← Commentary DINA II (webinar 24-35)

chapter 001 15

Trích nội dung chương

140. We are understanding the Ashram as the epitome of teamwork. The various member of the Ashram have a realistic vision of each other. The goal is effective group service and so they not only seek to complement each other but know how they can do so. 140. Chúng ta đang hiểu ashram là hình mẫu của sự làm việc đồng đội. Các thành viên của ashram nhìn nhận nhau một cách thực tế. Mục tiêu là phụng sự nhóm hiệu quả, nên họ không chỉ tìm cách bổ sung cho nhau mà còn biết mình có thể làm như thế nào.


140. We are understanding the Ashram as the epitome of teamwork. The various member of the Ashram have a realistic vision of each other. The goal is effective group service and so they not only seek to complement each other but know how they can do so.

140. Chúng ta đang hiểu ashram là hình mẫu của sự làm việc đồng đội. Các thành viên của ashram nhìn nhận nhau một cách thực tế. Mục tiêu là phụng sự nhóm hiệu quả, nên họ không chỉ tìm cách bổ sung cho nhau mà còn biết mình có thể làm như thế nào.

141. Let us question ourselves—with whom do we work in such a manner? If we find that we are working in this way, we are preparing for later ashramic participation.

141. Chúng ta hãy tự hỏi—chúng ta làm việc theo cách như thế với những ai? Nếu nhận thấy mình đang làm việc theo cách này, chúng ta đang chuẩn bị để sau này tham gia vào ashram.

5. One other factor I will mention among the many possible: The members of an Ashram are all in the process of demonstrating love and pure reason, and they are—at the same time—focussing themselves in the Will aspect of divinity.

5. Tôi sẽ đề cập thêm một yếu tố trong số nhiều yếu tố có thể nêu ra: Các thành viên của một ashram đều đang trong tiến trình biểu lộ tình thương và lý trí thuần khiết, đồng thời tập trung vào phương diện Ý Chí của thiên tính. Hiện nay,

142. It would appear that the intelligence aspect of the members of an Ashram is somewhat assumed.

142. Dường như phương diện trí thông minh của các thành viên trong một ashram phần nào được xem là điều đương nhiên.

143. An Ashram functioning largely under the second aspect of divinity of which love and pure reason are representative.

143. Một ashram hoạt động phần lớn dưới ảnh hưởng của phương diện thứ hai của thiên tính, mà tình thương và lý trí thuần khiết là những biểu hiện tiêu biểu.

144. For the normal Ashram member, focus within the Divine Will represents future possibilities, and the attempt is constantly made.

144. Đối với thành viên ashram thông thường, việc tập trung trong Ý Chí thiêng liêng thể hiện những khả năng trong tương lai, và họ không ngừng nỗ lực thực hiện điều đó.

This statement may mean little to you at present but it is fundamentally the factor which creates the higher antahkarana, uniting the Hierarchy and Shamballa. This makes the planetary purpose of so much importance.

phát biểu này có thể chưa mang nhiều ý nghĩa đối với các bạn, nhưng về căn bản, đó là yếu tố tạo nên antahkarana cao hơn, hợp nhất Thánh đoàn và Shamballa. Điều này khiến mục đích hành tinh có tầm quan trọng lớn lao đến thế.

145. There is a higher and lower antahkarana; we enter the Hierarchy via the antahkarana when we can align with the buddhic plane. Presumably, the higher antahkarana will relate the meditator to the atmic plane and the monadic plane.

145. Có antahkarana cao hơn và antahkarana thấp hơn; chúng ta gia nhập Thánh đoàn qua antahkarana khi có thể chỉnh hợp với cõi Bồ đề. Có lẽ antahkarana cao hơn sẽ kết nối người hành thiền với cõi atma và cõi chân thần.

146. Hierarchy can only formulate the Plan if it knows somewhat of the Purpose. The higher antahkarana makes this possible and it can only be built if the disciple is somewhat proficient in focussing within the Will.

146. Thánh đoàn chỉ có thể hoạch định Thiên Cơ nếu biết phần nào về Thiên Ý. Antahkarana cao hơn khiến điều này trở nên khả thi, và người đệ tử chỉ có thể xây dựng nó nếu đã phần nào thành thạo việc tập trung trong Ý Chí.

These are the major factors which produce group unity; they have, as results, telepathic rapport and intuitive perception; but these are effects and not causes and are the product of the measure of the attained group unity.

Đó là những yếu tố chủ yếu tạo nên sự hợp nhất nhóm; kết quả của chúng là sự hòa hợp viễn cảm và tri giác trực giác; nhưng đây là những hệ quả chứ không phải nguyên nhân, và là sản phẩm của mức độ hợp nhất nhóm đã đạt được.

147. We are understanding the importance of group unity. It is foundational. The foregoing should be carefully and repeatedly studied if we hope to develop those necessary ashramic states of consciousness—telepathic rapport and intuitive perception.

147. Chúng ta đang hiểu tầm quan trọng của sự hợp nhất nhóm. Đó là nền tảng. Nếu hy vọng phát triển những trạng thái tâm thức ashram thiết yếu ấy—sự hòa hợp viễn cảm và tri giác trực giác—chúng ta cần nghiên cứu kỹ lưỡng và nhiều lần phần trình bày ở trên.

You can see, therefore, the scientific reason I had when I urged you in past years to have a group enterprise, for it is a major unifying factor, and the inner Ashram with which you are affiliated stands to you (at your particular point of development) as Shamballa stands to the Hierarchy—from the angle of dynamic inspiration.

Do đó, các bạn có thể thấy lý do khoa học khiến Tôi thúc giục các bạn trong những năm qua thực hiện một công việc chung của nhóm, vì đó là một yếu tố hợp nhất chủ yếu, và ashram bên trong mà các bạn liên kết có vai trò đối với các bạn (ở điểm phát triển riêng của các bạn) giống như vai trò của Shamballa đối với Thánh đoàn—xét từ góc độ cảm hứng năng động.

148. An analogy is given. The inner Ashram is to an outer ashramic group (such as Master DK has been training) as Shamballa is to the H.

148. Ở đây có một phép tương đồng. Quan hệ của ashram bên trong với một nhóm ashram bên ngoài (chẳng hạn như nhóm mà Chân sư DK đã và đang huấn luyện) tương tự quan hệ của Shamballa với Thánh đoàn.

149. Spiritual group enterprises are unifying factors needed by all disciples who would work together in the manner described in the five points on group unity.

149. Những công việc chung mang tính tinh thần của nhóm là các yếu tố hợp nhất mà mọi đệ tử muốn làm việc cùng nhau theo cách đã mô tả trong năm điểm về sự hợp nhất nhóm đều cần đến.

150. Do the groups with which we may be involved have group enterprises which promote group unity as DK has described it?

150. Các nhóm mà chúng ta có thể đang tham gia có những công việc chung thúc đẩy sự hợp nhất nhóm như Chân sư DK đã mô tả hay không?

Had you done this (which you did not) the group would not have fallen apart—as it has done.

Nếu các bạn đã làm điều này (mà các bạn đã không làm), nhóm hẳn đã không tan rã—như thực tế đã xảy ra.

151. Here we have the clearest possible statement. Because there was no unifying group enterprise, the group fell apart!

151. Ở đây chúng ta có lời khẳng định rõ ràng nhất có thể. Vì không có một công cuộc chung để hợp nhất nhóm, nhóm đã tan rã!

Had you eliminated criticism, the essential unity would have been strengthened.

Nếu các bạn đã loại bỏ sự chỉ trích, sự hợp nhất cốt yếu hẳn đã được củng cố.

152. Criticism undermines group unity; let us never forget it.

152. Sự chỉ trích làm suy yếu sự hợp nhất nhóm; chúng ta đừng bao giờ quên điều đó.

153.

153.

One of the reasons I had for the complete frankness and so-called exposure of your individual weakness and limitations to the group as a whole was to train you in the light of pure perception which knows the reason [107] why and sees with clarity the ends in view. Where true perception exists, criticism is automatically eliminated.

Một trong những lý do khiến Tôi hoàn toàn thẳng thắn và làm điều được gọi là phơi bày những yếu điểm cùng giới hạn cá nhân của các bạn trước toàn thể nhóm là để huấn luyện các bạn trong ánh sáng của tri giác thuần khiết, vốn biết rõ nguyên do [107] và nhìn thấy rõ ràng những mục tiêu cần đạt. Nơi nào có tri giác chân thực, nơi ấy sự chỉ trích tự động bị loại bỏ.

154. The Tibetan’s intended exposure of the faults of group members was for the purpose of training the group members in pure perception.

154. Chân sư Tây Tạng chủ định phơi bày những khuyết điểm của các thành viên trong nhóm nhằm huấn luyện họ về tri giác thuần khiết.

155. The astonishing statement is the following: “where true perception exists, criticism is automatically eliminated”. It is only because we do not see clearly that we criticize. On this we should ponder.

155. Lời khẳng định đáng kinh ngạc là: “nơi nào có tri giác chân thực, nơi ấy sự chỉ trích tự động bị loại bỏ”. Chỉ vì không thấy rõ nên chúng ta mới chỉ trích. Chúng ta nên suy ngẫm về điều này.

Modern groups (and groups form a large part of every field of thought and activity) are usually composed of people possessing some basic idea upon which they are all agreed and which they are trying to express through the medium of their clashing personalities and,frequently, in obedience to some leader or person of more powerful mentality than that of the majority, and in order to exploit and use the methods which they regard as essential to success. There is therefore little true unity, and often what there is is based on expediency or good manners.

Các nhóm hiện đại (và các nhóm chiếm phần lớn trong mọi lĩnh vực tư tưởng và hoạt động) thường gồm những người cùng đồng thuận về một ý tưởng căn bản nào đó và đang cố gắng biểu hiện ý tưởng ấy thông qua những phàm ngã xung đột của mình, đồng thời thường tuân theo một người lãnh đạo hay một người có trí lực mạnh hơn đa số, để khai thác và sử dụng những phương pháp mà họ xem là thiết yếu cho thành công. Do đó, sự hợp nhất chân thực rất ít, và phần hợp nhất hiện có thường dựa trên tính thuận tiện hay phép lịch sự.

156. This is a frank assessment of modern group interplay.

156. Đây là một nhận định thẳng thắn về sự tương tác trong các nhóm hiện đại.

157. We can see that there is usually not much love. The factor of personal will is dominant.

157. Chúng ta có thể thấy rằng thường không có nhiều tình thương. Yếu tố ý chí cá nhân chiếm ưu thế.

158. The conditions for true unity (as described in the five points above) are entirely missing.

158. Những điều kiện cho sự hợp nhất chân thực (như mô tả trong năm điểm ở trên) hoàn toàn vắng bóng.

159. These modern group have no real esoteric basis.

159. Những nhóm hiện đại này không có nền tảng nội môn thực sự nào.

160. A group unity based on expediency and good manners cannot possibly be the same as the group unity arising in an ashramic group which is inspired by a Master Who can face the Will of Shamballa, deeply subjective, meditative, non-critical, expressive of love and pure reason and focussed in the Divine Will

160. Sự hợp nhất nhóm dựa trên tính thuận tiện và phép lịch sự không thể nào giống với sự hợp nhất nhóm nảy sinh trong một nhóm ashram nhận cảm hứng từ một Chân sư có thể đối diện với Ý Chí của Shamballa, có đời sống nội tâm sâu sắc, chuyên tâm tham thiền, không chỉ trích, biểu hiện tình thương và lý trí thuần khiết, và tập trung trong Ý Chí thiêng liêng

Everywhere, however, the newer type of groups are slowly being gathered together. Have you ever realised (I seek here to make you think and reason) that a group composed entirely of people upon the same ray, and who were also at exactly the same point in evolution, would be relatively futile and useless? Such a group would lack dynamic—the dynamic which comes into expression when many and different ray qualities meet and combine.

Tuy nhiên, khắp nơi, những nhóm thuộc loại mới hơn đang dần được quy tụ. Các bạn có bao giờ nhận ra (ở đây Tôi muốn khiến các bạn suy nghĩ và suy luận) rằng một nhóm hoàn toàn gồm những người thuộc cùng một cung và cũng ở đúng cùng một điểm tiến hoá sẽ tương đối vô hiệu và vô ích không? Một nhóm như thế sẽ thiếu động lực—động lực biểu hiện khi nhiều phẩm tính cung khác nhau gặp gỡ và kết hợp.

161. We are being told that a dynamic (the emergence of available energy) appears when “many and different ray qualities meet and combine”. This alerts us to the fact that we can consider our differences with others with whom we intend to cooperate as an opportunity for more effective work.

161. Chúng ta được cho biết rằng một động lực (sự xuất hiện của năng lượng sẵn có để sử dụng) xuất hiện khi “nhiều phẩm tính cung khác nhau gặp gỡ và kết hợp”. Điều này giúp chúng ta nhận ra rằng chúng ta có thể xem những khác biệt giữa mình với những người mà mình định hợp tác là một cơ hội để làm việc hiệu quả hơn.

162. The need to adjust to and harmonize with those on other rays and who possess other perspective, evokes from us our best. We become resourceful. That which we are and that which we know is drawn forth into intelligent application. The differences evoke intelligent response.

162. Nhu cầu thích nghi và hoà hợp với những người thuộc các cung khác và có những quan điểm khác khơi dậy những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta. Chúng ta trở nên tháo vát. Những gì chúng ta là và những gì chúng ta biết được khơi dậy để vận dụng một cách thông minh. Những khác biệt khơi gợi sự đáp ứng thông minh.

When you speak of an Ashram being a first or a second ray Ashram—to mention only two out of the seven—it is essential that you bear in mind that though its members may have the same basic soul ray, they are apt to be found on one or other of the six subsidiary sub-rays;

Khi các bạn nói một ashram là ashram cung một hay cung hai—chỉ nêu hai trong số bảy cung—điều thiết yếu là phải ghi nhớ rằng tuy các thành viên có thể có cùng một cung linh hồn căn bản, họ vẫn có thể thuộc cung này hay cung khác trong sáu cung phụ;

163. Here we may be talking about the personality ray, or (if considering the larger Ashram) we could be talking about the subsidiary ray which all those in the subsidiary Ashram share.

163. Ở đây, chúng ta có thể đang nói về cung phàm ngã, hoặc (nếu xét ashram lớn hơn) chúng ta có thể đang nói về cung phụ mà tất cả các thành viên trong ashram phụ đều cùng có.

164. A soul ray is a sub-ray of a monadic ray; as well the major monadic ray has its own sub-ray on the monadic level. A personality ray is a sub-ray of the soul ray; as well the major soul ray has its own sub-ray on the soul level.

164. Một cung linh hồn là một cung phụ của một cung chân thần; đồng thời, cung chân thần chủ yếu có cung phụ riêng ở cấp độ chân thần. Một cung phàm ngã là một cung phụ của cung linh hồn; đồng thời, cung linh hồn chủ yếu có cung phụ riêng ở cấp độ linh hồn.

165. We will not consider the monadic implications at this point.

165. Ở đây, chúng ta sẽ không xem xét những hàm ý liên quan đến chân thần.

166. When the phrase “basic soul ray” is used, it points to the major or higher ray of the soul. The following reference should be taken into consideration on this point:

166. Khi cụm từ “cung linh hồn căn bản” được dùng, nó chỉ cung chủ yếu hay cao hơn của linh hồn. Về điểm này, cần xem xét đoạn trích dẫn sau:

“3. The personality rays then become one ray and in their turn become subservient to the dual ray of the soul. Again, therefore, three rays are blended and fused.

“3. Khi ấy, các cung phàm ngã trở thành một cung và đến lượt chúng phục tùng cung kép của linh hồn. Do đó, một lần nữa, ba cung hòa trộn và dung hợp.

“4. The soul rays dominate the personality and the three become again the one, as the dual ray of the soul and the blended ray of the personality vibrate to the measure of the highest of the soul rays—the ray of the soul’s group, which is ever regarded as the true egoic ray.” EPII, 18

“4. Các cung linh hồn chi phối phàm ngã và ba cung lại trở thành một, khi cung kép của linh hồn và cung hòa trộn của phàm ngã rung động theo nhịp của cung cao nhất trong các cung linh hồn—cung của nhóm linh hồn, vốn luôn được xem là cung chân ngã đích thực.” EPII, 18

If there is a “true egoic ray” there must also we an egoic ray which is not the “true” and this would be the sub-ray of the egoic ray.

Nếu có một “cung chân ngã đích thực” thì hẳn cũng phải có một cung chân ngã không phải là cung “đích thực”, và đó chính là cung phụ của cung chân ngã.

167. If we approach from the perspective of soul focus, we will find, for instance, all members of the great second ray Ashram share the second ray as their soul ray—the “true”, highest, major or “basic” soul ray. In a subsidiary Ashram of the great second ray Ashram, however, all might equally share the third ray or the fourth, as well as the second. Further, those in such subsidiary Ashrams, all sharing two rays (the major ray of the soul and a minor soul ray) would be found on all the different personality rays.

167. Nếu tiếp cận từ góc độ tập trung nơi linh hồn, chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy tất cả các thành viên của ashram cung hai lớn đều có chung cung hai làm cung linh hồn—cung linh hồn “đích thực”, cao nhất, chủ yếu hay “căn bản”. Tuy nhiên, trong một ashram phụ của ashram cung hai lớn, tất cả các thành viên có thể cùng có cung ba hoặc cung bốn, bên cạnh cung hai. Hơn nữa, những thành viên trong các ashram phụ như vậy, tuy đều có chung hai cung (cung chủ yếu của linh hồn và một cung linh hồn thứ yếu), lại có thể thuộc mọi cung phàm ngã khác nhau.

there is also a constant shifting of people as they make true progress from a minor ray to a major ray

cũng luôn có sự chuyển dịch của các thành viên khi họ thực sự tiến bộ từ một cung thứ yếu sang một cung chủ yếu,

168. There is more to this than the change of personality rays. When the soul is focussed upon a ray of attribute, it may at some time it may shift onto a ray of aspect. This will usually occur (in the case of a shift to the first or second rays) more or less around the period of the first initiation—sometimes slightly preceding it and sometimes afterwards. The shift to the third ray may occur rather earlier, but will still necessitate that the individual be an intelligent or advanced human being.

168. Điều này còn bao hàm nhiều hơn sự thay đổi các cung phàm ngã. Khi linh hồn tập trung trên một cung thuộc tính, đến một lúc nào đó, nó có thể chuyển sang một cung trạng thái. Trong trường hợp chuyển sang cung một hoặc cung hai, điều này thường xảy ra vào khoảng thời gian diễn ra lần điểm đạo thứ nhất—đôi khi sớm hơn một chút và đôi khi sau đó. Sự chuyển dịch sang cung ba có thể xảy ra sớm hơn khá nhiều, nhưng vẫn đòi hỏi cá nhân ấy phải là một người thông minh hoặc tiến hóa cao.

or (for service reasons) on to a different sub-ray of their own ray; this is a point which is very apt to be forgotten.

hoặc (vì những lý do phụng sự) chuyển sang một cung phụ khác thuộc cung của mình; đây là một điểm rất dễ bị lãng quên.

169. DK is explaining much in these few words.

169. Chân sư DK đang giải thích rất nhiều điều qua vài lời này.

170. By “their own ray” DK may mean the soul ray or perhaps the monadic ray.

170. Qua cụm từ “cung của mình”, Chân sư DK có thể muốn nói đến cung linh hồn hoặc có lẽ là cung chân thần.

171. Two kinds of shifts are going on:

171. Có hai loại chuyển dịch đang diễn ra:

a. From a minor ray to a major ray—in the soul

a. Từ một cung thứ yếu sang một cung chủ yếu—ở linh hồn

b. From one sub-ray of the soul ray to another.

b. Từ một cung phụ của cung linh hồn sang một cung phụ khác.

172. All this indicates that there is much flux within any major Ashram

172. Tất cả điều này cho thấy trong bất kỳ ashram chính nào cũng có nhiều biến động.

It is wise to realise that an Ashram is composed of disciples and initiates of all degrees. It is this interplay of diverse elements that enriches an Ashram and tends inevitably to successful service in the three worlds.

Điều khôn ngoan là nhận ra rằng một ashram gồm các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi cấp độ. Chính sự tương tác của những yếu tố đa dạng này làm phong phú một ashram và tất yếu hướng đến việc phụng sự thành công trong ba cõi giới.

173. We see the value of a diversity of ranks and rays within an Ashram. We must learn to value this diversity. A constant adaptability to all manner of energies and forces is required of each disciple within an Ashram. Successful adaptation promotes that diversity in unity which will characterize the New Age.

173. Chúng ta thấy giá trị của sự đa dạng về cấp bậc và các cung trong một ashram. Chúng ta phải học cách trân trọng sự đa dạng này. Mỗi đệ tử trong một ashram cần có khả năng không ngừng thích ứng với mọi loại năng lượng và mãnh lực. Sự thích ứng thành công thúc đẩy tính đa dạng trong hợp nhất vốn sẽ là đặc trưng của Kỷ Nguyên Mới.

174. To find accord with only those who are similar requires little adaptation. The differences in qualities must be bridged through adaptation (and mutual appreciation), so that all ray types and sub-types may work in harmony.

174. Việc chỉ tìm được sự hòa hợp với những người tương đồng đòi hỏi rất ít sự thích ứng. Cần bắc cầu qua những khác biệt về phẩm tính bằng sự thích ứng (và sự trân trọng lẫn nhau), để mọi loại cung và các loại cung phụ đều có thể làm việc hài hòa.

I am anxious to see the group, with which I have been undertaking an occult experiment for the Hierarchy, hold together.

Tôi tha thiết mong thấy nhóm mà Tôi đã cùng thực hiện một cuộc thử nghiệm huyền bí cho Thánh đoàn tiếp tục gắn bó.

175. We see that the Tibetan has not given up hope.

175. Chúng ta thấy rằng Chân sư Tây Tạng vẫn chưa từ bỏ hy vọng.

When I say this, I refer not only to the few of you who are now active (and perhaps patting yourselves on the back for your steadfastness!),

Khi nói điều này, Tôi không chỉ nói đến số ít các bạn hiện đang hoạt động (và có lẽ đang tự khen mình vì sự kiên định!),

176. DK doe not allow a trace of egotism to enter.

176. Chân sư DK không cho phép dù chỉ một chút tự cao tự đại len vào.

but also to the inactive members, to those likewise who of their own freewill dropped out, those whom perforce I myself had to drop, and those also [108] who are functioning upon the other side of the veil.

mà còn nói đến những thành viên không hoạt động, cả những người đã tự nguyện rút lui, những người mà chính Tôi buộc phải cho rời nhóm, và cả những người [108] đang hoạt động ở phía bên kia bức màn.

177. The Master is inclusive in His consciousness. Once He has made the link to a chela, the magnetism holds. He wishes to see the project through to its conclusion.

177. Tâm thức của Chân sư có tính bao gồm. Một khi Ngài đã thiết lập mối liên kết với một đệ tử, từ điện duy trì mối liên kết ấy. Ngài mong muốn đưa dự án đến chỗ hoàn tất.

I have asked A.A.B. to send each of you a complete list of all who were in the earlier groups as well as those who were or are in the reorganised group. The names will be sent to you without comment and without addresses.

Tôi đã yêu cầu Bà A.A.B. gửi cho mỗi người trong các bạn một danh sách đầy đủ tất cả những người đã ở trong các nhóm trước đây, cũng như những người đã hoặc đang ở trong nhóm được tái tổ chức. Danh sách tên sẽ được gửi đến các bạn không kèm bình luận và không có địa chỉ.

178. To have addresses would encourage personal contact. It is not this kind of contact which the Master seeks to perpetuate.

178. Việc có địa chỉ sẽ khuyến khích sự tiếp xúc cá nhân. Chân sư không tìm cách duy trì loại tiếp xúc này.

I would ask you on one day each month—the day of the full moon—tosit down and mention each of these names of your co-disciples in the light, sending out light and love to one and all. This will strengthen the relation of you all to each other and it will also create an energy body—an etheric body—for the entire subjective group and will integrate them closely as time goes on, restoring those who broke away and strengthening those who unfortunately proved themselves to be weak.

Tôi muốn vào một ngày mỗi tháng—ngày trăng tròn—các bạn ngồi xuống và nhắc tên từng đệ tử đồng môn ấy trong ánh sáng, gửi ánh sáng và tình thương đến từng người và tất cả mọi người. Điều này sẽ củng cố mối quan hệ giữa tất cả các bạn, đồng thời tạo nên một thể năng lượng—một thể dĩ thái—cho toàn bộ nhóm chủ quan và sẽ tích hợp họ chặt chẽ theo thời gian, khôi phục những người đã tách khỏi nhóm và củng cố những người không may đã tỏ ra yếu đuối.

179. The Master offers an occult technique to promote group cohesion. The method is simple. Sometimes it has been called “naming and loving”.

179. Chân sư đưa ra một kỹ thuật huyền bí để thúc đẩy sự gắn kết nhóm. Phương pháp này đơn giản. Đôi khi người ta gọi đó là “nhắc tên và yêu thương”.

180. The suggested method can be used to promote group cohesion in all our group undertakings.

180. Có thể dùng phương pháp được đề xuất để thúc đẩy sự gắn kết nhóm trong mọi công việc nhóm của chúng ta.

181. We note the implication of rebellion in “those who broke away”. There is a Martian component in the personalities of all, and, in fact, Mars, the planet of egoistic rebellion, rules the personality as a whole.

181. Chúng ta lưu ý hàm ý nổi loạn trong cụm từ “những người đã tách ra”. Phàm ngã của mọi người đều có một thành phần mang tính Sao Hỏa, và thực tế, Sao Hỏa, hành tinh của sự nổi loạn vị kỷ, cai quản toàn bộ phàm ngã.

182. DK has analyzed the many reasons for failure and we should examine ourselves carefully in order to discover whether we may harbor seeds which would contribute to group failure in our own energy system and psyche. It would be better to root them out now, as the day will come when perhaps many of us will be tested as DK’s chelas were tested—in group formation under His supervision.

182. Chân sư DK đã phân tích nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại, và chúng ta nên cẩn thận xem xét bản thân để khám phá liệu trong hệ thống năng lượng và tâm lý của mình, chúng ta có nuôi dưỡng những hạt giống có thể góp phần gây ra thất bại của nhóm hay không. Tốt hơn hết là nhổ tận gốc chúng ngay bây giờ, vì sẽ đến ngày có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ chịu thử thách như các đệ tử của Chân sư DK đã từng—trong đội hình nhóm dưới sự giám sát của Ngài.

This entire problem of group integrity and personnel-synthesis (if I may coin such a phrase) is at this time presenting a major problem to the Hierarchy.

Toàn bộ vấn đề về tính toàn vẹn của nhóm và sự tổng hợp các thành viên (nếu Tôi có thể đặt ra một cụm từ như vậy) hiện đang là một vấn đề lớn đối với Thánh đoàn.

183. DK is speaking of how the personnel within any group endeavor may contribute to group integrity rather than frustrate it.

183. Chân sư DK đang nói về cách các thành viên trong bất kỳ nỗ lực nhóm nào có thể góp phần củng cố tính toàn vẹn của nhóm thay vì cản trở điều đó.

It is based, as you see, on the point in evolution which humanity has reached. There are many millions today—and this may surprise you—who have already achieved a definite measure of permanent personality integration. They are people in the fullest sense of the term although they may yet be lacking any contact with the soul or any desire for such contact.

Như các bạn thấy, vấn đề này dựa trên điểm tiến hoá mà nhân loại đã đạt đến. Ngày nay có nhiều triệu người—và điều này có thể khiến các bạn ngạc nhiên—đã đạt được một mức độ tích hợp phàm ngã bền vững nhất định. Họ là những con người theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này, dù có thể họ vẫn chưa có bất kỳ sự tiếp xúc nào với linh hồn hay bất kỳ mong muốn nào về sự tiếp xúc ấy.

184. DK is speaking of the true nature of personality integration—something not generally understood.

184. Chân sư DK đang nói về bản chất thực sự của sự tích hợp phàm ngã—một điều nhìn chung chưa được thấu hiểu.

185. To be a true “person”, one must be an integrated personality.

185. Để là một “con người” thực sự, người ta phải là một phàm ngã tích hợp.

186. ”People” are not necessarily “souls” (at least they are not necessarily conscious of being souls).

186. “Những con người” không nhất thiết là “những linh hồn” (ít nhất họ không nhất thiết có ý thức rằng mình là những linh hồn).

187. Today’s world is full of people— those who have a definite measure of permanent personality integration.

187. Thế giới ngày nay đầy những con người— những người có một mức độ tích hợp phàm ngã bền vững nhất định.

This means that they are relatively dominant men and women in their own setting, environment or milieu; they therefore constitute a problem in this preparatory cyclic era because they refuse—usually quite unconsciously—to form part of any group; they seek ever the position of leader.

Điều này có nghĩa họ là những người nam và nữ tương đối có ưu thế trong hoàn cảnh, môi trường hay giới của mình; do đó, họ tạo thành một vấn đề trong thời đại chu kỳ mang tính chuẩn bị này vì họ từ chối—thường hoàn toàn không ý thức—trở thành một phần của bất kỳ nhóm nào; họ luôn tìm kiếm vị trí lãnh đạo.

188. The process of personality integration, itself, must involve a good deal of the first ray—the ray of domination.

188. Chính tiến trình tích hợp phàm ngã hẳn phải có sự tham gia đáng kể của cung một—cung thống trị.

189. Such people are naturally inclined to reinforce that which has become integrated. They assert themselves as personalities at the expense of greater group possibilities.

189. Những người như vậy có khuynh hướng tự nhiên là củng cố những gì đã trở nên tích hợp. Họ khẳng định mình như những phàm ngã, làm tổn hại đến những khả năng lớn hơn của nhóm.

This is true of spiritual aspirants just as much as it is true of workers and group leaders in any other phase of human thought and procedure.

Điều này đúng với những người chí nguyện tinh thần cũng như với những người hoạt động và lãnh đạo nhóm trong bất kỳ phương diện nào khác của tư tưởng và cách hành động của con người.

190. The implication here is that there are some spiritual aspirants that are dominant personalities. If this is the case, how much contact with the soul do they have?

190. Hàm ý ở đây là có một số người chí nguyện tinh thần là những phàm ngã có ưu thế. Nếu đúng như vậy, họ có được bao nhiêu sự tiếp xúc với linh hồn?

Therefore we ask: How can we create extra-ashramic groups out of aspirants and disciples who primarily value spiritual status, kudos or an elevated position? We cannot.

Do đó, chúng tôi hỏi: Làm sao có thể tạo nên những nhóm bên ngoài ashram từ những người chí nguyện và đệ tử chủ yếu coi trọng địa vị tinh thần, danh tiếng hay một vị trí cao? Chúng tôi không thể.

191. DK has included disciples in this question. Such disciples would clearly be on the Probationary Path and not accepted disciples.

191. Chân sư DK đã đưa cả các đệ tử vào câu hỏi này. Những đệ tử như vậy rõ ràng đang ở trên Con Đường Dự Bị và chưa phải là những đệ tử được chấp nhận.

All we can do is to train aspirants in recognised group requirements.

Tất cả những gì chúng tôi có thể làm là huấn luyện người chí nguyện về những yêu cầu đã được công nhận của nhóm.

192. DK has written voluminously on such requirements. We must refresh ourselves concerning them, and, more importantly, apply them.

192. Chân sư DK đã viết rất nhiều về những yêu cầu ấy. Chúng ta phải ôn lại chúng và, quan trọng hơn, áp dụng chúng.

We must also point out to them the dangers of mental pride, detail to them their personality limitations and the difficulties of true spiritual leadership, and then plead with them to mind their own business where each other is concerned and ask them to serve the human race;

Chúng tôi cũng phải chỉ cho họ những nguy cơ của sự kiêu hãnh trí tuệ, trình bày chi tiết những giới hạn phàm ngã của họ cùng những khó khăn của sự lãnh đạo tinh thần chân chính, rồi tha thiết khuyên họ chuyên tâm vào việc của mình, tránh can dự vào việc của nhau, và yêu cầu họ phụng sự nhân loại; dĩ nhiên,

193. DK has listed the Hierarchy’s approach to aspirants who are limited by their own egoism.

193. Chân sư DK đã liệt kê cách Thánh đoàn tiếp cận những người chí nguyện đang chịu giới hạn do tính vị kỷ của chính họ.

194. It is clear that dominant personalities often criticize and interfere with the work of others. They must learn to sacrifice their criticism and interference.

194. Rõ ràng, những phàm ngã thích chi phối thường chỉ trích và can thiệp vào công việc của người khác. Họ phải học cách từ bỏ sự chỉ trích và can thiệp của mình.

195. As for the dangers of mental pride, they are particularly evident in a number of students of Theosophy, broadly considered.

195. Về những nguy cơ của sự kiêu hãnh trí tuệ, chúng đặc biệt rõ rệt nơi một số đạo sinh Thông Thiên Học, xét theo nghĩa rộng.

this of course means, incidentally, serving the Hierarchy and thus [109] demonstrate their ability to work within an Ashram.

điều này đồng thời có nghĩa là phụng sự Thánh đoàn và nhờ đó [109] chứng tỏ khả năng làm việc trong một ashram.

196. The primary requirement is to serve humanity. The disciple who does this will, incidentally, need to serve the Hierarchy—whether consciously or unconsciously.

196. Yêu cầu hàng đầu là phụng sự nhân loại. Khi làm điều này, người đệ tử cũng sẽ cần phụng sự Thánh đoàn—dù có ý thức hay không.

Disciples—in the earlier stages—are apt to be didactic; they like to express in words their profound understanding of occult truth and thereby, in reality, establish their superiority over non-esoteric students, and in so doing (again incidentally) antagonise those they otherwise could help.

Ở những giai đoạn đầu, các đệ tử dễ có khuynh hướng lên lớp; họ thích diễn đạt bằng lời sự thấu hiểu sâu sắc của mình về chân lý huyền bí, và qua đó, thực ra, khẳng định sự vượt trội của mình so với những đạo sinh không theo học huyền bí học; khi làm như thế, họ lại khiến những người mà lẽ ra mình có thể giúp đỡ trở nên chống đối.

197. How well He sees the situation! So much, so-called teaching, is nothing but personality emphasis in another form.

197. Ngài nhìn thấu tình hình biết bao! Biết bao điều gọi là giảng dạy chẳng qua chỉ là sự đề cao phàm ngã dưới một hình thức khác.

198. It is hard to outgrow the personality; familiarity with the teaching and the ability to speak about it, is no guarantee that egoistic personality limitations have been outgrown.

198. Thật khó vượt lên trên phàm ngã; sự thông thuộc giáo huấn và khả năng nói về giáo huấn không bảo đảm rằng người ta đã vượt qua những giới hạn vị kỷ của phàm ngã.

They like to show their unique familiarity with hierarchical principles but, as they are not yet living those principles, they hinder more than they can help; at the same time, through self-discovery, they learn much thereby.

Họ thích phô bày sự thông thuộc đặc biệt của mình đối với các nguyên khí của Thánh đoàn, nhưng vì chưa sống theo những nguyên khí ấy nên họ gây trở ngại nhiều hơn là giúp ích; đồng thời, qua việc tự khám phá, họ cũng học được nhiều điều từ đó.

199. The key, of course, is for us to “walk our talk”, and live the excellent principles with which we may have become familiar.

199. Dĩ nhiên, điều then chốt là chúng ta phải “làm đúng như lời mình nói”, và sống theo những nguyên khí cao đẹp mà có thể chúng ta đã thông thuộc.

200. The egoistic disciple, of course, will provoke a reaction antagonistic to his pretensions, and through this reaction he will learn.

200. Dĩ nhiên, người đệ tử vị kỷ sẽ khơi dậy một phản ứng chống lại những điều ông tự phụ phô trương, và qua phản ứng này, ông sẽ học hỏi.

They believe that in expressing their knowledge of petty and unimportant details anent the lives and methods of the Masters, a high point of spiritual understanding and development is thereby indicated. This is not by any means the case. In the last analysis, it indicates a superficial sense of false values, and seventy per cent of their information is wrong and of no importance.

Họ tin rằng việc biểu lộ kiến thức về những chi tiết nhỏ nhặt và không quan trọng liên quan đến đời sống cùng các phương pháp của các Chân sư chứng tỏ một trình độ thấu hiểu và phát triển tinh thần cao. Hoàn toàn không phải như vậy. Xét đến cùng, điều đó cho thấy một nhận thức hời hợt dựa trên những giá trị sai lầm, và bảy mươi phần trăm thông tin của họ là sai và không có tầm quan trọng.

201. In this last letter, we find DK being unusually frank.

201. Trong bức thư cuối cùng này, chúng ta thấy Chân sư DK thẳng thắn khác thường.

202. His words are sobering. He never uses percentages lightly. When He states a percentage, it is done with exactitude.

202. Những lời của Ngài khiến chúng ta phải tỉnh táo suy xét. Ngài không bao giờ dùng các tỉ lệ phần trăm một cách tùy tiện. Khi Ngài nêu một tỉ lệ phần trăm, Ngài luôn nêu chính xác.

203. Do any of us imagine that seventy percent of what we may say about the Masters may be petty, wrong or of no importance.

203. Có ai trong chúng ta hình dung rằng bảy mươi phần trăm những gì chúng ta có thể nói về các Chân sư có thể là vụn vặt, sai lầm hoặc không có tầm quan trọng.

204. The excerpt above is a challenge to ensure that our spiritual values are correct and in alignment with world need.

204. Đoạn trích trên là một lời thách thức, đòi hỏi chúng ta bảo đảm rằng các giá trị tinh thần của mình là đúng đắn và phù hợp với nhu cầu thế giới.

I feel it necessary to emphasise the unimportance of their claims to information because the work of the Masters and Their freedom to serve humanity as They desire have been greatly hindered by these foolish thoughtforms and by the preconceived ideas of well-intentioned aspirants. The Masters very seldom resemble the theories, the pictures and the information which is so frequently circulated by the average aspirant. This whole business of occult gossip and of misinformation governs the majority of the many little occult groups.

Tôi thấy cần phải nhấn mạnh sự không quan trọng của những điều họ tự nhận là biết, vì những hình tư tưởng ngớ ngẩn này và những ý tưởng định sẵn của những người chí nguyện có thiện chí đã cản trở rất nhiều công việc của các Chân sư và sự tự do phụng sự nhân loại theo ý muốn của Các Ngài. Các Chân sư rất hiếm khi giống với những lý thuyết, hình ảnh và thông tin mà người chí nguyện thông thường hay lưu truyền. Toàn bộ chuyện đồn đại huyền bí và thông tin sai lệch này chi phối phần lớn trong số nhiều nhóm huyền bí nhỏ bé.

205. When we think, write and speak of the Masters, we are asked to do so with as much accuracy as possible. We are told that much of what the average aspirant communicates on this subject is a hindrance to the Masters’ intentions. Do we know that we are not numbered among those who miscommunicate?

205. Khi suy nghĩ, viết và nói về các Chân sư, chúng ta được yêu cầu làm điều đó với mức độ chính xác cao nhất có thể. Chúng ta được cho biết rằng phần lớn những gì người chí nguyện thông thường truyền đạt về chủ đề này đều cản trở các ý định của các Chân sư. Chúng ta có biết chắc rằng mình không nằm trong số những người truyền đạt sai lệch không?

206. One can hardly say that Master DK is mincing words. In this, His last communication, He is being utterly clear and direct—thus, it would seem, clearing away much glamor.

206. Khó có thể nói rằng Chân sư DK đang nói vòng vo. Trong thông điệp cuối cùng này của Ngài, Ngài nói hết sức rõ ràng và thẳng thắn—qua đó, dường như Ngài đang quét sạch nhiều ảo cảm.

Until groups are formed which consist of disciples and senior aspirants who possess self-ascertained knowledge and who are capable of correct interpretation of the occult facts, and who are also endowed with the rare group virtue of silence, we shall not have the desired externalisation of the Ashrams.

Chừng nào chưa hình thành những nhóm gồm các đệ tử và người chí nguyện lâu năm có tri thức do chính mình xác minh, có khả năng diễn giải đúng các sự kiện huyền bí, đồng thời có đức tính nhóm hiếm có là im lặng, chúng ta sẽ chưa có sự ngoại hiện các ashram như mong muốn.

207. The Tibetan tells us what is necessary if the externalization of the Ashrams is to move forward. He states the requirements and they apply to us. Let us tabulate them for clarity:

207. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết điều gì là cần thiết để sự ngoại hiện các ashram có thể tiến triển. Ngài nêu các yêu cầu, và những yêu cầu ấy áp dụng cho chúng ta. Chúng ta hãy liệt kê chúng cho rõ ràng:

a. Groups must consist of disciples and senior aspirants

a. Các nhóm phải gồm các đệ tử và những người chí nguyện lâu năm

b. Such individuals just possess self-ascertained knowledge

b. Những cá nhân như vậy chỉ có tri thức do chính mình xác minh

c. Such individuals must be capable of correct interpretation of the occult facts

c. Những cá nhân như vậy phải có khả năng diễn giải đúng các sự kiện huyền bí

d. Such individuals must be endowed with the rare group virtue of silence. Note that DK calls silence “group virtue”, which emphasizes its importance in all group work.

d. Những cá nhân như vậy phải có đức tính hiếm có của nhóm là im lặng. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK gọi sự im lặng là “đức tính nhóm”, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của nó trong mọi công việc nhóm.

I would have you think on these matters and prepare yourselves for a better and sounder appreciation, plus a more adequate meeting of hierarchical requirements in your next incarnation.

Tôi muốn các bạn suy nghĩ về những vấn đề này và tự chuẩn bị để nhận thức tốt hơn, vững chắc hơn, đồng thời đáp ứng đầy đủ hơn những yêu cầu của Thánh đoàn trong kiếp nhập thể tới.

208. This is advice to us as well as we look ahead to future possibilities.

208. Đây cũng là lời khuyên dành cho chúng ta khi chúng ta hướng tới những khả năng trong tương lai.

209. It may be that some of those to whom DK was speaking have returned and perhaps have ‘re-read’ the requirements, now more able to apply them.

209. Có thể một số người mà Chân sư DK đã nói với đã trở lại và có lẽ đã ‘đọc lại’ các yêu cầu ấy, giờ đây có khả năng áp dụng chúng tốt hơn.

And now, my brothers and co-workers, I leave you to work, serve and study; by that last word, I mean reflect and think.

Và giờ đây, các huynh đệ và đồng sự của Tôi, Tôi để các bạn làm việc, phụng sự và nghiên cứu; qua từ cuối cùng ấy, Tôi muốn nói đến suy ngẫm và tư duy.

210. The usual trinity is meditation, study and service. To study is not merely to read. Reflection and thought are an indispensable accompaniment to the necessary reading.

210. Bộ ba thông thường là tham thiền, học hỏi và phụng sự. Học hỏi không chỉ là đọc. Suy ngẫm và tư duy là những yếu tố không thể thiếu, đi kèm với việc đọc cần thiết.

I would commend to your consideration (because you cannot as yet think truly constructively, but only imaginatively) [110] the place in this hierarchical planning, adjusting and aligning that my Ashram should take and of your part in it, as an individual and as a group, above all.

Tôi muốn các bạn xem xét (vì hiện nay các bạn chưa thể tư duy thực sự theo cách kiến tạo, mà chỉ mới bằng sự tưởng tượng) [110] vị trí mà ashram của Tôi nên đảm nhận trong công việc hoạch định, điều chỉnh và chỉnh hợp này của Thánh đoàn, cùng phần việc của các bạn trong đó, với tư cách cá nhân và trên hết là với tư cách một nhóm.

211. DK differentiates between constructive thinking and imaginative thinking. The latter must precede the former. Since we do not know the Ashram with intimacy, our thought cannot reflect its realities and thus be truly constructive. Imagination, however, when rightly motivated, may begin to approximate the reality, and so we are enjoined to think imaginatively of our individual and group roles in the Master’s Ashram.

211. Chân sư DK phân biệt giữa tư duy kiến tạo và tư duy bằng sự tưởng tượng. Loại sau phải đi trước loại đầu. Vì chúng ta không hiểu biết ashram một cách sâu sát, tư duy của chúng ta không thể phản ánh những thực tại của ashram và do đó không thể thực sự mang tính kiến tạo. Tuy nhiên, khi có động cơ đúng đắn, sự tưởng tượng có thể bắt đầu tiến gần đến thực tại, và vì thế chúng ta được khuyên hãy dùng sự tưởng tượng để suy nghĩ về vai trò cá nhân và vai trò nhóm của mình trong ashram của Chân sư.

212. He asks His chelas (and He asks us) to think in terms of the Ashram— His Ashram.

212. Ngài yêu cầu các đệ tử của Ngài (và Ngài cũng yêu cầu chúng ta) suy nghĩ trong khuôn khổ của ashram—ashram của Ngài.

I ask your aid so that one of the newest Ashrams may play a good part in the group of Ashrams, gathered around that of the One Who was my Master, the Chohan K.H.

Tôi xin sự trợ giúp của các bạn để một trong những ashram mới nhất có thể đảm nhận tốt vai trò của mình trong nhóm ashram quy tụ quanh ashram của Đấng từng là Chân sư của Tôi, Đức Chohan KH.

213. Here the Master attempts to evoke from us a greater sense of responsibility so that we may see the importance of our efforts. DK wants His Ashram (quite a new Ashram) to fulfill its role with other second ray Ashrams gathered around His Master, the Chohan KH. We do not know the inner workings of Master DK’s Ashram. Perhaps on inner levels it is fulfilling its part. On outer levels, however, much remains to be done by disciples like ourselves to ensure the Ashram’s outer success.

213. Ở đây, Chân sư tìm cách khơi dậy trong chúng ta tinh thần trách nhiệm lớn hơn để chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của những nỗ lực của mình. Chân sư DK muốn ashram của Ngài (một ashram khá mới) hoàn thành vai trò của mình cùng các ashram cung hai khác quy tụ quanh Chân sư của Ngài, Đức Chohan KH. Chúng ta không biết hoạt động bên trong ashram của Chân sư DK diễn ra như thế nào. Có lẽ ở các cấp độ bên trong, ashram đang hoàn thành phần việc của mình. Tuy nhiên, ở các cấp độ bên ngoài, các đệ tử như chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm để bảo đảm thành công của ashram ở bên ngoài.

There has been much pressure on you this year; I have seen and noted it; the group—as a group—has done better this year than for some years past;

Năm nay các bạn đã chịu nhiều áp lực; Tôi đã thấy và ghi nhận điều đó; nhóm—xét như một nhóm—đã làm tốt hơn trong năm nay so với vài năm trước;

214. It is as if an increase in pressure ensures an increase in accomplishment.

214. Dường như áp lực gia tăng bảo đảm thành tựu cũng gia tăng.

215. A principle emerges: if we wish to succeed, we must keep the pressure on!

215. Một nguyên tắc hiện rõ: nếu muốn thành công, chúng ta phải duy trì áp lực!

and I have seen a deepening of devotion and a strengthening of conviction. Failures, where they may be found, need not persist, for the group love can offset them all;

và Tôi đã thấy sự sùng kính sâu sắc hơn cùng niềm xác tín vững mạnh hơn. Những thất bại, ở nơi nào còn có, không nhất thiết phải tiếp diễn, bởi tình thương của nhóm có thể hóa giải tất cả;

216. Another principle of importance: group love can offset the failure of the members of the group and, perhaps, of the group itself.

216. Một nguyên tắc quan trọng khác: tình thương của nhóm có thể hóa giải thất bại của các thành viên trong nhóm và có lẽ cả thất bại của chính nhóm.

personality weaknesses, mistakes and faults are overlooked and forgotten in the urgency of human need;

những yếu điểm, sai lầm và lỗi lầm của phàm ngã được bỏ qua và quên đi trước tính cấp bách của nhu cầu nhân loại;

217. This will be so if our sense of spiritual values are rightly adjusted.

217. Điều này sẽ diễn ra nếu cảm nhận của chúng ta về các giá trị tinh thần được điều chỉnh đúng đắn.

they do not even penetrate into the Ashram. I would ask you to remember this, and with humility in your hearts, persistence in your efforts and love to all men, pass on your way.

chúng thậm chí không thâm nhập vào ashram. Tôi muốn các bạn ghi nhớ điều này, và với lòng khiêm nhường, sự bền bỉ trong nỗ lực cùng tình thương dành cho mọi người, hãy tiếp tục con đường của mình.

218. It is very important that we remember this. The personality faults over which we may expend so much time in thought and self-recrimination, do not even penetrate into the Ashram. The Master may make Himself aware of such failures if He wishes, but usually we are left to solve these problems.

218. Việc chúng ta ghi nhớ điều này là rất quan trọng. Những lỗi lầm của phàm ngã mà chúng ta có thể dành quá nhiều thời gian để suy nghĩ và tự trách thậm chí không thâm nhập vào ashram. Nếu muốn, Chân sư có thể chủ động biết đến những thất bại ấy, nhưng thường Ngài để chúng ta tự giải quyết những vấn đề này.

219. The advise given is so sound, that it should be a watch word for us all: “with humility in your hearts, persistence in your efforts and love to all men, pass on your way”.

219. Lời khuyên này đúng đắn đến mức tất cả chúng ta nên lấy đó làm phương châm: “với lòng khiêm nhường, sự bền bỉ trong nỗ lực cùng tình thương dành cho mọi người, hãy tiếp tục con đường của mình”.

Let love play its part in all your lives and all your inter-relations as it must and does in the Hierarchy;

Hãy để tình thương thực hiện vai trò của mình trong toàn bộ đời sống và mọi mối tương quan của các bạn, như tình thương phải làm và đang làm trong Thánh đoàn;

220. The Spiritual Hierarchy is the Hierarchy of Love. “Let pain bring due reward of light and love”.

220. Thánh đoàn là Thánh đoàn của Tình thương. “Hãy để đau khổ mang lại phần thưởng xứng đáng là ánh sáng và tình thương”.

look upon the Ashram to which you are affiliated as a miniature Hierarchy and model your efforts upon what you have learned anent the Hierarchy;

hãy xem ashram mà các bạn liên kết là một Thánh đoàn thu nhỏ và noi theo những gì đã học về Thánh đoàn trong nỗ lực của mình;

221. Our first spiritual work must be in relation to our Ashram; this must be perfected before we can work in relation to the entire Spiritual Hierarchy.

221. Công việc tinh thần đầu tiên của chúng ta phải gắn với ashram của chúng ta; chúng ta phải hoàn thiện công việc này trước khi có thể làm việc trong mối liên hệ với toàn thể Thánh đoàn.

count all things but loss unless they are productive along the line of service to humanity, and become increasingly factual in your attitude to all disciples and to the Hierarchy.

hãy xem mọi sự đều là mất mát trừ khi chúng đem lại kết quả trên con đường phụng sự nhân loại, và ngày càng thực tế hơn trong thái độ đối với mọi đệ tử và với Thánh đoàn.

222. If what we do does not serve humanity it is simply wasted effort.

222. Nếu những gì chúng ta làm không phụng sự nhân loại thì đó chỉ là nỗ lực uổng phí.

223. The second piece of advice is very interesting: we are asked to become increasingly factual in our attitude towards all disciples and to the Hierarchy. This would mean that we see all disciples and the Hierarchy free from the distortions of glamour and illusion. This will usually require a significant adjustment of our thoughts and imaginings.

223. Lời khuyên thứ hai rất thú vị: chúng ta được yêu cầu ngày càng căn cứ vào thực tế trong thái độ đối với mọi đệ tử và với Thánh đoàn. Điều này có nghĩa là chúng ta nhìn mọi đệ tử và Thánh đoàn mà không để những sự bóp méo do ảo cảm và ảo tưởng che lấp. Điều này thường đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh đáng kể những suy nghĩ và hình dung của mình.

The coming cycle is momentous in its offering of opportunity, and I would have you—again as individuals and as a group—measure up to this chance.

Chu kỳ sắp tới có ý nghĩa trọng đại vì những cơ hội nó đem lại, và Tôi muốn các bạn—một lần nữa, với tư cách cá nhân và một nhóm—đáp ứng xứng đáng cơ hội này.

224. Does DK mean the cycle that lay immediately ahead of the disciples to whom He was writing, or the cycle of their next incarnation? Maybe both.

224. Chân sư DK muốn nói đến chu kỳ ngay trước mắt những đệ tử mà Ngài đang viết thư cho, hay chu kỳ của kiếp lâm phàm kế tiếp của họ? Có lẽ là cả hai.

Fix your eyes on human need and your hand in mine (if I may speak thus to you in symbols) and go forward with me to greater influence and deeper usefulness.

Hãy chăm chú nhìn vào nhu cầu nhân loại và đặt tay các bạn trong tay Tôi (nếu Tôi có thể nói với các bạn bằng những biểu tượng như thế), rồi cùng Tôi tiến đến tầm ảnh hưởng lớn hơn và sự hữu ích sâu sắc hơn.

225. As final words to the remaining members of the New Seed Group, these words are impressive, inspiring and heart-warming.

225. Là những lời cuối cùng gửi đến các thành viên còn lại của Nhóm Hạt Giống Mới, những lời này thật ấn tượng, đầy cảm hứng và làm ấm lòng.

226. We are to fix our eye on human need.

226. Chúng ta phải chăm chú nhìn vào nhu cầu nhân loại.

227. We are to place our ‘hand’ in the ‘hand’ of the Master.

227. Chúng ta phải đặt ‘tay’ mình trong ‘tay’ của Chân sư.

228. We are to move forward with Him to greater influence.

228. Chúng ta phải cùng Ngài tiến đến tầm ảnh hưởng lớn hơn.

229. We are to move forward with Him into deeper usefulness.

229. Chúng ta phải cùng Ngài tiến đến sự hữu ích sâu sắc hơn.

230. Can one resist such a request?

230. Ai có thể cưỡng lại một lời yêu cầu như thế?