Trích nội dung chương
110. Can we say that in our present time, it is the youth which is recognizing the new truths? How much are we (often older students of the work) caught in doctrine and dogma? 110. Chúng ta có thể nói rằng trong thời đại hiện nay, chính giới trẻ đang nhận ra những chân lý mới chăng? Chúng ta (thường là những môn sinh lớn tuổi hơn theo học giáo huấn này) bị mắc kẹt trong học thuyết và giáo điều đến mức nào?
110. Can we say that in our present time, it is the youth which is recognizing the new truths? How much are we (often older students of the work) caught in doctrine and dogma?
110. Chúng ta có thể nói rằng trong thời đại hiện nay, chính giới trẻ đang nhận ra những chân lý mới chăng? Chúng ta (thường là những môn sinh lớn tuổi hơn theo học giáo huấn này) bị mắc kẹt trong học thuyết và giáo điều đến mức nào?
Those who have for twenty years absorbed a system of thought are apt to be so absorbed by it [87] that it is hard for them to recognise the new and vital incoming truth, and the sad part is that they are often sure they do. The new truths are overshadowing us today; if the Invocation means anything, it is what must be expected.
Những người đã tiếp thu một hệ thống tư tưởng suốt hai mươi năm dễ bị hệ thống ấy cuốn hút đến mức [87] khó nhận ra chân lý mới mẻ và đầy sinh lực đang đi vào; điều đáng buồn là họ thường tin chắc mình đã nhận ra. Ngày nay, những chân lý mới đang phủ bóng chúng ta; nếu lời Khẩn Cầu có ý nghĩa gì, thì đó chính là điều phải được mong đợi.
111. Master DK warns of a danger—that long-term students of the work will fail to recognize the newer truths overshadowing humanity at this time.
111. Chân sư DK cảnh báo về một nguy cơ—những môn sinh đã theo học giáo huấn này lâu năm sẽ không nhận ra những chân lý mới hơn đang phủ bóng nhân loại vào lúc này.
112. The use of the Great Invocation will, of course, invoke the descent of that which is new.
112. Dĩ nhiên, việc sử dụng Đại Khấn Nguyện sẽ khẩn cầu sự giáng xuống của những điều mới mẻ.
113. How to break through the delusion that one is not deluded!? Everything said to His students some sixty years ago, applies directly to ourselves today.
113. Làm sao phá tan được sự mê lầm rằng mình không mê lầm!? Tất cả những gì Ngài nói với các môn sinh của Ngài khoảng sáu mươi năm trước đều áp dụng trực tiếp cho chính chúng ta ngày nay.
The principles to be emphasised are:
Những nguyên khí cần nhấn mạnh là:
1. The Arcane School trains disciples. Its curriculum is therefore eliminative. Its standard cannot be lowered. It is not a school for probationers. It will consequently always remain relatively small.
1. Trường Arcane huấn luyện đệ tử. Vì vậy, chương trình học của Trường có tính sàng lọc. Không thể hạ thấp tiêu chuẩn của Trường. Đây không phải là trường dành cho những người dự bị. Do đó, Trường sẽ luôn duy trì quy mô tương đối nhỏ.
114. There are those who seek ever to expand the esoteric offering to the public. This can be a sound approach as long as it is realized that truly deep training will never be appreciated (at least at this point in history) by really large numbers of students.
114. Có những người luôn tìm cách mở rộng việc cung cấp giáo huấn nội môn cho công chúng. Đây có thể là một cách tiếp cận đúng đắn, miễn là họ nhận ra rằng sự huấn luyện thực sự sâu sắc sẽ không bao giờ được đông đảo môn sinh trân trọng (ít nhất là vào thời điểm này trong lịch sử).
115. One of the key distinctions which AAB made between the Arcane School and the normal Theosophical approach was that the School was for disciples and the TS was in the process of training, for the most part, probationary disciples.
115. Một trong những khác biệt then chốt mà Bà AAB nêu ra giữa Trường Arcane và cách tiếp cận thông thường của Thông Thiên Học là Trường dành cho các đệ tử, còn Hội Thông Thiên Học (TS) phần lớn đang huấn luyện các đệ tử dự bị.
116. Those of us who are involved in promoting esoteric teaching in a relatively pure form must remember what is here said of the membership of the AS.
116. Những ai trong chúng ta đang tham gia phổ biến giáo huấn nội môn dưới một hình thức tương đối thuần khiết phải nhớ những điều nói ở đây về thành phần học viên của Trường Arcane (AS).
117. This list of points concerning the Arcane School is precisely that which appeared in the pamphlet describing the School.
117. Danh sách những điểm liên quan đến Trường Arcane này chính là danh sách đã xuất hiện trong tập sách mỏng giới thiệu về Trường.
2. It is a school for adults wherein occult obedience is developed. This is not obedience to man-made rules or school obediences, but involves soul obedience.
2. Đây là một trường dành cho người trưởng thành, nơi sự tuân phục huyền bí được phát triển. Đó không phải là sự tuân phục những quy định do con người đặt ra hay những yêu cầu tuân phục của trường học, mà là sự tuân phục linh hồn.
118. The second principle emphasizes obedience to the soul and not to persons. The average devotee may find such an approach impersonal.
118. Nguyên khí thứ hai nhấn mạnh sự tuân phục linh hồn chứ không phải sự tuân phục các cá nhân. Người sùng tín thông thường có thể thấy cách tiếp cận như vậy mang tính vô ngã.
3. This is a school wherein belief in the Hierarchy is scientifically taught, not as a doctrine but as an existent and provable natural kingdom; the rules of the Ashram and the dual life of the disciple are emphasised.
3. Đây là một trường mà niềm tin vào Thánh đoàn được giảng dạy một cách khoa học, như một giới trong tự nhiên thực sự hiện hữu và có thể chứng minh, chứ không như một giáo điều; các quy luật của ashram và đời sống kép của đệ tử được nhấn mạnh.
119. In the Arcane School the Hierarchy is presented as “an existent and provable natural kingdom”—the Kingdom of Souls. One need not only believe in it; one may establish for oneself whether or not it is existent.
119. Tại Trường Arcane, Thánh đoàn được trình bày như “một giới trong tự nhiên thực sự hiện hữu và có thể chứng minh”—Giới Linh Hồn. Người ta không chỉ cần tin vào giới ấy; mỗi người có thể tự xác minh xem giới ấy có thực sự hiện hữu hay không.
120. If we are sincere disciples two factors will be at the forefront of consciousness:
120. Nếu chúng ta là những đệ tử chân thành, hai yếu tố sẽ giữ vị trí hàng đầu trong tâm thức:
1. The rules of the Ashram
1. Các quy luật của Ashram
2. The dual life of the disciple
2. Đời sống kép của người đệ tử
4. This is a school wherein the student is taught that “the souls of men are one.”
4. Đây là một trường học dạy cho đạo sinh rằng “linh hồn của mọi người là một.”
121. All trace of separativeness is eliminated in the training offered by the Arcane School. Further, as we find in Rule V for Disciples and Initiates—there is no “my soul and thine”.
121. Sự huấn luyện của Trường Arcane loại bỏ mọi dấu vết của tính chia rẽ. Hơn nữa, như chúng ta thấy trong Quy luật V dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ—không có “linh hồn tôi và linh hồn bạn”.
5. No claim for place or power is made, and the claim of being an initiate is never heard. The Headquarters Group and the workers in the School are there because of spiritual inclination.
5. Không ai đưa ra lời tuyên bố về địa vị hay quyền lực, và không bao giờ nghe thấy lời tự nhận mình là điểm đạo đồ. Nhóm Trụ Sở và những người hoạt động trong Trường có mặt ở đó vì khuynh hướng tinh thần.
122. It must be established in our consciousness that claims of initiate status guarantee that one is not what one claims. This is one of the preliminary tests involving the subjugation of the lower ego.
122. Chúng ta phải xác lập trong tâm thức rằng những lời tự nhận địa vị điểm đạo đồ bảo đảm rằng người tự nhận không phải là điều họ tuyên bố. Đây là một trong những thử thách sơ bộ liên quan đến việc chế ngự phàm ngã.
123. Hierarchy is a meritocracy and no hierarchy of persons in the conventional sense. One’s fruits alone will proclaim one’s hierarchical status.
123. Thánh đoàn là một tổ chức trọng thực tài, không phải một hệ thống thứ bậc giữa các cá nhân theo nghĩa thông thường. Chỉ những thành quả của mỗi người mới nói lên địa vị của họ trong Thánh đoàn.
6. The Arcane School is non-sectarian, non-political and international in its thinking. Service is its keynote. Its members can work in any sect and in any political party, provided they remember that all paths lead to God and that “the One Humanity” governs all their thinking.
6. Trường Arcane không thuộc giáo phái nào, không tham gia chính trị và có tư duy quốc tế. Phụng sự là chủ âm của Trường. Các thành viên có thể hoạt động trong bất kỳ giáo phái hay chính đảng nào, miễn là họ nhớ rằng mọi con đường đều dẫn đến Thượng đế và rằng “Nhân Loại Duy Nhất” chi phối toàn bộ tư duy của họ.
124. An indispensable note of inclusiveness is sounded. The Arcane School avoids all partisanship and thinks in terms of the “the One Humanity”
124. Một âm điệu không thể thiếu của tính bao gồm được xướng lên. Trường Arcane tránh mọi sự thiên vị phe phái và tư duy trên cơ sở “Nhân Loại Duy Nhất”
7. The fundamental doctrines of the Ageless Wisdom, recognised all over the world and as expounded in my books, constitute the foundational teaching of the Arcane School. This is so, not because they are my books but because they are part of the continuity of the Ageless Wisdom and constitute the latest emanation of the Ageless Wisdom issued by the Hierarchy.
7. Những giáo lý căn bản của Minh Triết Ngàn Đời, được thừa nhận trên khắp thế giới và được trình bày trong các cuốn sách của Tôi, tạo thành giáo huấn nền tảng của Trường Arcane. Điều này đúng như vậy vì chúng là một phần trong dòng tiếp nối của Minh Triết Ngàn Đời và tạo thành sự phát xạ mới nhất của Minh Triết Ngàn Đời do Thánh đoàn truyền ra, chứ không phải vì đó là những cuốn sách của Tôi.
125. There are many teachings which claim to issue from the Hierarchy. All such claims must be carefully evaluated. As the Blue Books began to be written, the Tibetan was an anonymous author and did not claim any hierarchical status. Word that He was Master Djwhal Khul emerged later in the process and by accident.
125. Có nhiều giáo huấn tự nhận là xuất phát từ Thánh đoàn. Cần đánh giá cẩn thận tất cả những lời tự nhận như vậy. Khi các sách Xanh bắt đầu được viết, Chân sư Tây Tạng là một tác giả ẩn danh và không tự nhận bất kỳ địa vị nào trong Thánh đoàn. Về sau, trong quá trình viết sách, thông tin rằng Ngài là Chân sư Djwhal Khul mới tình cờ được tiết lộ.
126. In this letter, Master DK is speaking to His accepted chelas and not to the general public, though it is certain that He realized that His words would reach the public.
126. Trong bức thư này, Chân sư DK đang nói với các đệ tử được chấp nhận của Ngài, dù chắc chắn Ngài nhận biết rằng những lời của Ngài sẽ đến với công chúng.
127. The teaching presented by Master DK is trustworthy and foundational. It is a teaching too big for possession by the lower ego. Facing this teaching, the initial sincere response will be humility.
127. Giáo huấn do Chân sư DK trình bày đáng tin cậy và có tính nền tảng. Đây là một giáo huấn quá lớn lao để phàm ngã có thể chiếm hữu. Đứng trước giáo huấn này, đáp ứng chân thành ban đầu sẽ là sự khiêm nhường.
128. There is an implication in what DK says: namely, that emanations of the Ageless Wisdom issued by the Hierarchy are not frequent—nowhere near as frequent as today’s thousands of channelers would have us believe.
128. Những lời Chân sư DK nói hàm ý rằng: các sự phát xạ của Minh Triết Ngàn Đời do Thánh đoàn truyền ra không diễn ra thường xuyên—tần suất ấy thấp hơn rất nhiều so với điều mà hàng nghìn người truyền thông điệp qua trung gian ngày nay muốn chúng ta tin.
They must not be permitted to become a Bible of a sect, as has been the case with The Secret Doctrine and the [88] Theosophical Society.
Không được để chúng trở thành một bộ Kinh Thánh của một giáo phái, như điều đã xảy ra với Giáo Lý Bí Nhiệm và [88] Hội Thông Thiên Học.
129. DK seeks to avoid for the second installment of His teaching (with AAB) the fate that befell the Secret Doctrine. Once the concrete mind fastens upon a teaching and attempts to make it its own, the true spirit of understanding disappears and crystallization sets in.
129. Chân sư DK tìm cách giúp phần thứ hai trong giáo huấn của Ngài (cùng với Bà AAB) tránh khỏi số phận đã xảy đến với Giáo Lý Bí Nhiệm. Một khi trí cụ thể bám chặt vào một giáo huấn và cố biến giáo huấn ấy thành sở hữu của mình, tinh thần thấu hiểu đích thực biến mất và sự kết tinh bắt đầu.
130. What is stated here is that the Secret Doctrine has become a ‘Bible’ and the Theosophical Society a sect. May a word to the wise be sufficient!
130. Điều được nêu ở đây là Giáo Lý Bí Nhiệm đã trở thành một bộ ‘Kinh Thánh’ và Hội Thông Thiên Học đã trở thành một giáo phái. Mong rằng một lời nhắc cũng đủ cho người sáng suốt!
131. Of course, one of the ways of overcoming incipient ‘bible consciousness’ with respect to the Blue Books, is to attempt to choose all that is best from classical Theosophy and merge it with what has been given through AAB.
131. Dĩ nhiên, một trong những cách khắc phục ‘tâm thức sùng bái kinh thánh’ mới manh nha đối với các Sách Xanh là cố gắng chọn lọc tất cả những gì tinh túy nhất từ Thông Thiên Học cổ điển và dung hợp chúng với những gì đã được truyền đạt qua AAB.
132. Close students of the second installment of DK’s teaching will find that it opens doors to all manner of intellectual disciplines usually appreciated as valuable by humanity. His teaching does not draw a hard, cold line between esoteric knowledge and the knowledge of the world as may sometimes be the case in early Theosophy. But we must remember that HPB’s task was often necessarily a destructive one and she had much materialism to overcome.
132. Những đạo sinh nghiên cứu kỹ phần thứ hai trong giáo huấn của Chân sư DK sẽ nhận thấy giáo huấn ấy mở cửa đến mọi ngành học thuật mà nhân loại thường đánh giá là có giá trị. Giáo huấn của Ngài không vạch một ranh giới cứng nhắc, lạnh lùng giữa tri thức nội môn và tri thức thế gian, như đôi khi có thể thấy trong Thông Thiên Học thời kỳ đầu. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng nhiệm vụ của Bà HPB thường nhất thiết phải mang tính phá hủy, và Bà phải vượt qua rất nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật.
This incidentally has been a profound disappointment to the Hierarchy. A.A.B. must not be turned into an occult authority. Those connected with the Great White Lodge favour no Bibles or authorities—only the freedom of the human soul. The teaching matters, not the source or the form.
Nhân đây, điều ấy đã khiến Thánh đoàn hết sức thất vọng. Không được biến A.A.B. thành một thẩm quyền huyền bí học. Những vị liên kết với Thánh đoàn không tán thành bất kỳ bộ Kinh Thánh hay thẩm quyền nào—chỉ tán thành tự do của linh hồn con người. Điều quan trọng là giáo huấn, chứ không phải nguồn gốc hay hình thức.
133. The Masters of the Wisdom can, indeed, experience disappointment. So much was possible and so little achieved. The ancient habits of humanity ever resist that which is new and better.
133. Quả thật, các Chân sư Minh Triết có thể trải nghiệm sự thất vọng. Biết bao điều đã có thể thực hiện, nhưng thành quả đạt được lại quá ít ỏi. Những thói quen lâu đời của nhân loại luôn chống lại những gì mới mẻ và tốt đẹp hơn.
134. Important fundamental principles are reiterated. We are moving out of the sixth ray Age of Pisces—an age of Bibles and authorities. The Age of Aquarius is an Age in which the human soul and its freedom are emphasized. But people seek to “escape from freedom”; they are still in an adolescent state.
134. Những nguyên lý nền tảng quan trọng được nhắc lại. Chúng ta đang rời khỏi Kỷ Nguyên Song Ngư thuộc cung sáu—một kỷ nguyên của các bộ Kinh Thánh và các thẩm quyền. Kỷ Nguyên Bảo Bình là một Kỷ Nguyên nhấn mạnh linh hồn con người và sự tự do của linh hồn. Nhưng con người lại tìm cách “trốn chạy tự do”; họ vẫn còn ở trạng thái vị thành niên.
Let me reiterate for the sake of clarity:
Để làm rõ, Tôi xin nhắc lại:
135. Because of the importance of the transition, DK is certainly driving the point home!
135. Vì tầm quan trọng của sự chuyển tiếp này, Chân sư DK quả đang nhấn mạnh cho thật thấm thía điều ấy!
None of you has any responsibility for the Arcane School or for the service activities though you can work helpfully, with humbleness and pure motive in any or all of them, under the direction of A.A.B. or of those into whose hands she has put responsibility....
Không ai trong các bạn có trách nhiệm đối với Trường Arcane hay các hoạt động phụng sự, dù các bạn có thể làm việc hữu ích, với lòng khiêm nhường và động cơ thanh khiết, trong bất kỳ hoặc tất cả các hoạt động ấy, dưới sự chỉ đạo của A.A.B. hay những người mà bà đã giao phó trách nhiệm....
136. DK is asking for humility and pure motive. He does not want His chelas (simply because they have been His chelas) to think they are therefore entitled to interfere with the workings of the Arcane School. He is trying to help them understand their true place.
136. Chân sư DK đang yêu cầu lòng khiêm nhường và động cơ thanh khiết. Ngài không muốn các đệ tử của Ngài nghĩ rằng họ có quyền can thiệp vào hoạt động của Trường Arcane chỉ vì họ từng là đệ tử của Ngài. Ngài đang cố gắng giúp họ thấu hiểu vị trí đích thực của mình.
It is in these relationships that you will develop the humility and pure motives which are the outstanding hallmarks of the disciple.
Chính trong những mối quan hệ này, các bạn sẽ phát triển lòng khiêm nhường và những động cơ thanh khiết, vốn là các dấu hiệu nổi bật của người đệ tử.
137. Again an assessment. His disciples do not yet entirely possess humility and pure motives—the hallmarks of the disciple. Certainly this letter from DK must have had a humbling effect upon its readers.
137. Lại một lời đánh giá nữa. Các đệ tử của Ngài vẫn chưa có đầy đủ lòng khiêm nhường và những động cơ thanh khiết—những dấu hiệu đặc trưng của người đệ tử. Chắc chắn bức thư này của Chân sư DK hẳn đã khiến những người đọc nó trở nên khiêm nhường hơn.
One thing I would however like you clearly to grasp and that is the pattern which underlies the various aspects of the work now in process of expansion.
Tuy nhiên, có một điều Tôi muốn các bạn nắm thật rõ, đó là mô hình làm nền tảng cho những phương diện khác nhau của công việc hiện đang mở rộng.
138. Expansion—the second of the three phases in a NGWS three year cycle. However, expansion, in this case, must mean much more than a phase in such a cycle. DK foresaw a necessary expansion of the Work for decades to come.
138. Mở rộng—giai đoạn thứ hai trong ba giai đoạn của một chu kỳ ba năm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tuy nhiên, trong trường hợp này, sự mở rộng hẳn phải mang ý nghĩa lớn hơn nhiều so với một giai đoạn trong chu kỳ như vậy. Chân sư DK đã thấy trước sự mở rộng cần thiết của Công Việc trong nhiều thập niên tiếp theo.
A brief diagram should make the relationship clear, and these relationships are factual today:
Một sơ đồ ngắn gọn hẳn sẽ làm rõ mối quan hệ ấy, và những mối quan hệ này hiện nay là sự thật:
139. Master DK seeks to offer an enlightening perspective so that His chelas can better understand where they fit in the scheme of things.
139. Chân sư DK tìm cách đưa ra một góc nhìn soi sáng để các đệ tử của Ngài có thể hiểu rõ hơn vị trí của họ trong toàn thể sự việc.
THE SPIRITUAL HIERARCHY OF THE PLANET
THÁNH ĐOÀN CỦA HÀNH TINH
working through
hoạt động thông qua
/
/
THE NEW GROUP OF WORLD SERVERS
ĐOÀN NGƯỜI MỚI PHỤNG SỰ THẾ GIAN
using many agencies, among them
sử dụng nhiều phương tiện hoạt động, trong đó có
/
/
THE ARCANE SCHOOL
TRƯỜNG ARCANE
working through
hoạt động thông qua
/
/
THE SERVICE ACTIVITIES
CÁC HOẠT ĐỘNG PHỤNG SỰ
the Triangles, the Goodwill work, the Invocation work
các Tam Giác, công việc Thiện Chí, công việc Khẩn Cầu
allied with
liên kết với
/
/
THE LUCIS PUBLISHING COMPANY
CÔNG TY XUẤT BẢN LUCIS
140. The descent is clear. It should be noted that NGWS is of greater importance than the Arcane School and that it supersedes the Service Activities. The arrangement is hierarchical.
140. Trình tự từ trên xuống rất rõ ràng. Cần lưu ý rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có tầm quan trọng lớn hơn Trường Arcane và giữ vị trí cao hơn Các Hoạt Động Phụng Sự. Cách sắp xếp này theo thứ bậc.
The energy of the New Group of World Servers could be likened to the antahkarana which connects humanity with the Hierarchyand provides a channel of contact with the Ashrams of the Masters.
Năng lượng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể ví như antahkarana nối liền nhân loại với Thánh đoàn và tạo một kênh tiếp xúc với các ashram của các Chân sư.
141. We can see that the NGWS is no insignificant group of worldly servers. It has a deeply occult meaning and includes within its ranks initiates perhaps even of the fourth degree. As the ajna center of Sanat Kumara it lies midway between His throat center, humanity and His heart center, Hierarchy.
141. Chúng ta có thể thấy rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian không phải là một nhóm phụng sự thế gian tầm thường. Đoàn có một ý nghĩa huyền bí sâu xa và trong hàng ngũ của mình có những điểm đạo đồ có lẽ đạt đến cả cấp độ thứ tư. Là trung tâm ajna của Sanat Kumara, Đoàn nằm ở giữa trung tâm cổ họng của Ngài là nhân loại và trung tâm tim của Ngài là Thánh đoàn.
The Arcane School can be considered [89] as one of the results of the activity of the New Group of World Servers. There are many others scattered all over the world. The same holds true of the Service Activities.
Có thể xem Trường Arcane [89] là một trong những kết quả từ hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Còn nhiều kết quả khác rải rác khắp thế giới. Điều tương tự cũng đúng với các Hoạt Động Phụng Sự.
142. Both the Arcane School and the Service Activities grow out of the New Group of World Servers. The NGWS is the beacon light for humanity from within humanity.
142. Cả Trường Arcane lẫn các Hoạt Động Phụng Sự đều phát sinh từ Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là ngọn hải đăng soi sáng cho nhân loại từ bên trong chính nhân loại.
No esoteric group is soundly handled and correctly motivated unless the spiritual energies which are available to it and the knowledge and the wisdom unfolded find expression in definite service. The service activities are, therefore, an expression of the livingness of the Arcane School and that relationship must be valued and preserved.
Không nhóm nội môn nào được điều hành vững vàng và có động cơ đúng đắn nếu những năng lượng tinh thần sẵn có cho nhóm, cùng tri thức và minh triết đã khai mở, không biểu hiện thành sự phụng sự cụ thể. Vì vậy, các hoạt động phụng sự là biểu hiện của sức sống của Trường Arcane, và mối quan hệ ấy phải được trân trọng, gìn giữ.
143. The preeminence of service is emphasized. All spiritual energy accessible to individuals and groups is to work out in definite service. The “livingness” of any spiritual group is dependent upon its service.
143. Ở đây nhấn mạnh vị trí tối trọng của phụng sự. Mọi năng lượng tinh thần mà các cá nhân và các nhóm có thể tiếp cận đều phải biểu hiện thành sự phụng sự cụ thể. “Sức sống” của bất kỳ nhóm tinh thần nào cũng tùy thuộc vào sự phụng sự của nhóm ấy.
As disciples, your place is in the senior ranks of the New Group of World Servers and your responsibility, as a group, is to aid a phase of the work to be done which is strictly the project of the Hierarchy as a whole.
Là đệ tử, vị trí của các bạn nằm trong hàng ngũ cao niên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và trách nhiệm của các bạn, với tư cách một nhóm, là trợ giúp một phương diện công việc cần thực hiện, vốn hoàn toàn là dự án của toàn thể Thánh đoàn.
144. The place of the disciple within the NGWS is clearly stated— “in the senior ranks”.
144. Vị trí của đệ tử trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được nêu rõ—“trong hàng ngũ cao niên”.
145. The responsibility of disciples (as a group) is to aid a phase of the work sponsored by Hierarchy. If the work aided is not that which Hierarchy is “strictly” sponsoring, then a group of disciples should change its emphasis.
145. Trách nhiệm của các đệ tử (với tư cách một nhóm) là trợ giúp một phương diện công việc do Thánh đoàn bảo trợ. Nếu công việc mà nhóm trợ giúp không phải là công việc do “chính” Thánh đoàn bảo trợ, thì nhóm đệ tử ấy nên thay đổi trọng tâm của mình.
I ask you to throw your efforts into the work of preparation for the reappearance of the Christ, to further in all possible ways the distribution both of the pamphlet so entitled and the book which deals with His reappearance. The world must be flooded with the information and through the hope and expectancy thus engendered may move forward into greater light, better human relations and a newer happiness.
Tôi yêu cầu các bạn dồn nỗ lực vào công việc chuẩn bị cho sự tái lâm của Đức Christ, thúc đẩy bằng mọi cách có thể việc phân phối cả tập sách mỏng mang tên ấy lẫn cuốn sách bàn về sự tái lâm của Ngài. Thông tin này phải tràn ngập thế giới, và nhờ niềm hy vọng cùng sự mong đợi nảy sinh từ đó, thế giới có thể tiến vào ánh sáng lớn lao hơn, những mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa người với người và một niềm hạnh phúc mới mẻ hơn.
146. DK submits a very direct request. His remaining group of chelas is to do everything possible to assist in the preparation for the Reappearance of the Christ. Word of His impending Reappearance is the hope of the world and will serve as a great stimulus “forward into greater light, better human relations and a newer happiness”. The Tibetan could hardly be more direct in His request.
146. Chân sư DK đưa ra một yêu cầu hết sức trực tiếp. Nhóm đệ tử còn lại của Ngài phải làm mọi điều có thể để trợ giúp công việc chuẩn bị cho sự Tái Lâm của Đức Christ. Tin về sự Tái Lâm sắp đến của Ngài là niềm hy vọng của thế giới và sẽ là một động lực lớn thúc đẩy thế giới “tiến vào ánh sáng lớn lao hơn, những mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa người với người và một niềm hạnh phúc mới mẻ hơn”. Chân sư Tây Tạng khó có thể đưa ra yêu cầu trực tiếp hơn nữa.
The results of your activities along this line should enhance the usefulness of the service activities of the Arcane School and swell the ranks of those who are working on mental levels in the Triangles and for right human relations through the medium of the Goodwill work.
Kết quả từ các hoạt động của các bạn theo hướng này phải làm tăng tính hữu ích của các hoạt động phụng sự thuộc Trường Arcane và bổ sung hàng ngũ những người đang hoạt động trên các cấp độ trí tuệ trong các Tam Giác, cũng như những người hoạt động vì các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người thông qua công việc Thiện Chí.
147. The effect of such work for the Reappearance will assist the Triangles and the Goodwill work. DK is surely helping His disciples prioritize.
147. Tác động của công việc như thế nhằm chuẩn bị cho sự Tái Lâm sẽ trợ giúp các Tam Giác và công việc Thiện Chí. Chắc chắn Chân sư DK đang giúp các đệ tử của Ngài xác định thứ tự ưu tiên.
Begin, my brothers, to do your own work, leaving others to shoulder their assigned responsibilities and waste no time in interfering in any phase of work which does not call for your attention. You are in my Ashram. The Arcane School is not a project of my Ashram and is, therefore, no responsibility of yours. It has been the means of giving you a greatly needed esoteric training and will continue to do so if you so desire, but the work of the Christ (to which all Ashrams are pledged) calls for your cooperation; it is this responsibility which I lay upon your shoulders.
Các huynh đệ của Tôi, hãy bắt đầu làm phần việc của chính mình, để những người khác gánh vác trách nhiệm đã được giao và đừng lãng phí thời gian can thiệp vào bất kỳ phương diện công việc nào không cần đến sự quan tâm của các bạn. Các bạn ở trong ashram của Tôi. Trường Arcane không phải là dự án của ashram của Tôi, và vì vậy không thuộc trách nhiệm của các bạn. Trường đã là phương tiện mang lại cho các bạn sự huấn luyện nội môn hết sức cần thiết và sẽ tiếp tục như vậy nếu các bạn mong muốn, nhưng công việc của Đức Christ, mà tất cả các ashram đều cam kết thực hiện, đang kêu gọi sự hợp tác của các bạn; chính trách nhiệm ấy là điều Tôi đặt lên vai các bạn.
148. One of the major messages of this letter has been one of non-interference. The Tibetan has wanted His chelas to discriminate between the work of the Arcane School and the work related to His own Ashram. Now, in addition, he calls for an enlargement of their point of view so that they can more directly serve the Christ.
148. Một trong những thông điệp chính của bức thư này là không can thiệp. Chân sư Tây Tạng muốn các đệ tử của Ngài phân biện giữa công việc của Trường Arcane và công việc liên quan đến ashram của chính Ngài. Giờ đây, Ngài còn kêu gọi họ mở rộng quan điểm để có thể phụng sự Đức Christ trực tiếp hơn.
149. It is as if the Tibetan is transferring the attention of His chelas from a focus within His own Ashram to the greater Ashram—the Ashram of which the Christ is the heart and head.
149. Dường như Chân sư Tây Tạng đang chuyển sự chú tâm của các đệ tử của Ngài từ trọng tâm bên trong ashram của chính Ngài sang ashram lớn hơn—ashram mà Đức Christ là trái tim và là người đứng đầu.
150. Disciples can be pledged; Ashrams can be pledged as well (an interesting point). DK is calling upon His chelas to honor the pledge of His Ashram to the Christ.
150. Các đệ tử có thể lập lời cam kết; các ashram cũng có thể lập lời cam kết (một điểm thú vị). Chân sư DK đang kêu gọi các đệ tử của Ngài thực hiện trọn vẹn lời cam kết của ashram của Ngài với Đức Christ.
That the years may see developed in all of you a firmer dedication, a self-sacrificing service and a deepened humility, is the hope and prayer of your friend, collaborator and Master.
Mong rằng theo năm tháng, tất cả các bạn sẽ phát triển sự tận hiến vững chắc hơn, tinh thần phụng sự quên mình và lòng khiêm nhường sâu sắc hơn; đó là niềm hy vọng và lời nguyện cầu của người bạn, người cộng tác và Chân sư của các bạn.
151. Here is a final benediction.
151. Đây là lời ban phúc cuối cùng.
152. DK asks of His chelas the following:
152. Chân sư DK yêu cầu các đệ tử của Ngài những điều sau:
a. A firmer dedication
a. Sự tận hiến vững chắc hơn
b. A self-sacrificing service
b. Tinh thần phụng sự quên mình
c. A deepened humility
c. Lòng khiêm nhường sâu sắc hơn
153. Let us review His request in terms of our own life.
153. Chúng ta hãy xem xét lại yêu cầu của Ngài trong mối liên hệ với cuộc sống của chính mình.
154. Master DK also hopes and prays, indicating His uplifting aspect of His love nature.
154. Chân sư DK cũng hy vọng và nguyện cầu, qua đó cho thấy phương diện nâng đỡ trong bản chất yêu thương của Ngài.
155. We leave a consideration of this letter with the realization that a Master is both a “friend” and a “collaborator”. It is important to understand this so that we may form a truer image of the nature of a Master.
155. Chúng ta kết thúc việc suy xét bức thư này với nhận thức rằng một Chân sư vừa là một “người bạn” vừa là một “người cộng tác”. Thấu hiểu điều này là điều quan trọng để chúng ta có thể hình thành một hình ảnh chân thực hơn về bản chất của một Chân sư.
Commentary 34
[91-100]
[90]
[90]
MY BROTHERS:
CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
I have no group instructions for you now. Nor shall I have again.
Hiện giờ, Tôi không có huấn thị nhóm nào dành cho các bạn. Và sau này cũng sẽ không có nữa.
1. These are the final letters written in the final year of AAB’s last incarnation.
1. Đây là những bức thư cuối cùng, được viết trong năm cuối cùng của kiếp lâm phàm sau cùng của AAB.
When the instructions on the designated themes are completed, I will write an instruction upon group work which will close all that I have to say on the subject in the two volumes of the book Discipleship in the New Age. The major intention of this book is to awaken the aspirational public to the opportunity for training which is theirs if they so choose;
Khi hoàn tất những huấn thị về các chủ đề đã định, Tôi sẽ viết một huấn thị về công việc nhóm để khép lại tất cả những gì Tôi muốn nói về đề tài này trong hai tập sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới. Ý định chủ yếu của cuốn sách là thức tỉnh những người chí nguyện trong công chúng trước cơ hội huấn luyện dành cho họ nếu họ lựa chọn;
2. We must not overlook the motivating power of aspiration. Opportunity exists, but one must choose to take it.
2. Chúng ta không được bỏ qua sức thúc đẩy của khát vọng. Cơ hội luôn có, nhưng mỗi người phải lựa chọn nắm lấy cơ hội ấy.
it should make them think with greater clarity of the Hierarchy and its functions;
cuốn sách phải giúp họ suy nghĩ rõ ràng hơn về Thánh đoàn và các chức năng của Thánh đoàn;
3. This type of clarity, sadly, is still lacking in many. It is not that the necessary information has not been presented. It is simply that such information has not been assimilated.
3. Đáng buồn thay, nhiều người vẫn thiếu sự rõ ràng này. Không phải những thông tin cần thiết chưa được trình bày. Chỉ đơn giản là họ chưa đồng hóa những thông tin ấy.
much good may come of sending forth its teachings and a new era in the field of spiritual instructions may result.
việc phổ biến những giáo huấn trong đó có thể mang lại nhiều điều tốt đẹp và mở ra một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực huấn thị tinh thần.
4. Who would give such instructions? Presumably, qualified disciples, and DK is probably not speaking of the instruction to be given after 2025—some seventy-five years head.
4. Ai sẽ đưa ra những huấn thị như vậy? Có lẽ là những đệ tử đủ năng lực, và có lẽ Chân sư DK không nói đến huấn thị sẽ được ban sau năm 2025—tức khoảng bảy mươi lăm năm về sau.
My present objective is now to help A.A.B. conclude the important teaching which I have—with her aid—been giving to the group over a long period of years;
Mục tiêu hiện nay của Tôi là giúp A.A.B. hoàn tất giáo huấn quan trọng mà Tôi đã truyền cho nhóm, với sự trợ giúp của bà,
5. DK calls the teaching He has been giving over many years “important teaching”. This is how it is regarded by Hierarchy. Do we regard it as important? More importantly, if we regard it as important, why do we do so?
5. Chân sư DK gọi giáo huấn mà Ngài đã truyền dạy trong nhiều năm là “giáo huấn quan trọng”. Đó là cách Thánh đoàn nhìn nhận giáo huấn ấy. Chúng ta có xem giáo huấn ấy là quan trọng không? Quan trọng hơn, nếu chúng ta xem giáo huấn ấy là quan trọng, thì tại sao chúng ta lại nghĩ như vậy?
it will then be available to the general public, after certain specific deletions, about which she knows and which are similar to those in the first volume.
trong suốt nhiều năm qua; sau đó, giáo huấn này sẽ được phổ biến đến công chúng, sau khi lược bỏ một số phần cụ thể mà bà đã biết, tương tự những phần đã lược bỏ trong tập thứ nhất.
6. We see that the deletions we frequently encounter are impulsed by DK and are not the sole prerogative of the editors.
6. Chúng ta thấy rằng những phần lược bỏ mà chúng ta thường gặp là do Chân sư DK chỉ đạo, và không hoàn toàn thuộc đặc quyền của các biên tập viên.
You have had more, much more, than you can assimilate;
Các bạn đã nhận được nhiều hơn, nhiều hơn rất nhiều so với khả năng đồng hóa của mình;
7. This is true of us today, even though our powers of assimilation (given the manner in which we are assisted electronically) should be much greater.
7. Điều này cũng đúng với chúng ta ngày nay, dù khả năng đồng hóa của chúng ta (xét đến cách các phương tiện điện tử hỗ trợ chúng ta) lẽ ra phải lớn hơn nhiều.
of the original group of students only a few are left; of the more than fifty original members who have been affiliated with my Ashram, only sixteen remain, and of these only eight are truly active; and of these eight, two are causing me some questioning.
trong nhóm đạo sinh ban đầu chỉ còn lại một số ít; trong hơn năm mươi thành viên ban đầu từng liên kết với ashram của Tôi, chỉ còn lại mười sáu người, và trong số đó chỉ tám người thực sự hoạt động; trong tám người này, hai người đang khiến Tôi có phần băn khoăn.
8. If we study carefully what is here said, we see that about thirty-four members have either dropped out, died or have been discontinued. Only half of the sixteen remaining members are active, and only six cause the Master no questioning.
8. Nếu nghiên cứu kỹ những điều nói ở đây, chúng ta thấy rằng khoảng ba mươi bốn thành viên đã rút lui, qua đời hoặc không còn được tiếp tục tham gia. Chỉ một nửa trong số mười sáu thành viên còn lại đang hoạt động, và chỉ sáu người không khiến Chân sư băn khoăn.
9. The remaining workers who are truly trustworthy account for some 12% of the original number of chelas.
9. Những người hoạt động còn lại thực sự đáng tin cậy chiếm khoảng 12% số đệ tử ban đầu.
You might at this point appropriately ask the following questions:Wherein lies the fault, and was there error in the choices I made? Where does the blame lie for what—on the surface—appears to be such an outstanding failure? It may perhaps interest you to have some of the reasons presented to you:
Đến đây, các bạn có thể đặt những câu hỏi thích hợp sau: Sai sót nằm ở đâu, và Tôi có sai lầm trong những lựa chọn của mình không? Ai chịu trách nhiệm về điều mà, nhìn bề ngoài, dường như là một thất bại rõ rệt đến thế? Có lẽ các bạn sẽ quan tâm khi được trình bày một số lý do:
10. Many students have asked exactly the same question that DK is asking.
10. Nhiều đạo sinh đã đặt đúng câu hỏi mà Chân sư DK đang nêu ra.
11. It may be, however, that ‘nothing succeeds like failure’ and that, in future years, the lessons of failure will have been learnt and a pronouncedly successful demonstration of externalizing ashramic work will be demonstrated (probably by the very disciples who apparently failed and by their successors).
11. Tuy nhiên, có lẽ ‘không gì đem lại thành công bằng thất bại’, và trong những năm tới, các bài học từ thất bại sẽ được lĩnh hội, và công việc ashram sẽ được ngoại hiện một cách thành công rõ rệt (có lẽ do chính những đệ tử dường như đã thất bại cùng những người kế tục họ thực hiện).
1. A Master, in choosing the personnel of His Ashram, is Himself governed by certain unavoidable factors:
1. Khi lựa chọn thành viên cho ashram của mình, chính một Chân sư cũng chịu sự chi phối của một số yếu tố không thể tránh khỏi:
12. We notice that even a Master is not completely free, being governed by certain factors which are unavoidable.
12. Chúng ta nhận thấy rằng ngay cả một Chân sư cũng không hoàn toàn tự do, vì Ngài chịu sự chi phối của một số yếu tố không thể tránh khỏi.
a. The fact that the aspiration and the development of a disciple (usually stimulated by some senior disciple) has enabled him in thought and consciousness to reach the periphery of the Ashram;
a. Việc khát vọng và sự phát triển của một đệ tử, thường do một đệ tử cao niên nào đó kích thích, đã giúp y vươn tới chu vi của ashram trong tư tưởng và tâm thức;
13. We note the importance of the senior stimulating disciple. Can we, in our own life, identify such a disciple? Or, perhaps, the disciple who has probably stimulated us may be found upon the inner planes?
13. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng của người đệ tử cao niên có tác động kích thích ấy. Trong cuộc đời mình, chúng ta có thể nhận diện một đệ tử như vậy không? Hay có lẽ, người đệ tử có khả năng đã kích thích chúng ta lại ở trên các cõi bên trong?
14. In my own life, I can identify one encounter which made all the difference. It was a moment of juncture between a fourth ray personality and a second ray soul. Perhaps you can find the moments of decision which directed you to the periphery of the Ashram. It would be worth the search.
14. Trong cuộc đời mình, tôi có thể xác định một cuộc gặp gỡ đã tạo nên bước ngoặt quyết định. Đó là một thời điểm giao hội giữa một phàm ngã cung bốn và một linh hồn cung hai. Có lẽ các bạn có thể tìm ra những thời điểm quyết định đã hướng các bạn đến chu vi của ashram. Việc tìm kiếm ấy rất đáng công.
sometimes the spiritual forcing process brings him to that [91] point prematurely.
đôi khi tiến trình thúc ép tinh thần đưa y đến [91] điểm ấy quá sớm.
15. When there is what we might call a ‘premature arrival’ at the periphery, the disciple may carry with him many evident liabilities as well as the pronounced aspiration which allowed him to make rapid progress.
15. Khi xảy ra điều mà chúng ta có thể gọi là ‘đến quá sớm’ tại chu vi, người đệ tử có thể mang theo nhiều nhược điểm rõ rệt cùng với khát vọng mạnh mẽ đã giúp y tiến bộ nhanh chóng.
The disciple is, however, there; the next move is (as you say) up to the Master; He must then give the disciple the opportunity to move closer, if the capacity for such a step lies in him.
Tuy nhiên, đệ tử đã ở đó; bước tiếp theo, như các bạn nói, tùy thuộc vào Chân sư; khi ấy Ngài phải cho đệ tử cơ hội tiến lại gần hơn, nếu y có khả năng thực hiện bước ấy.
16. We see that the Master is bound by a certain law: if the disciple has arrived, the Master must offer the opportunity for the next step. The Master knows not, however, whether the aspirant, having forged his was to the periphery, will really have the capacity to continue. The aspirant, usually somewhat deficient in self-knowledge, also does not know.
16. Chúng ta thấy rằng Chân sư chịu sự ràng buộc của một định luật nhất định: nếu đệ tử đã đến, Chân sư phải trao cơ hội để thực hiện bước tiếp theo. Tuy nhiên, Chân sư không biết liệu người chí nguyện, sau khi đã nỗ lực mở đường đến chu vi, có thực sự đủ khả năng tiếp tục hay không. Người chí nguyện, vốn thường còn phần nào thiếu sự hiểu biết về bản thân, cũng không biết.
b. The fact of karmic relationship. Many of those who have been given the opportunity to work with me have had some relationship with me over past lives and—because of certain activities—have warranted the opportunity to work in a still closer relationship.
b. Sự hiện hữu của mối quan hệ nghiệp quả. Nhiều người từng được trao cơ hội làm việc với Tôi đã có mối quan hệ nào đó với Tôi trong những kiếp trước, và nhờ một số hoạt động nhất định, họ đã xứng đáng với cơ hội làm việc trong một mối quan hệ còn gần gũi hơn.
17. Do we find it surprising that karma plays such a big role in offering opportunity to associate closely with the Master? Relationships that are, at first personal, evolve into something more spiritual as the evolutionary process continues.
17. Chúng ta có thấy ngạc nhiên khi nghiệp quả đóng vai trò lớn đến vậy trong việc mang lại cơ hội cộng tác mật thiết với Chân sư không? Những mối quan hệ ban đầu mang tính cá nhân sẽ tiến triển thành điều gì đó mang tính tinh thần hơn khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn.
18. Have we looked around ourselves? It is very likely that there are those to whom we are presently related who will be with us again on a higher turn of the spiral. Some such people will be of future spiritual assistance to us; others will be spiritually assisted by us. And then, there are our peers with whom we shall advance steadily and easily as comrades between whom spiritual equality exists.
18. Chúng ta đã nhìn quanh mình chưa? Rất có thể trong số những người hiện có quan hệ với chúng ta, có những người sẽ lại đồng hành với chúng ta ở một vòng xoắn ốc cao hơn. Trong tương lai, một số người như vậy sẽ trợ giúp chúng ta về mặt tinh thần; những người khác sẽ nhận sự trợ giúp tinh thần từ chúng ta. Và còn có những người đồng đẳng với chúng ta, những người mà chúng ta sẽ cùng tiến bước đều đặn và dễ dàng như những bạn đồng hành bình đẳng về mặt tinh thần.
19. What are these “certain activities” which have warranted them the opportunity to work more closely with the Tibetan? While we cannot know, we may presume that the element of sacrifice was not missing.
19. Những “hoạt động nhất định” nào đã giúp họ có được cơ hội làm việc mật thiết hơn với Chân sư Tây Tạng? Tuy không thể biết, chúng ta có thể cho rằng yếu tố hi sinh đã không vắng mặt.
This they prove by working off karma. Such were H.S.D. and S.S.P., neither of whom has completely failed.
Họ chứng tỏ điều này bằng việc thanh toán nghiệp quả. H.S.D. và S.S.P. là những trường hợp như vậy; cả hai đều chưa hoàn toàn thất bại.
20. Those who work actively at the working off of karma demonstrate their fitness for further instruction.
20. Những người tích cực thanh toán nghiệp quả chứng tỏ mình đủ khả năng tiếp nhận sự huấn thị sâu hơn.
21. At the time of this writing neither HSD nor SSP were among the remaining disciples.
21. Vào thời điểm viết những dòng này, cả HSD lẫn SSP đều không còn ở trong số các đệ tử còn lại.
22. HSD’s rays were 6/2 1—167. She was transferring from the sixth ray soul to the second. She was part of the New Seed Group. Her Sun-sign was Libra—interesting in light of the need to achieve balance during the soul ray transfer.
22. Các cung của HSD là 6/2 1—167. Bà đang chuyển từ linh hồn cung sáu sang cung hai. Bà là thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới. Dấu hiệu Mặt Trời của bà là Thiên Bình—một điều thú vị khi xét đến nhu cầu đạt sự cân bằng trong quá trình chuyển đổi cung linh hồn.
23. SSP’s rays were 25-463. He had not been invited into the New Seed Group. He was among some who had reached, for this particular incarnation, their high water mark
23. Các cung của SSP là 25-463. Ông đã không được mời vào Nhóm Hạt Giống Mới. Ông thuộc số những người đã đạt đến đỉnh cao của mình trong kiếp lâm phàm cụ thể này
c. The fact of the need—existent in the world today—for workers.The Masters are perforce driven to use people to carry out certain phases of the exoteric work of service for which they may be fitted but for which they, from other angles, are not ready. Such a one was W.D.B.
c. Nhu cầu về những người hoạt động đang hiện hữu trên thế giới ngày nay. Các Chân sư buộc phải sử dụng những người có thể thích hợp để thực hiện một số phương diện của công việc phụng sự ngoại môn, dù xét từ những góc độ khác, họ chưa sẵn sàng cho công việc ấy. W.D.B. là một trường hợp như vậy.
24. We see that the Master does not always have, ready-to-hand, thenecessary material to carry out His intentions. We are the material.
24. Chúng ta thấy rằng không phải lúc nào Chân sư cũng có sẵn chất liệu cần thiết để thực hiện những ý định của Ngài. Chúng ta chính là chất liệu ấy.
25. He is faced with disciples who in some ways are fit and ready and in other ways are not. Choosing such a disciple for work will be a gamble, but a risk which the Master is apparently willing to take, given the extent of world need. The gamble may pay off and the chosen disciple may make the grade.
25. Ngài phải đối diện với những đệ tử thích hợp và sẵn sàng ở một số phương diện, nhưng ở những phương diện khác thì chưa. Chọn một đệ tử như vậy để làm việc sẽ là một sự đánh cược, nhưng xét đến mức độ nhu cầu của thế giới, dường như Chân sư sẵn lòng chấp nhận rủi ro ấy. Sự đánh cược ấy có thể mang lại kết quả, và người đệ tử được chọn có thể đạt yêu cầu.
26. The rays of WDB were 2 and 4 and her Sun-sign was Gemini. She did not remain with the group long enough to receive her mental, emotional and physical ray. The revelation of these rays came later in the process, after the disciple had become used to the idea of his/her soul and personality ray and had worked with them.
26. Các cung của WDB là 2 và 4, và dấu hiệu Mặt Trời của bà là Song Tử. Bà đã không ở lại với nhóm đủ lâu để được cho biết các cung thể trí, cảm xúc và thể xác của mình. Việc tiết lộ những cung này diễn ra muộn hơn trong tiến trình, sau khi người đệ tử đã quen với ý tưởng về cung linh hồn và cung phàm ngã của mình, đồng thời đã làm việc với các cung ấy.
27. WDB withdrew when certain of her weaknesses were revealed in the group process.
27. WDB rút lui khi một số nhược điểm của bà bộc lộ trong tiến trình sinh hoạt nhóm.
“You have been so personal, my brother. You have insulated yourself behind a wall of silence, and cannot be reached. The karmic opportunity was offered you, but you recognised it not. My definition of the type of glamour from which you suffer with facility drove you behind this wall in hurt pride and resentment that your brothers should know your weaknesses. My brother, this should not be. It is all a part of the environing illusion. What matters it if each knows the weaknesses of his brother on the Path, and if all are aware of an individual’s frailty? Are you yet so imperfect and are you yet so unloving that knowledge need evoke criticism and resentment, instead of love and understanding? This you could not face and hence your retreat. Thus, you work out your problems in solitude away from your esoteric group which you will again find at a later date, though probably—not inevitably—in another life. Who can set a pace to a soul’s destiny?” (DINA I 300-301)
“Huynh đệ của tôi, em đã quá nặng tính cá nhân. Em đã tự cô lập sau một bức tường im lặng, khiến không ai có thể tiếp cận em. Cơ hội do nghiệp quả mang đến đã được trao cho em, nhưng em không nhận ra. Định nghĩa của Tôi về loại ảo cảm mà em dễ mắc phải đã đẩy em vào sau bức tường này, với lòng tự ái bị tổn thương và sự oán giận vì các huynh đệ biết những nhược điểm của em. Huynh đệ của tôi, điều này không nên như vậy. Tất cả đều là một phần của ảo tưởng bao quanh. Việc mỗi người biết những nhược điểm của huynh đệ mình trên Đường Đạo, và tất cả đều biết sự yếu đuối của một cá nhân, thì có gì quan trọng? Các em vẫn còn bất toàn đến thế, vẫn còn thiếu tình thương đến thế sao, mà sự hiểu biết ấy lại phải khơi dậy sự chỉ trích và oán giận, thay vì tình thương và sự thấu hiểu? Em đã không thể đối diện với điều này, và vì thế em rút lui. Do đó, em giải quyết những vấn đề của mình trong cô độc, xa nhóm nội môn của em, nhóm mà sau này em sẽ tìm lại, dù có lẽ—nhưng không nhất thiết—trong một kiếp sống khác. Ai có thể định nhịp bước cho vận mệnh của một linh hồn?” (DINA I 300-301)
All these factors necessarily governed my choice, for I too (even though I may be a Master) am controlled by esoteric Law and must proffer opportunity.
Tất cả những yếu tố này tất nhiên đã chi phối sự lựa chọn của Tôi, vì ngay cả Tôi, dù có thể là một Chân sư, cũng chịu sự chi phối của Định luật huyền bí và phải trao cơ hội.
28. The factors were attainment, karma and world need.
28. Những yếu tố ấy là thành tựu, nghiệp quả và nhu cầu của thế giới.
29. DK mentions the limitations under which He works. We see what governed the choice of His ‘material’.
29. Chân sư DK đề cập đến những giới hạn mà Ngài phải làm việc trong đó. Chúng ta thấy điều gì đã chi phối việc lựa chọn ‘chất liệu’ của Ngài.
30. We also note that He must proffer opportunity under the conditions presented. This means He is not free to deny opportunity to those who have been presented to him because of their attainment and karma. He is also obliged to consider world need as a factor warranting the taking of risk in the selection of co-workers.
30. Chúng ta cũng lưu ý rằng Ngài phải trao cơ hội trong những điều kiện hiện có. Điều này có nghĩa là Ngài không được tự do từ chối cơ hội cho những người đã được đưa đến với Ngài do thành tựu và nghiệp quả của họ. Ngài cũng buộc phải xem xét nhu cầu của thế giới như một yếu tố biện minh cho việc chấp nhận rủi ro khi lựa chọn những người cộng tác.
Among those chosen there has been much failure, but because consecration and devotion to either the Hierarchy or Humanity are still to be found in them, the affiliation with my Ashram still persists, even though in so few cases can permission to move closer be granted;
Trong số những người được chọn đã có nhiều thất bại, nhưng vì nơi họ vẫn còn sự thánh hiến và lòng tận tụy đối với Thánh đoàn hoặc Nhân loại, nên mối liên kết với ashram của Tôi vẫn tồn tại, dù chỉ trong rất ít trường hợp mới có thể cho phép tiến lại gần hơn;
31. There has been failure but we are also informed that failure has been powerless to sever the affiliation with Master DK’s Ashram. Consecration and devotion to either the Hierarchy or Humanity (as some disciples obviously did not have both ) have warranted their continued affiliation.
31. Đã có thất bại, nhưng chúng ta cũng được biết rằng thất bại không đủ sức cắt đứt mối liên kết với ashram của Chân sư DK. Sự thánh hiến và lòng tận tụy đối với Thánh đoàn hoặc Nhân loại (vì rõ ràng một số đệ tử không có cả hai ) đã bảo đảm cho họ tiếp tục duy trì mối liên kết ấy.
32. Continued affiliation, however, is not equivalent to the permission to move deeper into the Ashram and closer to the Master. The Ashram must be protected from the unready, and the unready protected from the Ashram.
32. Tuy nhiên, việc tiếp tục duy trì mối liên kết không đồng nghĩa với việc được phép tiến sâu hơn vào ashram và đến gần Chân sư hơn. Cần bảo vệ ashram khỏi những người chưa sẵn sàng, và bảo vệ những người chưa sẵn sàng khỏi ashram.
33. We might pause to reflect: what is the nature of our consecration and devotion to either Hierarchy or Humanity? We note the value of devotion. As we attempt to establish mental polarization, we may come to despise the word, but the Masters know its value. See for instance the case of BSD—36-563.
33. Chúng ta có thể dừng lại để suy ngẫm: sự thánh hiến và lòng tận tụy của chúng ta đối với Thánh đoàn hoặc Nhân loại có bản chất như thế nào? Chúng ta lưu ý giá trị của lòng tận tụy. Khi cố gắng thiết lập sự phân cực trí tuệ, chúng ta có thể dần xem thường từ này, nhưng các Chân sư biết giá trị của nó. Chẳng hạn, hãy xem trường hợp của BSD—36-563.
they are not yet ready to reach a “more enlightened ashramic position,” as it is called.
họ vẫn chưa sẵn sàng đạt tới điều được gọi là một “vị trí được soi sáng hơn trong ashram”.
34. A technical phrase is offered for our consideration—a “more enlightened ashramic position”. We are obviously dealing with the intensity of light to be found within the aspirant/disciple. According to that intensity, so will be the opportunity accorded to move forward into a position of more intensified ashramic light.
34. Một cụm từ chuyên môn được đưa ra để chúng ta xem xét—một “vị trí được soi sáng hơn trong ashram”. Rõ ràng chúng ta đang bàn đến cường độ ánh sáng hiện diện trong người chí nguyện/đệ tử. Tùy theo cường độ ấy, họ sẽ có cơ hội tiến vào một vị trí có ánh sáng ashram mãnh liệt hơn.
35. We remind ourselves that in this section we are dealing with the reasons for the apparent “failure” of the group. One reason has been given and it had three parts. This first reason dealt with the constraints under which the Master must, per force, labor which faced with His choice of external collaborators.
35. Chúng ta tự nhắc mình rằng trong phần này, chúng ta đang bàn đến những lý do dẫn đến “thất bại” bề ngoài của nhóm. Một lý do đã được nêu ra và lý do ấy có ba phần. Lý do thứ nhất này đề cập đến những ràng buộc mà Chân sư tất yếu phải làm việc trong đó khi đứng trước việc lựa chọn những cộng tác viên bên ngoài của Ngài.
2. Affiliation with an Ashram subjects the aspirant to intensified stimulation; in many cases it proved impossible for some chelas to handle it.
2. Sự liên kết với một ashram khiến người chí nguyện chịu sự kích thích tăng cường; trong nhiều trường hợp, một số đệ tử đã chứng tỏ không thể xử lý sự kích thích ấy.
36. This is another reason for the failure of some of the disciples—overstimulation.
36. Đây là một lý do khác dẫn đến thất bại của một số đệ tử—sự kích thích quá mức.
Spiritual energy pouring into the personality, via the aspirant’s own soul, fostered the emergence of that which was good but also of that which could not be taken closer into the Ashram itself. The undesirable qualities had to be eliminated.
Năng lượng tinh thần tuôn vào phàm ngã, qua chính linh hồn của người chí nguyện, đã thúc đẩy sự bộc lộ của những gì tốt đẹp, đồng thời cả những gì không thể được mang vào gần hơn trong chính ashram. Những phẩm tính không đáng mong muốn phải được loại bỏ. S.C.P. và L.U.T. là những trường hợp như vậy.
37. Exposure to Ashramic stimulation had a Plutonic effect on some, dragging to the surface that which was hidden in the subconscious.
37. Việc tiếp xúc với sự kích thích của ashram đã tạo ra tác động mang tính Sao Diêm Vương đối với một số người, kéo lên bề mặt những gì ẩn giấu trong tiềm thức.
(Such were S.C.P. and L.U.T.)
(S.C.P. và L.U.T. là những trường hợp như vậy.)
38. The rays of SCP were 16-261—an unusual ray combination. The proposed horoscope of SCP accompanied by an analysis of her instructions can be found on www.makara.us
38. Các cung của SCP là 16-261—một tổ hợp cung khác thường. Có thể tìm thấy lá số chiêm tinh được đề xuất cho SCP cùng với phần phân tích những huấn thị dành cho bà tại www.makara.us
39. The rays of LUT were 21-463. LUT was advised to clean up his thought life.“Clean up your thought life. I shall not be more explicit. Again I say: You know whereof I speak.” (DINA I 472). He was also advised to seek his companions among men rather than women. There was much of Taurus and Libra in his chart, the emphasis of these signs being often (at a certain stage of evolution) on sex.
39. Các cung của LUT là 21-463. LUT được khuyên hãy thanh lọc đời sống tư tưởng của mình. “Hãy thanh lọc đời sống tư tưởng của em. Tôi sẽ không nói rõ hơn. Một lần nữa Tôi nói: Em biết Tôi đang nói về điều gì.” (DINA I 472). Ông cũng được khuyên nên tìm bạn đồng hành trong giới nam thay vì giới nữ. Kim Ngưu và Thiên Bình hiện diện nổi bật trong lá số của ông; trọng tâm của những dấu hiệu này thường là tính dục (ở một giai đoạn tiến hoá nhất định).
This stimulation cannot be avoided and is one of the tests of an accepted disciple’s fitness for “ashramic sharing.”
Không thể tránh được sự kích thích này, và đó là một trong những thử thách về mức độ thích hợp của một đệ tử được chấp nhận đối với việc “chia sẻ trong ashram”.
40. The Ashram is stimulation itself. What is within a disciple is distributed amongst the members of an Ashram. Therefore, what is within must be fit for distribution.
40. Ashram chính là sự kích thích. Những gì ở bên trong một đệ tử đều được phân phối đến các thành viên của một Ashram. Do đó, những gì ở bên trong phải thích hợp để phân phối.
Perfection [92] is not looked for or expected, but certain personality faults of pride, temper and an undisciplined nature must at least be controlled.
Không đòi hỏi hay mong đợi sự hoàn hảo [92], nhưng ít nhất phải kiểm soát được một số khuyết điểm của phàm ngã như lòng kiêu hãnh, tính nóng nảy và bản chất thiếu kỷ luật.
41. In naming these faults, DK is being explicit about the liabilities of both of these disciples. From a reading of his instructions, it would seem that LUT had all three of these faults. The matter is not so clear with SCP.
41. Khi nêu đích danh những khuyết điểm này, Chân sư DK đang nói rõ về những nhược điểm của cả hai đệ tử này. Qua việc đọc những huấn thị Ngài dành cho ông, dường như LUT có cả ba khuyết điểm ấy. Với SCP, vấn đề không rõ ràng như vậy.
42. Thus far, we have two reasons for certain failures: the constraints under which the Master must work when choosing ashramic personnel and overstimulation.
42. Đến đây, chúng ta có hai nguyên nhân dẫn đến một số thất bại: những hạn chế mà Chân sư phải chịu khi lựa chọn nhân sự cho ashram và sự kích thích quá mức.
3. A dislike of criticism eliminated others from the group.
3. Sự không thích bị phê bình đã khiến những người khác bị loại khỏi nhóm.
43. This fault relates to solar-plexus sensitivity— not the kind of sensitivity that the Master seeks to see cultivated in the disciple.
43. Khuyết điểm này liên quan đến tính nhạy cảm của tùng thái dương—không phải loại nhạy cảm mà Chân sư mong thấy đệ tử vun bồi.
They could not stand the exposure of their faults, either to themselves or to the group. They knew certain tendencies existedbut not how serious they were;
Họ không chịu nổi việc những khuyết điểm của mình bị phơi bày, dù trước chính mình hay trước nhóm. Họ biết một số khuynh hướng tồn tại, nhưng không biết chúng nghiêm trọng đến mức nào;
44. Do we stand in a similar position? Perhaps, few of us know how deep run our somewhat recognized flaws. We may think we are ready for training only to learn otherwise in the heat of the process.
44. Chúng ta có ở trong tình thế tương tự không? Có lẽ ít người trong chúng ta biết những khuyết điểm mà mình đã phần nào nhận ra lại ăn sâu đến mức nào. Chúng ta có thể nghĩ mình đã sẵn sàng để được huấn luyện, rồi chỉ khi trải qua những thử thách gay gắt của tiến trình ấy mới biết sự thật không phải vậy.
when I attempted to help them along these lines, resentment only was evoked.
khi Tôi cố gắng giúp họ về những phương diện ấy,
45. Resentment is a very personal, self-protective reaction. No one knows whether he or she would react similarly unless tested. And we will be tested, inevitably, under somewhat similar circumstances in a life to come.
45. Oán giận là một phản ứng rất cá nhân, nhằm tự bảo vệ. Không ai biết mình có phản ứng tương tự hay không nếu chưa trải qua thử thách. Và chắc chắn chúng ta sẽ trải qua thử thách trong những hoàn cảnh ít nhiều tương tự ở một kiếp sống tương lai.
In many cases (as I have elsewhere told you) the position was taken that praise, commendation and interesting personal instructions were written by me, but should any criticism be involved—then A.A.B. was responsible. This was never once the case. In fact, several times I have modified my criticism (or analysis, as I prefer to call it), and once or twice eliminated it altogether at the request of A.A.B., who knows the Western mind better perhaps than I do. (Such members were I.S.G-L. and D.E.I.)
điều duy nhất được khơi dậy là sự oán giận. Trong nhiều trường hợp, như Tôi đã nói với các bạn ở nơi khác, họ cho rằng những lời khen ngợi, tán dương và những huấn thị cá nhân thú vị là do Tôi viết, nhưng hễ có bất kỳ lời phê bình nào thì A.A.B. phải chịu trách nhiệm. Chưa một lần nào điều đó là đúng. Thực ra, nhiều lần Tôi đã điều chỉnh lời phê bình của mình, hay sự phân tích như Tôi thích gọi hơn, và một đôi lần đã hoàn toàn bỏ đi theo đề nghị của A.A.B., người có lẽ hiểu thể trí phương Tây rõ hơn Tôi. I.S.G-L. và D.E.I. là những thành viên như vậy.
46. This is both sad and amusing. Probably many of us have noticed how much AAB was blamed for aspects of the Teaching with which exception was taken. Master DK is very hard on certain forms of behavior—for instance homosexuality. Many think it was a Victorian, prudish AAB who wrote against such practices. We can draw our own conclusions.
46. Điều này vừa đáng buồn vừa buồn cười. Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã nhận thấy Bà AAB phải chịu bao nhiêu lời quy trách vì những phương diện của Giáo Huấn mà người ta phản đối. Chân sư DK rất nghiêm khắc với một số dạng hành vi—chẳng hạn như đồng tính luyến ái. Nhiều người nghĩ chính Bà AAB, với quan niệm thời Victoria và tính câu nệ đạo đức, đã viết những lời phản đối các hành vi ấy. Chúng ta có thể tự rút ra kết luận.
47. We note that Master DK distinguishes between criticism and analysis. They may seem similar, but the motivation of the latter is entirely constructive, which is often not the case with the former.
47. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK phân biệt giữa phê bình và phân tích. Hai việc này có thể có vẻ tương tự, nhưng động cơ của việc phân tích hoàn toàn mang tính xây dựng, trong khi việc phê bình thường không như vậy.
48. The rays of ISG-L were 6/2 1-161—a powerful and difficult combination. He was on the verge of taking the second initiation which, apparently, he did not do, due to his personal sensitivity to criticism (or, more specifically, humiliation), for DK had to tell him that he was not taking the fourth initiation but the second. This, it seems, proved too much for him to bear.
48. Các cung của ISG-L là 6/2 1-161—một tổ hợp mạnh mẽ và khó khăn. Ông sắp trải qua lần điểm đạo thứ hai, nhưng dường như đã không thực hiện được, do sự nhạy cảm cá nhân trước lời phê bình (hay cụ thể hơn là sự bẽ mặt), vì Chân sư DK đã phải nói với ông rằng ông đang trải qua lần điểm đạo thứ hai chứ không phải lần thứ tư. Dường như điều này đã vượt quá sức chịu đựng của ông.
49. DEI—21-213, was a highly placed disciple, important in DK’s work. He made, however, an unspecified mistaken decision which was extremely costly in terms of his discipleship effectiveness. DK told him so, and this may have caused his withdrawal.
49. DEI—21-213, là một đệ tử có địa vị cao, giữ vai trò quan trọng trong công việc của Chân sư DK. Tuy nhiên, ông đã đưa ra một quyết định sai lầm không được nêu cụ thể, gây tổn thất hết sức lớn đối với hiệu quả hoạt động của ông trong vai trò đệ tử. Chân sư DK đã nói rõ điều đó với ông, và điều này có thể đã khiến ông rút lui.
“All disciples, working among their fellowmen, are brought into contact with this astral whirlpool. (I would call the attention of D.E.I. to this fact because it accounts for his reaction during the past two years and has led him to relinquish his position in my outer work and to retire into a phase of living which will provide him with no true scope for his pledged experience and his years of training; this present phase is in the nature of a cul-de-sac. Eventually he will have to retrace his steps and admit the reality of the time lost—lost in the moment of humanity’s greatest need. Yet he will retrace his steps. I mention this as it is a typical instance of the effects of this glamour.” (DINA II 66-67)
“Tất cả các đệ tử đang làm việc giữa đồng loại đều tiếp xúc với xoáy nước cảm dục này. (Tôi muốn lưu ý D.E.I. về sự kiện này vì nó lý giải phản ứng của bạn ấy trong hai năm qua và đã khiến bạn ấy từ bỏ vị trí của mình trong công việc bên ngoài của Tôi, lui về một giai đoạn sống không tạo cho bạn ấy cơ hội thực sự nào để vận dụng kinh nghiệm đã tích lũy trong sự cam kết và những năm tháng được huấn luyện; giai đoạn hiện tại này mang tính chất của một ngõ cụt. Cuối cùng, bạn ấy sẽ phải quay lại con đường đã đi và thừa nhận thực tế về thời gian đã mất—mất đi vào lúc nhân loại cần đến nhất. Tuy vậy, bạn ấy sẽ quay lại con đường đã đi. Tôi đề cập đến điều này vì đây là một trường hợp điển hình về những tác động của ảo cảm này.” (DINA II 66-67)
50. In the case of both ISG-L and DEI, we have an example of highly trained disciples, very capable, who had, apparently, an astral condition which militated against impersonality.
50. Trong trường hợp của cả ISG-L lẫn DEI, chúng ta có một ví dụ về những đệ tử được huấn luyện kỹ lưỡng, rất có năng lực, nhưng dường như có một tình trạng cảm dục cản trở tính vô ngã.
4. Several of the students did not spiritually appreciate the opportunity with which they were faced. It was in reality a case of non-recognition, of which they were practically unconscious; they remain in this condition, awaiting another incarnation.
4. Một số đạo sinh không nhận thức được giá trị tinh thần của cơ hội đang ở trước mắt mình. Thực ra, đó là tình trạng không nhận biết mà bản thân họ hầu như không hay biết; họ vẫn ở trong tình trạng ấy, chờ một kiếp nhập thể khác.
51. It may be hard for us to believe that such an opportunity could remain unappreciated. We must remember that at the outset of His instructions, DK did not sign Himself as a Master, but suggested that he was simply an elder brother.
51. Có lẽ chúng ta khó tin rằng một cơ hội như thế lại có thể không được trân trọng. Chúng ta phải nhớ rằng khi bắt đầu ban huấn thị, Chân sư DK không ký tên với tư cách một Chân sư, mà gợi ý rằng Ngài chỉ là một huynh trưởng.
52. Really, we have a case of insensitivity, perhaps caused by preoccupation with certain intransigent approaches to living.
52. Thực ra, đây là một trường hợp thiếu nhạy cảm, có lẽ do quá bận tâm với một số cách tiếp cận cuộc sống cứng nhắc.
(L.D.N-C. was a striking instance of this attitude;
L.D.N-C. là một trường hợp nổi bật của thái độ này;
53. It is interesting that only one letter of instruction was written to LDN-C, whose rays were 1 and 6. DK valued this disciple highly, however, calling her “that expert worker for Hierarchy”. This is seemingly a strange contradiction.
53. Điều thú vị là chỉ có một bức thư huấn thị được viết cho LDN-C, người có các cung là 1 và 6. Tuy nhiên, Chân sư DK đánh giá cao người đệ tử này, gọi bà là “người phụng sự thành thạo ấy của Thánh đoàn”. Điều này có vẻ là một mâu thuẫn kỳ lạ.
another was J.A.C. though he would greatly like to be reinstated.
một trường hợp khác là J.A.C., dù người đệ tử ấy rất muốn được thu nhận trở lại.
54. JAC was another first ray worker whose rays were 12-413. She, too, received only one instruction.
54. JAC là một người hoạt động cung một khác, có các cung là 12-413. Bà cũng chỉ nhận được một huấn thị.
55. May we gather that the first ray in these disciples militated against recognizing the opportunity presented by the Tibetan?
55. Liệu chúng ta có thể suy ra rằng cung một nơi những đệ tử này đã cản trở họ nhận biết cơ hội mà Chân sư Tây Tạng trao cho?
This is not possible; however, had the tenure of life by A.A.B. been better, it might have been accomplished.
Điều này không thể thực hiện; tuy nhiên, nếu A.A.B. có thể duy trì sự sống lâu hơn, có lẽ việc ấy đã có thể hoàn thành.
56. Later JAC wished to be reinstated—realizing her error. We see how much is required of AAB to hold the disciples in the Tibetan’s group or groups. AAB’s ill health made the reinstatement impossible.
56. Về sau, JAC mong muốn được thu nhận trở lại—sau khi nhận ra sai lầm của mình. Chúng ta thấy Bà AAB phải gánh vác nhiều đến mức nào để giữ các đệ tử trong nhóm hoặc các nhóm của Chân sư Tây Tạng. Sức khỏe kém của Bà AAB khiến việc thu nhận trở lại không thể thực hiện.
Another of these types was B.S.D.)
Một người khác thuộc kiểu này là B.S.D.
57. BSD was one of the disciples who had reached his “high water mark”. Yet he had much devotion, and one would think that he might have been offered the opportunity to continue if his devotion had persisted with sufficient intensity.
57. BSD là một trong những đệ tử đã đạt đến “đỉnh cao” của mình. Tuy vậy, ông có lòng sùng tín sâu sắc, và người ta có thể nghĩ rằng ông hẳn đã có cơ hội tiếp tục nếu lòng sùng tín ấy duy trì được cường độ đủ mạnh.
5. Certain other students regarded “occult obedience” as an infringement of their freewill, as did D.A.O.
5. Một số đạo sinh khác xem “sự tuân phục huyền bí” là sự xâm phạm ý chí tự do của mình, như trường hợp D.A.O.
58. DAO was a seventh ray disciple with a first ray personality. We never learned her other rays, but probably ray four was included as she was an artist and a mystic—suggesting, as well, ray six.
58. DAO là một đệ tử cung bảy với phàm ngã cung một. Chúng ta chưa bao giờ biết các cung khác của bà, nhưng có lẽ trong đó có cung bốn vì bà là một nghệ sĩ và một nhà thần bí—điều này cũng gợi ý đến cung sáu.
59. The ray one personality will often demand its prerogatives and may be far less obedient that the ray one soul.
59. Phàm ngã cung một thường đòi hỏi những đặc quyền của mình và có thể kém tuân phục hơn nhiều so với linh hồn cung một.
Quite a number of you simply suffered from inertia, and though pleased and excited over the material received from me, in the group or personal instructions, were too lazy to avail yourselves to the full of that which was given, and consistently failed to comply with my requests.
Khá nhiều người trong các bạn chỉ đơn thuần chịu ảnh hưởng của tính trì trệ; tuy vui mừng và phấn khích trước tài liệu nhận từ Tôi, trong những huấn thị nhóm hay cá nhân, họ lại quá lười biếng để tận dụng đầy đủ những gì đã được trao và liên tục không đáp ứng các yêu cầu của Tôi.
60. The last of the reasons given is inertia or laziness. This inertia is related to the lack of occult obedience, for the lazy ones failed to comply with the Master’s requests.
60. Lý do cuối cùng được nêu là tính trì trệ hay sự lười biếng. Tính trì trệ này liên quan đến việc thiếu sự tuân phục huyền môn, vì những người lười biếng đã không làm theo các yêu cầu của Chân sư.
It is valuable to note a most significant point of interest: All those who passed through the gates of death passed to a [93] definitely closer relationship;
Có một điểm đáng chú ý mang thâm nghĩa rất lớn cần ghi nhận: Tất cả những người đã đi qua cánh cửa tử đều tiến vào một [93] mối quan hệ rõ ràng gần gũi hơn;
61. This is heartening statement and causes us to realize that the physical body is more an obstacle to ashramic intimacy than an asset.
61. Đây là một lời khẳng định đáng khích lệ và khiến chúng ta nhận ra rằng thể xác là chướng ngại hơn là lợi thế đối với sự gần gũi trong ashram.
they had earned this reward and have availed themselves of that which I had taught them.
họ đã xứng đáng với phần thưởng này và đã tận dụng những gì Tôi dạy.
62. It is, however, not necessarily a foregone conclusion that to die is to be closer to the Master and the Ashram. The chelas here listed had “earned this reward” by actually availing themselves of that which DK had taught them.
62. Tuy nhiên, không nhất thiết có thể mặc nhiên kết luận rằng chết đi là đến gần Chân sư và ashram hơn. Những đệ tử được liệt kê ở đây đã “xứng đáng với phần thưởng này” nhờ thực sự tận dụng những gì Chân sư DK đã dạy họ.
They are, as you know, C.D.P., K.E.S., D.P.R.
Như các bạn biết, đó là C.D.P., K.E.S., D.P.R.
63. The rays of CDP were 26-566. The soul ray of KES was the second ray. The personality ray was not given (why?), though the other rays were 4, 6 and 7. From the hint that KES had spend long years in the spiritualistic movement, we may infer that the personality may be have been on the seventh ray. KES did good service in the disembodied state during WWII.
63. Các cung của CDP là 26-566. Cung linh hồn của KES là cung hai. Cung phàm ngã không được cho biết (tại sao?), dù các cung còn lại là 4, 6 và 7. Từ gợi ý rằng KES đã trải qua nhiều năm trong phong trào thần linh học, chúng ta có thể suy ra rằng phàm ngã có thể đã thuộc cung bảy. KES đã phụng sự tốt trong trạng thái không còn thể xác trong Thế chiến II.
“K.E.S., who died prior to the reorganisation of the New Seed Group, is now subjectively affiliated with the group [34] and must be regarded by you as a fellow worker. His work is very largely with those who pass over to the inner side from the British and American Armed Forces; for this he is eminently well equipped, being English by birth but having spent long years in the United States; he has also worked for many years in the spiritualistic movement.” (DINA II 33-34)
“K.E.S., người qua đời trước khi Nhóm Hạt Giống Mới được tái tổ chức, hiện gắn kết với nhóm về mặt chủ quan [34] và các bạn phải xem ông là một người đồng sự. Công việc của ông phần lớn là với những người từ Lực lượng Vũ trang Anh và Mỹ qua đời để sang phía bên trong; ông có sự chuẩn bị hết sức thích hợp cho công việc này, vì ông là người Anh từ khi sinh ra nhưng đã sống nhiều năm tại Hoa Kỳ; ông cũng đã hoạt động nhiều năm trong phong trào thần linh học.” (DINA II 33-34)
64. We can see that the conditioning of the personality is of value in relation to ashramic work in the post-mortem state.
64. Chúng ta có thể thấy rằng những ảnh hưởng định hình phàm ngã có giá trị đối với công việc ashram trong trạng thái sau khi chết.
65. The rays of DPR were 15-423—another unusual combination.
65. Các cung của DPR là 15-423—một sự kết hợp khác thường nữa.
66. DK testified to the loving nature of both CDP and DPR (even though she was on the first ray). It may be inferred that her monadic ray was the second.
66. Chân sư DK đã xác nhận bản chất giàu tình thương của cả CDP lẫn DPR (mặc dù bà thuộc cung một). Có thể suy ra rằng cung chân thần của bà là cung hai.
Two others are today rapidly fitting themselves to follow these three disciples into the Ashram. They are: B.S.W., who was temporarily side-tracked for a few years prior to his death, and G.S.S., whose personality vehicles could not carry the stimulation which reached her via the group.
Hiện nay, hai người khác cũng đang nhanh chóng chuẩn bị để theo ba đệ tử này vào ashram. Đó là B.S.W., người đã tạm thời đi chệch hướng trong vài năm trước khi qua đời, và G.S.S., người có các hiện thể phàm ngã không thể chịu đựng sự kích thích đến với mình qua nhóm.
67. We may remember that BSW was much involved with astral phantasms which he took for genuine. His rays were 17-467. He was magically inclined and was dropped from the group for functioning, essentially, as an astral magician.
67. Chúng ta có thể nhớ rằng BSW đã dính líu sâu vào những ảo ảnh cảm dục mà ông cho là có thật. Các cung của ông là 17-467. Ông có thiên hướng huyền thuật và đã bị loại khỏi nhóm vì về cơ bản, ông hoạt động như một nhà huyền thuật cảm dục.
68. It is heartening to see that he was able to reorient himself following his physical death.
68. Thật đáng khích lệ khi thấy rằng ông đã có thể tự tái định hướng sau khi thể xác qua đời.
69. The rays of GSS were 76-163. It is interesting that a seventh ray disciple would not be able to stand the stimulation. In EP II DK hints at the tremendous stimulation which a seventh ray disciple may invoke (cf. EP II 377). DK asked her to follow meditation with a “planned lack of intensity”—something obviously difficult for someone with two sixth rays.
69. Các cung của GSS là 76-163. Thật thú vị khi một đệ tử cung bảy lại không thể chịu nổi sự kích thích. Trong EP II, Chân sư DK gợi ý về sự kích thích mãnh liệt mà một đệ tử cung bảy có thể khơi gọi (xem EP II 377). Chân sư DK yêu cầu bà sau khi tham thiền hãy duy trì một trạng thái “không căng thẳng có chủ định”—điều hiển nhiên khó khăn đối với một người có hai cung sáu.
This sensitivity to undue stimulation is a matter easily rectified now; it does not constitute a fault, but only a karmic liability.
Sự nhạy cảm trước kích thích quá mức này hiện nay là vấn đề dễ điều chỉnh; nó không phải là một khuyết điểm, mà chỉ là một gánh nặng nghiệp quả.
70. We note the distinction between a “fault” and a “karmic liability”. A karmic liability is simply a condition, which may not be incorrect in itself, but which is not goal-fit for a certain task—a task such as the one DK offered his chelas.
70. Chúng ta lưu ý sự phân biệt giữa một “khuyết điểm” và một “gánh nặng nghiệp quả”. Một gánh nặng nghiệp quả chỉ đơn giản là một tình trạng, vốn có thể không có gì sai, nhưng lại không phù hợp với mục tiêu của một nhiệm vụ nhất định—một nhiệm vụ như nhiệm vụ mà Chân sư DK đã giao cho các đệ tử của Ngài.
71. It is interesting, is it not, that what constituted a karmic liability during the incarnated state could be rectified following physical death. It was obviously a condition which involved the physical-etheric body.
71. Thật thú vị, phải không, khi điều từng là một gánh nặng nghiệp quả trong trạng thái lâm phàm lại có thể được điều chỉnh sau cái chết của thể xác. Hiển nhiên, đó là một tình trạng có liên quan đến thể xác-dĩ thái.
I have taken the time to say these things so as to make clear to you certain reasons for what may look to you as failure. I am greatly pleased with the work being done by some of the eight members who remain truly active.
Tôi đã dành thời gian nói những điều này để làm rõ cho các bạn một số lý do đằng sau điều mà các bạn có thể xem là thất bại. Tôi rất hài lòng với công việc mà một số người trong tám thành viên vẫn thực sự hoạt động đang thực hiện.
72. Earlier, however, DK stated that two of the eight members were causing him some concern.
72. Tuy nhiên, trước đó, Chân sư DK đã nói rằng hai người trong tám thành viên đang khiến Ngài phần nào quan ngại.
73. It is clear that DK felt that the “failure” had to be explained, not only for the sake of His present chelas but for students in the future—such as ourselves.
73. Rõ ràng, Chân sư DK cảm thấy cần phải giải thích sự “thất bại” này, không chỉ vì các đệ tử hiện tại của Ngài mà còn vì các đạo sinh trong tương lai—như chúng ta.
Two of you have fought through great tests and are today very much better servers. They are D.H.B. and R.S.U.
Hai người trong các bạn đã chiến đấu vượt qua những thử thách lớn lao và ngày nay là những người phụng sự tốt hơn rất nhiều. Đó là D.H.B. và R.S.U.
74. DHB (26-117) suffered from a form of ambition (activated, it appears, after he was told that he could become a “friend of the Christ”).
74. DHB (26-117) chịu khổ vì một dạng tham vọng (dường như nó đã được kích hoạt sau khi ông được cho biết rằng mình có thể trở thành một “người bạn của Đức Christ”).
75. RSU (23-117) suffered from a persecution complex through her identification with the Jewish race.
75. RSU (23-117) chịu khổ vì một phức cảm bị bức hại do bà đồng hoá với dân tộc Do Thái.
76. There is good reason to believe that both of these disciples were candidates for the third initiation. In the case of DHB, DK actually says so. We note that their rays are identical except for the personality ray, and that the rays of the personality vehicles are, in fact, identical. It is interesting that DHB’s former personality ray was the third, identical to RSU’s present personality ray.
76. Có cơ sở vững chắc để tin rằng cả hai đệ tử này đều là ứng viên cho lần điểm đạo thứ ba. Trong trường hợp của DHB, Chân sư DK thực sự nói rõ như vậy. Chúng ta lưu ý rằng các cung của họ giống hệt nhau, ngoại trừ cung phàm ngã, và thực ra các cung của những vận cụ phàm ngã đều giống hệt nhau. Thật thú vị khi cung phàm ngã trước đây của DHB là cung ba, giống hệt cung phàm ngã hiện tại của RSU.
One of you, R.S.W., is in danger of side-tracking her activities but will, I believe, come through the test; it will take her two more years to fight through to clarity of vision.
Một người trong các bạn, R.S.W., đang có nguy cơ để các hoạt động của mình đi chệch hướng, nhưng Tôi tin rằng người đệ tử ấy sẽ vượt qua thử thách; sẽ cần thêm hai năm chiến đấu để đạt tới tầm nhìn sáng rõ.
77. RSW was the youngest of the disciples. DK is predicting that she would have to wait until 1951 to fight through to clarity.
77. RSW là người trẻ nhất trong số các đệ tử. Chân sư DK đang dự đoán rằng bà sẽ phải đợi đến năm 1951 mới có thể chiến đấu để đạt tới sự sáng rõ.
78. It is interesting that RSW had at one time been planning to participate in conventional education in the field of psychology. DK said He rather feared this line of approach for her. Could this be that to which He is referring?
78. Thật thú vị khi RSW từng có dự định theo học tâm lý học trong hệ thống giáo dục thông thường. Chân sư DK nói rằng Ngài khá lo ngại về hướng tiếp cận này đối với bà. Liệu đây có phải là điều Ngài đang đề cập đến không?
“You are naturally a good psychologist and have an intuitive understanding of people. Please bear this in mind without over-estimating yourself, remembering that the academic intellectual approach to humanity which is called modern psychology, should not blunt the edge of that serene understanding, that automatic, unreasoning comprehension which is yours today. Bear this in mind always, because I somewhat fear the academic teaching for you.” (DINA I 643)
“Em vốn là một nhà tâm lý học giỏi và có sự thấu hiểu trực giác về con người. Hãy ghi nhớ điều này mà không đánh giá bản thân quá cao, đồng thời nhớ rằng cách tiếp cận con người bằng trí tuệ mang tính hàn lâm mà người ta gọi là tâm lý học hiện đại không nên làm cùn đi sự thấu hiểu tĩnh lặng ấy, sự lĩnh hội tự nhiên, không qua suy luận mà em hiện có. Hãy luôn ghi nhớ điều này, vì Tôi phần nào lo ngại về việc giảng dạy hàn lâm đối với em.” (DINA I 643)
79. It was, at about that time, that RSW started an occult group known as Applicants at the Portal. It was perhaps aimed at those who stood at the portal of initiation.
79. Chính vào khoảng thời gian đó, RSW đã thành lập một nhóm huyền bí có tên là Những Người Xin Nhập Môn Trước Cổng. Có lẽ nhóm này hướng đến những người đang đứng trước cổng điểm đạo.
To the other eight remaining of the original group I have no comment to make but that of encouragement. They are holding steady, but have enough teaching whereon to work and can take no more stimulation.
Đối với tám người còn lại của nhóm ban đầu, Tôi không có nhận xét nào ngoài lời khích lệ. Họ đang giữ vững, nhưng đã có đủ giáo huấn để thực hành và không thể tiếp nhận thêm sự kích thích.
80. The Master is obliged to realize when additional stimulation would be destructive rather than constructive.
80. Chân sư buộc phải nhận biết khi nào sự kích thích bổ sung sẽ mang tính phá hoại thay vì xây dựng.
81. DK has given them all they can possibly absorb. More would be a detriment.
81. Chân sư DK đã trao cho họ tất cả những gì họ có thể tiếp thu. Thêm nữa sẽ gây bất lợi.
82. It is ever the Master’s task to inspire and promote progress through encouragement.
82. Khơi nguồn cảm hứng và thúc đẩy sự tiến bộ qua lời khích lệ luôn là nhiệm vụ của Chân sư.
The majority of them will not be kept waiting for admission to a definitely more positive penetrating in the Ashram when they pass through the gates of death.
Đa số họ sẽ không phải chờ đợi để được chấp nhận tiến sâu hơn vào ashram một cách rõ rệt và chủ động hơn khi đi qua cánh cửa tử.
83. DK has spoken of several who died and who then came into closer affiliation with the Ashram.
83. Chân sư DK đã nói đến một số người đã qua đời và sau đó gắn bó mật thiết hơn với ashram.
84. He is promising the same to the majority of the remaining disciples. Some, however, may not gain closer affiliation after death.
84. Ngài đang hứa điều tương tự với đa số các đệ tử còn lại. Tuy nhiên, một số người có thể không đạt được sự gắn bó mật thiết hơn sau khi qua đời.
85. In the following, DK seems to give certain hints to some of the remaining disciples—perhaps, hints, which if followed, would allow closer affiliation after death.
85. Trong phần tiếp theo, dường như Chân sư DK đưa ra một số gợi ý cho một số đệ tử còn lại—có lẽ là những gợi ý mà nếu làm theo, họ sẽ có thể gắn bó mật thiết hơn sau khi qua đời.
H.S.D. for the remainder of her life should work at the attainment of a quiet spirit, and she should also stand by A.A.B. as long as A.A.B. needs her.
Trong quãng đời còn lại, H.S.D. nên nỗ lực đạt tới một tinh thần bình lặng, đồng thời sát cánh hỗ trợ A.A.B. chừng nào A.A.B. còn cần.
86. HSD seems to have suffered from hyper-activity. She had much of the first and sixth rays.
86. Dường như HSD đã khổ sở vì hoạt động quá mức. Bà chịu ảnh hưởng mạnh của cung một và cung sáu.
L.D.O. must attain to a broader point of view in place of her limited approach to humanity’s problems; she must give up her assurance that the palliatives and solutions which she suggests are completely right.
L.D.O. phải đạt tới một quan điểm rộng lớn hơn thay cho cách tiếp cận hạn hẹp đối với các vấn đề của nhân loại; người đệ tử ấy phải từ bỏ sự tin chắc rằng những biện pháp giảm nhẹ và những giải pháp mình đề xuất là hoàn toàn đúng.
87. LDO was the well known author (well-known in occult circles), Vera Stanly Alder. Her rays were 24-427.
87. LDO là tác giả nổi tiếng (nổi tiếng trong giới huyền bí học), Vera Stanly Alder. Các cung của bà là 24-427.
F.C.D. is doing well, but he is an old and trained disciple, and about him no anxiety has been needed. The same is true of J.W.K-P.
F.C.D. đang làm tốt, nhưng đây là một đệ tử lâu năm đã qua huấn luyện, và không cần phải lo lắng về người đệ tử ấy. Điều tương tự cũng đúng với J.W.K-P.
88. FCD was an initiate-disciple.
88. FCD là một đệ tử đã được điểm đạo.
“I have said enough here to enable you again to resume your active position as a pledged initiate-disciple (a position which your co-disciples have ever recognised as yours…) (DINA II 465)
“Ở đây, Tôi đã nói đủ để em có thể một lần nữa trở lại vị trí hoạt động tích cực của mình với tư cách một đệ tử đã được điểm đạo và đã lập nguyện (một vị trí mà các đệ tử đồng môn của em luôn công nhận là của em…) (DINA II 465)
89. This may also be the case for JWK-P. In other words, both of these disciples may have passed the third degree. This seems almost certainly the case for FCD—the psychologist Roberto Assagioli.
89. Điều này cũng có thể đúng với JWK-P. Nói cách khác, cả hai đệ tử này có thể đã trải qua lần điểm đạo thứ ba. Điều này dường như gần như chắc chắn đúng với FCD—nhà tâm lý học Roberto Assagioli.