← Commentary DINA II (webinar 24-35)

June 1946

Trích nội dung chương

The papers which I am at this time sending out to you are perhaps the most important which you have ever received. [74] This is so—not from the teaching angle—but from the angle of the Ashram with which you are affiliated. Những tài liệu mà lúc này Tôi đang gửi đến các bạn có lẽ là những tài liệu quan trọng nhất mà các bạn từng nhận được. [74] Sở dĩ như vậy—không phải xét từ góc độ giáo huấn—mà từ góc độ của ashram mà các bạn liên kết.


June 1946

Tháng Sáu năm 1946

MY BROTHERS:

CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

The papers which I am at this time sending out to you are perhaps the most important which you have ever received. [74] This is so—not from the teaching angle—but from the angle of the Ashram with which you are affiliated.

Những tài liệu mà lúc này Tôi đang gửi đến các bạn có lẽ là những tài liệu quan trọng nhất mà các bạn từng nhận được. [74] Sở dĩ như vậy—không phải xét từ góc độ giáo huấn—mà từ góc độ của ashram mà các bạn liên kết.

1. The paper being sent is not a ‘teaching’ paper, but is will inevitably convey its quite difficult lesson.

1. Tài liệu đang được gửi đi không phải là một tài liệu ‘giáo huấn’, nhưng chắc chắn nó sẽ truyền đạt bài học khá khó khăn của mình.

2. In this letter the Tibetan is informing His chelas in the New Seed Group of its dissolution.

2. Trong bức thư này, Chân sư Tây Tạng thông báo cho các đệ tử của Ngài trong Nhóm Hạt Giống Mới về việc giải thể nhóm.

3. Those receiving this letter are all affiliated with the Tibetan’s Ashram regardless of the major Ashram with which they are already affiliated or will one day be so.

3. Tất cả những người nhận bức thư này đều có mối liên kết với ashram của Chân sư Tây Tạng, bất kể ashram chính mà họ đã liên kết hoặc một ngày kia sẽ liên kết.

I would like to start by emphasising the fact of your affiliation, because it is a subjective relation with which nothing can permanently interfere.

Tôi muốn bắt đầu bằng cách nhấn mạnh sự thật về mối liên kết của các bạn, vì đây là một mối quan hệ chủ quan mà không gì có thể vĩnh viễn cản trở.

4. This is a note of reassurance in the face of distressing information to be imparted.

4. Đây là lời trấn an trước thông tin gây đau buồn sắp được truyền đạt.

There may come these interludes (where neophytes are concerned) when the relationship seems severed, and others wherein the disciple appears to be making no progress at all and has nothing to contribute to the life of the Ashram.

Có thể có những khoảng gián đoạn (đối với người sơ cơ) khi mối quan hệ dường như bị cắt đứt, và những khoảng khác khi đệ tử dường như hoàn toàn không tiến bộ và chẳng có gì để đóng góp cho đời sống ashram.

5. The Tibetan is informing His group of students that they are essentially “neophytes”.

5. Chân sư Tây Tạng đang cho nhóm đạo sinh của Ngài biết rằng về cơ bản họ là những “người sơ cơ”.

6. Three types of distressing possibilities in the life of the neophytes are here mentioned:

6. Ở đây có đề cập đến ba loại khả năng gây đau buồn trong đời sống của những người sơ cơ:

a. A period during which ashramic affiliation seems severed

a. Một giai đoạn mà mối liên kết với ashram dường như bị cắt đứt

b. A period in which the disciple appears to be making no progress

b. Một giai đoạn mà đệ tử dường như không có tiến bộ nào

c. A period in which the disciple appears to have nothing to contribute to the life of the Ashram

c. Một giai đoạn mà đệ tử dường như chẳng có gì để đóng góp cho đời sống ashram

7. It seems clear that all of the disciples who received this letter would find themselves in one or all of the three categories.

7. Dường như rõ ràng là tất cả các đệ tử nhận bức thư này đều sẽ thấy mình rơi vào một hoặc cả ba trường hợp ấy.

But—in the turning of the wheel of life—lessons are learnt, and usefulness returns.

Nhưng—trong vòng quay của bánh xe sự sống—những bài học vẫn được học, và khả năng hữu ích trở lại.

8. The note of hope is conferred. It will take time before the necessary lessons are learnt and usefulness (for this particular group of disciples— as a group ) returns.

8. Âm điệu hy vọng được ban trao. Cần có thời gian để học những bài học cần thiết và để tính hữu dụng (của nhóm đệ tử cụ thể này— với tư cách một nhóm ) trở lại.

I would like to ask you to read this with care, with detachment, with undimmed aspiration, and with the realisation that this present life is but a minute in the life of the soul.

Tôi muốn đề nghị các bạn đọc những điều này một cách cẩn trọng, với sự tách rời, với khát vọng không suy giảm, và với nhận thức rằng kiếp sống hiện tại này chỉ là một phút trong đời sống của linh hồn.

9. Master DK lists the attitudes with which His disciples are to read the information He has to impart. It is clear that such attitudes would stand us all in good stead in a number of situations in which difficult and unavoidable circumstances arise.

9. Chân sư DK liệt kê những thái độ mà các đệ tử của Ngài cần có khi đọc thông tin Ngài sắp truyền đạt. Rõ ràng, những thái độ như thế sẽ giúp ích nhiều cho tất cả chúng ta trong một số tình huống nảy sinh những hoàn cảnh khó khăn và không thể tránh khỏi.

10. The communication is to be read:

10. Cần đọc thông điệp này:

a. With care

a. Một cách cẩn trọng

b. With detachment

b. Với sự tách rời

c. With undimmed aspiration

c. Với khát vọng không suy giảm

d. With the realization that the present life is but a minute in the life of the soul

d. Với nhận thức rằng kiếp sống hiện tại chỉ là một phút trong đời sống của linh hồn

11. The time scale is of interest and probably purely symbolic. The present life is but a minute in the life of the soul. Should the soul endure for millions of years (as indeed seems the case) the scale proposed would be appropriate to a degree. We do not yet know the usual number of millions of years allotted to the process which ‘created’ and sustained what we call the “soul” on the higher mental plane, beginning with individualization and ending with the fourth initiation.

11. Thang thời gian này thật đáng quan tâm và có lẽ hoàn toàn mang tính biểu tượng. Kiếp sống hiện tại chỉ là một phút trong đời sống của linh hồn. Nếu linh hồn tồn tại hàng triệu năm (như thực tế dường như là vậy), thì thang thời gian được đề xuất sẽ thích hợp ở một mức độ nào đó. Chúng ta chưa biết thông thường có bao nhiêu triệu năm dành cho tiến trình đã ‘tạo ra’ và duy trì điều chúng ta gọi là “linh hồn” trên cõi thượng trí, bắt đầu từ sự biệt ngã hóa và kết thúc ở lần điểm đạo thứ tư.

This life is, however, of major importance in the life of some of you; it is of focussing importance in the life of a few; it is of testing importance for some.

Tuy nhiên, kiếp sống này có tầm quan trọng lớn lao trong đời sống của một số người trong các bạn; với một số ít, tầm quan trọng của nó nằm ở sự tập trung; với một số người khác, tầm quan trọng của nó nằm ở sự thử thách.

12. DK lists three ways in which the present life may of importance to His chelas

12. Chân sư DK liệt kê ba phương diện mà theo đó kiếp sống hiện tại có thể có tầm quan trọng đối với các đệ tử của Ngài

a. Major importance—probably a life in which an initiation of one kind or another either is to be taken or can be taken

a. Tầm quan trọng lớn lao—có lẽ là một kiếp sống trong đó đệ tử hoặc sẽ trải qua hoặc có thể trải qua một cuộc điểm đạo thuộc loại này hay loại khác

b. Focusing importance—probably a life in which there is a consolidation of forces preparatory to movement toward a new objective

b. Tầm quan trọng về sự tập trung—có lẽ là một kiếp sống trong đó có sự củng cố các mãnh lực để chuẩn bị tiến tới một mục tiêu mới

c. Testing importance—probably a life in which the progress actually made is put to the text. After such a process, the candidate will know with greater exactitude where he or she stands.

c. Tầm quan trọng về sự thử thách—có lẽ là một kiếp sống trong đó sự tiến bộ thực sự đạt được phải chịu thử thách. Sau một tiến trình như thế, ứng viên sẽ biết chính xác hơn mình đang đứng ở đâu.

13. Perhaps we should pause to question the nature of the incarnation we are presently living—is it of major, focusing or testing importance, or none of these?

13. Có lẽ chúng ta nên dừng lại để tự hỏi về bản chất của kiếp lâm phàm chúng ta hiện đang sống—kiếp sống ấy có tầm quan trọng lớn lao, về sự tập trung hay về sự thử thách, hay không thuộc loại nào trong số này?

I have now definitely decided to disband the New Seed Group.

Giờ đây Tôi đã quyết định dứt khoát giải tán Nhóm Hạt Giống Mới.

14. The sentence suggests that DK had been pondering this weighty decision—for how long, we do not know. Over the years He had given a number of hints which might suggest to those who pondered carefully, that the decision now reached was, indeed, a possibility.

14. Câu này gợi ý rằng Chân sư DK đã suy ngẫm về quyết định hệ trọng này—trong bao lâu thì chúng ta không biết. Qua nhiều năm, Ngài đã đưa ra một số gợi ý có thể khiến những ai suy ngẫm kỹ nhận thấy rằng quyết định nay đã được đưa ra quả thực là một khả năng.

My experiment in reorganising the earlier groups into one large group has not succeeded.

Thử nghiệm của Tôi trong việc tái tổ chức các nhóm trước đây thành một nhóm lớn đã không thành công.

15. This is a clear and definite statement. We cannot know how Master DK ‘felt’ about the outcome of His efforts. We must not impute to a Master psychological states similar to our own but, judging from our own perspective, it would seem that some sort of disappointment was unavoidable.

15. Đây là một lời khẳng định rõ ràng và dứt khoát. Chúng ta không thể biết Chân sư DK đã ‘cảm thấy’ thế nào về kết quả những nỗ lực của Ngài. Chúng ta không được gán cho một Chân sư những trạng thái tâm lý tương tự như của chính mình, nhưng xét từ góc nhìn của chúng ta, dường như khó tránh khỏi một sự thất vọng nào đó.

I have told you frequently that the Hierarchy itself does not know what decisions humanity will make in world affairs, or if mankind will profit from proffered opportunity.

Tôi đã thường xuyên nói với các bạn rằng chính Thánh đoàn cũng không biết nhân loại sẽ đưa ra những quyết định nào trong các sự việc thế giới, hay liệu nhân loại có tận dụng cơ hội được trao hay không.

16. These are important words to ponder given the present uncertain and dangerous state of world affairs.

16. Trước tình hình thế giới bất định và nguy hiểm hiện nay, đây là những lời quan trọng cần suy ngẫm.

17. Great spiritual opportunities have been offered to humanity; has it really benefited from them? Perhaps the next few years will reveal the answer.

17. Nhân loại đã được trao những cơ hội tinh thần lớn lao; liệu nhân loại có thực sự hưởng lợi từ những cơ hội ấy không? Có lẽ vài năm tới sẽ hé lộ câu trả lời.

Equally so, the Master of an Ashram does not know what “disciples on the periphery” of an Ashram will do, because their training and testing is only in process.

Tương tự, Chân sư của một ashram cũng không biết các “đệ tử ở ngoại vi” của ashram sẽ làm gì, vì việc huấn luyện và thử thách họ vẫn đang diễn ra.

18. The status of the chelas under training is clearly given—they are “disciples on the periphery” of the Ashram. If the members of the group had not known where they stood, they surely realized it when reading this letter.

18. Vị thế của các đệ tử đang được huấn luyện đã được nêu rõ—họ là những “đệ tử ở ngoại vi” của ashram. Nếu các thành viên trong nhóm trước đó chưa biết mình đang ở đâu, thì chắc chắn khi đọc bức thư này, họ đã nhận ra điều đó.

19. Disciples on the periphery are considered unstable. Their training and testing is not really far advanced; it is “only in process” and, therefore, they, individually, and certainly as a group, are not of confirmed reliability.

19. Các đệ tử ở ngoại vi được xem là chưa ổn định. Việc huấn luyện và thử thách họ thực sự chưa tiến xa; việc ấy “chỉ đang trong tiến trình”, và do đó, mức độ đáng tin cậy của họ, xét riêng từng người và chắc chắn cả với tư cách một nhóm, vẫn chưa được xác nhận.

20. When disciples truly realize that their short-term future is not assured and that, as far seeing as They are, even the Masters cannot foretell whether success will follow upon specific proffered opportunities, it is likely to cause serious moments of reflection.

20. Khi các đệ tử thực sự nhận ra rằng tương lai trước mắt của họ chưa được bảo đảm và rằng, dù có tầm nhìn xa đến đâu, ngay cả các Chân sư cũng không thể tiên đoán liệu những cơ hội cụ thể được trao có dẫn đến thành công hay không, điều đó có thể khiến họ có những phút suy ngẫm nghiêm túc.

He does know what the accepted disciple, admitted freely into ashramic intimacy, will do in any given circumstance, because he has been tested and tried and the Master knows that there are certain things which he will not do.

Ngài biết đệ tử được chấp nhận, đã được tự do bước vào mối quan hệ mật thiết với ashram, sẽ làm gì trong bất kỳ hoàn cảnh nhất định nào, vì đệ tử ấy đã được thử thách và kiểm nghiệm, và Chân sư biết có những điều nhất định mà y sẽ không làm.

21. This is a most interesting sentence. It informs us that a disciple is admitted into a state of “ashramic intimacy” (we may call the initial stages of this phase, “accepted discipleship”) more because of what a Master knows the disciple will not do than because of what the Master knows the disciple will do.

21. Đây là một câu hết sức thú vị. Câu này cho chúng ta biết rằng một đệ tử được đón nhận vào trạng thái “mật thiết với ashram” (chúng ta có thể gọi những giai đoạn đầu của giai đoạn này là “địa vị đệ tử được chấp nhận”) chủ yếu vì những điều mà một Chân sư biết đệ tử ấy sẽ không làm, hơn là vì những điều mà Chân sư biết đệ tử ấy sẽ làm.

22. We should ponder the words “admitted freely”. These words suggest the importance of the admitted chela’s free will and the lack of external constraints placed upon the chela.

22. Chúng ta nên suy ngẫm về những từ “được tự do bước vào”. Những từ này gợi lên tầm quan trọng của ý chí tự do nơi đệ tử được đón nhận và việc không có những ràng buộc bên ngoài áp đặt lên đệ tử ấy.

This experiment with the New Seed Group has lasted five years.

Thử nghiệm với Nhóm Hạt Giống Mới này đã kéo dài năm năm.

23. The beginning of this experiment was undertaken, secretly, in late 1939 when the Groups of Nine were disbanded.

23. Thử nghiệm này đã được bí mật khởi đầu vào cuối năm 1939, khi các Nhóm Chín Người giải thể.

The earlier experiment with the groups lasted ten years.

Thử nghiệm trước đó với các nhóm kéo dài mười năm.

24. From approximately November of 1931 until, approximately, the beginning of 1940. Master DK is probably counting some preliminary phases of the process—occurring (perhaps in 1930 and early 1931) before His first letters were written in late 1931.

24. Từ khoảng tháng Mười Một năm 1931 cho đến khoảng đầu năm 1940. Có lẽ Chân sư DK đang tính cả một số giai đoạn sơ bộ của tiến trình—diễn ra (có lẽ vào năm 1930 và đầu năm 1931) trước khi Ngài viết những bức thư đầu tiên vào cuối năm 1931.

These experiments were undertaken in the most difficult period of the world’s history and during a particular time of stress and strain. Of this I am not unmindful.

Những thử nghiệm này được tiến hành trong thời kỳ khó khăn nhất của lịch sử thế giới và trong một giai đoạn đặc biệt đầy áp lực và căng thẳng. Tôi không hề quên điều đó.

25. Nor should we be unmindful. Some of us might wonder how such a group of disciples could fail to take full advantage of the opportunity proffered. We might suppose that we, individually, and the spiritual colleagues of whom we may be aware, would surely have done better. Careful consideration of the facts of the case might indicate otherwise. Very few of us, as modern disciples, have lived through the Second World War as adults. That War represented a major attach of the Black Lodge against humanity.

25. Cũng không nên quên điều đó, chúng ta cũng vậy. Một số người trong chúng ta có thể tự hỏi làm sao một nhóm đệ tử như thế lại không tận dụng trọn vẹn cơ hội đã trao cho họ. Chúng ta có thể cho rằng từng người chúng ta, cùng những đồng sự tinh thần mà chúng ta biết, chắc chắn đã có thể làm tốt hơn. Việc cân nhắc kỹ các sự kiện của trường hợp này có thể cho thấy điều ngược lại. Trong số chúng ta, những đệ tử thời hiện đại, rất ít người đã trải qua Thế Chiến thứ Hai khi đã trưởng thành. Cuộc chiến ấy là một cuộc tấn công lớn của Hắc đoàn chống lại nhân loại.

26. Master DK is not really offering His disciples an excuse for their failure, but He is assuring them that He knows how difficult it has been to pursue this type of discipleship training during such an arduous period.

26. Chân sư DK không thực sự đưa ra một lý do để các đệ tử của Ngài biện hộ cho thất bại của họ, nhưng Ngài đang bảo đảm với họ rằng Ngài biết việc theo đuổi hình thức huấn luyện đệ tử này trong một giai đoạn gian nan như thế đã khó khăn đến mức nào.

I am disbanding this group exoterically on four counts:

Tôi giải tán nhóm này về mặt ngoại môn vì bốn lý do:

27. Here we see the Tibetan’s frankness at work. He has often stated that He would state the truth to His disciples without mincing words. Sometimes, it has seemed that He has done so with relative tenderness, buffering the effect of the straight truth. In the following cases, the truth seems most straightly delivered.

27. Ở đây, chúng ta thấy sự thẳng thắn của Chân sư Tây Tạng thể hiện rõ. Ngài thường nói rằng Ngài sẽ nói sự thật với các đệ tử mà không úp mở. Đôi khi, dường như Ngài đã làm điều đó tương đối nhẹ nhàng, làm dịu tác động của sự thật thẳng thừng. Trong những trường hợp sau đây, dường như Ngài trình bày sự thật hết sức trực tiếp.

1. (Deleted by A.A.B.)

1. (A.A.B. đã lược bỏ.)

28. For some reason A.A.B. decided that this first reason or “count” should not be included in a book meant for popular consumption. Perhaps in time, when the maturity of the readers is assured, the first “count” will be revealed.

28. Vì một lý do nào đó, Bà A.A.B. quyết định rằng lý do hay “điểm cáo buộc” đầu tiên này không nên xuất hiện trong một cuốn sách dành cho công chúng. Có lẽ theo thời gian, khi độc giả đã đủ trưởng thành, “điểm cáo buộc” đầu tiên sẽ được tiết lộ.

29. The word “count” is interesting for its legal implications; when a possible wrongdoer or criminal is indicted, he is indicted on various “counts”, each of which is to be carefully examined by a judge and/or jury.

29. Từ “điểm cáo buộc” đáng chú ý vì hàm ý pháp lý của nó; khi một người có thể đã làm điều sai trái hoặc một tội phạm bị truy tố, người ấy bị truy tố theo nhiều “điểm cáo buộc”, mỗi điểm đều cần thẩm phán và/hoặc bồi thẩm đoàn xem xét cẩn thận.

2. In spite of many years of work with me, the group is not yet integrated and has produced no particular spiritual [75] enterprise.

2. Dù đã làm việc với Tôi nhiều năm, nhóm vẫn chưa tích hợp và chưa tạo ra một công cuộc tinh thần [75] đặc biệt nào.

30. A group rightly affiliated with an Ashram must be an integrated group. Just as the individual disciple must demonstrate personality integration and then the integration of the personality with the soul, so must an affiliated ashramic group. It would seem that after so many years, such integration might have been achieved, but then, integration of the kind expected is, in no small measure, dependent upon the choosing and following of a group spiritual enterprise.

30. Một nhóm liên kết đúng đắn với một ashram phải là một nhóm tích hợp. Cũng như người đệ tử phải thể hiện sự tích hợp phàm ngã rồi đến sự tích hợp phàm ngã với linh hồn, một nhóm liên kết với ashram cũng phải làm như vậy. Dường như sau ngần ấy năm, nhóm lẽ ra đã có thể đạt được sự tích hợp như thế, nhưng sự tích hợp theo mức kỳ vọng lại phụ thuộc không ít vào việc lựa chọn và theo đuổi một công cuộc tinh thần của nhóm.

31. Every group that hopes to cooperate with a Master and to be correctly affiliated with an Ashram must have its own spiritual enterprise or project.

31. Mọi nhóm hy vọng hợp tác với một Chân sư và liên kết đúng đắn với một ashram đều phải có công cuộc hay dự án tinh thần riêng của mình.

I have indicated many spiritual enterprises which called for your full measure of enthusiasm, time, money and interest. Many of you in this group are doing less for the Triangle work, the Goodwill work and the distribution of the Invocation than the average School student, and it is you to whom I should look for aid in what I am attempting to do.

Tôi đã chỉ ra nhiều công cuộc tinh thần đòi hỏi các bạn phải dốc trọn nhiệt tình, thời gian, tiền bạc và sự quan tâm. Nhiều người trong nhóm này đang làm ít hơn một đạo sinh bình thường của Trường trong công việc Tam Giác, công việc Thiện Chí và việc phổ biến Đại Khấn Nguyện, trong khi chính các bạn là những người mà Tôi lẽ ra phải có thể trông cậy để trợ giúp điều Tôi đang cố gắng thực hiện.

32. We wee that the Tibetan did not leave His chelas wanting for suggestions. He wanted them to be involved fully in the projects which He initiated—such as the Triangles work or Goodwill work.

32. Chúng ta thấy rằng Chân sư Tây Tạng không để các đệ tử của Ngài thiếu những gợi ý. Ngài muốn họ tham gia trọn vẹn vào những dự án do Ngài khởi xướng—như công việc Tam Giác hay công việc Thiện Chí.

33. It is quite a significant indictment that the members of His group of chelas under training were, in some cases, doing less to promote it that the average Arcane School student!

33. Quả là một lời cáo buộc hết sức nặng nề khi trong một số trường hợp, các thành viên trong nhóm đệ tử đang được Ngài huấn luyện lại làm ít hơn một đạo sinh bình thường của Trường Arcane để thúc đẩy công việc ấy!

34. The members of an Ashram must serve the Will of the Master—a will fully in the service of the Divine Plan. If they do not, they prove themselves unfit for full ashramic membership.

34. Các thành viên của một ashram phải phụng sự Ý Chí của Chân sư—một ý chí hoàn toàn phụng sự Thiên Cơ. Nếu không làm như vậy, họ chứng tỏ mình không đủ tư cách trở thành thành viên trọn vẹn của ashram.

Why not aid me where I have asked for aid? Why search for something unique and special and different from that of the rest of the students?

Tại sao không trợ giúp Tôi ở những nơi Tôi đã yêu cầu trợ giúp? Tại sao lại tìm kiếm một điều độc đáo, đặc biệt và khác với công việc của các đạo sinh còn lại?

35. The answer to the questions is given in the manner in which they are posed.

35. Câu trả lời cho các câu hỏi nằm ngay trong cách đặt câu hỏi.

36. The fault rests with the lower ego that searches for something unique and special and different from the service being offered by the rest of the students.

36. Lỗi nằm ở phàm ngã đang tìm kiếm một điều độc đáo, đặc biệt và khác với công việc phụng sự mà các đạo sinh còn lại đang thực hiện.

37. We are dealing with a clear question of “occult obedience”. True obedience to the soul would be obedience to the Master—aiding Him as He asks to be aided.

37. Chúng ta đang đối diện với một vấn đề rõ ràng về “sự tuân phục huyền môn”. Thực sự tuân phục linh hồn chính là tuân phục Chân sư—trợ giúp Ngài theo cách Ngài yêu cầu.

38. Every time this group of chelas is questioned (or reprimanded) we are given an opportunity to examine our own service (individually and in group formation) with real honesty.

38. Mỗi khi nhóm đệ tử này bị chất vấn (hoặc khiển trách), chúng ta có cơ hội xem xét công việc phụng sự của chính mình (với tư cách cá nhân và trong đội hình nhóm) một cách thực sự trung thực.

The spiritual enterprise into which I hoped to see you all throw yourselves was the work I have outlined, the distribution of the Problems of Humanity, the spread of the Invocation, the Triangles and the Goodwill work.

Công cuộc tinh thần mà Tôi hy vọng thấy tất cả các bạn dốc mình vào chính là công việc Tôi đã phác thảo: phổ biến Những Vấn Đề của Nhân Loại, truyền bá Đại Khấn Nguyện, công việc Tam Giác và công việc Thiện Chí.

39. The word used is “throw”; clearly the Tibetan expected to see a great deal of group energy expended in such directions.

39. Từ được dùng là “dốc mình”; rõ ràng Chân sư Tây Tạng kỳ vọng thấy nhóm dành rất nhiều năng lượng cho những đường hướng ấy.

40. Each of these types of labors had specific occult purposes and was needed for the uplift of humanity.

40. Mỗi loại công việc này đều có những mục đích huyền bí cụ thể và đều cần thiết để nâng cao nhân loại.

41. As the Problems of Humanity, the Christ only took notice of the Arcane School when its students began studying such problems. A paraphrase of His question is the following: “what is this group which is interesting itself in our work?”

41. Về Những Vấn Đề của Nhân Loại, Đức Christ chỉ chú ý đến Trường Arcane khi các đạo sinh của trường bắt đầu nghiên cứu những vấn đề ấy. Có thể diễn ý câu hỏi của Ngài như sau: “nhóm nào đây mà đang quan tâm đến công việc của chúng ta?”

I am not interested in some particularly occult work which you will evolve in meditation or in discussion.

Tôi không quan tâm đến một công việc huyền bí đặc biệt nào đó mà các bạn sẽ phát triển trong tham thiền hay thảo luận.

42. Another bold and definite statement. The Tibetan had stated His major service interests in the work He proposed to see accomplished. Students of occultism often lose their practicality and become precious in their approach to occult studies.

42. Lại một lời khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát. Chân sư Tây Tạng đã nêu rõ những mối quan tâm phụng sự chính của Ngài trong công việc mà Ngài mong thấy được hoàn thành. Các đạo sinh huyền bí học thường đánh mất tính thực tiễn và trở nên cầu kỳ trong cách tiếp cận việc nghiên cứu huyền bí học.

F.C.D. is entering upon his life work along the lines of my enterprises; it will be a hard one, growing out of the Problems, presented by me to you.

F.C.D. đang bước vào công việc đời mình theo đường hướng những công cuộc của Tôi; đó sẽ là một công việc khó khăn, phát triển từ Những Vấn Đề mà Tôi đã trình bày với các bạn.

43. FCD is the psychiatrist/psychologist Roberto Assagioli

43. FCD là bác sĩ tâm thần/nhà tâm lý học Roberto Assagioli

44. We note that when FCD undertakes to work along the lines of DK’s enterprises, it will be his “life work”, and not merely an avocation.

44. Chúng ta lưu ý rằng khi FCD đảm nhận công việc theo đường hướng những công cuộc của Chân sư DK, đó sẽ là “công việc đời mình” của ông, chứ không chỉ là một hoạt động ngoài nghề.

45. We may recall (from former commentaries) that FCD was to undertake work in relation to the re-education and rehabilitation of the Jews. As well, His work in relation to spiritual psychology must certainly have been considered “growing out of the Problems”.

45. Chúng ta có thể nhớ lại (từ các bài bình giảng trước) rằng FCD sẽ đảm nhận công việc liên quan đến việc tái giáo dục và phục hồi cho người Do Thái. Đồng thời, chắc chắn công việc của ông liên quan đến tâm lý học tinh thần cũng được xem là “phát triển từ Những Vấn Đề”.

Forget not that these Problems were part of your instructions released for the general public.

Đừng quên rằng Những Vấn Đề này là một phần trong các huấn thị dành cho các bạn đã được công bố cho công chúng.

46. Master DK is reminding His chelas of the importance of the Problems of Humanity work. Some chelas may have forgotten their value simply because they were discussed in a practical mode rather than in the usual language of occultism.

46. Chân sư DK đang nhắc nhở các đệ tử của Ngài về tầm quan trọng của công việc Các Vấn Đề của Nhân Loại. Một số đệ tử có thể đã quên giá trị của những vấn đề này chỉ vì chúng được thảo luận theo hướng thực tiễn thay vì bằng ngôn ngữ huyền bí học thông thường.

I have no criticism of F.C.D., who has come through deep waters to heights from which he can do most effective work. I am happy to be associated with him and have asked the Master K.H. to leave him a little longer in my group.

Tôi không có lời phê bình nào đối với F.C.D., người đã vượt qua những gian nan sâu sắc để lên đến những đỉnh cao, từ đó có thể làm việc hiệu quả nhất. Tôi vui mừng được cộng tác với y và đã đề nghị Chân sư KH để y ở lại trong nhóm Tôi lâu hơn một chút.

47. The “deep waters” may refer to the astral plane. FCD had all the water signs in his chart tenanted by important planets or angles. We cannot, however, assume that DK refers only to FCD’s personal astral condition as FCD was closely concerned with the astral condition of his patients and clients and with the astral condition of humanity as a whole.

47. “Những vùng nước sâu” có thể ám chỉ cõi cảm dục. Trong lá số của FCD, tất cả các dấu hiệu hành thủy đều có các hành tinh quan trọng hoặc các góc chính tọa thủ. Tuy nhiên, chúng ta không thể cho rằng Chân sư DK chỉ nói đến tình trạng cảm dục cá nhân của FCD, vì FCD quan tâm sâu sát đến tình trạng cảm dục của các bệnh nhân và thân chủ của ông, cũng như tình trạng cảm dục của toàn thể nhân loại.

48. When DK speaks of the “heights” which FCD has attained, He may be speaking of initiation. Elsewhere, the Tibetan has referred to FCD as an “initiate-disciple”.

48. Khi Chân sư DK nói về những “đỉnh cao” mà FCD đã đạt tới, có thể Ngài đang nói về điểm đạo. Ở nơi khác, Chân sư Tây Tạng đã gọi FCD là một “đệ tử-điểm đạo đồ”.

“I have said enough here to enable you again to resume your active position as a pledged initiate-disciple (a position which your co-disciples have ever recognised as yours),…” (DINA II 465)

“Ở đây, Tôi đã nói đủ để em có thể một lần nữa trở lại vị trí hoạt động tích cực của mình với tư cách một đệ tử-điểm đạo đồ đã cam kết (một vị trí mà các đệ tử đồng môn của em vẫn luôn công nhận là của em),…” (DINA II 465)

49. Something of FCD’s spiritual status is hinted by the Tibetan as He discusses His happiness to be associated with him. There is the sense that DK is somewhat more “on the level” with FCD than He is with others of His disciples.

49. Chân sư Tây Tạng hé lộ phần nào địa vị tinh thần của FCD khi Ngài nói về niềm vui được cộng tác với ông. Có cảm tưởng rằng Chân sư DK phần nào “ngang hàng” với FCD hơn so với các đệ tử khác của Ngài.

50. This letter was written in 1946. Perhaps that “little longer” would extend until the death of AAB. It will be necessary to check the final letters to FCD to determine whether he returned to KH’s Ashram before December of 1949. There was a general return of several of the more advanced disciples in 1948.

50. Bức thư này được viết vào năm 1946. Có lẽ khoảng thời gian “lâu hơn một chút” ấy kéo dài cho đến khi bà AAB qua đời. Cần kiểm tra những bức thư cuối cùng gửi FCD để xác định liệu ông đã trở lại Ashram của Chân sư KH trước tháng Mười Hai năm 1949 hay chưa. Năm 1948, một số đệ tử tiến bộ hơn đã cùng trở về.

I have no criticism of J.W.K-P., who has handled a profoundly difficult task for me with beauty, understanding, judgment and courtesy.

Tôi không có lời phê bình nào đối với J.W.K-P., người đã đảm đương cho Tôi một nhiệm vụ vô cùng khó khăn với sự tốt đẹp, thấu hiểu, khả năng phán đoán và thái độ lịch thiệp.

51. The suggestion is that Master DK is offering a critique of His group of chelas and of certain chelas in particular. It should be most interesting for us to learn how He handled the necessity of imparting criticism—I think we shall see that it was always constructive and educative.

51. Điều này gợi ý rằng Chân sư DK đang đưa ra lời phê bình đối với nhóm đệ tử của Ngài và riêng một số đệ tử. Việc tìm hiểu cách Ngài xử lý sự cần thiết phải đưa ra lời phê bình hẳn sẽ rất thú vị đối với chúng ta—tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy rằng lời phê bình ấy luôn mang tính xây dựng và giáo dục.

52. JWK-P is the disciple Foster Bailey—husband of Alice Bailey, and in charge of the World Goodwill work and numerous other responsibilities for the Lucis Trust.

52. JWK-P là đệ tử Foster Bailey—chồng của bà Alice Bailey, phụ trách công việc Thiện Chí Thế Giới và đảm nhận nhiều trách nhiệm khác cho Lucis Trust.

53. To promote the spread of goodwill throughout humanity is and was a “profoundly difficult task” demanding as much first ray as second.

53. Thúc đẩy thiện chí lan rộng khắp nhân loại hiện nay cũng như trước kia đều là một “nhiệm vụ vô cùng khó khăn”, đòi hỏi cung một cũng nhiều như cung hai.

54. When we examine the words Master DK uses to describe JWK-P’s handling of the task, we note qualities associated with the second, fourth and seventh rays. It is clear that the Tibetan values each of these qualities, and a little reflection will show us why.

54. Khi xem xét những từ Chân sư DK dùng để mô tả cách JWK-P đảm đương nhiệm vụ, chúng ta nhận thấy những phẩm tính gắn với các cung hai, bốn và bảy. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng coi trọng từng phẩm tính này, và chỉ cần suy ngẫm đôi chút, chúng ta sẽ thấy vì sao.

55. As with a number of the DK’s first ray chelas (first ray in their soul nature), it is probable that the monadic ray of JWK-P is the second. The monadic quality would, therefore, be the underlying and emerging quality of an advanced disciple such as JWK-P, and the tone substanding the four qualities mentioned by DK (beauty, understanding, judgment and courtesy) suggest this ray—certainly not the unmodified first ray.

55. Cũng như một số đệ tử cung một của Chân sư DK (cung một trong bản chất linh hồn của họ), có lẽ cung chân thần của JWK-P là cung hai. Do đó, phẩm tính chân thần sẽ là phẩm tính nền tảng và đang nổi lên ở một đệ tử tiến bộ như JWK-P; sắc thái làm nền cho bốn phẩm tính mà Chân sư DK đề cập (sự tốt đẹp, thấu hiểu, khả năng phán đoán và thái độ lịch thiệp) gợi đến cung này—chắc chắn không phải cung một chưa qua điều chỉnh.

56. We also know that it was JWK-P’s task to assist AAB in every way possible. Thus, her immense responsibilities and difficulties became, in a way, his own.

56. Chúng ta cũng biết rằng nhiệm vụ của JWK-P là trợ giúp bà AAB bằng mọi cách có thể. Vì vậy, theo một cách nào đó, những trách nhiệm và khó khăn vô cùng lớn lao của bà đã trở thành của chính ông.

3. My next reason for disbanding the group is the failure in occult obedience of many of you.

3. Lý do tiếp theo khiến Tôi giải tán nhóm là sự thiếu tuân phục huyền bí của nhiều người trong các bạn.

57. DK directly states in this third “count” that which was implied in the second “count”.

57. Trong “điểm phê bình” thứ ba này, Chân sư DK trực tiếp nêu rõ điều đã được hàm ý trong “điểm phê bình” thứ hai.

Voluntarily and willingly you joined the groups for training, discipline and expansion. This involved the following of certain suggestions, meditations and instructions. For years, quite a number of you have done absolutely nothing about your personal instructions.

Các bạn đã tự nguyện và sẵn lòng gia nhập các nhóm để được huấn luyện, rèn luyện kỷ luật và mở rộng. Điều này bao hàm việc làm theo một số gợi ý, bài thiền và huấn thị. Suốt nhiều năm, khá nhiều người trong các bạn hoàn toàn không làm gì với những huấn thị cá nhân của mình. Ở đây,

58. DK reminds His chelas that they joined the groups “voluntarily”. The purpose of the groups (among other things) was training, discipline and expansion. Suggestions, meditations and instructions were offered to facilitate this training, discipline and expansion. It is hardly to be expected that desirable individual and group effects would occur if the disciples’ personal instructions were ignored.

58. Chân sư DK nhắc các đệ tử của Ngài rằng họ đã “tự nguyện” gia nhập các nhóm. Mục đích của các nhóm (bên cạnh những mục đích khác) là huấn luyện, rèn luyện kỷ luật và mở rộng. Những gợi ý, bài thiền và huấn thị đã được đưa ra để hỗ trợ việc huấn luyện, rèn luyện kỷ luật và mở rộng này. Khó có thể mong đợi những kết quả mong muốn cho cá nhân và nhóm nếu các đệ tử phớt lờ những huấn thị cá nhân của mình.

59. Is DK suggesting that His disciples did, in fact, do something about their group instructions? If, however, their personal instructions were ignored it is unlikely that their group instructions were closely followed.

59. Có phải Chân sư DK đang gợi ý rằng các đệ tử của Ngài quả thực đã làm điều gì đó với những huấn thị dành cho nhóm của họ? Tuy nhiên, nếu họ phớt lờ những huấn thị cá nhân thì khó có khả năng họ đã tuân thủ sát sao những huấn thị dành cho nhóm.

60. It is clear that one of the demonstrations of occult obedience is simply to follow the Master’s suggestions, realizing that such suggestions are equivalent to soul-suggestions.

60. Rõ ràng, một trong những biểu hiện của sự tuân phục huyền bí đơn giản là làm theo những gợi ý của Chân sư, nhận ra rằng những gợi ý ấy tương đương với những gợi ý từ linh hồn.

I refer here not only to exoteric exactitude but (above all else) to esoteric understanding.

Tôi không chỉ nói đến sự chính xác về mặt ngoại môn mà còn (trên hết) đến sự thấu hiểu nội môn.

61. Some, it seems, may have followed the instructions/suggestions with a degree of “exoteric exactitude” but without real esoteric understanding. It is not the form which is important (such as the form of a meditation) but the esoteric understanding of the purpose and method of the form.

61. Dường như một số người có thể đã làm theo các huấn thị/gợi ý với một mức độ “chính xác về mặt ngoại môn” nhưng thiếu sự thấu hiểu thực sự về mặt nội môn. Điều quan trọng là sự thấu hiểu nội môn về mục đích và phương pháp của hình thức, chứ không phải bản thân hình thức ấy (chẳng hạn như hình thức của một bài thiền).

62. It would seem that a number of DK’s students failed to grasp the wider and deeper picture of their individual and group labors.

62. Dường như một số đạo sinh của Chân sư DK đã không nắm bắt được bức tranh rộng hơn và sâu hơn về những nỗ lực của họ với tư cách cá nhân và nhóm.

When, my brothers, I assign meditation work and make suggestion over the years, I have a definite purpose in view and a plan worked out [76] which is adapted to the particular student.

Các huynh đệ của tôi, khi Tôi giao công việc tham thiền và đưa ra những gợi ý qua nhiều năm, Tôi có một mục đích rõ ràng và một kế hoạch đã được triển khai [76] phù hợp với từng đạo sinh cụ thể.

63. DK suggests the care He has given to planning a program of meditation and potential spiritual advancement for each student. He has studied His students carefully and knows exactly what they need to take their next spiritual step forward.

63. Chân sư DK cho thấy Ngài đã cẩn trọng đến mức nào khi hoạch định cho từng đạo sinh một chương trình tham thiền và khả năng tiến bộ tinh thần. Ngài đã nghiên cứu kỹ các đạo sinh của mình và biết chính xác họ cần gì để tiến thêm bước kế tiếp về mặt tinh thần.

64. We (disciples of the present era) have not been assigned particular meditations by the Master, and yet our own program of individual meditation is, nevertheless, of great significance. Have we devised our own meditation program which we follow with care even as we attempt to fulfill the requirements of group meditations in which we may participate?

64. Chúng ta (những đệ tử của thời đại hiện nay) chưa được Chân sư giao những bài thiền cụ thể, tuy nhiên, chương trình tham thiền cá nhân của chính chúng ta vẫn có thâm nghĩa lớn lao. Chúng ta đã thiết lập một chương trình tham thiền riêng để cẩn thận tuân theo, đồng thời cố gắng đáp ứng những yêu cầu của các bài thiền nhóm mà chúng ta có thể tham gia hay chưa?

65. After a number of years, each student of occultism will begin to see himself/herself—albeit, not with the eye of a Master, but sufficiently to know the need. Meditations attending to that need can be either devised or found (and perhaps adapted) within the meditations offered in the DINA books.

65. Sau một số năm, mỗi đạo sinh huyền bí học sẽ bắt đầu nhìn rõ chính mình—dẫu không bằng con mắt của một Chân sư, nhưng cũng đủ để biết nhu cầu của mình. Có thể tự soạn những bài thiền đáp ứng nhu cầu ấy, hoặc tìm chúng (và có lẽ điều chỉnh cho phù hợp) trong số các bài thiền được trình bày trong các sách DINA.

66. Each disciple has a quality under cultivation which answers to a specific need. Do we know what our most needed quality may be? We are, after all, still building the causal body and there is much of quality yet to be ‘stored’ in that “treasury”.

66. Mỗi đệ tử đều đang trau dồi một phẩm tính để đáp ứng một nhu cầu cụ thể. Chúng ta có biết phẩm tính mình cần nhất có thể là gì không? Xét cho cùng, chúng ta vẫn đang xây dựng thể nguyên nhân và còn nhiều phẩm tính cần được ‘tích trữ’ trong “kho báu” ấy.

When the work is not done, I—owing to the freewill of the disciple—am helpless.

Khi công việc không được thực hiện, Tôi—do ý chí tự do của đệ tử—đành bất lực.

67. This is a sad commentary. We see how the unwilling chela handicaps himself/herself and the Master as well. So much given; so little used; so much consciously or unconsciously rejected.

67. Đây là một lời nhận xét đáng buồn. Chúng ta thấy người đệ tử không sẵn lòng đã cản trở chính mình và cả Chân sư như thế nào. Được ban cho biết bao nhiêu; sử dụng chẳng bao nhiêu; khước từ biết bao nhiêu, một cách hữu thức hoặc vô thức.

4. Another reason upon which I must very briefly touch, and which is a factor in my decision, is A.A.B.’s integrity in the work.

4. Một lý do khác mà Tôi phải đề cập rất ngắn gọn, và cũng là một yếu tố trong quyết định của Tôi, là tính chính trực của A.A.B. trong công việc.

68. The implication is that AAB’s integrity is of the highest standard.

68. Điều này hàm ý rằng tính chính trực của Bà AAB đạt tiêu chuẩn cao nhất.

Among some of you, if what I write is agreeable to you, expresses your own ideas and is in line with your group thinking, then it is I who write it. When what I dictate runs counter to the ideas of the disciples, or places a finger on a weakness, or makes a statement which runs counter to the lower mind, then it is written by A.A.B. This situation has existed for some time.

Với một số người trong các bạn, nếu điều Tôi viết làm các bạn hài lòng, diễn đạt những ý tưởng của chính các bạn và phù hợp với tư tưởng nhóm của các bạn, thì đó là do Tôi viết. Khi điều Tôi đọc cho chép trái với ý tưởng của các đệ tử, hoặc chỉ ra một nhược điểm, hoặc đưa ra một phát biểu trái với hạ trí, thì đó lại là do A.A.B. viết. Tình trạng này đã tồn tại một thời gian.

69. This is an understandable failing and is found among present students of the Teaching as well. When they agree with something written in the Blue Books, then it is the Tibetan that has written that with which they agree. If they find something that offends them or runs counter to their prevailing ideas, they often say that AAB has done the writing. It is quite amazing to see how often this occurs.

69. Đây là một khuyết điểm có thể hiểu được và cũng hiện diện nơi những đạo sinh đang nghiên cứu Giáo Huấn ngày nay. Khi họ đồng ý với điều gì viết trong các bộ sách xanh, thì Chân sư Tây Tạng là người đã viết điều mà họ đồng ý ấy. Nếu họ thấy điều gì khiến họ phật lòng hoặc trái với những ý tưởng đang chi phối họ, họ thường nói rằng Bà AAB đã viết điều đó. Thật đáng kinh ngạc khi thấy điều này xảy ra thường xuyên đến thế.

70. Perhaps it is difficult to realize that had AAB not at times modified his frankness, Master DK often would have appeared far more direct. It is all very simple: the personality does not like to have its weaknesses pointed out.

70. Có lẽ khó nhận ra rằng nếu đôi lúc Bà AAB không tiết giảm sự thẳng thắn của Ngài, thì Chân sư DK hẳn thường tỏ ra trực tiếp hơn rất nhiều. Mọi chuyện rất đơn giản: phàm ngã không thích người khác chỉ ra những nhược điểm của mình.

71. In considering the Tibetan’s words we must realize how often the lower mind is the seat of illusion. Many of our well-formulated thoughts may run quite contrary to occult truth as the Tibetan presents it. Let us remember that He works from a focus within the spiritual triad. His task is to quite alter our usual perspective upon reality.

71. Khi suy xét những lời của Chân sư Tây Tạng, chúng ta phải nhận ra rằng hạ trí thường là nơi trú ngụ của ảo tưởng đến mức nào. Nhiều tư tưởng được chúng ta xây dựng chặt chẽ có thể hoàn toàn trái với chân lý huyền bí như Chân sư Tây Tạng trình bày. Chúng ta hãy nhớ rằng Ngài hoạt động từ một tiêu điểm trong Tam Nguyên Tinh Thần. Nhiệm vụ của Ngài là thay đổi hoàn toàn cách nhìn thông thường của chúng ta về thực tại.

For these main reasons, and because I seek no further to burden A.A.B. with your personal instructions, I am closing this aspect of my work.

Vì những lý do chính này, và vì Tôi không muốn tiếp tục đặt gánh nặng những huấn thị cá nhân của các bạn lên A.A.B., Tôi chấm dứt phương diện này trong công việc của Tôi.

72. Once DK called His work through AAB a “labour of love”. With regard to AAB, He called the same work a “labour”! There is no question that AAB was a heavily burdened disciple. There are many burdens to carry as one is preparing for or, perhaps, moving very rapidly towards the fourth initiation.

72. Có lần Chân sư DK gọi công việc Ngài thực hiện qua Bà AAB là một “công việc lao nhọc vì tình thương”. Còn đối với Bà AAB, Ngài gọi chính công việc ấy là một “công việc lao nhọc”! Không còn nghi ngờ gì nữa, Bà AAB là một đệ tử mang gánh nặng rất lớn. Có nhiều gánh nặng phải mang khi một người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư hoặc có lẽ đang tiến rất nhanh đến lần điểm đạo ấy.

73. We can understand that the criticism leveled against AAB for ostensibly misrepresenting the Tibetan or inserting her own thoughts could only have added to her burden.

73. Chúng ta có thể hiểu rằng những lời chỉ trích nhắm vào Bà AAB vì cho rằng Bà trình bày sai lời Chân sư Tây Tạng hoặc xen những tư tưởng riêng của mình vào chỉ có thể làm tăng thêm gánh nặng của Bà.

74. DK subtly reminds His chelas what a service AAB has done for them personally. Yes—the personal instructions (so important to the chela, yet so oft ignored) have been upon her a real burden.

74. Chân sư DK khéo léo nhắc các đệ tử của Ngài nhớ rằng Bà AAB đã phụng sự cho từng người trong họ nhiều đến thế nào. Quả vậy—những huấn thị cá nhân (rất quan trọng đối với người đệ tử, nhưng lại thường xuyên bị phớt lờ) đã thực sự là một gánh nặng đối với Bà.

75. The Tibetan is careful to let His chelas know that His work with them is only “one aspect” of His work—probably a relatively unimportant aspect when seen from a global perspective.

75. Chân sư Tây Tạng cẩn thận cho các đệ tử của Ngài biết rằng công việc Ngài thực hiện với họ chỉ là “một phương diện” trong công việc của Ngài—có lẽ là một phương diện tương đối ít quan trọng khi nhìn từ góc độ toàn cầu.

A.A.B. has much to do for me in finishing the Instructions as outlined.

A.A.B. còn nhiều việc phải làm cho Tôi để hoàn tất các Huấn Thị như đã phác thảo.

76. Here the larger work is put into perspective. DK was writing for thousands and even, eventually, for large numbers of human beings, and not just for a few disciples on the periphery of His Ashram.

76. Ở đây, công việc lớn hơn được đặt vào đúng tầm vóc của nó. Chân sư DK viết cho hàng nghìn người và rồi cuối cùng thậm chí cho đông đảo nhân loại, chứ không chỉ cho vài đệ tử ở ngoại vi Ashram của Ngài.

77. His work was well planned and certain writings, of great value for the future, simply had to be completed.

77. Công việc của Ngài đã được hoạch định kỹ lưỡng, và một số tác phẩm có giá trị lớn đối với tương lai nhất thiết phải được hoàn tất.

Her own Master (and mine) also requests that she no longer do this work, and with Him I am in full agreement.

Chân sư của chính Bà (và cũng là của Tôi) cũng yêu cầu Bà không làm công việc này nữa, và Tôi hoàn toàn đồng ý với Ngài.

78. It is clear that AAB’s Master, Master KH, had concern for her and saw this smaller aspect of the work (handing the personal and group instructions of a relatively unresponsive group) as detrimental to her task.

78. Rõ ràng Chân sư của Bà AAB, Chân sư KH, quan tâm đến Bà và thấy rằng phương diện nhỏ hơn này của công việc (xử lý các huấn thị cá nhân và huấn thị nhóm dành cho một nhóm tương đối ít đáp ứng) gây bất lợi cho nhiệm vụ của Bà.

A.A.B. has also to conclude the Ashram papers* and finish the papers on Healing.** Then her task for me will be accomplished.

A.A.B. cũng phải hoàn tất các tài liệu về Ashram [iv]* và các tài liệu về Trị Liệu. [v]** Khi ấy, nhiệm vụ của Bà đối với Tôi sẽ hoàn thành.

79. We see here that certain of the later books had not been completed, and, perhaps, might not have been if AAB’s energies had continued to be taxed by attending to the personal and group instructions of the New Seed Group.

79. Ở đây, chúng ta thấy rằng một số cuốn sách thuộc giai đoạn sau vẫn chưa hoàn tất, và có lẽ đã không thể hoàn tất nếu Bà AAB tiếp tục hao tổn năng lượng vì phải lo liệu các huấn thị cá nhân và huấn thị nhóm dành cho Nhóm Hạt Giống Mới.

D.E.I. is no longer in this group, and for this life and probably the next, he will be learning the lessons of adaptability, of impersonality and renunciation. He made one serious and irretrievable move prior to the outbreak of the war, and he did this against the advice of senior disciples and of his own inner monitor.

D.E.I. không còn ở trong nhóm này, và trong kiếp sống này, có lẽ cả kiếp sau, y sẽ học những bài học về khả năng thích nghi, tính vô ngã và sự từ bỏ. Trước khi chiến tranh bùng nổ, y đã thực hiện một bước đi nghiêm trọng, không thể cứu vãn, và y đã làm điều này trái với lời khuyên của các đệ tử cao cấp và người chỉ dẫn nội tâm của chính mình.

80. The ray structure of DEI was 21-213. He was a highly trusted co-worker and apparently did something which (though temporarily) jeopardized his usefulness to the Ashram.

80. Cấu trúc cung của DEI là 21-213. Ông là một cộng sự rất được tín nhiệm và dường như đã làm điều gì đó khiến khả năng đóng góp hữu ích của ông cho ashram bị đe dọa (dù chỉ tạm thời).

81. While no mistake has unredeemable results, it is clear that DEI’s was serious— “irretrievable”—at least for the present life.

81. Dù không có sai lầm nào gây ra những hậu quả không thể khắc phục, rõ ràng sai lầm của DEI là nghiêm trọng—“không thể cứu vãn”—ít nhất là trong kiếp sống hiện tại.

82. It is characteristic of DK that He does not specify the personal details of important turning points in any disciple’s life. Such details are the concern of the disciple and of no one else. Even the Master does not usually concern himself with them unless the potential impact on the group is significant—as it appears to have been in this case.

82. Một nét đặc trưng của Chân sư DK là Ngài không nêu cụ thể những chi tiết riêng tư về các bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của bất kỳ đệ tử nào. Những chi tiết ấy là chuyện của người đệ tử, không phải của ai khác. Ngay cả Chân sư cũng thường không quan tâm đến chúng, trừ khi tác động tiềm tàng đối với nhóm là đáng kể—như dường như đã xảy ra trong trường hợp này.

83. It is startling to realize how we may jeopardize our usefulness to the Ashram, Hierarchy and humanity. Naively or ignorantly, we may do much harm to our own process, progress and general usefulness.

83. Thật đáng giật mình khi nhận ra chúng ta có thể gây nguy hại đến khả năng đóng góp hữu ích của mình cho ashram, Thánh đoàn và nhân loại như thế nào. Do ngây thơ hoặc thiếu hiểu biết, chúng ta có thể gây nhiều tổn hại cho tiến trình, sự tiến bộ và khả năng đóng góp hữu ích nói chung của chính mình.

84. It is not that DEI was not warned. Disciples senior to him warned him; such disciples may have been AAB or perhaps, FCD.

84. DEI đã từng nhận được lời cảnh báo. Những đệ tử cao cấp hơn ông đã cảnh báo ông; những đệ tử ấy có thể là Bà AAB hoặc có lẽ là FCD.

85. It is also significant that DEI was warned by his “inner monitor”, which we can consider the voice of conscience. It is dangerous to make moves counter to such indications.

85. Việc “người chỉ dẫn nội tâm” đã cảnh báo DEI cũng có ý nghĩa quan trọng; chúng ta có thể xem đó là tiếng nói của lương tâm. Hành động trái với những chỉ dẫn như thế là điều nguy hiểm.

86. The lessons to be learned were those of adaptability, impersonality and renunciation. It is clear that the personality wanted something (which is so often the case). Apparently the personality desires involved were not renounced.

86. Những bài học cần học là khả năng thích nghi, tính vô ngã và sự từ bỏ. Rõ ràng phàm ngã đã muốn một điều gì đó (điều rất thường xảy ra). Dường như ông đã không từ bỏ những ham muốn phàm ngã liên quan đến việc ấy.

87. In another section of the book, DK informs us that DEI had chosen a line of activity which would given him no true scope for his discipleship potential.

87. Trong một phần khác của cuốn sách, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng DEI đã chọn một hướng hoạt động không thực sự tạo cho ông cơ hội phát huy tiềm năng đệ tử của mình.

“All disciples, working among their fellowmen, [67] are brought into contact with this astral whirlpool. (I would call the attention of D.E.I. to this fact because it accounts for his reaction during the past two years and has led him to relinquish his position in my outer work and to retire into a phase of living which will provide him with no true scope for his pledged experience and his years of training; this present phase is in the nature of a cul-de-sac.” (DINA II 66-67)

“Tất cả các đệ tử, khi làm việc giữa đồng loại, [67] đều tiếp xúc với xoáy cảm dục này. (Tôi muốn lưu ý D.E.I. về sự thật này vì nó lý giải phản ứng của bạn ấy trong hai năm qua và đã khiến bạn ấy từ bỏ vị trí của mình trong công việc bên ngoài của Tôi, lui về một giai đoạn sống sẽ không thực sự tạo cho bạn ấy cơ hội vận dụng kinh nghiệm đã tích lũy khi cam kết phụng sự cùng những năm tháng được huấn luyện; giai đoạn hiện nay này mang bản chất của một ngõ cụt.” (DINA II 66-67)

88. We see that DEI, unlike FCD or JWK-P, was one of the disciples who warranted admonishment.

88. Chúng ta thấy rằng, khác với FCD hay JWK-P, DEI là một trong những đệ tử đáng nhận lời khiển trách.

I would here again remind you that the inner link remains unbroken. You are still members—each and all of you—on the periphery of my Ashram.

Ở đây, Tôi muốn nhắc lại với các bạn rằng mối liên kết bên trong vẫn không hề đứt đoạn. Các bạn vẫn là những thành viên—từng người và tất cả các bạn—ở ngoại vi ashram của Tôi.

89. DK reassures His disciples. They still hold their place on the periphery of His Ashram—at least individually. Does the group of chelas (as a group) still stand there? This is not given.

89. Chân sư DK trấn an các đệ tử của Ngài. Họ vẫn giữ vị trí của mình ở ngoại vi ashram của Ngài—ít nhất là xét từng cá nhân. Nhóm đệ tử (với tư cách một nhóm) có còn đứng ở đó không? Điều này không được cho biết.

Nothing can alter this.

Không gì có thể thay đổi điều này.

90. This is a most encouraging statement. Once the disciple has been accepted, human mistakes and errors will not alter the acceptance, though contact may be temporarily interrupted and advancement towards the center temporarily halted.

90. Đây là một lời khẳng định hết sức khích lệ. Một khi đệ tử đã được chấp nhận, những sai lầm và lầm lạc của con người sẽ không làm thay đổi sự chấp nhận ấy, dù sự tiếp xúc có thể tạm thời gián đoạn và việc tiến về trung tâm có thể tạm thời dừng lại.

Some of you warrant no criticism from me and are not responsible for what has happened.

Một số người trong các bạn không đáng nhận bất kỳ lời phê bình nào từ Tôi và không chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra.

91. At this point, DK does not review the part which each of His disciples had to play in the failure of the group. In later letters to the remaining group members (for such letters did continue), He becomes a little more specific.

91. Ở điểm này, Chân sư DK không xem xét lại phần trách nhiệm của từng đệ tử của Ngài trong sự thất bại của nhóm. Trong những bức thư sau đó gửi các thành viên còn lại của nhóm (vì những bức thư như thế quả thực vẫn tiếp tục), Ngài nói cụ thể hơn một chút.

Let me reiterate: The ashramic link remains unbroken, but the outer relation is ended for this incarnation.

Để Tôi nhắc lại: Mối liên kết ashram vẫn không hề đứt đoạn, nhưng mối quan hệ bên ngoài đã chấm dứt trong kiếp nhập thể này.

92. We are learning that what is broken is the “outer relation” with the group and its membership. DK seems to be saying that there will be no more outer letters, nevertheless, He chose to continue writing them, probably for the spiritual sustaining of those few chelas who remained truly and actively loyal to His purposes.

92. Chúng ta đang hiểu ra rằng điều bị cắt đứt là “mối quan hệ bên ngoài” với nhóm và các thành viên của nhóm. Dường như Chân sư DK muốn nói rằng sẽ không còn những bức thư bên ngoài nữa; tuy nhiên, Ngài đã chọn tiếp tục viết những bức thư ấy, có lẽ để nâng đỡ về mặt tinh thần cho số ít đệ tử vẫn thực sự và tích cực trung thành với các mục đích của Ngài.

You can still reach me individually, if you fulfil the requirements and seek to serve the Plan outlined to you by me.

Các bạn vẫn có thể tiếp xúc với Tôi với tư cách cá nhân, nếu đáp ứng các yêu cầu và tìm cách phụng sự Thiên Cơ mà Tôi đã phác thảo cho các bạn.

93. An inner link is still possible to those who fulfill the requirements. There are certain disciples who know the methods of inwardly reaching the Master, but the most important requirement seems to be the continued service of the Plan as outlined by the Master. If a disciple is not fully serving the Divine Plan, of what use would be contact with a Master? It might simply feed personal elements found in the disciple.

93. Những ai đáp ứng các yêu cầu vẫn có thể có một mối liên kết bên trong. Có những đệ tử biết các phương pháp tiếp xúc với Chân sư từ bên trong, nhưng yêu cầu quan trọng nhất dường như là tiếp tục phụng sự Thiên Cơ theo những gì Chân sư đã phác thảo. Nếu một đệ tử không hết lòng phụng sự Thiên Cơ, thì việc tiếp xúc với một Chân sư sẽ có ích gì? Điều đó có thể chỉ nuôi dưỡng những yếu tố cá nhân nơi đệ tử ấy.

With this general letter I am sending very full personal [77] instructions—the last you will receive from me this life on the outer plane.

Cùng với bức thư chung này, Tôi gửi những huấn thị cá nhân [77] rất đầy đủ—những huấn thị cuối cùng mà các bạn sẽ nhận từ Tôi trong kiếp sống này trên cõi bên ngoài.

94. As stated, DK did continue to write personal letters to a few of the remaining chelas. One group of letters was written as late as November of 1948.

94. Như đã nói, Chân sư DK quả thực vẫn tiếp tục viết thư riêng cho một vài đệ tử còn lại. Một loạt thư được viết mãi đến tháng Mười Một năm 1948.

95. There were other chelas, however, to whom no more letters were written. They, in a way, were not part of the inmost group surrounding AAB.

95. Tuy nhiên, có những đệ tử khác không còn nhận được thư nữa. Theo một nghĩa nào đó, họ không thuộc nhóm thân cận nhất quanh Bà AAB.

I would ask you to read with extreme care what I have to say and suggest, because of the effect it may have on your outer life of service. I use not words lightly.

Tôi đề nghị các bạn đọc hết sức cẩn trọng những điều Tôi nói và gợi ý, vì tác động mà chúng có thể tạo ra đối với đời sống phụng sự bên ngoài của các bạn. Tôi không dùng từ ngữ một cách khinh suất.

96. DK is cautious in His use of words and will not use words like “extreme care” unless He means precisely what is stated.

96. Chân sư DK thận trọng trong cách dùng từ ngữ, và Ngài sẽ không dùng những từ như “hết sức cẩn trọng” trừ khi Ngài muốn nói chính xác điều đã nêu.

97. We can understand that Master DK would seek to impart all possible in this last of His official personal instructions.

97. Chúng ta có thể hiểu rằng Chân sư DK hẳn muốn truyền đạt tất cả những gì có thể trong những huấn thị cá nhân chính thức cuối cùng này của Ngài.

98. In the last analysis, the Tibetan seeks to make of each of His chelas a better server of humanity and Hierarchy.

98. Xét cho cùng, Chân sư Tây Tạng tìm cách giúp mỗi đệ tử của Ngài trở thành một người phụng sự nhân loại và Thánh đoàn tốt hơn.

A.A.B. has taken me down with accuracy during these many years, including the past nine years of illness.

A.A.B. đã ghi chép chính xác lời Tôi trong suốt nhiều năm qua, kể cả chín năm đau bệnh vừa rồi.

99. Again Master DK affirms AAB’s accuracy and integrity. AAB would not have dared to alter without permission anything dictated by the Tibetan.

99. Một lần nữa, Chân sư DK khẳng định tính chính xác và sự chính trực của Bà AAB. Bà AAB hẳn không dám tự ý thay đổi bất cứ điều gì do Chân sư Tây Tạng đọc cho Bà ghi lại khi chưa được phép.

100. We come to understand that AAB had been sick since 1937. In-person conversations with RSW (one of the DINA disciples and a close friend of AAB) indicate that the disease was a blood condition—probably, in later days, a form of leukemia.

100. Chúng ta hiểu ra rằng Bà AAB đã đau bệnh từ năm 1937. Những cuộc trò chuyện trực tiếp với RSW (một trong các đệ tử trong DINA và là bạn thân của Bà AAB) cho biết đó là một căn bệnh về máu—có lẽ, vào thời gian sau, là một dạng bệnh bạch cầu.

She has never been too ill to take my dictation and send it out to you and to the world exactly as I gave it.

Bà chưa bao giờ đau bệnh đến mức không thể ghi lại lời Tôi đọc và gửi đến các bạn cùng thế giới đúng như Tôi đã ban truyền.

101. Something of the sacrifice through which AAB passed is made known. For her, apparently, there were never any alibis. Few disciples can honestly affirm the same.

101. Một phần sự hi sinh mà Bà AAB đã trải qua được tiết lộ. Dường như Bà chưa bao giờ viện bất kỳ lý do nào để thoái thác. Ít đệ tử có thể thành thật khẳng định điều tương tự.

Please read not only your own instructions but those given to the other members of the group, and you will then understand more clearly the reasons for the disbanding of this group.

Xin hãy đọc không chỉ những huấn thị dành cho riêng mình mà cả những huấn thị dành cho các thành viên khác của nhóm, rồi các bạn sẽ thấu hiểu rõ hơn những lý do giải tán nhóm này.

102. It appears that DK has scattered some of the reasons for disbanding the group. Some fundamental reasons are stated clearly in the three “counts” given above. More details appear in or can be inferred from the instructions.

102. Dường như Chân sư DK đã nêu rải rác một số lý do giải tán nhóm. Một số lý do căn bản được trình bày rõ trong ba “điểm quy trách” nêu trên. Những chi tiết khác xuất hiện trong các huấn thị hoặc có thể được suy ra từ đó.

The personal instructions will be full and concise and will give you enough work, coupled with all your previous instructions over the years, to occupy your attention for the remainder of your lives and lead you into a closer association with the Ashram.

Những huấn thị cá nhân sẽ đầy đủ và súc tích, và cùng với tất cả những huấn thị trước đây qua nhiều năm, chúng sẽ đem lại cho các bạn đủ công việc để chuyên tâm trong phần đời còn lại và dẫn các bạn vào mối liên hệ gần gũi hơn với ashram.

103. Master DK gives all that He can. Although necessity demanded a disbanding of the outer group, He does all He can to endow His students with what they may need (and more) to bring them closer to the Ashram in the years remaining to them in that particular incarnation. For, indeed, there would be no reason why the move towards the Ashram must stop simply because of the disbanding.

103. Chân sư DK trao ban tất cả những gì Ngài có thể. Mặc dù tình thế đòi hỏi phải giải tán nhóm bên ngoài, Ngài làm mọi điều có thể để trang bị cho các môn sinh những gì họ có thể cần (và còn hơn thế nữa), nhằm đưa họ đến gần ashram hơn trong những năm còn lại của kiếp sống cụ thể ấy. Bởi quả thực, không có lý do gì khiến việc tiến về ashram phải dừng lại chỉ vì nhóm giải tán.

104. DK knew well what might be the reaction of His sensitive disciples (discouragement was certainly one possibility) and, therefore, did everything He could to equip them to take important remaining steps.

104. Chân sư DK biết rõ các đệ tử nhạy cảm của Ngài có thể phản ứng ra sao (chắc chắn sự nản lòng là một khả năng), và vì vậy, Ngài đã làm mọi điều có thể để trang bị cho họ thực hiện những bước quan trọng còn lại.

You have the instructions, covering many years and given to each of you, preserved for you in Discipleship in the New Age (Vol. I).

Các bạn có những huấn thị trải qua nhiều năm, dành cho từng người trong các bạn, được lưu giữ cho các bạn trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới (Tập I).

105. Former instructions still apply.

105. Những huấn thị trước đây vẫn còn áp dụng.

You have much intensified and concentrated individual teaching, much indication of opportunity and of the work which you are individually asked to do, a great deal of help in dealing with personality limitations, and much inspiration.

Các bạn có nhiều giáo huấn cá nhân được tăng cường và cô đọng, nhiều chỉ dẫn về cơ hội và công việc mà từng người được yêu cầu thực hiện, rất nhiều trợ giúp trong việc xử lý những giới hạn của phàm ngã, cùng nhiều cảm hứng.

106. DK reminds the group members of the wealth teaching and suggestion they have already received:

106. Chân sư DK nhắc các thành viên trong nhóm nhớ đến kho giáo huấn và gợi ý phong phú mà họ đã nhận được:

a. Much intensified and concentrated individual teaching

a. Nhiều giáo huấn cá nhân được tăng cường và cô đọng

b. Much indication of opportunity

b. Nhiều chỉ dẫn về cơ hội

c. Much indication of the work to be done individually

c. Nhiều chỉ dẫn về công việc mà từng cá nhân cần thực hiện

d. Much help in dealing with personality limitations

d. Nhiều trợ giúp trong việc xử lý những giới hạn của phàm ngã

e. Much inspiration

e. Nhiều cảm hứng

107. Certainly, they are not left bereft.

107. Chắc chắn, họ không bị bỏ lại trong cảnh thiếu thốn.

Read now my personal instructions to you in the light of our long personal relations.

Giờ đây, hãy đọc những huấn thị cá nhân Tôi dành cho các bạn trong ánh sáng của mối quan hệ cá nhân lâu dài giữa chúng ta.

108. DK indicates that, not only have the disciples’ relations with each other had a personal dimension, but that His relations with them have also had such a dimension. No aspect of the divine life can be discounted as entirely insignificant.

108. Chân sư DK cho biết rằng không chỉ các mối quan hệ giữa những đệ tử với nhau có chiều kích cá nhân, mà các mối quan hệ của Ngài với họ cũng có chiều kích như thế. Không thể xem nhẹ bất kỳ phương diện nào của sự sống thiêng liêng như thể nó hoàn toàn không có ý nghĩa.

We have worked together for many years and I know you all well. I have told you that in the light of the Ashram there is naught concealed.

Chúng ta đã làm việc cùng nhau nhiều năm và Tôi biết rõ tất cả các bạn. Tôi đã nói với các bạn rằng trong ánh sáng của ashram, không có gì che giấu được.

109. To be well-known by a Master can act as a strengthening. Within the Ashram all is undertaken in a spirit of truth.

109. Việc một Chân sư biết rõ mình có thể giúp chúng ta thêm vững mạnh. Trong ashram, mọi việc đều được thực hiện trong tinh thần chân thật.

110. Because each disciple is so well known to the Master, that which the Master confers or imparts is based upon the clearest perception of the disciples’ needs and is therefore of great value. This is another reassurance in the midst of distress.

110. Vì Chân sư biết rõ từng đệ tử đến thế, những gì Ngài ban cho hoặc truyền đạt đều dựa trên sự nhận biết rõ ràng nhất về nhu cầu của các đệ tử, và do đó có giá trị lớn lao. Đây là một sự trấn an nữa giữa lúc đau buồn.

These instructions are bridging instructions which will suffice until the day comes when you will step into a closer relation and will have overcome the personality to such an extent that there will be no fear of your making any serious mistakes;

Những huấn thị này mang tính bắc cầu và sẽ đủ dùng cho đến ngày các bạn bước vào một mối quan hệ gần gũi hơn, vượt thắng phàm ngã đến mức không còn lo ngại rằng các bạn có thể phạm những sai lầm nghiêm trọng;

111. DK is suggesting that there is, still, a concern that these disciples may make serious mistakes. They have not overcome personality to a sufficient degree to militate against this possibility.

111. Chân sư DK hàm ý rằng vẫn còn mối lo ngại các đệ tử này có thể phạm những sai lầm nghiêm trọng. Họ chưa vượt thắng phàm ngã đủ để ngăn ngừa khả năng này.

112. DK suggests that that which they have received (of teaching, meditations, suggestions and inspiration) will last them until that day of achievement arrives.

112. Chân sư DK hàm ý rằng những gì họ đã nhận được (về giáo huấn, các bài thiền, những gợi ý và cảm hứng) sẽ đủ dùng cho họ cho đến ngày đạt được thành tựu ấy.

113. Though the blow of the disbanding must have been great, He is, as it were, “letting them down lightly”.

113. Dù việc giải thể hẳn đã là một cú sốc lớn, có thể nói Ngài đang “giúp họ đón nhận điều đó nhẹ nhàng hơn”.

you can then be depended upon, as are all true accepted serving disciples.

khi ấy có thể tin cậy các bạn, như tin cậy mọi đệ tử được chấp nhận chân chính đang phụng sự.

114. DK is saying, between the lines, the His disciples (at least a number or them) have not been really spiritually dependable. Although they were “accepted disciples”, they apparently were not all “true accepted serving disciples”. Much remained yet to be fulfilled.

114. Qua những điều hàm ẩn, Chân sư DK đang nói rằng các đệ tử của Ngài (ít nhất là một số người trong họ) chưa thật sự đáng tin cậy về mặt tinh thần. Mặc dù họ là những “đệ tử được chấp nhận”, rõ ràng không phải tất cả đều là những “đệ tử được chấp nhận chân chính đang phụng sự”. Vẫn còn nhiều điều cần phải hoàn thành.

The teaching—along special lines—of the New Age presentation of esoteric truth, necessary in preparation for initiation, will continue;

Giáo huấn—theo những đường hướng đặc biệt—về cách trình bày chân lý nội môn của Kỷ Nguyên Mới, cần thiết để chuẩn bị cho điểm đạo, sẽ tiếp tục;

115. The book The Rays and the Initiations contains a great deal of this teaching.

115. Quyển sách Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo chứa đựng rất nhiều giáo huấn này.

it is essential that the second volume of Discipleship in the New Age should reach the public.

điều thiết yếu là tập thứ hai của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới phải đến được với công chúng.

116. This finally happened in the later 1950’s.

116. Cuối cùng, điều này đã xảy ra vào cuối những năm 1950.

This new teaching (or rather this new sequence of teaching) in its timed presentation consists, as you already know, of six themes or subjects:

Như các bạn đã biết, giáo huấn mới này (hay đúng hơn là chuỗi giáo huấn mới này), khi được trình bày theo thời điểm đã định, gồm sáu chủ đề hay đề tài:

[78]

[78]

Instruction on Meditation.

Huấn Thị về Tham Thiền.

Teaching on Initiation.

Giáo Huấn về Điểm Đạo.

Training in Telepathy.

Huấn Luyện về Viễn Cảm.

Teaching anent the Etheric Body.

Giáo Huấn về Thể Dĩ Thái.

The Problems of Humanity.

Những Vấn Đề của Nhân Loại.

The Externalisation of the Ashrams.

Sự Ngoại Hiện của các Ashram.

117. We see that the more advanced teaching appeared in a number of the books. Four books relating to this list are The Rays and the Initiations, Telepathy and the Etheric Vehicle, The Problems of Humanity and The Externalization of the Hierarchy.

117. Chúng ta thấy rằng giáo huấn cao cấp hơn đã xuất hiện trong một số cuốn sách. Bốn cuốn sách liên quan đến danh sách này là Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái, Những Vấn Đề của Nhân Loại và Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.

You will continue to receive these papers, not as an affiliated member of my Ashram, but only as an intelligent, trained aspirant who is privileged to be used in building up the needed thoughtforms anent the correct aspects of the teaching so that the seed or germ may be truly implanted in the human consciousness and thus truly grow and influence the coming age. Forget this not.

Các bạn sẽ tiếp tục nhận những tài liệu này, không phải với tư cách một thành viên liên kết với ashram của Tôi, mà chỉ như một người chí nguyện thông minh, đã qua huấn luyện, có đặc ân được sử dụng trong việc xây dựng những hình tư tưởng cần thiết về các phương diện đúng đắn của giáo huấn, để hạt giống hay mầm sống có thể thực sự được gieo vào tâm thức nhân loại, nhờ đó thực sự phát triển và tác động đến kỷ nguyên sắp tới. Đừng quên điều này.

118. The ashramic connection remains but is temporarily in abeyance. DK deals clearly with the members of His disbanded outer group.

118. Mối liên kết với ashram vẫn còn nhưng tạm thời đình lại. Chân sư DK nói rõ ràng với các thành viên trong nhóm bên ngoài đã giải thể của Ngài.

119. We see that one of the very important tasks with which we, too, may cooperate is the “building up [of] the needed thoughtforms anent the correct aspects of the teaching”.

119. Chúng ta thấy rằng một trong những nhiệm vụ rất quan trọng mà chúng ta cũng có thể góp sức thực hiện là việc “xây dựng những hình tư tưởng cần thiết về các phương diện đúng đắn của giáo huấn”.

120. We see that Master DK considered His chelas as still privileged, regardless of the disbanding. They were still being used for a significant purpose and that use was to be regarded by them as a privilege.

120. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK cho rằng các đệ tử của Ngài vẫn có đặc ân, bất kể việc giải thể. Ngài vẫn sử dụng họ cho một mục đích đầy thâm nghĩa, và họ phải xem việc được sử dụng như thế là một đặc ân.

121. Much, much remains to be done for the true implantation in human consciousness of the needed thoughtforms anent the correct aspects of the teaching. Perhaps we do not realize how very much, indeed, remains to be done.

121. Còn rất, rất nhiều việc phải làm để thực sự gieo vào tâm thức nhân loại những hình tư tưởng cần thiết về các phương diện đúng đắn của giáo huấn. Có lẽ chúng ta chưa nhận ra rằng quả thực còn rất nhiều việc phải làm đến mức nào.

March 1947

Tháng 3 năm 1947

MY BROTHERS:

CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You will by now have recovered from the shock of the cessation of our outer communication.

Đến nay, hẳn các bạn đã vượt qua cú sốc do sự chấm dứt liên lạc bên ngoài giữa chúng ta.

122. This letter is written some nine months after the previous letter of June 1946. In a sense, it demonstrates that the outer connection still exists to a degree.

122. Bức thư này được viết khoảng chín tháng sau bức thư trước đó vào tháng Sáu năm 1946. Theo một ý nghĩa nào đó, nó cho thấy mối liên hệ bên ngoài vẫn còn tồn tại ở một mức độ nhất định.

123. We can only imagine the nature of the “shock” followed by the weighty sense of spiritual failure.

123. Chúng ta chỉ có thể hình dung bản chất của “cú sốc” ấy, tiếp theo là cảm giác nặng nề về sự thất bại tinh thần.

As you may well realise (or do you?), my inner relation to you remainsan entirely private and individual matter, known only to the aspiring disciple and myself. Such it must remain for this immediate life cycle.

Như các bạn có thể đã nhận ra rõ ràng (hay các bạn đã nhận ra chưa?), mối quan hệ bên trong của Tôi với các bạn vẫn là một vấn đề hoàn toàn riêng tư và cá nhân, chỉ người đệ tử đang khát vọng và chính Tôi biết. Trong chu kỳ sống trước mắt này, mối quan hệ ấy phải giữ nguyên như vậy.

124. DK suggests that some of the disciples do realize that He may, indeed, be inwardly contacted. He is also suggesting that some do not.

124. Chân sư DK gợi ý rằng một số đệ tử quả thực nhận ra rằng họ có thể tiếp xúc với Ngài ở bên trong. Ngài cũng gợi ý rằng một số người chưa nhận ra điều đó.

125. Contact with a Master is “an entirely private and individual matter”, and so it must remain for the present. Some seek to make their so-called inner contact a public matter, thus calling attention to themselves and, at the same time, indicating to those who are perceptive that their ‘inner contact’ is not the genuine article but an astral reflection—a very common occurrence.

125. Việc tiếp xúc với một Chân sư là “một vấn đề hoàn toàn riêng tư và cá nhân”, và hiện nay điều đó phải được giữ nguyên như vậy. Một số người tìm cách công khai sự tiếp xúc bên trong mà họ tự nhận là có, qua đó thu hút sự chú ý về mình, đồng thời cho những người có khả năng nhận xét tinh tường thấy rằng sự ‘tiếp xúc bên trong’ của họ không phải là thật mà chỉ là một phản ảnh cảm dục—một hiện tượng rất phổ biến.

126. DK gives an important hint about how inner contact may be achieved. The disciple is certainly in need of aspiration. Aspiration in itself goes far towards creating a line of rapport between the disciple and the Master, but, in itself, it is not sufficient to guarantee contact. We must remember that the plane of mind is considered the plane on which the Masters can be found.

126. Chân sư DK đưa ra một gợi ý quan trọng về cách đạt được sự tiếp xúc bên trong. Người đệ tử chắc chắn cần có khát vọng. Tự nó, khát vọng góp phần rất lớn vào việc tạo nên một đường dây giao cảm giữa đệ tử và Chân sư, nhưng chỉ riêng khát vọng thì chưa đủ để bảo đảm sự tiếp xúc. Chúng ta phải nhớ rằng cõi trí được xem là cõi mà chúng ta có thể tìm thấy các Chân sư.

“If the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose.” (From Extract From a Statement by the Tibetan)

“Nếu thông tin được cung cấp nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà chúng ta có thể tìm thấy các Chân sư), thì những thông tin ấy đã hoàn thành mục đích của chúng.” (Trích từ Trích Đoạn Một Tuyên Bố của Chân sư Tây Tạng)

127. There is also a hint that, in the future, the contact achieved may not remain a strictly private and individual matter—perhaps the entirety of the ashramic group may be in some way involved.

127. Cũng có một gợi ý rằng, trong tương lai, sự tiếp xúc đã đạt được có thể không còn là một vấn đề hoàn toàn riêng tư và cá nhân—có lẽ toàn thể nhóm ashram có thể cùng tham gia theo một cách nào đó.

128. We see that Master DK is taking special care to assure His chelas of long standing that they have not been abandoned.

128. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm với các đệ tử lâu năm của Ngài rằng họ không bị bỏ rơi.

The strength of your radiance, your potential as a light bearer, and your ability to serve your fellowmen will demonstrate to your co-disciples in my Ashram or on its periphery the fact of that relationship;

Sức mạnh tỏa chiếu của các bạn, tiềm năng mang ánh sáng của các bạn, và khả năng phụng sự đồng loại của các bạn sẽ chứng tỏ với các đệ tử đồng môn trong ashram Tôi hoặc ở ngoại vi của nó sự thật về mối quan hệ ấy;

129. We understand that a disciple himself is not to proclaim the inner relationship. “By their fruits ye shall know them”.

129. Chúng ta hiểu rằng chính người đệ tử không được tuyên bố về mối quan hệ bên trong ấy. “Các bạn sẽ nhận biết họ qua những thành quả của họ”.

130. The evidence of inner contact will be seen by:

130. Bằng chứng về sự tiếp xúc bên trong sẽ thể hiện qua:

a. Strength of radiance

a. Sức mạnh tỏa chiếu

b. Potential as a light-bearer

b. Tiềm năng mang ánh sáng

c. Ability to serve one’s fellowmen

c. Khả năng phụng sự đồng loại

131. This is such an important principle. We are to recognize each other by the life we lead and not by claims we may make. How often this is forgotten. We must assume that those who forget this principle are simply hungry for recognition from their co-disciples.

131. Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng. Chúng ta phải nhận biết nhau qua cách sống, chứ không qua những lời tự nhận mà chúng ta có thể đưa ra. Điều này thường xuyên bị lãng quên biết bao. Chúng ta phải cho rằng những người quên nguyên tắc này chỉ đơn giản là đang khao khát sự công nhận từ các đệ tử đồng môn.

it will prove that you, the personality, the soul, and the Master of the Ashram, are in contact. The supreme Master, the Christ, said when last on Earth: ”By their fruits ye shall know them.” In so saying, He indicated a definite line of guidance for all of us.

điều đó sẽ chứng tỏ rằng các bạn, phàm ngã, linh hồn và Chân sư của ashram đang tiếp xúc với nhau. Vị Chân sư tối cao, Đức Christ, đã nói trong lần cuối Ngài ở trên Trái Đất: “Nhờ những quả của họ, các bạn sẽ biết họ.” Khi nói như vậy, Ngài đã chỉ ra một đường hướng chỉ dẫn rõ ràng cho tất cả chúng ta.

132. What is here said is so utterly clear. DK is warning us away from the trap into which quite a number of well-meaning disciples fall.

132. Điều nói ở đây hoàn toàn rõ ràng. Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta tránh xa cái bẫy mà khá nhiều đệ tử có thiện ý rơi vào.

133. We note that manner in which the Christ is referenced: “the supreme Master”. This should give us pause for reflection.

133. Chúng ta lưu ý cách Đức Christ được nhắc đến: “Vị Chân sư tối cao”. Điều này hẳn khiến chúng ta dừng lại để suy ngẫm.

A Master has to know and gauge the disciple by the work which he does in the furthering of the Plan, and not by the disciple’s reaction to his aspiration.

Một Chân sư phải biết và đánh giá đệ tử qua công việc y làm để thúc đẩy Thiên Cơ, chứ không qua phản ứng của đệ tử đối với khát vọng của mình.

134. There is a glamor which affects those who stand relatively progressed upon the Path: the glamor of aspiration.

134. Có một ảo cảm ảnh hưởng đến những người đã tiến tương đối xa trên Đường Đạo: ảo cảm về khát vọng.

135. To desire high things and to yearn for their fulfillment is an important step; to actually take steady and consistent steps towards accomplishment are a further step, and a step for which the Master looks.

135. Mong muốn những điều cao cả và khao khát chúng thành hiện thực là một bước quan trọng; thực sự tiến những bước vững vàng và nhất quán hướng tới thành tựu là một bước xa hơn, và là bước mà Chân sư trông đợi.

The attentive world has also to gauge the existent phase of divine expression in the disciple’s daily life. By what else can the onlooker gauge it?

Thế giới đang dõi theo cũng phải đánh giá giai đoạn biểu lộ thiêng liêng hiện có trong đời sống hằng ngày của đệ tử. Người quan sát có thể dựa vào điều gì khác để đánh giá điều đó? Vì vậy,

136. The disciple’s life must be an example of “divine expression”—at least relatively so. As disciples are always busy setting an example and are always under scrutiny. There is no way to avoid this.

136. Đời sống của đệ tử phải là một tấm gương về “sự biểu lộ thiêng liêng”—ít nhất ở mức độ tương đối. Với tư cách đệ tử, chúng ta luôn phải nêu gương và luôn chịu sự xem xét kỹ lưỡng. Không có cách nào tránh được điều này.

The disciple is therefore under constant dual investigation;

đệ tử luôn chịu sự xem xét từ hai phía;

137. The dual investigation suggests observation by both the Master and by the attentive world. The perspectives will be different, but observation of the degree of service (though differently assessed) will be common to both.

137. Sự xem xét từ hai phía hàm ý sự quan sát của cả Chân sư lẫn thế giới đang dõi theo. Các góc nhìn sẽ khác nhau, nhưng việc quan sát mức độ phụng sự (dù được đánh giá khác nhau) sẽ là điểm chung của cả hai.

to this test, he must perforce himself add a third: his own position as the Observer. He is thus exposed to criticism and [79] judgment from three angles, and upon this fact I would ask you carefully to ponder.

bên cạnh thử thách này, y buộc phải tự thêm một phía thứ ba: vị thế của chính mình với tư cách Người Quan Sát. Như vậy, y chịu sự phê bình và [79] phán xét từ ba góc độ, và Tôi đề nghị các bạn suy ngẫm cẩn thận về sự kiện này.

138. We are being given very practical information. The disciple will be subject to three angles of observation, not the least of which is “his own position as the Observer”.

138. Chúng ta đang được cung cấp thông tin rất thiết thực. Đệ tử sẽ chịu sự quan sát từ ba góc độ, trong đó “vị thế của chính mình với tư cách Người Quan Sát” có tầm quan trọng không hề nhỏ.

139. Master DK speaks openly of criticism, meaning evaluation in the light.

139. Chân sư DK nói thẳng về sự phê bình, với hàm ý là đánh giá trong ánh sáng.

140. If one thinks closely about the triple critique, one’s own critique, as the Observer, is probably the most important. Some disciples try to present a good aspect to the on-looking world or, perhaps, even to the Master. But for the sincere disciple, there is no way He can fool himself.

140. Nếu suy xét kỹ về sự phê bình từ ba phía, thì sự phê bình của chính mình, với tư cách Người Quan Sát, có lẽ là quan trọng nhất. Một số đệ tử cố gắng thể hiện một mặt tốt đẹp trước thế giới đang dõi theo hoặc, có lẽ, ngay cả trước Chân sư. Nhưng đối với đệ tử chân thành, không có cách nào y có thể tự lừa dối mình.

A review at night along these three lines would be of value to all disciples, using the imagination as far as possible as an instrument of spiritual perception;

Việc ôn lại vào buổi tối theo ba đường hướng này sẽ có giá trị đối với mọi đệ tử, sử dụng sự tưởng tượng hết mức có thể như một công cụ nhận thức tinh thần;

141. A most useful evening review is suggested. We might question our usefulness—to the Master, to the “attentive world” and to ourselves as a soul on its own plane.

141. Một cách ôn lại vào buổi tối hết sức hữu ích được gợi ý ở đây. Chúng ta có thể tự hỏi mình hữu ích đến đâu—đối với Chân sư, đối với “thế giới đang dõi theo” và đối với chính mình với tư cách một linh hồn trên cõi riêng của linh hồn.

142. An important hint is given concerning the use of the imagination. We might call this use of the imagination “spiritual imagination” rather than “creative imagination”. Perhaps through the right use of imagination we can actually see that which the Master, the public and the soul see. It is worth the effort to attempt this triple review.

142. Một gợi ý quan trọng được đưa ra về việc sử dụng sự tưởng tượng. Chúng ta có thể gọi cách sử dụng sự tưởng tượng này là “sự tưởng tượng tinh thần” thay vì “sự tưởng tượng sáng tạo”. Có lẽ qua việc sử dụng sự tưởng tượng đúng đắn, chúng ta thực sự có thể thấy điều mà Chân sư, công chúng và linh hồn thấy. Việc cố gắng thực hiện sự duyệt xét tam phân này rất đáng công.

learn to “imagine,” as far as you can, how a Master would view your day’s endeavour, how your watching environment would have reacted to your life and words, and how you yourself regard the day’s accomplishments.

hãy học cách “hình dung”, trong khả năng của mình, một Chân sư sẽ nhìn nhận nỗ lực trong ngày của các bạn như thế nào, môi trường xung quanh đang dõi theo các bạn đã phản ứng ra sao với đời sống và lời nói của các bạn, và chính các bạn nhìn nhận những thành tựu trong ngày ra sao.

143. Here the method is clearly stated. The results will be illuminating—and sobering.

143. Ở đây, phương pháp được trình bày rõ ràng. Các kết quả sẽ mang lại sự soi sáng—và khiến chúng ta tỉnh táo nhìn lại.

I would recommend this to all disciples and all of you in training for my Ashram; and what I have here suggested might well be used also by the Arcane School for the senior students.

Tôi đề nghị điều này với mọi đệ tử và tất cả các bạn đang được huấn luyện cho ashram của Tôi; Trường Arcane cũng rất có thể sử dụng điều Tôi vừa gợi ý cho các đạo sinh cao cấp.

144. We note that Master DK speaks of those “in training for my Ashram” and not of those “in training in my Ashram”. Apparently that which is to be gained through this exercise will go a long way towards fitting the disciple for participation in Master DK’s Ashram.

144. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói đến những người “đang được huấn luyện để gia nhập ashram của Tôi”, chứ không phải những người “đang được huấn luyện trong ashram của Tôi”. Hiển nhiên, những gì đệ tử thu nhận được qua bài tập này sẽ góp phần rất lớn vào việc giúp họ hội đủ điều kiện để tham gia ashram của Chân sư DK.

March 1948

Tháng Ba năm 1948

MY BROTHERS:

CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Another year has gone by and it is again time for me to extend the teaching already given still a little further.

Một năm nữa đã trôi qua và lại đến lúc Tôi mở rộng thêm đôi chút giáo huấn đã ban.

145. The reassuring word continues. The form of address, however, is not “My Affiliated Brothers”.

145. Lời trấn an vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, cách xưng hô không phải là “Các Huynh Đệ Có Liên Kết Với Tôi”.

You are still functioning as a group with closely interrelated links with the Ashram, with me and with each other.

Các bạn vẫn hoạt động như một nhóm có những mối liên kết chặt chẽ với ashram, với Tôi và với nhau.

146. The group functioning continues. There are links with the Ashram but no word of standing on the periphery.

146. Nhóm vẫn tiếp tục hoạt động. Có những mối liên kết với ashram, nhưng không có lời nào nói đến việc đứng ở ngoại vi.

The situation is not, however, the same as it was last year, and there are certain differences and distinctions.

Tuy nhiên, tình hình không còn giống năm ngoái, và có những khác biệt cùng những nét phân biệt nhất định.

147. We understand that there is nothing static about the Spiritual Hierarchy of our Planet. It is known for its adaptivity.

147. Chúng ta hiểu rằng Thánh đoàn của Hành Tinh chúng ta không có gì là tĩnh tại. Thánh đoàn nổi tiếng về khả năng thích ứng.

148. We may only imagine the changes which have occurred within Hierarchy during the last fifty or so years. Probably Master DK, when once again He begins to write publicly, will inform us of these changes.

148. Chúng ta chỉ có thể hình dung những thay đổi đã diễn ra trong Thánh đoàn suốt khoảng năm mươi năm qua. Có lẽ khi một lần nữa bắt đầu viết cho công chúng, Chân sư DK sẽ cho chúng ta biết về những thay đổi này.

These are due to the reorganisation which has gone on within the Hierarchy itself, necessitated by the imminent reappearance of the Christ. This has produced certain basic changes.

Những điều này là do việc tái tổ chức đã diễn ra trong chính Thánh đoàn, vốn trở nên cần thiết vì sự tái lâm sắp tới của Đức Christ. Điều này đã tạo ra những thay đổi căn bản nhất định.

149. The Reappearance places a tremendous pressure not only upon humanity but upon Hierarchy, itself. It is the foremost spiritual event occurring upon our planet, and all spiritual processes are influenced by it.

149. Sự Tái Lâm đặt một áp lực vô cùng lớn lên không chỉ nhân loại mà cả chính Thánh đoàn. Đây là sự kiện tinh thần quan trọng nhất đang diễn ra trên hành tinh chúng ta, và sự kiện này ảnh hưởng đến mọi tiến trình tinh thần.

As you know, I have for years (with the assistance of A.A.B.) been endeavouring to help and aid many disciples who belong to other Ashrams than the second ray Ashram of K.H. or my own.

Như các bạn biết, trong nhiều năm qua, với sự trợ giúp của A.A.B., Tôi đã nỗ lực hỗ trợ nhiều đệ tử thuộc các ashram khác với ashram cung hai của Chân sư KH hoặc ashram của Tôi.

150. This has been evidenced through the fact that first, third, sixth and seventh ray souls have been among the students in Master DK’s specialized groups.

150. Bằng chứng cho điều này là trong số các môn sinh thuộc những nhóm chuyên biệt của Chân sư DK có các linh hồn cung một, cung ba, cung sáu và cung bảy.

I have given to them the basic teaching which they would have received from their own Masters and—because my Ashram is a second ray Ashram—they have had an imperative stimulus given to their love nature, and their sense of universality has been developed, in order to fit them for the work of the coming cycle.

Tôi đã truyền cho họ giáo huấn căn bản mà lẽ ra họ sẽ nhận từ các Chân sư của mình, và—vì ashram của Tôi là một ashram cung hai—bản chất bác ái của họ đã nhận được một sự kích thích mạnh mẽ, thôi thúc họ phát triển, đồng thời ý thức về tính phổ quát của họ cũng được phát triển, nhằm chuẩn bị cho họ đảm nhận công việc của chu kỳ sắp tới.

151. The benefit to be received from Master DK as a hierarchical teacher is listed.

151. Những lợi ích nhận được từ Chân sư DK trong vai trò một huấn sư của Thánh đoàn được liệt kê dưới đây.

a. He has given disciples on loan to His Ashram the preliminaries they would have received from their own Master. All members of an Ashram must be equipped with a basic teaching.

a. Ngài đã truyền cho những đệ tử được biệt phái đến ashram của Ngài những giáo huấn sơ bộ mà lẽ ra họ sẽ nhận từ Chân sư của mình. Mọi thành viên của một ashram đều phải được trang bị giáo huấn căn bản.

b. Because He is a second ray Master, He has stimulated their love nature and sense of universality. This is of great benefit considering the group-consciousness to be cultivated in the coming cycle. The sense of love and universality are great gifts from the second ray.

b. Vì là một Chân sư cung hai, Ngài đã kích thích bản chất bác ái và ý thức về tính phổ quát của họ. Điều này mang lại lợi ích lớn lao khi xét đến tâm thức nhóm cần được vun bồi trong chu kỳ sắp tới. Tình thương và ý thức về tính phổ quát là những tặng phẩm lớn lao của cung hai.

In the cycle now so near at hand, the Lord of Love will seek to organise the new era along the new or Aquarian lines.

Trong chu kỳ hiện đã rất gần kề, Chúa Tể Bác Ái sẽ tìm cách tổ chức kỷ nguyên mới theo những đường hướng mới,

152. The Aquarian Age has not yet begun, but the training for the imminent cycle has begun. As of 2006, we still have about 111 years before Aquarian Age actually begins.

152. Kỷ Nguyên Bảo Bình vẫn chưa bắt đầu, nhưng việc huấn luyện để chuẩn bị cho chu kỳ sắp tới đã bắt đầu. Tính từ năm 2006, chúng ta vẫn còn khoảng 111 năm nữa trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình thực sự bắt đầu.

In the series of papers on the externalisation of the Ashrams or of the Hierarchy,* we are in reality considering the goal or supreme expression of [80] the teaching given to many disciples anent that great event—teaching intended to evoke their intelligent cooperation.

tức đường hướng Bảo Bình. Trong loạt bài về sự ngoại hiện của các ashram hay của Thánh đoàn, [vi]* thực ra chúng ta đang xem xét mục tiêu hay biểu hiện cao nhất của [80] giáo huấn đã truyền cho nhiều đệ tử về sự kiện vĩ đại ấy—giáo huấn nhằm khơi dậy sự hợp tác sáng suốt của họ.

153. All the occult teaching thus far given is meant to facilitate the “goal or supreme expression” here mentioned. All teaching is to be used to facilitate a practical spiritual result.

153. Toàn bộ giáo huấn huyền bí đã được truyền dạy cho đến nay đều nhằm tạo thuận lợi cho việc đạt đến “mục tiêu hay biểu hiện cao nhất” được đề cập ở đây. Mọi giáo huấn đều phải được vận dụng để giúp đạt được một kết quả tinh thần thiết thực.

154. The “great event” will be the Externalization of the Hierarchy and the Reappearance of the Christ.

154. “Sự kiện vĩ đại” sẽ là Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn và Sự Tái Lâm của Đức Christ.

In your preceding series of instructions I dealt specifically with theReturn of the Christ, and that message was sent out on a large scale to the general public.

Trong loạt huấn thị trước dành cho các bạn, Tôi đã đề cập cụ thể đến Sự Trở Lại của Đức Christ, và thông điệp ấy đã được phổ biến rộng rãi đến công chúng.

155. We note that the phrase, the “Return of the Christ” is used as well as the more frequently seen phrase, the “Reappearance of the Christ”. Perhaps the word “return”, though in some ways partially inaccurate, may have appeal to some for whom the word “reappearance” is too complicated to grasp.

155. Chúng ta lưu ý rằng cụm từ “Sự Trở Lại của Đức Christ” cũng được sử dụng bên cạnh cụm từ thường gặp hơn là “Sự Tái Lâm của Đức Christ”. Có lẽ từ “trở lại”, dù phần nào chưa chính xác xét trên một vài phương diện, vẫn có thể thu hút một số người cảm thấy từ “tái lâm” quá phức tạp để hiểu.

Since then I have written two other papers, entitled: The Work of the Christ and The Teaching of the Christ. These have been added to the original instruction anent Christ’s reappearance, so as to reach a larger public than just this handful of disciples. These instructions are now available to all of you in book form, entitled The Reappearance of the Christ.

Từ đó đến nay, Tôi đã viết thêm hai bài, mang tên: Công Việc của Đức Christ và Giáo Huấn của Đức Christ. Hai bài này đã được bổ sung vào huấn thị ban đầu về sự tái lâm của Đức Christ, nhằm tiếp cận một công chúng rộng lớn hơn, vượt ra ngoài nhóm đệ tử ít ỏi này. Hiện nay, tất cả các bạn đều có thể đọc những huấn thị ấy dưới dạng sách, mang tên Sự Tái Lâm của Đức Christ.

156. The most important information to be conveyed to the general public is a sane and reasonable presentation of the subject of Christ’s Reappearance, and His return to widely visible outer physical plane expression.

156. Thông tin quan trọng nhất cần truyền đạt đến công chúng là một cách trình bày tỉnh táo và hợp lý về chủ đề Sự Tái Lâm của Đức Christ, và việc Ngài trở lại biểu hiện ra bên ngoài trên cõi hồng trần để đông đảo mọi người có thể nhìn thấy.

The point which I am seeking to make is that this book is primarily your contribution to the effort which the Hierarchy is making to reach and arouse men everywhere to the imminence and the inevitability of Christ’s emergence;

Điều Tôi muốn làm rõ là cuốn sách này trước hết chính là sự đóng góp của các bạn vào nỗ lực mà Thánh đoàn đang thực hiện để tiếp cận và thức tỉnh con người ở khắp nơi trước sự xuất hiện đã gần kề và tất yếu của Đức Christ;

157. Here the term “emergence” is added to “return” and “reappearance”.

157. Ở đây, thuật ngữ “xuất hiện” được thêm vào bên cạnh “trở lại” và “tái lâm”.

158. We note that the His emergence is both imminent and inevitable. The date must not be too far into the future.

158. Chúng ta lưu ý rằng sự xuất hiện của Ngài vừa sắp xảy ra vừa tất yếu. Thời điểm ấy hẳn không còn quá xa trong tương lai.

159. Perhaps because the Christ is the World Savior for both the Piscean and Aquarian Age, it will be necessary for Him to reappear during the approximately one hundred year transition period which yet remains before the technical beginning of the Age of Aquarius.

159. Có lẽ vì Đức Christ là Đấng Cứu Thế cho cả hai Kỷ Nguyên Song Ngư và Bảo Bình, nên Ngài cần tái lâm trong giai đoạn chuyển tiếp khoảng một trăm năm vẫn còn lại trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình chính thức bắt đầu theo cách xác định chuyên môn.

it is in the nature of a seal set upon your faithfulness and steadfast faith over the years in which we have worked together.

cuốn sách mang ý nghĩa như một dấu ấn xác nhận lòng trung thành và đức tin kiên định của các bạn trong những năm chúng ta cùng làm việc.