Trích nội dung chương
It has been your lack of comprehension and of understood opportunity which has distressed me and bewildered A.A.B. Chính sự thiếu thấu hiểu và việc không nhận thức được cơ hội của các bạn đã khiến Tôi phiền lòng và khiến Bà A.A.B.
It has been your lack of comprehension and of understood opportunity which has distressed me and bewildered A.A.B.
Chính sự thiếu thấu hiểu và việc không nhận thức được cơ hội của các bạn đã khiến Tôi phiền lòng và khiến Bà A.A.B.
20. The Master admits to distress in relation to His chelas’ relative non-response. The disciples simply failed to understand the nature and scope of the opportunity offered them. Can we be sure that we would understand and respond properly?
20. Chân sư thừa nhận Ngài phiền lòng trước sự tương đối thiếu đáp ứng của các đệ tử Ngài. Các đệ tử đơn giản đã không thấu hiểu bản chất và phạm vi của cơ hội dành cho họ. Liệu chúng ta có thể chắc rằng chính chúng ta sẽ thấu hiểu và đáp ứng đúng đắn không?
Like all disciples, she had at first to work in the dark; she knew nothing in her physical brain consciousness of the Masters or the Hierarchy when she started to serve, but she continued to serve for many years till discovery rewarded her or (should I perhaps say?) recovery of ancient links and knowledge clarified her vision and her position in regard to truth.
hoang mang. Như mọi đệ tử, lúc đầu Bà đã phải làm việc trong bóng tối; khi bắt đầu phụng sự, trong tâm thức bộ não hồng trần của mình, Bà không biết gì về các Chân sư hay Thánh đoàn, nhưng Bà vẫn tiếp tục phụng sự suốt nhiều năm cho tới khi sự khám phá trở thành phần thưởng cho Bà, hay (có lẽ Tôi nên nói là?) việc khôi phục những mối liên kết và tri thức từ xa xưa đã làm sáng tỏ tầm nhìn và lập trường của Bà đối với chân lý.
21. One of the rules of discipleship is given; the disciple must at first work in the dark and prove his or her worthiness through service.
21. Ở đây nêu ra một trong những quy luật của địa vị đệ tử: lúc đầu, đệ tử phải làm việc trong bóng tối và chứng tỏ mình xứng đáng qua việc phụng sự.
22. If we find ourselves highly motivated with respect to the Ageless Wisdom is it very likely that ancient links and knowledge lie behind us. Of course, the recovery of these would serve as a great clarification of our Path.
22. Nếu chúng ta thấy mình có động lực mạnh mẽ đối với Minh Triết Ngàn Đời, rất có thể đằng sau chúng ta là những mối liên kết và tri thức từ xa xưa. Dĩ nhiên, việc khôi phục những điều này sẽ giúp làm sáng tỏ rất nhiều Đường Đạo của chúng ta.
23. As we have meditated, studied and served, have we somewhat felt such a recovery?
23. Trong quá trình tham thiền, học hỏi và phụng sự, chúng ta đã phần nào cảm nhận được sự khôi phục như thế chưa?
Slowly she now withdraws into that service which will (within the Ashram) enable K.H. to do more deeply spiritual work in collaboration with the Christ.
Giờ đây, Bà đang từ từ rút vào công việc phụng sự sẽ cho phép Chân sư KH (trong ashram) thực hiện công việc tinh thần sâu sắc hơn trong sự cộng tác với Đức Christ.
24. Our privilege (once we have proven ourselves) is to relieve our superiors. When, through out competence, we unburden our superiors, the entire Plan is served.
24. Đặc ân của chúng ta (một khi đã chứng tỏ được bản thân) là đỡ đần các bậc cao hơn mình. Khi dùng năng lực của mình để giảm bớt gánh nặng cho các bậc ấy, chúng ta phụng sự toàn bộ Thiên Cơ.
It was to train her and thus enable her to do this that she undertook, alone and without my help, to found and organise the Arcane School;
Chính để huấn luyện Bà và nhờ đó giúp Bà làm được điều này mà Bà đã đảm nhận, một mình và không có sự trợ giúp của Tôi, việc sáng lập và tổ chức Trường Arcane;
25. The necessary training is, it seems, to be assigned oneself by oneself. As we master the smaller tasks we are inevitably proving our fitness for larger ones.
25. Dường như chúng ta phải tự giao cho mình việc huấn luyện cần thiết. Khi thành thạo những nhiệm vụ nhỏ hơn, chúng ta tất yếu đang chứng tỏ mình đủ khả năng đảm đương những nhiệm vụ lớn hơn.
26. Probably, there are many who think that Master DK helped AAB with the Arcane School every step of the way. DK’s words put a new personality on AAB’s self-reliance—the great theme of the Buddha’s last sermon.
26. Có lẽ nhiều người nghĩ rằng Chân sư DK đã giúp Bà AAB trong công việc Trường Arcane ở từng bước một. Những lời của Chân sư DK đem lại một sắc thái mới cho tính tự lực của Bà AAB—chủ đề lớn trong bài thuyết pháp cuối cùng của Đức Phật.
it gave her much needed training and experience and enabled her to demonstrate the quality of the teaching and that esoteric psychology which is the major task in each Ashram and particularly in the second ray Ashram.
công việc ấy đem lại cho Bà sự huấn luyện và kinh nghiệm rất cần thiết, đồng thời giúp Bà chứng tỏ phẩm tính của giáo huấn và của Tâm Lý Học Nội Môn, vốn là nhiệm vụ chủ yếu trong mỗi ashram và đặc biệt trong ashram cung hai.
27. It is interesting that these second ray processes—teaching and esoteric psychology are the major task in each Ashram regardless of its ray—though the particularly major task in second ray Ashrams.
27. Điều thú vị là những tiến trình cung hai này—giảng dạy và tâm lý học nội môn—là nhiệm vụ chủ yếu trong mỗi ashram, bất kể ashram ấy thuộc cung nào, dù đây là nhiệm vụ đặc biệt chủ yếu trong các ashram cung hai.
28. Hierarchy is majorly a second ray body, and this second ray pervades all the Ashrams. Further the entire Hierarchy is involved in a major spiritual propaganda ‘offensive’ at this time, for the second ray cycle of five hundred years is still with us until 2075 and we are presently in the critical period of the Forerunner.
28. Thánh đoàn chủ yếu là một đoàn thể cung hai, và cung hai này thấm nhuần mọi ashram. Hơn nữa, vào lúc này, toàn thể Thánh đoàn đang tham gia một cuộc ‘tiến công’ tuyên truyền tinh thần lớn, vì chu kỳ cung hai kéo dài năm trăm năm vẫn còn tiếp diễn với chúng ta cho đến năm 2075, và hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn then chốt của Đấng Tiền Hô.
I would like to say at this point to all of you who have remained steadfast, even if perforce inactive,
Lúc này, Tôi muốn nói với tất cả các bạn đã giữ vững sự kiên định, dù buộc phải ngừng hoạt động,
29. ”Perforce” means, necessarily so.
29. “Perforce” có nghĩa là buộc phải như vậy.
that I would ask you as life proceeds and you face eventually and inevitably the discarding of the vehicle, to hold increasingly on to your knowledge of the Hierarchy and thus to pass over to the other side with complete dedication to the hierarchical Plan.
rằng khi cuộc sống tiếp diễn và cuối cùng các bạn phải đối diện với việc tất yếu từ bỏ hiện thể, Tôi mong các bạn ngày càng giữ vững tri thức của mình về Thánh đoàn, để nhờ đó bước sang phía bên kia với sự tận hiến trọn vẹn cho Thiên Cơ của Thánh đoàn.
30. There is, we see, the possibility that the attention of formerly active disciples could fade from an awareness of Hierarchy. We are being told that, as death approaches, it is important to keep our vision of Hierarchy strong and clear and our dedication to the hierarchical Plan “complete”
30. Chúng ta thấy rằng các đệ tử trước kia từng hoạt động có thể dần không còn chú tâm nhận biết về Thánh đoàn. Chúng ta đang được nhắc rằng khi cái chết đến gần, điều quan trọng là giữ cho tầm nhìn của chúng ta về Thánh đoàn luôn mạnh mẽ và rõ ràng, đồng thời giữ cho sự tận hiến của chúng ta đối với Thiên Cơ của Thánh đoàn được “trọn vẹn”
31. If the disciples do not “hold on” to their knowledge of Hierarchy then that knowledge may not be sufficiently sustained to ensure an immediate continuity of effort on the other side.
31. Nếu các đệ tử không “giữ vững” tri thức của mình về Thánh đoàn, thì tri thức ấy có thể không được duy trì đủ để bảo đảm nỗ lực được tiếp nối ngay lập tức ở phía bên kia.
This is not simply a suggestion on my part; it is an attempt on my part to call to your attention the concept of a spiritual continuity of knowledge and of a rightly oriented attitude.
Đây không chỉ là một lời gợi ý của Tôi; đây là nỗ lực của Tôi nhằm hướng sự chú ý của các bạn đến khái niệm về tính liên tục tinh thần của tri thức và của một thái độ định hướng đúng đắn.
32. We are in the process of cultivating continuity of consciousness; DK is asking us to hold in mind a “spiritual continuity of knowledge” which will exist if we approach our transition with a “rightly oriented attitude”.
32. Chúng ta đang trong tiến trình vun bồi tính liên tục của tâm thức; Chân sư DK yêu cầu chúng ta ghi nhớ “tính liên tục tinh thần của tri thức”, vốn sẽ tồn tại nếu chúng ta đón nhận sự chuyển tiếp của mình với một “thái độ định hướng đúng đắn”.
33. All this informs us that it is very easy for people (even disciples) to lose their way and thus lose time.
33. Tất cả những điều này cho chúng ta biết rằng con người (kể cả các đệ tử) rất dễ lạc đường và do đó lãng phí thời gian.
34. Time, though an illusion, is “of the essence” and must not be lost.
34. Thời gian, dù là một ảo tưởng, vẫn “có tầm quan trọng thiết yếu” và không được để lãng phí.
Thus time will not be lost; you can—if you so choose, each and all of you—attain a true continuity of consciousness and it is one of the factors which will serve to hold this group of disciples together.
Như vậy, thời gian sẽ không bị lãng phí; nếu lựa chọn như thế, từng người và tất cả các bạn đều có thể đạt đến tính liên tục thực sự của tâm thức, và đó là một trong những yếu tố sẽ góp phần giữ nhóm đệ tử này gắn bó với nhau.
35. DK is linking the attainment of a “true continuity of consciousness” with an act of will. If we think strongly in the direction of that continuity, its development will be facilitated.
35. Chân sư DK đang liên kết việc đạt đến “tính liên tục thực sự của tâm thức” với một hành động của ý chí. Nếu chúng ta suy nghĩ mạnh mẽ theo hướng liên tục ấy, sự phát triển của nó sẽ thuận lợi hơn.
[102]
[102]
There are some things which I must say to you as this will be my last instruction on the theme of group work.
Có một số điều Tôi phải nói với các bạn, vì đây sẽ là huấn thị cuối cùng của Tôi về chủ đề công việc nhóm.
36. So, we are receiving DK’s last words in relation to His group.
36. Vì vậy, chúng ta đang tiếp nhận những lời cuối cùng của Chân sư DK liên quan đến nhóm của Ngài.
It is not necessary for me to say much more upon the subject. I would start with some questions. Do you ever think with recognition of those who are no longer working with us?
Tôi không cần nói thêm nhiều về chủ đề này. Tôi muốn bắt đầu bằng một vài câu hỏi. Các bạn có bao giờ nghĩ đến và ghi nhận những người không còn làm việc cùng chúng ta không? Chẳng hạn,
37. The question is directed towards the preservation of group cohesion and group continuity. Those who would be group conscious must at least hold their fellow group member in mind.
37. Câu hỏi này hướng đến việc duy trì sự cố kết và tính liên tục của nhóm. Những ai muốn có tâm thức nhóm ít nhất phải giữ các thành viên đồng nhóm trong tâm trí.
For instance, is D.A.O. ever in your minds?
D.A.O. có bao giờ hiện diện trong tâm trí các bạn không?
38. DAO—Helen Freeman—71-4???—in the Group IX.2 (Observers of Reality). To the disciple who took that place of DAO, DK said the following:
38. DAO—Helen Freeman—71-4???—thuộc Nhóm IX.2 (Các Nhà Quan Sát Thực Tại). Với người đệ tử thay thế vị trí của DAO, Chân sư DK đã nói như sau:
“You are taking the place of a creative worker who succumbed—sincerely and honestly—to the glamour of a ‘free and independent soul’—a paradoxical idea and one which shows forgetfulness of the fact that the heresy of separateness, of aloneness and of independence is a part of the world glamour. This brother was thus unable to cooperate and valued his “personal freedom” higher than the planned group activity and thus for two years delayed this group of workers from arriving at [133] the intended activity.” (DINA I 132-133)
“Em đang thay thế vị trí của một người hoạt động sáng tạo đã—một cách chân thành và trung thực—khuất phục trước ảo cảm về một ‘linh hồn tự do và độc lập’—một ý tưởng nghịch lý cho thấy sự quên lãng rằng tà thuyết về tính chia rẽ, sự đơn độc và tính độc lập là một phần của ảo cảm thế gian. Vì thế, người huynh đệ này đã không thể hợp tác và coi trọng “tự do cá nhân” của mình hơn hoạt động nhóm đã hoạch định, do đó đã khiến nhóm người hoạt động này chậm mất hai năm mới đạt tới [133] hoạt động dự định.” (DINA I 132-133)
Do you ever think of S.C.P., of W.D.B., of J.A.C., or of that expert worker for the Hierarchy, L.D.N-C?
Các bạn có bao giờ nghĩ đến S.C.P., W.D.B., J.A.C., hay L.D.N-C., người hoạt động thành thạo ấy của Thánh đoàn, không?
39. SCP—Betty Harris—16-261, in Groups IX. 1, the Telepathic Communicators.
39. SCP—Betty Harris—16-261, thuộc các Nhóm IX. 1, Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm.
40. WDB—Dorothy Grenside—24--???—in Group IX.2, the Observers of Reality
40. WDB—Dorothy Grenside—24--???—thuộc Nhóm IX.2, Các Nhà Quan Sát Thực Tại
41. JAC—Francis Andersen—12-413—in the nascent Group IX.5, the Political Workers.
41. JAC—Francis Andersen—12-413—thuộc Nhóm IX.5 mới hình thành, Những Người Hoạt Động Chính Trị.
42. LDN-C—Madeline Doty—16-???, again in the nascent Group IX.5, the Political Workers.
42. LDN-C—Madeline Doty—16-???, cũng thuộc Nhóm IX.5 mới hình thành, Những Người Hoạt Động Chính Trị.
43. If we look into DINA I we shall see that three of these workers did not stay in the Tibetan’s groups for long at all. Only SCP was a member of the New Seed Group.
43. Nếu xem DINA I, chúng ta sẽ thấy rằng ba người trong số những người hoạt động này chỉ ở lại trong các nhóm của Chân sư Tây Tạng một thời gian rất ngắn. Chỉ SCP là thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới.
44. It is interesting that LDN-C is called an “expert worker for the Hierarchy”. To her DK said something more interesting, indicating the importance of the rays conditioning previous lives:
44. Điều thú vị là LDN-C được gọi là một “người hoạt động thành thạo của Thánh đoàn”. Chân sư DK đã nói với bà một điều còn thú vị hơn, cho thấy tầm quan trọng của các cung đã tác động lên những kiếp sống trước:
“Fortunately for you, in your last life, your personality ray was the second ray of love and so it had been for several previous lives. This has greatly aided in off-setting the dynamic destructive effects of your sixth ray force. Of this you should be very glad.” (DINA I 262)
“May mắn cho em, trong kiếp sống vừa qua, cung phàm ngã của em là cung hai bác ái, và trong vài kiếp trước đó cũng như vậy. Điều này đã giúp ích rất nhiều trong việc hóa giải những tác động hủy diệt mạnh mẽ của mãnh lực cung sáu nơi em. Em nên rất vui mừng về điều này.” (DINA I 262)
This should convey an important realization—that progress does not always mean movement from a ray of attribute to a ray of aspect.
Điều này hẳn giúp chúng ta có một nhận thức quan trọng—rằng tiến bộ không phải lúc nào cũng có nghĩa là chuyển từ một cung thuộc tính sang một cung trạng thái.
I would guarantee that they seldom enter your mind. Yet they are still an integral part of this group which had the task and the responsibility of being one of the first groups (not by any means the only one, however) to attempt to make the first steps towards the externalisation of the Ashrams of the Hierarchy.
Tôi có thể bảo đảm rằng họ hiếm khi xuất hiện trong tâm trí các bạn. Thế nhưng họ vẫn là một phần không thể tách rời của nhóm này, vốn có nhiệm vụ và trách nhiệm trở thành một trong những nhóm đầu tiên (tuy nhiên, hoàn toàn không phải nhóm duy nhất) cố gắng thực hiện những bước đầu hướng đến sự ngoại hiện các ashram của Thánh đoàn.
45. DK is giving His remaining chelas a lesson. Though these disciples, some very briefly associated in former years, are now both out of sight and out of mind (as far as His remaining chelas are concerned), they are not out of the group experiment and will be associated in the future. They are integral to the group effort.
45. Chân sư DK đang dạy cho những đệ tử còn lại của Ngài một bài học. Dù hiện nay những đệ tử này, trong đó một số chỉ gắn bó rất ngắn ngủi vào những năm trước, đã vừa khuất mắt vừa bị lãng quên (đối với những đệ tử còn lại của Ngài), họ vẫn thuộc cuộc thử nghiệm nhóm và sẽ lại gắn bó trong tương lai. Họ là một phần không thể tách rời của nỗ lực nhóm.
46. As ever, DK puts things in proportion. His experiment with some fifty-one chelas was not the only such experiment. It is easy to understand why His chelas needed to hear this with some frequency.
46. Như thường lệ, Chân sư DK đặt mọi việc vào đúng tỉ lệ. Cuộc thử nghiệm của Ngài với khoảng năm mươi mốt đệ tử không phải là cuộc thử nghiệm như vậy duy nhất. Dễ hiểu vì sao các đệ tử của Ngài cần nghe điều này khá thường xuyên.
One of the major recognitions which is essential to the spiritual aspirant is that the Hierarchy is completely unable—under the law of the freedom of the human soul—to work in the world of men without those representative groups which can “step down” the hierarchical quality of energy so that the average man (with his average vibration and quality) can find in himself a point of response.
Một trong những nhận thức quan trọng thiết yếu đối với người chí nguyện tinh thần là: theo định luật về sự tự do của linh hồn con người, Thánh đoàn hoàn toàn không thể hoạt động trong thế giới loài người nếu thiếu những nhóm đại diện có thể “hạ thấp” phẩm tính năng lượng của Thánh đoàn, để người bình thường (với rung động và phẩm tính trung bình của mình) có thể tìm thấy nơi bản thân một điểm đáp ứng.
47. In this excerpt, we are shown why the members of the Hierarchy must work through their disciples and initiates (in group formation).
47. Đoạn trích này cho chúng ta thấy vì sao các thành viên của Thánh đoàn phải làm việc thông qua các đệ tử và điểm đạo đồ của mình (được tổ chức thành nhóm).
48. One can imagine that if the hierarchical vibration were not stepped down, it would impose itself upon those of average vibration, thus infringing the “law of the freedom of the human soul”.
48. Có thể hình dung rằng nếu rung động của Thánh đoàn không được hạ thấp, nó sẽ áp đặt lên những người có rung động trung bình, qua đó vi phạm “định luật về sự tự do của linh hồn con người”.
49. The average individual is not to body compelled, but to find within himself something in common with the higher vibrations presented. This is easier to do if the presenter is not too highly elevated on the ladder of evolution. The presenter must be an individual or group to which the one of average vibration can relate.
49. Người bình thường không nên chịu sự cưỡng ép, mà cần tìm thấy trong bản thân điều gì đó tương đồng với những rung động cao hơn được đưa đến cho mình. Điều này dễ thực hiện hơn nếu người truyền đạt không ở vị trí quá cao trên thang tiến hoá. Người truyền đạt phải là một cá nhân hoặc một nhóm mà người có rung động trung bình có thể cảm thấy gần gũi.
It was for this specific reason that I engineered this experiment in group work with all of you in order to test out the human capacity in its higher brackets to respond to this much higher quality.
Chính vì lý do cụ thể này mà Tôi đã tổ chức cuộc thử nghiệm về công việc nhóm với tất cả các bạn, nhằm kiểm nghiệm khả năng đáp ứng của con người ở những mức phát triển cao hơn đối với phẩm tính cao hơn rất nhiều này.
50. This is an important statement. DK was trying to reach the intelligentsia through the groups He would train. He could not reach them directly, but needed to train intermediaries to step-down His vibration and carry it to others who, normally, could not relate to Him.
50. Đây là một phát biểu quan trọng. Chân sư DK đang cố gắng tiếp cận giới trí thức thông qua các nhóm mà Ngài sẽ huấn luyện. Ngài không thể trực tiếp tiếp cận họ, mà cần huấn luyện những người trung gian để hạ thấp rung động của Ngài và mang rung động ấy đến với những người khác vốn thường không thể kết nối với Ngài.
It has not worked out as I had hoped, but owing to the fact that all of you are—from our point of view—of the same spiritual generation and that the difference in age was in no case more than twenty-five years at the outside (and believe me, my brother, I forget physical plane ages!) you will all return together to continue with this inevitable experience.
Cuộc thử nghiệm đã không diễn ra như Tôi hy vọng, nhưng do tất cả các bạn—từ góc nhìn của chúng tôi—đều thuộc cùng một thế hệ tinh thần, và chênh lệch tuổi tác trong mọi trường hợp đều không vượt quá hai mươi lăm năm (và hãy tin Tôi, huynh đệ của Tôi, Tôi quên tuổi tác ở cõi hồng trần!), nên tất cả các bạn sẽ cùng trở lại để tiếp tục trải nghiệm tất yếu này.
51. Here is the promise of the future. Those who have been assembled by Master DK will return again—together.
51. Đây là lời hứa cho tương lai. Những người mà Chân sư DK đã tập hợp sẽ lại trở về—cùng nhau.
52. We learn something important about the conditions of this return—that those who are to “return together” must belong to the “same spiritual generation”.
52. Chúng ta biết được một điều quan trọng về những điều kiện của lần trở lại này—rằng những người sẽ “cùng trở lại” phải thuộc “cùng một thế hệ tinh thần”.
53. Chronological age has at least something to do belonging to the “same spiritual generation”. It is clear from these statements, that disciples incarnate in groups. This is also true for humanity in general. There is a rhythm to group reincarnation which is an occult factor and, therefore, largely unrecognized, but nevertheless effective.
53. Tuổi đời ít nhiều có liên quan đến việc thuộc “cùng một thế hệ tinh thần”. Những phát biểu này cho thấy rõ rằng các đệ tử nhập thể theo nhóm. Điều này cũng đúng với nhân loại nói chung. Việc tái sinh theo nhóm có một nhịp điệu; đó là một yếu tố huyền bí và vì thế phần lớn chưa được nhận biết, nhưng vẫn có tác dụng.
54. It is also both interesting and amusing to understand DK’s personality on physical plane ages—He forgets them! So unimportant, relatively, is the physical body and so focussed is He on the consciousness.
54. Cũng thật thú vị và vui khi hiểu phàm ngã của Chân sư DK trong chuyện tuổi tác ở cõi hồng trần—Ngài quên tuổi tác! Xét một cách tương đối, thể xác ít quan trọng đến thế, và Ngài tập trung vào tâm thức đến thế.
55. Yet, when assessing the work that could be done, DK did, at one point, wish that His disciples were younger!
55. Tuy nhiên, khi đánh giá công việc có thể thực hiện, đã có lúc Chân sư DK quả thực mong các đệ tử của Ngài trẻ hơn!
In the coming cycle of service, however, you will not have the association that you have had during this life with A.A.B. and F.B., who will then be working in the Ashrams of their own Masters, as will also F.C.D. and R.S.U.
Tuy nhiên, trong chu kỳ phụng sự sắp tới, các bạn sẽ không có sự gắn bó như đã có trong kiếp sống này với A.A.B. và F.B., những người khi ấy sẽ làm việc trong các ashram của Chân sư riêng của mình, cũng như F.C.D. và R.S.U.
56. DK seems to be speaking of a future reincarnational cycle.
56. Dường như Chân sư DK đang nói đến một chu kỳ tái sinh trong tương lai.
57. These four disciples are members of the more advanced Ashrams of Master KH or M. DK seems to be telling others of the remaining chelas that they are in His Ashram and not in the Ashram of a Chohan.
57. Bốn đệ tử này là thành viên của các ashram tiến bộ hơn của Chân sư KH hoặc Chân sư M. Dường như Chân sư DK đang nói với những đệ tử còn lại rằng họ thuộc ashram của Ngài chứ không thuộc ashram của một Đấng Chohan.
Do not infer from the above statement that contact and mutual interplay in world service will not then be present; it will. The union of all the Ashrams under the spiritual Plan is complete and the interlocking relationships will be increasingly present.
Đừng từ lời nói trên mà suy ra rằng khi ấy sẽ không có sự tiếp xúc và tương tác lẫn nhau trong việc phụng sự thế gian; điều đó vẫn sẽ có. Sự hợp nhất của tất cả các ashram dưới Thiên Cơ tinh thần là trọn vẹn, và các mối quan hệ gắn kết sẽ ngày càng hiện diện rõ hơn.
58. The Tibetan defines the manner of relationship which can be expected. There will be contact and mutual interplay, but the close outer relationship between the Ashrams of the Chohans and DK’s Ashram will not be the same.
58. Chân sư Tây Tạng xác định cách thức quan hệ mà chúng ta có thể trông đợi. Sẽ có sự tiếp xúc và tương tác lẫn nhau, nhưng mối quan hệ mật thiết bên ngoài giữa các ashram của các Chohan và ashram của Chân sư DK sẽ không còn như trước.
But neither of these four people will be working in my Ashram and for this I would have you prepare.
Nhưng không ai trong bốn người này sẽ làm việc trong ashram của Tôi, và Tôi muốn các bạn chuẩn bị cho điều ấy.
59. This would be the case, presumably, for work planned following the transition of AAB, but especially for the next incarnational cycle.
59. Có lẽ điều này sẽ đúng với công việc đã hoạch định cho thời gian sau khi Bà AAB qua đời, nhưng đặc biệt đúng với chu kỳ lâm phàm kế tiếp.
Remember nevertheless [103] that personal karmas have been established and are based upon many unexpected relationships, and there is much personal karma in this group of over fifty people; this was necessarily so; otherwise little personal relationships would have been possible, which may present a difficult point for you to understand.
Tuy nhiên, hãy nhớ [103] rằng nghiệp quả cá nhân đã được thiết lập và đặt nền trên nhiều mối quan hệ bất ngờ, và trong nhóm hơn năm mươi người này có rất nhiều nghiệp quả cá nhân; điều đó tất yếu phải như vậy; nếu không, hầu như chẳng thể có những mối quan hệ cá nhân, một điểm có thể khó hiểu đối với các bạn.
60. Another truth is being revealed. The personal karmas will have to be worked out.
60. Một chân lý khác đang hiển lộ. Những nghiệp quả cá nhân sẽ phải được giải quyết.
61. It is also interesting that these karmas are “based upon many unexpected relationships”. If DK has said “unsuspected” the sentence would be easier to understand—perhaps He really mean “unsuspected”. Certainly, the people in his group of over fifty people do not realize the many ways in which they are all interrelated. The difficulty is that the word “unexpected” refers more to the future than the past.
61. Một điều cũng thú vị là những nghiệp quả này “đặt nền trên nhiều mối quan hệ bất ngờ”. Nếu Chân sư DK dùng từ “chưa từng ngờ tới” thì câu này sẽ dễ hiểu hơn—có lẽ Ngài thực sự muốn nói “chưa từng ngờ tới”. Chắc chắn những người trong nhóm hơn năm mươi người của Ngài không nhận ra vô số cách thức mà tất cả họ liên hệ với nhau. Điểm khó là từ “bất ngờ” hướng đến tương lai nhiều hơn quá khứ.
62. We are being told of the value of “personal relationship” in forming an outer plane group representing the Master’s Ashram. The necessary outer cohesiveness depends, in part, on the personal relationships established. The bonds formed by spiritual purpose (He seems to be saying) would not be sufficient to hold such a group together.
62. Chúng ta đang được cho biết về giá trị của “mối quan hệ cá nhân” trong việc hình thành một nhóm trên cõi bên ngoài đại diện cho ashram của Chân sư. Sự gắn kết cần thiết ở bên ngoài phụ thuộc một phần vào những mối quan hệ cá nhân đã thiết lập. Dường như Ngài muốn nói rằng những mối dây liên kết do mục đích tinh thần tạo nên sẽ không đủ để giữ một nhóm như thế gắn bó với nhau.
I would like to arrest any tendency to consider one Ashram as superior to another. The forty-nine Ashrams which constitute the Hierarchy in this planetary period are some of them fully active; some are in process of formation, and some are, as yet, in a totally embryonic condition, awaiting the “focussing ability” of some initiate who is today preparing for the fifth initiation.
Tôi muốn ngăn chặn mọi khuynh hướng xem một ashram cao hơn một ashram khác. Trong số bốn mươi chín ashram hợp thành Thánh đoàn trong thời kỳ hành tinh này, một số đã hoạt động đầy đủ; một số đang trong tiến trình hình thành, và một số vẫn hoàn toàn ở trạng thái phôi thai, chờ đợi “khả năng tập trung” của một điểm đạo đồ nào đó hiện đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ năm.
63. It is natural, given human nature, for some involved in the Ashram of a Chohan to take a superior position to those simply involved in the Ashram of one who is simply a Master—such is the lack of understanding.
63. Xét bản chất con người, cũng là điều tự nhiên khi một số người thuộc ashram của một Chohan tự cho mình cao hơn những người chỉ thuộc ashram của một vị mới là Chân sư—sự thiếu thấu hiểu là như thế.
64. We are told that eventually there will be forty-nine Ashrams within the Hierarchy.
64. Chúng ta được cho biết rằng cuối cùng sẽ có bốn mươi chín ashram trong Thánh đoàn.
65. There are, however, three different conditions with respect to Ashrams:
65. Tuy nhiên, các ashram có ba trạng thái khác nhau:
a. Some are fully active
a. Một số đã hoạt động đầy đủ
b. Some are in process of formation
b. Một số đang trong tiến trình hình thành
c. Some are in a totally embryonic stage.
c. Một số hoàn toàn ở giai đoạn phôi thai.
66. DK says something quite interesting about the ones that are in a totally embryonic condition. They must await a Master. Those in preparation for the fifth initiation are not yet fully possessed of this “focussing ability”.
66. Chân sư DK nói một điều khá thú vị về những ashram hoàn toàn ở trạng thái phôi thai. Những ashram ấy phải chờ một Chân sư. Những vị đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ năm vẫn chưa hoàn toàn có được “khả năng tập trung” này.
67. It is as if there are certain energy configurations which form part of the Divine Purpose and are destined to form part of the active Divine Plan, but they must be animated, focussed and empowered by those whose nature characterizes these energy configurations.
67. Dường như có những cấu hình năng lượng nhất định vốn là một phần của Thiên Ý và được định sẵn để trở thành một phần của Thiên Cơ đang hoạt động, nhưng những người có bản chất đặc trưng cho các cấu hình năng lượng này phải tiếp sinh lực, tập trung và tăng cường sức mạnh cho chúng.
68. For instance, every Ashram operates according to a major and minor ray. The collection of seven major rays, each one of them expressing through each of seven subrays is a necessary part of Divine Purpose. But the Master Who can focus and empower a particular ray and sub-ray combination may not yet have been trained, or if in the process of training, may not have reached sufficient proficiency to focalize an Ashram.
68. Chẳng hạn, mỗi ashram hoạt động theo một cung chính và một cung phụ. Tập hợp bảy cung chính, mỗi cung biểu hiện qua từng cung trong số bảy cung phụ, là một phần thiết yếu của Thiên Ý. Nhưng Chân sư có thể tập trung và tăng cường sức mạnh cho một tổ hợp cung chính và cung phụ cụ thể có thể vẫn chưa được huấn luyện, hoặc nếu đang trong quá trình huấn luyện, có thể chưa đạt đủ mức thành thạo để làm tiêu điểm cho một ashram.
Essentially and potentially all the Ashrams are equal, and their quality is not competitive;
Về bản chất và tiềm năng, tất cả các ashram đều bình đẳng, và phẩm tính của các ashram không mang tính cạnh tranh;
69. DK is reading into the minds of some of His chelas. Their point of view is separative and actually, petty. The sense of competition characterizes only those focussed in the lower ego.
69. Chân sư DK đang đọc được suy nghĩ của một số đệ tử của Ngài. Quan điểm của họ mang tính chia rẽ và thực ra là nhỏ nhen. Tâm lý cạnh tranh chỉ đặc trưng cho những ai tập trung trong phàm ngã.
70. In essence, all ray and sub-ray combinations are needed for the fulfillment of Divine Purpose and Plan. This is easy to realize. Each is, ultimately, indispensable to the completed whole.
70. Về bản chất, mọi tổ hợp cung chính và cung phụ đều cần thiết để hoàn thành Thiên Ý và Thiên Cơ. Điều này rất dễ nhận ra. Xét đến cùng, mỗi tổ hợp đều không thể thiếu đối với toàn thể hoàn chỉnh.
all of them differ as to their planned activity—an activity which is all part of a carefully formulated hierarchical activity. This you need most carefully to remember.
tất cả đều khác nhau về hoạt động đã hoạch định—một hoạt động hoàn toàn thuộc về hoạt động của Thánh đoàn đã được xây dựng cẩn thận. Các bạn cần ghi nhớ điều này hết sức kỹ lưỡng.
71. The magical number, in this case, is forty-nine, and all forty-nine are needed.
71. Trong trường hợp này, con số huyền diệu là bốn mươi chín, và cả bốn mươi chín đều cần thiết.
72. One wonders whether it must be centuries before all forty-nine will be active.
72. Chúng ta tự hỏi liệu có phải mất hàng thế kỷ nữa thì cả bốn mươi chín mới hoạt động hay không.
73. Further, there are always some rays which (in terms of racial ray cycles) are out of incarnation. How will the fact that the sixth ray will soon be out of incarnation affect the expression of the major sixth ray through seven sub-rays? Will there be inner work on the buddhic plane and on casual levels, even though few if any sixth ray souls will be in incarnation?
73. Hơn nữa, luôn có một số cung không lâm phàm (xét theo các chu kỳ cung của nhân loại). Việc cung sáu sắp ngừng lâm phàm sẽ ảnh hưởng thế nào đến sự biểu hiện của cung sáu chính qua bảy cung phụ? Liệu sẽ có công việc nội tại trên cõi Bồ đề và ở các cấp độ nguyên nhân, dù sẽ có rất ít linh hồn cung sáu lâm phàm, nếu có chăng?
The devotion of a disciple to some particular Master is of no importance to that Master or to His ashramic group.
Sự sùng kính của một đệ tử đối với một Chân sư cụ thể nào đó không có tầm quan trọng đối với Chân sư ấy hay nhóm ashram của Ngài.
74. This must be strongly held in mind. The Masters are hampered by the disciple’s devotion more often than helped by it. Such devotion is so often the cause of outer frictions with the disciples who belong to other Ashrams.
74. Cần ghi nhớ thật sâu điều này. Sự sùng kính của đệ tử thường cản trở các Chân sư nhiều hơn là giúp ích cho các Ngài. Sự sùng kính như vậy rất thường là nguyên nhân gây ra những va chạm bên ngoài với các đệ tử thuộc những ashram khác.
It is not devotion or predilection or any personality choice which governs the formation of a Master’s group. It is ancient relationships, the ability to demonstrate certain aspects of life to demanding humanity and a definite ray expression of quality which determine the hierarchical placement of aspirants in an Ashram.
Không phải sự sùng kính, thiên ái hay bất kỳ lựa chọn nào của phàm ngã chi phối sự hình thành nhóm của một Chân sư. Chính những mối quan hệ từ xa xưa, khả năng biểu lộ một số phương diện của sự sống trước nhân loại đang đòi hỏi, cùng sự biểu hiện phẩm tính của một cung xác định, quyết định vị trí của người chí nguyện trong một ashram thuộc Thánh đoàn.
75. This is a vital excerpt. Let us tabulate for clarity.
75. Đây là một đoạn trích hết sức quan trọng. Chúng ta hãy lập bảng cho rõ ràng.
76. Membership in an Ashram is not predicated upon:
76. Tư cách thành viên trong một ashram không dựa trên:
a. Devotion
a. Sự sùng kính
b. Predilection (i.e., taste)
b. Thiên ái (tức là sở thích)
c. Personality choice (i.e. a choice originality within the personality mind, emotions and brain)
c. Sự lựa chọn của phàm ngã (tức là một lựa chọn khởi nguồn từ thể trí, cảm xúc và bộ não của phàm ngã)
77. Membership in an Ashram is predicated upon:
77. Tư cách thành viên trong một ashram được xác lập trên cơ sở:
a. Ancient relationships
a. Những mối quan hệ từ xa xưa
b. The ability to demonstrate certain aspect of life to demanding humanity
b. Khả năng thể hiện một phương diện nào đó của sự sống trước nhân loại đang có những đòi hỏi
c. A definite ray expression of quality
c. Một biểu hiện phẩm tính rõ rệt theo cung
78. Note that DK calls those who are placed in an Ashram, “aspirants”.
78. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK gọi những người được bố trí vào một ashram là “những người chí nguyện”.
79. Note also that certain aspects of “life” have to be demonstrated that they meet the demands of humanity. The word “life” is important and suggests the influence of the Spirit aspect.
79. Cũng hãy lưu ý rằng phải thể hiện một số phương diện của “sự sống” để đáp ứng những đòi hỏi của nhân loại. Từ “sự sống” rất quan trọng và gợi lên ảnh hưởng của phương diện Tinh thần.
80. We see that the entire matter of ashramic affiliation is determined on the plane of soul. It relates to ray equipment and the development of the service capacity of the individual.
80. Chúng ta thấy rằng toàn bộ vấn đề liên kết với ashram được quyết định trên cõi linh hồn. Điều này liên quan đến cấu trúc cung và sự phát triển năng lực phụng sự của cá nhân.
This will perhaps be a new thought to you and is responsible for the reason why A.A.B. has never emphasised concentration on some one of the known Masters.
Có lẽ đây là một ý tưởng mới đối với các bạn, và cũng là lý do Bà A.A.B. chưa bao giờ nhấn mạnh việc tập trung vào một Chân sư nào trong số những Chân sư đã được biết đến.
81. The reasons for some of AAB’s orientations are now explained. She knew more, obviously, than she discussed.
81. Giờ đây, lý do cho một số định hướng của Bà AAB đã được giải thích. Hiển nhiên, Bà biết nhiều hơn những gì Bà đã bàn đến.
She has always been aware that each central Ashram has associated with it six other Ashrams which are steadily and constantly being organised to meet planetary need.
Bà luôn biết rằng mỗi ashram trung tâm đều có sáu ashram khác liên kết với mình, những ashram đang được tổ chức đều đặn và liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu hành tinh.
82. Among these the second ray Ashram, since it is probably the first to externalize, is among the most organized.
82. Trong số này, ashram cung hai thuộc nhóm có tổ chức hoàn chỉnh nhất, vì có lẽ đây là ashram đầu tiên ngoại hiện.
83. It is important to examine the words “subsidiary Ashram” and “affiliated Ashrams”. From the following excerpt, we learn how many of these subsidiary Ashrams have presently been organized:
83. Cần xem xét các từ “ashram phụ thuộc” và “các ashram liên kết”. Từ đoạn trích sau, chúng ta biết hiện nay có bao nhiêu ashram phụ thuộc như thế đã được tổ chức:
“The second ray, for instance, has five affiliated Ashrams and one of which only the nucleus exists, and all these are working under its inspiration and through the effect of the second ray central fire. All have at their centre a second ray disciple. The third ray has already two subsidiary Ashrams; the sixth has four, and so on. The first ray is the only one at this time with no subsidiary fully functioning Ashram, and this because the will aspect is as yet very little understood and few initiates can meet the requirements of the first ray initiation. (R&I 388)
“Chẳng hạn, cung hai có năm ashram liên kết và một ashram mới chỉ có hạt nhân, và tất cả các ashram này đều hoạt động dưới sự truyền cảm hứng của cung hai và qua tác động của ngọn lửa trung tâm cung hai. Tất cả đều có một đệ tử cung hai ở trung tâm. Cung ba đã có hai ashram phụ thuộc; cung sáu có bốn, và cứ thế. Hiện nay, cung một là cung duy nhất chưa có ashram phụ thuộc nào hoạt động đầy đủ, và điều này là do phương diện ý chí vẫn còn rất ít được thấu hiểu, và ít điểm đạo đồ có thể đáp ứng các yêu cầu của cuộc điểm đạo cung một. (R&I 388)
84. It would seem that the second ray Ashram is almost fully organized. Only one subsidiary Ashram is not yet organized.
84. Dường như ashram cung hai đã được tổ chức gần như hoàn chỉnh. Chỉ còn một ashram phụ thuộc chưa được tổ chức.
You will note that I did not say “human need,” for the needs of the planet which the Hierarchy has to meet embrace more than those of the fourth kingdom in nature. I would have you ponder on these points.
Các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi không nói “nhu cầu nhân loại”, bởi những nhu cầu của hành tinh mà Thánh đoàn phải đáp ứng bao gồm nhiều hơn nhu cầu của giới thứ tư trong thiên nhiên. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về những điểm này.
85. It is ever important to decentralize the self-centered human perspective.
85. Việc vượt khỏi góc nhìn tập trung vào bản thân của con người luôn là điều quan trọng.
It would be of benefit to you also to consider the Masters’ Ashrams as expressions of the highest type of constructively functioning groups.
Các bạn cũng sẽ được lợi khi xem các ashram của các Chân sư là những biểu hiện của loại nhóm cao nhất hoạt động một cách kiến tạo.
86. The standard for group work is set.
86. Chuẩn mực cho công việc nhóm đã được xác lập.
There exists amongst its personnel a complete unity of purpose and an utter dedication (without any reservations, as far as the disciple involved is concerned) to the furthering of the immediate ashramic enterprise.
Giữa các thành viên có sự thống nhất hoàn toàn về mục đích và sự tận hiến trọn vẹn (không chút dè dặt nào về phía người đệ tử liên quan) để thúc đẩy công việc trước mắt của ashram.
87. This is the type of dedication which we must learn to emulate.
87. Đây là kiểu tận hiến mà chúng ta phải học noi theo.
88. We see that for real members of an Ashram, nothing is held back. It is in our reservations that we reveal ourselves as personality to ourselves as soul.
88. Chúng ta thấy rằng những thành viên đích thực của một ashram không giữ lại điều gì. Chính qua những điều còn dè dặt, chúng ta trong tư cách phàm ngã bộc lộ mình trước chính chúng ta trong tư cách linh hồn.
The [104] position of the Master at the centre of the group has no relation to that of a teacher at the centre of a group of learners and devotees, such as we have learned to recognise in this Piscean Age. He is the centre simply because through the quality of His vibration, through karmic ancient relationship and through the invocative demand of disciples, initiates and some aspirants, He has gathered them together in order to further the ends of His ashramic enterprise;
[104] Vị trí của Chân sư ở trung tâm nhóm không giống vị trí của một huấn sư ở trung tâm một nhóm người học và người sùng kính như chúng ta đã quen nhận biết trong Kỷ Nguyên Song Ngư này. Ngài là trung tâm chỉ vì qua phẩm tính rung động của Ngài, qua mối quan hệ nghiệp quả từ xa xưa và qua lời khẩn cầu của các đệ tử, điểm đạo đồ cùng một số người chí nguyện, Ngài đã quy tụ họ để thúc đẩy những mục tiêu trong công việc ashram của Ngài;
89. This is important information for the clarification of the true nature of the Ashram. The Ashram is functioning far beyond the strictly cognitive level—the level on which most schools function.
89. Đây là thông tin quan trọng giúp làm sáng tỏ bản chất đích thực của ashram. Ashram hoạt động vượt xa cấp độ thuần túy nhận thức—cấp độ mà phần lớn các trường học hoạt động.
90. The so-called Ashrams in the world are often as DK describes above—a teacher at the center and devotees on the periphery.
90. Những nơi được gọi là ashram trên thế giới thường giống như Chân sư DK mô tả ở trên—một huấn sư ở trung tâm và những người sùng kính ở vòng ngoài.
91. Why is the Master the center of an Ashram? Let us tabulate for clarity:
91. Tại sao Chân sư là trung tâm của một ashram? Chúng ta hãy liệt kê cho rõ:
a. Because of the quality of His vibration
a. Do phẩm tính rung động của Ngài
b. Through karmic ancient relationship
b. Qua mối quan hệ nghiệp quả từ xa xưa
c. Through the invocative demand of disciples, initiates and some aspirants
c. Qua lời khẩn cầu của các đệ tử, điểm đạo đồ cùng một số người chí nguyện
92. It is interesting to see that an Ashram is not only formed based on the quality of the Master, but arises in response to invocative demand (especially among those who are karmically related to the Master—a demand which He, because of His quality, is equipped to fulfill).
92. Thật thú vị khi thấy rằng một ashram không chỉ hình thành dựa trên phẩm tính của Chân sư, mà còn xuất hiện để đáp ứng lời khẩn cầu (đặc biệt từ những người có quan hệ nghiệp quả với Chân sư—một lời khẩn cầu mà nhờ phẩm tính của mình, Ngài có đủ khả năng đáp ứng).
He has not gathered them together in order to teach them or to prepare them for initiation as has hitherto been taught.
Ngài không quy tụ họ để giảng dạy hay chuẩn bị cho họ được điểm đạo như người ta vẫn giảng giải từ trước đến nay.
93. Again, the selfish and self-centered point of view. The Master’s purpose is the fulfillment of the Divine Plan through service to the world. He is interested in those who can help fulfill His plan, and thus, those who are motivated by the impelling need to serve— not the impelling desire to become initiated.
93. Một lần nữa, đó là quan điểm ích kỷ và tập trung vào bản thân. Mục đích của Chân sư là hoàn thành Thiên Cơ qua việc phụng sự thế gian. Ngài quan tâm đến những người có thể giúp hoàn thành kế hoạch của Ngài, và do đó, những người có động lực từ nhu cầu thôi thúc phải phụng sự— chứ không phải dục vọng thôi thúc muốn được điểm đạo.
Aspirants and disciples prepare themselves for the processes of initiation by becoming initiated into the mysteries of divinity through discipline, meditation and service.
Những người chí nguyện và đệ tử tự chuẩn bị cho các tiến trình điểm đạo bằng cách được điểm đạo vào những huyền nhiệm của thiên tính qua kỷ luật, tham thiền và phụng sự.
94. Each aspirant or disciple is responsible for his own meditation, service and discipline.
94. Mỗi người chí nguyện hay đệ tử đều chịu trách nhiệm về việc tham thiền, phụng sự và kỷ luật của chính mình.
95. It was interesting to read in the Buddha’s Last Sermon the following words:
95. Thật thú vị khi đọc những lời sau đây trong Bài Thuyết Pháp Cuối Cùng của Đức Phật:
“I have disciplined, in heaven and on earth, all those whom I could discipline, and I have set them in the stream.”
“Trên trời và dưới đất, Ta đã rèn luyện tất cả những ai Ta có thể rèn luyện, và Ta đã đưa họ vào dòng.”
Yet, fundamentally, the discipline is the province of the disciple.
Tuy nhiên, về căn bản, kỷ luật là trách nhiệm của người đệ tử.
You need to bear in mind that a Master of an Ashram may, for instance, attract to Him other Masters of equal rank as His Own. I have five Masters working with me in my Ashram.
Các bạn cần ghi nhớ rằng, chẳng hạn, một Chân sư của một ashram có thể thu hút đến với Ngài những Chân sư khác có cấp bậc ngang với chính Ngài. Có năm Chân sư đang làm việc cùng Tôi trong ashram của Tôi.
96. This is an interesting piece of information and suggests the extensiveness of DK’s Ashram. Are all these Masters on the second ray? Probably, they have ray or sub-ray qualities which help DK’s Ashram reach many varied types of individuals. The Ashram of Master DK has a certain diversity to it as it is responsible for educating those on a number of different rays.
96. Đây là một thông tin thú vị, gợi cho thấy quy mô rộng lớn của ashram của Chân sư DK. Có phải tất cả các Chân sư này đều thuộc cung hai không? Có lẽ Các Ngài có những phẩm tính cung hoặc cung phụ giúp ashram của Chân sư DK tiếp cận nhiều loại cá nhân khác nhau. Ashram của Chân sư DK có tính đa dạng nhất định, vì ashram này chịu trách nhiệm giáo dục những người thuộc một số cung khác nhau.
It would be of value to you if you considered the factors which hold an Ashram together and which establish its unity. The major ones, and those which you can understand, are as follows:
Việc xem xét những yếu tố giữ cho một ashram gắn bó và thiết lập sự hợp nhất của ashram sẽ có giá trị đối với các bạn. Những yếu tố chủ yếu, và cũng là những yếu tố các bạn có thể thấu hiểu, như sau:
97. We will be speaking of the factors contributing to thecohesiveness and unity of an Ashram.
97. Chúng ta sẽ bàn về những yếu tố góp phần tạo nên sự gắn kết và sự hợp nhất của một ashram.
1. The most important capacity of a Master of an Ashram is that He has earned the right to communicate directly with the Council at Shamballa and thus to ascertain at first hand the immediate evolutionary task which the Hierarchy is undertaking.
1. Năng lực quan trọng nhất của một Chân sư của một ashram là Ngài đã đạt được quyền giao tiếp trực tiếp với Hội Đồng tại Shamballa, và nhờ đó trực tiếp xác định nhiệm vụ tiến hoá trước mắt mà Thánh đoàn đang đảm nhận.
98. It may be that not all Masters can contact Shamballa directly, but apparently the head of an Ashram (if at least a Master) must be able to do so.
98. Có thể không phải mọi Chân sư đều có thể tiếp xúc trực tiếp với Shamballa, nhưng hiển nhiên vị đứng đầu một ashram (nếu ít nhất đã là một Chân sư) phải có khả năng làm điều đó.
99. The Master is not dealing with mediated information (as we are). He understands (at least in relation to the hierarchical level) what the Lord of the World wills.
99. Chân sư không làm việc với thông tin qua trung gian (như chúng ta). Ngài thấu hiểu (ít nhất trong phạm vi cấp độ của Thánh đoàn) ý muốn của Đức Chúa Tể Thế Giới.
He is not called Master by the initiates in His Ashram; He is regarded as the Custodian of the Plan, and this is based on His ability to “face the greater Light which shines in Shamballa.”
Các điểm đạo đồ trong ashram của Ngài không gọi Ngài là Chân sư; họ xem Ngài là Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ, và điều này dựa trên khả năng của Ngài trong việc “đối diện với Ánh Sáng lớn hơn đang chiếu rạng tại Shamballa”.
100. These statements curtain the usual devotional attitude.
100. Những phát biểu này che khuất thái độ sùng kính thông thường.
101. The initiates within the Ashram realize that the Master can see what they cannot; this naturally inspires their complete respect and cooperation with the will of the Master.
101. Các điểm đạo đồ trong ashram nhận ra rằng Chân sư có thể thấy những gì họ không thể thấy; điều này tự nhiên khơi dậy nơi họ sự tôn trọng hoàn toàn và tinh thần hợp tác với ý chí của Chân sư.
It is the Plan which gives the keynote to the activities of any Ashram at any particular time, during any particular cycle.
Chính Thiên Cơ ấn định chủ âm cho các hoạt động của bất kỳ ashram nào vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào, trong bất kỳ chu kỳ cụ thể nào.
102. The activities of the Ashram are not in the least personal. The personal preference of the Master has nothing to do with the processes and activities undertaken.
102. Các hoạt động của ashram hoàn toàn không mang tính cá nhân. Sở thích cá nhân của Chân sư không liên quan gì đến những tiến trình và hoạt động được thực hiện.
103. The Plan determines the keynote and the Master serves the Plan. This means that the Master is not only an authority, but is necessarily under a greater authority.
103. Thiên Cơ quyết định chủ âm và Chân sư phụng sự Thiên Cơ. Điều này có nghĩa là Chân sư không chỉ có thẩm quyền mà còn tất yếu chịu một thẩm quyền lớn hơn.
2. This unanimity of purpose produces a very close subjective relationship, and each member of the Ashram is occupied with making his fullest possible contribution to the task in hand.
2. Sự nhất trí về mục đích này tạo nên một mối quan hệ chủ quan rất mật thiết, và mỗi thành viên của ashram đều chuyên tâm đóng góp hết khả năng vào nhiệm vụ đang thực hiện.
104. A subjective relationship is a soul relationship, and the true soul is the triadal consciousness. The lower astral and mental bodies are no longer part of the Master’s equipment, and so our usual understanding of subjectivity does not apply.
104. Một mối quan hệ chủ quan là một mối quan hệ linh hồn, và linh hồn đích thực là tâm thức Tam Nguyên Tinh Thần. Thể cảm dục và thể trí thấp không còn thuộc về hệ thống hiện thể của Chân sư, nên cách hiểu thông thường của chúng ta về tính chủ quan không áp dụng ở đây.
Personalities do not enter in. You will remember how some years ago I told you that the personality vehicles are ever left outside the Ashram—speaking symbolically.
Các phàm ngã không tham dự vào. Các bạn sẽ nhớ cách đây vài năm Tôi đã nói với các bạn rằng các hiện thể của phàm ngã luôn được để lại bên ngoài ashram—nói theo nghĩa biểu tượng.
105. It’s a bit like taking off one’s dirty shoes before entering the household.
105. Điều này hơi giống việc cởi đôi giày bẩn của mình trước khi bước vào nhà.
106. Thus, lower identifications are left outside the ‘door’ of the Ashram.
106. Như vậy, những sự đồng hoá với các phương diện thấp được để lại bên ngoài ‘cửa’ ashram.
This means that the subtler bodies of the personality have perforce to follow the same rules as the physical body—they are left outside.
Điều này có nghĩa là các thể thanh nhẹ hơn của phàm ngã tất yếu phải tuân theo cùng những quy luật như thể xác—chúng được để lại bên ngoài.
107. DK is explicit in this. Personal preferences and habitually entertained thoughts are not part of the currency used within the Ashram. Therefore, in relation to the Ashram, it is not what we feel or what we concretely think that matters; the Ashram is a place for the exercise of the higher mental and buddhic faculties, and to some extent the atmic, if the member of the Ashram is sufficiently advanced.
107. Chân sư DK nói rõ điều này. Những sở thích cá nhân và những tư tưởng mà chúng ta thường xuyên nuôi dưỡng không thuộc loại tiền tệ lưu hành trong ashram. Do đó, trong mối liên hệ với ashram, điều quan trọng không phải là những gì chúng ta cảm thấy hay những gì chúng ta suy nghĩ một cách cụ thể; ashram là nơi vận dụng các năng lực thượng trí và Bồ đề, và ở một mức độ nào đó cả năng lực atma, nếu thành viên ashram đã tiến hoá đủ xa.
Remember also that [105] the Ashrams exist upon the plane of buddhi or of the intuition.
Cũng hãy nhớ rằng [105] các ashram hiện hữu trên cõi Bồ đề hay cõi trực giác.
108. This is, fore the most part, the case, except for a few Ashrams on the higher mental plane presided over by an initiate of the fourth degree.
108. Phần lớn là như vậy, ngoại trừ một vài ashram trên cõi thượng trí do một điểm đạo đồ bậc bốn chủ trì.
The joint undertaking and the united adhering to the desired and arranged cyclic technique binds all members of the Ashram into one synthetic whole;
Công việc chung và sự cùng tuân thủ kỹ thuật theo chu kỳ đã được mong muốn và sắp đặt gắn kết mọi thành viên của ashram thành một tổng thể tổng hợp;
109. We see that all ashramic members follow rhythmic law and their will to do so cooperatively (and their success in doing so), contribute to the synthetic wholeness of the Ashram.
109. Chúng ta thấy rằng mọi thành viên ashram đều tuân theo định luật nhịp điệu, và ý chí cùng hợp tác tuân theo định luật ấy của họ (cùng sự thành công của họ trong việc đó) góp phần tạo nên tính toàn vẹn tổng hợp của ashram.
there is therefore no possible controversy or any emphasis upon individual ideas, because no personality vibratory quality can penetrate in the periphery or the aura of an Ashram.
do đó không thể có tranh luận hay bất kỳ sự nhấn mạnh nào vào những ý tưởng cá nhân, bởi không một phẩm tính rung động nào của phàm ngã có thể thâm nhập vào chu vi hay hào quang của một ashram.
110. These words are so definite. The personality cannot even penetrate the periphery of the Ashram. There is no argument in the Ashram because of the clarity of vision which there prevails.
110. Những lời này thật dứt khoát. Phàm ngã thậm chí không thể thâm nhập vào chu vi của ashram. Trong ashram không có tranh luận vì tầm nhìn sáng rõ ngự trị nơi đó.
111. It is true (we are told) that Masters sometimes have different points of view on how to solve certain problems, but such differences never degenerate into controversy.
111. Quả thật (chúng ta được cho biết), các Chân sư đôi khi có những quan điểm khác nhau về cách giải quyết một số vấn đề, nhưng những khác biệt ấy không bao giờ suy thoái thành tranh luận.
112. It is as if all points of view within the Ashram are comprehended by all; each is seeing through all eyes. The Ashram is a group entity; there are no separate individuals within it.
112. Dường như tất cả đều thấu hiểu mọi quan điểm trong ashram; mỗi người đều nhìn qua đôi mắt của tất cả mọi người. Ashram là một thực thể nhóm; trong đó không có những cá nhân riêng biệt.
3. The planning and the assignment of tasks connected with the enterprise in hand is carried forward through the medium of an ashramic, reflective meditation, initiated by the Custodian of the Plan.
3. Việc hoạch định và phân công các nhiệm vụ liên quan đến công việc đang thực hiện diễn ra thông qua một sự tham thiền suy ngẫm của ashram, do Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ khởi xướng.
113. These are important words to ponder: “ashramic, reflective meditation”. Under the influence of such meditation, it becomes perfectly clear what must be done and by whom. Further, these is no personality (in the usual sense) to resist the doing.
113. Đây là những từ ngữ quan trọng cần suy ngẫm: “sự tham thiền suy ngẫm của ashram”. Dưới ảnh hưởng của sự tham thiền như thế, điều phải làm và người phải làm điều ấy trở nên hoàn toàn rõ ràng. Hơn nữa, không có phàm ngã nào (theo nghĩa thông thường) chống lại việc thực hiện.
114. The meditation is not carried on by ‘individuals’, but by the ashramic consciousness as a whole. The members of an Ashram are mediating as one.
114. Sự tham thiền không do những ‘cá nhân’ thực hiện, mà do toàn bộ tâm thức ashram thực hiện. Các thành viên của một ashram tham thiền như một.
The Master of an Ashram does not say: “Do this” or “Do that.”
Chân sư của một ashram không nói: “Hãy làm điều này” hay “Hãy làm điều kia.”
115. If a Master does not say “Do this’ or “Do that” to the members of His own Ashram, how much less likely is He to do so with aspirants and disciples!
115. Nếu một Chân sư không nói “Hãy làm điều này” hay “Hãy làm điều kia” với các thành viên trong chính ashram của Ngài, thì Ngài lại càng ít có khả năng làm như thế với những người chí nguyện và đệ tử biết bao!
116. Masters do not operate in a dictatorial manner. The high level of consciousness of those who work with them, make this unnecessary. Further, for a Master to act dictatorially would be against spiritual and an infringement of the freedom of the soul of His chelas.
116. Các Chân sư không hành động theo cách độc tài. Trình độ tâm thức cao của những người làm việc với Các Ngài khiến điều này không cần thiết. Hơn nữa, một Chân sư hành động độc tài sẽ trái với tinh thần và xâm phạm quyền tự do của linh hồn các đệ tử của Ngài.
Together, in unison and in deep reflection the plans unfold, and each disciple and initiate sees occultly where he is needed and where—at any given moment—he must place his cooperative energy.Note my wording here.
Cùng nhau, trong sự đồng tâm và suy ngẫm sâu sắc, các kế hoạch khai mở, và mỗi đệ tử cùng điểm đạo đồ đều thấy theo cách huyền bí nơi nào cần đến mình và nơi nào—vào bất kỳ thời điểm nhất định nào—mình phải đặt năng lượng hợp tác. Hãy lưu ý cách dùng từ của Tôi ở đây. Tuy nhiên,
117. Perhaps we can gather something of the subtlety of the process. United deep reflection yields clear occult vision. As the will of the meditating members is harnessed to the will of the Master which is harnessed to the Will of the Plan, there can be no question of non-commission.
117. Có lẽ chúng ta có thể phần nào nắm bắt được tính tinh tế của tiến trình này. Sự suy ngẫm sâu sắc trong hợp nhất đem lại linh thị huyền bí rõ ràng. Khi ý chí của các thành viên đang tham thiền gắn kết với ý chí của Chân sư, vốn gắn kết với Ý Chí của Thiên Cơ, thì không thể có chuyện không thực hiện nhiệm vụ.
118. The Ashram thus presents a picture of enlightened cooperation by those who are trained in spiritual willingness. The energy expressed by the member of an Ashram is always cooperative.
118. Như vậy, ashram biểu hiện một bức tranh về sự hợp tác sáng suốt của những người đã được huấn luyện về sự tự nguyện tinh thần. Năng lượng mà thành viên của một ashram biểu lộ luôn mang tính hợp tác.
The members of an Ashram, however, do not sit down for a joint meditation.
các thành viên của một ashram không ngồi xuống để cùng tham thiền.
119. They do not have to “sit down” for joint meditation because they are always engaged in joint meditation
119. Họ không phải “ngồi xuống” để cùng tham thiền vì họ luôn cùng nhau tham thiền
One of the qualities, developed through ashramic contact, is the ability to live always within the field of intuitive perception—a field which has been created, or a sphere of energy which has been generated, by the united purpose, the combined planning and the concentrated energy of the Hierarchy.
Một trong những phẩm tính phát triển qua sự tiếp xúc với ashram là khả năng luôn sống trong trường tri giác trực giác—một trường đã được tạo nên, hay một khối cầu năng lượng đã được phát sinh, từ mục đích thống nhất, sự hoạch định chung và năng lượng tập trung của Thánh đoàn.
120. The members of an Ashram share the same field of intuitive perception constantly; they are all focussed on the buddhic plane, wherein there is a mutually pervasive understanding; their consciousness is as one consciousness, wherever they may be additionally focussed on lower levels of perception.
120. Các thành viên của một ashram liên tục cùng chia sẻ một trường tri giác trực giác; tất cả họ đều tập trung trên cõi Bồ đề, nơi sự thấu hiểu thấm nhuần lẫn nhau; tâm thức của họ như một tâm thức duy nhất, bất kể ở đâu họ còn có thể đồng thời tập trung trên các cấp độ tri giác thấp hơn.
121. It is interesting to read of how the intuitive field is generated:
121. Thật thú vị khi đọc về cách trường trực giác hình thành:
a. By united purpose of the Hierarchy
a. Nhờ mục đích thống nhất của Thánh đoàn
b. By the combined planning of the Hierarchy
b. Qua việc phối hợp hoạch định của Thánh đoàn
c. By the concentrated energy of the Hierarchy
c. Qua năng lượng tập trung của Thánh đoàn
122. We see we are being instructed in the nature of ashramic reflective meditation.
122. Chúng ta thấy mình đang được chỉ dạy về bản chất của sự tham thiền suy ngẫm trong ashram.
An analogy (but only an analogy, however) would be to regard this field of reflecting, reflective and reflected energies as resembling the brain of a human being; this brain reflects the impacts of telepathic activity, the sensory perceptions and the knowledges gained in the three worlds; reflection then sets in in relation to the mental processes which are synchronised with the brain, and then follows the impartation of these reflections to the outside world.
Một phép tương đồng (tuy nhiên, chỉ là một phép tương đồng) là xem trường năng lượng phản chiếu, suy ngẫm và được phản chiếu này giống như bộ não của con người; bộ não này phản ánh những tác động của hoạt động viễn cảm, những tri giác giác quan và những tri thức thu nhận trong ba cõi giới; sau đó, sự suy ngẫm diễn ra liên quan đến những tiến trình trí tuệ đồng bộ với bộ não, rồi tiếp đến là việc truyền đạt những suy ngẫm ấy ra thế giới bên ngoài.
123. The field of energies in which the members of an Ashram live is
123. Trường năng lượng mà các thành viên của một ashram sống trong đó là
a. A field of reflecting energies
a. Một trường năng lượng phản chiếu
b. A field of reflective energies
b. Một trường năng lượng suy ngẫm
c. A field of reflected energies
c. Một trường năng lượng được phản chiếu
124. DK likens this threefold process to the function of the physical brain of the human being.
124. Chân sư DK ví tiến trình tam phân này với chức năng của bộ não thể xác của con người.
125. The member of the Ashram first reflects telepathic sensitivity, sensory perceptions and knowledges.
125. Trước hết, thành viên của ashram phản chiếu sự nhạy cảm viễn cảm, những tri giác giác quan và những tri thức.
126. Upon these reflected impression he then reflects or thinks.
126. Sau đó, y suy ngẫm hay suy nghĩ về những ấn tượng được phản chiếu này.
127. The process of reflecting upon that which is reflected produces reflections, which are then imparted to the world.
127. Tiến trình suy ngẫm về những gì được phản chiếu tạo ra những suy ngẫm, rồi những suy ngẫm ấy được truyền đạt cho thế gian.
128. The major acts are the reflection of impressions (the impressions then become reflected impressions) and then the act of reflecting upon them. The words used here are somewhat interchangeable in different contexts; we just have to keep the idea clear.
128. Những hoạt động chính là phản chiếu các ấn tượng (khi ấy, các ấn tượng trở thành những ấn tượng được phản chiếu), rồi suy ngẫm về chúng. Những từ dùng ở đây phần nào có thể thay thế cho nhau trong các ngữ cảnh khác nhau; chúng ta chỉ cần giữ cho ý tưởng được rõ ràng.
The ashramic reflective meditation is an integral part of the constantly developing perception of the disciple-initiate, and it (in its turn) is a part of the whole hierarchical reflective meditation.
Sự tham thiền suy ngẫm của ashram là một phần không thể tách rời trong tri giác không ngừng phát triển của người đệ tử-điểm đạo đồ, và đến lượt nó, sự tham thiền ấy lại là một phần trong toàn bộ sự tham thiền suy ngẫm của Thánh đoàn.
129. When we think of ashramic meditation, we must always think of this factor of reflectivity.
129. Khi nghĩ đến sự tham thiền của ashram, chúng ta phải luôn nghĩ đến yếu tố suy ngẫm này.
130. We note that the Tibetan calls the member of the Ashram the disciple-initiate; a true member of an Ashram is an initiate of some degree.
130. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng gọi thành viên của ashram là người đệ tử-điểm đạo đồ; một thành viên thực sự của một ashram là một điểm đạo đồ ở một cấp độ nào đó.
131. We are reminded that the Ashram is an integral part of the entire Hierarchy and that Hierarchy itself is pursuing a similar king of reflective meditation.
131. Chúng ta được nhắc rằng ashram là một bộ phận không thể tách rời của toàn thể Thánh đoàn và chính Thánh đoàn cũng đang thực hành một hình thức tham thiền suy ngẫm tương tự.
132. We can see that any member of an Ashram must be in a constant state of alertness, tuned-in to a level of registration which is deeply subjective. This is a king of dual consciousness which characterizes all true member of an Ashram.
132. Chúng ta có thể thấy rằng bất kỳ thành viên nào của một ashram cũng phải luôn ở trong trạng thái tỉnh thức, hòa nhịp với một cấp độ ghi nhận mang tính chủ quan sâu xa. Đây là một dạng tâm thức kép đặc trưng cho mọi thành viên đích thực của một ashram.
This latter is based upon inspiration (in the occult sense) from Shamballa.
Sự tham thiền sau cùng này dựa trên cảm hứng (theo nghĩa huyền bí) từ Shamballa.
133. The Hierarchy’s reflective meditation is inspired from Shamballa.
133. Sự tham thiền suy ngẫm của Thánh đoàn nhận cảm hứng từ Shamballa.
The moment a disciple can share in this constant unremitting meditation or reflection without its interfering with his service and his other lines of thought, he becomes what is called “a disciple who shall no more go out.”
Ngay khi một đệ tử có thể tham gia vào sự tham thiền hay suy ngẫm thường xuyên không ngừng này mà không để nó cản trở việc phụng sự và những mạch tư tưởng khác của mình, người ấy trở thành người được gọi là “một đệ tử sẽ không còn đi ra nữa”. [106]
134. This is a most important statement and sets an objective for all of us. We must be able to pursue our normal thought process and our service activities and at the same time share in a constant, unremitting ashramic meditation or reflection. This requires being tuned-in to the Ashram at all times.
134. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng và đặt ra một mục tiêu cho tất cả chúng ta. Chúng ta phải có khả năng tiếp tục tiến trình tư duy thông thường và các hoạt động phụng sự của mình, và đồng thời tham gia vào sự tham thiền hay suy ngẫm thường xuyên, không ngừng của ashram. Điều này đòi hỏi chúng ta luôn hòa nhịp với ashram.
135. To “go out” is for consciousness to descend into preoccupation with all manner of personality processes, forgetful of the ongoing process of reflection.
135. “Đi ra” là khi tâm thức hạ xuống và mải mê với đủ mọi tiến trình của phàm ngã, quên mất tiến trình suy ngẫm đang diễn ra.
[106]
[106]
4. Another factor productive of group unity and synchronous precision in working is the complete freedom of the Ashram from any spirit of criticism.
4. Một yếu tố khác tạo nên sự hợp nhất nhóm và tính chính xác đồng bộ trong công việc là ashram hoàn toàn không có bất kỳ tinh thần chỉ trích nào.
136. A person for whom criticism is a constant attitude cannot be trusted to enter the Ashram. Those who stand upon the periphery are, of course, imperfect, but they must learn a positive harmlessness if they are to be permitted further penetration.
136. Một người luôn có thái độ chỉ trích không thể được tin cậy để cho phép bước vào ashram. Dĩ nhiên, những người đứng ở vùng ngoại vi còn chưa hoàn hảo, nhưng họ phải học tính vô tổn hại một cách tích cực nếu muốn được phép thâm nhập sâu hơn.
There is no tendency among its personnel to be critical and no interest whatsoever in the outer, personal lives of the members, should they be amongst those functioning in the three worlds.
Giữa các thành viên không có khuynh hướng chỉ trích và cũng hoàn toàn không quan tâm đến đời sống cá nhân bên ngoài của những thành viên đang hoạt động trong ba cõi giới.
137. No interest whatsoever in the personal lives of the other members of the Ashram. This sets the standard. The focus of the member of the Ashram is entirely other. Personality issues lie below the threshold of consciousness.
137. Hoàn toàn không quan tâm đến đời sống cá nhân của các thành viên khác trong ashram. Điều này đặt ra chuẩn mực. Thành viên của ashram tập trung vào những điều hoàn toàn khác. Những vấn đề của phàm ngã nằm dưới ngưỡng tâm thức.
138. The term “outer” is used. “Outer” means either “personal”, or there is an “outer” personality life and an “inner”. We know that on occasion, there must be a willingness to share in the psychological and thought processes of one’s fellow group members, as DK has advised us in other instructions.
138. Ở đây, thuật ngữ “bên ngoài” được sử dụng. “Bên ngoài” hoặc có nghĩa là “cá nhân”, hoặc có một đời sống phàm ngã “bên ngoài” và một đời sống phàm ngã “bên trong”. Chúng ta biết rằng đôi khi cần sẵn lòng chia sẻ các tiến trình tâm lý và tư tưởng của những thành viên đồng nhóm, như Chân sư DK đã khuyên chúng ta trong những huấn thị khác.
Criticism, as seen among men, simply is a mode of emphasising the lower self and deflects the attitude to the material aspects of a person’s life.
Sự chỉ trích, như thấy ở con người, đơn giản là một cách nhấn mạnh phàm ngã và khiến thái độ chuyển hướng sang những phương diện vật chất trong đời sống của một người.
139. We have here an excellent definition of criticism. Usually when one criticizes, one thinks one is thinking, writing of another, but in fact, one is simply reinforcing one’s own lower personal self, one’s lower ego.
139. Ở đây, chúng ta có một định nghĩa rất hay về sự chỉ trích. Thông thường, khi chỉ trích, người ta tưởng mình đang suy nghĩ, viết về một người khác, nhưng thực ra chỉ đang củng cố cái tôi cá nhân thấp kém, phàm ngã của chính mình.
There is necessarily clear vision among the members of an Ashram; they know each other’s capacities and limitations and they know, therefore, where they can complement each other and together create and present a perfect team in world service.
Các thành viên của một ashram tất yếu có tầm nhìn rõ ràng; họ biết những khả năng và giới hạn của nhau, và do đó biết họ có thể bổ sung cho nhau ở đâu để cùng tạo thành và thể hiện một tập thể hoàn hảo trong việc phụng sự thế gian.