← Commentary DINA II (webinar 24-35)

Commentary 35

Trích nội dung chương

I have not, as you will note, covered the whole ground. I have, however, indicated enough to show my reasons why there is so poor an exoteric showing of a truly esoteric, inner movement—an inner movement which remains intact even though the outer form does not hold together, owing to the weaknesses of its members and the pressure of daily life upon [94] the outer group. Như các bạn sẽ nhận thấy, Tôi chưa đề cập toàn bộ vấn đề. Tuy nhiên, Tôi đã chỉ ra đủ để cho thấy những lý do của Tôi về việc tại sao một sự vận động thực sự nội môn ở bên trong lại có biểu hiện ngoại môn nghèo nàn đến vậy—một sự vận động bên trong vẫn nguyên vẹn, dù hình…


I have not, as you will note, covered the whole ground. I have, however, indicated enough to show my reasons why there is so poor an exoteric showing of a truly esoteric, inner movement—an inner movement which remains intact even though the outer form does not hold together, owing to the weaknesses of its members and the pressure of daily life upon [94] the outer group.

Như các bạn sẽ nhận thấy, Tôi chưa đề cập toàn bộ vấn đề. Tuy nhiên, Tôi đã chỉ ra đủ để cho thấy những lý do của Tôi về việc tại sao một sự vận động thực sự nội môn ở bên trong lại có biểu hiện ngoại môn nghèo nàn đến vậy—một sự vận động bên trong vẫn nguyên vẹn, dù hình thức bên ngoài không còn gắn kết do những nhược điểm của các thành viên và sức ép của đời sống hằng ngày lên [94] nhóm bên ngoài.

90. The Tibetan admits to a “poor…exoteric showing”. He reminds us that not all is as it seems.

90. Chân sư Tây Tạng thừa nhận một “biểu hiện…ngoại môn nghèo nàn”. Ngài nhắc chúng ta rằng không phải mọi sự đều như vẻ ngoài của chúng.

91. We are reminded, for our encouragement (and because it is the truth) that the inner movement remained intact. We may infer that the reincarnated aspects of the participating disciples will resume future work with a much greater ability to resist various weaknesses and pressures.

91. Để khích lệ chúng ta (và vì đó là sự thật), Ngài nhắc chúng ta rằng sự vận động bên trong vẫn nguyên vẹn. Chúng ta có thể suy ra rằng các phương diện tái sinh của những đệ tử tham gia sẽ tiếp tục công việc trong tương lai với khả năng chống chọi những nhược điểm và sức ép khác nhau cao hơn nhiều.

All of you—from the first admitted to the last who joined the group—are still within my aura or within the aura of the greater Ashram of the Master K.H., and will, I am confident, remain so.

Tất cả các bạn—từ người đầu tiên được thu nhận đến người cuối cùng gia nhập nhóm—vẫn ở trong hào quang của Tôi hoặc trong hào quang của ashram lớn hơn của Chân sư KH, và Tôi tin chắc các bạn sẽ tiếp tục như vậy.

92. DK is an inclusive, second ray Master, and, if at all possible, holds all those whom He has chosen for affiliation.

92. Chân sư DK là một Chân sư cung hai có tính bao gồm, và nếu có thể, Ngài giữ lại tất cả những người mà Ngài đã chọn để kết nối với mình.

93. We do see, however, that whether or not the chelas remain within His Aura or the aura of the greater Ashram, is not entirely at the Master’s discretion. The behavior of the chela will determine much.

93. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng việc các đệ tử có tiếp tục ở trong hào quang của Ngài hay hào quang của ashram lớn hơn hay không không hoàn toàn do Chân sư quyết định. Hành vi của người đệ tử sẽ quyết định rất nhiều.

I would remind you also that there are many members of my Ashram of whom you know nothing and who came into my Ashram without the help of A.A.B.

Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng có nhiều thành viên trong ashram của Tôi mà các bạn hoàn toàn không biết, những người đã vào ashram của Tôi không qua sự trợ giúp của A.A.B.

94. One is reminded of the statement of the Christ: “Other sheep have I that are not of this fold”. It is impossible for the chela to understand the full scope of the Master’s work.

94. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến lời của Đức Christ: “Ta còn có những con chiên khác không thuộc đàn này”. Người đệ tử không thể thấu hiểu toàn bộ phạm vi công việc của Chân sư.

You are not the group of major importance.

Các bạn không phải là nhóm có tầm quan trọng chủ yếu.

95. This statement induces humility. One wonders if there was a specific group that was of major importance.

95. Lời này khơi dậy lòng khiêm nhường. Chúng ta tự hỏi liệu có một nhóm cụ thể nào thực sự có tầm quan trọng chủ yếu hay không.

Forget not these other co-disciples. Some day, when you have established continuity of consciousness, you will know them, for you will consciously meet with them within the ring-pass-not of my Ashram.

Đừng quên những đệ tử đồng môn khác này. Một ngày nào đó, khi đã thiết lập được sự liên tục của tâm thức, các bạn sẽ biết họ, vì các bạn sẽ gặp họ một cách có ý thức trong vòng-giới-hạn của ashram của Tôi.

96. We are given the hint that when penetration is made more fully into the Master’s Ashram, the personnel of that Ashram will be fully known.

96. Chúng ta nhận được lời gợi ý rằng khi thâm nhập trọn vẹn hơn vào ashram của Chân sư, chúng ta sẽ biết đầy đủ các thành viên của ashram ấy.

97. It is clear that continuity of consciousness is an inevitable development, however long delayed.

97. Rõ ràng, sự liên tục của tâm thức là một bước phát triển tất yếu, dù có trì hoãn lâu đến đâu.

You will know also and discover the reasons for the experiment with these outer groups which is now being tried by the Hierarchy, if you will read with care the teaching upon the externalisation of the Ashram of Sanat Kumara, the Hierarchy.

Các bạn cũng sẽ biết và khám phá những lý do của cuộc thử nghiệm với các nhóm bên ngoài này mà Thánh đoàn hiện đang tiến hành, nếu các bạn đọc kỹ giáo huấn về sự ngoại hiện của ashram của Sanat Kumara, tức Thánh đoàn.

98. DK seems to be suggesting that further penetration into His Ashram will further reveal the reasons for the experiment with outer groups. As well, the true reasons can be found by a penetration into the literature which DK has made available.

98. Dường như Chân sư DK đang gợi ý rằng việc thâm nhập sâu hơn vào ashram của Ngài sẽ hé lộ thêm những lý do của cuộc thử nghiệm với các nhóm bên ngoài. Đồng thời, chúng ta có thể tìm thấy những lý do thực sự bằng cách đi sâu vào các trước tác mà Chân sư DK đã cung cấp.

99. DK’s whole approach induces patience and humility. We realize how much we do not yet know and how much time it may require before the true workings of His Ashram are fully revealed.

99. Toàn bộ cách tiếp cận của Chân sư DK khơi dậy lòng kiên nhẫn và khiêm nhường. Chúng ta nhận ra mình còn chưa biết nhiều đến mức nào, và có thể cần bao nhiêu thời gian trước khi cách vận hành thực sự của ashram của Ngài hiển lộ đầy đủ.

August-September, 1949

Tháng Tám–Tháng Chín năm 1949

BROTHERS, AS OF OLD:

CÁC HUYNH ĐỆ, NHƯ THUỞ XƯA:

100. This is an unusual form of address, and seems to suggest that the relationships which existed in olden days persist, undiminished to this day.

100. Đây là một cách xưng hô khác thường, và dường như gợi ý rằng những mối quan hệ từng tồn tại thuở xưa vẫn bền vững, không hề suy giảm cho đến ngày nay.

101. DK’s usual form of address is “Brother(s) of Old”.

101. Cách xưng hô thông thường của Chân sư DK là “Huynh Đệ của Ngày Xưa” hoặc “Các Huynh Đệ của Ngày Xưa”.

The thought constantly enters my mind as to what I can say in order to make the group work, group relationships, group identification and group initiation a sound, active and factual reality in your minds and in the minds of other aspirants and disciples.

Tôi luôn suy nghĩ mình có thể nói gì để công việc nhóm, những mối quan hệ nhóm, sự đồng hóa với nhóm và điểm đạo nhóm trở thành một thực tại vững chắc, năng động và có thật trong thể trí của các bạn cũng như của những người chí nguyện và đệ tử khác. Với sự thành tâm sâu sắc,

102. The possibilities of outer instruction are fast coming to an end.

102. Những khả năng huấn thị bên ngoài đang nhanh chóng đi đến hồi kết.

103. Master DK is still pressing forward with His hopes for the group and its members.

103. Chân sư DK vẫn tiếp tục nỗ lực với những niềm hy vọng Ngài dành cho nhóm và các thành viên của nhóm.

104. We see that He is writing not only of the remaining members of His group but for those who will follow them.

104. Chúng ta thấy rằng Ngài đang viết không chỉ về những thành viên còn lại trong nhóm của Ngài mà còn cho những người sẽ tiếp bước họ.

105. His subjects are the following:

105. Những chủ đề của Ngài là:

a. Group work

a. Công việc nhóm

b. Group relations

b. Các mối quan hệ nhóm

c. Group identification

c. Sự đồng hóa với nhóm

d. Group initiation

d. Điểm đạo nhóm

106. He would have these four subjects be sound, active and factual realities in the minds of His disciples. Obviously, He thinks they are not—yet.

106. Ngài muốn bốn chủ đề này trở thành những thực tại vững chắc, năng động và có thật trong thể trí của các đệ tử Ngài. Hiển nhiên, Ngài cho rằng chúng vẫn chưa là như vậy.

I seek with profound earnestness to make this theme or subject true and vital, because it is an essentially new esoteric concept and a germ thought which the many aspirants of the world must grasp.

Tôi tìm cách làm cho chủ đề hay đề tài này trở nên chân thực và sống động, vì về căn bản đây là một khái niệm nội môn mới và một tư tưởng mầm mống mà đông đảo những người chí nguyện trên thế giới phải nắm bắt.

107. It would seem that DK is referring specifically to “group initiation” as a new esoteric concept. Of course, group initiation is based upon group work, group relations and group identification.

107. Dường như Chân sư DK đang đặc biệt nói đến “điểm đạo nhóm” như một khái niệm nội môn mới. Dĩ nhiên, điểm đạo nhóm dựa trên công việc nhóm, các mối quan hệ nhóm và sự đồng hóa với nhóm.

At the same time the aspirant must realise that the ideas are of no real importance to him as an individual—to you, therefore, as an individual and pledged disciple.

Đồng thời, người chí nguyện phải nhận ra rằng những ý tưởng ấy không có tầm quan trọng thực sự đối với y với tư cách một cá nhân—do đó, cũng không có tầm quan trọng thực sự đối với mỗi người trong các bạn với tư cách một cá nhân và một đệ tử đã cam kết.

108. DK seeks to emphasize, as always, the group idea. He is ambitious for the group, but not for the individuals comprising it.

108. Như mọi khi, Chân sư DK tìm cách nhấn mạnh ý tưởng nhóm. Ngài có hoài bão cho nhóm, nhưng không cho những cá nhân hợp thành nhóm.

As long as your state of awareness lays emphasis upon the fact of your individuality, the group idea cannot take form as a group ideal.The sense of separativeness is still present. It is a sense which has been laboriously developed—under evolutionary law—from the moment when your soul decided to experiment, to experience, and to express divinity.

Chừng nào trạng thái nhận biết của các bạn còn nhấn mạnh sự hiện hữu cá nhân của mình, thì ý tưởng nhóm chưa thể thành hình như một lý tưởng nhóm. Ý thức chia rẽ vẫn còn hiện diện. Đó là một ý thức đã được phát triển nhọc nhằn—dưới định luật tiến hoá—từ thời điểm linh hồn các bạn quyết định thử nghiệm, trải nghiệm và biểu lộ thiên tính.

109. DK notes the persistent state of individuality in the group members. This state militates against the embodiment of the group idea as the group ideal.

109. Chân sư DK lưu ý đến trạng thái cá nhân riêng biệt vẫn dai dẳng tồn tại trong các thành viên của nhóm. Trạng thái này cản trở việc hiện thực hoá ý tưởng nhóm thành lý tưởng nhóm.

110. DK knows He is dealing with a persistent “sense”, necessarily developed since the days of individualization.

110. Chân sư DK biết Ngài đang đối diện với một “ý thức” dai dẳng, vốn tất yếu đã phát triển từ thời biệt ngã hóa.

111. We, too, must realize the nature of the individualism which is built into us. It is of great antiquity and thoroughly ingrained.

111. Chúng ta cũng phải nhận ra bản chất của chủ nghĩa cá nhân đã ăn sâu trong mình. Nó có từ thời rất xa xưa và đã thâm căn cố đế.

Separative effort, separative emotional reactions and separative materialistic endeavour have been (if I may so unfortunately express it) the spiritual essentials which must perforce precede group effort and conscious group relations.

Nỗ lực chia rẽ, những phản ứng cảm xúc chia rẽ và sự cố gắng duy vật mang tính chia rẽ đã là, nếu Tôi có thể diễn đạt một cách đáng tiếc như vậy, những điều thiết yếu về tinh thần buộc phải có trước nỗ lực nhóm và những mối quan hệ nhóm có ý thức. [95] Vì vậy,

112. This is another way of saying that that which we call selfishness is an evolutionary necessity. In other words, selfishness is a spiritual essential, as strange as that may seem.

112. Đây là một cách nói khác rằng điều chúng ta gọi là tính ích kỷ là một điều tất yếu của tiến hoá. Nói cách khác, tính ích kỷ là một điều thiết yếu về tinh thần, dù điều đó có vẻ kỳ lạ đến đâu.

113. Nevertheless, no matter how deeply ingrained, it must be overcome.

113. Tuy nhiên, dù đã ăn sâu đến đâu, tính ích kỷ vẫn phải được khắc phục.

[95] The factor entailed, therefore, is a definite “break with the past,” and the entering into a new state of awareness—an awareness which is fundamentally inclusive and not exclusive.

yếu tố cần có là một sự “đoạn tuyệt với quá khứ” dứt khoát và việc bước vào một trạng thái nhận biết mới—một sự nhận biết về căn bản có tính bao gồm, không có tính loại trừ.

114. Master DK is calling for a first ray activity—a definite “break with the past”. His second ray disciples are, perhaps, not so used to radical breaks. Such breaks go against the nature of their predominant ray.

114. Chân sư DK đang kêu gọi một hoạt động của cung một—một sự “đoạn tuyệt với quá khứ” dứt khoát. Có lẽ các đệ tử cung hai của Ngài chưa quen lắm với những sự đoạn tuyệt triệt để. Những sự đoạn tuyệt như thế đi ngược lại bản chất của cung chủ đạo nơi họ.

115. DK seems to be emphasizing the spiritual essentials. When little time remains, it is necessary to return to the essentials so that they may be impressively in the mind of those who are to continue— without the outer aid of the Master.

115. Dường như Chân sư DK đang nhấn mạnh những điều thiết yếu về tinh thần. Khi thời gian còn lại chẳng bao nhiêu, cần trở về với những điều thiết yếu để chúng có thể in sâu trong thể trí của những người sẽ tiếp tục—không có sự trợ giúp bên ngoài của Chân sư.

This is a primary platitude of which you are well aware. In most of you this platitude remains a mental proposition.

Đây là một chân lý căn bản quen thuộc mà các bạn đều biết rõ. Với phần lớn các bạn, chân lý quen thuộc này vẫn chỉ là một mệnh đề trí tuệ.

116. Platitudes are great truths, but must not be allowed to remain trapped on the level of mind.

116. Những chân lý quen thuộc là những chân lý lớn lao, nhưng không được để chúng mãi mắc kẹt ở cấp độ thể trí.

You hope some day to arrive at this basic sense of inclusiveness which is characteristic of the Hierarchy. At present you do not feel fused, blended and incorporated into the mental, astral and etheric auras of those who form the group of which you know yourself to be a part. I would ask you to study what I have just said with care.

Các bạn hy vọng một ngày nào đó sẽ đạt đến ý thức căn bản về tính bao gồm vốn là đặc trưng của Thánh đoàn. Hiện nay, các bạn chưa cảm thấy mình dung hợp, hòa quyện và hòa nhập vào các hào quang trí tuệ, cảm dục và dĩ thái của những người hợp thành nhóm mà các bạn biết mình là một thành viên. Tôi muốn các bạn nghiên cứu kỹ điều Tôi vừa nói. Chẳng hạn,

117. DK is offering us a clear idea of what it means to be inclusive. It is to be fused and blended and incorporated into the mental, astral and etheric auras of those who form the group of which one knows himself to be a part.

117. Chân sư DK đang cho chúng ta một ý niệm rõ ràng về ý nghĩa của việc có tính bao gồm. Đó là dung hợp, hòa quyện và hòa nhập vào các hào quang trí tuệ, cảm dục và dĩ thái của những người hợp thành nhóm mà mỗi người biết mình là một thành viên.

118. If we stop to think, we can see how really demanding it is to become inclusive in the hierarchical sense.

118. Nếu dừng lại suy nghĩ, chúng ta có thể thấy việc trở nên bao gồm theo ý nghĩa của Thánh đoàn thực sự đòi hỏi nhiều đến mức nào.

Do you like, for instance, to penetrate into the mental atmosphere of a fellow member, or do you care to have him penetrate into yours and thus find out what is the content of your thought? A major test is here involved, and it is one which you will have some day to face.

các bạn có thích thâm nhập vào bầu không khí trí tuệ của một thành viên đồng nhóm không, hay các bạn có muốn người ấy thâm nhập vào bầu không khí trí tuệ của mình và qua đó biết được nội dung tư tưởng của mình không? Ở đây có một thử thách lớn, và một ngày nào đó các bạn sẽ phải đối diện với nó. Một lần nữa,

119. Given that which has not yet been purified, this can be a harrowing experience.

119. Xét đến những gì chưa được thanh lọc, đây có thể là một trải nghiệm đầy khổ sở.

120. AAB has referred to the fact that the thought life of a number of disciples will not bear examination.

120. Bà AAB đã đề cập đến sự thật rằng đời sống tư tưởng của một số đệ tử không chịu nổi sự xem xét.

Do you, again, like to share your emotional reactions with a co-disciple? Are you interested in his? If so, why? Some day this responding interest must prove itself effective, and this must necessarily connote self-sacrifice in both directions.

các bạn có thích chia sẻ những phản ứng cảm xúc của mình với một đệ tử đồng môn không? Các bạn có quan tâm đến những phản ứng cảm xúc của người ấy không? Nếu có, thì tại sao? Một ngày nào đó, sự quan tâm mang tính đáp ứng này phải chứng tỏ được hiệu quả, và điều đó tất yếu hàm chứa sự tự hy sinh từ cả hai phía.

121. Let’s think about what DK says here. Why, “self-sacrifice in both directions”? May we say that in such examinations, the desire nature will necessarily be sacrificed? There will also be shared disturbances which will prove, temporarily, disquieting.

121. Chúng ta hãy suy nghĩ về điều Chân sư DK nói ở đây. Tại sao lại là “sự tự hy sinh từ cả hai phía”? Liệu chúng ta có thể nói rằng trong những lần xem xét như thế, bản chất dục vọng tất yếu sẽ phải hy sinh không? Cũng sẽ có những xáo trộn mà cả hai cùng chia sẻ, tạm thời gây bất an.

122. Many disciples shut out awareness of the emotional states of their co-disciples through an enforced, though artificial, impersonality. Impersonality is not achieved through denial but through transcendence—i.e., by passing through and beyond, rather than going around.

122. Nhiều đệ tử ngăn mình nhận biết những trạng thái cảm xúc của các đệ tử đồng môn bằng một thái độ vô ngã gượng ép, dù giả tạo. Không phải phủ nhận mà là siêu vượt mới đạt được tính vô ngã—nghĩa là đi xuyên qua rồi vượt lên trên, thay vì đi vòng tránh.

123. Here we may not be talking of the illusory nature of astral content, but of using the astral body as an instrument for service.

123. Ở đây, có lẽ chúng ta không nói về bản chất hư ảo của nội dung cảm dục, mà về việc sử dụng thể cảm dục như một công cụ phụng sự.

Do you want or deem it appropriate to have a fellow-worker come under the influence of your etheric body and, therefore, of the energies which flow through it? And do you want his energies to flow through you?

Các bạn có muốn hoặc cho là thích hợp khi một người đồng sự chịu ảnh hưởng của thể dĩ thái của mình, và do đó, của những năng lượng tuôn chảy qua thể ấy không? Và các bạn có muốn những năng lượng của người ấy tuôn chảy qua mình không?

124. These are very pointed question. Some disciples there are who do not want to be ‘contaminated’ by the energies of others. This is a selfish, puristic attitude and a definite limitation.

124. Đây là những câu hỏi rất sắc bén. Có những đệ tử không muốn năng lượng của người khác làm mình ‘ô nhiễm’. Đây là một thái độ ích kỷ, khăng khăng giữ sự thuần khiết và là một giới hạn rõ rệt.

125. DK is pointing to the fact that we are really all one being. There is no avoiding this fundamental fact, as unpleasant as it may seem to some.

125. Chân sư DK đang chỉ ra sự thật rằng thực sự tất cả chúng ta là một sinh mệnh duy nhất. Không thể né tránh sự thật căn bản này, dù một số người có thể cảm thấy khó chịu đến đâu.

These are some of the implications of group work, and for these you must be prepared.

Đó là một số điều mà công việc nhóm hàm chứa, và các bạn phải chuẩn bị cho những điều ấy.

126. We are to gather that our degree of inclusiveness and of true group association is quite incomplete.

126. Chúng ta cần hiểu rằng mức độ bao gồm và sự gắn kết nhóm đích thực của chúng ta còn rất thiếu sót.

The realisation of the inevitability of these necessities will lead you eventually to a careful scrutiny of your thinking, of your emotional reactions and of the energies to which you give entrance all the time because (for the first time in your soul’s history) you feel the need to guard your brother from the results of your personality reactions;

Việc nhận ra tính tất yếu của những yêu cầu này cuối cùng sẽ dẫn các bạn đến chỗ xem xét kỹ lưỡng tư duy, những phản ứng cảm xúc và những năng lượng mà các bạn luôn cho phép đi vào bởi vì (lần đầu tiên trong lịch sử linh hồn mình) các bạn cảm thấy cần phải bảo vệ huynh đệ mình khỏi những hậu quả do các phản ứng phàm ngã của mình gây ra;

127. A new motive for self-purification is given. It is an altruistic motive. It is as if one carrying a disease had to assure himself that others would not get the disease through contact with him.

127. Một động cơ mới cho việc tự thanh lọc được đưa ra. Đó là một động cơ vị tha. Điều này giống như một người mang bệnh phải tự bảo đảm rằng những người khác sẽ không mắc bệnh khi tiếp xúc với mình.

128. DK seems to be pointing to the fact that such an altruistic motive is not yet in the possession of many of His chelas—that the time when such a motive would be actual still lies in the future.

128. Dường như Chân sư DK đang chỉ ra sự thật rằng nhiều đệ tử của Ngài chưa có động cơ vị tha như thế—rằng thời điểm một động cơ như thế trở thành hiện thực vẫn còn ở phía trước.

129. The conclusion is that we do not belong to ourselves exclusively, but are each other to an extent which would prove very disquieting to the consciousness of the average disciple.

129. Kết luận là chúng ta không chỉ thuộc về riêng mình, mà còn là nhau đến một mức độ có thể khiến tâm thức của người đệ tử bình thường hết sức bất an.

consequently, scientific service supersedes your hitherto thoughtless and undisciplined activity.

do đó, việc phụng sự có tính khoa học thay thế cho hoạt động thiếu suy xét và thiếu kỷ luật từ trước đến nay của các bạn. Ở đây,

130. DK is calling the activity of His disciples “thoughtless” and “undisciplined”.

130. Chân sư DK đang gọi hoạt động của các đệ tử Ngài là “thiếu suy xét” và “thiếu kỷ luật”.

131. We can see the high standard set for ashramic affiliation.

131. Chúng ta có thể thấy tiêu chuẩn cao đặt ra cho việc gia nhập ashram.

I would here point out that at no time do you ever attempt to guard yourself from the personality reactions of a co-disciple; you welcome them and absorb them and—whilst dealing with them—you aid the cause of liberation in his life as well as in your own.

Tôi muốn chỉ rõ rằng các bạn tuyệt đối không bao giờ tìm cách bảo vệ mình khỏi những phản ứng phàm ngã của một đệ tử đồng môn; các bạn đón nhận và hấp thu chúng, và—trong khi xử lý chúng—các bạn góp phần vào công cuộc giải thoát trong đời sống của người ấy cũng như trong đời sống của chính mình.

132. DK is suggesting a definitely second ray approach—shielding love applied to others, with the accompanying refusal to shield oneself from them.

132. Chân sư DK đang đề xuất một cách tiếp cận rõ rệt thuộc cung hai—dùng tình thương che chở người khác, đồng thời nhất quyết không che chắn bản thân khỏi họ.

133. He is encouraging absorption and transmutation.

133. Ngài đang khuyến khích sự hấp thu và chuyển hoá.

134. How many of us are so sacrificially oriented? Does this advice come as a surprise? Is it disquieting?

134. Có bao nhiêu người trong chúng ta hướng đến sự hi sinh như vậy? Lời khuyên này có khiến chúng ta ngạc nhiên không? Có khiến chúng ta bất an không?

135. It is obvious that if these procedures are to be followed, the solar plexus must be transcended and the heart well developed.

135. Hiển nhiên, để thực hiện những phương thức này, chúng ta phải vượt lên trên tùng thái dương và phát triển trung tâm tim một cách đầy đủ.

The entire subject of group interplay is far deeper and [96] more significant than you suspect or appreciate; it can be summed up in the words of St. Paul: “No man liveth unto himself.”

Toàn bộ chủ đề về sự tương tác nhóm sâu sắc hơn nhiều và [96] có thâm nghĩa lớn hơn nhiều so với điều các bạn hình dung hoặc nhận thức được; có thể tóm lược chủ đề ấy bằng lời của Thánh Paul: “Không ai sống chỉ cho riêng mình.”

136. The instruction being given is truly related to the Way of the Christ. We understand that the Christ was the greatest Master in the art of absorption and transmutation. DK is asking His disciples to consume ‘poison’ for the sake of the world. We realize that every great World Saviour has done this.

136. Huấn thị đang được đưa ra thực sự liên quan đến Con Đường của Đức Christ. Chúng ta hiểu rằng Đức Christ là Chân sư vĩ đại nhất về nghệ thuật hấp thu và chuyển hoá. Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử Ngài hấp thu ‘chất độc’ vì lợi ích của thế gian. Chúng ta nhận ra rằng mọi Đấng Cứu Thế vĩ đại đều đã làm điều này.

137. The Master is pointing towards a future time when His disciples will be far more sensitive than they are now.

137. Chân sư đang hướng đến một thời điểm trong tương lai khi các đệ tử Ngài sẽ nhạy cảm hơn nhiều so với hiện nay.

Feeling, thinking and absorbing the many actuating and incentive energies constitute a vast process of many interrelations and this, most aspirants are apt to forget.

Cảm nhận, suy nghĩ và hấp thu nhiều năng lượng thúc đẩy và khơi động tạo thành một tiến trình rộng lớn với nhiều mối tương quan, và đây là điều mà phần lớn người chí nguyện dễ quên.

138. In this advice, DK is contributing the breaking down of barriers between the aspirant and other aspirants, and, in general, between the aspirant and his entire environment.

138. Qua lời khuyên này, Chân sư DK đang góp phần phá bỏ những rào cản giữa người chí nguyện với những người chí nguyện khác, và nói chung, giữa người chí nguyện với toàn bộ môi trường của mình.

I suggest that during the coming year you go over your individual instructions and then—during the course of the year—answer six questions which I will dictate. The purpose of this task (shall I call it this?) is to clarify your minds as to your problems and opportunity and latent knowledge, gained as the result of years of work under my tuition;

Tôi đề nghị trong năm tới, các bạn xem lại những huấn thị cá nhân của mình, rồi—trong suốt năm ấy—trả lời sáu câu hỏi mà Tôi sẽ đọc cho các bạn ghi lại. Mục đích của nhiệm vụ này (Tôi có nên gọi như vậy không?) là giúp thể trí các bạn sáng tỏ về những vấn đề, cơ hội và tri thức tiềm ẩn của mình, vốn có được nhờ nhiều năm làm việc dưới sự chỉ dạy của Tôi;

139. We can see that Master DK is definitely propelling His disciples into a state of summarization. He is hoping to ‘leave’ them in the clearest possible state of mind.

139. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang dứt khoát thúc đẩy các đệ tử Ngài bước vào trạng thái tổng kết. Ngài hi vọng sẽ ‘để’ họ lại với thể trí sáng tỏ nhất có thể.

140. They are to understand as clearly as possible:

140. Họ cần thấu hiểu càng rõ càng tốt:

a. Their problems

a. Những vấn đề của họ

b. Their opportunity

b. Cơ hội của họ

c. Their latent knowledge

c. Tri thức tiềm ẩn của họ

141. DK hints at the idea that His disciples are in possession of much knowledge that they do not know they possess. It is latent, and has been gained through their years of work with Him.

141. Chân sư DK gợi ý rằng các đệ tử của Ngài sở hữu nhiều tri thức mà họ không biết mình sở hữu. Tri thức ấy còn tiềm ẩn, và họ đã thu nhận qua những năm làm việc với Ngài.

142. All this reminds one of a great stock-taking.

142. Tất cả điều này gợi cho chúng ta nghĩ đến một cuộc kiểm kê lớn.

the replies will give to your group brothers a sense of relationship with you, a feeling of shared responsibility, a recognition of group assets and group richness (again using a peculiar word) and a realisation of possibility which may greatly strengthen each and all of you.

những câu trả lời sẽ đem lại cho các huynh đệ đồng nhóm một ý thức về mối quan hệ với các bạn, một cảm nhận về trách nhiệm chung, sự nhận biết những ưu thế của nhóm và sự phong phú của nhóm (một lần nữa dùng một từ đặc biệt), cùng sự nhận ra khả năng có thể củng cố mạnh mẽ từng người và tất cả các bạn.

143. We can see that the answering of the six questions have far more than an individual purpose. They are to enrich the group.

143. Chúng ta có thể thấy rằng việc trả lời sáu câu hỏi có mục đích vượt xa phạm vi cá nhân. Những câu trả lời ấy nhằm làm phong phú thêm cho nhóm.

144. As a result of answering and sharing the answers, the group members will have:

144. Qua việc trả lời và chia sẻ những câu trả lời, các thành viên trong nhóm sẽ có:

a. A sense of relationship with each disciple in the group

a. Ý thức về mối quan hệ với từng đệ tử trong nhóm

b. A feeling of shared responsibility

b. Cảm nhận về trách nhiệm chung

c. A recognition of group assets

c. Sự nhận biết những ưu thế của nhóm

d. A recognition of group richness

d. Sự nhận biết sự phong phú của nhóm

e. A realization of group possibility.

e. Sự nhận ra những khả năng của nhóm.

145. It is clear that Master DK hopes His group will continue to work together under the guidance of FB (JWK-P), and He is preparing them for this future cooperation.

145. Rõ ràng Chân sư DK hy vọng nhóm của Ngài sẽ tiếp tục làm việc cùng nhau dưới sự hướng dẫn của FB (JWK-P), và Ngài đang chuẩn bị cho họ bước vào sự hợp tác này trong tương lai.

This will close our cycle of instruction. If you avail yourselves of the opportunity for this personal research work, coincident with the post-war period, you may find a sudden spiritual deepening and strengthening of your life, your spiritual contacts and your group relation;

Điều này sẽ khép lại chu kỳ huấn thị của chúng ta. Nếu các bạn tận dụng cơ hội thực hiện công việc tự khảo sát này, trùng với thời kỳ hậu chiến, các bạn có thể thấy đời sống, những tiếp xúc tinh thần và mối quan hệ nhóm của mình đột ngột trở nên sâu sắc và vững mạnh hơn về mặt tinh thần;

146. The advantages of the personal research work are given. Let us tabulate for clarity: The research work will make possible:

146. Những lợi ích của công việc nghiên cứu cá nhân đã được nêu ra. Chúng ta hãy liệt kê cho rõ: Công việc nghiên cứu sẽ giúp:

a. Spiritual deepening

a. Đào sâu đời sống tinh thần

b. Strengthening of the life

b. Củng cố sự sống

c. Strengthening of spiritual contacts

c. Củng cố các tiếp xúc tinh thần

d. Strengthening of group the group relation

d. Củng cố mối quan hệ nhóm

147. We cannot help but note the use of the word “sudden”. DK seems to be referencing the unexpected spiritual insight which may arise from this exercise.

147. Chúng ta không thể không lưu ý việc sử dụng từ “đột ngột”. Dường như Chân sư DK đang đề cập đến sự thấu suốt tinh thần bất ngờ có thể nảy sinh từ bài tập này.

you may also find yourselves in closer rapport with the Ashram, its programme and potency, and you may likewise discover yourselves being presented with the opportunity to learn in a new and subjective manner, of which I may not speak, until you have registered it yourselves.

các bạn cũng có thể thấy mình hòa hợp mật thiết hơn với ashram, chương trình và uy lực của ashram, đồng thời có thể nhận ra mình đang đứng trước cơ hội học hỏi theo một cách mới và mang tính chủ quan mà Tôi chưa thể nói đến cho tới khi chính các bạn ghi nhận được nó. Nhờ đó,

148. Further advantages to answering the questions are listed:

148. Những lợi ích khác của việc trả lời các câu hỏi được liệt kê như sau:

a. Coming into closer rapport with the Ashram

a. Đạt đến sự hòa hợp mật thiết hơn với ashram

b. Coming in closer rapport with the Ashram’s programme

b. Đạt đến sự hòa hợp mật thiết hơn với chương trình của ashram

c. Coming into closer rapport with the Ashram’s potency

c. Đạt đến sự hòa hợp mật thiết hơn với uy lực của ashram

d. Being presented with the opportunity to learn in a new and subjective manner

d. Có cơ hội học hỏi theo một cách mới và mang tính chủ quan

149. We note that the Master does not explicitly tell how new subjective methods of learning may be accessed. It is the law that each chela must arrive at the method himself before the Master may speak of the process.

149. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư không nói rõ cách tiếp cận những phương pháp học hỏi chủ quan mới. Theo định luật, mỗi đệ tử phải tự tìm ra phương pháp trước khi Chân sư có thể nói về tiến trình ấy.

150. This should be taken to heart by those who find their fellow disciples ‘instructing’ them in methods to contact the Master or to achieve higher subjective contacts. If even the Master will not speak directly of these things until they have been somewhat achieved within the disciple, then what of those of far lesser rank who claim to offer explicit instructions regarding such contact?

150. Những ai thấy các đệ tử đồng môn đang ‘chỉ dạy’ mình những phương pháp tiếp xúc với Chân sư hoặc đạt đến những tiếp xúc chủ quan cao hơn cần ghi lòng điều này. Nếu ngay cả Chân sư cũng không nói trực tiếp về những điều này cho đến khi người đệ tử đã phần nào đạt được chúng bên trong mình, thì chúng ta phải nghĩ sao về những người có cấp bậc thấp hơn rất nhiều mà lại tuyên bố có thể đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về sự tiếp xúc ấy?

You will thus greatly increase your usefulness to humanity, to the Ashram, and to me.

các bạn sẽ gia tăng đáng kể sự hữu ích của mình đối với nhân loại, với ashram và với Tôi.

151. We see that the questions have a purpose far beyond increasing the disciples’ self-knowledge.

151. Chúng ta thấy rằng các câu hỏi có một mục đích vượt xa việc gia tăng sự hiểu biết về bản thân của các đệ tử.

The Science of Impression* is of major importance to the group. The time for close attention to yourselves and to your individual characters is past; group activity should take its place. By this I mean the activity of this particular group of disciples in relation to my Ashram and in relation to world service.

Khoa Học về Ấn Tượng [vii]* có tầm quan trọng lớn đối với nhóm. Thời kỳ chú tâm sát sao đến bản thân và tính cách cá nhân của các bạn đã qua; hoạt động nhóm phải thay thế cho điều ấy. Qua đó, Tôi muốn nói đến hoạt động của chính nhóm đệ tử này trong mối quan hệ với ashram của Tôi và với việc phụng sự thế gian.

152. DK is asking His chelas to lift their attention and no longer focus on their individual character. Rather, their attention is to be on the Ashram and its work.

152. Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử của Ngài nâng cao sự chú tâm và không còn tập trung vào tính cách cá nhân của mình nữa. Thay vào đó, họ phải chú tâm đến ashram và công việc của ashram.

153. Really, the six questions are meant to facilitate the development of the Science of Impression.

153. Thực ra, sáu câu hỏi nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của Khoa Học về Ấn Tượng.

I would like you to do some further thinking upon the theme of our seventh point, the externalisation of the Masters’ Ashrams, so that what I hope to say in the next instruction may mean more to you. Take your group papers and the book Discipleship in the [97] New Age (Vol. I) and run quickly through these two sources of information and then write down:

Tôi muốn các bạn suy nghĩ thêm về chủ đề của điểm thứ bảy mà chúng ta đã bàn, sự ngoại hiện các ashram của các Chân sư, để điều Tôi hy vọng sẽ nói trong huấn thị tiếp theo có thể mang nhiều ý nghĩa hơn đối với các bạn. Hãy lấy các tài liệu nhóm của các bạn và cuốn sách Đường Đạo Trong [97] Kỷ Nguyên Mới (Tập I), đọc lướt nhanh hai nguồn thông tin này, rồi ghi lại:

154. A final review is in process. If well done, it will strengthen all future work.

154. Một đợt ôn lại cuối cùng đang diễn ra. Nếu thực hiện tốt, việc này sẽ củng cố mọi công việc trong tương lai.

155. The papers to be reviewed are all those which form the body of work in DINA II. When this instruction was given, DINA I had been printed, but DINA II had not.

155. Những tài liệu cần ôn lại là toàn bộ những tài liệu hợp thành nội dung của DINA II. Khi huấn thị này được đưa ra, DINA I đã được in, nhưng DINA II thì chưa.

1. Any definitions of an Ashram you may find. There are many.

1. Bất cứ định nghĩa nào về một ashram mà các bạn tìm được. Có rất nhiều định nghĩa.

156. This would be a worthwhile activity for ourselves. For all that has been said about the nature of an Ashram, there is still much vagueness of thought on the subject.

156. Đây sẽ là một hoạt động đáng làm đối với chúng ta. Dù đã có nhiều điều được nói về bản chất của một ashram, tư tưởng về chủ đề này vẫn còn rất mơ hồ.

157. We have a fifty-nine page compilation on the Ashram should anyone wish to have it.

157. Chúng ta có một bản biên soạn dài năm mươi chín trang về ashram, nếu có ai muốn có bản này.

2. A short, tabulated statement as to the unique work which every Ashram carries on in the outer world through its initiates and disciples and through affiliated disciples, such as the majority of you. Two or three of you are beyond the stage of affiliation.

2. Một bản trình bày ngắn gọn dưới dạng bảng về công việc độc đáo mà mỗi ashram thực hiện ở thế giới bên ngoài thông qua các điểm đạo đồ và đệ tử của mình, cũng như thông qua các đệ tử liên kết, như phần lớn các bạn. Hai hoặc ba người trong các bạn đã vượt qua giai đoạn liên kết.

158. DK wants His disciples to understand with clarity what each Ashram does and is intended to do in the Externalization process.

158. Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài thấu hiểu rõ ràng mỗi ashram làm gì và dự định làm gì trong tiến trình Ngoại Hiện.

159. He is also offering some technical information on stages of ashramic association:

159. Ngài cũng đang cung cấp một số thông tin chuyên môn về các giai đoạn gắn kết với ashram:

a. One stage (the stage most applicable to the majority) is called “affiliation”.

a. Một giai đoạn (giai đoạn phù hợp nhất với đa số) được gọi là “liên kết”.

b. A few of the disciples have moved beyond the stage of affiliation into greater ashramic intimacy.

b. Một vài đệ tử đã vượt qua giai đoạn liên kết để bước vào sự gần gũi sâu sắc hơn với ashram.

This assignment need not take you long.

Bài tập này không cần chiếm nhiều thời gian của các bạn.

160. The value of summarizing what one has already learned is considerable.

160. Việc tóm lược những gì mình đã học có giá trị đáng kể.

My brothers, I am spiritually ambitious for you. I have gathered you into my ashramic group and, therefore, into my aura for vitalising, for training and for protection. My love goes ever out to you and my unifying desire.

Các huynh đệ của Tôi, Tôi có những kỳ vọng lớn lao về mặt tinh thần dành cho các bạn. Tôi đã quy tụ các bạn vào nhóm ashram của Tôi, và do đó vào hào quang của Tôi, để tiếp sinh lực, huấn luyện và bảo vệ các bạn. Tình thương và mong muốn hợp nhất của Tôi luôn hướng đến các bạn.

161. Here is one of the Tibetan’s great exhortations.

161. Đây là một trong những lời khích lệ lớn lao của Chân sư Tây Tạng.

162. When a Master gathers disciples into His group they are:

162. Khi một Chân sư quy tụ các đệ tử vào nhóm của Ngài, họ:

a. Thereby gathered into his aura

a. Qua đó được quy tụ vào hào quang của Ngài

b. Offered vitalising

b. Được tiếp sinh lực

c. Offered training

c. Được huấn luyện

d. Offered protection

d. Được bảo vệ

e. Offered the Master’s love

e. Được đón nhận tình thương của Chân sư

f. Offered the benefits of the Master’s “unifying desire”

f. Được hưởng những lợi ích từ “mong muốn hợp nhất” của Chân sư

163. The term “unifying desire” is arresting. The Master’s keen desire has a unifying effect upon His group of chelas. Have we ever discovered in ourselves the exertion of “unifying desire”? Surely the right kind of desire may be a factor contributing to group coherence.

163. Cụm từ “mong muốn hợp nhất” khiến chúng ta chú ý. Mong muốn mãnh liệt của Chân sư có tác dụng hợp nhất nhóm đệ tử của Ngài. Chúng ta đã bao giờ nhận thấy “mong muốn hợp nhất” đang phát huy tác dụng trong chính mình chưa? Chắc chắn loại mong muốn đúng đắn có thể là một yếu tố góp phần tạo nên sự gắn kết của nhóm.

Will you not aid me in my task? Will you stand with me in the hierarchical endeavour to which I am pledged and which I have undertaken in consort with the other Masters? There is much that you can do by speech, by pen and by example. Will you not do it—with a simple heart and a single eye for the helping of a deeply suffering and overburdened humanity?

Các bạn có sẵn lòng giúp Tôi trong nhiệm vụ này không? Các bạn có đứng cùng Tôi trong nỗ lực của Thánh đoàn mà Tôi đã cam kết và đã đảm nhận cùng với các Chân sư khác không? Có nhiều điều các bạn có thể làm bằng lời nói, ngòi bút và tấm gương của mình. Các bạn có sẵn lòng làm điều ấy không—với tấm lòng đơn sơ và ánh nhìn nhất tâm hướng đến việc trợ giúp nhân loại đang đau khổ sâu sắc và gánh nặng chồng chất.

164. The exhortation is irresistible.

164. Lời khích lệ ấy có sức lay động không thể cưỡng lại.

165. We note that the Master is pledged, even as His chelas are pledged.

165. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư đã cam kết, cũng như các đệ tử của Ngài đã cam kết.

166. Three potent modes of assistance are given:

166. Ba phương thức trợ giúp đầy uy lực được nêu ra:

a. Speech

a. Lời nói

b. Pen

b. Ngòi bút

c. Example

c. Nêu gương

167. In these three, we see how much the externalizing throat center is involved in the desirable process.

167. Trong ba điều này, chúng ta thấy trung tâm cổ họng thực hiện sự ngoại hiện tham gia nhiều đến mức nào vào tiến trình đáng mong muốn ấy.

168. The action is also to be carried on with “a simple heart and a single eye”—two profound occult hints. One is to be clear and one-pointed in one’s heart’s desire. One is also to see with a sense of unity. The call is to be influenced by soul consciousness and not by the divisive and often complicated concrete mind.

168. Hành động cũng phải được thực hiện với “một trái tim đơn thuần và một con mắt duy nhất”—hai gợi ý huyền bí sâu sắc. Mỗi người cần rõ ràng và nhất tâm trong ước muốn của trái tim mình. Mỗi người cũng cần nhìn với ý thức về sự hợp nhất. Lời kêu gọi là hãy để tâm thức linh hồn ảnh hưởng đến mình, thay vì trí cụ thể vốn chia rẽ và thường phức tạp.

The six questions are intended to summarise and make deeply personal and significant in your consciousness the instructions, given during the past few years to this group of affiliated disciples.

Sáu câu hỏi nhằm tóm lược những huấn thị đã ban cho nhóm đệ tử liên kết này trong vài năm qua, đồng thời làm cho chúng trở nên thiết thân và có thâm nghĩa sâu sắc trong tâm thức các bạn.

169. We note that the personal has a definite part to play in this group exercise which is filled with so much promise for the group.

169. Chúng ta lưu ý rằng yếu tố cá nhân có một vai trò rõ rệt trong bài tập nhóm đầy hứa hẹn này đối với nhóm.

170. The exercise is, we see, a way to promote assimilation of that which has been given.

170. Chúng ta thấy bài tập này là một cách thúc đẩy sự đồng hóa những điều đã được trao truyền.

They can be regarded as being put to the disciple by his own souland will mark—if correctly and creatively used—the closing of a preliminary cycle and the beginning of a new cycle of spiritual usefulness and of fresh growth and development.

Có thể xem đó là những câu hỏi do chính linh hồn của người đệ tử đặt ra cho người ấy, và—nếu được sử dụng đúng đắn và sáng tạo—chúng sẽ đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ sơ bộ và khởi đầu một chu kỳ mới về sự hữu ích tinh thần, cùng sự tăng trưởng và phát triển mới mẻ.

171. DK is looking beyond the time when He will have outer contact with these disciples. Rather than anticipating a time of withering and fading effectiveness, he anticipates “a new cycle of spiritual usefulness and of fresh growth and development”.

171. Chân sư DK đang nhìn xa hơn thời kỳ Ngài còn tiếp xúc bên ngoài với những đệ tử này. Thay vì dự liệu một thời kỳ suy tàn và hiệu quả phai nhạt, Ngài dự liệu “một chu kỳ mới về sự hữu ích tinh thần, cùng sự tăng trưởng và phát triển mới mẻ”.

172. Who is the one who questions? DK has His disciples imagine that it is their very soul that is the questioner.

172. Ai là người đặt câu hỏi? Chân sư DK yêu cầu các đệ tử của Ngài hình dung rằng chính linh hồn của họ là người đặt câu hỏi.

173. The questions must be used both correctly and creatively. This means that not only are the answers to be both clear and honest, but that each disciple must evolve his own unique approach to their meaning and to their potential use. No one can tell another disciple how to do this.

173. Phải sử dụng các câu hỏi vừa đúng đắn vừa sáng tạo. Điều này có nghĩa là các câu trả lời không chỉ phải rõ ràng và trung thực, mà mỗi đệ tử còn phải phát triển cách tiếp cận độc đáo của riêng mình đối với ý nghĩa của các câu hỏi và khả năng sử dụng chúng. Không ai có thể chỉ cho một đệ tử khác cách làm điều này.

These questions should receive most careful consideration and much serious reflection, prior to answering.

Cần cân nhắc hết sức cẩn thận và suy ngẫm nghiêm túc về những câu hỏi này trước khi trả lời.

174. We have many well-learned words at our disposal. A somewhat convincing answer could be easily fabricated and yet lack real depth.

174. Chúng ta có sẵn nhiều lời lẽ đã học rất kỹ để sử dụng. Có thể dễ dàng dựng nên một câu trả lời phần nào có sức thuyết phục nhưng vẫn thiếu chiều sâu thực sự.

The answers should convey the truth, as the disciple sees it today and not in the light of his wishful thinking and of his aspiration;

Những câu trả lời phải truyền đạt chân lý, như người đệ tử nhìn thấy ngày hôm nay, chứ không theo những suy nghĩ mong cầu và khát vọng của mình;

175. The watchword is truth rather than aspiration. This requires great lucidity and the ability to avoid succumbing to the temptation to see things as they should be rather than as they are. Have we carefully tried this?

175. Phương châm là chân lý thay vì khát vọng. Điều này đòi hỏi sự sáng suốt cao độ và khả năng tránh sa vào cám dỗ nhìn sự vật theo cách chúng nên là, thay vì theo đúng thực trạng của chúng. Chúng ta đã cẩn thận thử làm điều này chưa?

the answers should be written down (so as to focus that truth) with no thought or fear of what other members of the group may think.

cần viết các câu trả lời ra (để tập trung chân lý ấy), không bận tâm hay lo sợ những thành viên khác trong nhóm sẽ nghĩ gì.

176. DK is asking for a great act of detachment. To those who have been concerned about what others may think, He has sometimes say: “They say. What do they say? Let them say” (cf. DINA I 563)

176. Chân sư DK đang yêu cầu một hành động tách rời lớn lao. Với những người từng bận tâm về điều người khác có thể nghĩ, đôi khi Ngài đã nói: “Họ nói. Họ nói gì? Cứ để họ nói” (xem DINA I 563)

In an Ashram, my brothers, a man is known as he is; for this clear knowledge, the members of this group (affiliated with my Ashram) should prepare themselves.

Các huynh đệ của Tôi, trong một ashram, mỗi người đều được biết đến đúng như con người mình vốn có; các thành viên của nhóm này (liên kết với ashram của Tôi) phải chuẩn bị cho sự hiểu biết rõ ràng ấy.

177. One of the principal keynotes of the Ashram is truth. For this DK is preparing His affiliated disciples.

177. Một trong những chủ âm chính của ashram là chân lý. Chân sư DK đang chuẩn bị các đệ tử liên kết với Ngài cho điều này.

178. The Ashram is focussed in the “clear, cold light”. In that light, nothing can be hidden.

178. Ashram tập trung trong “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo”. Trong ánh sáng ấy, không điều gì có thể che giấu.

[98] One suggestion I will make: There are six questions, providing one question, therefore, for consideration each two months during the coming year.

Tôi sẽ đưa ra một gợi ý: Có sáu câu hỏi, do đó, trong năm tới cứ mỗi hai tháng các bạn có một câu hỏi để xem xét.

179. Six questions provide a year’s work. This gives some indication of the depth with which DK expects the questions to be pondered and answered.

179. Sáu câu hỏi tạo thành công việc cho cả một năm. Điều này phần nào cho thấy Chân sư DK mong đợi các đệ tử suy ngẫm và trả lời những câu hỏi ấy sâu sắc đến mức nào.

Give two months to careful consideration, reflection and interior investigation and then, at the end of the second month, formulate your reply.

Hãy dành hai tháng để cân nhắc cẩn thận, suy ngẫm và khảo sát nội tâm, rồi đến cuối tháng thứ hai, hãy soạn câu trả lời.

180. No glib response will do. Deep interior investigation is required. How this investigation will occur is not for DK or anyone to say. It is part of the disciple’s own creative approach.

180. Không thể trả lời một cách trơn tru nhưng hời hợt. Cần khảo sát nội tâm sâu sắc. Chân sư DK hay bất kỳ ai cũng không thể chỉ định cách tiến hành cuộc khảo sát này. Đó là một phần trong cách tiếp cận sáng tạo của chính người đệ tử.

Question 1. From a study of the instructions given by me on your five conditioning rays and from a study of yourself in connection with the information given:

Câu hỏi 1. Từ việc nghiên cứu những huấn thị Tôi đã ban về năm cung đang tác động lên các bạn và từ việc tự nghiên cứu bản thân trong mối liên hệ với những thông tin đã được cung cấp:

a. Which of your five conditioning rays controls you or which is the most dominant?

a. Trong năm cung đang tác động lên các bạn, cung nào kiểm soát các bạn hoặc cung nào chiếm ưu thế nhất?

181. The disciples know their rays, but the question of dominance requires close scrutiny. They know their soul ray should be dominant, but is it?

181. Các đệ tử biết các cung của mình, nhưng vấn đề cung nào chiếm ưu thế đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng. Họ biết cung linh hồn của mình nên chiếm ưu thế, nhưng thực sự có như vậy không?

182. A careful examination of the personality and its aspects in relation to the soul will be required.

182. Cần xem xét cẩn thận phàm ngã và các phương diện của nó trong mối liên hệ với linh hồn.

b. Which ray should control you and how can you strengthen that control?

b. Cung nào nên kiểm soát các bạn và làm thế nào các bạn có thể củng cố sự kiểm soát ấy?

183. This would seem an obvious question. The soul ray, of course, should control, unless the potency of the monadic ray is to be moved into conditioning power. This would only be relevant to a few.

183. Đây có vẻ là một câu hỏi có lời đáp hiển nhiên. Dĩ nhiên, cung linh hồn nên kiểm soát, trừ khi sức mạnh của cung chân thần sắp trở thành quyền năng tác động. Điều này chỉ có liên quan đến một số ít người.

184. The important point for most of us is how to strengthen the control of the soul ray. There would be a unique approach for each individual. Does each of us know how this should be done? One can see why two month’s careful consideration would be required.

184. Với phần lớn chúng ta, điểm quan trọng là làm thế nào để củng cố sự kiểm soát của cung linh hồn. Mỗi cá nhân sẽ có một cách tiếp cận riêng. Mỗi người chúng ta có biết nên thực hiện điều này như thế nào không? Có thể thấy vì sao cần dành hai tháng để cân nhắc cẩn thận.

The answering of this question will require a truthful consideration of your good and bad qualities, of your assets as well as your limitations.

Việc trả lời câu hỏi này đòi hỏi các bạn phải xem xét một cách trung thực những phẩm tính tốt và xấu, những ưu thế cũng như những giới hạn của mình.

185. In all progress upon the Path of Occultism, self-scrutiny is essential.

185. Trong mọi bước tiến trên Con Đường Huyền Bí Học, việc tự xem xét kỹ lưỡng bản thân là thiết yếu.

Question 2. Looking back over the years of instruction, do you feel that you have definitely advanced upon the Path? If so, upon what grounds do you base this belief?

Câu hỏi 2. Nhìn lại những năm tháng được huấn thị, các bạn có cảm thấy mình đã thực sự tiến bước trên Đường Đạo không? Nếu có, các bạn dựa trên những cơ sở nào để tin như vậy? Trong những hoàn cảnh ấy,

186. An historical retrospective is required. This is a life review— like an evening review but comprehensive and inclusive of years of training.

186. Cần nhìn lại quá trình đã qua. Đây là một cuộc duyệt xét cuộc đời— giống như việc duyệt xét buổi tối nhưng toàn diện và bao quát nhiều năm huấn luyện.

187. The value of these questions hits home, does it not?

187. Giá trị của những câu hỏi này chạm đến tận lòng chúng ta, phải không?

Could you have made more progress under the circumstances and if you have not, what was the reason or reasons?

liệu các bạn có thể tiến bộ hơn nữa không, và nếu chưa làm được thì lý do hay những lý do là gì?

188. Here various life decisions would have to be assessed. Various turns in the road will have to be seen.

188. Ở đây, cần đánh giá những quyết định khác nhau trong cuộc đời. Cần nhìn nhận những khúc quanh khác nhau trên đường.

Question 3. In what do you personally feel that your work in the future should consist in the following three relations:

Câu hỏi 3. Bản thân các bạn cảm thấy công việc tương lai của mình nên bao gồm những gì trong ba mối quan hệ sau đây:

189. DK is speaking of work in the same incarnation. Perhaps in this consideration, work for future incarnations would be revealed.

189. Chân sư DK đang nói về công việc trong cùng kiếp sống này. Có lẽ khi suy xét điều này, công việc dành cho những kiếp sống tương lai sẽ hiển lộ.

190. DK seems to be invoking the response of the astral body through the use of the words “personally feel”. It is clear that He is looking for a real response rather than a mentalized one.

190. Chân sư DK dường như đang khơi gọi sự đáp ứng của thể cảm dục qua việc dùng những từ “bản thân các bạn cảm thấy”. Rõ ràng Ngài đang tìm kiếm một sự đáp ứng thực sự hơn là một sự đáp ứng đã được trí tuệ hoá.

a. With your personality, in its particular circumstances and environment, so as to make your daily life more spiritually effective?

a. Với phàm ngã của mình, trong những hoàn cảnh và môi trường riêng của nó, để làm cho đời sống hằng ngày của các bạn có hiệu quả hơn về mặt tinh thần?

191. The personality has its work and has to be considered as a unit in its own right.

191. Phàm ngã có công việc của nó và cần được xem xét như một đơn vị có vai trò riêng.

192. The opportunities inherent in circumstances and environment in which the personality finds itself will have to be assessed. Limitation will have to be recognized and also opportunity—both expected and unexpected.

192. Cần đánh giá những cơ hội vốn có trong hoàn cảnh và môi trường mà phàm ngã đang sống. Cần nhận biết những giới hạn cũng như những cơ hội—cả những cơ hội dự kiến lẫn bất ngờ.

b. In order to establish a closer contact with your soul, with the same objective of effective spiritual living?

b. Nhằm thiết lập sự tiếp xúc mật thiết hơn với linh hồn mình, với cùng mục tiêu là sống đời sống tinh thần một cách hiệu quả?

193. The question relates to a vertical attitude. All have a future work which involves establishing a closer relation to the soul. More effective spiritual living is always the goal.

193. Câu hỏi này liên quan đến một thái độ hướng theo chiều dọc. Tất cả đều có công việc tương lai bao hàm việc thiết lập mối quan hệ mật thiết hơn với linh hồn. Sống đời sống tinh thần hiệu quả hơn luôn là mục tiêu.

c. In order to bring about soul and personality at-one-ment and clearly demonstrate the fact.

c. Nhằm tạo nên sự hợp nhất giữa linh hồn và phàm ngã, đồng thời biểu lộ rõ ràng sự hợp nhất ấy.

194. This question relates to soul-personality fusion. The soul must descend and merge with the waiting personality. DK’s disciples are to become the soul-in-incarnation, and He wants His chelas to be practical about the ways in which this could be achieved. This aspect of question 3 is different from the aspect immediately preceding.

194. Câu hỏi này liên quan đến sự dung hợp linh hồn–phàm ngã. Linh hồn phải giáng xuống và hoà nhập với phàm ngã đang chờ đợi. Các đệ tử của Chân sư DK phải trở thành linh hồn đang nhập thể, và Ngài muốn các đệ tử của Ngài có cách tiếp cận thực tế đối với những phương cách có thể giúp đạt được điều này. Phương diện này của câu hỏi 3 khác với phương diện ngay trước đó.

What do you regard as the present [99] greatest hindrance to this accomplishment?

Các bạn cho rằng hiện nay [99] trở ngại lớn nhất đối với thành tựu này là gì?

195. DK is asking for the greatest hindrance to soul-infusion. No doubt He has hinted at such a hindrance all through His instructions to the disciples, but they have to realize it for themselves.

195. Chân sư DK đang hỏi về trở ngại lớn nhất đối với sự thấm nhuần của linh hồn. Chắc chắn Ngài đã gợi ý về một trở ngại như thế xuyên suốt các huấn thị dành cho các đệ tử, nhưng họ phải tự nhận ra điều đó.

Question 4. Are you satisfied with the relationship you have established with your group brothers?

Câu hỏi 4. Các bạn có hài lòng với mối quan hệ đã thiết lập với các huynh đệ đồng nhóm không?

196. Obviously, the group has been, from some vantage points, a failure. So no one could be truly satisfied. Answering this question will cause each chela to imagine the true nature of right group relations and the ways in which he or she has fallen short of promoting them.

196. Rõ ràng, xét từ một số góc độ, nhóm đã thất bại. Vì vậy, không ai có thể thực sự hài lòng. Việc trả lời câu hỏi này sẽ khiến mỗi đệ tử hình dung bản chất đích thực của các mối quan hệ đúng đắn trong nhóm và những phương diện mà ông hoặc bà đã chưa làm tròn trong việc vun đắp các mối quan hệ ấy.

a. Do you know them better and love them more than you earlier did? This means all of them, as a group.

a. Các bạn có biết họ rõ hơn và thương yêu họ nhiều hơn trước không? Điều này hàm ý tất cả họ, xét như một nhóm.

197. The extent of true group consciousness will be revealed by a truthful answer to this question.

197. Một câu trả lời trung thực cho câu hỏi này sẽ cho thấy mức độ tâm thức nhóm đích thực.

198. The past is to be compared with the present and the difference (if one exists) truthfully seen.

198. Cần so sánh quá khứ với hiện tại và nhìn nhận trung thực sự khác biệt (nếu có).

199. No group brother can be left out. They must be taken not only individually but, more importantly, as a group.

199. Không thể bỏ sót một huynh đệ đồng nhóm nào. Phải xét họ không chỉ với tư cách từng cá nhân mà, quan trọng hơn, như một nhóm.

200. It is as if the disciples must learn to see for themselves the nature of the failure which has occurred. DK has given many reasons for the failure, but none will be as convincing as the direct sight of the inquiring disciple.

200. Dường như các đệ tử phải học cách tự nhìn thấy bản chất của sự thất bại đã xảy ra. Chân sư DK đã đưa ra nhiều lý do cho sự thất bại ấy, nhưng không lý do nào có sức thuyết phục bằng điều mà người đệ tử đang tìm hiểu trực tiếp nhìn thấy.

b. Along what lines do you feel that you have failed them, if you have, and what do you propose to do to rectify the situation?

b. Các bạn cảm thấy mình đã phụ lòng họ ở những phương diện nào, nếu có, và các bạn dự định làm gì để sửa đổi tình trạng ấy?

201. All have failed all—obviously. It is heartening, however, to realize that not only is rectification possible but it is necessary.

201. Rõ ràng, tất cả đều đã phụ lòng nhau. Tuy nhiên, thật đáng khích lệ khi nhận ra rằng việc sửa đổi không chỉ khả thi mà còn cần thiết.

202. Rectification could occur in future years of cooperation. This would suggest the continuation of a well-functioning group. Rectification could also occur in a future incarnation, or, perhaps, between incarnations.

202. Việc sửa đổi có thể diễn ra trong những năm hợp tác về sau. Điều này gợi ý rằng một nhóm hoạt động tốt sẽ tiếp tục tồn tại. Việc sửa đổi cũng có thể diễn ra trong một kiếp lâm phàm tương lai, hoặc có lẽ trong khoảng thời gian giữa các kiếp lâm phàm.

203. We do know that the eight disciples did not continue to work with each other after the death of AAB, as DK had hoped.

203. Chúng ta biết chắc rằng tám đệ tử đã không tiếp tục làm việc với nhau sau khi Bà AAB qua đời, như Chân sư DK từng hy vọng.

c. In what way do you feel that you have been an asset to the group?

c. Các bạn cảm thấy mình đã đóng góp được gì cho nhóm?

204. An even-handed view demands a realization of both assets and liabilities. DK is not interested in producing morbid introspection.

204. Một cái nhìn công bằng đòi hỏi phải nhận ra cả những mặt đóng góp lẫn những mặt gây trở ngại. Chân sư DK không muốn khơi dậy sự tự xét mình một cách bệnh hoạn.

These four questions concern largely your ability to live as a soul in your little outer world and have reference primarily to your objective expression. The next two questions concern your subjective relationships.

Bốn câu hỏi này chủ yếu liên quan đến khả năng sống như một linh hồn trong thế giới nhỏ bé bên ngoài của các bạn, và trước hết đề cập đến sự biểu hiện khách quan của các bạn. Hai câu hỏi tiếp theo liên quan đến các mối quan hệ chủ quan của các bạn.

205. As penetrating as the first four questions have been, they are stated to relate to the chela’s objective expression—important, but obviously not the most important.

205. Dù bốn câu hỏi đầu tiên sâu sắc đến đâu, Ngài vẫn nói rằng chúng liên quan đến sự biểu hiện khách quan của đệ tử—quan trọng, nhưng rõ ràng chưa phải là điều quan trọng nhất.

Question 5. What is your attitude towards your Master, Djwhal Khul, as a result of years of training under His instruction?

Câu hỏi 5. Sau nhiều năm được huấn luyện dưới sự chỉ dạy của Chân sư Djwhal Khul, thái độ của các bạn đối với Ngài, Chân sư của mình, như thế nào?

206. This question will touch on the true nature and quality of a chela’s ashramic affiliation.

206. Câu hỏi này sẽ đề cập đến bản chất và phẩm tính đích thực của mối liên kết giữa đệ tử với ashram.

a. Can you sense my vibration at any time? How do you know the difference between my vibration, that of your own soul or the group?

a. Các bạn có thể cảm nhận rung động của Tôi vào bất kỳ lúc nào không? Làm thế nào các bạn phân biệt được rung động của Tôi với rung động của linh hồn mình hoặc của nhóm?

207. Keen discrimination avoiding all wishful thinking will be required. We note that the question is not about the occasional sensing of the Master’s vibration, but the ability to sense it “at any time”.

207. Điều này đòi hỏi khả năng phân biện sắc bén, tránh mọi lối suy nghĩ theo điều mình mong muốn. Chúng ta lưu ý rằng câu hỏi không nói đến việc thỉnh thoảng cảm nhận rung động của Chân sư, mà nói đến khả năng cảm nhận rung động ấy “vào bất kỳ lúc nào”.

208. Let us say that the soul is on the second ray and the group is primarily a group belonging to a second ray Ashram. The Master DK is also on the second ray. How then are these three vibrations to be discriminated? One can see the necessity for a deeply internal process if this question is to be correctly answered.

208. Giả sử linh hồn thuộc cung hai và nhóm chủ yếu là một nhóm thuộc một ashram cung hai. Chân sư DK cũng thuộc cung hai. Vậy làm thế nào để phân biệt ba rung động này? Có thể thấy rằng cần có một tiến trình nội tâm sâu sắc mới trả lời đúng câu hỏi này.

b. What effect has the work of the full moon had upon you? Have there been any results of that attempted contact and, if so, what are they?

b. Công việc vào kỳ trăng tròn đã tác động thế nào đến các bạn? Nỗ lực tiếp xúc ấy có đem lại kết quả nào không, và nếu có thì đó là những gì?

209. The Master can be contacted with much increased facility at the time of the Full Moon. The question is—has such contact really occurred or has the process only been one of imagination or wishful thinking.

209. Vào kỳ Trăng Tròn, việc tiếp xúc với Chân sư có thể diễn ra dễ dàng hơn rất nhiều. Câu hỏi là—sự tiếp xúc ấy đã thực sự xảy ra, hay tiến trình ấy chỉ là sự tưởng tượng hoặc lối suy nghĩ theo điều mình mong muốn.

210. Not only is contact required, but it should have results. These results may or may not be tangible. More likely, they will be subjective and intangible. So the chela must enter a deeply subjective search to answer this question satisfactorily.

210. Không chỉ cần có sự tiếp xúc, mà sự tiếp xúc ấy còn phải đem lại kết quả. Những kết quả này có thể hữu hình hoặc không. Nhiều khả năng chúng sẽ mang tính chủ quan và vô hình. Vì vậy, đệ tử phải đi sâu tìm kiếm trong thế giới chủ quan để trả lời câu hỏi này một cách thỏa đáng.

c. What should now govern your efforts in relation to your work as my disciple during the coming remainder of your life?

c. Giờ đây, điều gì nên chi phối những nỗ lực của các bạn trong công việc với tư cách đệ tử của Tôi suốt phần đời còn lại?

211. The implication is that the one answering the question may, indeed, remain DK’s disciple for the remainder of the present incarnation. The question concerns the governing theme of life if one is to truly work as DK’s disciple. Whatever may have governed life efforts during years past, there is the suggestion that there is something which must be discovered, appropriate to the present moment.

211. Hàm ý ở đây là người trả lời câu hỏi quả thực có thể tiếp tục là đệ tử của Chân sư DK trong phần còn lại của kiếp sống hiện tại. Câu hỏi liên quan đến chủ đề chi phối cuộc đời nếu người ấy muốn thực sự làm việc với tư cách đệ tử của Chân sư DK. Dù điều gì đã chi phối những nỗ lực trong cuộc sống suốt những năm qua, lời này gợi ý rằng có một điều cần khám phá, phù hợp với thời điểm hiện tại.

Question 6. What part in my plans and in the task assigned to my Ashram are you prepared to take? This question concerns both your outer and your inner work of a practical nature.

Câu hỏi 6. Các bạn sẵn sàng đảm nhận phần việc nào trong các kế hoạch của Tôi và trong nhiệm vụ được giao cho ashram của Tôi? Câu hỏi này liên quan đến cả công việc bên ngoài lẫn công việc bên trong mang tính thực tiễn của các bạn.

212. This is a question involving both inner and outer realities. Master DK has made the work of His Ashram abundantly clear. Now comes a moment of will, decision and resolution.

212. Đây là một câu hỏi liên quan đến cả những thực tại bên trong lẫn bên ngoài. Chân sư DK đã trình bày hết sức rõ ràng công việc của ashram Ngài. Giờ đây là thời điểm vận dụng ý chí, quyết định và quyết tâm.

213. A Master is most interested in a chela if the chela is truly interested in the work of the Master. This final question relates to practical work in cooperation with the Master and is telling.

213. Một Chân sư quan tâm nhất đến một đệ tử khi đệ tử ấy thực sự quan tâm đến công việc của Ngài. Câu hỏi cuối cùng này liên quan đến công việc thực tiễn trong sự hợp tác với Chân sư và rất có sức bộc lộ.

214. The group members had not distinguished themselves by seizing upon the work suggested by Master DK. He obviously is giving them another chance to strengthen their resolve and serve the Ashram with occult obedience.

214. Các thành viên trong nhóm chưa chứng tỏ được mình qua việc nắm lấy công việc mà Chân sư DK gợi ý. Rõ ràng Ngài đang cho họ thêm một cơ hội để củng cố quyết tâm và phụng sự ashram với sự tuân phục huyền môn.

[100] a. Have you any definite schedule of work outlined in your mind as your contribution to the activity of my Ashram?

a. Trong thể trí, các bạn đã phác thảo một chương trình làm việc cụ thể nào để đóng góp vào hoạt động của ashram của Tôi chưa?

215. DK is asking for more than good intentions. He actually wants to see a “schedule of work” unfold in the minds of His chelas. A definite schedule will help make their good intentions actual.

215. Chân sư DK đòi hỏi nhiều hơn những ý định tốt đẹp. Ngài thực sự muốn thấy một “chương trình làm việc” hình thành trong thể trí các đệ tử của Ngài. Một chương trình cụ thể sẽ giúp biến những ý định tốt đẹp của họ thành hiện thực.

b. If so, what is it and how do you propose to implement it and make it effective?

b. Nếu có, đó là gì, và các bạn dự định triển khai cũng như làm cho chương trình ấy có hiệu quả bằng cách nào?

216. The chelas are being asked for an act of manifestation. The six questions have been a magical process ending with a call for manifestation.

216. Các đệ tử đang được yêu cầu thực hiện một hành động biểu hiện. Sáu câu hỏi là một tiến trình huyền thuật kết thúc bằng lời kêu gọi biểu hiện.

c. What is the main task of the Ashram at this time? Do you know the type of assistance—subjective or objective or both—that you could give?

c. Nhiệm vụ chính của ashram vào lúc này là gì? Các bạn có biết mình có thể trợ giúp theo cách nào—chủ quan, khách quan hay cả hai—không?

217. A member of an Ashram must know what an Ashram really does and how he is best suited to partake of the Ashram’s work. DK wants His chelas to place the work they will do in relation to the Ashram’s main task (at the time of the writing of this section of the book).

217. Một thành viên của ashram phải biết ashram thực sự làm gì và bản thân thích hợp nhất để tham gia công việc của ashram theo cách nào. Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài đặt công việc họ sẽ làm trong mối liên hệ với nhiệm vụ chính của ashram (vào thời điểm phần này của cuốn sách được viết).

This last question goes deeply into your ability to react to impression from me and from the Ashram. I would have you answer it, to the best of your ability, from that angle.

Câu hỏi cuối cùng này đi sâu vào khả năng của các bạn trong việc đáp ứng với ấn tượng từ Tôi và từ ashram. Tôi muốn các bạn trả lời câu hỏi ấy hết khả năng của mình từ góc độ đó.

218. It may be a stretch to understand the real purpose behind any Ashram and the nature of its main work. DK is hoping His disciples can merge into this realization. He does not expect perfect answers or even accurate answers, but He knows the value of attempting to answer.

218. Việc thấu hiểu mục đích thực sự đằng sau bất kỳ ashram nào và bản chất công việc chính của ashram ấy có thể đòi hỏi một nỗ lực vượt quá khả năng hiện tại. Chân sư DK hy vọng các đệ tử của Ngài có thể hòa nhập vào sự nhận biết này. Ngài không mong đợi những câu trả lời hoàn hảo hay thậm chí chính xác, nhưng Ngài biết giá trị của việc cố gắng trả lời.

Pass on, my disciples, into a closer relation to the Ashram of which I am the focal point; aim at a closer rapport with your fellow workers and with me. I am the director of your work. That this relationship may prove the signal achievement of the coming year for each and all of you is my earnest wish.

Các đệ tử của Tôi, hãy tiến vào một mối quan hệ mật thiết hơn với ashram mà Tôi là tiêu điểm; hãy hướng đến sự hòa hợp mật thiết hơn với những người đồng sự và với Tôi. Tôi là người chỉ đạo công việc của các bạn. Tôi tha thiết mong rằng mối quan hệ này sẽ trở thành thành tựu nổi bật của năm tới đối với từng người và tất cả các bạn.

219. When DK tells His disciples to “pass on”, He may be hinting at the possibility that a number of them can take the second initiation—the initiation of “passing”. It was this particular initiation which lay before the majority of them.

219. Khi Chân sư DK bảo các đệ tử của Ngài “tiến bước”, có thể Ngài đang gợi ý rằng một số người trong họ có khả năng trải qua lần điểm đạo thứ hai—cuộc điểm đạo của sự “vượt qua”. Chính cuộc điểm đạo đặc biệt này đang ở phía trước đa số họ.

220. DK sounds an authoritative note. He is the “director” of their work. If the chelas are to understand the purpose of the Ashram, they simply must come into closer rapport with the Master or the Ashram and with their fellow workers.

220. Chân sư DK cất lên một âm điệu đầy uy quyền. Ngài là “người chỉ đạo” công việc của họ. Nếu các đệ tử muốn thấu hiểu mục đích của ashram, họ nhất thiết phải đạt đến sự hòa hợp mật thiết hơn với Chân sư hoặc ashram và với những người đồng sự.

221. A closer relationship, therefore, is urged on two counts:

221. Do đó, một mối quan hệ mật thiết hơn được thúc giục trên hai phương diện:

a. A closer relationship with all fellow workers

a. Một mối quan hệ mật thiết hơn với tất cả những người đồng sự

b. A closer relationship with the Master, Himself

b. Một mối quan hệ mật thiết hơn với chính Chân sư

222. DK sets a goal for His chelas—a goal, the accomplishment of which, will take them to a period beyond the duration of the then incarnation of AAB.

222. Chân sư DK đặt ra một mục tiêu cho các đệ tử của Ngài—một mục tiêu mà việc hoàn thành sẽ đưa họ đến một thời kỳ sau khi kiếp sống lúc bấy giờ của Bà AAB đã kết thúc.

223. There is no question that the Master seeks an ever closer rapport with His chelas, but it must be a genuine rapport facilitated through true contact. Many contact the astral reflection of the Master. In most cases, this is useless or worse.

223. Không còn nghi ngờ gì nữa, Chân sư tìm kiếm sự hòa hợp ngày càng mật thiết với các đệ tử của Ngài, nhưng đó phải là sự hòa hợp đích thực, được vun bồi qua sự tiếp xúc chân thực. Nhiều người tiếp xúc với hình ảnh phản chiếu của Chân sư trên cõi cảm dục. Trong hầu hết các trường hợp, điều này vô ích hoặc còn tệ hơn.

224. Ashramic intimacy must be earned. Its achievement is a deeply interior process.

224. Phải nỗ lực để xứng đáng có được sự thân mật trong ashram. Việc đạt được điều ấy là một tiến trình diễn ra sâu trong nội tâm.

225. The Tibetan has offered an instrument for deeper achievement, but the rest is up to the disciples themselves.

225. Chân sư Tây Tạng đã trao một công cụ để đạt thành tựu sâu xa hơn, nhưng phần còn lại tùy thuộc vào chính các đệ tử.

226. Those of us who have been long in the work may find ourselves called to address ourselves to the same six questions.

226. Những ai trong chúng ta đã tham gia công việc từ lâu có thể thấy mình được kêu gọi tự trả lời cũng sáu câu hỏi ấy.

Commentary 35

[101-110]

November-December 1949

Tháng Mười Một–Tháng Mười Hai năm 1949

1. Indeed, these are the Tibetan’s final instructions to His remaining group members; in December of 1949, AAB made her transition.

1. Quả thật, đây là những huấn thị cuối cùng của Chân sư Tây Tạng dành cho các thành viên còn lại trong nhóm của Ngài; vào tháng Mười Hai năm 1949, Bà AAB đã từ trần.

MY BROTHERS OF LONG ASSOCIATION:

CÁC HUYNH ĐỆ ĐÃ GẮN BÓ LÂU NĂM CỦA TÔI:

2. DK is not only speaking of the some eighteen years during which He corresponded with these individuals, but of His long association with them in other incarnations. Part of the reason they were gathered into His groups was their karma with Him in earlier cycles.

2. Chân sư DK không chỉ nói đến khoảng mười tám năm Ngài trao đổi thư từ với những người này, mà còn nói đến mối gắn bó lâu dài của Ngài với họ trong những kiếp sống khác. Một phần lý do họ được quy tụ vào các nhóm của Ngài là nghiệp quả của họ với Ngài trong những chu kỳ trước.

In my last instruction to you I gave you only a very little teaching anent group work, though there were several significant hints if you had the intuition to grasp them.

Trong huấn thị trước gửi đến các bạn, Tôi chỉ giảng dạy rất ít về công việc nhóm, mặc dù có một số gợi ý đầy thâm nghĩa nếu các bạn có trực giác để nắm bắt.

3. The Tibetan’s writings must be read with the greatest care. Once one becomes alive to His method of hinting, veiling and revealing, it is astonishing to realize what He has included. So often we overlook what is right under out eye—this can go on for years until.

3. Cần đọc các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng hết sức cẩn trọng. Một khi nhận biết được phương pháp gợi ý, che giấu và tiết lộ của Ngài, chúng ta sẽ kinh ngạc khi nhận ra những gì Ngài đã đưa vào đó. Chúng ta rất thường bỏ qua những gì ở ngay trước mắt mình—điều này có thể tiếp diễn suốt nhiều năm cho đến khi.

I have, however, given you much over the years; yet, when I look back over those years, I am forced to realise how relatively little you have profited by this teaching upon group work, though many of you have profited much by the personal instructions I gave you.

Tuy nhiên, qua nhiều năm, Tôi đã truyền dạy cho các bạn rất nhiều; thế mà khi nhìn lại những năm ấy, Tôi buộc phải nhận ra các bạn đã thu được tương đối ít lợi ích từ giáo huấn về công việc nhóm này, dù nhiều người trong các bạn đã thu được nhiều lợi ích từ những huấn thị cá nhân mà Tôi đã ban.

4. DK discriminates between profit from group work and profit from personal instructions. The conclusion must be that the disciples He gathered together were more interested in themselves as persons that in the group opportunity offered.

4. Chân sư DK phân biệt giữa lợi ích thu được từ công việc nhóm và lợi ích thu được từ các huấn thị cá nhân. Phải đi đến kết luận rằng các đệ tử mà Ngài quy tụ quan tâm đến bản thân họ với tư cách cá nhân nhiều hơn là cơ hội làm việc nhóm mà Ngài dành cho họ.

5. This must have been a difficult moment of realization for Master DK. To give is not a guarantee of the assimilation of that which is given.

5. Hẳn đây là một thời khắc khó khăn đối với Chân sư DK khi Ngài nhận ra điều ấy. Việc trao truyền không bảo đảm rằng người nhận sẽ đồng hóa được những gì đã trao truyền.

Only sixteen of you are left out of an original fifty aspirants to discipleship;

Trong số năm mươi người chí nguyện bước vào địa vị đệ tử ban đầu,

6. In another place, the Master said the following: “There are many outside the New Seed Group who have done a more consecrated and selfless task than have you, though there are a few exceptions. But, my brothers, out of fifty-one, how few!!” (DINA II 84)

6. Ở một chỗ khác, Chân sư đã nói như sau: “Có nhiều người bên ngoài Nhóm Hạt Giống Mới đã thực hiện công việc với tinh thần thánh hiến và vô ngã hơn các bạn, dù có một vài ngoại lệ. Nhưng, các huynh đệ của Tôi, trong số năm mươi mốt người, có được mấy người!!” (DINA II 84)

7. On the same subject, He also said this: “You have had more, much more, than you can assimilate; of the original group of students only a few are left; of the more than fifty original members who have been affiliated with my Ashram, only sixteen remain, and of these only eight are truly active; and of these eight, two are causing me some questioning.” (DINA II 90)

7. Cũng về chủ đề này, Ngài còn nói: “Các bạn đã nhận được nhiều, nhiều hơn rất nhiều so với khả năng đồng hóa của mình; trong nhóm môn sinh ban đầu, chỉ còn lại một số ít; trong số hơn năm mươi thành viên ban đầu đã có liên hệ với Ashram của Tôi, chỉ còn lại mười sáu người, và trong số này chỉ có tám người thực sự hoạt động; trong tám người ấy, có hai người khiến Tôi phải băn khoăn.” (DINA II 90)

I think you yourselves would be the first to admit that there is little group interplay and no group enterprise animating those few of you who remain steadfast.

chỉ còn lại mười sáu người trong các bạn; Tôi nghĩ chính các bạn sẽ là những người đầu tiên thừa nhận rằng giữa số ít các bạn còn giữ vững sự kiên định, sự tương tác nhóm rất ít và không có một công việc chung nào của nhóm làm động lực.

8. A few of the remaining ones are steadfast disciples, but are unrelated in “group enterprise”—therefore, the failure.

8. Một vài người còn lại là những đệ tử kiên định, nhưng không gắn kết với nhau trong “công việc chung của nhóm”—do đó mà thất bại.

Certain of you (F.C.D., J.W.K-P., R.V.B., P.G.C., R.S.U., and R.S.W.) are actively working in relation to my plans,

Một số người trong các bạn (F.C.D., J.W.K-P., R.V.B., P.G.C., R.S.U. và R.S.W.) đang tích cực làm việc theo các kế hoạch của Tôi,

9. These are the six of the eight who are causing him no questioning:

9. Đây là sáu người trong số tám người không khiến Ngài phải băn khoăn:

a. FCD—Roberto Assagioli—24-127

a. FCD—Roberto Assagioli—24-127

b. JWK—Foster Bailey—12-327

b. JWK—Foster Bailey—12-327

c. RVB—Victor Fox—24-423

c. RVB—Victor Fox—24-423

d. PGC—Frank Hirsch—27-567

d. PGC—Frank Hirsch—27-567

e. RSU—Regina Keller—23-117

e. RSU—Regina Keller—23-117

f. RSW—Marion Walter—27-427

f. RSW—Marion Walter—27-427

10. It is interesting to see that of the most trusted remaining disciples by far the majority had second ray astral bodies and seven ray physical bodies. The great majority, as might be predicted, were second ray souls, resonant to DK’s ray.

10. Thật thú vị khi thấy rằng trong số những đệ tử còn lại được tin cậy nhất, đại đa số có thể cảm dục cung hai và thể xác cung bảy. Như có thể dự đoán, đại đa số là những linh hồn cung hai, cộng hưởng với cung của Chân sư DK.

though those plans are not in reality mine, but simply the required cooperation in hierarchical endeavour.

mặc dù thực ra những kế hoạch ấy không phải của riêng Tôi, mà chỉ là sự hợp tác cần thiết trong nỗ lực của Thánh đoàn.

11. DK states Himself as a representative of Hierarchy. He does not have a strictly personal investment in the plans which he is carrying out.

11. Chân sư DK xác định mình là một đại diện của Thánh đoàn. Ngài không có lợi ích thuần túy cá nhân nào trong những kế hoạch mà Ngài đang thực hiện.

The rest of [101] you are engulfed in the processes of daily living or else too tired to be more active than you already are, and for that condition of the personality I have no criticism.

Những người còn lại trong [101] các bạn đang chìm trong những tiến trình của đời sống hằng ngày hoặc quá mệt mỏi để có thể hoạt động tích cực hơn hiện nay, và Tôi không phê phán tình trạng ấy của phàm ngã.

12. The other ten have two particular problems. Fatigue is one such problem, and DK offers no criticism for those who are truly fatigued.

12. Mười người còn lại có hai vấn đề cụ thể. Mệt mỏi là một trong hai vấn đề ấy, và Chân sư DK không phê phán những người thực sự mệt mỏi.

13. The others are “engulfed in the processes of daily living”. Note the word “engulfed”, connoting as it does the influence of the astral plane.

13. Những người khác thì “chìm trong những tiến trình của đời sống hằng ngày”. Hãy lưu ý từ “chìm”, vì từ này hàm ý ảnh hưởng của cõi cảm dục.

14. One of the references where this term is used most tellingly is the following:“Control the body of emotion for the waves that rise upon the stormy seas of life engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile.” (TWM 473)

14. Một trong những đoạn trích dùng thuật ngữ này có sức gợi tả rõ nhất là đoạn sau: “Hãy kiểm soát thể cảm xúc, vì những ngọn sóng dâng lên trên biển đời giông bão nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và khiến mọi kế hoạch trở nên vô ích.” (TWM 473)

15. Engulfment is the normal condition of humanity. The disciple is expected to “keep his head above water”.

15. Chìm ngập là tình trạng thông thường của nhân loại. Người đệ tử được kỳ vọng phải “giữ đầu mình trên mặt nước”.

It is necessary for you to remember that this group effort which I initiated with the assistance of some of the older and more experienced Masters, is by no means completed;

Các bạn cần nhớ rằng nỗ lực nhóm này, do Tôi khởi xướng với sự trợ giúp của một số Chân sư thâm niên và giàu kinh nghiệm hơn, hoàn toàn chưa kết thúc;

16. These Masters were particularly Masters KH and M.

16. Các Chân sư này cụ thể là Chân sư KH và Chân sư M.

17. DK is look ahead to the continuance of His experiment, in which, may it be said, a number of His present students may well be involved in the future.

17. Chân sư DK đang hướng tới việc tiếp tục cuộc thử nghiệm của Ngài, trong đó, có thể nói, một số môn sinh hiện tại của Ngài rất có thể sẽ tham gia trong tương lai.

it may be (and probably is) an experiment in this particular life for you, but next life may evoke from you a new attitude and a deeper comprehension of what is subjectively going on.

đối với các bạn, đó có thể là (và rất có thể đúng là) một cuộc thử nghiệm trong kiếp sống này, nhưng kiếp sống tới có thể khơi dậy nơi các bạn một thái độ mới và sự thấu hiểu sâu sắc hơn về những gì đang diễn ra ở phương diện chủ quan.

18. DK is anticipating that the attitude of His group members will change in their next incarnation.

18. Chân sư DK dự liệu rằng thái độ của các thành viên trong nhóm Ngài sẽ thay đổi trong kiếp nhập thể kế tiếp của họ.

19. The term “experiment” (as here used) seems to indicate a process in which conviction is not complete, nor understanding. DK predicts this will change in the future.

19. Thuật ngữ “thử nghiệm” (theo cách dùng ở đây) dường như chỉ một tiến trình trong đó cả niềm xác tín lẫn sự thấu hiểu đều chưa trọn vẹn. Chân sư DK tiên đoán điều này sẽ thay đổi trong tương lai.