← Commentary DINA II (webinar 24-35)

Commentary 24

Trích nội dung chương

Mrs. Bailey asked me to write an introduction to the second volume of "Discipleship in the New Age" and I therefore now gladly comply. The introduction written by her in the first volume may be profitably reread in relation to both volumes. Bà Bailey đã đề nghị tôi viết lời giới thiệu cho tập hai của “Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới”, và giờ đây tôi vui lòng đáp ứng lời đề nghị ấy. Đọc lại lời giới thiệu do Bà viết trong tập một sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu cả hai tập.


Commentary 24

[xi – xiii]

commentary by Michael D. Robbins

BY ALICE A. BAILEY

COPYRIGHT © 1955 BY LUCIS TRUST

COPYRIGHT RENEWED © 1983 BY LUCIS TRUST

Dedicated to the Master Djwhal Khul

[Page xi]

[Page xi]

INTRODUCTION

LỜI GIỚI THIỆU

Mrs. Bailey asked me to write an introduction to the second volume of "Discipleship in the New Age" and I therefore now gladly comply. The introduction written by her in the first volume may be profitably reread in relation to both volumes.

Bà Bailey đã đề nghị tôi viết lời giới thiệu cho tập hai của “Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới”, và giờ đây tôi vui lòng đáp ứng lời đề nghị ấy. Đọc lại lời giới thiệu do Bà viết trong tập một sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu cả hai tập.

1. The two volumes together constitute one great work. DINA I prepares for DINA II, which is incomplete without its predecessor.

1. Hai tập hợp lại thành một tác phẩm lớn. DINA I chuẩn bị cho DINA II; nếu thiếu tập trước, DINA II sẽ không trọn vẹn.

The Master Djwhal Khul, known also as "The Tibetan," took advantage of the opportunity of the availability of A.A.B. as a trained collaborator and initiated an unique and pioneering experiment in new age training for group initiation

Chân sư Djwhal Khul, còn được biết đến với danh xưng “Chân sư Tây Tạng”, đã tận dụng cơ hội có A.A.B. làm cộng sự được huấn luyện để khởi xướng một cuộc thử nghiệm độc đáo và tiên phong về việc huấn luyện cho điểm đạo nhóm trong kỷ nguyên mới.

2. By the time this introduction had been given out, it had been inadvertently disclosed that the “Tibetan” was Master Djwhal Khul.

2. Vào thời điểm lời giới thiệu này được công bố, người ta đã vô tình tiết lộ rằng “Chân sư Tây Tạng” chính là Chân sư Djwhal Khul.

3. The experiment was indeed unique—unique in the degree of attention given by a Master of the Wisdom to the impartation of the details of the Ageless Wisdom, and unique in the quality of subtle receptivity demonstrated by AAB.

3. Quả thật, cuộc thử nghiệm này rất độc đáo—độc đáo ở mức độ quan tâm mà một Chân sư Minh Triết dành cho việc truyền đạt những chi tiết của Minh Triết Ngàn Đời, và độc đáo ở phẩm tính tiếp nhận tinh tế mà AAB thể hiện.

4. We should note that not only was AAB a “collaborator” with the Tibetan, but a “trained” collaborator. It is this training which is so often missing in those who seek to cooperate with higher beings.

4. Chúng ta cần lưu ý rằng AAB không chỉ là một “cộng sự” của Chân sư Tây Tạng, mà còn là một cộng sự “đã qua huấn luyện”. Chính sự huấn luyện này lại thường thiếu ở những người tìm cách hợp tác với các Đấng cao cả hơn.

This involved the entry of those qualifying into His Ashram there to stay as they hastened their progress or to pass on to other Ashrams as the case might be.

Cuộc thử nghiệm này bao gồm việc những người đủ điều kiện gia nhập Ashram của Ngài, ở lại đó trong khi đẩy nhanh bước tiến của mình, hoặc chuyển sang các Ashram khác tùy từng trường hợp.

5. The experiment was really one of externalizing an Ashram. As we study the process we learn much concerning the qualifications of those who would enter the Ashram of one of the Masters.

5. Thực chất, cuộc thử nghiệm này là việc ngoại hiện một ashram. Khi nghiên cứu tiến trình ấy, chúng ta học được nhiều điều về những phẩm chất cần có ở những người muốn gia nhập ashram của một trong các Chân sư.

For this purpose the Master selected some fifty people, most but not all of whom were known to A.A.B., to whom this unique and transcendent opportunity was offered.

Vì mục đích này, Chân sư đã chọn khoảng năm mươi người, phần lớn nhưng không phải tất cả đều là những người A.A.B. quen biết, và trao cho họ cơ hội độc đáo và siêu việt này.

6. FB speaks of the opportunity for such training as “transcendent”; indeed we can see that it transcended ordinary developmental opportunity.

6. FB nói rằng cơ hội được huấn luyện như thế là “siêu việt”; quả thật, chúng ta có thể thấy cơ hội ấy vượt trên những cơ hội phát triển thông thường.

7. Some have wondered how they might have responded to such an opportunity; there is no way to know for certain, but perhaps the answer is “Very much as the others responded”.

7. Một số người tự hỏi mình có thể đã đáp ứng thế nào trước một cơ hội như vậy; không có cách nào biết chắc, nhưng có lẽ câu trả lời là “Rất giống cách những người khác đã đáp ứng”.

Almost everyone accepted but some did not stay very long. It was not easy.

Gần như mọi người đều đón nhận, nhưng một số đã không ở lại được lâu. Điều đó không dễ dàng.

8. Such was the eager anticipation, somewhat divorced from realism. Few there were who could anticipate the difficulties. Were there any?

8. Đó là một niềm háo hức mong đợi có phần xa rời thực tế. Rất ít người có thể lường trước những khó khăn. Liệu có ai như thế chăng?

As was inevitable and very human, some as time went on reacted well, others not.

Theo thời gian, như một điều tất yếu và rất đỗi con người, một số đáp ứng tốt, còn những người khác thì không.

9. The emphasis should be placed upon the word react, for many of the responses to the training were emotional or kama-manasic, i.e. , unreasoned and un-illumined

9. Cần nhấn mạnh từ phản ứng, vì nhiều đáp ứng đối với sự huấn luyện mang tính cảm xúc hoặc trí-cảm, tức là thiếu suy xét và chưa được soi sáng

It is hard to keep a right balance between the soul and the personality when the spiritual stimulant is relentlessly high. The rushing into the personal life of soul force is like sunshine in a garden. Weeds as well as flowers emerge.

Thật khó giữ sự cân bằng đúng đắn giữa linh hồn và phàm ngã khi sự kích thích tinh thần liên tục ở mức cao. Mãnh lực linh hồn tràn vào đời sống cá nhân cũng giống như ánh nắng chiếu vào một khu vườn. Cả cỏ dại lẫn hoa đều mọc lên.

10. FB’s voice of experience speaks. We should note the word “relentlessly”, for once a prospective group member accepted the training, the exposure to spiritual pressure was constant.

10. FB lên tiếng từ kinh nghiệm của mình. Chúng ta nên lưu ý từ “liên tục”, vì một khi một thành viên tiềm năng của nhóm đã chấp nhận sự huấn luyện, người ấy phải thường xuyên chịu áp lực tinh thần.

11. Some imagine that the constant in-pouring of soul force is easy to bear, that it is a uniformly pleasant thing, but the revelations and energy-conditions produced can be distressing.

11. Một số người hình dung rằng mãnh lực linh hồn liên tục tuôn vào là điều dễ chịu đựng, rằng điều đó luôn dễ chịu, nhưng những mặc khải và trạng thái năng lượng do đó tạo ra có thể gây khổ sở.

It was a new age group forcing process, tested in operation by the use of this group of chelas all of whom had voluntarily accepted, and any one of whom was free to leave at any time without blame.

Đó là một tiến trình thúc đẩy sự phát triển nhóm trong kỷ nguyên mới, được thử nghiệm qua hoạt động của nhóm đệ tử này; tất cả đều tự nguyện chấp nhận tham gia, và bất cứ ai cũng có thể tự do rời nhóm vào bất cứ lúc nào mà không bị trách cứ.

12. This type of training was a “forcing process”. We remember that the process of initiation instituted relatively recently in the history of humanity is also a forcing process. Whenever force is applied (especially to the usually resistant personality), a measure of pain is to be expected.

12. Loại hình huấn luyện này là một “tiến trình thúc đẩy sự phát triển”. Chúng ta nhớ rằng tiến trình điểm đạo, được thiết lập tương đối gần đây trong lịch sử nhân loại, cũng là một tiến trình thúc đẩy sự phát triển. Bất cứ khi nào mãnh lực được vận dụng (đặc biệt là lên phàm ngã vốn thường kháng cự), chúng ta có thể dự liệu sẽ có một mức độ đau đớn nào đó.

13. We note the emphasis upon free will. Membership was accepted voluntarily and all were free leave voluntarily. We note that no blame was to be attached to any such departures, though doubtlessly some departing disciples blamed themselves or AAB (rather than the Tibetan).

13. Chúng ta lưu ý sự nhấn mạnh vào ý chí tự do. Mọi người đều tự nguyện chấp nhận tư cách thành viên và đều có thể tự do rời nhóm theo ý nguyện. Chúng ta lưu ý rằng không ai bị trách cứ vì những lần rời nhóm như thế, dù chắc chắn một số đệ tử rời nhóm đã tự trách mình hoặc trách Bà AAB (thay vì Chân sư Tây Tạng).

The values achieved were much more than any obvious comment can display. Much of the deeper values are more subtle and slow to emerge.

Những giá trị đạt được vượt xa những gì bất kỳ lời nhận xét hiển nhiên nào có thể trình bày. Nhiều giá trị sâu xa hơn vốn tinh tế hơn và chậm bộc lộ.

14. A most important point is made. This is subtle work and its benefits cannot easily be described. In our own life of discipleship we can recognize the factor of slow, subtle emergence.

14. Một điểm hết sức quan trọng được nêu ra. Đây là công việc tinh tế và không dễ mô tả những lợi ích của nó. Trong chính đời sống đệ tử của mình, chúng ta có thể nhận ra yếu tố bộc lộ chậm rãi và tinh tế.

Individuals benefited greatly. As a group achievement it was not a success as is made abundantly clear in these pages, but the group is a living entity on the inner planes of possible great future usefulness.

Từng cá nhân đã nhận được lợi ích lớn lao. Xét về thành tựu của nhóm, cuộc thử nghiệm này đã không thành công, như những trang sách này cho thấy hết sức rõ ràng; nhưng nhóm vẫn là một thực thể sống động trên các cõi bên trong, có khả năng đem lại lợi ích lớn lao trong tương lai.

15. This pioneering process was meant to benefit groups directly and individuals only incidentally (which it did).

15. Tiến trình tiên phong này nhằm trực tiếp mang lại lợi ích cho các nhóm, còn lợi ích cho các cá nhân chỉ là kết quả phụ (và tiến trình ấy quả đã mang lại lợi ích cho họ).

16. FB is direct is noting that the group did not succeed outwardly, however, he seems to salvage the process by noting that on the inner planes the group is a living entity with considerable possible future potential. The lesson for us is that no good work is ever lost even if immediate outer objectives are not achieved according to plan.

16. FB thẳng thắn ghi nhận rằng nhóm đã không thành công về mặt bên ngoài, tuy nhiên, dường như ông muốn cứu vãn giá trị của tiến trình ấy khi lưu ý rằng trên các cõi bên trong, nhóm là một thực thể sống động với tiềm năng đáng kể có thể phát huy trong tương lai. Bài học cho chúng ta là không một công việc tốt đẹp nào mất đi, ngay cả khi những mục tiêu bên ngoài trước mắt không đạt được theo kế hoạch.

17. It may well be that in these days preceding the true beginning of the Aquarian Age, there are many experiments and rehearsals which shall become successful achievements and performances a few centuries from now.

17. Rất có thể trong thời kỳ hiện nay, trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình thực sự bắt đầu, có nhiều cuộc thử nghiệm và diễn tập sẽ trở thành những thành tựu và những cuộc trình diễn thành công trong vài thế kỷ tới.

[Page xii]

[Page xii]

Mrs. Bailey gave unsparingly of her life and strength to do this work which was to her an extra and a heavy burden. It was particularly distasteful to her to take the personal instructions. Indeed sometimes when certain individuals did not like what the Tibetan said to them about themselves they blamed her.

Bà Bailey đã cống hiến không tiếc cuộc đời và sức lực của mình để thực hiện công việc này, một công việc mà đối với Bà là gánh nặng lớn lao thêm vào những trách nhiệm sẵn có. Bà đặc biệt không thích việc ghi nhận các huấn thị cá nhân. Quả thật, đôi khi một số người không thích những điều Chân sư Tây Tạng nói với họ về chính họ, thì họ lại trách cứ Bà.

18. AAB’s sacrifice in handling this group of chelas is made abundantly clear. Her spiritual generosity is called to our attention. One day, at the right time and in the right place, we will be called upon to do likewise.

18. Sự hi sinh của Bà AAB trong việc phụ trách nhóm đệ tử này được trình bày hết sức rõ ràng. Lòng quảng đại tinh thần của Bà được nêu lên để chúng ta chú ý. Một ngày nào đó, vào đúng lúc và đúng nơi, chúng ta sẽ được kêu gọi làm điều tương tự.

19. It is astonishing to realize that there were group members who blamed her for what the Tibetan imparted. Her attitude to the whole process was sacrificial and impersonal. Her likes and dislikes were not allowed to enter the dictation process.

19. Thật đáng kinh ngạc khi nhận ra rằng có những thành viên trong nhóm đã trách cứ Bà về những điều Chân sư Tây Tạng truyền đạt. Thái độ của Bà đối với toàn bộ tiến trình là hi sinh và vô ngã. Bà không để những điều mình thích hay không thích xen vào tiến trình đọc truyền.

The training given to this group was not a part of Mrs. Bailey's system of training in the Arcane School. The Arcane School is not a training school for initiation and the goal is not to help the student to get into an ashram or to contact a Master.

Việc huấn luyện dành cho nhóm này không thuộc hệ thống huấn luyện của Bà Bailey tại Trường Arcane. Trường Arcane không phải là một trường huấn luyện để điểm đạo, và mục tiêu của trường không phải là giúp đạo sinh gia nhập một ashram hay tiếp xúc với một Chân sư.

20. The more modest objectives of the Arcane School are contrasted with the objectives set before those who became members of the Tibetan’s specialized groups.

20. Những mục tiêu khiêm tốn hơn của Trường Arcane được đặt trong sự đối chiếu với những mục tiêu đề ra cho những người đã trở thành thành viên các nhóm chuyên biệt của Chân sư Tây Tạng.

21. It is important to maintain clarity about one’s possibilities and objectives or else inflation can set in.

21. Điều quan trọng là phải luôn thấy rõ khả năng và mục tiêu của mình, nếu không, sự tự cao có thể nảy sinh.

The purpose of the Arcane School is, and always has been, to help the student to move forward more quickly on the Path of Discipleship. It does not deal either with the problems incident to the Probationary Path nor of the Path of Initiation.

Mục đích của Trường Arcane, từ trước đến nay, vẫn luôn là giúp đạo sinh tiến nhanh hơn trên Con Đường Đệ Tử. Trường không đề cập đến những vấn đề nảy sinh trên Con Đường Dự Bị, cũng không đề cập đến những vấn đề của Con Đường Điểm Đạo.

22. The Arcane School, we see, was intended to occupy a middle position. Neither was it for probationers nor for those treading the Path of Initiation, though doubtlessly a number of students who have passed through its training were treading the Path of Initiation in its earlier states.

22. Chúng ta thấy rằng Trường Arcane được dự định giữ một vị trí ở giữa. Trường không dành cho những người dự bị, cũng không dành cho những người đang bước trên Con Đường Điểm Đạo, dù chắc chắn một số đạo sinh từng trải qua chương trình huấn luyện của trường đã bước trên những giai đoạn đầu của Con Đường Điểm Đạo.

The Master Djwhal Khul has stated that in the new age the field of training for the disciple is in the New Group of World Servers.

Chân sư Djwhal Khul đã khẳng định rằng trong kỷ nguyên mới, môi trường huấn luyện dành cho đệ tử nằm trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

23. It is hard to over-estimate the value of this statement. There are two ways the disciple can be trained with respect to the NGWS: either by serving subjectively within this group, or (in the later stages of discipleship) by assisting those members of the NGWS who may be treading earlier stages of the Path.

23. Khó có thể đánh giá quá cao giá trị của lời khẳng định này. Có hai cách để đệ tử được huấn luyện trong mối liên hệ với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian: hoặc phụng sự về mặt chủ quan trong nhóm này, hoặc (ở những giai đoạn sau của địa vị đệ tử) trợ giúp những thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể đang bước trên những giai đoạn đầu của Đường Đạo.

The decision to publish the record (or most of it) was an unexpected development to the Tibetan but welcomed by Him. He said that this act attracted the attention of other members of the Hierarchy.

Quyết định xuất bản bản ghi chép này (hay phần lớn nội dung của nó) là một diễn biến bất ngờ đối với Chân sư Tây Tạng, nhưng Ngài hoan nghênh điều đó. Ngài nói rằng hành động này đã thu hút sự chú ý của các thành viên khác trong Thánh đoàn.

24. FB alludes to the fact that not all of the correspondence concerning the Groups of IX has been published, but certainly the great majority of that material has found its way into book form.

24. FB ám chỉ rằng không phải toàn bộ thư từ liên quan đến các Nhóm IX đều đã được xuất bản, nhưng chắc chắn đại đa số tài liệu ấy đã được đưa vào sách.

25. We note that the decision to publish the material found in DINA I was not the Tibetan’s decision. This demonstrates the importance of disciplic initiative in even those matters which relate to the Hierarchy.

25. Chúng ta lưu ý rằng quyết định xuất bản tài liệu trong DINA I không phải là quyết định của Chân sư Tây Tạng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự chủ động nơi đệ tử, ngay cả trong những vấn đề liên quan đến Thánh đoàn.

26. It is interesting to note that this decision to publish was noticed by other members of the Hierarchy. They are attentive to all that might advance the cause of love and wisdom in the world. Elsewhere, Master DK spoke of the great value of DINA I for attracting readers towards the Ashram.

26. Thật thú vị khi lưu ý rằng các thành viên khác của Thánh đoàn đã chú ý đến quyết định xuất bản này. Các Ngài quan tâm đến mọi điều có thể thúc đẩy sự nghiệp tình thương và minh triết trên thế giới. Ở một chỗ khác, Chân sư DK đã nói đến giá trị to lớn của DINA I trong việc thu hút độc giả hướng về Ashram.

The appearance of the first volume has already proved a major addition to the entire esoteric field, especially in terms of what modern discipleship really is, and the practical realistic attitude that a Master has to his chela.

Sự ra đời của tập thứ nhất đã chứng tỏ đây là một đóng góp lớn cho toàn bộ lĩnh vực huyền bí học, đặc biệt về thực chất của địa vị đệ tử trong thời hiện đại, và thái độ thực tiễn, sát với thực tế của một Chân sư đối với đệ tử của Ngài.

27. We who are readers of DINA I can certainly confirm what FB says here.

27. Là độc giả của DINA I, chúng ta chắc chắn có thể xác nhận những điều FB nói ở đây.

28. One of the most important values of the DINA material is the accurate portrayal of the relationship between the Masters and His chelas. There are so many glamorous conceptions surrounding that question that the record needed to be set straight.

28. Một trong những giá trị quan trọng nhất của tài liệu DINA là sự khắc họa chính xác mối quan hệ giữa các Chân sư và các đệ tử của các Ngài. Có quá nhiều quan niệm đầy ảo cảm xoay quanh vấn đề ấy, nên cần phải làm sáng tỏ sự thật.

This second volume brings additional teaching both in the general text and in the remaining personal instructions which are amazingly frank and direct.

Tập thứ hai này đem đến thêm giáo huấn, cả trong phần văn bản chung lẫn các huấn thị cá nhân còn lại, vốn thẳng thắn và trực tiếp đến kinh ngạc.

29. FB speaks of the frankness and directness of the personal instructions. While students in the earlier groups experienced various crises, still deeper crises arose in their later training. The letters in DINA II were written to students, most of whom had been with the Tibetan for almost ten years (when the Group of Twenty-Four began). He must have thought that such experienced students could take the “straight medicine”.

29. FB nói đến tính thẳng thắn và trực tiếp của những huấn thị cá nhân. Tuy các đạo sinh trong những nhóm trước đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng khác nhau, những cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn nữa vẫn nảy sinh trong giai đoạn huấn luyện về sau của họ. Các bức thư trong DINA II được viết cho những đạo sinh mà phần lớn đã theo học Chân sư Tây Tạng gần mười năm (khi Nhóm Hai Mươi Bốn bắt đầu). Hẳn Ngài đã nghĩ rằng những đạo sinh giàu kinh nghiệm như thế có thể tiếp nhận “liều thuốc thẳng thừng” này.

30. Though a Master has mastered the illusion of time, He continually gauges His work with respect to time (as it is experienced in the three lower worlds). Simply put, directness saves time.

30. Dù một Chân sư đã làm chủ ảo tưởng về thời gian, Ngài vẫn liên tục đánh giá công việc của mình trong tương quan với thời gian (như thời gian được trải nghiệm trong ba cõi thấp). Nói đơn giản, sự thẳng thắn giúp tiết kiệm thời gian.

A few personally assigned meditations are included to show the technique of the training in individual cases, but the individual training was always incidental to a planned special group achievement.

Một vài bài thiền được giao riêng cho từng người cũng được đưa vào để minh họa kỹ thuật huấn luyện trong những trường hợp cá biệt, nhưng việc huấn luyện cá nhân luôn chỉ là phần phụ trong nỗ lực đạt đến một thành tựu đặc biệt của nhóm đã được hoạch định.

31. Every student received personal meditations designed to facilitate growth and usefulness to the group. Only some of these meditations are included in the DINA books, largely because they had personal relevance only to the student for whom they were intended. In general, those meditations which had the promise of broad usefulness amongst the rank and file of esoteric students were included.

31. Mỗi đạo sinh đều nhận được những bài thiền cá nhân nhằm hỗ trợ sự phát triển và gia tăng khả năng đóng góp cho nhóm. Chỉ một số bài thiền này được đưa vào các sách DINA, chủ yếu vì chúng chỉ có ý nghĩa riêng đối với đạo sinh được giao thực hành. Nhìn chung, những bài thiền có triển vọng mang lại lợi ích rộng rãi cho đông đảo đạo sinh huyền bí học đã được đưa vào.

32. We are familiar with the thought that development of the group comes first, and that personal/individual training is always secondary to group training. This is a truth easily stated but not so easily assimilated because, fundamentally, most of us are so interested in our selves (which means, very often, our personal selves).

32. Chúng ta đã quen với tư tưởng rằng sự phát triển của nhóm được đặt lên hàng đầu, và việc huấn luyện cá nhân luôn đứng sau việc huấn luyện nhóm. Đây là một chân lý dễ nói ra nhưng không dễ thấm nhuần, bởi về căn bản, phần lớn chúng ta đều quá quan tâm đến bản ngã của mình (mà rất thường có nghĩa là những bản ngã cá nhân của chúng ta).

It should be remembered that these meditations are dangerous to use except as prescribed by a Master and used under His watchful eye, just as there are many medicines available to the public which are not safe except as directed by a physician.

Cần nhớ rằng việc sử dụng những bài thiền này là nguy hiểm, trừ khi có chỉ định của một Chân sư và thực hành dưới sự theo dõi sát sao của Ngài, cũng như có nhiều loại thuốc công chúng có thể mua được nhưng chỉ an toàn khi sử dụng theo chỉ dẫn của bác sĩ.

33. The analogy here offered is one that should be constantly remembered. Medicine is not only physical. The persistent use of an unsuitable meditation could have effects similar to the taking of an unsuitable, un-prescribed medicine. The Master is a superb spiritual physician.

33. Phép tương đồng nêu ở đây là điều cần luôn ghi nhớ. Thuốc không chỉ dành cho thể xác. Việc kiên trì thực hành một bài thiền không phù hợp có thể gây ra những tác động tương tự như dùng một loại thuốc không phù hợp, không được kê đơn. Chân sư là một lương y tinh thần xuất sắc.

34. Perhaps we should remind ourselves of the subtlety of esoteric training and the subtle dangers involved.

34. Có lẽ chúng ta nên tự nhắc mình về tính tinh tế của việc huấn luyện huyền bí học và những nguy hiểm tinh vi đi kèm.

An examination of the text will reveal many factors knowable only to a Master which made these meditations safe and the breathing exercises useful while He was watching [Page xiii] the effects.

Việc khảo sát văn bản sẽ cho thấy nhiều yếu tố mà chỉ một Chân sư mới có thể biết, nhờ đó những bài thiền này trở nên an toàn và các bài tập thở đem lại lợi ích trong khi Ngài theo dõi [xiii] những tác động của chúng.

35. FB elaborates the point. We must be realistic about what we know and what we do not. Thus far, we know far less than Master DK.

35. FB trình bày rõ hơn điểm này. Chúng ta phải thực tế về những gì mình biết và những gì mình không biết. Cho đến nay, chúng ta biết ít hơn Chân sư DK rất nhiều.

36. The assigning meditations is a serious matter; especially serious is the assigning of breathing exercises which involve a direct manipulation of etheric currents with their reflex effect upon the physical body.

36. Việc giao các bài thiền là một vấn đề nghiêm túc; đặc biệt nghiêm túc là việc giao các bài tập thở có liên quan đến sự điều khiển trực tiếp các dòng dĩ thái cùng tác động phản hồi của chúng lên thể xác.

For example: He knew not only the Ray qualities of all the vehicles but also the degree of response to Ray stimulant of any particular vehicle in relation to total, balanced progress.

Chẳng hạn: Ngài không chỉ biết các phẩm tính cung của mọi vận cụ, mà còn biết mức độ đáp ứng của từng vận cụ cụ thể đối với sự kích thích của cung trong tương quan với sự tiến bộ toàn diện và quân bình.

37. We learn that it is not enough to know the ray of vehicle, but also to assess the condition of any particular vehicle, so that its degree of responsiveness to ray and other stimulation can be gauged.

37. Chúng ta học được rằng chỉ biết cung của một vận cụ là chưa đủ, mà còn phải đánh giá tình trạng của từng vận cụ cụ thể để có thể xác định mức độ đáp ứng của nó với sự kích thích của cung và những kích thích khác.

38. Our ability to ‘know’ the rays is largely inferential, and we can never be entirely certain that our judgment is correct. Our knowledge of the actual occult condition of any particular vehicle is, truthfully, minimal compared to that of a Master.

38. Khả năng ‘biết’ các cung của chúng ta phần lớn dựa trên suy luận, và chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng nhận định của mình là đúng. Thành thật mà nói, hiểu biết của chúng ta về tình trạng huyền bí thực tế của bất kỳ vận cụ cụ thể nào cũng đều rất ít ỏi so với hiểu biết của một Chân sư.

He knew also the conditioning Rays of the previous incarnation which may appear as a "hangover" not to be developed but to be transcended.

Ngài cũng biết các cung đã định hình kiếp lâm phàm trước, vốn có thể xuất hiện như một “dư âm” cần vượt qua chứ không phải tiếp tục phát triển.

39. Here, again, is a most important statement. The term “hangover” is graphic and even amusing. We have called such rays, ‘legacy rays’, with the suggestion that one ‘inherits’ them from oneself.

39. Một lần nữa, đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Từ “dư âm” rất gợi hình và thậm chí còn thú vị. Chúng ta đã gọi những cung như thế là ‘các cung di sản’, với hàm ý rằng người ta ‘thừa hưởng’ chúng từ chính mình.

40. We may think about what may have been important rays in our previous incarnations, but again, our knowledge is largely inferential.

40. Chúng ta có thể suy nghĩ xem những cung nào có lẽ đã đóng vai trò quan trọng trong các kiếp lâm phàm trước của mình, nhưng một lần nữa, hiểu biết của chúng ta phần lớn vẫn dựa trên suy luận.

He knew the astrological characteristics of the soul, a factor as yet unknown to present day astrology but of much importance in advanced stages of discipleship.

Ngài biết những đặc điểm chiêm tinh của linh hồn, một yếu tố mà chiêm tinh học ngày nay vẫn chưa biết đến, nhưng lại rất quan trọng trong những giai đoạn tiến xa trên Con Đường Đệ Tử.

41. FB gives an important hint. Of course DK knew the important astrological characteristics of the present personality of each of His students, but He also knew the “astrological characteristics of the soul”. Such knowledge is one of the true goals of esoteric astrology.

41. FB đưa ra một gợi ý quan trọng. Dĩ nhiên, Chân sư DK biết những đặc điểm chiêm tinh quan trọng của phàm ngã hiện tại của từng môn sinh của Ngài, nhưng Ngài cũng biết những “đặc điểm chiêm tinh của linh hồn”. Hiểu biết như thế là một trong những mục tiêu đích thực của chiêm tinh học nội môn.

42. Some may not have considered that every soul as certain defining and ongoing astrological characteristics. These are influential and must be considered along with (and in interplay with) the more obvious ray and astrological characteristics of the personality.

42. Một số người có thể chưa từng nghĩ rằng mỗi linh hồn đều có những đặc điểm chiêm tinh nhất định mang tính xác định và tồn tại lâu dài. Những đặc điểm này có ảnh hưởng và cần được xem xét cùng với (và trong sự tương tác với) những đặc điểm về cung và chiêm tinh dễ nhận thấy hơn của phàm ngã.

He knew the exact condition and degree of unfoldment of all the force centres in the chela which in certain cases He stated in exact percentages. Even with this knowledge given us we could not know which centre to stimulate next nor how much.

Ngài biết chính xác tình trạng và mức độ khai mở của tất cả các trung tâm mãnh lực trong người đệ tử; trong một số trường hợp, Ngài đã nêu rõ bằng những tỉ lệ phần trăm chính xác. Ngay cả khi có được kiến thức này, chúng ta cũng không thể biết tiếp theo cần kích thích trung tâm nào, cũng như kích thích đến mức nào.

43. FB continues His realistic assessment of the Master’s knowledge with respect to the chelas taken for training.

43. FB tiếp tục đánh giá một cách thực tế về hiểu biết của Chân sư đối với những đệ tử được Ngài nhận huấn luyện.

44. With respect to chakric unfoldment, we often have some general ideas, but He gauged the degree of unfoldment and the potential for further unfoldment with exactitude. A study of the instructions of BSD reveals this.

44. Về sự khai mở của các luân xa, chúng ta thường có một vài ý niệm khái quát, nhưng Ngài xác định chính xác mức độ khai mở và tiềm năng khai mở thêm. Việc nghiên cứu những huấn thị dành cho BSD cho thấy điều này.

45. Understanding the degree of chakric unfoldment is not, in itself, sufficient. Do any of us truly know, with respect to ourselves or another, which chakra is next to be stimulated, how much it is to be stimulated and how to undertake that stimulation?

45. Chỉ thấu hiểu mức độ khai mở của các luân xa thôi thì chưa đủ. Có ai trong chúng ta thực sự biết, đối với bản thân mình hay người khác, luân xa nào cần được kích thích tiếp theo, cần kích thích đến mức nào và phải thực hiện sự kích thích ấy ra sao?

46. Thus, a considerable degree of humility is required of us in these matters.

46. Do đó, trong những vấn đề này, chúng ta cần có một mức độ khiêm nhường đáng kể.

Moreover Djwhal Khul has said that given a consecrated active life of selfless service to one's fellowman the centres will unfold naturally and safely without attention to them.

Hơn nữa, Chân sư Djwhal Khul đã nói rằng với một đời sống tích cực, thánh hiến cho việc phụng sự vô ngã đối với đồng loại, các trung tâm sẽ khai mở một cách tự nhiên và an toàn mà không cần chú ý đến chúng.

47. The safest manner of unfoldment (now familiar to us) is again brought to our attention. It is not through direct attention to the centers that they rightly unfold (though such attention when guided by a Master can be useful), but through a “consecrated active life of selfless service”. Man is a psycho-spiritual being and the psycho-spiritual factors in his nature take precedence over the physical factors (such as the chakras)—remembering that the personality is (spiritually considered) the body. If the psychological and spiritual approaches are in order, the correct physical effects will occur predictably.

47. Một lần nữa, chúng ta được nhắc đến cách khai mở an toàn nhất (nay đã quen thuộc với chúng ta). Các trung tâm khai mở đúng đắn nhờ một “đời sống tích cực, thánh hiến cho việc phụng sự vô ngã”, chứ không phải nhờ chú ý trực tiếp đến chúng (dù sự chú ý như thế có thể hữu ích khi có một Chân sư hướng dẫn). Con người là một sinh linh tâm lý–tinh thần, và những yếu tố tâm lý–tinh thần trong bản chất của y có vai trò ưu tiên hơn các yếu tố thể chất (chẳng hạn như các luân xa)—hãy nhớ rằng phàm ngã (xét về mặt tinh thần) là thân thể. Nếu các cách tiếp cận về tâm lý và tinh thần đều đúng đắn, những hiệu quả đúng đắn về thể chất sẽ xuất hiện như có thể dự đoán.

The Master also knew the basic and planned purpose of the soul for the present incarnation, the hidden hindering karmic forces working out and the latent spiritual capacities previously achieved which could be wisely called upon.

Chân sư cũng biết mục đích căn bản mà linh hồn đã hoạch định cho kiếp lâm phàm hiện tại, những mãnh lực nghiệp quả cản trở đang âm thầm phát tác, và những năng lực tinh thần tiềm tàng đã đạt được từ trước, có thể được khơi dậy một cách minh triết.

48. We must surely be impressed by all that a Master knows about His chelas—far more than we know of ourselves.

48. Chắc hẳn chúng ta phải cảm thấy ấn tượng trước tất cả những gì một Chân sư biết về các đệ tử của Ngài—nhiều hơn rất xa so với những gì chúng ta biết về chính mình.

49. We struggle to understand the “basic and planned purpose of the soul for the present incarnation”, and of the “hidden hindering karmic forces”, we know very little. Of our hidden spiritual achievements, rooted in the past, we also know rather little, however much we may infer.

49. Chúng ta chật vật để thấu hiểu “mục đích căn bản mà linh hồn đã hoạch định cho kiếp lâm phàm hiện tại”, và chúng ta biết rất ít về “những mãnh lực nghiệp quả cản trở đang âm thầm phát tác”. Chúng ta cũng biết khá ít về những thành tựu tinh thần còn ẩn giấu của mình, bắt nguồn từ quá khứ, dù chúng ta có suy luận nhiều đến đâu.

50. We begin to understand (do we not?) how many factors a Master has to balance when He directs the spiritual life and practices of His chelas.

50. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu (phải vậy không?) rằng một Chân sư phải cân bằng biết bao yếu tố khi Ngài hướng dẫn đời sống tinh thần và các pháp thực hành của các đệ tử của Ngài.

51. These types of knowledge should be reviewed and appreciated. We may also try to determine how best we can approximate such knowledge, while admitting that true and complete knowledge of these matters must presently escape us.

51. Chúng ta nên xem xét lại và trân trọng những dạng hiểu biết này. Chúng ta cũng có thể cố gắng xác định cách tốt nhất để tiến gần đến hiểu biết như thế, đồng thời thừa nhận rằng hiện nay chúng ta hẳn vẫn chưa thể có hiểu biết chân thực và trọn vẹn về những vấn đề này.

Someday we shall have occult schools of meditation giving training for initiation. There are none such today. Those claiming to give such training are false teachers, often sincere but self-deluded. This also has been stated both by the Tibetan and by A.A.B.

Một ngày kia, chúng ta sẽ có những trường tham thiền huyền môn huấn luyện để điểm đạo. Ngày nay chưa có những trường như thế. Những ai tuyên bố cung cấp việc huấn luyện như vậy đều là những huấn sư giả mạo, thường chân thành nhưng tự lừa dối mình. Cả Chân sư Tây Tạng lẫn Bà A.A.B. đều đã khẳng định điều này.

52. FB looks ahead to the future training which, one day, will be offered to chelas on the Path of Discipleship.

52. FB hướng tới việc huấn luyện trong tương lai mà một ngày kia các đệ tử trên Con Đường Đệ Tử sẽ được tiếp nhận.

53. He was writing in 1955, more than five years after AAB’s passing. His assessment of extant schools of occultism was accurate and still holds. While there are a number of good schools offering sound training in the principles of occultism, none of them can claim with justification to offer training for true initiation.

53. Ông viết những dòng này vào năm 1955, hơn năm năm sau khi Bà AAB qua đời. Nhận định của ông về các trường huyền bí học hiện hữu khi ấy là chính xác và đến nay vẫn còn đúng. Tuy có một số trường tốt cung cấp sự huấn luyện vững chắc về các nguyên lý của huyền bí học, nhưng không trường nào có cơ sở chính đáng để tuyên bố rằng mình cung cấp việc huấn luyện cho sự điểm đạo đích thực.

54. The problem of the sincere but self-deluded teacher is very real; there are many such and they cannot see into their delusion. Once they, themselves, are exposed to an authentic Master and subjected to true occult training, they will be able to differentiate between that which they offer and the real thing.

54. Vấn đề những huấn sư chân thành nhưng tự lừa dối mình là điều rất thực tế; có nhiều người như thế và họ không thể nhìn thấu sự mê lầm của mình. Một khi chính họ tiếp xúc với một Chân sư đích thực và trải qua sự huấn luyện huyền môn chân chính, họ sẽ có thể phân biệt những gì mình cung cấp với sự huấn luyện đích thực.

Foster Bailey

Foster Bailey

March 1955

Tháng 3 năm 1955

Commentary 25

[3-13]

INTRODUCTORY REMARKS

January 1940

Tháng Một năm 1940

MY BROTHER: [3]

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: [3]

May I say that when I am able to start my instruction to this New Seed Group with the words “My Brothers,” you will then know that an adequate measure of group-integration has been achieved and that the real group work can begin.

Tôi xin nói rằng khi Tôi có thể bắt đầu huấn thị dành cho Nhóm Hạt Giống Mới này bằng những lời “Các huynh đệ của Tôi”, thì các bạn sẽ biết rằng nhóm đã đạt đến một mức độ tích hợp thích đáng và công việc nhóm thực sự có thể bắt đầu.

1. The word “Brother” is used as a singular. The Tibetan is addressing each member as an individual. The word, “Brothers” would mean that a greater degree of group consciousness and group integration had been achieved. It would signal that the group members had achieved liberation from a largely personal/individual consciousness.

1. Từ “Huynh đệ” được dùng ở số ít. Chân sư Tây Tạng đang nói với từng thành viên như một cá nhân. Cụm từ “Các huynh đệ” sẽ hàm ý rằng nhóm đã đạt đến một mức độ tâm thức nhóm và tích hợp nhóm cao hơn. Điều đó sẽ báo hiệu rằng các thành viên trong nhóm đã thoát khỏi một tâm thức phần lớn còn mang tính cá nhân/cá thể.

I have earlier stated the wider and more important objectives* which are, as you saw, entirely impersonal. I would commit this particular objective to your intelligent consideration.

Trước đây, Tôi đã nêu những mục tiêu rộng lớn và quan trọng hơn i*, vốn hoàn toàn phi cá nhân, như các bạn đã thấy. Tôi muốn giao mục tiêu cụ thể này để các bạn suy xét một cách sáng suốt.

2. Below are the objectives which were given in DINA I and on which commentary has been made. A re-reading of these objectives will be useful in light of the further instruction which the Tibetan now seeks to impart.

2. Dưới đây là những mục tiêu đã được nêu trong DINA I và đã được bình giảng. Việc đọc lại những mục tiêu này sẽ hữu ích dưới ánh sáng của những huấn thị tiếp theo mà giờ đây Chân sư Tây Tạng muốn truyền đạt.

I would like to deal, first of all, with the objectives that I have in mind for all of you:

Trước hết, Tôi muốn bàn đến những mục tiêu mà Tôi dự định dành cho tất cả các bạn:

1. The main present objective.

1. Mục tiêu chính hiện nay.

I seek to bring about a much needed group integration. The polarisation of this group—as a unity upon the mental plane—is not yet accomplished. It is most needed and until this integration has been achieved, the united group inter-communication will not be possible or the desired group work capable of accomplishment. Several of you need to do some careful thinking and should align yourselves in love with your fellow disciples, eliminating all sense of criticism and personal self-satisfaction in your own judgment and rectitude.

Tôi tìm cách mang lại sự tích hợp nhóm hết sức cần thiết. Nhóm này vẫn chưa đạt được sự phân cực trên cõi trí như một thể thống nhất. Điều này vô cùng cần thiết, và chừng nào chưa đạt được sự tích hợp ấy, nhóm sẽ chưa thể giao tiếp với nhau trong sự hợp nhất, cũng chưa thể hoàn thành công việc nhóm mong muốn. Một số người trong các bạn cần suy nghĩ kỹ lưỡng và nên chỉnh hợp với các đệ tử đồng môn trong tình thương, loại bỏ mọi ý muốn chỉ trích và sự tự mãn cá nhân về khả năng phán đoán cũng như sự ngay chính của mình.

2. The future objective of these ashramic groups.

2. Mục tiêu tương lai của các nhóm ashram này.

It is fundamentally necessary that the new groups which are inaugurating the new discipleship should eventually establish a telepathic rapport with each other. Later, when there is a closer individual inter-relation, it will be possible to give definite teaching which will make this increasingly possible, but in the meantime a hint will have to suffice. It is foundational in nature and will have to be accepted and somewhat understood prior to successful work in all these pioneering groups. Think outwardly towards each other in love. Just simply that, my brothers—simply and humbly that and no more than that at present. Can you accept such a simple rule—apparently simple? In this way the etheric body of this group of disciples will be animated by the golden energy and the light of love and thus a network of light will be established which will form a focal point of energy in the etheric body of humanity itself and eventually in the planetary etheric body also.

Điều thiết yếu về căn bản là các nhóm mới đang mở đầu địa vị đệ tử mới cuối cùng phải thiết lập mối giao cảm viễn cảm với nhau. Về sau, khi mối tương quan giữa các cá nhân trở nên mật thiết hơn, sẽ có thể đưa ra giáo huấn cụ thể để ngày càng tạo điều kiện cho việc này, nhưng trong lúc này, một gợi ý sẽ phải là đủ. Gợi ý ấy mang tính nền tảng, và các bạn sẽ phải chấp nhận cũng như phần nào thấu hiểu nó trước khi có thể làm việc thành công trong tất cả các nhóm tiên phong này. Hãy hướng tư tưởng ra ngoài, đến với nhau trong tình thương. Chỉ đơn giản như thế thôi, các huynh đệ của Tôi—một cách đơn giản và khiêm nhường, và hiện giờ chỉ có thế. Các bạn có thể chấp nhận một quy luật đơn giản như vậy—có vẻ đơn giản—không? Bằng cách này, năng lượng vàng kim và ánh sáng của tình thương sẽ tiếp sinh lực cho thể dĩ thái của nhóm đệ tử này; nhờ đó, một mạng lưới ánh sáng sẽ hình thành, tạo nên một tiêu điểm năng lượng trong thể dĩ thái của chính nhân loại, và cuối cùng cả trong thể dĩ thái hành tinh.

3. The general group objective.

3. Mục tiêu chung của nhóm.

This is the shifting of consciousness of all integrated human beings in increasingly large numbers on to the etheric levels of consciousness and activity. This entails conscious work on those levels as energy units, each contributing his individual share and his special quota of energy to the sum total of available etheric energy and doing this both consciously and intelligently. When this is done, the man is then ready for the first initiation [81] and is a true occultist—working with energy under hierarchical guidance.

Đó là chuyển dịch tâm thức của tất cả những người đã tích hợp, với số lượng ngày càng đông, lên các cấp độ tâm thức và hoạt động dĩ thái. Điều này đòi hỏi họ làm việc hữu thức trên các cấp độ ấy như những đơn vị năng lượng, mỗi người đóng góp phần riêng và phần năng lượng đặc thù của mình vào tổng thể năng lượng dĩ thái sẵn có, đồng thời thực hiện điều này một cách hữu thức và sáng suốt. Khi làm được như vậy, con người sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất [81] và là một nhà huyền bí học đích thực—làm việc với năng lượng dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn.

4. The individual objective.

4. Mục tiêu cá nhân.

This necessitates the preparation of the life and consciousness for this new process of group initiation. This group initiation is itself of real import and is dependent upon the unit in the group fitting himself for initiation and at the same time learning to subordinate his spiritual ambition and desires to the group pace and to the necessity of right timing where his fellow disciples are concerned. It involves, therefore, a dual attitude towards the processes of initiation: the adapting of oneself to the needed integration and, secondly, to the development of spiritual responsiveness to impressions from the level of the soul and of the spiritual Hierarchy. It also involves the cultivation of judgment and of wisdom in the establishment of a right inter-relation with the group of disciples so that the group—in this case my group of disciples and definitely a group entity—may move on together. This necessitates the same conditions for the group as always exist for the individual: right integration on the three personality levels and also on soul levels, plus right group impression or responsiveness to the spiritual and higher psychic “gift waves”—as Tibetan occultists call them.

Điều này đòi hỏi phải chuẩn bị đời sống và tâm thức cho tiến trình điểm đạo nhóm mới này. Chính cuộc điểm đạo nhóm này có tầm quan trọng thực sự và tùy thuộc vào việc mỗi đơn vị trong nhóm tự chuẩn bị cho mình đủ điều kiện điểm đạo, đồng thời học cách đặt tham vọng và những mong muốn tinh thần của mình dưới nhịp tiến của nhóm và yêu cầu về thời điểm thích hợp đối với các đệ tử đồng môn. Do đó, điều này bao hàm một thái độ kép đối với các tiến trình điểm đạo: tự thích ứng với sự tích hợp cần thiết và, thứ hai, phát triển khả năng đáp ứng tinh thần với các ấn tượng từ cấp độ linh hồn và Thánh đoàn. Điều này cũng bao hàm việc trau dồi khả năng phán đoán và minh triết khi thiết lập mối tương quan đúng đắn với nhóm đệ tử, để nhóm—trong trường hợp này là nhóm đệ tử của Tôi và rõ ràng là một thực thể nhóm—có thể cùng nhau tiến bước. Điều này đòi hỏi nhóm phải có những điều kiện vốn luôn cần thiết đối với cá nhân: sự tích hợp đúng đắn trên ba cấp độ phàm ngã và cả trên các cấp độ linh hồn, cùng với sự tiếp nhận ấn tượng đúng đắn của nhóm, hay khả năng đáp ứng với những “làn sóng ân ban” tinh thần và thông linh cao cấp—theo cách gọi của các nhà huyền bí học Tây Tạng.

This will take many years and the work of achieving finished group attitudes and relationships through individual understanding and true impersonality can go forward upon the physical plane whilst in incarnation, or it can go on out of incarnation with the same facility. You must always bear in mind that the consciousness remains the same, whether in physical incarnation or out of incarnation, and that development can be carried on with even greater ease than when limited and conditioned by the brain consciousness.

Điều này sẽ mất nhiều năm, và công việc đạt đến những thái độ cùng các mối quan hệ nhóm hoàn thiện, thông qua sự thấu hiểu của cá nhân và tính phi cá nhân đích thực, có thể tiến triển trên cõi hồng trần khi đang nhập thể, hoặc tiếp tục khi không nhập thể cũng thuận lợi như vậy. Các bạn phải luôn ghi nhớ rằng tâm thức vẫn như nhau, dù đang nhập thể trong thể xác hay không nhập thể, và sự phát triển có thể tiếp diễn còn dễ dàng hơn cả khi tâm thức bộ não giới hạn và tác động lên nó.

The attainment of these objectives will involve clear vision and a keen and intelligent understanding; it will require the steady and conscious intensification of group love and group interplay; it will lead all disciples to live lives full of wise purpose and planned spiritual objectives and, at the same time, the service rendered will assume a definite and an automatic technique of expression.

Việc đạt được những mục tiêu này sẽ đòi hỏi tầm nhìn rõ ràng cùng sự thấu hiểu sắc bén và sáng suốt; điều đó sẽ đòi hỏi tăng cường tình thương nhóm và sự tương tác nhóm một cách đều đặn và hữu thức; điều đó sẽ dẫn dắt mọi đệ tử sống một cuộc đời tràn đầy mục đích minh triết và những mục tiêu tinh thần đã được hoạch định, đồng thời việc phụng sự sẽ có một kỹ thuật biểu đạt rõ rệt và tự động.

3. It seems consistently necessary to remind disciples of the factor of impersonality. When impersonality is achieved, it prevents lesser things from looming large in the disciple’s consciousness.

3. Dường như luôn cần nhắc nhở các đệ tử về yếu tố vô ngã. Khi đạt được tính vô ngã, những điều thứ yếu sẽ không còn chiếm vị trí quá lớn trong tâm thức của đệ tử.

I would have you begin your new work with this objective and goal in your defined consciousness. I therefore stated the objective clearly, so that your minds may be tuned to mine—as far as that may be practically possible.

Tôi muốn các bạn bắt đầu công việc mới với mục tiêu và đích đến này được xác định rõ trong tâm thức. Vì vậy, Tôi đã nêu rõ mục tiêu, để thể trí các bạn có thể hòa điệu với thể trí Tôi—trong chừng mực điều ấy có thể thực hiện được trên thực tế.

4. We are reminded that, when attempting to work in relation to the Ashram, the attunement of the disciple’s mind to the mind of the Master is of utmost importance. The Master can use those whose minds are attuned to His.

4. Chúng ta được nhắc nhở rằng, khi cố gắng làm việc trong mối liên hệ với ashram, việc thể trí của đệ tử hòa điệu với thể trí của Chân sư có tầm quan trọng tột bậc. Chân sư có thể sử dụng những người có thể trí hòa điệu với thể trí của Ngài.

Let your horizon be wide, my brother, and your humility great. I am here speaking individually to you, for you are as yet (the majority of you) individually polarised and the group polarisation lies ahead.

Hỡi huynh đệ của tôi, hãy mở rộng tầm nhìn và giữ lòng khiêm nhường sâu sắc. Ở đây, Tôi đang nói với từng người trong các bạn, vì phần lớn các bạn hiện vẫn còn phân cực theo cá nhân, và sự phân cực nhóm vẫn còn ở phía trước.

5. The advice is sound—for all of us. If the horizon is truly “wide”, there is every expectation that there will be a greater “humility”. The achievement of humility derives from the achievement of a broad, deep and realistic perspective about the nature of life. It is the narrow consciousness which seems incapable of humility.

5. Lời khuyên này xác đáng—đối với tất cả chúng ta. Nếu tầm nhìn thực sự “rộng mở”, chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng rằng lòng “khiêm nhường” sẽ lớn hơn. Việc đạt được lòng khiêm nhường bắt nguồn từ việc đạt được một cách nhìn rộng, sâu và thực tế về bản chất của sự sống. Chính tâm thức hạn hẹp dường như không có khả năng khiêm nhường.

6. When one is individually polarized, one’s sense of identity is confined to one’s own, individual ring-pass-not. When group polarization has been achieved, one’s sense of identity resides within the ring-pass-not of the group.

6. Khi một người phân cực theo cá nhân, cảm nhận về bản sắc của người ấy giới hạn trong vòng-giới-hạn cá nhân của chính mình. Khi đã đạt được sự phân cực nhóm, cảm nhận về bản sắc của người ấy nằm trong vòng-giới-hạn của nhóm.

7. It is recommended that the student attempt to visualize both types of polarizations and see what type of ‘inner sense’ arises in so doing.

7. Đạo sinh nên cố gắng hình dung cả hai kiểu phân cực và xem loại ‘cảm nhận bên trong’ nào nảy sinh khi làm như vậy.

I have given much thought to what I have enjoined upon you in your personal instruction. I have attempted to gauge you and your need from the point of the next lesson you need to learn and the next step that you can take which will release you, each and all, for fuller and deeper spiritual service.

Tôi đã suy nghĩ nhiều về những điều Tôi căn dặn các bạn trong huấn thị cá nhân. Tôi đã cố gắng đánh giá các bạn và nhu cầu của các bạn từ góc độ bài học kế tiếp cần học và bước tiếp theo có thể thực hiện, nhằm giải phóng từng người cũng như tất cả các bạn để phụng sự tinh thần đầy đủ và sâu sắc hơn.

8. The Tibetan is ever practical (as was the Buddha). It is not the distant eventualities that concern Him, but the immediate next step.

8. Chân sư Tây Tạng luôn thực tế (Đức Phật cũng vậy). Điều Ngài quan tâm là bước kế tiếp ngay trước mắt, chứ không phải những khả năng xa xôi về sau.

9. It would be fascinating to be aware of the criteria used by the Tibetan in this gauging.

9. Sẽ rất thú vị nếu biết được những tiêu chí mà Chân sư Tây Tạng sử dụng trong việc đánh giá này.

10. The result at which He aims is greater release for deeper spiritual service.

10. Kết quả Ngài nhắm đến là sự giải phóng lớn hơn để phụng sự tinh thần sâu sắc hơn.

I have not attempted to consider you from the point of your attainment upon the Path. I have attempted to aid you in the instructions as a group more than as individuals, and I will therefore ask you to read each other’s instructions with great care, for you will find your name and perhaps some suggestions occurring in other papers than your own. It is as a group that you work and as a group you go forward. [4]

Tôi đã không cố gắng xem xét các bạn từ góc độ thành tựu trên Đường Đạo. Qua các huấn thị, Tôi đã cố gắng trợ giúp các bạn với tư cách một nhóm hơn là những cá nhân, và vì vậy Tôi sẽ yêu cầu các bạn đọc huấn thị của nhau thật cẩn thận, vì các bạn sẽ thấy tên mình và có lẽ cả một số gợi ý trong những tài liệu dành cho người khác. Các bạn làm việc với tư cách một nhóm, và tiến bước với tư cách một nhóm.

11. The Tibetan is using an excellent method of group instruction. There are some students (individually polarized) who would tend to read only their own instructions with great interest, paying only perfunctory attention to the instructions to other group members. DK’s method, however, is to mention different members in the various sets of instructions, to demonstrate that all He writes must be considered by each and all.

11. Chân sư Tây Tạng đang sử dụng một phương pháp huấn thị nhóm tuyệt vời. Có một số đạo sinh (phân cực theo cá nhân) có xu hướng chỉ đọc các huấn thị dành cho mình với sự quan tâm sâu sắc, còn các huấn thị dành cho những thành viên khác trong nhóm thì chỉ chú ý qua loa. Tuy nhiên, phương pháp của Chân sư DK là nhắc đến những thành viên khác nhau trong các loạt huấn thị khác nhau, để cho thấy rằng từng người cũng như tất cả mọi người đều phải suy xét mọi điều Ngài viết.

12. Thus, we see Him, tactically, instilling the idea of group approach.

12. Như vậy, chúng ta thấy Ngài khéo léo thấm nhuần ý tưởng về cách tiếp cận theo nhóm.

13. Eventually, in the consciousness of each of us, the group will assume a position of greater importance than concern for our individual condition.

13. Cuối cùng, trong tâm thức của mỗi chúng ta, nhóm sẽ giữ một vị trí quan trọng hơn mối quan tâm đến tình trạng cá nhân của chúng ta.

The sense of criticism and wrong reaction to each other’s knowledge is rapidly disappearing from among you. That is good.

Tinh thần chỉ trích và phản ứng sai lệch trước sự hiểu biết của nhau đang nhanh chóng biến mất trong các bạn. Điều đó là tốt.

14. Among mentally polarized disciples (and especially among those who are becoming so), criticism is an ever-present difficulty. It is obviously overcome through access to the energy of the heart.

14. Trong số các đệ tử phân cực trí tuệ (và nhất là những người đang trở nên như vậy), sự chỉ trích là một khó khăn luôn hiện hữu. Hiển nhiên, có thể vượt qua khó khăn này bằng cách tiếp cận năng lượng của trái tim.

15. What could be meant by the “wrong reaction to each other’s knowledge”? Could it mean a tendency to misunderstand? Could it mean envy of the knowledge of another?

15. “Phản ứng sai lệch trước sự hiểu biết của nhau” có thể hàm ý điều gì? Liệu đó có thể là khuynh hướng hiểu lầm? Liệu đó có thể là sự đố kỵ với hiểu biết của người khác?

16. One of the obvious liabilities of group work in its initial stages is “wrong reaction” between the personnel of the group. We can ponder on the various types of incorrect interplay with which we may be familiar—on the causes and on possible methods of correcting the problem.

16. Một trong những bất lợi rõ rệt của công việc nhóm trong các giai đoạn đầu là “phản ứng sai lệch” giữa các thành viên trong nhóm. Chúng ta có thể suy ngẫm về những kiểu tương tác không đúng đắn mà mình có thể đã biết—về nguyên nhân và những phương pháp khả dĩ để khắc phục vấn đề.

The growth of impersonality must be steady and sure. The faults evidenced by each and all of you are on the surface of your lives, but the deep inner integration and the activity of the divine nature in each of you is more definitely vital than before.

Tính phi cá nhân phải phát triển đều đặn và vững chắc. Những khuyết điểm mà từng người cũng như tất cả các bạn bộc lộ đều nằm trên bề mặt đời sống, nhưng sự tích hợp sâu xa bên trong và hoạt động của bản chất thiêng liêng nơi mỗi người rõ ràng đã có sức sống mạnh mẽ hơn trước.

17. The Tibetan looks beneath the surface and seems to counsel us to do the same.

17. Chân sư Tây Tạng nhìn xuống bên dưới bề mặt và dường như khuyên chúng ta cũng làm như vậy.

18. When we detect a fault in a brother, perhaps we should remind ourselves that we are probably looking as a ‘surface event’. It will be impersonality that allows us to react correctly to that which we perceive. “Each sees and knows the villainy of each. And yet there is with that great revelation no turning back, no spurning of each other, no shakiness upon the Road. The Road goes forward into day.”

18. Khi phát hiện một khuyết điểm nơi một huynh đệ, có lẽ chúng ta nên tự nhắc mình rằng rất có thể chúng ta đang nhìn vào một ‘sự việc trên bề mặt’. Chính tính phi cá nhân sẽ cho phép chúng ta phản ứng đúng đắn với điều mình nhận thấy. “Mỗi người đều thấy và biết sự xấu xa của nhau. Tuy nhiên, trước sự mặc khải lớn lao ấy, không ai quay lưng, không ai hắt hủi nhau, không ai chao đảo trên Đường Đạo. Đường Đạo tiến về phía ánh sáng ban ngày.”

I do not say that it is as yet in full right outer expression. It can and does produce at times a surface turmoil, but this, if rightly handled, need cause no true disturbance.

Tôi không nói rằng điều đó hiện đã biểu lộ ra bên ngoài một cách hoàn toàn đúng đắn. Đôi khi nó có thể và thực sự tạo ra xáo trộn trên bề mặt, nhưng nếu xử lý đúng cách, điều này không nhất thiết gây ra bất cứ sự rối loạn thực sự nào.

19. Let us ponder the distinction between a “surface turmoil” and a “true disturbance”. Surface turmoils will not affect the fundamental structure of group interplay (or essential group relations). A true disturbance would.

19. Chúng ta hãy suy ngẫm về sự khác biệt giữa một “xáo trộn trên bề mặt” và một “rối loạn thực sự”. Những xáo trộn trên bề mặt sẽ không ảnh hưởng đến cấu trúc nền tảng của sự tương tác trong nhóm (hay những mối quan hệ cốt yếu trong nhóm). Một rối loạn thực sự thì sẽ ảnh hưởng.

Give to each other real love in the times that lie ahead, for it is the fusing and illuminating element in the life of the disciple. Let not your love remain theoretical, but give that true understanding which ignores mistakes, recognises no barriers, refuses all separating thoughts, and surrounds each other with that protecting wall of love that meets all need wherever possible—physical, emotional and mental.

Trong thời gian sắp tới, hãy dành cho nhau tình thương chân thật, vì đó là yếu tố dung hợp và soi sáng trong đời sống của người đệ tử. Đừng để tình thương của các bạn chỉ dừng lại ở lý thuyết, mà hãy trao cho nhau sự thấu hiểu chân thật, không chấp nhặt lỗi lầm, không thừa nhận rào cản, khước từ mọi tư tưởng chia rẽ, và bao bọc nhau bằng bức tường tình thương che chở, đáp ứng mọi nhu cầu ở bất cứ nơi nào có thể—về thể chất, cảm xúc và trí tuệ.

20. This is the soundest advice imaginable. We see that “real love” is not only cohesive but illuminating. Love reveals.

20. Đây là lời khuyên xác đáng nhất mà chúng ta có thể hình dung. Chúng ta thấy rằng “tình thương chân thật” không chỉ gắn kết mà còn soi sáng. Tình thương làm hiển lộ.

21. Love and understanding are, of course, related. One of the names of the second ray is the “Ray of Loving-Understanding”.

21. Dĩ nhiên, tình thương và sự thấu hiểu có liên hệ với nhau. Một trong những tên gọi của cung hai là “Cung của Sự Thấu Hiểu Đầy Tình Thương”.

22. Let us tabulate the nature of “true understanding”:

22. Chúng ta hãy liệt kê bản chất của “sự thấu hiểu chân thật”:

1. It ignores mistakes

1. Không chấp nhặt lỗi lầm

2. It recognizes no barriers

2. Không thừa nhận rào cản

3. It refuses all separating thoughts

3. Khước từ mọi tư tưởng chia rẽ

4. It surrounds all with a protecting wall of love, and that protecting wall meets all need wherever possible.

4. Nó bao bọc tất cả trong một bức tường tình thương che chở, và bức tường che chở ấy đáp ứng mọi nhu cầu trong chừng mực có thể.

23. We can see that “real love” and “true understanding” allow nothing to get in the way of an ideal interplay between the members of the group. Group cohesion is not sacrificed for personal (and, thus, petty) reasons.

23. Chúng ta có thể thấy rằng “tình thương chân thật” và “sự thấu hiểu đích thực” không để bất cứ điều gì cản trở sự tương tác lý tưởng giữa các thành viên trong nhóm. Sự cố kết của nhóm không bị hy sinh vì những lý do cá nhân (và do đó, nhỏ nhặt).

It is this which blends the group into one organised whole, which the Masters of the Wisdom can use in the service of the Plan.

Chính điều này hòa quyện nhóm thành một toàn thể có tổ chức mà các Chân sư Minh Triết có thể sử dụng để phụng sự Thiên Cơ.

24. It becomes clear that unless groups are, indeed, blended into “one organised whole” they cannot be used in the service of the Plan. The energy put into an un-integrated group would simply produce greater fissures than already existed. The unintended result would be dis -integration.

24. Rõ ràng, trừ khi các nhóm thực sự hòa quyện thành “một toàn thể có tổ chức”, chúng không thể được sử dụng để phụng sự Thiên Cơ. Năng lượng đưa vào một nhóm chưa tích hợp sẽ chỉ tạo ra những rạn nứt lớn hơn những rạn nứt vốn đã có. Kết quả ngoài ý muốn sẽ là sự tan rã.

25. So we see group cohesion and integration as indispensable if a group wishes to be useful to Hierarchy.

25. Như vậy, chúng ta thấy sự cố kết và tích hợp của nhóm là những điều không thể thiếu nếu một nhóm muốn hữu ích cho Thánh đoàn.

The pressure at this time is great upon Them and the urgency of humanity’s cry grows stronger in Their ears.

Lúc này, áp lực đè nặng lên Các Ngài rất lớn, và tiếng kêu cầu khẩn thiết của nhân loại ngày càng vang mạnh trong tai Các Ngài.

26. We note the word “cry” with its implication of distress within the emotional body. Our Planetary Logos (and even our Solar Logos) still has His emotional struggles (in relation to the cosmic planes) and so does the human kingdom in relation to the systemic astral plane and its effects upon the systemic physical and mental planes.

26. Chúng ta lưu ý từ “kêu cầu”, hàm ý nỗi khổ đau trong thể cảm dục. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (và ngay cả Thái dương Thượng đế của chúng ta) vẫn còn những cuộc đấu tranh về cảm xúc của Ngài (trong mối liên hệ với các cõi vũ trụ), và giới nhân loại cũng vậy trong mối liên hệ với cõi cảm dục của hệ mặt trời cùng những ảnh hưởng của cõi ấy lên cõi hồng trần và cõi trí của hệ mặt trời.

27. Just as a new parent attends to the cry of his/her infant child, so does Hierarchy attend to the cry of a humanity which has not yet reached spiritual maturity.

27. Cũng như người mới làm cha hay mẹ chú tâm đến tiếng khóc của đứa con thơ, Thánh đoàn cũng chú tâm đến tiếng kêu cầu của một nhân loại chưa đạt đến sự trưởng thành tinh thần.

I have given you much time and thought, and earnestly I have sought to aid you on the Way. My love and strength are ever yours, but not always my time and attention. My earnest prayer is that the Light may enfold you and the Love of God transmute your lives.

Tôi đã dành nhiều thời gian và suy nghĩ cho các bạn, và tha thiết tìm cách trợ giúp các bạn trên Đường Đạo. Tình thương và sức mạnh của Tôi luôn dành cho các bạn, nhưng thời gian và sự chú ý của Tôi thì không phải lúc nào cũng vậy. Tôi tha thiết cầu nguyện rằng Ánh sáng sẽ bao bọc các bạn và Tình thương của Thượng đế sẽ chuyển hoá cuộc đời các bạn.

28. DK is being realistic. A Master of the Wisdom is an extraordinarily committed and ‘busy’ individual. We have little idea of the duties to which a Master must attend, and so self-centered are we usually, that we tend to think that attending to ‘us’ is for Him a high priority.

28. Chân sư DK đang nhìn nhận thực tế. Một Chân sư Minh Triết là một cá nhân tận tâm và ‘bận rộn’ phi thường. Chúng ta biết rất ít về những bổn phận mà một Chân sư phải chu toàn, và chúng ta thường tập trung vào bản thân đến mức có xu hướng nghĩ rằng việc quan tâm đến ‘chúng ta’ là một ưu tiên cao đối với Ngài.

29. We see that the Master supports His chelas with “love and strength”, but must most often leave the details of the life lived to the one who lives that life.

29. Chúng ta thấy rằng Chân sư hỗ trợ các đệ tử của Ngài bằng “tình thương và sức mạnh”, nhưng thường phải để chính người sống cuộc đời ấy lo liệu những chi tiết trong đời sống của mình.

30. Our attention is called to the fact that the “Love of God” is a transmutative factor in our lives. Love not only elevates vibration, but renders it more coherent with other vibrations—microcosmically and macrocosmically.

30. Chúng ta được lưu ý rằng “Tình thương của Thượng đế” là một yếu tố chuyển hoá trong cuộc đời chúng ta. Tình thương không chỉ nâng cao rung động mà còn khiến rung động ấy hòa hợp hơn với các rung động khác—ở cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa.

For many years I have been looking ahead with definite planning and intent to the work which began in the late summer of 1936.

Trong nhiều năm, Tôi đã hướng về phía trước với kế hoạch và ý định rõ ràng cho công việc bắt đầu vào cuối mùa hè năm 1936.

31. The “Groups of Nine” had begun a number of years before 1936 (initial efforts occurring in 1931). Perhaps DK is referring to a particular way of approaching the Groups-of-Nine work once a sufficient number of them had been organized. It took a number of years to bring four of the intended ten groups into existence. They developed in order: Telepathy, Trained Observers, Magnetic/Radiatory Healers, and Educators of the New Age. Group IX.5, Political Workers, was in process of formulation when the Groups-of-Nine project was disbanded.

31. Các “Nhóm Chín Người” đã bắt đầu từ nhiều năm trước năm 1936 (những nỗ lực ban đầu diễn ra vào năm 1931). Có lẽ Chân sư DK đang nói đến một cách tiếp cận cụ thể đối với công việc của các Nhóm Chín Người sau khi đã tổ chức đủ số nhóm. Phải mất nhiều năm mới thành lập được bốn trong số mười nhóm dự kiến. Các nhóm lần lượt hình thành theo thứ tự: Viễn Cảm, Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, Các Nhà Trị Liệu Bằng Từ Tính/Phát Xạ, và Các Nhà Giáo Dục của Kỷ Nguyên Mới. Nhóm IX.5, Những Người Hoạt Động Chính Trị, đang trong quá trình hình thành khi dự án các Nhóm Chín Người bị giải thể.

I have sought—with the knowledge of some of you—to prepare you all as a group for an active participation in this future work.

Tôi đã tìm cách—với sự biết đến của một số người trong các bạn—chuẩn bị tất cả các bạn, với tư cách một nhóm, để tích cực tham gia công việc tương lai này.

32. We note that the Master works towards the future. In other references, we discover that that future included the future incarnation(s) of those who were being trained in the 1930s and 1940s.

32. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư làm việc hướng tới tương lai. Qua những dẫn chiếu khác, chúng ta khám phá rằng tương lai ấy bao gồm cả một hay nhiều kiếp lâm phàm tương lai của những người đang được huấn luyện trong các thập niên 1930 và 1940.

33. The entire project was slated to last some two hundred years or more.

33. Toàn bộ dự án dự kiến sẽ kéo dài khoảng hai trăm năm hoặc hơn.

As I enter upon the task of preparing you for future increased usefulness and for closer cooperation, I must myself perforce take certain risks, and there must be established between us a trust which will be based—not on secrecy and reticences—but on truth and understanding.

Khi bắt tay vào nhiệm vụ chuẩn bị cho các bạn trở nên hữu ích hơn trong tương lai và hợp tác chặt chẽ hơn, chính Tôi tất phải chấp nhận một số rủi ro, và giữa chúng ta phải hình thành một niềm tin dựa trên chân lý và sự thấu hiểu, chứ không dựa trên sự bí mật và những điều giữ kín.

34. Are the risks here mentioned risks to DK, or risks relating to the development of the chelas and for which DK seems to be assuming some degree of responsibility?

34. Những rủi ro được nhắc đến ở đây là rủi ro đối với Chân sư DK, hay là những rủi ro liên quan đến sự phát triển của các đệ tử mà dường như Chân sư DK đang nhận một phần trách nhiệm?

35. The Master is preparing for a phase of more intimate work with the chelas and requires of them an openness to truth and an understanding attitude. Secrecy and reticences are usually based upon personal sensitivities which chelas do not wish to have exposed.

35. Chân sư đang chuẩn bị cho một giai đoạn làm việc mật thiết hơn với các đệ tử và đòi hỏi họ phải cởi mở đón nhận chân lý cùng một thái độ thấu hiểu. Sự bí mật và những điều giữ kín thường bắt nguồn từ những nhạy cảm cá nhân mà các đệ tử không muốn để lộ.

This formation of the New Seed Group is my second attempt to be of hierarchical assistance in inaugurating the New Age methods and technique and to train groups (for it [5] is a group age) which can express the New Age types of work.

Việc thành lập Nhóm Hạt Giống Mới này là nỗ lực thứ hai của Tôi nhằm hỗ trợ Thánh đoàn trong việc khởi xướng những phương pháp và kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới, đồng thời huấn luyện các nhóm (vì đây [5] là một kỷ nguyên của nhóm) có thể thể hiện những loại hình công việc của Kỷ Nguyên Mới.

36. We see that Master DK is in the midst of a reformulation. The Groups of Nine, with their specific missions, failed to develop as intended. The Master is now consolidating the enterprise into one group of twenty-four individuals selected from the original Groups of Nine. Not all participants in those earlier groups were selected for participation in the New Seed Group. DK had to assess whether they could benefit from inclusion and whether the New Seed Group would benefit or be delayed by their presence. Perhaps, as well, the number of participants in the new group had to be held to twenty-four—a most significant number, being twice-twelve and the number of Shamballa.

36. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đang trong quá trình định hình lại công việc. Các Nhóm Chín Người, với những sứ mệnh riêng, đã không phát triển như dự định. Giờ đây, Chân sư đang hợp nhất công cuộc này vào một nhóm gồm hai mươi bốn người được chọn từ các Nhóm Chín Người ban đầu. Không phải tất cả những người tham gia các nhóm trước đó đều được chọn tham gia Nhóm Hạt Giống Mới. Chân sư DK phải đánh giá xem việc được đưa vào nhóm có mang lại lợi ích cho họ hay không, và sự hiện diện của họ sẽ mang lại lợi ích hay làm chậm tiến độ của Nhóm Hạt Giống Mới. Có lẽ số người tham gia nhóm mới cũng phải giới hạn ở hai mươi bốn—một con số có thâm nghĩa sâu sắc, vì bằng hai lần mười hai và là con số của Shamballa.

37. The intent is to inaugurate “New Age methods and technique” and “to train groups” in a group age.

37. Ý định là khởi xướng “những phương pháp và kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới” và “huấn luyện các nhóm” trong một kỷ nguyên của nhóm.

In my first attempt certain group limitations initiated difficulty and led to the closing of the several individual groups.

Trong nỗ lực đầu tiên của Tôi, một số hạn chế của nhóm đã làm nảy sinh khó khăn và dẫn đến việc đóng lại các nhóm riêng lẻ.

38. DK speaks of “certain group limitations”. These were, among others, inertia, a tendency to be overcome by glamour, and criticism

38. Chân sư DK nói đến “một số hạn chế của nhóm”. Trong số đó có tính trì trệ, khuynh hướng bị ảo cảm lấn át và sự chỉ trích

You will have noted that I assigned the major failure to the inactivity of the heart centre in the majority of the members; this leads necessarily to inadequate integration.

Các bạn hẳn đã lưu ý rằng Tôi quy nguyên nhân thất bại chủ yếu cho tình trạng bất hoạt của trung tâm tim nơi phần lớn các thành viên; điều này tất yếu dẫn đến sự tích hợp không đầy đủ.

39. It would seem that the importance of an active heart center cannot be over-estimated. Group integration depends upon the activation of the heart.

39. Dường như tầm quan trọng của một trung tâm tim hoạt động có nhấn mạnh đến đâu cũng không quá mức. Sự tích hợp nhóm tùy thuộc vào việc hoạt hóa trung tâm tim.

I mention this now because I would urge those members who have been selected to work in this new group to bear in mind that they may quite easily carry their earlier tendency into the new group.

Giờ đây, Tôi nhắc đến điều này vì muốn thúc giục những thành viên được chọn làm việc trong nhóm mới ghi nhớ rằng họ rất dễ mang khuynh hướng trước kia vào nhóm mới.

40. The participants are being given a fresh opportunity, but are warned against previous tendencies which led to an earlier failure.

40. Những người tham gia đang có một cơ hội mới, nhưng cũng được cảnh báo về những khuynh hướng trước kia đã dẫn đến thất bại trước đó.

Only a fresh dedication and a renewed aspiration towards inspiration can prevent the recurrence of a certain static tendency;

Chỉ một sự tận hiến mới mẻ và một khát vọng hướng tới cảm hứng được khơi dậy trở lại mới có thể ngăn một khuynh hướng trì trệ nào đó tái diễn;

41. Do we recognize advice for our own life of discipleship?

41. Chúng ta có nhận ra lời khuyên dành cho chính đời sống đệ tử của mình không?

42. It is an interesting phrase— “aspiration towards inspiration”. One cannot access inspiration at will (unless very advanced), but one can aspire towards that access.

42. Đây là một cụm từ thú vị—“khát vọng hướng tới cảm hứng”. Người ta không thể tiếp cận cảm hứng theo ý muốn (trừ khi đã tiến hóa rất cao), nhưng có thể khát vọng hướng tới việc tiếp cận ấy.

43. The aspiration with which we build the bridge into the higher worlds is “aspiration towards inspiration”, for inspiration comes from the spiritual triad.

43. Khát vọng mà chúng ta dùng để xây dựng cây cầu vào các thế giới cao hơn là “khát vọng hướng tới cảm hứng”, vì cảm hứng đến từ Tam Nguyên Tinh Thần.

44. The “static tendency” was the particular liability of the Group of Telepathic Communicators, Group XI.1

44. “Khuynh hướng trì trệ” là nhược điểm riêng của Nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm, Nhóm XI.1

only a clear vision of the nature of glamour and of its effects in the individual and group life can eliminate the danger of infection from that tendency;

chỉ một tầm nhìn rõ ràng về bản chất của ảo cảm và những tác động của nó trong đời sống cá nhân và nhóm mới có thể loại trừ nguy cơ lây nhiễm khuynh hướng ấy;

45. The members of Group IX.2 were much infected by the tendency towards glamor. Two of them actually arrived at a rather distressing and spiritual dangerous condition (which at least on of them managed to correct).

45. Các thành viên của Nhóm IX.2 chịu ảnh hưởng nặng nề của khuynh hướng ảo cảm. Hai người trong số họ thực sự đã rơi vào một tình trạng khá đáng lo ngại và nguy hiểm về mặt tinh thần (mà ít nhất một người trong số họ đã khắc phục được).

46. Yet it is not easy to acquire a “clear vision of the nature of glamour”, because glamour is, above all, elusive and so customary as to evade detection.

46. Tuy nhiên, không dễ có được một “tầm nhìn rõ ràng về bản chất của ảo cảm”, bởi trên hết, ảo cảm khó nắm bắt và quá quen thuộc đến mức khó phát hiện.

only a humble spirit which is not occupied with the faults and failures of others can prevent the injection of an attitude of criticism and judging;

chỉ một tinh thần khiêm nhường, không bận tâm đến những khuyết điểm và thất bại của người khác, mới có thể ngăn thái độ chỉ trích và phán xét len vào;

47. The Tibetan is cataloguing the liabilities of each of the groups. The problem with the members in Group IX.3 was, in fact, criticism and judgmentalism.

47. Chân sư Tây Tạng đang liệt kê những nhược điểm của từng nhóm. Thực ra, vấn đề của các thành viên trong Nhóm IX.3 là sự chỉ trích và thái độ phán xét.

48. A “humble spirit” sees a vast horizon and knows that small faults and failures are, essentially, inconsequential.

48. Một “tinh thần khiêm nhường” nhìn thấy chân trời bao la và biết rằng, về cơ bản, những khuyết điểm và thất bại nhỏ nhặt không có gì đáng kể.

and only an attentive watchfulness on the part of a certain few of the members can protect this new vehicle from disaster based on inexperienced self-confidence.

và chỉ sự tỉnh táo theo dõi của một số ít thành viên mới có thể bảo vệ vận cụ mới này khỏi tai họa bắt nguồn từ sự tự tin thiếu kinh nghiệm.

49. The Tibetan is extraordinarily direct and uses words which are arresting in their potency— “inexperienced self-confidence”! This attitude is frequently seen in the beginner—whatever may be the field of endeavor.

49. Chân sư Tây Tạng nói hết sức thẳng thắn và dùng những từ gây chú ý bởi sức mạnh của chúng—“sự tự tin thiếu kinh nghiệm”! Thái độ này thường thấy ở người mới bắt đầu—bất kể trong lĩnh vực hoạt động nào.

50. The implication is that there are certain members in the New Seed Group whose usual approaches carry the seeds of trouble. DK does not point them out, but it can be presumed that they and the others know who they are.

50. Điều này hàm ý rằng trong Nhóm Hạt Giống Mới có một số thành viên mà những cách tiếp cận thường lệ của họ mang sẵn mầm mống rắc rối. Chân sư DK không chỉ đích danh họ, nhưng có thể cho rằng chính họ và những người khác đều biết họ là ai.

I have seriously considered what action I should rightly take. Various alternatives presented themselves—all of them concerned with the group work per se; none of them concerned you, as individuals.

Tôi đã nghiêm túc cân nhắc hành động nào là đúng đắn mà Tôi nên thực hiện. Nhiều phương án khác nhau đã xuất hiện—tất cả đều liên quan đến chính công việc nhóm; không phương án nào liên quan đến các bạn với tư cách cá nhân.

51. There is a constant attempt to move the chelas towards an attitude of humility where their personal self is concerned by stressing the value of the group.

51. Luôn có một nỗ lực hướng các đệ tử tới thái độ khiêm nhường đối với cái tôi cá nhân của họ bằng cách nhấn mạnh giá trị của nhóm.

I could continue with the groups as they existed but, brother of mine, what more could I say, or do or teach them? The constant impartation of teaching and of information, the constant pointing out of failure,and the constant individual training are no part of the technique of the Hierarchy—certainly not as far as the individual aspirant is concerned.

Tôi có thể tiếp tục với các nhóm như trước, nhưng hỡi huynh đệ của tôi, Tôi còn có thể nói, làm hay dạy thêm điều gì cho họ? Việc liên tục truyền đạt giáo huấn và thông tin, liên tục chỉ ra thất bại, và liên tục huấn luyện cá nhân không thuộc kỹ thuật của Thánh đoàn—chắc chắn là không, xét đối với từng người chí nguyện.

52. We find DK suggesting that He gave much, and that the response of the chelas was insufficient.

52. Chúng ta thấy Chân sư DK hàm ý rằng Ngài đã trao truyền rất nhiều, còn sự đáp ứng của các đệ tử thì chưa đủ.

53. He expected them to ‘take hold’ and prove their merit, but the factor of inertia was apparently present.

53. Ngài mong họ ‘nắm lấy’ và chứng tỏ giá trị của mình, nhưng dường như yếu tố trì trệ vẫn hiện diện.

54. In short, DK saw no further use in continuing His work with the Groups of IX. A fresh initiative was needed to overcome evident liabilities. There is often power in a fresh start. One can rapidly move through obstacles which hitherto seemed intractable.

54. Tóm lại, Chân sư DK thấy rằng việc tiếp tục công việc của Ngài với các Nhóm Chín Người không còn ích lợi gì nữa. Cần một sáng kiến mới để khắc phục những điểm bất lợi rõ rệt. Một khởi đầu mới thường mang lại sức mạnh. Người ta có thể nhanh chóng vượt qua những chướng ngại mà trước đó dường như không thể tháo gỡ.

55. We pause to think—what really is “the technique of Hierarchy” if the approaches listed are not part of that technique?

55. Chúng ta dừng lại để suy nghĩ—“kỹ thuật của Thánh đoàn” thực sự là gì nếu những cách tiếp cận đã liệt kê không thuộc kỹ thuật ấy?

Where world values and where group consciousness are involved, the indication of needed change, the cyclic bringing about of the presentation to the soul of the Ageless Wisdom and the training of the world disciples—such is the definite and ordained technique of the Hierarchy. But this is not Their method of work with personalities and with those whose orientation is primarily in the three worlds of human endeavour.

Khi liên quan đến những giá trị của thế gian và tâm thức nhóm, thì việc chỉ ra sự thay đổi cần thiết, theo chu kỳ đưa Minh Triết Ngàn Đời đến trước linh hồn, và huấn luyện các đệ tử thế gian—đó chính là kỹ thuật rõ ràng và đã được ấn định của Thánh đoàn. Nhưng đây không phải là phương pháp Các Ngài làm việc với các phàm ngã và với những người mà định hướng chủ yếu vẫn nằm trong ba cõi giới nỗ lực của con người.

56. We find DK evaluating the orientation of those involved in the Groups of Nine.

56. Chúng ta thấy Chân sư DK đánh giá định hướng của những người tham gia các Nhóm Chín Người.

57. He sought to relate to those who were souls, and to present to those souls the Ageless Wisdom. He sought to see amongst His chelas “world values” and “group consciousness”. But He did not see these things; rather He was faced with those still largely personal in their consciousness and largely oriented to “the three worlds of human endeavor”.

57. Ngài tìm cách liên hệ với những người sống như những linh hồn, và trình bày Minh Triết Ngàn Đời cho những linh hồn ấy. Ngài tìm kiếm nơi các đệ tử của Ngài “những giá trị của thế gian” và “tâm thức nhóm”. Nhưng Ngài không thấy những điều này; thay vào đó, Ngài phải đối diện với những người mà tâm thức vẫn phần lớn mang tính cá nhân và định hướng vẫn chủ yếu hướng về “ba cõi giới nỗ lực của con người”.

58. He is explaining here that the members of Hierarchy cannot work successfully with those who are thus limited in their identification and orientation.

58. Ở đây, Ngài đang giải thích rằng các thành viên của Thánh đoàn không thể làm việc thành công với những người còn bị giới hạn như vậy trong sự đồng hoá và định hướng của mình.

59. All the members of the New Seed Group were members of the earlier Groups of Nine, and they are here receiving an assessment of their earlier attempts.

59. Tất cả các thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới đều từng là thành viên của các Nhóm Chín Người trước đó, và ở đây họ đang nhận được một đánh giá về những nỗ lực trước đây của mình.

Their method and procedure is to try out the personalities of Theirintended and indicated disciples and—should [6] these measure up with adequacy—then to proceed with the work of esoteric training.

Phương pháp và cách tiến hành của Các Ngài là thử thách phàm ngã của những người Các Ngài dự định và chỉ định làm đệ tử, và—nếu [6] những người ấy đáp ứng đầy đủ yêu cầu—thì mới tiến hành công việc huấn luyện nội môn.

60. When under instruction by a Master, a chela will always be tested in his/her personality nature. To come under such supervision is a bit like entering the Scorpio experience where all three aspects of the personality are tested on the physical plane.

60. Khi được một Chân sư huấn thị, đệ tử luôn trải qua thử thách về bản chất phàm ngã của mình. Chịu sự giám sát như vậy phần nào giống như bước vào trải nghiệm Hổ Cáp, trong đó cả ba phương diện của phàm ngã đều trải qua thử thách trên cõi hồng trần.

61. DK seems to be suggesting that He never got around to the really esoteric training.

61. Dường như Chân sư DK đang hàm ý rằng Ngài chưa bao giờ tiến đến việc huấn luyện thực sự mang tính nội môn.

It is the same with groups; these are tested and tried in connection with the group personality, and upon the response depends the future activity of both the group and its Master and Teacher. But it is the group, as you see, which decides procedure.

Với các nhóm cũng vậy; các nhóm được thử thách và khảo nghiệm về phương diện phàm ngã nhóm, và hoạt động tương lai của cả nhóm lẫn Chân sư và Huấn sư của nhóm tùy thuộc vào sự đáp ứng ấy. Nhưng như các bạn thấy, chính nhóm quyết định cách tiến hành.

62. An analogy is drawn. The group personality is tested just as is the individual personality.

62. Một phép tương đồng được đưa ra. Phàm ngã nhóm trải qua thử thách cũng như phàm ngã cá nhân.

63. The response of the group determines its future usefulness; that response often places a limitation upon what the Master may successfully attempt.

63. Sự đáp ứng của nhóm quyết định khả năng hữu dụng của nhóm trong tương lai; sự đáp ứng ấy thường giới hạn những gì Chân sư có thể thực hiện thành công.

64. The Master emphasizes the responsibility of the group. The group cannot wait to be told what to do in all instances. It must take initiative and determine procedure.

64. Chân sư nhấn mạnh trách nhiệm của nhóm. Nhóm không thể chờ được chỉ bảo phải làm gì trong mọi trường hợp. Nhóm phải chủ động và quyết định cách tiến hành.

I have endeavoured to remove out of this group those elements which might perchance have handicapped it, and which the group members—as they are at present constituted and motivated—are not capable of absorbing.

Tôi đã cố gắng loại khỏi nhóm này những yếu tố có thể đã gây trở ngại cho nhóm, và những yếu tố mà các thành viên—với cấu tạo và động lực hiện nay—chưa có khả năng tiếp nhận.

65. DK speaks of that fact that He did not allow certain former group members to continue with the New Seed Group. He does not place the blame entirely on those removed, but also points to the inability of the present group members to rightly absorb those who were removed (or simply not re-invited).

65. Chân sư DK nói đến việc Ngài đã không cho phép một số cựu thành viên của nhóm tiếp tục tham gia Nhóm Hạt Giống Mới. Ngài không quy trách nhiệm hoàn toàn cho những người đã bị loại, mà còn chỉ ra rằng các thành viên hiện tại của nhóm chưa có khả năng tiếp nhận đúng cách những người đã bị loại (hoặc đơn giản là không được mời trở lại).

Group unity is not dependent upon personal sympathy, personal liking and understanding as it may exist between the group members, but upon capacity to absorb and assimilate, to lift, to change and to transmute those units which seem at first to be uncongenial or even unsuitable—from the limited point of view of the group member.

Sự hợp nhất nhóm không tùy thuộc vào sự đồng cảm cá nhân, sự yêu thích và thấu hiểu cá nhân có thể tồn tại giữa các thành viên, mà tùy thuộc vào khả năng tiếp nhận và đồng hoá, nâng cao, thay đổi và chuyển hoá những thành viên thoạt đầu có vẻ không hợp nhau hoặc thậm chí không thích hợp—từ quan điểm hạn hẹp của thành viên trong nhóm.

66. We are being given a deeper perspective on “group unity”. It is not a matter of sentiment.

66. Chúng ta đang được trao một góc nhìn sâu sắc hơn về “sự hợp nhất nhóm”. Đây không phải là vấn đề tình cảm.

67. Rather it depends upon the capacity of a group to

67. Đúng hơn, điều đó tùy thuộc vào khả năng của một nhóm trong việc

1. absorb

1. tiếp nhận

2. assimilate

2. đồng hoá

3. lift

3. nâng cao

4. change

4. thay đổi

5. transmute

5. chuyển hoá

units who are not easily incorporated in the group as it presently exists.

những thành viên khó hoà nhập vào nhóm trong hiện trạng của nhóm.

68. DK hints that present group members may have a “limited point of view” with respect to the real potentials of those who could have been absorbed by a less limited group.

68. Chân sư DK ngụ ý rằng các thành viên hiện tại của nhóm có thể có một “quan điểm hạn hẹp” về những tiềm năng thực sự của những người mà một nhóm ít hạn hẹp hơn đã có thể tiếp nhận.

This is oft overlooked, but upon the capacity to do this depends much of group success.

Điều này thường bị bỏ qua, nhưng phần lớn thành công của nhóm tùy thuộc vào khả năng thực hiện điều đó.

69. So the present group members are seen to be implicated in the choice of chelas for the New Seed Group. It is partially their inability to rightly absorb which has led to the exclusion of some possibly value group members.

69. Như vậy, có thể thấy các thành viên hiện tại của nhóm có phần trách nhiệm trong việc lựa chọn đệ tử cho Nhóm Hạt Giống Mới. Một phần chính việc họ không có khả năng tiếp nhận đúng cách đã dẫn đến việc loại trừ một số thành viên có thể có giá trị đối với nhóm.

When a group cannot yet be depended upon to do this necessary absorption, the apparent rejection of certain people is not the fault of those people, but that of the group which is not yet integrated enough or unified enough to assimilate certain types of character and certain tendencies.

Khi chưa thể tin cậy rằng một nhóm có thể thực hiện sự tiếp nhận cần thiết này, thì việc một số người dường như bị loại bỏ không phải là lỗi của họ, mà là của nhóm, vốn chưa đủ tích hợp hoặc hợp nhất để đồng hoá một số kiểu tính cách và khuynh hướng.

70. There is much food for thought in these words. The group could be enriched by the rightful inclusion of certain types of individuals, but the group is not yet capable of such inclusion.

70. Những lời này chứa đựng nhiều điều đáng suy ngẫm. Việc thu nhận đúng đắn một số kiểu cá nhân có thể làm cho nhóm thêm phong phú, nhưng nhóm chưa có khả năng thu nhận như vậy.

71. We can immediately think of the microcosmic correspondence and ask ourselves what kinds of individuals we accept or reject as comrades, friends and co-workers.

71. Chúng ta có thể nghĩ ngay đến sự tương ứng nơi tiểu thiên địa và tự hỏi mình chấp nhận hay khước từ những kiểu người nào khi chọn bạn đồng hành, bạn bè và người cộng tác.

72. It is interesting that DK calls the rejection “apparent rejection”, indicating that, from the perspective of the Ashram, the non-included units are not really rejected. Rather, they are temporarily excluded in an outer sense only.

72. Điều thú vị là Chân sư DK gọi sự khước từ này là “sự khước từ có vẻ bề ngoài”, cho thấy rằng, từ góc nhìn của Ashram, những thành viên chưa được thu nhận không thực sự bị khước từ. Đúng hơn, họ chỉ tạm thời chưa được thu nhận xét về mặt bên ngoài.

The recognition of this should be fruitful in the preservation of much needed humility.

Nhận biết điều này sẽ giúp duy trì lòng khiêm nhường rất cần thiết.

73. We find DK working against group pride. There might be a tendency among the chelas selected for the New Seed Group to think of themselves as special in some way. Instead, DK points out their limitations.

73. Chúng ta thấy Chân sư DK đang chống lại lòng kiêu hãnh nhóm. Những đệ tử được chọn vào Nhóm Hạt Giống Mới có thể có khuynh hướng nghĩ rằng mình đặc biệt theo một cách nào đó. Thay vào đó, Chân sư DK chỉ ra những giới hạn của họ.

You are being tendered another opportunity. I would ask you to remember this and to endeavour, in relation to this new experiment, to cultivate from the very start a humble spirit and the priceless gift of silence.

Các bạn đang được trao thêm một cơ hội. Tôi muốn các bạn ghi nhớ điều này, và trong cuộc thử nghiệm mới này, ngay từ đầu hãy cố gắng vun bồi một tinh thần khiêm nhường cùng phẩm chất im lặng vô giá.

74. Two requirements are stated

74. Hai yêu cầu được nêu ra