Trích nội dung chương
238. Should this become the case, there would be concern not only with what is happening but with the meaning of what is happening. There would be a preoccupation not so much with the event in itself as with the meaning and implications of event. 238. Nếu điều này xảy ra, người ta sẽ quan tâm không chỉ đến điều đang diễn ra mà còn đến ý nghĩa của điều đang diễn ra. Mối quan tâm sẽ tập trung vào ý nghĩa và hàm ý của sự kiện nhiều hơn là chính sự kiện ấy.
238. Should this become the case, there would be concern not only with what is happening but with the meaning of what is happening. There would be a preoccupation not so much with the event in itself as with the meaning and implications of event.
238. Nếu điều này xảy ra, người ta sẽ quan tâm không chỉ đến điều đang diễn ra mà còn đến ý nghĩa của điều đang diễn ra. Mối quan tâm sẽ tập trung vào ý nghĩa và hàm ý của sự kiện nhiều hơn là chính sự kiện ấy.
239. The World of Meaning is the world of perceived relations between contents of consciousness.
239. Thế giới của ý nghĩa là thế giới của những mối liên hệ được nhận biết giữa các nội dung của tâm thức.
This world, in its turn, is the antechamber to the world of causes, where conscious relationship can be established with the Initiator.
Đến lượt nó, thế giới này là tiền sảnh dẫn vào thế giới nguyên nhân, nơi có thể thiết lập mối liên hệ hữu thức với Đấng Điểm đạo.
240. We have the following sequence:
240. Chúng ta có trình tự sau:
a. The world of phenomena, leads to
a. Thế giới hiện tượng dẫn đến
b. The world of meaning, which leads to
b. Thế giới của ý nghĩa, dẫn đến
c. The world of causes, which leads to
c. Thế giới nguyên nhân, dẫn đến
d. The world of significance
d. Thế giới của thâm nghĩa
241. It is clear that the Initiator—whether the Christ or Sanat Kumara—lives in the World of Causes.
241. Rõ ràng Đấng Điểm đạo—dù là Đức Christ hay Sanat Kumara—đều sống trong Thế giới Nguyên nhân.
[142]
[142]
The second purpose of the meditation was to bring to light the fact that the disciple (as an outpost of the Ashram as a functioning soul) must be oriented to humanity in a more definite manner;
Mục đích thứ hai của bài thiền là làm sáng tỏ sự thật rằng người đệ tử (với tư cách một tiền đồn của ashram, một linh hồn đang hoạt động) phải hướng về nhân loại một cách rõ rệt hơn;
242. The disciple is a functioning soul who is an “outpost of the Ashram”.
242. Đệ tử là một linh hồn đang hoạt động, một “tiền đồn của ashram”.
243. If the “Highest and the Lowest” are to meet, disciples in training must have an intelligent and effective impact upon humanity.
243. Nếu “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất” phải gặp nhau, các đệ tử đang được huấn luyện phải tác động lên nhân loại một cách thông minh và hiệu quả.
the purpose of such orientation is that the “life of the triangles may penetrate the area of the square and produce the inevitable consequence, the germinating of ideas and the flowering of the new civilisation and culture.” So has one of the Masters expressed the purpose of certain phases of the ashramic work, particularly that connected with meditation.
mục đích của sự định hướng ấy là để “sự sống của các tam giác có thể thâm nhập vào khu vực hình vuông và tạo ra hệ quả tất yếu: những ý tưởng nảy mầm và nền văn minh cùng văn hóa mới nở hoa”. Một trong các Chân sư đã diễn đạt như vậy về mục đích của một số phương diện công việc ashram, đặc biệt là phương diện liên quan đến tham thiền.
244. As souls we are the triangles; as personalities we are the square. If the life of the triangles penetrates the area of the square, the ideas brought from the world of the triangles will germinate within the consciousness of the square and (as seeds) bring about “the flowering of the new civilization and culture”.
244. Là linh hồn, chúng ta là các tam giác; là phàm ngã, chúng ta là hình vuông. Nếu sự sống của các tam giác thâm nhập khu vực hình vuông, những ý tưởng được mang đến từ thế giới các tam giác sẽ nảy mầm trong tâm thức của hình vuông và (như những hạt giống) tạo ra “sự đơm hoa của nền văn minh và văn hóa mới”.
245. The work of the disciple is with ideas gathered from the World of Causes. When these ideas reach humanity and are rightly assimilated, they will bring about the needed changes. Ideas change the worlds.
245. Công việc của đệ tử là làm việc với các ý tưởng thu nhận từ Thế giới Nguyên nhân. Khi những ý tưởng này đến với nhân loại và được đồng hóa đúng đắn, chúng sẽ tạo ra những thay đổi cần thiết. Các ý tưởng làm thay đổi các thế giới.
246. It is in our meditative work that we can bring the triangles into the square.
246. Chính trong công việc tham thiền, chúng ta có thể đưa các tam giác vào hình vuông.
Another Master has explained the purpose of the hierarchical intent as the “merging of the higher with the lower triangle and their fusion in the square.”
Một Chân sư khác đã giải thích mục đích trong ý định của Thánh đoàn là “sự hòa nhập của tam giác cao với tam giác thấp và sự dung hợp của chúng trong hình vuông”.
247. This can be interpreted in more ways than one. If the higher triangle is the soul and the lower personality, then we would say that the soul-infused personality must find its place of expression within the square which represents both humanity and the physical plane, the world of normal experience.
247. Có thể diễn giải điều này theo nhiều cách. Nếu tam giác cao là linh hồn và tam giác thấp là phàm ngã, thì chúng ta có thể nói rằng phàm ngã được linh hồn thấm nhuần phải tìm được nơi biểu lộ trong hình vuông, vốn tượng trưng cho cả nhân loại lẫn cõi hồng trần, thế giới của kinh nghiệm thông thường.
248. The higher triangle could also be the triad and the soul, and the square could be the square of the personality life—both of the individual and humanity.
248. Tam giác cao cũng có thể là Tam nguyên tinh thần và linh hồn, còn hình vuông có thể là hình vuông của đời sống phàm ngã—của cả cá nhân lẫn nhân loại.
The Masters view the work of Their disciples from this symbolic angle.
Các Chân sư nhìn công việc của các đệ tử mình từ góc độ biểu tượng này.
249. As the Masters work within the worlds of significance and of causes, it is natural that they would see all concrete phenomena in terms of patterned relationships.
249. Vì các Chân sư làm việc trong các thế giới thâm nghĩa và nguyên nhân, nên đương nhiên Các Ngài nhìn mọi hiện tượng cụ thể theo những mối liên hệ có mô hình.
250. An entire life cycle is represented as a geometric symbol.
250. Cả một chu kỳ sống được biểu thị bằng một biểu tượng hình học.
251. The disciples of the Master are charted in symbolic terms.
251. Các đệ tử của Chân sư được lập sơ đồ bằng các biểu tượng.
The disciple who reaps the benefit of this last suggested meditation becomes—through an enlargement of his consciousness and the greater scope of his vision— “a sower of the seed within the world of men”; he distributes ideas, living and potential, in the field of the world, and these he receives from two sources:
Người đệ tử thu được lợi ích từ bài thiền vừa được đề nghị này sẽ trở thành—qua sự mở rộng tâm thức và phạm vi tầm nhìn rộng lớn hơn—“người gieo hạt giống trong thế giới loài người”; y phân phối những ý tưởng sống động và đầy tiềm năng trên cánh đồng thế giới, và nhận chúng từ hai nguồn:
252. DK is informing us of the benefits of the successful us of Meditation IV.
252. Chân sư DK đang cho chúng ta biết những lợi ích của việc sử dụng thành công Bài thiền IV.
253. The purpose of the use of this meditation it to become a sower in the field of the world of those seeds which are ideas.
253. Mục đích của việc sử dụng bài thiền này là trở thành người gieo trên cánh đồng thế gian những hạt giống vốn là các ý tưởng.
254. Ideas can be so necessitous for the moment that they are destined for immediate unfoldment; ideas sown can also be potential—destined for a future unfoldment.
254. Những ý tưởng có thể cần thiết cho thời điểm hiện tại đến mức chúng được định sẵn để khai mở ngay lập tức; các ý tưởng được gieo cũng có thể còn tiềm tàng—được định sẵn để khai mở trong tương lai.
255. DK gives us two sources for the ideas which the sower sows
255. Chân sư DK nêu cho chúng ta hai nguồn của những ý tưởng mà người gieo hạt gieo xuống
1. His own soul, as his intuition awakens.
1. Linh hồn của chính y, khi trực giác của y thức tỉnh.
256. One source of ideas of soul intuition. We remember that the buddhic plane is really the source of intuition, but the causal body receives these intuitions and passes them to the lighted mind of the meditating personality.
256. Một nguồn ý tưởng là trực giác linh hồn. Chúng ta nhớ rằng cõi Bồ đề mới thực sự là nguồn của trực giác, nhưng thể nguyên nhân tiếp nhận những trực giác này rồi chuyển chúng đến thể trí được soi sáng của phàm ngã đang tham thiền.
2. The Ashram, as he grasps more of its purposes and becomes accustomed to assimilating its teachings. This takes time.
2. Ashram, khi y nắm bắt nhiều hơn các mục đích của ashram và quen với việc tiếp thu những giáo huấn của nó. Điều này cần thời gian.
257. Apparently a higher source of ideas is the Ashram itself, as ashramic purpose is grasped and ashramic teaching assimilated.
257. Dường như một nguồn ý tưởng cao hơn là chính ashram, khi mục đích của ashram được nắm bắt và giáo huấn của ashram được đồng hóa.
258. The sowing of the new ideas of is major importance in bringing about necessary changes in the consciousness of humanity.
258. Việc gieo những ý tưởng mới có tầm quan trọng lớn trong việc tạo ra những thay đổi cần thiết trong tâm thức nhân loại.
Still another objective of this meditation was to bring the disciple to the point where his interest (evoked through the stages of recognition and consideration) would lead him to a realisation of the need for the evocation of the Will, the first faint indications of which I called that of “fixed determination.” In the above statements you have the goals which I had in mind when assigning the meditation last year.
Một mục tiêu khác nữa của bài thiền này là đưa người đệ tử đến chỗ mà mối quan tâm của y (được khơi dậy qua các giai đoạn nhận biết và xem xét) dẫn y đến sự nhận biết về nhu cầu khơi dậy Ý Chí, mà những dấu hiệu mờ nhạt đầu tiên của nó Tôi gọi là “quyết tâm kiên định”. Những phát biểu trên trình bày các mục tiêu mà Tôi đã nhắm đến khi giao bài thiền năm ngoái.
259. There were three principal stages in the assignment:
259. Bài tập được giao có ba giai đoạn chính:
a. Recognition
a. Nhận biết
b. Consideration
b. Suy xét
c. And the evocation of the Will through “fixed determination”
c. Và gợi lên Ý chí thông qua “quyết tâm kiên định”
260. We see that it is characteristic of the way the Tibetan works that He assigns a meditation, gives time for its pondering and utilization and only later explains the purpose of the assigned meditation.
260. Chúng ta thấy một nét đặc trưng trong cách làm việc của Chân sư Tây Tạng: Ngài giao một bài thiền, dành thời gian cho việc suy ngẫm và sử dụng bài thiền ấy, rồi mãi sau mới giải thích mục đích của nó.
It is hard, I know, for the neophyte at any stage along the Path to grasp the necessity for engendering (to use an unusual word in this connection) a magnetised area of thought upon which the higher impressions can play, yet persistence in the daily recognition and consideration, accompanied by a fixed determination to bring the life and service into conformity with the revealing relations will [143] (almost unexpectedly) produce great and transforming results.
Tôi biết rằng người sơ cơ ở bất kỳ giai đoạn nào trên Đường Đạo cũng khó nắm bắt sự cần thiết phải gây dựng (dùng một từ khác thường trong ngữ cảnh này) một vùng tư tưởng được từ hóa để những ấn tượng cao siêu có thể tác động lên đó; tuy nhiên, sự kiên trì nhận biết và xem xét hằng ngày, đi cùng quyết tâm kiên định đưa đời sống và việc phụng sự vào sự phù hợp với những mối liên hệ đang được hé lộ, sẽ [143] (gần như bất ngờ) tạo ra những kết quả lớn lao và có sức chuyển đổi.
261. The value of Meditation IV is its contribution to “engendering a magnetized area of thought upon which the higher impressions can play”. We remember the attitude of the member of the Ashram who seeks to reflect the higher impressions, reflect upon that which has been reflected, and to transmit his reflections to humanity.
261. Giá trị của Bài thiền IV nằm ở sự đóng góp của nó vào việc “sản sinh một vùng tư tưởng được từ hóa, nơi các ấn tượng cao hơn có thể tác động”. Chúng ta nhớ đến thái độ của thành viên ashram, người tìm cách phản chiếu các ấn tượng cao hơn, suy ngẫm về những gì đã được phản chiếu, rồi truyền những suy ngẫm của mình đến nhân loại.
262. The practice of daily recognition and consideration followed by “a fixed determination to bring the life and service into conformity with the revealing relations will…produce great and transforming results”. The life of the disciple, we see, will be changed by reflective meditation. The relations of the “supervising Intelligences” when revealed and realized through reflection, will produce the necessary transformations in consciousness.
262. Việc thực hành nhận biết và suy xét hằng ngày, tiếp theo bằng “quyết tâm kiên định đưa đời sống và sự phụng sự hòa hợp với những mối liên hệ đang được mặc khải, sẽ…tạo ra những kết quả lớn lao, có sức chuyển đổi”. Chúng ta thấy rằng tham thiền suy ngẫm sẽ làm thay đổi đời sống của đệ tử. Khi những mối liên hệ của các “Đấng Trí Tuệ giám sát” được mặc khải và nhận biết qua suy ngẫm, chúng sẽ tạo ra những chuyển đổi cần thiết trong tâm thức.
The Masters waste not Their time or yours in assigning needless exercises;
Các Chân sư không lãng phí thời gian của Các Ngài hay của các bạn để giao những bài tập không cần thiết;
263. If only the exercises would be followed, as, unfortunately, they were not to any great extent.
263. Giá mà các bài tập ấy được thực hành, vì đáng tiếc là chúng đã không được thực hành bao nhiêu.
the disciple who faithfully and with a definitely unbroken rhythm follows his instructions, can expect to see effects of a surprising and lasting nature within himself, and consequently within his environment.
người đệ tử trung thành tuân theo các huấn thị với một nhịp điệu thực sự liên tục có thể trông đợi thấy những tác động đáng kinh ngạc và bền vững trong chính mình, và do đó trong môi trường chung quanh.
264. The key to attainment is faithfulness in the following of the prescribed meditations. They must be followed not only faithfully, but “with a definitely unbroken rhythm”. This is no mean achievement given the irregularity of life in the modern western world.
264. Chìa khóa của sự thành tựu là chuyên cần thực hành các bài thiền đã được chỉ định. Phải thực hành chúng không chỉ chuyên cần mà còn “với một nhịp điệu nhất định không gián đoạn”. Đây là một thành tựu đáng kể, xét đến sự thất thường của đời sống trong thế giới phương Tây hiện đại.
265. It is indicated that if effects occur within the individual they will surely appear within the individual’s environment. Transformation of the environment, as must be obvious, begins with the transformation of oneself.
265. Đoạn văn cho thấy rằng nếu những tác động xuất hiện trong cá nhân, chúng chắc chắn sẽ xuất hiện trong môi trường của cá nhân ấy. Hiển nhiên, sự chuyển đổi môi trường bắt đầu từ sự chuyển đổi chính mình.
It is not upon the results, however, that you are asked to focus, but simply upon the themes presented for your use and consideration.
Tuy nhiên, điều các bạn được yêu cầu tập trung vào đơn giản là những chủ đề đã trình bày để các bạn sử dụng và xem xét, chứ không phải các kết quả.
266. Again, obviously, the results will take care of themselves if there is regular application to the prescribed themes.
266. Một lần nữa, rõ ràng các kết quả sẽ tự đến nếu thường xuyên thực hành theo những chủ đề đã được chỉ định.
In the earlier stages of your training the emphasis was laid upon the form side, upon the achieving of alignment (still most necessary),
Trong những giai đoạn huấn luyện trước đây, trọng tâm đặt vào phương diện hình tướng, vào việc đạt sự chỉnh hợp (vẫn hết sức cần thiết),
267. At one point the Tibetan discovered that He had to interrupt the sequence of meditations He planned to assign in order to improve the quality of alignment of the individuals in His group. To do this, He assigned a Meditation on Alignment—Meditation III, given to the New Seed Group.
267. Có lúc, Chân sư Tây Tạng nhận thấy Ngài phải tạm ngừng chuỗi bài thiền mà Ngài dự định giao để cải thiện phẩm tính chỉnh hợp của từng người trong nhóm của Ngài. Để làm điều này, Ngài đã giao một Bài thiền về Chỉnh hợp—Bài thiền III, dành cho Nhóm Hạt Giống Mới.
upon the sounding of the OM, with its power to clarify the aura and the atmosphere, and upon the processes to be followed.
vào việc xướng linh từ OM với quyền năng làm trong sáng hào quang và bầu không khí, và vào các tiến trình cần tuân theo.
268. Let us tabulate the nature of the type of meditations which preceded the more advanced meditations He is now discussing.
268. Chúng ta hãy liệt kê bản chất của loại bài thiền có trước những bài thiền tiến bộ hơn mà Ngài hiện đang bàn đến.
a. Emphasis upon the form side
a. Chú trọng phương diện hình tướng
b. Emphasis upon achieving alignment
b. Chú trọng việc đạt được sự chỉnh hợp
c. Emphasis upon the sounding of the OM
c. Chú trọng việc xướng linh từ OM
269. The value of the OM (and we should be sure we understand this) is to “clarify the aura and the atmosphere).
269. Giá trị của linh từ OM (và chúng ta cần chắc chắn rằng mình thấu hiểu điều này) là “làm trong sáng hào quang và bầu không khí).
In the meditation which you should now be doing, alignment should be instantaneous and easy and the following of a set form unnecessary, because you start as a centre of focussed thought, as the ready recipient of awaited impression, as the trained analyser of ideas, and finally as a transmitter of that which has been received from the higher sources of inspiration.
Trong bài thiền mà giờ đây các bạn cần thực hiện, sự chỉnh hợp phải tức thời và dễ dàng, và không cần tuân theo một hình thức cố định, vì các bạn bắt đầu như một trung tâm tư tưởng tập trung, như người sẵn sàng tiếp nhận ấn tượng đang chờ đợi, như người đã được huấn luyện để phân tích ý tưởng, và cuối cùng như người truyền đạt những gì đã nhận từ các nguồn cảm hứng cao siêu.
270. The more advanced meditation under discussion—Meditation V—requires an easy, virtually instantaneous alignment and does not demand the following of a set form. The advanced meditator is practiced in the fundamentals and has become creative.
270. Bài thiền tiến bộ hơn đang được bàn đến—Bài thiền V—đòi hỏi sự chỉnh hợp dễ dàng, gần như tức thời, và không yêu cầu tuân theo một hình thức cố định. Người hành thiền tiến bộ đã thuần thục những điều căn bản và trở nên sáng tạo.
271. Let us tabulate the point from which the advanced meditator starts:
271. Chúng ta hãy liệt kê những tư cách mà từ đó người hành thiền tiến bộ khởi đầu:
a. As a center of focussed thought.
a. Như một trung tâm tư tưởng tập trung.
b. As a ready recipient of awaited impression
b. Như một người tiếp nhận sẵn sàng đón nhận ấn tượng đang chờ đợi
c. As the trained analyzer of ideas
c. Như người phân tích lão luyện các ý tưởng
d. As a transmitter of that which has been received from the higher sources of inspiration.
d. Như người truyền đạt những gì đã tiếp nhận từ các nguồn cảm hứng cao hơn.
272. The meditator is automatically ready to work upon the mental plane. Any preoccupation with the lower vehicles is already transcended.
272. Người hành thiền tự động sẵn sàng làm việc trên cõi trí. Mọi sự bận tâm đến các hiện thể thấp đã được vượt qua.
273. The advanced meditator is working with a mind held steady in the light.
273. Người hành thiền tiến bộ đang làm việc với một thể trí được giữ vững trong ánh sáng.
274. The capacities of this mind are both intuitive and analytical.
274. Thể trí này có cả năng lực trực giác lẫn năng lực phân tích.
275. There will also be the capacity to clothe that which has been received in appropriate form and to transmit the thoughts.
275. Cũng sẽ có năng lực khoác hình tướng thích hợp cho những gì đã tiếp nhận và truyền đạt các tư tưởng.
This involves also the power to distinguish the sources from which the impression comes.
Điều này cũng bao hàm khả năng phân biệt các nguồn mà ấn tượng xuất phát.
276. There are a number of choices, among which are the following
276. Có một số khả năng, trong đó gồm những nguồn sau
a. The petals of the causal body
a. Các cánh hoa của thể nguyên nhân
b. The plane of higher mind in general
b. Cõi thượng trí nói chung
c. The abstract mind
c. Trí trừu tượng
d. The buddhic plane
d. Cõi Bồ đề
e. The Ashram
e. Ashram
f. The Master of the Ashram
f. Chân sư của ashram
g. The greater Ashram
g. Ashram lớn hơn
h. The atmic plane
h. Cõi atma
i. Even the monadic plane
i. Ngay cả cõi chân thần
277. Probably none of us is truly proficient in such distinctions
277. Có lẽ không ai trong chúng ta thực sự thành thạo việc phân biệt như thế
It is these aspects of yourself in action which will form the basis of the suggested meditation to be followed by all of you during the coming twelve months.
Chính những phương diện này của các bạn trong hoạt động sẽ tạo thành nền tảng cho bài thiền được đề nghị để tất cả các bạn thực hiện trong mười hai tháng tới.
278. These are the four aspects listed above:
278. Đây là bốn phương diện đã liệt kê ở trên:
a. Center
a. Trung tâm
b. Recipient
b. Người tiếp nhận
c. Analyzer
c. Người phân tích
d. Transmitter
d. Người truyền đạt
The basic intention of the meditation is to train you to be intelligently aware of what Patanjali calls “the raincloud of knowable things,” of the intentions, purposes and ideas which, at any given period, motivate the hierarchical work and condition the quality of the inspiration which can be received from the Ashram to which you may be attached.
Ý định căn bản của bài thiền là huấn luyện các bạn nhận biết một cách thông tuệ điều mà Patanjali gọi là “đám mây mưa của những điều khả tri”, nhận biết những ý định, mục đích và ý tưởng mà vào bất cứ thời kỳ nào cũng thúc đẩy công việc của Thánh đoàn và định hình phẩm tính của cảm hứng có thể nhận từ ashram mà các bạn có thể gắn kết.
279. We see that the objectives of the meditation are very high.
279. Chúng ta thấy các mục tiêu của bài thiền rất cao.
280. We must register that hierarchical work is motivated by
280. Chúng ta phải ghi nhận rằng công việc của Thánh đoàn được thúc đẩy bởi
a. Intention
a. Ý định
b. Purposes
b. Các mục đích
c. Ideas
c. Các ý tưởng
281. Ashramic inspiration can be received by the meditator and that inspiration will be conditioned by certain intentions, purposes and ideas to be found within the “raincloud of knowable things”.
281. Người hành thiền có thể tiếp nhận cảm hứng ashram, và một số ý định, mục đích cùng ý tưởng trong “đám mây mưa của những điều khả tri” sẽ định hình cảm hứng ấy.
282. It seems clear that the task of the meditator is one of precipitation.
282. Dường như rõ ràng nhiệm vụ của người hành thiền là thực hiện sự ngưng tụ.
By “attached” I mean the sense of relationship and not devotion or affection. Attachment, in reality, is an expression of the freewill of the subject, choosing and recognising its relationships and adhering thereto.
Khi nói “gắn kết”, Tôi muốn nói đến cảm thức về mối liên hệ, không phải lòng sùng tín hay tình cảm. Thực ra, sự gắn kết là một biểu hiện ý chí tự do của chủ thể, khi chọn lựa, nhận biết các mối liên hệ của mình và giữ vững chúng.
283. DK clarifies the notion of “attachment” as that word is so easy to misunderstand. It is not an astral response. Rather, it is a willed, mental response, based upon choice, which in turn is based upon the recognition of spiritual relationships.
283. Chân sư DK làm sáng tỏ khái niệm “gắn bó”, vì từ này rất dễ bị hiểu lầm. Đó không phải là một đáp ứng cảm dục. Đúng hơn, đó là một đáp ứng trí tuệ có chủ ý, dựa trên sự lựa chọn, mà sự lựa chọn ấy lại dựa trên việc nhận biết các mối liên hệ tinh thần.
284. We are asked to adhere to the Ashram to which we are attached.
284. Chúng ta được yêu cầu gắn bó với ashram mà chúng ta gắn kết.
In the spiritual sense, the motivation will be loving responsibility; in the personality sense, it will be sentient emotion.
Theo nghĩa tinh thần, động cơ sẽ là trách nhiệm đầy tình thương; theo nghĩa phàm ngã, đó sẽ là cảm xúc dựa trên cảm giác.
285. The motivation of the one who is attached to an Ashram is explained. The motivation is “loving responsibility”. Will this be felt in the personality soul “sentient emotion”? No. If the attachment originated in the astral body, it would be felt as sentient emotion, but that is not the place of its origin.
285. Động cơ của người gắn kết với một ashram được giải thích. Động cơ ấy là “trách nhiệm đầy tình thương”. Liệu điều này có được cảm nhận trong phàm ngã linh hồn như “cảm xúc cảm tính” không? Không. Nếu sự gắn kết bắt nguồn từ thể cảm dục, nó sẽ được cảm nhận như cảm xúc cảm tính, nhưng đó không phải là nơi nó bắt nguồn.
As an aid to your concentration and receptivity, I will give you twelve words which will be the theme for twelve months’ work, and which could—as you gain the power to [144] meditate, relate, receive and transmit—provide the seed thoughts for twelve years’ work instead of twelve months.
Để hỗ trợ sự tập trung và khả năng tiếp nhận của các bạn, Tôi sẽ đưa ra mười hai từ làm chủ đề cho công việc trong mười hai tháng; khi các bạn đạt được khả năng [144] tham thiền, liên kết, tiếp nhận và truyền đạt, những từ ấy có thể trở thành tư tưởng hạt giống cho công việc trong mười hai năm thay vì mười hai tháng.
286. Master DK is expansive in His thought, realizing the depth of meditation that is possible and also the fact that great ideas are assimilated only slowly.
286. Chân sư DK có tư tưởng rộng mở, nhận biết chiều sâu có thể đạt tới trong tham thiền, đồng thời nhận biết rằng những ý tưởng lớn chỉ được lĩnh hội một cách chậm rãi.
287. Based upon all the foregoing, four tasks are required of us:
287. Dựa trên tất cả những điều đã trình bày, chúng ta cần thực hiện bốn nhiệm vụ:
a. Meditating
a. Tham thiền
b. Relating
b. Liên hệ
c. Receiving
c. Tiếp nhận
d. Transmitting
d. Truyền đạt
Words are living things, possessing form, soul and spirit or life;
Từ ngữ là những sự vật sống động, có hình tướng, linh hồn và tinh thần hay sự sống;
288. As living thing, a word may vibrantly express an idea (considering an idea as a higher energy emanating from the realm of the spiritual triad.
288. Là một sinh thể sống động, một từ có thể biểu đạt một ý tưởng đầy sinh động (xét ý tưởng như một năng lượng cao hơn phát xạ từ cảnh giới của Tam Nguyên Tinh Thần.
This you should ever bear in mind as you use them to open the door to a month’s realisation and inspiration, plus the consequent service.
các bạn phải luôn ghi nhớ điều này khi dùng chúng để mở cánh cửa đến sự nhận biết và cảm hứng trong một tháng, cùng việc phụng sự theo sau.
289. In this form of meditation three things are pursued each month:
289. Trong hình thức tham thiền này, mỗi tháng đều hướng tới ba điều:
a. Realization
a. Sự nhận biết
b. Inspiration
b. Cảm hứng
c. Consequent service
c. Việc phụng sự phát sinh từ đó
Here are twelve words. Use one each month in your daily meditation.
Đây là mười hai từ. Mỗi tháng hãy dùng một từ trong việc tham thiền hằng ngày.
1. Recipient
1. Người tiếp nhận
3. Recognition
3. Sự nhận biết
5. Source
5. Nguồn cội
7. Transmitter
7. Người truyền đạt
9. Determination
9. Quyết tâm
11. Idea
11. Ý tưởng
291. It may be that the words, arranged in this form, are paired purposefully.
291. Có thể những từ được sắp xếp theo hình thức này đã được ghép đôi có chủ đích.
292. Considered in sequence they offer the impression of an entire process or unit of work.
292. Khi xét theo trình tự, chúng gợi lên ấn tượng về một tiến trình trọn vẹn hay một đơn vị công việc.
293. Attention may be focused on oneself as the Recipient of Impression. The nature of the Impression must come into Recognition, and when it does, subjective Relationship (s) will be revealed. The Impression comes from a certain Source, one of which is the Ashram. The Recipient has the responsibility to act then as a Transmitter, bringing that which he has received into Expression. This will require Fixed Determination. That which is expressed will act as a Seed within the area of Expression. Thereby Idea (s) in the Mind of God will germinate upon the Earth. To fulfill this sequence, one must recognize one’s correct Attachment to the Ashram which one serves and the nature of one’s Attachment to Humanity.
293. Có thể tập trung sự chú ý vào bản thân mình như Người tiếp nhận sự Ấn tượng. Bản chất của Ấn tượng phải đi vào sự Nhận diện, và khi điều đó xảy ra, một hay nhiều Mối quan hệ chủ quan sẽ hiển lộ. Ấn tượng đến từ một Nguồnnhất định, mà ashram là một trong những nguồn ấy. Người tiếp nhận khi ấy có trách nhiệm hành động như một Người truyền đạt, đưa những gì mình đã tiếp nhận vào sự Biểu đạt. Điều này đòi hỏi sự kiên định trong Quyết tâm. Những gì được biểu đạt sẽ đóng vai trò một Hạt giống trong phạm vi Biểu đạt. Qua đó, một hay nhiều Ý tưởng trong Trí của Thượng đế sẽ nảy mầm trên Trái Đất. Để hoàn thành trình tự này, mỗi người phải nhận biết sự Gắn kết đúng đắn của mình với ashram mà mình phụng sự, cũng như bản chất của sự Gắn kết của mình với Nhân loại.
294. One can only imagine what twelve years of pondering might yield. Looking ahead the Tibetan did not want to leave His chelas without significant work to perform.
294. Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng mười hai năm suy ngẫm có thể mang lại những gì. Nhìn về phía trước, Chân sư Tây Tạng không muốn để các đệ tử của Ngài thiếu công việc có ý nghĩa để thực hiện.
You will notice how the meditation now to be outlined is a natural sequence to the one which presumably you followed all last year.
Các bạn sẽ nhận thấy bài thiền sắp được phác thảo là sự tiếp nối tự nhiên của bài mà có lẽ các bạn đã thực hiện suốt năm qua.
295. This meditation contributes to the creative ability of the meditator, training him or her in the method of working as a triangle within the square—as an imparter of ideas to the realm of form.
295. Bài thiền này góp phần phát triển năng lực sáng tạo của người hành thiền, rèn luyện cho người ấy phương pháp hoạt động như một tam giác bên trong hình vuông—như một người truyền ý tưởng vào cảnh giới hình tướng.
STAGE ONE... Preliminary.
GIAI ĐOẠN MỘT... Sơ Bộ.
Pass rapidly through the steps of recognition, consideration and fixed determination. These, if correctly followed, will bring you to the point at which this new meditation starts.
Nhanh chóng đi qua các bước nhận biết, xem xét và quyết tâm kiên định. Nếu thực hiện đúng, những bước này sẽ đưa các bạn đến điểm khởi đầu của bài thiền mới.
296. The previous meditation, Meditation IV, is rapidly reviewed. Its phases have by now been synthesized within the meditator.
296. Bài thiền trước, Bài thiền IV, được ôn lại nhanh chóng. Đến lúc này, các giai đoạn của bài thiền ấy đã được tổng hợp bên trong người hành thiền.
Then proceed as follows:
Sau đó tiến hành như sau:
STAGE TWO... The Centre of Focussed Thought.
GIAI ĐOẠN HAI... Trung Tâm Tư Tưởng Tập Trung.
1. Polarise yourself consciously upon the mental plane, tuning out all lower vibrations and reactions.
1. Một cách có ý thức, phân cực mình trên cõi trí, gạt bỏ mọi rung động và phản ứng thấp kém.
297. The word “polarise” is equivalent to “focus”. The statement evokes the idea of “mental polarisation”. A polarisation is a ‘place’ of natural gravitation. It is a form of magnetic adherence which cannot be re-magnetized to another dimensional level. A focus may change, but if one is truly mentally polarized, the attention will not deviate from the ‘place’ of polarization.
297. Từ “phân cực” tương đương với “tập trung”. Phát biểu này gợi lên ý tưởng về “sự phân cực trí tuệ”. Sự phân cực là một ‘nơi’ mà ta tự nhiên bị thu hút về. Đó là một hình thức gắn bó do từ tính, không thể tái từ hóa để chuyển sang một cấp độ chiều kích khác. Tiêu điểm có thể thay đổi, nhưng nếu một người thực sự phân cực trí tuệ, sự chú ý sẽ không lệch khỏi ‘nơi’ phân cực ấy.
298. The natural gravitation of soul consciousness is far more the mind than the astral or mental nature. To polarize on the mental plane is to find this natural gravitation of soul consciousness.
298. Tâm thức linh hồn tự nhiên hướng về thể trí nhiều hơn hẳn so với bản chất cảm dục hay trí tuệ. Phân cực trên cõi trí là tìm thấy xu hướng tự nhiên này của tâm thức linh hồn.
299. Note, we are not speaking of polarizing ourselves within the causal body. i.e., on the higher mental plane, but on the highest level of the lower mental plane, presumably with the area ruled by the mental unit as our focus.
299. Lưu ý, chúng ta không nói đến việc phân cực bản thân trong thể nguyên nhân, tức là trên cõi thượng trí, mà trên cấp độ cao nhất của cõi hạ trí, có lẽ lấy vùng do đơn vị hạ trí cai quản làm tiêu điểm.
2. Then orient yourself to the Spiritual Triad, through an act of the will and the imaginative use of the antahkarana.
2. Sau đó, hướng mình về Tam Nguyên Tinh Thần bằng một hành động của ý chí và việc sử dụng antahkarana trong sự tưởng tượng.
300. This stage assumes that the process of building the antahkarana is familiar and can be used at will.
300. Giai đoạn này giả định rằng người hành thiền đã quen thuộc với tiến trình xây dựng antahkarana và có thể vận dụng tiến trình ấy theo ý muốn.
301. The orientation requires the performance of the states of:
301. Sự định hướng này đòi hỏi thực hiện các trạng thái:
a. Intention
a. Chủ định
b. Visualization
b. Sự hình dung
302. The act of will entails the use of the state of Projection. The will, of course, also sustains the stages of Intention and Visualization.
302. Hành động của ý chí bao hàm việc vận dụng trạng thái Phóng chiếu. Dĩ nhiên, ý chí cũng duy trì các giai đoạn Chủ định và Hình dung.
3. Next, take your theme word under consideration and ponder deeply upon it for at least five minutes. Endeavour to extract its quality and life, thus lifting it and your thought to as high a plane as possible.
3. Tiếp theo, xem xét từ chủ đề của mình và suy ngẫm sâu sắc về nó ít nhất năm phút. Cố gắng rút ra phẩm tính và sự sống của từ ấy, nhờ đó nâng nó cùng tư tưởng của mình lên cõi cao nhất có thể.
303. The antahkarana has been imaginatively built and activated by the act of Projection.
303. Antahkarana đã được xây dựng bằng sự tưởng tượng và được kích hoạt bằng hành động Phóng chiếu.
304. The pondering is occurring within the lighted field of the mind, as that field responds to the influence of the spiritual triad.
304. Sự suy ngẫm đang diễn ra trong trường ánh sáng của thể trí, khi trường ấy đáp ứng với ảnh hưởng của Tam Nguyên Tinh Thần.
305. We remember that it is the soul-infused personality that ponders, and so the influence of the soul is also present in the act of pondering.
305. Chúng ta nhớ rằng chính phàm ngã được linh hồn thấm nhuần đang suy ngẫm, vì vậy ảnh hưởng của linh hồn cũng hiện diện trong hành động suy ngẫm.
306. One is pondering not just as a personality but as a soul-infused personality.
306. Người ta suy ngẫm không chỉ với tư cách một phàm ngã mà với tư cách một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.
307. As one ponder the word of the month (or year) one is looking far beyond the form of the word. One is looking for is quality (which relates it to the level of the soul), and the deep significance of the word (which relates it to the life aspect). We must be able to distinguish between quality and life.
307. Khi suy ngẫm về từ của tháng (hoặc năm), người ta nhìn xa hơn nhiều so với hình tướng của từ ấy. Người ta tìm kiếm phẩm tính của nó (điều liên hệ nó với cấp độ linh hồn), và thâm nghĩa của từ ấy (điều liên hệ nó với phương diện sự sống). Chúng ta phải có khả năng phân biệt phẩm tính với sự sống.
308. When we lift our thought to as high a plane as possible, we may begin within the lighted field of the concrete mind, but we soon being to merge into the abstract mind and may hopefully touch the realm of buddhi, or on rarest occasions, atma.
308. Khi nâng tư tưởng lên cõi cao nhất có thể, chúng ta có thể bắt đầu trong trường ánh sáng của trí cụ thể, nhưng chẳng bao lâu sẽ bắt đầu hòa nhập vào trí trừu tượng và hy vọng có thể chạm đến cảnh giới Bồ đề, hoặc trong những trường hợp cực kỳ hiếm hoi, cảnh giới atma.
309. To touch atma is a real feat, when we remember that a Master is polarised upon the atmic plane and that when the Buddha achieved Nirvana the atmic plane (known as the “nirvanic plane”) was the field of His focus—though monadic realization certainly was part of this experience.
309. Chạm đến atma quả là một kỳ công, khi chúng ta nhớ rằng một Chân sư phân cực trên cõi atma, và khi Đức Phật chứng đắc Niết Bàn, cõi atma (được gọi là “cõi Niết Bàn”) là trường tập trung của Ngài—mặc dù sự chứng nghiệm chân thần chắc chắn cũng là một phần của trải nghiệm ấy.
4. Then sound the OM, and wait silently, holding the mind steady. This is “the pause of reception.”
4. Sau đó xướng linh từ OM và lặng lẽ chờ đợi, giữ thể trí vững vàng. Đây là “khoảng dừng tiếp nhận”.
310. The OM purifies the aura and atmosphere, and renders the mind as receptive as possible.
310. Linh từ OM thanh lọc hào quang và bầu không khí, đồng thời làm cho thể trí có khả năng tiếp nhận cao nhất có thể.
311. We are speaking here of a silent moments during which wordless impression from the higher realms can be received.
311. Ở đây, chúng ta đang nói đến những khoảnh khắc im lặng, trong đó có thể tiếp nhận ấn tượng không lời từ các cảnh giới cao hơn.
STAGE THREE... The Recipient of Impression.
GIAI ĐOẠN BA... Người Tiếp Nhận Ấn Tượng.
1. Assuming an attitude of the highest expectancy, you [145] will now express in your own words the highest truth of the monthly word-theme that you have been able to reach.
1. Với thái độ chờ đón cao độ nhất, giờ đây các bạn [145] sẽ dùng lời của chính mình để diễn đạt chân lý cao nhất của từ chủ đề trong tháng mà mình đã có thể đạt tới.
312. To assume and maintain the “highest expectancy” is part of an act of penetration into our own “highest truth”. It preserves the alignment with that which is the cause of the highest impression we have been able to reach.
312. Có và duy trì “sự mong đợi cao nhất” là một phần của hành động thâm nhập vào “chân lý cao nhất” của chính chúng ta. Điều đó giữ sự chỉnh hợp với nguồn tạo nên ấn tượng cao nhất mà chúng ta đã có thể đạt tới.
313. To maintain the highest expectancy also prevents us from relapsing into the normal state of mind.
313. Duy trì sự mong đợi cao nhất cũng ngăn chúng ta rơi trở lại trạng thái thông thường của thể trí.
314. As we cloth our “highest truth” in words, we maintain the alignment so that we do not lapse into ordinary verbal expressions.
314. Khi khoác cho “chân lý cao nhất” của mình lớp áo ngôn từ, chúng ta duy trì sự chỉnh hợp để không rơi vào những cách diễn đạt thông thường.
2. You then relate that theme to the present world opportunity, thus universalising the concept, seeing its relationship to world affairs, its usefulness and spiritual value to humanity as a whole.
2. Sau đó, liên hệ chủ đề ấy với cơ hội hiện tại của thế giới, qua đó phổ quát hóa khái niệm, nhìn thấy mối liên hệ của nó với các vấn đề thế giới, tính hữu ích và giá trị tinh thần của nó đối với nhân loại như một toàn thể.
315. That which has been impressed and expressed in words is then related to the present world condition seen as opportunity. The concept is thus related to the planetary context, which in this case is called, “universalizing the concept”.
315. Những gì đã được ghi ấn và diễn đạt bằng lời sau đó được liên hệ với hoàn cảnh hiện tại của thế giới, được nhìn nhận như một cơ hội. Như vậy, khái niệm được liên hệ với bối cảnh hành tinh, điều mà trong trường hợp này được gọi là “phổ quát hóa khái niệm”.
316. This act of relating is a practical service—applying higher impression to the service of the world and humanity.
316. Hành động liên hệ này là một việc phụng sự thiết thực—áp dụng ấn tượng cao hơn vào việc phụng sự thế giới và nhân loại.
3. Holding the mind in the light, you will then write down the first thought (no matter what it is) that enters into your waiting mind in connection with the theme of your meditation.
3. Giữ thể trí trong ánh sáng, sau đó các bạn sẽ ghi lại tư tưởng đầu tiên (bất kể là gì) đi vào thể trí đang chờ đợi của mình liên quan đến chủ đề tham thiền.
317. Some preparatory alignment may be needed as this step is entered.
317. Có thể cần một sự chỉnh hợp để chuẩn bị khi bước vào bước này.
318. One must work hard to clear the mind of all habitual thoughts and familiar word forms.
318. Cần nỗ lực hết sức để loại khỏi thể trí mọi tư tưởng theo thói quen và những hình thức ngôn từ quen thuộc.
319. An initial act of repulsion is thus needed to deflect familiar responses, and then an act of immediate reception. Then, honesty will be required to write exactly what has been received.
319. Vì vậy, ban đầu cần một hành động đẩy lùi để gạt đi những đáp ứng quen thuộc, rồi lập tức thực hiện một hành động tiếp nhận. Sau đó, cần sự trung thực để viết lại chính xác những gì đã tiếp nhận.
The ability to do this will grow with practice, and will eventually evoke the intuition and thus fertilise your mind.
Khả năng làm điều này sẽ phát triển qua thực hành, và cuối cùng sẽ khơi dậy trực giác, nhờ đó làm phong phú thể trí của các bạn.
320. The section of the meditation, we see, is intended to contact the buddhic plane.
320. Chúng ta thấy phần này của bài thiền nhằm tiếp xúc với cõi Bồ đề.
321. The working of buddhi is always surprising and cannot be planned. Planning takes place in the mind, and buddhi is ‘above’ the mind.
321. Hoạt động của Bồ đề luôn đem lại sự bất ngờ và không thể được hoạch định. Việc hoạch định diễn ra trong thể trí, còn Bồ đề ở ‘trên’ thể trí.
4. Again sound the OM, with the intent of refocussing yourself upon the mental plane. If your work has been successful, your original focus will have shifted to intuitional levels or to the levels of the higher, abstract mind, via the antahkarana. This must happen, in time, if your work has been faithfully followed. But bear ever in your thought that you must work as a mind, and not as an aspirant or from the angle of memory. Think on this.
4. Lại xướng linh từ OM, với ý định tái tập trung trên cõi trí. Nếu công việc của các bạn đã thành công, qua antahkarana, điểm tập trung ban đầu của các bạn hẳn đã chuyển lên các cấp độ trực giác hoặc các cấp độ của thượng trí trừu tượng. Theo thời gian, điều này nhất định phải xảy ra nếu các bạn trung thành thực hành công việc này. Nhưng hãy luôn ghi nhớ rằng các bạn phải làm việc với tư cách một thể trí, chứ không phải một người chí nguyện hay từ góc độ ký ức. Hãy suy ngẫm về điều này.
322. We can see that if the reception of the first word has worked as intended, that word will not have come from the mental plane.
322. Chúng ta có thể thấy rằng nếu việc tiếp nhận từ đầu tiên đã diễn ra đúng như dự định, từ ấy sẽ không đến từ cõi trí.
323. DK states it clearly—successful work along this line will access planes higher than the lower mind—either the abstract mind or the buddhic/intuitional level, via the antahkarana. Note He does not reference the atmic plane.
323. Chân sư DK nói rõ điều này—công việc thành công theo hướng này sẽ tiếp cận những cõi cao hơn hạ trí—hoặc trí trừu tượng, hoặc cấp độ Bồ đề/trực giác, thông qua antahkarana. Lưu ý rằng Ngài không đề cập đến cõi atma.
324. DK tells us that there is an inevitability to the process if we follow the indicated stages faithfully.
324. Chân sư DK cho chúng ta biết tiến trình này có tính tất yếu nếu chúng ta kiên trì tuân theo đúng các giai đoạn đã chỉ dẫn.
325. We are told that we must work as a mind and not as an aspirant or from the angle of memory. An aspirant aspires and is thus engaging the emotional nature. Also, if one is working from the brain cons (unguided by higher aspects of the mind), the factor of memory will be engaged, and memory is of the past. Memory is contact with the old; intuition is contact with that which has not yet been received or formulated into words.
325. Chúng ta được dạy rằng phải làm việc với tư cách một thể trí, chứ không phải một người chí nguyện hay từ góc độ ký ức. Người chí nguyện khát vọng và do đó đang vận dụng bản chất cảm xúc. Ngoài ra, nếu một người làm việc từ tâm thức não bộ (không có sự hướng dẫn của các phương diện cao hơn của thể trí), yếu tố ký ức sẽ tham gia, mà ký ức thuộc về quá khứ. Ký ức là sự tiếp xúc với cái cũ; trực giác là sự tiếp xúc với những gì chưa được tiếp nhận hay diễn đạt thành lời.
326. DK is telling us not to access the emotional vehicle or the usual personality consciousness focussed in the physical brain. We must work as minds (illumined minds) focusing above the emotions and unresponsive to normal brain activity.
326. Chân sư DK đang dạy chúng ta đừng tiếp cận hiện thể cảm xúc hay tâm thức phàm ngã thông thường tập trung trong bộ não hồng trần. Chúng ta phải làm việc với tư cách những thể trí (những thể trí được soi sáng), tập trung phía trên cảm xúc và không đáp ứng với hoạt động thông thường của bộ não.
STAGE FOUR... The Analyser of Ideas.
GIAI ĐOẠN BỐN... Người Phân Tích Ý Tưởng.
1. You now analyse or think over with clarity the work you have done, and the ideas now in your mind, seeing them in a true perspective in relation to the whole problem of the day.
1. Giờ đây, các bạn phân tích hoặc suy xét một cách sáng suốt công việc mình đã làm và những ý tưởng hiện có trong thể trí, nhìn chúng theo đúng tương quan với toàn bộ vấn đề của ngày hôm ấy.
327. We can refer to steps two and three of STAGE TWO to find the material with which to work at this point.
327. Chúng ta có thể tham chiếu các bước hai và ba của GIAI ĐOẠN HAI để tìm chất liệu làm việc ở điểm này.
328. We now utilize the concrete mind (still lighted from above) to see the entire process and all that has been received with as much clarity as possible.
328. Giờ đây, chúng ta vận dụng trí cụ thể (vẫn được soi sáng từ trên cao) để thấy toàn bộ tiến trình và tất cả những gì đã tiếp nhận một cách sáng rõ nhất có thể.
329. Again we are to think of the world situation—the “whole problem of the day”.
329. Một lần nữa, chúng ta cần nghĩ đến tình hình thế giới—“toàn bộ vấn đề hiện thời”.
2. Then, choosing one of the ideas which your theme-word has evoked, you think about it, analyse it and relate it to life, getting all you can out of it.
2. Sau đó, chọn một trong những ý tưởng mà từ chủ đề đã gợi lên, các bạn suy nghĩ về nó, phân tích và liên hệ nó với cuộc sống, khai thác mọi điều có thể từ ý tưởng ấy.
330. Now, the process turns selective. We choose only one of the perhaps many ideas which may have come to us through the utilization of our word theme. We take it apart, put it back together and relate it life processes.
330. Giờ đây, tiến trình chuyển sang sự chọn lọc. Chúng ta chỉ chọn một ý tưởng trong số có lẽ là nhiều ý tưởng đã đến với mình qua việc vận dụng từ chủ đề. Chúng ta phân tách nó, kết hợp nó trở lại và liên hệ nó với các tiến trình của cuộc sống.
This evoked idea may and should vary from day to day but will always remain related to the monthly theme.
Ý tưởng được gợi lên này có thể và nên thay đổi từng ngày, nhưng sẽ luôn liên quan đến chủ đề của tháng.
331. This allows us to maintain variety and still stay related to the theme of the month.
331. Điều này cho phép chúng ta duy trì sự đa dạng mà vẫn giữ mối liên hệ với chủ đề của tháng.
3. Then study the idea in connection with yourself, the disciple, active in service and the Master’s work, but not in connection with the personality. This you will find an interesting distinction. Make the idea practical, enabling it to “qualify” you or enrich you.
3. Sau đó, nghiên cứu ý tưởng ấy trong mối liên hệ với chính mình, người đệ tử đang tích cực phụng sự và thực hiện công việc của Chân sư, nhưng không liên hệ với phàm ngã. Các bạn sẽ thấy đây là một sự phân biệt thú vị. Hãy làm cho ý tưởng ấy trở nên thiết thực, để nó có thể “tạo phẩm tính” cho các bạn hoặc làm phong phú các bạn.
332. The study of the chosen idea then takes on an individual focus but not a personal focus. We consider ourselves to be the disciple, which is different from considering ourselves to be the personality.
332. Việc nghiên cứu ý tưởng đã chọn khi ấy tập trung vào cá thể chứ không tập trung vào cá nhân. Chúng ta xem mình là người đệ tử, điều này khác với việc xem mình là phàm ngã.
333. The disciple is ‘located’ midway between the personality and our identity as the soul.
333. Người đệ tử ‘nằm’ ở giữa phàm ngã và bản sắc của chúng ta với tư cách linh hồn.
334. In this step we are to gain benefit from the idea we have chosen and to feel enriched as a result of working with it mentally.
334. Ở bước này, chúng ta cần thu được lợi ích từ ý tưởng đã chọn và cảm thấy phong phú hơn nhờ làm việc với ý tưởng ấy bằng trí tuệ.
4. Again sound the OM, with the intent of making the sensed idea a part of your very nature.
4. Lại xướng linh từ OM, với ý định làm cho ý tưởng đã cảm nhận trở thành một phần trong chính bản chất của các bạn.
335. The sounding is an act of assimilation.
335. Việc xướng âm là một hành động đồng hóa.
[146]
[146]
STAGE FIVE... The Transmitter of Ideas.
GIAI ĐOẠN NĂM... Người Truyền Đạt Ý Tưởng.
1. As the disciple, you have realised that a knowledge of truth and the reception of ideas lays on you the responsibility to be a transmitter to others. Ponder on this.
1. Với tư cách đệ tử, các bạn đã nhận ra rằng sự hiểu biết chân lý và việc tiếp nhận ý tưởng đặt lên các bạn trách nhiệm truyền đạt cho người khác. Hãy suy ngẫm về điều này.
336. As a result of this meditation there may come to us the conviction of some new truth or the reinforcement of that which we have already recognized as truth. We may also have received ideas, which are not just recycled thoughts.
336. Kết quả của bài tham thiền này có thể là niềm xác tín về một chân lý mới nào đó, hoặc sự củng cố điều mà chúng ta đã nhận biết là chân lý. Chúng ta cũng có thể đã tiếp nhận những ý tưởng, chứ không chỉ là những tư tưởng được lặp lại.
337. Something of value has come to us and now we must ponder on the responsibility of sharing or transmitting that which has come.
337. Một điều có giá trị đã đến với chúng ta, và giờ đây chúng ta phải suy ngẫm về trách nhiệm chia sẻ hoặc truyền đạt điều đã đến ấy.
338. The idea of transmitting takes into consideration means of transmission other than normal speech or writing.
338. Ý tưởng về việc truyền đạt có tính đến những phương tiện truyền đạt khác ngoài lời nói hoặc văn viết thông thường.
2. Now take the idea which the theme has engendered, or take the theme-word itself if no ideas have come to you, and in imagination formulate it in such a way that it can be presented to others, to your friends, to those you seek to help and to humanity—when opportunity offers.
2. Giờ đây, hãy lấy ý tưởng mà chủ đề đã khơi sinh, hoặc lấy chính từ chủ đề nếu chưa có ý tưởng nào đến với các bạn, rồi dùng sự tưởng tượng để diễn đạt nó theo cách có thể trình bày với người khác, với bạn bè, với những người các bạn tìm cách giúp đỡ và với nhân loại—khi có cơ hội.
339. We use the imagination to make the idea we have been pondering as potentially useful as possible. We can see ourselves working with the presentation of the idea.
339. Chúng ta dùng sự tưởng tượng để làm cho ý tưởng mà mình đang suy ngẫm có tiềm năng hữu ích cao nhất có thể. Chúng ta có thể hình dung mình đang thực hiện việc trình bày ý tưởng ấy.
Think the idea through mentally, emotionally, and practically, thus precipitating it outwards into the world of thought.
Hãy suy xét thấu đáo ý tưởng ấy về mặt trí tuệ, cảm xúc và thực tiễn, qua đó ngưng tụ nó ra bên ngoài, vào thế giới tư tưởng.
340. This is a very interesting act. It takes the idea into all three worlds of the personality. Thinking it through is working it through.
340. Đây là một hành động rất thú vị. Nó đưa ý tưởng vào cả ba cõi giới của phàm ngã. Suy xét thấu đáo ý tưởng ấy là <i§>thực hiện nó đến nơi đến chốn.
341. At this step we are engaged in an act of precipitation.
341. Ở bước này, chúng ta đang thực hiện một hành động ngưng tụ.
3. Then (using the creative imagination and seeing yourself as a responsible transmitter, doing the work of the Ashram) breathe out the idea as a formulated, living thoughtform into the great stream of mental substance which is ever playing upon the human consciousness.
3. Sau đó, dùng sự tưởng tượng sáng tạo và thấy mình là một người truyền đạt có trách nhiệm, đang thực hiện công việc của ashram, hãy thở ra ý tưởng ấy như một hình tư tưởng sống động đã thành hình, đưa nó vào dòng chất liệu trí tuệ vĩ đại đang không ngừng tác động lên tâm thức nhân loại.
342. Here the imagination, the breath and the thoughtform are allied for a united act of service.
342. Ở đây, sự tưởng tượng, hơi thở và hình tư tưởng kết hợp với nhau để cùng thực hiện một hành động phụng sự.
343. We are to visualize the great stream of mental substance, thus bringing its reality nearer to our consciousness. Into this stream we are to breath our formulated, living idea.
343. Chúng ta cần hình dung dòng chất liệu trí tuệ vĩ đại, qua đó đưa thực tại của nó đến gần tâm thức chúng ta hơn. Chúng ta cần thở ý tưởng sống động, đã được định hình của mình vào dòng chảy này.
344. We can also see our out-breathed thoughtform entering human consciousness.
344. Chúng ta cũng có thể hình dung hình tư tưởng mà mình đã thở ra đang đi vào tâm thức nhân loại.
345. We are engaged in an act of service and this act is facilitated by the imagination.
345. Chúng ta đang thực hiện một hành động phụng sự, và sự tưởng tượng giúp cho hành động này diễn ra thuận lợi.