← Commentary DINA II (webinar 24-35)

Commentary 33

Trích nội dung chương

160. The remaining disciples are being urged to put their energy into the dissemination of the book The Reappearance of the Christ. As well, an intelligent and appealing explanation and interpretation of the contents of this book would be required. It is still required, imperatively, today. 160. Các đệ tử còn lại đang được thúc giục dồn năng lượng vào việc phổ biến cuốn sách Sự Tái Lâm của Đức Christ. Đồng thời, cũng cần giải thích và diễn giải nội dung cuốn sách này một cách sáng suốt và có sức thu hút. Ngày nay, điều đó vẫn là một yêu cầu cấp thiết.


160. The remaining disciples are being urged to put their energy into the dissemination of the book The Reappearance of the Christ. As well, an intelligent and appealing explanation and interpretation of the contents of this book would be required. It is still required, imperatively, today.

160. Các đệ tử còn lại đang được thúc giục dồn năng lượng vào việc phổ biến cuốn sách Sự Tái Lâm của Đức Christ. Đồng thời, cũng cần giải thích và diễn giải nội dung cuốn sách này một cách sáng suốt và có sức thu hút. Ngày nay, điều đó vẫn là một yêu cầu cấp thiết.

More important still, you have (as a group) provided the pool of thought that could be stirred into activity, and thus make possible the giving out of this terrific proclamation—for that is what it is. Thus you have served and helped at this critical time—critical not only among men and in connection with world affairs but critical also in the Hierarchy itself.

Điều còn quan trọng hơn nữa là, với tư cách một nhóm, các bạn đã tạo nên một nguồn tư tưởng có thể được khơi dậy để hoạt động, nhờ đó tạo điều kiện cho lời công bố có sức chấn động này được truyền ra—vì quả thực đó chính là một lời công bố như thế. Như vậy, các bạn đã phụng sự và trợ giúp vào thời điểm hệ trọng này—hệ trọng không chỉ giữa nhân loại và trong các vấn đề thế giới, mà còn ngay trong chính Thánh đoàn.

161. DK is pointing out the manner in which His group of chelas has served the great and coming planetary event—the Externalization and the Reappearance.

161. Chân sư DK đang chỉ ra cách nhóm đệ tử của Ngài đã phụng sự sự kiện hành tinh trọng đại sắp tới—Sự Hiển Lộ và Sự Tái Lâm.

162. DK speaks of “this terrific proclamation”, informing His disciples that their work, as a group, over the years, has made its giving out a possibility.

162. Chân sư DK nói về “lời công bố có sức chấn động này”, cho các đệ tử của Ngài biết rằng công việc của họ với tư cách một nhóm trong suốt những năm qua đã tạo điều kiện để truyền ra lời công bố ấy.

163. Perhaps the nature of this service was somewhat unrealized by them.

163. Có lẽ họ phần nào chưa nhận ra bản chất của sự phụng sự này.

164. The disciples, despite their evident group failure, are now notified of a great group success—their contribution to the great planetary event.

164. Mặc dù nhóm đệ tử đã thất bại rõ rệt, giờ đây họ được cho biết về một thành công lớn của nhóm—sự đóng góp của họ vào sự kiện hành tinh trọng đại ấy.

165. We are also informed that not only has the time been critical for humanity but for Hierarchy as well. Indeed, the DINA disciples lived through times of extraordinary importance and pressure. Those times, however, are far from over. If anything, the point of tension is on the increase.

165. Chúng ta cũng được cho biết rằng thời điểm ấy không chỉ hệ trọng đối với nhân loại mà còn đối với cả Thánh đoàn. Quả thực, các đệ tử DINA đã sống qua những thời kỳ có tầm quan trọng và áp lực phi thường. Tuy nhiên, những thời kỳ ấy vẫn còn lâu mới kết thúc. Nếu có thay đổi gì, thì điểm tập trung nhất tâm đang ngày càng gia tăng.

In your thinking, reflection and activities carried on henceforth, this major, presented hierarchical intention must constitute the very groundwork of your life pattern. As members of an Ashram, you are part and parcel of the present crisis within the Hierarchy, and you cannot avoid it.

Từ nay trở đi, trong tư duy, suy ngẫm và các hoạt động của các bạn, ý định trọng đại này của Thánh đoàn, như đã được trình bày, phải trở thành nền tảng căn bản cho mô hình đời sống của các bạn. Là thành viên của một ashram, các bạn là một bộ phận không thể tách rời của cuộc khủng hoảng hiện nay trong Thánh đoàn, và các bạn không thể tránh né nó.

166. DK is calling for a re-alignment on the part of His remaining DINA disciples. They are to “have no other life intention” than the carrying forward of the “presented hierarchical intention”. It is to be the basis or “very groundwork of [their] life pattern”. It is to be absolutely fundamental to their life in the three worlds.

166. Chân sư DK đang kêu gọi các đệ tử DINA còn lại của Ngài tái chỉnh hợp. Họ phải “không có ý định nào khác trong đời sống” ngoài việc thúc đẩy thực hiện “ý định của Thánh đoàn như đã được trình bày”. Ý định ấy phải là cơ sở hay “nền tảng căn bản cho mô hình đời sống [của họ]”. Ý định ấy phải là nền tảng tuyệt đối cho đời sống của họ trong ba cõi giới.

167. The Master is asking them for an even deeper participation in that process which the Hierarchy, too, considers a great crisis; He is asking this of them because they are members of the Ashram.

167. Chân sư đang yêu cầu họ tham gia sâu hơn nữa vào tiến trình mà chính Thánh đoàn cũng xem là một cuộc khủng hoảng lớn; Ngài yêu cầu họ như vậy vì họ là thành viên của ashram.

168. Thus, we see a new surge of inspiration directed towards them. It is never too late to cooperate more fully with the Inspirers.

168. Như vậy, chúng ta thấy một làn sóng cảm hứng mới hướng đến họ. Không bao giờ là quá muộn để hợp tác trọn vẹn hơn với các Đấng Truyền Cảm Hứng.

One of the effects of the reorientation is that four or five of you will be working more actively, and eventually more consciously, in the Ashram of your own Master and less actively in mine;

Một trong những tác động của sự tái định hướng là bốn hoặc năm người trong các bạn sẽ hoạt động tích cực hơn, và cuối cùng có ý thức hơn, trong ashram của Chân sư mình, đồng thời ít hoạt động hơn trong ashram của Tôi; tuy nhiên,

169. We must remember that the Ashram of Master KH is deeply responsible for promoting preparation for the Reappearance of the Christ.

169. Chúng ta phải nhớ rằng ashram của Chân sư KH có trách nhiệm sâu sắc trong việc thúc đẩy công tác chuẩn bị cho sự Tái Lâm của Đức Christ.

170. The remaining disciples ‘belonged’ either to Master KH or Master M, rather than distinctly to Master DK Who had them under training.

170. Các đệ tử còn lại ‘thuộc về’ Chân sư KH hoặc Chân sư M, chứ không thuộc riêng về Chân sư DK, Đấng đang huấn luyện họ.

171. I am remembering DK questioning RSU, asking her whether she realized that she was again working in the Ashram of her own Master, Master KH. The connection between that question and the statement given by DK above is now clearer.

171. Tôi nhớ lại việc Chân sư DK hỏi RSU rằng liệu bà có nhận ra mình lại đang làm việc trong ashram của chính Chân sư của mình, Chân sư KH, hay không. Giờ đây, mối liên hệ giữa câu hỏi ấy và phát biểu của Chân sư DK ở trên đã rõ ràng hơn.

you must remember, however, that the link is by no means severed.

các bạn phải nhớ rằng mối liên kết hoàn toàn không bị cắt đứt.

172. The sense of separation as human beings experience it does not exist within Hierarchy. It is imperative that disciples overcome in their thinking process the tendency to be separative.

172. Cảm giác chia cách như con người trải nghiệm không tồn tại trong Thánh đoàn. Điều thiết yếu là các đệ tử phải khắc phục khuynh hướng chia rẽ trong tiến trình tư duy của mình.

Another effect is that several disciples from other Ashrams will be working in my group, and one of the Master K.H.’s disciples is now to function as senior disciple in my Ashram, because A.A.B. is no longer available in that capacity as she has been since 1932; she resumed her own activities in the Ashram of the Master K.H. over three [81] years ago. The completion of my books is practically all that she is now doing for me.

Một tác động khác là một số đệ tử từ các ashram khác sẽ làm việc trong nhóm của Tôi, và hiện nay một đệ tử của Chân sư KH sẽ đảm nhiệm vai trò đệ tử cao niên trong ashram của Tôi, vì A.A.B. không còn có thể đảm nhiệm vai trò ấy như bà đã làm từ năm 1932; bà đã trở lại với những hoạt động riêng của mình trong ashram của Chân sư KH cách đây hơn ba [81] năm. Việc hoàn tất các cuốn sách của Tôi gần như là tất cả những gì bà hiện đang làm cho Tôi.

173. It would seem that sometime in 1945, AAB resumed her own activities in the Ashram of Master KH.

173. Dường như vào một thời điểm nào đó trong năm 1945, AAB đã trở lại với những hoạt động riêng của mình trong ashram của Chân sư KH.

174. Which of KH’s disciples was to function as the senior disciple in the Ashram of Master DK is not given, nor is it stated that such functioning might be temporary or experimental.

174. Không có thông tin cho biết đệ tử nào của Chân sư KH sẽ đảm nhiệm vai trò đệ tử cao niên trong ashram của Chân sư DK, cũng không có lời nào nói rằng việc đảm nhiệm vai trò ấy có thể chỉ mang tính tạm thời hoặc thử nghiệm.

175. We can see that AAB functioned for twenty-three years as the senior disciple in Master DK’s Ashram.

175. Chúng ta có thể thấy rằng AAB đã đảm nhiệm vai trò đệ tử cao niên trong ashram của Chân sư DK suốt hai mươi ba năm.

176. We can realize that, though AAB was again in the Ashram of Master KH, the completion of the books for Master DK was no small matter.

176. Chúng ta có thể nhận ra rằng, dù AAB đã trở lại ashram của Chân sư KH, việc hoàn tất các cuốn sách cho Chân sư DK vẫn là một việc không hề nhỏ.

177. It is also interesting to realize that disciples from other Ashrams would be more actively working in Master DK’s group. Presumably this statement hints at the variety of ray types newly to be found in DK’s Ashram.

177. Cũng thật thú vị khi nhận ra rằng các đệ tử từ những ashram khác sẽ làm việc tích cực hơn trong nhóm của Chân sư DK. Có lẽ phát biểu này hàm ý về sự đa dạng của các loại cung sẽ mới xuất hiện trong ashram của Chân sư DK.

This reorientation and this “outward movement” of the Hierarchy requires the assuming of a certain attitude on the part of all of us, and the development of certain mental habits, which I will proceed to discuss with you as part of the usual first theme in all these instructions, that of meditation.

Sự tái định hướng và sự “chuyển động ra bên ngoài” này của Thánh đoàn đòi hỏi tất cả chúng ta phải có một thái độ nhất định và phát triển một số thói quen trí tuệ; Tôi sẽ tiếp tục bàn với các bạn về những điều ấy như một phần của chủ đề đầu tiên thường có trong tất cả những huấn thị này, tức chủ đề tham thiền.

178. The emphasis is upon the “outward movement” of the Hierarchy. We are to learn the necessary “attitude” and of “certain mental habits” which will make it possible for us to cooperate more fully with the Externalization.

178. Trọng tâm nhấn mạnh là “chuyển động ra bên ngoài” của Thánh đoàn. Chúng ta cần học cách có “thái độ” cần thiết và “một số thói quen trí tuệ” để có thể hợp tác trọn vẹn hơn với Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.

179. We are left with the definite statement that “meditation” is the first theme in all these instructions. We gather that a correct meditative approach to all these vital matters is indispensable.

179. Chúng ta có được lời khẳng định dứt khoát rằng “tham thiền” là chủ đề đầu tiên trong tất cả những huấn thị này. Chúng ta hiểu rằng một cách tiếp cận đúng đắn qua tham thiền đối với tất cả những vấn đề thiết yếu này là điều không thể thiếu.

Commentary 33

[82-89]

MY BROTHERS:

CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

This new year of 1949 is a peculiarly momentous one from the angle of spiritual values.

Xét từ góc độ các giá trị tinh thần, năm mới 1949 này là một năm đặc biệt trọng đại.

1. In 1942, the seven year cycle of the New Group of World Servers coincided with the nine year cycle of Hierarchy. As the three year cycles of the NGWS are contained within the nine, 1942 was also the beginning of one such cycle.

1. Năm 1942, chu kỳ bảy năm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trùng với chu kỳ chín năm của Thánh đoàn. Vì các chu kỳ ba năm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nằm trong chu kỳ chín năm ấy, năm 1942 cũng là khởi đầu của một chu kỳ ba năm như thế.

2. Thus, we find that 1949 was a year in which the Festival Week of the New Group of World Servers would be celebrated—albeit in December, and this letter was written in January.

2. Như vậy, chúng ta thấy rằng 1949 là năm sẽ diễn ra Tuần Lễ Hội của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—dù vào tháng Mười Hai, còn bức thư này được viết vào tháng Một.

3. We note that AAB died during the month of December, 1949, though in the sign Sagittarius and not Capricorn.

3. Chúng ta lưu ý rằng Bà AAB qua đời vào tháng Mười Hai năm 1949, tuy trong dấu hiệu Nhân Mã chứ không phải Ma Kết.

Last year was one of decision—as public affairs have demonstrated—decisions which were not always sound and which infringed the principle of right human relations.

Năm vừa qua là một năm quyết định—như những diễn biến trong các vấn đề công cộng đã cho thấy—những quyết định không phải lúc nào cũng đúng đắn và đã vi phạm nguyên khí về các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

4. It may be that Master DK is referring to the creation of the State of Israel, which had its birth on May 15, 1948. It is clear from the writings of DK that, despite His great understanding for and valuing of the Jewish People, He saw the assimilation of the Jew into the substance of humanity as a far better solution than the creation of a separate Jewish state.

4. Có thể Chân sư DK đang đề cập đến việc thành lập Nhà nước Israel, ra đời ngày 15 tháng Năm năm 1948. Qua các tác phẩm của Chân sư DK, có thể thấy rõ rằng, dù Ngài rất thấu hiểu và quý trọng dân tộc Do Thái, Ngài vẫn xem việc người Do Thái hòa nhập vào chất liệu của nhân loại là một giải pháp tốt hơn nhiều so với việc thành lập một nhà nước Do Thái riêng biệt.

5. Other decisions within the newly formed United Nations may also have been the target of the Tibetan’s critique.

5. Những quyết định khác trong Liên Hợp Quốc vừa mới thành lập cũng có thể là đối tượng phê bình của Chân sư Tây Tạng.

“The United Nations has already made a major mistake by their original admittance of Russia—a totalitarian power, as was Germany—to their councils.” (R&I 636)

“Liên Hợp Quốc đã phạm một sai lầm lớn ngay từ đầu khi chấp nhận Nga—một cường quốc toàn trị, cũng như Đức trước đó—vào các hội đồng của mình.” (R&I 636)

6. In the three year cycles of the NGWS, 1948 was a year of Crisis and also, by another terminological method, of Consolidation. 1949 would be a year of Tension and of Expansion.

6. Trong các chu kỳ ba năm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, 1948 là năm Khủng Hoảng và cũng là năm Củng Cố, theo một cách dùng thuật ngữ khác. Năm 1949 sẽ là năm Tập Trung Nhất Tâm và Mở Rộng.

It was a year of decision for the Hierarchy as well as for many world leaders, both secular and spiritual.

Đó là một năm quyết định đối với Thánh đoàn cũng như đối với nhiều nhà lãnh đạo thế giới, cả thế tục lẫn tinh thần.

7. Interestingly, 1952 would be the year of the Great Decision, just as was 1903 and 2001.

7. Điều thú vị là năm 1952 sẽ là năm của Quyết Định Vĩ Đại, cũng như các năm 1903 và 2001.

8. During that immediate post-war period, humanity was determining its fate for many years to come. The Tibetan confirmed the analysis of one astute disciple—that as a result of various decisions, the “door where evil dwells” was left ajar.

8. Trong giai đoạn ngay sau chiến tranh ấy, nhân loại đang định đoạt số phận của mình trong nhiều năm sắp tới. Chân sư Tây Tạng đã xác nhận phân tích của một đệ tử sắc sảo—rằng do nhiều quyết định khác nhau, “cửa vào nẻo ác” vẫn còn hé mở.

The disciples of the world were under great and peculiar strain, many of them working off and handling severe personal karma,

Các đệ tử trên thế giới đã chịu sức ép lớn lao và khác thường; nhiều người đang thanh toán và xử lý nghiệp quả cá nhân nặng nề,

9. This is most interesting. It is as if there was so much concentration upon planetary karma during the war that confrontation with much personal karma was reserved for the post-war years.

9. Điều này hết sức thú vị. Dường như trong chiến tranh, người ta đã tập trung quá nhiều vào nghiệp quả hành tinh đến mức việc đối diện với phần lớn nghiệp quả cá nhân được dành lại cho những năm hậu chiến.

and some of them descending into the very depths of realisation—depths where world iniquity and world sorrow confronted them and world issues were made very clear to them.

và một số người đã đi xuống tận những chiều sâu của sự nhận biết—những chiều sâu nơi họ đối diện với sự bất chính và nỗi đau khổ của thế giới, và các vấn đề thế giới trở nên hết sức rõ ràng đối với họ.

10. Indeed, much sorrow and iniquity remained after the war. The Second World War was a great “broom”, but it did not clean all; the paroxysms continued—in India and China to name but two areas of grave social unrest.

10. Quả thật, nhiều đau khổ và bất công vẫn còn lại sau chiến tranh. Chiến tranh Thế giới thứ Hai là một “cây chổi” lớn, nhưng nó không quét sạch tất cả; những cơn biến động dữ dội vẫn tiếp diễn—ở Ấn Độ và Trung Quốc, chỉ kể hai khu vực có tình trạng bất ổn xã hội nghiêm trọng.

11. The descent to the “depths of realisation” here referenced can be understood as a “dark night of the soul”.

11. Việc đi xuống “những chiều sâu của sự chứng nghiệm” được nhắc đến ở đây có thể hiểu là một “đêm tối của linh hồn”.

It was therefore a year of peculiar testing and trial, and the more advanced the disciple the greater has been his problem, involving as it has done both personal and world problems. The load upon them has been heavy.

Vì vậy, đó là một năm thử thách và khảo nghiệm đặc biệt, và đệ tử càng tiến bộ thì vấn đề của y càng lớn, vì nó bao hàm cả những vấn đề cá nhân lẫn những vấn đề thế giới. Gánh nặng đặt lên họ đã rất lớn.

12. No doubt other cycles were involved in making 1948 so arduous. For much of that year Pluto and Saturn (two first ray planets) were conjoined in the first ray sign Leo, but this was also the case in 1947, and therefore cannot account for the entirety of the difficulty.

12. Chắc chắn còn có những chu kỳ khác góp phần khiến năm 1948 trở nên gian nan đến vậy. Trong phần lớn năm ấy, Sao Diêm Vương và Sao Thổ (hai hành tinh cung một) đồng vị trong dấu hiệu Sư Tử thuộc cung một, nhưng tình trạng này cũng đã diễn ra vào năm 1947, nên không thể giải thích toàn bộ khó khăn.

To this condition the members of the New Seed Group and those affiliated with them and with my Ashram have been no exception. This new year holds in it great potentialities for expansion and growth and for the progress of all movements, particularly those oriented to the work of the spiritual Hierarchy of our planet.

Các thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới cùng những người liên kết với họ và với ashram của Tôi cũng không nằm ngoài tình trạng này. Năm mới này chứa đựng những tiềm năng lớn lao cho sự mở rộng, tăng trưởng và tiến bộ của mọi phong trào, đặc biệt là những phong trào hướng đến công việc của Thánh đoàn hành tinh chúng ta.

13. We note how DK emphasizes the keynote of “expansion and growth” which correlates perfectly with the three year cycle of the NGWS beginning in 1948.

13. Chúng ta lưu ý cách Chân sư DK nhấn mạnh chủ âm “mở rộng và tăng trưởng”, điều hoàn toàn tương ứng với chu kỳ ba năm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bắt đầu vào năm 1948.

The inflowing force is beneficently potent and the destructive forces which have prevailed during the last few years are not so dynamic.

Mãnh lực đang tuôn vào có sức mạnh mang lại lợi ích, còn những mãnh lực hủy diệt từng chiếm ưu thế trong vài năm qua đã bớt mãnh liệt.

14. We see that even though the war ended in 1945, the destructive forces continued potent and prevailed. The following sentences may relate the destructive forces to the planet Mar and the sign Scorpio. Perhaps these influences began at last to wane from the physical plane as well as the astral:

14. Chúng ta thấy rằng mặc dù chiến tranh đã kết thúc vào năm 1945, các mãnh lực hủy diệt vẫn tiếp tục mạnh mẽ và chiếm ưu thế. Những câu sau đây có thể liên hệ các mãnh lực hủy diệt với Sao Hỏa và dấu hiệu Hổ Cáp. Có lẽ cuối cùng những ảnh hưởng này đã bắt đầu suy giảm trên cõi hồng trần cũng như trên cõi cảm dục:

These subtler senses will supersede the physical senses over which Mars has so long had a successful control, and hence again the growth in the world today of the psychic senses and the appearance on every hand of the subtler and more esoteric powers of clair-voyance and clair-audience. This development is inevitable as the influence of Scorpio and of Mars begins to lessen, as is the case today. The year 1945 saw this influence almost completely vanish, particularly from the astral plane. Astrologers would do well to remember that the influence of the constellations, signs and planets, work out upon three levels of awareness—three descending levels—and are felt first of all upon the mental plane, then upon the astral plane and finally upon the physical plane. (EA 216)

Những giác quan tinh tế hơn này sẽ thay thế các giác quan thể xác mà Sao Hỏa đã kiểm soát hữu hiệu từ rất lâu; do đó, một lần nữa, chúng ta thấy các giác quan thông linh đang phát triển trong thế giới ngày nay và các quyền năng thông nhãn, thông nhĩ tinh tế hơn, mang tính nội môn hơn đang xuất hiện khắp nơi. Sự phát triển này là tất yếu khi ảnh hưởng của Hổ Cáp và Sao Hỏa bắt đầu giảm bớt, như tình hình hiện nay. Vào năm 1945, ảnh hưởng này đã gần như hoàn toàn biến mất, đặc biệt trên cõi cảm dục. Các nhà chiêm tinh nên ghi nhớ rằng ảnh hưởng của các chòm sao, các dấu hiệu và các hành tinh thể hiện trên ba cấp độ nhận biết—ba cấp độ theo chiều đi xuống—và trước hết có thể cảm nhận trên cõi trí, sau đó trên cõi cảm dục và cuối cùng trên cõi hồng trần. (EA 216)

This should be a year of moving forward and of expansion (implemented and directed by the Hierarchy).

Đây phải là một năm tiến lên và mở rộng, dưới sự thực hiện và chỉ đạo của Thánh đoàn.

15. Hierarchy works ever with cycles and, accordingly, can foresee potentials.

15. Thánh đoàn luôn làm việc với các chu kỳ và do đó có thể thấy trước những tiềm năng.

The spiritual vortex of force which is moving nearer to manifestation will [82] make possible certain moves and will clear away some (though not all) of those forces which have held back the proposed expansion and which have limited the work that disciples all over the world have sought to do. Every disciple has been tested;unsuspected weaknesses have emerged and characteristics which should be straightened out have come to the surface; a few—a very few—have fallen by the way, but a large majority have passed the test.

Xoáy mãnh lực tinh thần đang tiến gần hơn đến sự biểu hiện sẽ [82] tạo điều kiện cho một số bước tiến và quét sạch một phần, dù không phải tất cả, những mãnh lực đã kìm hãm sự mở rộng dự kiến và hạn chế công việc mà các đệ tử trên khắp thế giới đã cố gắng thực hiện. Mọi đệ tử đều đã trải qua thử thách; những nhược điểm không ngờ tới đã bộc lộ, và những đặc điểm cần chấn chỉnh đã nổi lên; một số ít—rất ít—đã bỏ cuộc giữa đường, nhưng đại đa số đã vượt qua thử thách.

16. This is an optimistic assessment.

16. Đây là một sự đánh giá lạc quan.

17. Within DK’s group and among the remaining disciples, the testing was evident. See for instance, the later instructions of RSU. Those few who remained after the 1946 closure of the New Seed Group had passed many tests.

17. Trong nhóm của Chân sư DK và trong số các đệ tử còn lại, sự thử thách thể hiện rõ rệt. Chẳng hạn, hãy xem những huấn thị về sau dành cho RSU. Số ít người còn lại sau khi Nhóm Hạt Giống Mới chấm dứt hoạt động vào năm 1946 đã vượt qua nhiều thử thách.

18. It is quite important to realize that we all have “unsuspected weaknesses” of which the Master is well aware.

18. Điều khá quan trọng là nhận ra rằng tất cả chúng ta đều có “những nhược điểm không ngờ tới” mà Chân sư biết rất rõ.

Weaknesses of motivation, of purpose, of technique and of personality faults have been exposed and recognised by truly earnest disciples; this has been necessary, for the incoming energies will render excessive the weaknesses (if they are recognised for what they are) and will enhance the contribution to world service of those disciples who can stand the strain and face themselves with truth and sincerity.

Những đệ tử thực sự thành tâm đã nhận ra những nhược điểm về động cơ, mục đích, kỹ thuật và những khuyết điểm của phàm ngã khi chúng bộc lộ; điều này là cần thiết, vì những năng lượng đang đi vào sẽ làm các nhược điểm trở nên quá mức, nếu chúng được nhận diện đúng bản chất, đồng thời sẽ nâng cao sự đóng góp vào công cuộc phụng sự thế gian của những đệ tử có thể chịu đựng sức ép và đối diện với chính mình một cách chân thực, thành khẩn.

19. Let us tabulate that which has been exposed by the incoming energies:

19. Chúng ta hãy lập bảng liệt kê những gì các năng lượng đang đi vào đã phơi bày:

1. Weaknesses of motivation

1. Những điểm yếu về động cơ

2. Weaknesses of purpose

2. Những điểm yếu về mục đích

3. Weaknesses of technique

3. Những điểm yếu về kỹ thuật

4. Weaknesses based on personality faults

4. Những điểm yếu bắt nguồn từ các khuyết điểm của phàm ngã

20. It is clear that weaknesses may emerge and yet not be recognized for what they are.

20. Rõ ràng, những điểm yếu có thể bộc lộ mà chúng ta vẫn không nhận ra đúng bản chất của chúng.

21. We are told what we must do under the impact of demanding energies: we must

21. Chúng ta được cho biết phải làm gì dưới tác động của những năng lượng đặt ra các đòi hỏi khắt khe: chúng ta phải

1. Stand the strain

1. Chịu đựng sức căng

2. Face ourselves with truth and sincerity

2. Đối diện với chính mình một cách trung thực và chân thành

22. This is always a most difficult task—humbling, even humiliating, and utterly necessary. This facing is one of the necessary psychological mortifications on the Path of Renunciation.

22. Đây luôn là một nhiệm vụ hết sức khó khăn—khiến chúng ta phải khiêm hạ, thậm chí cảm thấy tủi hổ, và hoàn toàn cần thiết. Việc đối diện này là một trong những sự khổ luyện tâm lý cần thiết trên Con Đường Từ Bỏ.

The call is going out from every Ashram to all workers to close their ranks and to stand together in the closest comradeship of loyalty and understanding;

Từ mọi ashram, lời kêu gọi đang truyền đến tất cả những người hoạt động, thúc giục họ củng cố hàng ngũ và sát cánh bên nhau trong tình đồng môn gắn bó nhất, với lòng trung thành và sự thấu hiểu;

23. In these times when criticism between individuals and groups is so rampant, the Tibetan’s advice is immediately applicable.

23. Trong thời buổi sự chỉ trích giữa các cá nhân và các nhóm lan tràn đến thế, lời khuyên của Chân sư Tây Tạng có thể áp dụng ngay.

the challenge is for them to subject themselves (and by that I mean their personalities) to a drastically applied self-discipline, to a purifying process, and to effect those reforms within their own natures which will make them more effective instruments in service.

thách thức đặt ra là họ phải tự đặt mình—và ở đây Tôi muốn nói đến phàm ngã của họ—dưới một kỷ luật tự giác được áp dụng nghiêm ngặt, trải qua một tiến trình thanh lọc, và thực hiện những cải cách trong chính bản chất mình để trở thành những công cụ phụng sự hữu hiệu hơn.

24. The call is still of imperative importance.

24. Lời kêu gọi ấy vẫn có tầm quan trọng cấp thiết.

25. We note that DK is careful to discriminate between the Self and the personality.

25. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK cẩn thận phân biệt giữa Chân ngã và phàm ngã.

26. DK is speaking to His disciples even though they have been deep students of the Teaching. Nevertheless, they need a drastically applied self-discipline, a purifying process and a number of reforms within their nature. Shall we take the hint?

26. Chân sư DK đang nói với các đệ tử của Ngài, dù họ đã là những người nghiên cứu sâu Giáo Huấn. Tuy nhiên, họ vẫn cần một kỷ luật tự giác được áp dụng nghiêm ngặt, một tiến trình thanh lọc và một số cải cách trong bản chất mình. Liệu chúng ta có tiếp nhận lời gợi ý này không?

I am impressing the minds of those members of my Ashram of whom you have never heard with these same ideas in connection with the work that they may be doing for the Hierarchy.

Tôi đang ghi sâu những ý tưởng tương tự vào thể trí của các thành viên trong ashram của Tôi mà các bạn chưa từng nghe đến, liên quan đến công việc họ có thể đang thực hiện cho Thánh đoàn.

27. We see that Master DK is moving forward in a powerful and assertive manner—impressing the minds of all members of His Ashram. One can feel Him using the expansive energy of the second phase of the three year cycle.

27. Chúng ta thấy Chân sư DK đang tiến bước một cách mạnh mẽ và quyết đoán—ghi sâu các ý tưởng vào thể trí của tất cả thành viên trong ashram của Ngài. Có thể cảm nhận Ngài đang sử dụng năng lượng mở rộng của giai đoạn thứ hai trong chu kỳ ba năm.

It was the knowledge of this coming inflow and opportunity for increased usefulness which prompted A.A.B. to put through the reorganisation of the Arcane School, to close its ranks and to deepen the proposed trend of the teaching and thus to take those steps which will make the work more effective and potent. She has also taken and will in the near future take the needed steps for the effective functioning of the Arcane School after she passes to the inner side of service.

Chính sự hiểu biết về dòng năng lượng sắp tuôn vào này và cơ hội gia tăng khả năng đóng góp hữu ích đã thúc đẩy A.A.B. thực hiện việc tái tổ chức Trường Arcane, củng cố hàng ngũ và làm sâu sắc thêm đường hướng giáo huấn đã dự kiến, qua đó thực hiện những bước giúp công việc trở nên hữu hiệu và mạnh mẽ hơn. Bà cũng đã thực hiện, và trong tương lai gần sẽ tiếp tục thực hiện, những bước cần thiết để Trường Arcane hoạt động hữu hiệu sau khi bà chuyển sang phụng sự ở phía bên trong.

28. Preparations for AAB’s passing are under way. The Tibetan can foresee the time, and perhaps AAB, herself, also knows. She has about a year remaining at the time of the writing of this letter.

28. Những công việc chuẩn bị cho sự ra đi của AAB đang được tiến hành. Chân sư Tây Tạng có thể thấy trước thời điểm ấy, và có lẽ chính Bà AAB cũng biết. Vào thời điểm bức thư này được viết, Bà còn khoảng một năm nữa.

29. Even though the outer work of AAB is drawing to a close, both she and the Tibetan are asking for mobilization. In fact we see that the motivation to continue the work impelled by Master DK and AAB has continued for many years with keen aspiration and determined purpose on the part of thousands.

29. Dù công việc bên ngoài của Bà AAB đang đi đến hồi kết, cả Bà lẫn Chân sư Tây Tạng đều kêu gọi huy động lực lượng. Thật vậy, chúng ta thấy động lực tiếp tục công việc do Chân sư DK và Bà AAB thúc đẩy đã được duy trì suốt nhiều năm, với khát vọng mãnh liệt và mục đích kiên định của hàng nghìn người.

30. The Masters work with the great advantage that they are aware of the cycles of inflow and outflow of spiritual energy. We have access to the timing of only a few cycles; they are cognizant of many.

30. Các Chân sư làm việc với lợi thế lớn là Các Ngài biết rõ những chu kỳ tuôn vào và tuôn ra của năng lượng tinh thần. Chúng ta chỉ có thể biết thời điểm của một vài chu kỳ; Các Ngài biết rõ nhiều chu kỳ.

31. The principle is clear, however: when there is an inflow, disciples and groups of disciples must work with it. When difficult energies and forces are present, they must learn to hold stead under the inevitable adversity.

31. Tuy nhiên, nguyên tắc rất rõ ràng: khi có một dòng năng lượng tuôn vào, các đệ tử và các nhóm đệ tử phải làm việc với dòng năng lượng ấy. Khi hiện diện những năng lượng và mãnh lực gây khó khăn, họ phải học cách đứng vững trước nghịch cảnh không thể tránh khỏi.

The organising and work of the Arcane School is the spiritual project of A.A.B. and with it I have nothing whatsoever to do, nor shall I ever in the future guide or take any part in the affairs of the Arcane School.

Việc tổ chức và công việc của Trường Arcane là dự án tinh thần của A.A.B., và Tôi hoàn toàn không liên quan đến dự án ấy; trong tương lai, Tôi cũng sẽ không bao giờ hướng dẫn hay tham gia vào các công việc của Trường Arcane.

32. This is clearly a protective statement. With the rash of psychic channeling that the Tibetan could well foresee, it might only be a matter of time before claims arose (following AAB’s death) stating that the Tibetan was guiding the Arcane School.

32. Đây rõ ràng là một lời tuyên bố nhằm bảo vệ. Với sự bùng phát của hoạt động truyền thông qua đồng tử mà Chân sư Tây Tạng hoàn toàn có thể thấy trước, có lẽ chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi xuất hiện những lời tuyên bố (sau khi Bà AAB qua đời) rằng Chân sư Tây Tạng đang hướng dẫn Trường Arcane.

33. Fortunately those who followed AAB’s footsteps as leaders of the Lucis Trust and Arcane School had the highest integrity and, thus, no hint of the Tibetan’s possible guidance emerged.

33. May thay, những người tiếp bước Bà AAB trong vai trò lãnh đạo Lucis Trust và Trường Arcane đều có sự chính trực cao nhất, nên không hề xuất hiện lời ám chỉ nào về khả năng Chân sư Tây Tạng hướng dẫn công việc.

That is the task of those whom A.A.B. will choose to carry on.

Đó là nhiệm vụ của những người mà A.A.B. sẽ chọn để tiếp nối.

34. We note that the one who started the School was at liberty to choose her successors. Given the nature of hierarchical work, this is as it should be.

34. Chúng ta lưu ý rằng người sáng lập Trường có quyền tự do chọn những người kế nhiệm mình. Xét bản chất công việc của Thánh đoàn, điều này là đúng đắn.

35. We note that the Tibetan was not speaking of only one individual for He uses the word “those”.

35. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng không chỉ nói đến một cá nhân, vì Ngài dùng từ “những người”.

It is a living organism [83] which will grow of its own inherent potentialities and under the spiritual inspiration of the energy coming from the Ashram of the Master K.H. in which A.A.B. is a worker and disciple.

Trường là một cơ thể sống [83] sẽ tăng trưởng nhờ những tiềm năng vốn có và dưới cảm hứng tinh thần của năng lượng đến từ ashram của Chân sư KH, nơi A.A.B. là một người hoạt động và một đệ tử.

36. It was certainly anticipated that the Arcane School would continue to grow even after AAB’s passing. This was indeed the case.

36. Chắc chắn đã có sự dự liệu rằng Trường Arcane sẽ tiếp tục phát triển ngay cả sau khi Bà AAB qua đời. Quả thực, điều đó đã xảy ra.

37. The Arcane School would grow “of its own inherent potentialities”—i.e., by means of the utilization of its own spiritual resources. We see that Master DK predicted that it would be supported by energy from the Ashram of Master KH. AAB is a member of that Ashram. May it be that some of the supporting energy might come from her after her passing?

37. Trường Arcane sẽ tăng trưởng “nhờ những tiềm năng vốn có”—nghĩa là nhờ sử dụng những nguồn lực tinh thần của chính mình. Chúng ta thấy Chân sư DK đã tiên đoán rằng năng lượng từ ashram của Chân sư KH sẽ hỗ trợ Trường. Bà AAB là thành viên của ashram ấy. Liệu có thể một phần năng lượng hỗ trợ ấy đến từ Bà sau khi Bà qua đời chăng?

38. The blessing of the Master and of His Ashram is sure to descend upon useful instruments, of which the Arcane School is and was certainly one. Having grown out of the Ashram of Master KH, it was sure to evoke His continued blessing if it held true to its original intention.

38. Ân phước của Chân sư và ashram của Ngài chắc chắn sẽ tuôn xuống những công cụ hữu ích, mà Trường Arcane chắc chắn đã và đang là một trong số đó. Vì phát triển từ ashram của Chân sư KH, Trường chắc chắn sẽ gợi lên ân phước liên tục của Ngài nếu giữ vững ý định ban đầu của mình.

I seek now to make a few comments anent the work for which A.A.B. has been responsible and for which F.B. will be responsible when she passes over.

Giờ đây, Tôi muốn đưa ra một vài nhận xét về công việc mà A.A.B. đã chịu trách nhiệm và F.B. sẽ chịu trách nhiệm khi bà qua đời.

39. The mantle of authority is passing, we see, to F.B (Foster Bailey)—JWK-P, as he is known in the DINA books.

39. Chúng ta thấy rằng trọng trách lãnh đạo đang được chuyển giao cho F.B (Foster Bailey)—người được biết đến trong các sách DINA với tên JWK-P.

During the years in which I have been in touch with all of you, much world work has been started, and the influence of the group of workers whom A.A.B. and F.B. have gathered around them has spread all over the world. I refer here to what they stand for internationally and—as a result of the spread of the teaching for which I am responsible—to the change which has been wrought in the general consciousness. That is far greater than you know.

Trong những năm Tôi giữ liên hệ với tất cả các bạn, nhiều công việc phụng sự thế gian đã được khởi xướng, và ảnh hưởng của nhóm người hoạt động mà A.A.B. cùng F.B. đã quy tụ quanh mình đã lan rộng khắp thế giới. Ở đây, Tôi muốn nói đến những điều họ đại diện trên bình diện quốc tế và sự thay đổi đã diễn ra trong tâm thức chung nhờ việc phổ biến giáo huấn mà Tôi chịu trách nhiệm. Sự thay đổi ấy lớn lao hơn các bạn biết rất nhiều.

40. It is clear from this description that AAB and FB are to be considered world disciples; the influence of their work has a world impact.

40. Qua mô tả này, rõ ràng chúng ta cần xem AAB và FB là những đệ tử thế giới; công việc của họ có ảnh hưởng và tác động trên toàn thế giới.

41. It is both interesting and heartening to realize that due to the work of AAB, FB and their band of workers, there has been a change (presumably for the better) “in the general consciousness”.

41. Thật vừa thú vị vừa phấn khởi khi nhận ra rằng nhờ công việc của AAB, FB và nhóm người hoạt động của họ, đã có một sự thay đổi (có lẽ theo chiều hướng tốt đẹp hơn) “trong tâm thức chung”.

42. The Master is always in a much better position to assess the value of esoteric work; human beings are, by comparison, short-sighted.

42. Chân sư luôn có khả năng đánh giá giá trị của công việc huyền bí tốt hơn nhiều; so với Ngài, con người có tầm nhìn hạn hẹp.

The world-wide spiritual ferment which has been consequently set up has been due to two main causes:

Sự chuyển động tinh thần trên toàn thế giới nảy sinh từ đó bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính:

43. DK seems to be equating the change in the general consciousness with the world-wide spiritual ferment. Is it surprising to us that the work of the Lucis Trust, the Arcane School and the Tibetan’s work has had such an effect?

43. Dường như Chân sư DK đang xem sự thay đổi trong tâm thức chung là tương đương với sự chuyển động tinh thần trên toàn thế giới. Chúng ta có ngạc nhiên khi công việc của Lucis Trust, Trường Arcane và Chân sư Tây Tạng đã tạo ra một tác động như vậy không?

1. The Arcane School as members have adhered to it in every land and have each in turn become distributors of light.

1. Trường Arcane, khi các thành viên ở mọi quốc gia gắn bó với Trường và mỗi người lần lượt trở thành một người phân phối ánh sáng.

44. The work of the Arcane School is one of the causes of the “world-wide spiritual ferment”. The implication is that adherence to the program of the school of is importance if the student is to become a distributor of light.

44. Công việc của Trường Arcane là một trong những nguyên nhân của “sự chuyển động tinh thần trên toàn thế giới”. Điều này hàm ý rằng việc tuân theo chương trình của Trường là quan trọng để đạo sinh trở thành một người phân phối ánh sáng.

2. The publication and distribution of my books everywhere; they are far more widely read than you have any idea.

2. Việc xuất bản và phân phối các cuốn sách của Tôi ở khắp nơi; số người đọc chúng đông hơn rất nhiều so với những gì các bạn hình dung.

45. This is a potent and heartening sentence. There is so little we know about the actual spread of the teaching. DK, however, can follow the distribution and the reading of His books.

45. Đây là một câu đầy sức mạnh và mang lại niềm phấn khởi. Chúng ta biết rất ít về mức độ phổ biến thực tế của giáo huấn. Tuy nhiên, Chân sư DK có thể theo dõi việc phân phối và việc đọc các cuốn sách của Ngài.

Out of the apprehension of truth by many thousands in many lands and the need for it to be put to practical use in these days of dire world need, two other modes of work were initiated: the Triangles and the Goodwill work. There is here no need for me to go into details anent these two spiritual enterprises. You know them well, though only a few of you have been truly interested or thrown yourselves, heart and soul, into assisting.

Từ sự lĩnh hội chân lý của hàng ngàn người ở nhiều quốc gia và nhu cầu đưa chân lý ấy vào ứng dụng thực tiễn trong những ngày thế giới đang hết sức thiếu thốn này, hai phương thức hoạt động khác đã được khởi xướng: công việc Tam Giác và công việc Thiện Chí. Ở đây, Tôi không cần đi vào chi tiết về hai hoạt động tinh thần ấy. Các bạn biết rõ chúng, dù chỉ một số ít người trong các bạn thực sự quan tâm hoặc hết lòng hết sức góp phần trợ giúp.

46. The reasons for the arising of the Triangles and Goodwill work is given:

46. Những lý do dẫn đến sự ra đời của công việc Tam Giác và Thiện Chí được nêu ra:

1. The apprehension of truth by many thousands in many lands

1. Sự lĩnh hội chân lý của hàng ngàn người ở nhiều quốc gia

2. The need to put that truth into practical use

2. Nhu cầu đưa chân lý ấy vào ứng dụng thực tiễn

47. As on a few other occasions, the Tibetan comments on His chela’s relative lack of interest in the Triangles and Goodwill work. We see what He really hoped for—that they would throw themselves heart and soul into assisting.

47. Như trong một vài dịp khác, Chân sư Tây Tạng nhận xét rằng các đệ tử của Ngài tương đối ít quan tâm đến công việc Tam Giác và Thiện Chí. Chúng ta thấy điều Ngài thực sự mong mỏi—rằng họ sẽ dốc hết tâm sức để hỗ trợ.

48. Thanks to the Internet, today the Triangles of Light are beaming from millions of websites.

48. Nhờ Internet, ngày nay các Tam Giác Ánh Sáng đang tỏa chiếu từ hàng triệu trang web.

The Arcane School is not one of my activities or enterprises, and has never been.

Trường Arcane không phải là một trong những hoạt động hay công trình của Tôi, và chưa bao giờ là như vậy.

49. DK repeats this assertion. It is probably as important that the AS never has been one of His enterprises as that it never will be. The lines are kept clear.

49. Chân sư DK lặp lại lời khẳng định này. Việc Trường Arcane chưa bao giờ là một trong những công trình của Ngài có lẽ cũng quan trọng như việc Trường sẽ không bao giờ là một công trình như thế. Các ranh giới luôn được giữ rõ ràng.

In view of the condition of esoteric schools (so called) in the world, when A.A.B. organised the Arcane School she deliberately refused to let me have anything to do with it, and I fully concurred in her decision.

Xét tình trạng của những trường được gọi là trường nội môn trên thế giới, khi tổ chức Trường Arcane, A.A.B. đã chủ ý không để Tôi có bất kỳ sự can dự nào, và Tôi hoàn toàn tán thành quyết định của bà.

50. We see that AAB’s sole management of the AS was a dual decision, mutually arrived at by AAB and DK.

50. Chúng ta thấy rằng việc một mình Bà AAB quản lý Trường Arcane là quyết định chung mà Bà AAB và Chân sư DK cùng đi đến.

51. The suggestion is that the condition of esoteric schools at the time of the founding of the AS was dismal. In fact, DK is suggesting that such esoteric schools were not esoteric schools at all.

51. Điều được hàm ý ở đây là tình trạng các trường nội môn vào thời điểm thành lập Trường Arcane rất đáng buồn. Thực ra, Chân sư DK đang hàm ý rằng những trường nội môn ấy hoàn toàn không phải là trường nội môn.

52. We understand that AAB had a strong will which served her high integrity.

52. Chúng ta hiểu rằng Bà AAB có một ý chí mạnh mẽ, giúp bà giữ vững sự chính trực cao độ của mình.

The extent of my connection with the School lies in the fact [84] that I outlined for her the degrees of the School, and once or twice—in my instructions used in the Disciples Degree—I appealed to the students for cooperation in some matter. Forget not that these instructions were not School instructions, but were the early form of my books and went out unchanged to the general public. Also, it has only been within the last five years that any correspondence course for the School has been arranged around one or other of my books.

Mối liên hệ của Tôi với Trường chỉ giới hạn ở việc [84] Tôi phác thảo cho bà các cấp học của Trường, và một đôi lần—trong những huấn thị của Tôi dùng ở Cấp Đệ Tử—Tôi đã kêu gọi các đạo sinh hợp tác trong một việc nào đó. Đừng quên rằng những huấn thị này không phải là huấn thị của Trường, mà là hình thức ban đầu của các cuốn sách của Tôi, và đã được phổ biến nguyên vẹn đến công chúng. Hơn nữa, chỉ trong năm năm vừa qua mới có những khóa học qua thư của Trường được xây dựng dựa trên một cuốn sách này hay một cuốn sách khác của Tôi.

53. The extent of Master DK’s minimal connection with the AS is given:

53. Phạm vi mối liên hệ rất hạn chế của Chân sư DK với Trường Arcane được nêu như sau:

1. The outlining of the degrees of the School (and thus we see a very deep wisdom lay behind the outline)

1. Phác thảo các cấp học của Trường (và do đó chúng ta thấy rằng đằng sau bản phác thảo ấy là một minh triết rất sâu sắc)

2. Occasional words of appeal for cooperation

2. Đôi lời kêu gọi hợp tác vào một vài dịp

54. This letter is written in the beginning of 1949, and so we see that only since 1944 has any of the correspondence courses of the Arcane School been focussed on one of Master DK’s books. This may come as a surprise.

54. Bức thư này được viết vào đầu năm 1949, nên chúng ta thấy rằng chỉ từ năm 1944 mới có khóa học qua thư của Trường Arcane tập trung vào một trong những cuốn sách của Chân sư DK. Điều này có thể khiến chúng ta ngạc nhiên.

55. DK takes care to distinguish between instructions which were really an early form of His books, and true Arcane School instructions.

55. Chân sư DK cẩn thận phân biệt những huấn thị vốn thực sự là hình thức ban đầu của các cuốn sách của Ngài với những huấn thị đích thực của Trường Arcane.

The policy of the School, its principles, curriculum and techniques, have been entirely those of A.A.B., working in conjunction with F.B. and after consultation with one or two senior students living in or around New York or in Europe.

Đường lối của Trường, các nguyên khí, chương trình học và kỹ thuật của Trường hoàn toàn là của A.A.B., do bà xây dựng cùng F.B. sau khi tham khảo ý kiến một hoặc hai đạo sinh cao niên sống tại hoặc quanh New York hay ở châu Âu.

56. A disciple is solely responsible for his or her service project, however much its motive might derive from hierarchical inspiration.

56. Một đệ tử hoàn toàn chịu trách nhiệm về dự án phụng sự của mình, cho dù động cơ của dự án ấy bắt nguồn từ cảm hứng của Thánh đoàn đến mức nào.

57. The Masters do not wish to cultivate a state of dependency in their disciples. Disciples are to be independent, enterprising people, fully capable of inaugurating, guiding and sustaining their own service projects.

57. Các Chân sư không muốn nuôi dưỡng trạng thái lệ thuộc nơi các đệ tử của Các Ngài. Đệ tử phải là những người độc lập, có tinh thần chủ động, hoàn toàn đủ khả năng khởi xướng, dẫn dắt và duy trì các dự án phụng sự của chính mình.

There has necessarily been questioning among senior students and in this group as to what will happen when A.A.B. passes on.

Tất nhiên, trong số các đạo sinh cao niên và trong nhóm này đã có những câu hỏi về điều gì sẽ xảy ra khi A.A.B. qua đời.

58. One must examine such questioning carefully, as it can arise from a hotbed of ambition.

58. Chúng ta phải xem xét kỹ những câu hỏi như thế, vì chúng có thể nảy sinh từ một ổ tham vọng.

The past record of this group in effective and steady work would not incite A.A.B. to have much confidence in your leadership. You have shown no organised group ability to take a piece of work embodying some one or other of my suggested spiritual enterprises and effectively work together for its furtherance.

Thành tích trước đây của nhóm này về công việc hữu hiệu và bền bỉ hẳn không khiến A.A.B. đặt nhiều tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của các bạn. Các bạn chưa thể hiện khả năng tổ chức của một nhóm trong việc đảm nhận một phần công việc thuộc một trong những hoạt động tinh thần mà Tôi đề xuất, rồi cùng nhau làm việc hữu hiệu để thúc đẩy công việc ấy. Với tư cách một nhóm,

59. We have more very straight talk from the Master to His chelas.

59. Chúng ta lại có thêm những lời rất thẳng thắn mà Chân sư nói với các đệ tử của Ngài.

60. One wonders to whom this letter was distributed—perhaps to a wider group than the few chelas remaining focussed on DK’s work in 1949. And yet, the Tibetan speaks of “leadership”, presumably because the remaining chelas are precisely those from whom leadership in the coming years could be expected.

60. Chúng ta tự hỏi bức thư này đã được gửi đến những ai—có lẽ đến một nhóm rộng hơn số ít đệ tử vẫn tập trung vào công việc của Chân sư DK vào năm 1949. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng nói đến “khả năng lãnh đạo”, có lẽ vì các đệ tử còn lại chính là những người mà người ta có thể trông đợi sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo trong những năm sắp tới.

61. AAB’s lack of confidence proved prophetic as the major schisms within the group in the early and mid 1950’s demonstrated.

61. Sự thiếu tin tưởng của AAB đã tỏ ra có tính tiên tri, như những cuộc chia rẽ lớn trong nhóm vào đầu và giữa thập niên 1950 đã cho thấy.

What have you done as a group to aid the Triangle work or the Goodwill work, or to throw yourselves successfully behind the work of the School? There are many outside the New Seed Group who have done a more consecrated and selfless task than have you, though there are a few exceptions. But, my brothers, out of fifty-one, how few!!

các bạn đã làm gì để trợ giúp công việc Tam Giác hay công việc Thiện Chí, hoặc để dốc sức hỗ trợ thành công cho công việc của Trường? Có nhiều người ngoài Nhóm Hạt Giống Mới đã thực hiện công việc với tinh thần thánh hiến và vô ngã hơn các bạn, dù cũng có một vài ngoại lệ. Nhưng, các huynh đệ của Tôi, trong số năm mươi mốt người, con số ấy ít ỏi biết bao!!

62. DK has wanted His chelas to focus principally in one or more of three areas—the Triangle work, the Goodwill work or the work of the Arcane School. Few, apparently, did so, or did so successfully.

62. Chân sư DK đã muốn các đệ tử của Ngài tập trung chủ yếu vào một hay nhiều lĩnh vực trong ba lĩnh vực—công việc Tam Giác, công việc Thiện Chí hoặc công việc của Trường Arcane. Dường như ít người đã làm như vậy, hoặc làm như vậy một cách thành công.

63. We note the words “as a group”. Some of His chelas, apparently, did consecrated and selfless work in these areas of service, but not the group as a whole.

63. Chúng ta lưu ý những từ “với tư cách một nhóm”. Dường như một số đệ tử của Ngài đã làm việc với tinh thần thánh hiến và vô ngã trong những lĩnh vực phụng sự này, nhưng không phải toàn thể nhóm.

64. It is a sad judgment that many outside the NSG did a better job of assisting the Tibetan’s enterprises than the members of his own group.

64. Đó là một nhận định đáng buồn: nhiều người ngoài NSG đã trợ giúp các hoạt động của Chân sư Tây Tạng tốt hơn các thành viên trong chính nhóm của Ngài.

When A.A.B. passes on she will leave the Arcane School and, with my full approval, all the other activities in the hands of F.B.She will leave also, in the departments, dedicated men who will continue to assume, as far as in them lies, the direction of the work, in consultation with F.B.

Khi qua đời, A.A.B. sẽ giao Trường Arcane và, với sự hoàn toàn tán thành của Tôi, tất cả những hoạt động khác vào tay F.B. Bà cũng sẽ để lại tại các bộ phận những người tận tụy, những người sẽ tiếp tục đảm nhận việc điều hành công việc trong khả năng của mình, sau khi tham khảo ý kiến F.B.

65. The first statement is again, one of protection. One can only imagine the fights that could arise concerning the best successor to AAB. The major responsibility goes to Foster Bailey.

65. Một lần nữa, lời khẳng định đầu tiên mang tính bảo vệ. Chúng ta chỉ có thể hình dung những cuộc tranh chấp có thể nảy sinh về người kế nhiệm AAB thích hợp nhất. Trách nhiệm chính thuộc về Foster Bailey.

66. We have also to question the Tibetan’s use of the word “men”. Does He mean males and not females? The following quotation from DINA II, 85-86 is of interest in this regard:

66. Chúng ta cũng phải đặt câu hỏi về việc Chân sư Tây Tạng dùng từ “men”. Có phải Ngài muốn nói đến nam giới chứ không phải nữ giới? Đoạn trích sau đây từ DINA II, 85-86 đáng chú ý về phương diện này:

“Keep the personnel of the work as far as possible masculine and put no sixth ray people in positions of influence; they know not how to cooperate and are frequently points of dissension and dislike.”

“Hãy giữ cho nhân sự của công việc là nam giới trong chừng mực có thể và đừng đặt người cung sáu vào những vị trí có ảnh hưởng; họ không biết cách hợp tác và thường là những điểm phát sinh bất hòa và ác cảm.”

67. Have times changed since the Tibetan wrote this? Would He write it again or has there been an important equalization of genders? Varying points of view exist in regard to these questions.

67. Thời thế có thay đổi kể từ khi Chân sư Tây Tạng viết điều này không? Liệu Ngài có viết lại điều ấy hay giữa hai giới đã có sự bình đẳng đáng kể? Có nhiều quan điểm khác nhau về những câu hỏi này.

There will be no need whatsoever for any reorganisation. Why should there be? A.A.B. has been interested in and has initiated, with F.B., all departments. She has never been a worker in any of them, which may be a new idea to you. When she finishes her job there is no gap in any department. So why reorganisation?

Sẽ hoàn toàn không cần bất kỳ sự tái tổ chức nào. Tại sao lại cần? A.A.B. đã quan tâm đến và cùng F.B. khởi xướng tất cả các bộ phận. Bà chưa từng là người trực tiếp làm việc trong bất kỳ bộ phận nào, điều này có thể là một ý tưởng mới đối với các bạn. Khi bà hoàn tất phần việc của mình, không bộ phận nào có chỗ trống. Vậy tại sao phải tái tổ chức?

68. These are also protective statements. Upon the death of a presiding figure, co-workers inevitably seek to put their own long suppressed ideas into effect. This can be beneficial, but in this case would disrupt and retard well-established work.

68. Đây cũng là những lời nhằm bảo vệ công việc. Khi người chủ trì qua đời, những người cộng sự tất yếu sẽ tìm cách thực hiện những ý tưởng riêng mà họ đã kìm nén từ lâu. Điều này có thể mang lại lợi ích, nhưng trong trường hợp này sẽ gây xáo trộn và làm chậm trễ công việc đã có nền tảng vững chắc.

69. All departments have already been organized and AAB has never been a worker in any of them. Her impending death, therefore, does not threaten any continuity.

69. Tất cả các bộ phận đều đã được tổ chức và AAB chưa từng là người trực tiếp làm việc trong bất kỳ bộ phận nào. Vì vậy, việc bà sắp qua đời không đe dọa tính liên tục của bất kỳ công việc nào.

The work will go on with the same workers, and new ones will be added as need arises.

Công việc sẽ tiếp tục với những người hoạt động hiện có, và những người mới sẽ được bổ sung khi có nhu cầu.

70. The Tibetan clearly desires the smoothest possible transition.

70. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng mong muốn sự chuyển tiếp diễn ra êm thuận nhất có thể.

Young workers must be chosen who may not see things as all of [85] you see them, and in that lies the hope of the work’s persistence, for most of you are too old for the work of reconstruction and too crystallised;

Phải chọn những người hoạt động trẻ tuổi, những người có thể nhìn sự việc khác với tất cả [85] các bạn; chính trong đó có niềm hy vọng cho sự tiếp nối lâu dài của công việc, vì đa số các bạn đã quá lớn tuổi để đảm nhận công việc tái thiết và đã quá kết tinh;

71. DK is asking His chelas to be flexible and to recognize potential co-workers even when they do not see things in the same way.

71. Chân sư DK yêu cầu các đệ tử của Ngài linh hoạt và nhận ra những người cộng sự tiềm năng ngay cả khi họ không nhìn sự việc theo cùng một cách.

72. The work will not persist if left solely in the hands of crystallized people. DK is offering a very frank assessment.

72. Công việc sẽ không thể tiếp nối lâu dài nếu chỉ giao vào tay những người đã kết tinh. Chân sư DK đưa ra một nhận định rất thẳng thắn.

you can, however, form a strong foundation and give courage to the young ones. Most of you are too anxious to see the old methods and modes of work perpetuated. I and A.A.B. are more interested in seeing that the need of the youth of the world is met. The principles of the Ageless Wisdom must be preserved, but all outworn forms must go.

tuy nhiên, các bạn có thể tạo thành một nền tảng vững chắc và tiếp thêm can đảm cho những người trẻ. Đa số các bạn quá nóng lòng muốn thấy các phương pháp và cách thức làm việc cũ được duy trì mãi. Tôi và A.A.B. quan tâm hơn đến việc bảo đảm đáp ứng nhu cầu của giới trẻ trên thế giới. Phải gìn giữ các nguyên khí của Minh Triết Ngàn Đời, nhưng mọi hình thức lỗi thời đều phải ra đi.

73. DK alerts His chelas to the fact that He is more interested in substance than in form.

73. Chân sư DK lưu ý các đệ tử của Ngài rằng Ngài quan tâm đến chất liệu hơn là hình tướng.

74. He states clearly how the older chelas can help and how they must avoid getting in the way of change.

74. Ngài nêu rõ những đệ tử lớn tuổi có thể giúp đỡ như thế nào và họ phải làm gì để tránh cản trở sự thay đổi.

75. The last statement is critical and must be applied now as then: “The principles of the Ageless Wisdom must be preserved, but all outworn forms must go.”

75. Lời khẳng định cuối cùng có tầm quan trọng then chốt và phải được áp dụng lúc này cũng như khi ấy: “Phải gìn giữ các nguyên khí của Minh Triết Ngàn Đời, nhưng mọi hình thức lỗi thời đều phải ra đi.”

The success and growth of the work will depend upon the smooth transition which can be made between the past and the coming new world; it will be dependent upon the determination of the workers to continue with what they are doing, to renew their dedication and above all, their vision; to eliminate all desire for prominence in the work and all ambition, and with a will to meet the need in the new ways, with the expanded truths and with no dogmatism.

Sự thành công và tăng trưởng của công việc sẽ tùy thuộc vào khả năng thực hiện một sự chuyển tiếp êm thuận giữa quá khứ và thế giới mới sắp đến; nó sẽ tùy thuộc vào quyết tâm của những người hoạt động tiếp tục công việc đang làm, đổi mới sự tận hiến và trên hết là tầm nhìn của mình; loại bỏ mọi ham muốn được nổi bật trong công việc và mọi tham vọng, đồng thời có ý chí đáp ứng nhu cầu bằng những cách thức mới, với những chân lý được mở rộng và không có tính giáo điều.

76. Let us tabulate DK’s description of the meaning of a smooth transition between the past and the coming new world:

76. Chúng ta hãy liệt kê những điều Chân sư DK mô tả về ý nghĩa của một sự chuyển tiếp êm thuận giữa quá khứ và thế giới mới sắp đến:

a. Workers must be determined to continue with what they are doing

a. Những người hoạt động phải quyết tâm tiếp tục công việc họ đang làm

b. Workers must renew their dedication

b. Những người hoạt động phải đổi mới sự tận hiến của mình

c. Workers must, above all, renew their vision

c. Trên hết, những người hoạt động phải đổi mới tầm nhìn của mình

d. Workers must eliminate all desire for prominence in the work

d. Những người hoạt động phải loại bỏ mọi ham muốn được nổi bật trong công việc

e. Workers must eliminate all ambition

e. Những người hoạt động phải loại bỏ mọi tham vọng

f. Workers must cultivate the will to meet the need in the new ways

f. Những người hoạt động phải vun bồi ý chí đáp ứng nhu cầu bằng những cách thức mới

g. Workers must continue to cultivate expanded truths and avoid dogmatism

g. Những người hoạt động phải tiếp tục vun bồi những chân lý được mở rộng và tránh chủ nghĩa giáo điều

I am looking for no new “stenographers” to take the place of A.A.B. and shall dictate to none of you.

Tôi không tìm kiếm những “người tốc ký” mới để thay thế A.A.B., và sẽ không đọc cho bất kỳ ai trong các bạn ghi lại.

77. Here is a most potent and important sentence, stated emphatically. There is a rash of those who are, today, supposedly channeling or taking dictation from Master DK. If those chelas who were specifically trained by Him were not to be used as “stenographers”, how much less would those with little training be suitable! Yet the delusion persists and many people with confidence take down the words of the astral thoughtform of the Master.

77. Đây là một câu hết sức mạnh mẽ và quan trọng, được phát biểu dứt khoát. Ngày nay, xuất hiện tràn lan những người được cho là đang làm kênh truyền hoặc ghi lại lời đọc của Chân sư DK. Nếu ngay cả những đệ tử do chính Ngài đặc biệt huấn luyện cũng không được dùng làm “người tốc ký”, thì những người ít được huấn luyện còn kém thích hợp hơn biết bao! Thế nhưng, ảo tưởng ấy vẫn dai dẳng, và nhiều người tự tin ghi lại những lời của hình tư tưởng về Chân sư trên cõi cảm dục.

You have masses of undigested material with which to work, and enough teaching to express and make available to the public for twenty-five years to come.

Các bạn có một khối lượng lớn tài liệu chưa được thấm nhuần để làm việc, cùng đủ giáo huấn để diễn đạt và phổ biến đến công chúng trong hai mươi lăm năm tới.

78. Might this be an underestimation? When considering books like A Treatise on Cosmic Fire, and Esoteric Astrology a span of one hundred years might be more suitable.

78. Liệu đây có phải là một sự đánh giá quá thấp không? Khi xét đến những cuốn sách như Luận về Lửa Vũ Trụ, và Chiêm Tinh Học Nội Môn thì khoảng thời gian một trăm năm có lẽ thích hợp hơn.

You have enough information from me to enable you to make your individual contact with me if you follow the rules and live the outer life of a disciple.

Các bạn đã nhận đủ thông tin từ Tôi để có thể tự mình thiết lập mối tiếp xúc riêng với Tôi, nếu các bạn tuân theo các quy luật và sống đời sống bên ngoài của một đệ tử.

79. Direct contact with the Master is possible, despite the danger of astralism. Within the teaching, the method is given. Fulfilling the requirements indicate the difference between success and failure:

79. Có thể tiếp xúc trực tiếp với Chân sư, bất chấp nguy cơ sa vào các hiện tượng cảm dục. Giáo huấn đã nêu phương pháp. Việc đáp ứng các yêu cầu quyết định sự khác biệt giữa thành công và thất bại:

1. One must follow the rules

1. Phải tuân theo các quy luật

2. One must life the outer life of a disciple

2. Phải sống đời sống bên ngoài của một đệ tử

80. If we would have such direct contact, let us ponder the requirements.

80. Nếu muốn có sự tiếp xúc trực tiếp như vậy, chúng ta hãy suy ngẫm về các yêu cầu ấy.

It is the books which bring people into the various phases of the work; you can aid in keeping them in constant circulation, and you can also hold together subjectively so that the relation of the group to the Ashram is still preserved and externalisation later can still be possible.

Chính các cuốn sách đưa con người đến với những phương diện khác nhau của công việc; các bạn có thể góp phần giữ cho chúng được lưu hành liên tục, và cũng có thể duy trì sự gắn kết ở bên trong để mối quan hệ của nhóm với ashram vẫn được gìn giữ và sự ngoại hiện về sau vẫn có thể diễn ra.

81. The value of the books as a magnet is emphasized. These books, even today, must be kept in constant circulation. This would mean the promotion of the AAB CD ROM as well—a great synthetic tool.

81. Giá trị của các cuốn sách như một nam châm được nhấn mạnh. Ngay cả ngày nay, những cuốn sách này vẫn phải được lưu hành liên tục. Điều này cũng có nghĩa là quảng bá đĩa CD ROM AAB—một công cụ tổng hợp tuyệt vời.

82. Although DK has disbanded the outer group, He is asking the remaining group members to perverse their subjective cohesion. He appears to be looking to the future possibility of externalizing His Ashram. This will only be possible if the “relation of the group to the Ashram is still preserved”.

82. Mặc dù Chân sư DK đã giải tán nhóm bên ngoài, Ngài vẫn yêu cầu những thành viên còn lại của nhóm duy trì sự gắn kết chủ quan của họ. Dường như Ngài đang hướng tới khả năng ngoại hiện Ashram của Ngài trong tương lai. Điều này chỉ có thể thực hiện nếu “mối liên hệ của nhóm với Ashram vẫn được duy trì”.

83. We may wonder: “How much later is later?” It is important to remember that certain of the Masters must be (with their outer groups) well established and well recognized before it will be possible for the Christ to return.

83. Chúng ta có thể tự hỏi: “Sau này là bao lâu nữa?” Cần nhớ rằng một số Chân sư, cùng với các nhóm bên ngoài của Các Ngài, phải có chỗ đứng vững chắc và được biết đến rộng rãi trước khi Đức Christ có thể trở lại.

Those are the two major undertakings with which I present you;

Đó là hai nhiệm vụ chính mà Tôi đặt trước các bạn;

84. Distributing the books and maintaining the subjective cohesion of the outer remaining group.

84. Phân phối các cuốn sách và duy trì sự gắn kết chủ quan của nhóm bên ngoài còn lại.

and these with your intensified individual approach and the work of the Triangles and Goodwill, will provide you with much to do.

cùng với việc tăng cường sự tiếp cận của từng cá nhân và công việc Tam Giác cùng Thiện Chí, những nhiệm vụ ấy sẽ cho các bạn nhiều việc để làm.

85. DK is also asking for an intensified individual approach. The need for individual striving must never be overlooked. The DINA disciples had been given so much of individual as well as group import. So little had been applied, not only to the group process but individually.

85. Chân sư DK cũng yêu cầu mỗi cá nhân tăng cường sự tiếp cận. Không bao giờ được xem nhẹ sự cần thiết của nỗ lực cá nhân. Các đệ tử DINA đã nhận được rất nhiều điều có ý nghĩa đối với cả cá nhân lẫn nhóm. Rất ít điều đã được áp dụng, không chỉ vào tiến trình nhóm mà cả ở từng cá nhân.

Throw yourselves behind those who have made themselves responsible—under F.B.—for the Triangles and Goodwill work. Make their work possible and avoid interference; they will make mistakes, and these you will be prompt to note; your sole duty is to stand by. Mistakes do not matter if clarity of vision, spiritual persistence and love accompany them.

Hãy dốc sức hỗ trợ những người đã đảm nhận trách nhiệm—dưới sự chỉ đạo của F.B.—đối với công việc Tam Giác và Thiện Chí. Hãy tạo điều kiện cho họ làm việc và tránh can thiệp; họ sẽ mắc sai lầm, và các bạn sẽ nhanh chóng nhận ra những sai lầm ấy; bổn phận duy nhất của các bạn là sát cánh hỗ trợ. Sai lầm không đáng ngại nếu đi cùng với tầm nhìn sáng rõ, sự kiên trì tinh thần và tình thương. Trong chừng mực có thể,

86. DK is becoming almost directive. He is urging His chelas to take up certain lines of work and to follow the guidance of FB. He knows their spirit of criticism and tries to warn them against it.

86. Chân sư DK gần như đang đưa ra chỉ thị. Ngài thúc giục các đệ tử của Ngài đảm nhận một số hướng công việc và làm theo sự hướng dẫn của FB. Ngài biết tinh thần chỉ trích của họ và cố gắng cảnh báo họ tránh điều đó.

87. If we take this advice to heart we will realize that when we notice mistakes in our co-workers, our immediate task is not to criticize and interfere, but to “stand by”. “Lo, I am with you, even unto the end of the Age.”

87. Nếu khắc ghi lời khuyên này, chúng ta sẽ nhận ra rằng khi nhận thấy sai lầm ở những người cộng sự, nhiệm vụ trước mắt của chúng ta không phải là chỉ trích và can thiệp, mà là “sát cánh hỗ trợ”. “Này, Ta ở cùng các con, cho đến tận cùng Kỷ Nguyên.”

88. Let us see if we are possessed of clarity of vision, spiritual persistence and love. If so, our mistakes, too, will not matter. We have but to persist spiritually, lovingly and with clarity of vision. This is a remedy against discouragement.

88. Chúng ta hãy xem mình có tầm nhìn sáng rõ, sự kiên trì tinh thần và tình thương hay không. Nếu có, những sai lầm của chúng ta cũng sẽ không đáng ngại. Chúng ta chỉ cần kiên trì về mặt tinh thần, với tình thương và tầm nhìn sáng rõ. Đây là phương thuốc chống lại sự nản lòng.

Keep the personnel of the work as far as possible masculine [86] and put no sixth ray people in positions of influence; they know not how to cooperate and are frequently points of dissension and dislike.

hãy duy trì thành phần nhân sự của công việc chủ yếu là nam giới [86] và đừng đặt người cung sáu vào những vị trí có ảnh hưởng; họ không biết cách hợp tác và thường là những điểm gây bất hòa và ác cảm.

89. In today’s world this is a controversial statement. Later we will know whether the statement was conditioned by the social circumstances of the times or whether there was some deeper occult import.

89. Trong thế giới ngày nay, đây là một phát biểu gây tranh cãi. Sau này, chúng ta sẽ biết liệu phát biểu ấy chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội thời đó hay mang một ý nghĩa huyền bí sâu xa hơn.

90. The divisiveness towards which those upon the sixth ray tend is referenced. In general, one ray is as good as another, and true disciples and initiates are obviously found upon all the rays, but there are certain sixth ray tendencies which, apparently, did not accord well with the kind of work DK was seeking to see done.

90. Ở đây đề cập đến khuynh hướng gây chia rẽ của những người thuộc cung sáu. Nhìn chung, cung nào cũng tốt như nhau, và hiển nhiên trên mọi cung đều có các đệ tử và điểm đạo đồ chân chính, nhưng dường như có một số khuynh hướng của cung sáu không phù hợp lắm với loại công việc mà Chân sư DK mong muốn thấy được thực hiện.

91. In today’s world we easily see the violence and dissension arising from the blatant misuse of sixth ray energy. It is a ray which can incline those it influences to be most resistant to reason.

91. Trong thế giới ngày nay, chúng ta dễ dàng thấy bạo lực và bất hòa phát sinh từ việc lạm dụng trắng trợn năng lượng cung sáu. Đây là một cung có thể khiến những người chịu ảnh hưởng của nó có khuynh hướng hết sức khước từ lý lẽ.

You see, my brothers, I am making no startling plans for handling the work in the event of the death of A.A.B. I suggest no changes. I would like to see the work left in the hands of those who are already doing it;

Các huynh đệ của Tôi, các bạn thấy đấy, Tôi không đưa ra những kế hoạch gây sửng sốt nào để điều hành công việc trong trường hợp A.A.B. qua đời. Tôi không đề nghị thay đổi gì. Tôi muốn thấy công việc tiếp tục nằm trong tay những người hiện đang thực hiện nó;

92. DK repeats Himself, as is so often necessary if there is to be perfect clarity. It is a shame that despite the care He took to create a smooth transition, group unity and cohesion broke down within a relatively short time after AAB’s death.

92. Chân sư DK nhắc lại lời Ngài, như vẫn thường cần làm để mọi điều được hoàn toàn rõ ràng. Thật đáng tiếc rằng, dù Ngài đã cẩn thận tạo dựng một sự chuyển tiếp suôn sẻ, sự hợp nhất và gắn kết của nhóm đã tan vỡ trong một thời gian tương đối ngắn sau khi Bà AAB qua đời.

I suggest the addition of young people to the group of workers as need arises and place occurs. I suggest that the work be kept fluid, as A.A.B. has always kept it.

Tôi đề nghị bổ sung những người trẻ vào nhóm người hoạt động khi có nhu cầu và có chỗ. Tôi đề nghị giữ cho công việc linh động, như A.A.B. vẫn luôn làm.

93. DK is summarizing His points:

93. Chân sư DK đang tóm lược những điểm Ngài đã nêu:

a. No changes

a. Không thay đổi gì

b. The work is to be left in the hands of those who are already doing it

b. Công việc cần tiếp tục nằm trong tay những người đang thực hiện nó

c. Young people are to be added to the work

c. Cần bổ sung những người trẻ vào công việc

d. The work is to be kept fluid, as AAB kept it.

d. Cần giữ cho công việc linh động, như Bà AAB đã làm.

94. With regard to fluidity, we must remember that AAB was a Gemini—a sign known for its intelligent fluidity.

94. Về tính linh động, chúng ta phải nhớ rằng Bà AAB thuộc dấu hiệu Song Tử—một dấu hiệu nổi tiếng về tính linh động thông minh.

Above all else, remember that the work of the Triangles, the Goodwill work and the Arcane School is that of an organism and not an organisation, and it will grow through its own inherent life and not through planning.

Trên hết, hãy nhớ rằng công việc Tam Giác, công việc Thiện Chí và Trường Arcane là công việc của một cơ thể sống, chứ không phải của một tổ chức, và nó sẽ tăng trưởng nhờ sự sống vốn có của chính mình, chứ không nhờ việc hoạch định.

95. As students of occultism we often speak of the contrast between an “organization” and an “organism”.

95. Là những đạo sinh huyền bí học, chúng ta thường nói về sự tương phản giữa một “tổ chức” và một “cơ thể sống”.

96. Two distinct approaches are noted with respect to the factor of growth:

96. Có hai cách tiếp cận khác biệt đối với yếu tố tăng trưởng:

1. An organism grows through its own inherent life

1. Một cơ thể sống tăng trưởng nhờ sự sống vốn có của chính mình

2. An organization grows through planning

2. Một tổ chức tăng trưởng nhờ việc hoạch định

97. The first method suggests the use of the second ray and the second method, the use of the third.

97. Phương pháp thứ nhất gợi ý việc sử dụng cung hai, còn phương pháp thứ hai gợi ý việc sử dụng cung ba.

98. DK did not want to see His work subject to manipulation—an external method. He sought to preserve the subjective attitude.

98. Chân sư DK không muốn thấy công việc của Ngài chịu sự thao túng—một phương pháp từ bên ngoài. Ngài tìm cách gìn giữ thái độ chủ quan.

99. Of course, it is difficult to prevent an organism from becoming an organization. The organizational approach is the line of least resistance for concrete-minded man.

99. Dĩ nhiên, khó ngăn một cơ thể sống trở thành một tổ chức. Cách tiếp cận theo lối tổ chức là con đường ít trở ngại nhất đối với người có lối tư duy cụ thể.

If this is borne in mind, you will see where some of you have been in error, both in criticism and in planning the future of the various aspects of the work.

Nếu ghi nhớ điều này, các bạn sẽ thấy một số người trong các bạn đã sai ở đâu, cả trong việc phê bình lẫn việc hoạch định tương lai cho những phương diện khác nhau của công việc.

100. Sensing that AAB was moving towards her transition, some of the DINA disciples, apparently had been both criticizing the present set up and ‘planning’ for a better one. DK notes their error in approach and corrects it.

100. Cảm nhận rằng Bà AAB đang tiến gần đến lúc chuyển tiếp, một số đệ tử DINA dường như đã vừa phê bình cơ cấu hiện tại vừa ‘hoạch định’ một cơ cấu tốt hơn. Chân sư DK chỉ ra sai lầm trong cách tiếp cận của họ và chỉnh đốn điều đó.

101. One can only imagine the objectivity of AAB as she took down dictation on these points.

101. Chúng ta chỉ có thể hình dung sự khách quan của Bà AAB khi Bà ghi lại lời đọc về những điểm này.

The work will go on in the strength of its own inherent life; it will be damaged by planning, interference and organisation. Let the work alone, giving it assiduous attention and meeting its needs as they arise.

Công việc sẽ tiếp tục nhờ sức mạnh của sự sống vốn có; việc hoạch định, can thiệp và tổ chức sẽ làm tổn hại nó. Hãy để công việc tự vận hành, đồng thời quan tâm chăm chút và đáp ứng các nhu cầu khi chúng nảy sinh.

102. DK repeats the value of the “inherent life” of the work. He also definitely states that planning, interference and organization will damage it. Planning belongs especially to the third ray, interference to the sixth and organization to the seventh.

102. Chân sư DK nhắc lại giá trị của “sự sống vốn có” của công việc. Ngài cũng khẳng định dứt khoát rằng việc hoạch định, can thiệp và tổ chức sẽ làm tổn hại công việc. Việc hoạch định đặc biệt thuộc về cung ba, sự can thiệp thuộc về cung sáu và việc tổ chức thuộc về cung bảy.

The Triangle work and the Goodwill work are in the hands of young people who must be strengthened, trusted and encouraged. The Invocation work, tied in with the Goodwill work, the Triangles and the School, is moving steadily forward and is the responsibility of all three. If rightly handled, its distribution will be automatic, mechanical and momentous.

Công việc Tam Giác và công việc Thiện Chí đang nằm trong tay những người trẻ cần được tiếp sức, tin cậy và khích lệ. Công việc Khẩn Cầu, gắn liền với công việc Thiện Chí, các Tam Giác và Trường, đang đều đặn tiến lên và là trách nhiệm của cả ba. Nếu được điều hành đúng đắn, việc phổ biến lời Khẩn Cầu sẽ diễn ra tự động, theo guồng vận hành và tạo ảnh hưởng lớn lao.

103. Several kinds of work are discussed, but the task of distributing the Great Invocation is shared by all three—Triangles, World Goodwill and the Arcane School.

103. Đoạn này bàn đến một số loại công việc, nhưng cả ba—Tam Giác, Thiện Chí Thế Giới và Trường Arcane—cùng chia sẻ nhiệm vụ phổ biến Đại Khấn Nguyện.

104. DK uses arresting words to discuss the right handling of the Invocation work: the distribution of the Great Invocation will be “automatic, mechanical and momentous”. The Great Invocation has a stupendous magnetism, and the disciples are not to interfere with the natural working of that magnetism.

104. Chân sư DK dùng những từ ngữ gây chú ý để bàn về việc điều hành đúng đắn công việc Khẩn Cầu: việc phổ biến Đại Khấn Nguyện sẽ diễn ra “tự động, theo guồng vận hành và tạo ảnh hưởng lớn lao”. Đại Khấn Nguyện có một sức hút từ tính phi thường, và các đệ tử không được can thiệp vào sự vận hành tự nhiên của sức hút từ tính ấy.

105. Elsewhere DK tells us that the Great Invocation is our greatest means to prepare men’s minds and hearts for the Reappearance.

105. Ở một nơi khác, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng Đại Khấn Nguyện là phương tiện lớn lao nhất của chúng ta để chuẩn bị trí và tâm của con người cho sự Tái Lâm.

The various phases of the work will proceed as desired if all talk of executive heads, of assumed responsibility, and of the need for the New Seed Group is ended.

Những phương diện khác nhau của công việc sẽ tiến triển như mong muốn nếu chấm dứt mọi bàn luận về những người đứng đầu điều hành, về trách nhiệm tự nhận và về sự cần thiết của Nhóm Hạt Giống Mới.

106. DK knows well what is in the minds of His chelas—thoughts which relate to organization rather than to organism. One can detect in some an ambitious response to AAB’s inevitable transition.

106. Chân sư DK biết rõ những gì đang ở trong thể trí các đệ tử của Ngài—những tư tưởng liên quan đến tổ chức hơn là đến một cơ thể sống. Chúng ta có thể nhận thấy ở một số người phản ứng đầy tham vọng trước sự chuyển tiếp tất yếu của Bà AAB.

The thought of reorganisation must be dropped; it would immediately disrupt the present smoothly working organism. A transition carried forward without any change or difficulty will greatly reassure all groups.

Phải từ bỏ ý nghĩ tái tổ chức; nó sẽ lập tức phá vỡ cơ thể sống hiện đang vận hành êm thuận. Một sự chuyển tiếp diễn ra mà không có thay đổi hay khó khăn nào sẽ giúp tất cả các nhóm hết sức an tâm.

107. It is very interesting how often DK repeats certain points—in this case the need for a smooth transition.

107. Thật thú vị khi thấy Chân sư DK thường xuyên nhắc lại một số điểm đến thế—trong trường hợp này là sự cần thiết của một cuộc chuyển tiếp êm thuận.

Young people should be found and trained—trained in the principles. There should be no doctrinal teaching given. If it is, inevitably the School will die. The new truths are being fast recognised, but it is youth which is recognising them.

Cần tìm kiếm và huấn luyện những người trẻ—huấn luyện về các nguyên khí. Không nên truyền dạy theo lối giáo điều. Nếu làm vậy, Trường tất yếu sẽ chết. Những chân lý mới đang nhanh chóng được nhận biết, nhưng chính giới trẻ đang nhận biết chúng.

108. The Tibetan gives advice concerning the continuance of the work. It will not continue without young people properly trained.

108. Chân sư Tây Tạng đưa ra lời khuyên về việc tiếp tục công việc. Công việc sẽ không thể tiếp tục nếu thiếu những người trẻ được huấn luyện đúng đắn.

109. Training in principles rather than in doctrine and dogma is essential. He offers a very flat statement—the School will die if the teaching becomes doctrinal. The young people of that day would not stand it; neither will the young people of our own era.

109. Điều thiết yếu là huấn luyện về các nguyên khí thay vì về giáo lý và giáo điều. Ngài đưa ra một khẳng định hết sức dứt khoát—Trường sẽ chết nếu việc giảng dạy trở nên giáo điều. Những người trẻ thời ấy sẽ không chấp nhận điều đó; những người trẻ trong thời đại chúng ta cũng vậy.