúng ta cần xem xét:

a. The Ashram of Hierarchy itself

a. Ashram của chính Thánh đoàn

b. The relation of Hierarchy to Shamballa

b. Mối quan hệ của Thánh đoàn với Shamballa

c. The constitution of Hierarchy formed of many Ashrams

c. Cơ cấu của Thánh đoàn do nhiều ashram hợp thành

Some of these are working under the Chohans; others are working under the Masters, and some are embryonic as yet, being gathered slowly together by Adepts of the fourth initiation.

Một số ashram hoạt động dưới sự chỉ đạo của các Đấng Chohan; những ashram khác hoạt động dưới sự chỉ đạo của các Chân sư, và một số vẫn còn ở dạng phôi thai, đang dần được các chân sư đã trải qua lần điểm đạo thứ tư tập hợp lại.

76. The term “Adept” appears to have at least two significances: it usually refers to an initiate of the fifth degree but can, as in this case, refer to the initiate of the fourth degree.

76. Thuật ngữ “Chân sư” dường như có ít nhất hai ý nghĩa: thông thường, thuật ngữ này chỉ một điểm đạo đồ bậc năm, nhưng cũng có thể chỉ điểm đạo đồ bậc bốn, như trong trường hợp này.

77. Three classes of Ashrams are mentioned: those supervised by Chohans, by Masters and by Adepts of the fourth degree. The Ashrams of the Chohans are naturally inclusive of these other Ashrams.

77. Ba loại ashram được đề cập: những ashram do các Chohan, các Chân sư và các Chân sư bậc bốn giám sát. Các ashram của các Chohan đương nhiên bao gồm những ashram khác này.

Will you endeavour to realise the factual nature of this great, living, spiritual organism?

Các bạn hãy cố gắng nhận ra tính thực hữu của cơ thể tinh thần sống động vĩ đại này.

78. The Hierarchy and its Ashrams are to be seen as a “great, living, spiritual organism”. This is to become a vivid image in our minds and, increasingly, a reality.

78. Cần nhìn nhận Thánh đoàn và các ashram của Thánh đoàn như một “cơ thể tinh thần vĩ đại, sống động”. Điều này cần trở thành một hình ảnh sống động trong thể trí chúng ta và ngày càng trở thành một thực tại.

It constantly “substands” or underlies the world organisation. See it as a growing, vital reality, of such life and potency that it can break through or break up all limiting outer organisations and, by the very force of its interior life, eventually externalise itself.

Nó luôn “nâng đỡ từ bên dưới” hay làm nền tảng cho tổ chức thế giới. Hãy nhìn nó như một thực tại đầy sinh lực đang tăng trưởng, mang sự sống và quyền năng lớn lao đến mức có thể xuyên phá hoặc phá vỡ mọi tổ chức bên ngoài gây giới hạn và, bằng chính mãnh lực của sự sống bên trong, cuối cùng tự ngoại hiện

79. The Ashram is the primary organization substanding all organizations which seek to represent it and substanding the world organization as a whole.

79. Ashram là tổ chức nền tảng nâng đỡ mọi tổ chức tìm cách đại diện cho nó và làm nền tảng cho toàn bộ tổ chức thế giới.

80. A method of ashramic externalization is here given; externalization will occur because of the “very force of its [the Ashram’s] interior life”.

80. Ở đây, một phương pháp ngoại hiện của ashram được đưa ra; sự ngoại hiện sẽ xảy ra nhờ “chính mãnh lực của sự sống bên trong [ashram]”.

81. This is another way of saying that the soul of humanity will break through into manifestation and will overpower and reorganize the personality of humanity.

81. Đây là một cách khác để nói rằng linh hồn nhân loại sẽ xuyên phá để đi vào biểu hiện, sẽ chế ngự và tổ chức lại phàm ngã nhân loại.

This coming externalisation of the groups which constitute the Ashrams of the Masters (not yet of the Chohans, because they are still basically too potent) will be a gradual process, but it will in time restore the Mysteries, bring the first two initiations into a relative prominence as integral parts of the coming world religion, familiarise the whole of mankind with the fact of the subjective world, and finally bring the most developed of the sons of men into a faint glimmer of understanding of the essential Reality underlying all phenomena, and give some grasp of the purpose of Shamballa and the will of the Lord of the World.

Sự ngoại hiện sắp tới của các nhóm tạo thành những ashram của các Chân sư (chưa phải của các Đấng Chohan, vì về căn bản, Các Ngài vẫn còn quá hùng mạnh) sẽ là một tiến trình dần dần, nhưng theo thời gian sẽ khôi phục các Bí Pháp, đưa hai lần điểm đạo đầu tiên đến một vị trí tương đối nổi bật như những thành phần không thể tách rời của tôn giáo thế giới sắp tới, giúp toàn thể nhân loại làm quen với sự thật về thế giới chủ quan, và cuối cùng đưa những người phát triển nhất trong số những người con của nhân loại đến một tia thấu hiểu le lói về Thực Tại cốt yếu làm nền tảng cho mọi hiện tượng, đồng thời giúp họ phần nào nắm bắt thiên ý của Shamballa và ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới.

82. A powerful sentence is offered describing the coming externalization of the groups which constitute the Ashrams of the Masters.

82. Một câu đầy uy lực được đưa ra để mô tả sự ngoại hiện sắp tới của các nhóm hợp thành những ashram của các Chân sư.

83. It would be well for us to bear in mind that the Ashrams of the Chohans are not yet externalizing because they are too powerful.

83. Chúng ta nên ghi nhớ rằng các ashram của các Chohan chưa ngoại hiện vì quá mạnh.

84. This externalization will have a number of effects which we can tabulate for clarity:

84. Sự ngoại hiện này sẽ có một số tác động mà chúng ta có thể liệt kê cho rõ:

a. The externalization will restore the Mysteries

a. Sự ngoại hiện sẽ phục hồi các Bí Pháp

b. The externalization will bring the first two initiations into a relative prominence as integral parts of the coming world religion

b. Sự ngoại hiện sẽ đưa hai lần điểm đạo đầu tiên lên một vị trí tương đối nổi bật như những phần không thể tách rời của tôn giáo thế giới tương lai

c. The externalization will familiarize the whole of mankind with the fact of the subjective world.

c. Sự ngoại hiện sẽ giúp toàn thể nhân loại quen với thực tại của thế giới chủ quan.

d. The externalization will bring the most developed of the sons of men into a faint glimmer of understanding of the essential Reality underlying all phenomena

d. Sự ngoại hiện sẽ đem lại cho những người con phát triển nhất của nhân loại một tia thấu hiểu mờ nhạt về Thực Tại cốt yếu nằm bên dưới mọi hiện tượng

e. The externalization will give some grasp of the purpose of Shamballa and the will of the Lord of the World.

e. Sự ngoại hiện sẽ đem lại một phần nhận thức về mục đích của Shamballa và ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới.

Humanity has now reached a point of development where there is a definite grasp of the Plan of the Hierarchy—call it brotherhood, sharing, internationalism, unity or what you will. This is a growing and factual apprehension and is a general recognition [137] by the thinkers and esotericists of the world, by the religious people of enlightenment, by broad minded statesmen, and even today by the man in the street; divine purpose, however, implemented or engineered by the divine will, eludes as yet the most advanced.

Giờ đây, nhân loại đã đạt đến một điểm phát triển mà tại đó có sự nắm bắt rõ rệt về Thiên Cơ của Thánh đoàn—hãy gọi đó là tình huynh đệ, sự chia sẻ, chủ nghĩa quốc tế, sự hợp nhất hay bất cứ tên gọi nào các bạn muốn. Đây là một sự lĩnh hội thực sự đang tăng trưởng, một sự thừa nhận phổ biến [137] trong giới tư tưởng gia và các nhà bí truyền học trên thế giới, những người có tôn giáo đã giác ngộ, các chính khách có tư tưởng rộng mở, và ngày nay ngay cả người dân bình thường; tuy nhiên, thiên ý, do ý chí thiêng liêng thực hiện hoặc triển khai, vẫn vượt ngoài sự nắm bắt của những người tiến bộ nhất.

85. We are told that humanity is coming into some grasp of the Plan.

85. Chúng ta được cho biết rằng nhân loại đang phần nào nắm bắt được Thiên Cơ.

86. Such terms as the following indicate this grasp:

86. Những thuật ngữ sau đây cho thấy sự nắm bắt ấy:

a. brotherhood

a. tình huynh đệ

b. sharing

b. sự chia sẻ

c. internationalism

c. tinh thần quốc tế

d. unity

d. sự hợp nhất

87. While the Plan is capable of being grasped in various degrees by advanced human beings of many kinds, divine purpose cannot be grasped. It is held close within the confines of Shamballa. Essentially it is: “The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara. (R&I 241)

87. Trong khi những con người tiến bộ thuộc nhiều loại khác nhau có thể nắm bắt Thiên Cơ ở những mức độ khác nhau, thì Thiên Ý vẫn chưa thể nắm bắt được. Thiên Ý được giữ kín trong phạm vi Shamballa. Về bản chất, đó là: “Mục đích chưa được biết đến, chưa được nhìn thấy và chưa được nghe đến của Đức Sanat Kumara. (R&I 241)

The work of the next few centuries will bring about changes in this respect, and these changes will be brought about by the work done in the Ashrams of the Masters, guided by the Ashrams of the Chohans, welded together in the great Ashram of the Hierarchy itself, and moving ever into closer relation with the great Council Chamber of Sanat Kumara, the Lord of the World, in Shamballa.

Công việc trong vài thế kỷ tới sẽ tạo ra những thay đổi về mặt này, và những thay đổi ấy sẽ đến từ công việc trong các ashram của các Chân sư, dưới sự hướng dẫn của các ashram của các Đấng Chohan, hợp nhất trong ashram vĩ đại của chính Thánh đoàn, và ngày càng tiến đến mối liên hệ mật thiết hơn với Phòng Hội Đồng vĩ đại của Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới, tại Shamballa.

88. DK seems to be suggesting that something of the Divine Purpose will come to be known by those of sufficient advancement due to the work of the externalizing Ashrams guided and inspired by the Ashrams of the Chohans and by the Hierarchy as a whole, itself moving into ever closer relationship with Shamballa.

88. Dường như Chân sư DK muốn nói rằng những người đã tiến bộ đủ mức sẽ biết được phần nào Thiên Ý nhờ công việc của các ashram đang ngoại hiện, dưới sự hướng dẫn và truyền cảm hứng của các ashram của các Chohan và của toàn thể Thánh đoàn, trong khi chính Thánh đoàn cũng ngày càng tiến vào mối quan hệ mật thiết hơn với Shamballa.

89. Thus, the Plan is now coming into view and some aspects of the Divine Purpose will come into view later, as Shamballa, through various mediating extensions, comes into closer rapport with humanity.

89. Như vậy, hiện nay Thiên Cơ đang dần hiện rõ, và một số phương diện của Thiên Ý sẽ hiện rõ về sau, khi Shamballa, qua các phần mở rộng làm trung gian khác nhau, thiết lập sự giao hòa mật thiết hơn với nhân loại.

This has to be brought about on Earth by disciples, acting under instructions such as I now give you and by their prompt collaboration with their Masters. The doing of this will invoke the creative imagination of the disciple, and this, in its turn, will be conditioned and controlled by the illumined mind.

Trên Trái Đất, các đệ tử phải thực hiện điều này bằng cách hành động theo những huấn thị như Tôi đang trao cho các bạn và hợp tác mau mắn với các Chân sư của mình. Việc thực hiện điều này sẽ khơi dậy sự tưởng tượng sáng tạo của người đệ tử, rồi đến lượt nó, sự tưởng tượng ấy sẽ chịu ảnh hưởng và sự kiểm soát của thể trí được soi sáng.

90. The responsibility of the disciples in this chain of externalization is given. It is the duty of the disciples to promptly collaborate with their Masters who are inspired by the still higher centers mentioned.

90. Trách nhiệm của các đệ tử trong chuỗi ngoại hiện này được nêu rõ. Bổn phận của các đệ tử là kịp thời cộng tác với các Chân sư của mình, những Đấng nhận cảm hứng từ các trung tâm còn cao hơn đã được đề cập.

91. If this happens the creative imagination will be stimulated and through that imagination something of Shamballa and its effects can be conceived. This is dealt with somewhat in R&I 124:

91. Nếu điều này xảy ra, sự tưởng tượng sáng tạo sẽ được kích thích, và qua sự tưởng tượng ấy, có thể hình dung phần nào về Shamballa cùng các tác động của Shamballa. Điều này được bàn đến phần nào trong R&I 124:

One thing only will I add to the above and to the elucidation of the significance of Rule V. The clue to all this esoteric work demanded by Shamballa is to be found in the development of the Art of Visualisation. Through visualisation, three expressions of the human consciousness will become possible:

Tôi chỉ bổ sung một điều vào phần trên và vào phần làm sáng tỏ thâm nghĩa của Quy Luật V. Có thể tìm thấy manh mối của toàn bộ công việc nội môn mà Shamballa đòi hỏi trong sự phát triển Nghệ Thuật Hình Dung. Qua sự hình dung, ba biểu hiện của tâm thức con người sẽ trở nên khả thi:

1. The antahkarana can be built and the shining of the Triad be definitely seen. Such will be the new vision—an outcome of the development of the sense of vision.

1. Có thể xây dựng antahkarana và nhìn thấy rõ ánh tỏa rạng của Tam nguyên tinh thần. Đó sẽ là linh thị mới—kết quả của sự phát triển khả năng linh thị.

2. Groups, large wholes and major syntheses will also be visualised, and this will lead to a definite expansion of consciousness. Thus the sense of synthesis will be unfolded.

2. Các nhóm, những tổng thể rộng lớn và những sự tổng hợp chủ yếu cũng sẽ được hình dung, và điều này sẽ dẫn đến một sự mở rộng tâm thức rõ rệt. Như vậy, ý thức tổng hợp sẽ khai mở.

3. All creative art will be fostered by this training, and the new art of the future in all departments of creativity will be rapidly developed as the training proceeds. The unfoldment of the sense of vision and of the sense of synthesis, through visualisation, will lead to a sense of livingness in form. (R&I 124)

3. Sự rèn luyện này sẽ thúc đẩy mọi nghệ thuật sáng tạo, và nghệ thuật mới của tương lai trong mọi lĩnh vực sáng tạo sẽ phát triển nhanh chóng khi sự rèn luyện tiếp diễn. Sự khai mở khả năng linh thị và ý thức tổng hợp, thông qua sự hình dung, sẽ dẫn đến cảm thức về sự sống động trong hình tướng. (R&I 124)

A second stage comes when the disciple, having considered the Ashram as outlined above, and having thereby imaginatively “fixed” the fact of Shamballa in his consciousness, turns his thoughts to the Hierarchy or to the soul.

Giai đoạn thứ hai đến khi người đệ tử, sau khi xem xét ashram như đã phác thảo ở trên và nhờ đó dùng sự tưởng tượng để “khắc sâu” sự thật về Shamballa vào tâm thức mình, hướng tư tưởng đến Thánh đoàn hoặc đến linh hồn.

92. DK is proceeding to outline the process of Meditation IV. Our first consideration has been the nature of Shamballa and the Great Ashram as the Ashram of Shamballa. Now attention is to be turned to the Hierarchy and the soul.

92. Chân sư DK đang tiếp tục phác họa tiến trình của Bài Thiền IV. Điều đầu tiên chúng ta xem xét là bản chất của Shamballa và của ashram vĩ đại với tư cách là ashram của Shamballa. Giờ đây, cần hướng sự chú ý đến Thánh đoàn và linh hồn.

Remember always that the Hierarchy is simply the world of souls, that it is consciously aware of the Plan, sensitive to the purpose, and creatively and constantly impressing humanity with the aim in view of expanding the human consciousness. Of this your soul—in its pure nature—is a part.

Hãy luôn nhớ rằng Thánh đoàn đơn giản là thế giới các linh hồn, rằng Thánh đoàn nhận biết Thiên Cơ một cách có ý thức, nhạy cảm với thiên ý, và không ngừng tác động lên nhân loại một cách sáng tạo nhằm mở rộng tâm thức con người. Linh hồn các bạn—trong bản chất thuần khiết của nó—là một phần của thế giới ấy.

93. A simple definition of Hierarchy as the “world of souls” is given, with the reminder that each of us as a soul is a member of Hierarchy. Of course, that which is a member is the “soul—in its pure nature…”

93. Một định nghĩa đơn giản về Thánh đoàn như “thế giới của các linh hồn” được đưa ra, cùng lời nhắc rằng mỗi chúng ta, với tư cách một linh hồn, đều là thành viên của Thánh đoàn. Dĩ nhiên, thành viên ấy là “linh hồn—trong bản chất thuần khiết của nó…”

94. What does Hierarchy do:

94. Thánh đoàn làm gì:

a. It is consciously aware of the Plan

a. Thánh đoàn nhận biết một cách hữu thức về Thiên Cơ

b. It is sensitive to purpose

b. Thánh đoàn nhạy cảm với mục đích

c. It is creatively and constantly impressing humanity

c. Thánh đoàn liên tục truyền ấn tượng đến nhân loại một cách sáng tạo

d. Its aim is to expand human consciousness

d. Mục tiêu của Thánh đoàn là mở rộng tâm thức con người

95. This catalogue of activities informs us of the manner in which we can be expected to work as we come closer to approximating Hierarchy in our consciousness.

95. Danh mục hoạt động này cho chúng ta biết cách thức làm việc mà chúng ta cần thực hiện khi tâm thức của mình ngày càng tiến gần hơn đến tâm thức của Thánh đoàn.

You will therefore think of the Hierarchy; you will attempt to vision its work, and you will endeavour to relate yourself to my Ashram by an act of faith and of will which is, in this case, the sublimation of the personal self-will; you will also take your position as a conscious, integral part of my Ashram, and consequently of the Hierarchy. Such is the duty of all disciples. You have had much instruction as to the Ashram and I need not further enlarge.

Vì vậy, các bạn sẽ nghĩ đến Thánh đoàn; các bạn sẽ cố gắng hình dung công việc của Thánh đoàn, và nỗ lực liên kết mình với ashram của Tôi bằng một hành động của đức tin và ý chí, mà trong trường hợp này là sự thăng hoa của ý chí riêng thuộc cá nhân; các bạn cũng sẽ xác lập vị trí của mình như một phần hữu thức, không thể tách rời của ashram Tôi, và do đó của Thánh đoàn. Đó là bổn phận của mọi đệ tử. Các bạn đã nhận được nhiều huấn thị về ashram, nên Tôi không cần nói thêm.

96. Five acts are required at this stage of the meditation:

96. Ở giai đoạn tham thiền này, cần thực hiện năm hành động:

a. Thinking of the Hierarchy

a. Nghĩ về Thánh đoàn

b. Visioning the work of the Hierarchy

b. Hình dung công việc của Thánh đoàn

c. Relating to Master DK’s Ashram by an act of faith and will

c. Liên kết với ashram của Chân sư DK bằng một hành động của đức tin và ý chí

d. Taking a position as an integral part of DK’s Ashram

d. Xác lập vị trí như một phần không thể tách rời của ashram Chân sư DK

e. Thus taking a position as an integral part of the Hierarchy

e. Qua đó, xác lập vị trí như một phần không thể tách rời của Thánh đoàn

97. Note the method of relating oneself to the Ashram of Master DK; it involves both faith and will (if not direct knowledge).

97. Hãy lưu ý phương pháp liên kết với ashram của Chân sư DK; phương pháp ấy đòi hỏi cả đức tin lẫn ý chí (nếu chưa có hiểu biết trực tiếp).

98. It is important to understand the nature of the will involved; in this case, the will necessitated for relation to DK’s Ashram is “the sublimation of the personal self-will”. This type of will is individual in nature but impersonal (divorced from personal desire).

98. Cần thấu hiểu bản chất của ý chí liên quan ở đây; trong trường hợp này, ý chí cần thiết để liên kết với ashram của Chân sư DK là “sự thăng hoa của ý chí riêng thuộc phàm ngã”. Loại ý chí này mang bản chất cá nhân nhưng có tính vô ngã (tách khỏi dục vọng cá nhân).

99. We note that if the meditator is capable of taking a position as an integral part of DK’s Ashram, he will also be taking a position as an integral part of the Hierarchy, for the Ashram of DK (or of any Master) is incorporated in the Hierarchy.

99. Chúng ta lưu ý rằng nếu người hành thiền có khả năng xác lập vị trí như một phần không thể tách rời của ashram Chân sư DK, thì y cũng sẽ xác lập vị trí như một phần không thể tách rời của Thánh đoàn, vì ashram của Chân sư DK (hay của bất kỳ Chân sư nào) đều nằm trong Thánh đoàn.

100. It is the duty of all disciples to stand in this position.

100. Đứng ở vị trí này là bổn phận của mọi đệ tử.

The third point of the triangle (as far as your work in this meditation is concerned) comes into the light of your reflective consideration. You will now turn your attention to yourself, the soul, the conscious disciple in preparation for that expansion of consciousness which is the next step in [138] your spiritual unfoldment, leading eventually to initiation.

Điểm thứ ba của tam giác (trong phạm vi công việc của các bạn ở bài thiền này) đi vào ánh sáng suy xét của các bạn. Giờ đây, các bạn sẽ hướng sự chú tâm vào chính mình, linh hồn, người đệ tử hữu thức đang chuẩn bị cho sự mở rộng tâm thức vốn là bước kế tiếp trong [138] sự khai mở tinh thần của mình, cuối cùng dẫn đến điểm đạo.

101. One of the points in the Triangle is the soul on its own plane. The third point is the disciple-as-soul.

101. Một trong các đỉnh của Tam Giác là linh hồn trên cõi riêng của nó. Đỉnh thứ ba là đệ tử với tư cách linh hồn.

102. When considering oneself, the disciple-as-soul, one is to think of oneself in preparation for one’s next spiritual unfoldment, leading eventually to initiation.

102. Khi xem xét chính mình, đệ tử với tư cách linh hồn cần nghĩ về mình như đang chuẩn bị cho sự khai mở tinh thần tiếp theo, cuối cùng dẫn đến điểm đạo.

This reflective consideration you do, not from the angle of the consciousness of your imperfections, qualifications or capacities, your failures or your successes, but entirely from the angle of cooperation with the Plan, with the divine Will and Purpose. It is with these highest aspects that the disciple is asked to cooperate.

Các bạn thực hiện sự suy xét này không từ góc độ nhận biết những bất toàn, phẩm chất hay năng lực, những thất bại hoặc thành công của mình, mà hoàn toàn từ góc độ hợp tác với Thiên Cơ, với Ý Chí thiêng liêng và Thiên Ý. Chính với những phương diện cao nhất này mà người đệ tử được yêu cầu hợp tác.

103. The manner in which we are to consider ourselves is given. We are not to become personal about ourselves. Rather we are to see ourselves (as souls) in relation to our cooperation with the Plan, with Divine Will and Purpose.

103. Cách thức chúng ta cần xem xét chính mình được nêu rõ. Chúng ta không nên nhìn bản thân từ góc độ cá nhân. Thay vào đó, chúng ta cần nhìn bản thân (như những linh hồn) trong mối liên hệ với sự hợp tác của mình với Thiên Cơ, với Ý Chí thiêng liêng và Thiên Ý.

104. Thus, when thinking of ourselves as disciples, we think of ourselves as souls-in-incarnation.

104. Như vậy, khi nghĩ về mình như những đệ tử, chúng ta nghĩ về mình như những linh hồn đang nhập thể.

105. This reminds one of the formula given in EP II: Alignment, Crisis, Light, Revelation, Integration. The Light reveals all the disciple’s imperfections. Revelation, however, reveals the Divine Plan, and it is in relation to the Plan that we are to view our own nature.

105. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến công thức được đưa ra trong EP II: Chỉnh hợp, Khủng hoảng, Ánh sáng, Sự mặc khải, Sự tích hợp. Ánh sáng phơi bày mọi bất toàn của đệ tử. Tuy nhiên, Sự mặc khải làm hiển lộ Thiên Cơ, và chúng ta cần nhìn bản chất của chính mình trong mối liên hệ với Thiên Cơ.

It is not possible for the individual disciple in any Ashram to cooperate in all phases of the Master’s work, and it is not possible for you, for instance, to cooperate in every phase of the work in my Ashram which I have outlined in my pamphlets (and which has been summarised in the one entitled My Work).

Một đệ tử riêng lẻ trong bất cứ ashram nào cũng không thể hợp tác trong mọi phương diện công việc của Chân sư; chẳng hạn, các bạn không thể hợp tác trong mọi phương diện công việc tại ashram Tôi mà Tôi đã phác thảo trong các tập sách nhỏ (và đã tóm lược trong tập mang tên Công Việc của Tôi).

106. A wise note regarding our limitations is introduced. Disciples can become overly enthusiastic and spread themselves too thin to be effective in service.

106. Một lưu ý minh triết về những giới hạn của chúng ta được đưa ra. Các đệ tử có thể trở nên quá nhiệt tình và dàn trải sức lực đến mức không còn phụng sự hiệu quả.

But it is possible for you to choose some phase of that plan and give it your paramount attention.... These activities can—if adequately and strongly carried forward—aid in the esoteric work of the world and the exoteric rehabilitation of right human relations....

Nhưng các bạn có thể chọn một phương diện của kế hoạch ấy và dành cho nó sự chú tâm cao nhất.... Những hoạt động này—nếu được tiến hành đầy đủ và mạnh mẽ—có thể hỗ trợ công việc nội môn của thế giới và việc khôi phục những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người về mặt ngoại môn....

107. This is sound advice. There are some ellipses where the editor has deleted certain phrases.

107. Đây là lời khuyên xác đáng. Có một số dấu chấm lửng ở những chỗ biên tập viên đã lược bỏ một số cụm từ.

108. As always, the Tibetan is working upon rendering his chelas more effective servers.

108. Như thường lệ, Chân sư Tây Tạng đang nỗ lực giúp các đệ tử của Ngài trở thành những người phụng sự hiệu quả hơn.

The fourth stage of the meditation work is concerned with the square which—for the purposes of our work—we will simply regard as the field of service and of experience—experience in work and not individual life experience.

Giai đoạn thứ tư của công việc tham thiền liên quan đến hình vuông mà—vì mục đích công việc của chúng ta—chúng ta sẽ đơn giản xem là lĩnh vực phụng sự và kinh nghiệm—kinh nghiệm trong công việc chứ không phải kinh nghiệm đời sống cá nhân.

109. DK takes His chelas beyond self-concern. The square has wider implications than the “individual life experience”. It relates to the entire field of service within humanity and the planet.

109. Chân sư DK đưa các đệ tử của Ngài vượt khỏi sự bận tâm về bản thân. Hình vuông có hàm ý rộng hơn “trải nghiệm đời sống cá nhân”. Nó liên quan đến toàn bộ lĩnh vực phụng sự trong nhân loại và trên hành tinh.

You will note that this description of the meditation work, which I am asking you to carry forward for a year at least, is based upon the three previous meditations; these sought to bring the etheric body with its various force centres into such a condition that it could become receptive to impression, and cooperate thereafter actively; through the alignment exercise you endeavoured to bring that organised instrument of service into contact with the source of inspiration and the source of impression, i.e., the Ashram and the soul.

Các bạn sẽ nhận thấy phần mô tả công việc tham thiền này, mà Tôi yêu cầu các bạn thực hiện ít nhất trong một năm, dựa trên ba bài thiền trước; những bài thiền ấy nhằm đưa thể dĩ thái cùng các trung tâm mãnh lực khác nhau của nó vào một trạng thái có thể tiếp nhận ấn tượng và sau đó hợp tác tích cực; qua bài tập chỉnh hợp, các bạn đã cố gắng đưa công cụ phụng sự có tổ chức ấy tiếp xúc với nguồn cảm hứng và nguồn ấn tượng, tức ashram và linh hồn.

110. DK is careful to emphasize continuity. The previous three meditations led sequentially to the possibility of performing Meditation IV in the correct manner.

110. Chân sư DK chú trọng nhấn mạnh tính liên tục. Ba bài thiền trước đã tuần tự dẫn đến khả năng thực hiện Bài Thiền IV đúng cách.

111. DK reviews the purpose of the previous meditations:

111. Chân sư DK ôn lại mục đích của các bài thiền trước:

a. To bring the various force centers of the etheric body into such a condition that that body could be receptive to impression

a. Đưa các trung tâm mãnh lực khác nhau của thể dĩ thái vào một trạng thái sao cho thể này có thể tiếp nhận ấn tượng

b. To bring the rightly organized etheric body (as an instrument of service) “into contact with the source of inspiration and the source of impression, i.e., the Ashram and the soul”

b. Đưa thể dĩ thái được tổ chức đúng đắn (như một công cụ phụng sự) “tiếp xúc với nguồn cảm hứng và nguồn ấn tượng, tức là ashram và linh hồn”

112. The etheric body must be in a certain effective condition if it is to be receptive to the kind of impression to be cultivated in Meditation IV.

112. Thể dĩ thái phải ở trong một trạng thái hoạt động hữu hiệu nhất định để có thể tiếp nhận loại ấn tượng cần được vun bồi trong Bài thiền IV.

Now we are in a position (theoretically at least and dependent individually upon the successful action of all work previously done) to begin the task of bringing through the inspiration and impression consciously, by determined contact with their sources. I will therefore briefly outline the work, asking you to do it after close study of all that I have written above:

Giờ đây, chúng ta đã ở vào vị thế (ít nhất về lý thuyết, và đối với từng người còn tùy thuộc vào kết quả thành công của mọi công việc trước đây) để bắt đầu nhiệm vụ truyền dẫn cảm hứng và ấn tượng một cách có ý thức, bằng sự tiếp xúc kiên định với các nguồn ấy. Vì vậy, Tôi sẽ phác thảo ngắn gọn công việc, và yêu cầu các bạn thực hiện sau khi đã nghiên cứu kỹ mọi điều Tôi viết ở trên:

113. The purpose of Meditation IV is actually to bring through “the inspiration and impression consciously, by determined contact with their sources”.

113. Mục đích của Bài thiền IV thực sự là truyền dẫn “cảm hứng và ấn tượng một cách có ý thức, bằng sự tiếp xúc kiên định với các nguồn của chúng”.

114. All meditations up to this point have been preparatory, and Meditation IV is the first “working” meditation which extends beyond the microcosmic field, whether of the individual or the group. The sources of inspiration and impression are actually to be accessed and utilized.

114. Mọi bài thiền cho đến thời điểm này đều mang tính chuẩn bị, và Bài thiền IV là bài thiền “thực hành” đầu tiên vươn ra ngoài phạm vi tiểu thiên địa, dù của cá nhân hay của nhóm. Các nguồn cảm hứng và ấn tượng phải thực sự được tiếp cận và vận dụng.

115. The following outline refers specifically to the procedures to be followed in Meditation IV.

115. Phác thảo sau đây đề cập cụ thể đến những trình tự cần tuân theo trong Bài thiền IV.

[139]

[139]

I. The Stage of Recognition.

I. Giai Đoạn Nhận Biết.

()1. Recognition of your pledged discipleship.

1. Nhận biết địa vị đệ tử đã cam kết của mình.

()2. Recognition of your equipment, gratefully rendered.

2. Nhận biết những gì mình được trang bị, với lòng biết ơn.

()3. Recognition of your achieved alignment.

3. Nhận biết sự chỉnh hợp mình đã đạt được.

()4. Recognition of the soul, the source of love-wisdom.

4. Nhận biết linh hồn, nguồn bác ái–minh triết.

()5. Recognition of the Hierarchy.

5. Nhận biết Thánh đoàn.

116. We begin by acknowledging the major factors to be utilized in this meditation process.

116. Chúng ta bắt đầu bằng việc thừa nhận những yếu tố chính sẽ được vận dụng trong tiến trình tham thiền này.

117. We remind ourselves of our pledge and of the equipment with which we are working. Our attitude regarding the equipment is one of gratitude rather than criticism (which would focus the consciousness too personally).

117. Chúng ta tự nhắc mình về lời nguyện và trang cụ mà chúng ta đang sử dụng để làm việc. Thái độ của chúng ta đối với trang cụ là biết ơn thay vì phê phán (vì phê phán sẽ khiến tâm thức tập trung quá nhiều vào cá nhân).

118. We recognize the alignment achieved which is really a brief review of Meditation III.

118. Chúng ta nhận biết sự chỉnh hợp đã đạt được; điều này thực chất là ôn lại ngắn gọn Bài thiền III.

119. We recognize and thus access the soul and do the same for Hierarchy, accessing its energy to the degree possible for any one of us.

119. Chúng ta nhận biết và qua đó tiếp cận linh hồn, rồi làm điều tương tự với Thánh đoàn, tiếp cận năng lượng của Thánh đoàn trong mức độ mà mỗi người chúng ta có thể đạt được.

All this should be done very rapidly, holding the consciousness steadily in the mind, and not in the head.

Tất cả những điều này cần được thực hiện rất nhanh, giữ tâm thức vững vàng trong thể trí, không phải trong đầu.

120. Some meditations call for a head focus; this one calls for focus in the mind. In sections above DK spoke of mental focus accompanied by a quiescent brain. This is the state to be achieved.

120. Một số bài thiền đòi hỏi sự tập trung trong đầu; bài thiền này đòi hỏi sự tập trung trong thể trí. Trong các phần trên, Chân sư DK đã nói đến sự tập trung trí tuệ đi kèm với một bộ não tĩnh lặng. Đây là trạng thái cần đạt được.

121. The lower aspects of the personality will respond automatically. The microcosmic quaternary to be used in this case, are the four levels of the concrete mental plane.

121. Các phương diện thấp của phàm ngã sẽ tự động đáp ứng. Trong trường hợp này, bộ tứ tiểu thiên địa được sử dụng là bốn cấp độ của cõi hạ trí.

It presupposes an immediate mental focussing of the disciple at the very beginning of his meditation work.

Điều này giả định rằng người đệ tử lập tức tập trung trí tuệ ngay khi bắt đầu công việc tham thiền.

122. By the time this meditation can be rightly used, the disciple has achieved the ability to focus mentally at will.

122. Đến khi có thể sử dụng đúng đắn bài thiền này, người đệ tử đã đạt được khả năng tập trung trong thể trí theo ý muốn.

II. The Stage of Consideration.

II. Giai Đoạn Xem Xét.

()1. Of the Ashram as a whole, i.e., of the Hierarchy as the Ashram of Sanat Kumara. You will see, through the use of the creative imagination, all the Ashrams in close contact with Shamballa as:

1. Về ashram như một toàn thể, tức về Thánh đoàn như ashram của Sanat Kumara. Qua việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo, các bạn sẽ thấy mọi ashram đều liên hệ mật thiết với Shamballa như sau:

123. The use of the imagination is indispensable and actually puts one en rapport with that which is visualized.

123. Việc sử dụng sự tưởng tượng là điều không thể thiếu và thực sự đưa chúng ta vào mối giao cảm với điều mà chúng ta hình dung.

124. All the seven great Ashrams are to be visualized. Hierarchy, itself, it to be considered an Ashram—the Ashram of Sanat Kumara.

124. Cần hình dung cả bảy ashram lớn. Chính Thánh đoàn phải được xem là một ashram—ashram của Sanat Kumara.

125. We are entering a very large perspective and will work our way ‘down’.

125. Chúng ta đang bước vào một tầm nhìn rất rộng lớn và sẽ từng bước đi ‘xuống’.

a. Responsive to the Purpose, implemented by the Ashrams of the Chohans.

a. Đáp ứng với Thiên Ý mà các ashram của các Đấng Chohan thực hiện.

126. The Chohans work more readily with Purpose than can the Masters of the Wisdom. Chohans are on intimate terms with the Monad; they are, in fact, identified as Monad, and the Monad is, in its pure essence, a ‘member’ of Shamballa.

126. Các Đấng Chohan làm việc với Thiên Ý dễ dàng hơn các Chân sư Minh Triết. Các Đấng Chohan có mối liên hệ mật thiết với chân thần; thực ra, Các Ngài đồng nhất mình là chân thần, và chân thần, trong bản chất tinh thuần của nó, là một ‘thành viên’ của Shamballa.

127. We imagine all Ashrams as responsive to Purpose. This must simply be an act of imagination, as we have no real idea of what Shamballic Purpose actually is.

127. Chúng ta tưởng tượng mọi ashram đều đáp ứng với Thiên Ý. Đây chỉ có thể là một hành động tưởng tượng, vì chúng ta chưa có ý niệm thực sự nào về Thiên Ý của Shamballa thực chất là gì.

b. Impressed by the energy of Will as the great Ashram energises its component parts—the various Ashrams within its periphery of influence.

b. Tiếp nhận ấn tượng từ năng lượng Ý Chí khi ashram vĩ đại truyền năng lượng cho các thành phần cấu tạo nên nó—những ashram khác nhau trong phạm vi ảnh hưởng của nó.

128. The energy of Shamballic Will pours through the great Ashram and thus reaches the various Ashrams. We have been shown how this is now happening through the Manu, the Christ and, newly, through the Master R.

128. Năng lượng Ý Chí của Shamballa tuôn qua ashram lớn và nhờ đó đến với các ashram khác nhau. Chúng ta đã được chỉ cho thấy điều này hiện đang diễn ra như thế nào qua Đức Manu, Đức Christ và, gần đây, qua Chân sư R.

c. Vitalising the initiates and disciples who are affiliated with the Masters and working in Their Ashrams.

c. Tiếp sinh lực cho các điểm đạo đồ và đệ tử có liên hệ với các Chân sư và đang làm việc trong các ashram của Các Ngài.

129. It is the energy of Life that is pouring from the highest center, Shamballa, and thus carrying new vitality.

129. Chính năng lượng Sự Sống đang tuôn đổ từ trung tâm cao nhất, Shamballa, và nhờ đó mang đến sinh lực mới.

130. Initiates and disciples, therefore, stand in the line of reception of this stream of vitalizing Life.

130. Vì vậy, các điểm đạo đồ và đệ tử đứng trên tuyến tiếp nhận dòng Sự Sống tiếp sinh lực này.

d. Reaching out, through the accepted and pledged disciples, into the world of men.

d. Vươn đến thế giới loài người qua các đệ tử được chấp nhận và đã cam kết.

131. Eventually, even the world of men is reached. There is a chain of command, so to speak, and the great energy emanating from Shamballa flows through all groups within the chain in ever-lessening degree. Yet it flows.

131. Cuối cùng, ngay cả thế giới loài người cũng được chạm đến. Có thể nói, có một chuỗi chỉ huy, và năng lượng lớn lao phát ra từ Shamballa chảy qua mọi nhóm trong chuỗi ấy với mức độ giảm dần. Tuy vậy, năng lượng ấy vẫn tuôn chảy.

Then you will say with purpose and determination:

Sau đó, các bạn sẽ nói với chủ đích và quyết tâm:

“I strive towards comprehension. Thy will, not mine, be done.”

“Tôi nỗ lực đạt đến sự lĩnh hội. Xin cho ý chí của Ngài được thực hiện, thay vì ý chí của tôi.”

132. The comprehension necessitated is wide and embraces the greatest organizations upon our planet.

132. Sự lĩnh hội cần có ở đây rất rộng lớn và bao quát những tổ chức lớn lao nhất trên hành tinh chúng ta.

133. Unless we have this wide planetary comprehension, relating to the sixth Kingdom of Nature (that of the Planetary Lives) we will not be in a position to say with illumined acquiescence, “Thy will, not mine, be done”.

133. Nếu không có sự lĩnh hội rộng lớn ở tầm hành tinh này, liên quan đến Giới thứ sáu trong Tự Nhiên (giới của Các Sự Sống Hành tinh), chúng ta sẽ không thể nói với sự thuận nhận được soi sáng rằng: “Cầu cho ý chí của Ngài được thực hiện, chứ không phải ý chí của tôi”.

134. We are, in saying this, making application to the Monad—our “Father in Heaven”—that aspect of our nature which dwells within the “Courts of Shamballa”.

134. Khi nói điều này, chúng ta đang thỉnh cầu chân thần—“Cha trên Trời” của chúng ta—phương diện trong bản chất chúng ta vốn ngự trong “các Triều Đình của Shamballa”.

135. For Meditation IV, this first phase represents the high point of inspiration, which works its way through all the lesser points in descent.

135. Đối với Bài thiền IV, giai đoạn đầu tiên này biểu thị đỉnh cao của cảm hứng, từ đó cảm hứng đi xuống qua mọi điểm thấp hơn.

All the above section of your meditation work concerns purpose, will and the “destiny” of Shamballa, to use an old occult phrase.

Toàn bộ phần tham thiền trên của các bạn liên quan đến thiên ý, ý chí và “vận mệnh” của Shamballa, theo cách dùng một cụm từ huyền bí cổ.

136. Shamballa knows the whence and whither of this planet. “Destiny” is related to that first ray type of motion we call “progress onward”. In this first phase of the meditation we are concerned with great eventualities and the ultimate relation of our planet to great stellar sources such as the Solar Logos and Sirius.

136. Shamballa biết hành tinh này từ đâu đến và sẽ đi về đâu. “Thiên mệnh” liên quan đến loại chuyển động thuộc cung một mà chúng ta gọi là “tiến về phía trước”. Trong giai đoạn đầu tiên của bài thiền này, chúng ta quan tâm đến những kết cục lớn lao và mối liên hệ tối hậu của hành tinh chúng ta với những nguồn tinh tú vĩ đại như Thái dương Thượng đế và Sirius.

137. In this first phase of meditation we will be subject to the great ideas which contain some glimmer of our planetary destiny.

137. Trong giai đoạn đầu tiên của bài thiền này, chúng ta sẽ chịu ảnh hưởng của những ý tưởng lớn lao chứa đựng chút ánh sáng le lói về thiên mệnh hành tinh của chúng ta.

138. We remember that the term “destiny” is also associated with the Monad: each of us has a “monadic destiny”.

138. Chúng ta nhớ rằng thuật ngữ “thiên mệnh” cũng gắn với chân thần: mỗi người chúng ta đều có một “thiên mệnh chân thần”.

()2. Of the world of souls which is the Hierarchy in relation to this world of men, and of in relation [140] to Shamballa as in the first part. This involves:

2. Về thế giới các linh hồn, tức Thánh đoàn, trong mối liên hệ với thế giới loài người này, chứ không phải trong mối liên hệ [140] với Shamballa như ở phần đầu. Điều này bao gồm:

139. We now ponder the “world of souls”—Hierarchy, not as the one Great Ashram, but in relation to the world of men, i.e., to the souls in incarnation.

139. Giờ đây, chúng ta suy ngẫm về “thế giới linh hồn”—Thánh đoàn, xét trong mối liên hệ với thế giới loài người, tức là với các linh hồn đang nhập thể, thay vì như một Ashram Vĩ Đại duy nhất.

140. We are contemplating Hierarchy as a “downward gazing” rather than “upward gazing” Soul. Hierarchy gazes upwards to Shamballa but upwards to humanity.

140. Chúng ta đang chiêm ngưỡng Thánh đoàn như một Linh Hồn “nhìn xuống” thay vì “nhìn lên”. Thánh đoàn nhìn lên Shamballa nhưng cũng nhìn lên nhân loại.

a. A study of the nature of the hierarchical effort, as it is expressed through love.

a. Nghiên cứu bản chất nỗ lực của Thánh đoàn khi nỗ lực ấy biểu hiện qua tình thương.

141. DK has described above the nature of Hierarchy as the distributor of the energy of love.

141. Ở trên, Chân sư DK đã mô tả bản chất của Thánh đoàn như bên phân phối năng lượng bác ái.

142. The entire enterprise of Hierarchy is motivated by love. Until we, too, are entirely motivated by love, we shall not know what it means to be members of Hierarchy.

142. Toàn bộ công cuộc của Thánh đoàn đều do bác ái thúc đẩy. Chừng nào chúng ta chưa hoàn toàn được bác ái thúc đẩy như vậy, chúng ta sẽ chưa biết làm thành viên của Thánh đoàn có nghĩa là gì.

b. A conscious identification with the Plan.

b. Đồng hoá với Thiên Cơ một cách có ý thức.

143. Hierarchy is consciously identified with Plan even if not, entirely, with Purpose, which even its members cannot fathom in depth.

143. Thánh đoàn đồng hoá một cách có ý thức với Thiên Cơ, dù chưa hoàn toàn đồng hoá với Thiên Ý, điều mà ngay cả các thành viên của Thánh đoàn cũng không thể dò thấu.

144. When our minds and hearts are full of the Plan we shall be closer to participation in Hierarchy.

144. Khi thể trí và trái tim chúng ta tràn đầy Thiên Cơ, chúng ta sẽ tiến gần hơn đến việc tham gia vào Thánh đoàn.

c. Dedication to the work originating in the Ashram with which you know yourself to be in touch, seeing it all as an integral part of the hierarchical work.

c. Hiến mình cho công việc bắt nguồn từ ashram mà các bạn biết mình đang tiếp xúc, nhìn toàn bộ công việc ấy như một phần không thể tách rời trong công việc của Thánh đoàn.

145. The focus becomes more specific. We are to focus on the Ashram of which we know ourselves to be a part.

145. Trọng tâm trở nên cụ thể hơn. Chúng ta cần tập trung vào ashram mà chúng ta biết mình là một thành viên.

146. Those who were members of Master DK’s group of chelas (in the New Seed Group) knew themselves to be members of His Ashram, however peripheral their position.

146. Những người thuộc nhóm đệ tử của Chân sư DK (trong Nhóm Hạt Giống Mới) biết mình là thành viên ashram của Ngài, dù vị trí của họ có ở xa trung tâm đến đâu.

147. Modern students may or may not know with which Ashram they are now or will eventually be affiliated. But because they are studying the works of Master DK, it is a reasonable assumption that they are linked to Him (at least temporarily) and may imagine that it is His Ashram to which they are closely related.

147. Các đạo sinh ngày nay có thể biết hoặc chưa biết mình hiện có liên hệ, hay cuối cùng sẽ có liên hệ, với ashram nào. Nhưng vì họ đang nghiên cứu các tác phẩm của Chân sư DK, nên có thể giả định hợp lý rằng họ có liên kết với Ngài (ít nhất là tạm thời), và họ có thể tưởng tượng rằng chính ashram của Ngài là nơi họ có mối liên hệ mật thiết.

148. It is important to keep any separative thinking from appearing. Ashrams are not really separate from Hierarchy. Each Ashram is integral to Hierarchy and must be conceived within the context of the hierarchical Whole.

148. Cần ngăn không cho bất kỳ tư tưởng chia rẽ nào xuất hiện. Các ashram thực sự không tách biệt khỏi Thánh đoàn. Mỗi ashram là một phần không thể tách rời của Thánh đoàn và phải được quan niệm trong bối cảnh Toàn Thể Thánh đoàn.

Then you will say with love and aspiration:

Sau đó, các bạn sẽ nói với tình thương và khát vọng:

149. We are now focussing on the second aspect of divinity, whereas in the first section of the meditation, our focus was on the first aspect.

149. Giờ đây, chúng ta tập trung vào phương diện thứ hai của thiên tính, trong khi ở phần đầu của bài thiền, trọng tâm của chúng ta là phương diện thứ nhất.

150. Love and aspiration, of course, accord with the second aspect.

150. Dĩ nhiên, tình thương và khát vọng phù hợp với phương diện thứ hai.

“I strive towards understanding. Let wisdom take the place of knowledge in my life.”

“Tôi nỗ lực đạt đến sự thấu hiểu. Xin cho minh triết thay thế tri thức trong đời tôi.”

151. The second ray is the ray of “Loving-Understanding”.

151. Cung hai là cung của “Bác Ái – Thấu Hiểu”.

152. The second ray is the ray of “Love-Wisdom”.

152. Cung hai là cung của “Bác Ái – Minh Triết”.

153. Love-Wisdom and Loving-Understanding are to supersede and yet utilize the knowledge associated with the third aspect of divinity.

153. Bác Ái – Minh Triết và Bác Ái – Thấu Hiểu phải thay thế, đồng thời vẫn vận dụng, tri thức gắn liền với phương diện thứ ba của thiên tính.

154. This whole section of the meditation involves the heart center just as the first section involved the head center.

154. Toàn bộ phần này của bài thiền liên quan đến trung tâm tim, cũng như phần đầu liên quan đến trung tâm đầu.

155. When the heart in the head is utilized, both sections are related.

155. Khi trung tâm tim trong đầu được vận dụng, cả hai phần đều liên kết với nhau.

()3. Of yourself as a unit in my Ashram. This will involve:

3. Về chính mình như một đơn vị trong ashram của Tôi. Điều này sẽ bao gồm:

156. The following is the more individual phase of the meditation and relates to the third aspect of divinity.

156. Phần tiếp theo là giai đoạn mang tính cá nhân hơn của bài thiền và liên quan đến phương diện thứ ba của thiên tính.

a. Recognising which aspect of my planned work you are equipped to do.

a. Nhận biết mình có đủ khả năng thực hiện phương diện nào trong công việc đã hoạch định của Tôi.

157. The Urge to Formulate a Plan relates to the third method of inducing soul control (see EP II 241)

157. Thôi Thúc Hình Thành Một Kế Hoạch liên quan đến phương pháp thứ ba nhằm tạo nên sự kiểm soát của linh hồn (xem EP II 241)

158. A disciple cannot fulfill all aspects of a Master’s planned work and thus, this section of the meditation asks for sharp focussing.

158. Một đệ tử không thể thực hiện mọi phương diện trong công việc mà một Chân sư đã hoạch định; vì vậy, phần này của bài thiền đòi hỏi sự tập trung cao độ.

159. Do we, each of us, know which aspect of the Master’s planned work we are equipped to do?

159. Mỗi người chúng ta có biết mình có đủ trang cụ để thực hiện phương diện nào trong công việc mà Chân sư đã hoạch định không?

b. Determining how to do it.

b. Xác định cách thực hiện công việc ấy.

160. The meditation becomes very practical and almost concrete. Here the concrete mind will be involved in the handling of specifics.

160. Bài thiền trở nên rất thiết thực và gần như cụ thể. Ở đây, trí cụ thể sẽ tham gia xử lý các chi tiết.

c. Considering the factor of preparation for eventual initiation, as a means of increasing your capacity for hierarchical cooperation.

c. Xem xét yếu tố chuẩn bị cho cuộc điểm đạo cuối cùng sẽ đến, như một phương tiện gia tăng khả năng hợp tác với Thánh đoàn.

161. All disciples (especially accepted disciples) are in training for initiation. We are to consider this fact and think about the mode of preparation in which we are engaged, never forgetting that we become initiated not for our own sakes, but for the more effective helping of a needy world.

161. Mọi đệ tử (đặc biệt là các đệ tử được chấp nhận) đều đang được huấn luyện để điểm đạo. Chúng ta cần xem xét sự kiện này và suy nghĩ về cách thức chuẩn bị mà mình đang thực hiện, luôn nhớ rằng chúng ta được điểm đạo để giúp đỡ hiệu quả hơn một thế giới đang cần trợ giúp, chứ không phải vì lợi ích riêng của mình.

162. As initiates our capacity to cooperate with the Hierarchy will be greatly increased. We must hold firmly to such selfless motivations.

162. Là các điểm đạo đồ, khả năng hợp tác của chúng ta với Thánh đoàn sẽ gia tăng rất nhiều. Chúng ta phải giữ vững những động cơ vô ngã như vậy.

d. Energising by light, faith, love and power, the spiritual centre within which you serve and the ashramic projects for which you accept responsibility. In this instance it can be the Arcane School and the Service Activities.

d. Dùng ánh sáng, đức tin, tình thương và quyền năng để truyền năng lượng cho trung tâm tinh thần mà các bạn đang phụng sự và các dự án của ashram mà các bạn nhận trách nhiệm. Trong trường hợp này, đó có thể là Trường Arcane và các Hoạt Động Phụng Sự.

163. Now comes a stage of practical vitalization and energizing. We direct energy into practical, ‘this-world’ activities of our choice.

163. Giờ đây đến giai đoạn tiếp sinh lực và truyền năng lượng một cách thiết thực. Chúng ta hướng năng lượng vào những hoạt động thiết thực ‘trong thế gian này’ do mình lựa chọn.

164. Naturally, given the identity of the group of chelas supervised by Master DK, the activities chosen would be related to the Lucis Trust and its Service Activities.

164. Dĩ nhiên, xét đến nhóm đệ tử do Chân sư DK giám sát là nhóm nào, những hoạt động được lựa chọn hẳn sẽ liên quan đến Lucis Trust và các Hoạt Động Phụng Sự của tổ chức này.

165. We may choose as we wish, but let us be certain that our choices are worthy.

165. Chúng ta có thể lựa chọn theo ý mình, nhưng hãy chắc chắn rằng những lựa chọn của chúng ta là xứng đáng.

You will then say:

Sau đó, các bạn sẽ nói:

“I strive towards cooperation. Let the Master of my life, the soul, and likewise the One I seek to serve, throw light through me on others.”

“Tôi nỗ lực hướng đến sự hợp tác. Xin cho Chân sư của đời tôi, linh hồn, cùng Đấng mà tôi tìm cách phụng sự, chiếu ánh sáng qua tôi đến những người khác.”

166. We work for inner and outer cooperation—cooperation with each other, with other disciples on other rays and of other persuasions, and with the world of men as well as with the world of souls.

166. Chúng ta nỗ lực vì sự hợp tác bên trong và bên ngoài—hợp tác với nhau, với các đệ tử khác thuộc các cung khác và có những quan điểm khác, với thế giới loài người cũng như với thế giới linh hồn.

167. We are to become light bearers. This we can do by being channels for the light of the soul (who is the “first Master” of our life) and also for the One whom we seek to serve.

167. Chúng ta cần trở thành những người mang ánh sáng. Chúng ta có thể làm được điều này bằng cách trở thành những kênh dẫn ánh sáng của linh hồn (vốn là “Chân sư đầu tiên” của đời chúng ta), đồng thời cũng là những kênh dẫn ánh sáng của Đấng mà chúng ta tìm cách phụng sự.

168. Who is this “One”? The Master of the Ashram with which we are affiliated? One of the Chohans? The Christ? The Lord of the World? It is for us to interpret this term as seems most fitting.

168. “Đấng” này là ai? Chân sư của ashram mà chúng ta có liên hệ? Một trong các Đấng Chohan? Đức Christ? Đức Chúa Tể Thế Giới? Chúng ta cần tự diễn giải thuật ngữ này theo cách mình thấy phù hợp nhất.

III. The Stage of Fixed Determination.

III. Giai Đoạn Quyết Tâm Kiên Định.

()1. A reflection upon the distinction between Purpose, Will and Intention.

1. Suy ngẫm về sự khác biệt giữa Thiên Ý, Ý Chí và Ý Định.

169. As we reflect upon this distinction, let us contemplate the three aspects of divinity.

169. Khi suy ngẫm về sự khác biệt này, chúng ta hãy chiêm ngưỡng ba phương diện của thiên tính.

170. Different students have divided the three factors differently. Almost all associate Intention with the third aspect, but some associate Purpose with the first aspect and some with the second, while others associate Will with the first aspect and some others with the second.

170. Các đạo sinh khác nhau đã phân chia ba yếu tố này theo những cách khác nhau. Hầu như tất cả đều liên hệ Ý Định với phương diện thứ ba, nhưng một số liên hệ Thiên Ý với phương diện thứ nhất, một số với phương diện thứ hai, trong khi những người khác liên hệ Ý Chí với phương diện thứ nhất và một số khác nữa với phương diện thứ hai.

171. To me it makes most sense in this second ray solar system, to associate Purpose with the second aspect and Will with the second.

171. Đối với tôi, trong hệ mặt trời thuộc cung hai này, hợp lý nhất là liên hệ Thiên Ý với phương diện thứ hai và Ý Chí với phương diện thứ hai.

172. Purpose is divine pattern to be manifested, the “Fixed Design” and the second ray is the “Ray of the Divine Pattern”.

172. Thiên Ý là mô hình thiêng liêng cần được biểu hiện, là “Thiết Kế Cố Định”, và cung hai là “Cung của Mô Hình Thiêng Liêng”.

173. Other arguments contrary to this one may be equally valid.

173. Những lập luận khác trái với lập luận này có thể cũng có giá trị tương đương.

()2. A period of complete focussed silence as you seek to present an unobstructed channel for the inflow of light, love and strength from the Hierarchy.

2. Một khoảng thời gian hoàn toàn im lặng và tập trung, trong khi các bạn tìm cách tạo một đường dẫn thông suốt cho ánh sáng, tình thương và sức mạnh từ Thánh đoàn tuôn vào.

174. In silence the maximum of energy can flow. Silence removes obstructions to infusion from the higher worlds.

174. Trong im lặng, năng lượng có thể tuôn chảy ở mức tối đa. Im lặng loại bỏ những chướng ngại đối với sự thấm nhuần từ các cõi cao.

175. Thus, this section calls for empowerment through “complete focussed silence”.

175. Vì vậy, phần này đòi hỏi việc tiếp nhận quyền năng qua “sự im lặng hoàn toàn và tập trung”.

A statement made by you, the soul, the disciple, to the personality:

Một lời khẳng định do các bạn, linh hồn, người đệ tử, nói với phàm ngã:

176. The correct stating of this mantram calls for a definite state of identification as soul. We do not conceive ourselves to be the personality. We are the disciple and the disciple is essentially the soul—the soul-in-incarnation (though not yet the soul on its own plane).

176. Việc xướng đúng mantram này đòi hỏi một trạng thái xác định trong đó chúng ta đồng nhất mình là linh hồn. Chúng ta không quan niệm mình là phàm ngã. Chúng ta là đệ tử, và đệ tử về bản chất là linh hồn—linh hồn đang nhập thể (dù chưa phải là linh hồn trên cõi riêng của nó).

[141]

[141]

“In the centre of the will of God I stand.

“Tôi đứng trong trung tâm ý chí của Thượng đế.

Naught shall deflect my will from His.

Không gì có thể khiến ý chí tôi lệch khỏi ý chí Ngài.

I implement that will by love.

Tôi thực hiện ý chí ấy bằng tình thương.

I turn towards the field of service.

Tôi hướng về lĩnh vực phụng sự.

I, the Triangle divine, work out that will

Tôi, Tam Giác thiêng liêng, thực thi ý chí ấy

Within the square and serve my fellowmen.”

Trong hình vuông và phụng sự đồng loại.”

177. This is the great Mantram of Will.

177. Đây là Mantram Ý Chí vĩ đại.

178. The Will emanates from the Center and in that Center we seek to stand— “in spiritual being”.

178. Ý Chí phát ra từ Trung Tâm, và chúng ta tìm cách đứng trong Trung Tâm ấy—“trong bản thể tinh thần”.

179. The characteristic of true spiritual will is its ‘non-deflectability’.

179. Đặc tính của ý chí tinh thần chân chính là ‘không thể bị làm lệch hướng’.

180. If will is not implemented by love it turns unnecessarily destructive. In our solar system the direct application of will does not occur; will is always buffered by love.

180. Nếu không được thực thi bằng tình thương, ý chí sẽ trở nên hủy diệt một cách không cần thiết. Trong hệ mặt trời của chúng ta, ý chí không được áp dụng trực tiếp; tình thương luôn làm dịu tác động của ý chí.

181. If we are sufficiently loving, we can serve. In an attitude of will-infused love, or love-infused will we turn towards the square of service.

181. Nếu có đủ tình thương, chúng ta có thể phụng sự. Với thái độ tình thương thấm nhuần ý chí, hay ý chí thấm nhuần tình thương, chúng ta hướng về hình vuông phụng sự.

182. I identify now as the Triangle—whether as the spiritual triad or perhaps, in some cases, as the threefold Monad.

182. Giờ đây, tôi đồng nhất mình là Tam Giác—dù là tam nguyên tinh thần hay có lẽ, trong một số trường hợp, là chân thần tam phân.

183. I am not the personality, the quadruplicity. I am the Triangle—the soul, the triad, the Monad. One may also conceived of the Ashram, the soul and the disciple as the soul-in-incarnation.

183. Tôi không phải là phàm ngã, bộ tứ. Tôi là Tam Giác—linh hồn, tam nguyên tinh thần, chân thần. Cũng có thể quan niệm ashram, linh hồn và người đệ tử như linh hồn đang nhập thể.

184. Armed with these great potencies drawn from the inner reservoirs of my own nature (nested in the Ashram), I serve humanity as a whole.

184. Với những quyền năng lớn lao này, được rút ra từ các nguồn dự trữ bên trong bản chất của chính tôi (nằm trong ashram), tôi phụng sự toàn thể nhân loại.

If you can do this work correctly, you will not only greatly increase your own realisation, service and understanding, but you will definitely be cooperating in the task of externalising the Ashram and furthering the work of the Hierarchy (from the foundation angle in relation to the New Age), and so aid in bringing in the new civilisation, the new world attitudes and the new world religion.

Nếu có thể thực hiện công việc này đúng đắn, các bạn không chỉ gia tăng đáng kể sự nhận biết, việc phụng sự và sự thấu hiểu của mình, mà còn thực sự hợp tác trong nhiệm vụ ngoại hiện ashram và thúc đẩy công việc của Thánh đoàn (từ góc độ đặt nền móng liên quan đến Kỷ Nguyên Mới), qua đó góp phần khai mở nền văn minh mới, những thái độ mới của thế giới và tôn giáo thế giới mới.

185. We see how remarkably potent Meditation IV can be if it is rightly understood and executed according to the Master’s instructions.

185. Chúng ta thấy Bài thiền IV có thể mang sức mạnh phi thường đến mức nào nếu được thấu hiểu đúng đắn và thực hiện theo huấn thị của Chân sư.

186. It is a meditation to assist with the “externalising o the Ashram”.

186. Đây là một bài thiền nhằm hỗ trợ việc “ngoại hiện ashram”.

187. Meditation IV can contribute to the following results:

187. Bài thiền IV có thể góp phần đem lại những kết quả sau:

a. The externalising of the Ashram

a. Sự ngoại hiện ashram

b. The furthering of the work of the Hierarchy, as it attempts to create a foundation for civilization in the New Age

b. Thúc đẩy công việc của Thánh đoàn khi Thánh đoàn nỗ lực tạo dựng nền tảng cho nền văn minh trong Kỷ Nguyên Mới

c. Bringing in the new civilization

c. Đưa vào nền văn minh mới

d. Bringing in new world attitudes

d. Đưa vào những thái độ mới trên thế giới

e. Bringing in the new world religion.

e. Đưa vào tôn giáo thế giới mới.

188. Let us ponder the magnificent possibilities and apply ourselves to the dynamic performance of this meditation—Meditation IV.

188. Chúng ta hãy suy ngẫm về những khả năng huy hoàng ấy và chuyên tâm thực hiện bài thiền này—Bài thiền IV—một cách đầy năng lực.

MEDITATION PART VI (141-148) – THAM THIỀN PHẦN VI (141-148)

PART VI

PHẦN VI

The meditation given you in your last instruction had several objectives in view. It was a preliminary meditation to a wide scheme for a particular kind of developing meditation, greatly needed by disciples, prior to unfolding a unique kind of ashramic sensitivity.

Bài thiền trao cho các bạn trong huấn thị vừa qua nhắm đến một số mục tiêu. Đó là bài thiền sơ bộ cho một chương trình rộng lớn nhằm phát triển một loại tham thiền đặc biệt, rất cần thiết cho các đệ tử trước khi khai mở một loại nhạy cảm độc đáo đối với ashram.

231. DK is speaking of Meditation IV, so important and so frequently used by disciples to relate their individual and group life to the Hierarchy and to Shamballa.

231. Chân sư DK đang nói về Bài thiền IV, một bài thiền rất quan trọng mà các đệ tử thường xuyên sử dụng để liên kết đời sống cá nhân và đời sống nhóm của mình với Thánh đoàn và Shamballa.

232. Meditation IV prepares the way to the unfolding of “a unique kind of ashramic sensitivity”.

232. Bài thiền IV chuẩn bị cho sự khai mở “một loại nhạy cảm ashram độc đáo”.

233. We all recognize the breadth of Meditation IV—extraordinary in scope.

233. Tất cả chúng ta đều nhận ra tầm bao quát của Bài thiền IV—một phạm vi phi thường.

It was intended, first of all, to give you (if you worked with faithfulness) a growing sense of planetary relationship, from the subjective angle, and above all, from the angle of “intelligent supervision”—a phrase which will mean more to you later.

Trước hết, bài thiền ấy nhằm đem lại cho các bạn (nếu các bạn thực hành trung thành) một cảm nhận ngày càng sâu sắc về mối liên hệ hành tinh từ góc độ chủ quan, và trên hết, từ góc độ “giám sát thông tuệ”—một cụm từ mà về sau sẽ có ý nghĩa nhiều hơn đối với các bạn.

234. How vast is our sense of “planetary relationship”?

234. Cảm nhận của chúng ta về “mối liên hệ hành tinh” rộng lớn đến đâu?

235. “Intelligent supervision” is “intelligent super-vision”—a perspective from a point of view entirely above that of the personality.

235. “Sự giám sát bằng trí tuệ” là “tầm nhìn từ trên cao bằng trí tuệ”—một cách nhìn từ vị trí hoàn toàn cao hơn vị trí của phàm ngã.

A true grasp of the implications and intentions behind this meditation would develop in the disciple’s consciousness a realisation of a living world of Intelligences, linked together from Sanat Kumara downwards until the chain of Hierarchy reaches the individual disciple, leading him to a later realisation that he too is but a link, and that there are those whom he also must reach and relate to the world of realities and awaken to their responsibilities.

Việc thực sự nắm bắt những hàm ý và ý định đằng sau bài thiền này sẽ phát triển trong tâm thức người đệ tử sự nhận biết về một thế giới sống động gồm các Đấng Thông Tuệ, liên kết với nhau từ Sanat Kumara xuống cho đến khi chuỗi liên kết của Thánh đoàn vươn đến từng người đệ tử, dẫn y đến sự nhận biết về sau rằng chính y cũng chỉ là một mắt xích, và có những người mà y cũng phải vươn đến, liên kết họ với thế giới các thực tại và đánh thức họ trước những trách nhiệm của mình.

236. Another meaning of “Intelligent supervision” is hinted: there are a ladder of supervising Intelligences (from Sanat Kumara downwards through Hierarchy until at last the individual disciple is reached). The meditation is useful in helping us understanding who these Intelligences are, how they are linked, and how we, as disciples may rightly relate to them.

236. Một ý nghĩa khác của “sự giám sát bằng trí tuệ” được gợi mở: có một thang bậc các Đấng Trí Tuệ giám sát (từ Sanat Kumara xuống qua Thánh đoàn cho đến cuối cùng là từng đệ tử). Bài thiền giúp chúng ta thấu hiểu các Đấng Trí Tuệ này là ai, Các Ngài liên kết với nhau ra sao, và chúng ta, với tư cách đệ tử, có thể liên hệ đúng đắn với Các Ngài như thế nào.

237. We ourselves, as disciples, are ‘supervising intelligences’ to some.

237. Chính chúng ta, với tư cách đệ tử, cũng là những ‘trí tuệ giám sát’ đối với một số người.

In the training of all disciples, one of the goals is to make the world of phenomena recede into the background of consciousness whilst the world of meaning becomes more vital and real.

Trong việc huấn luyện mọi đệ tử, một trong những mục tiêu là khiến thế giới hiện tượng lùi vào hậu cảnh của tâm thức, trong khi thế giới của ý nghĩa trở nên sống động và chân thực hơn.