← Commentary on DINA I song ngữ

8. PART VII – 8. PHẦN VII

Trích nội dung chương

b. Next, the recognition of the fact of love as an expression of that soul contact — expressed through the medium of the personality. b. Tiếp theo, nhận biết thực tại của tình thương như một biểu hiện của sự tiếp xúc với linh hồn ấy — biểu lộ qua trung gian phàm ngã.


b. Next, the recognition of the fact of love as an expression of that soul contact — expressed through the medium of the personality.

b. Tiếp theo, nhận biết thực tại của tình thương như một biểu hiện của sự tiếp xúc với linh hồn ấy — biểu lộ qua trung gian phàm ngã.

c. Finally, the imaginative fusion of the egoic and personality rays.

c. Cuối cùng, dung hợp cung chân ngã và cung phàm ngã bằng sự tưởng tượng.

This constitutes the vertical stage.

Điều này tạo thành giai đoạn theo chiều dọc.

1. An important meditation to achieve some of the objectives stated above is offered.

1. Một bài thiền quan trọng được đưa ra để đạt một số mục tiêu đã nêu trên.

2. Personality reactions are consciously relinquished.

2. Người hành thiền có ý thức từ bỏ những phản ứng của phàm ngã.

3. Love is recognized as a soul factor and expressed through the personality.

3. Tình thương được nhận biết là một yếu tố của linh hồn và được biểu lộ qua phàm ngã.

4. And, imaginatively, soul and personality rays are fused.

4. Và, bằng sự tưởng tượng, cung linh hồn và cung phàm ngã được dung hợp.

5. The individual personality is seen as an instrument of the soul.

5. Phàm ngã cá nhân được nhìn nhận là một công cụ của linh hồn.

STAGE TWO. The above is followed by group integration and group fusion, carried forward consciously:

GIAI ĐOẠN HAI. Tiếp theo phần trên là sự tích hợp nhóm và sự dung hợp nhóm, được tiến hành một cách có ý thức:

a. By bringing each group member into conscious rapport through naming and loving.

a. Bằng cách đưa từng thành viên nhóm vào mối giao cảm có ý thức qua việc gọi tên và yêu thương.

b. By seeing all the group members as a circle of living points of light along with yourself in the circle, but not at the centre of the circle.

b. Bằng cách thấy mọi thành viên nhóm như một vòng tròn gồm những điểm sáng sống động, cùng với chính mình ở trong vòng tròn, nhưng không ở tâm vòng tròn.

c. By imagining all these points of light as fusing and blending to make a radiant sun, with rays of light going out towards the four corners of the earth.

c. Bằng cách tưởng tượng tất cả những điểm sáng này dung hợp và hòa quyện thành một mặt trời rực rỡ, với những tia sáng tỏa ra bốn phương Trái Đất.

This constitutes the horizontal stage.

Điều này tạo thành giai đoạn theo chiều ngang.

1. “Naming and loving” is an important phase of in the process of group integration. Each group member is actually named and a stream of love is sent from the meditator to each. This is a simple but effective method of achieving loving, lighted group interplay.

1. “Gọi tên và yêu thương” là một bước quan trọng trong tiến trình tích hợp nhóm. Người hành thiền thực sự gọi tên từng thành viên nhóm và gửi một dòng tình thương đến từng người. Đây là một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để đạt được sự tương tác nhóm đầy tình thương và ánh sáng.

2. The simple beauty of this meditation is clear. Each of us can practice this in relation to the groups with which we may be participating.

2. Vẻ đẹp giản dị của bài thiền này thật rõ ràng. Mỗi người chúng ta đều có thể thực hành điều này trong mối liên hệ với những nhóm mà mình có thể đang tham gia.

3. The Sun is the symbol of synthesis, and in this case, it synthesizes the cross (the four corners of the earth). This involves the elements and the deva kingdom.

3. Mặt Trời là biểu tượng của sự tổng hợp, và trong trường hợp này, nó tổng hợp thập giá (bốn phương Trái Đất). Điều này liên quan đến các nguyên tố và giới thiên thần.

4. We note that this group process is considered a “horizontal” phase of the work. There is, indeed, a kind of ‘lateral expansiveness’ which can be sensed in terms of the instructions for the second stage.

4. Chúng ta lưu ý rằng tiến trình nhóm này được xem là một giai đoạn “theo chiều ngang” của công việc. Quả thật, có một dạng ‘mở rộng sang hai bên’ mà chúng ta có thể cảm nhận qua những huấn thị dành cho giai đoạn thứ hai.

STAGE THREE. There follows next a careful consideration of group purpose and technique. This technique will be different for each group; by a dynamic, unremitting [62] following of the particular, indicated technique will the results be achieved. This technique must not be changed by anyone except myself.

GIAI ĐOẠN BA. Tiếp theo là việc xem xét cẩn thận mục đích và kỹ thuật của nhóm. Mỗi nhóm sẽ có kỹ thuật khác nhau; chính nhờ việc tuân theo một cách năng động, không ngừng nghỉ [62] kỹ thuật riêng đã được chỉ định mà các kết quả sẽ đạt được. Ngoài chính Tôi, không ai được thay đổi kỹ thuật này.

1. Group purpose was, at this time, rather clear.

1. Vào thời điểm này, mục đích nhóm đã khá rõ ràng.

2. Group technique was more intricate and had not yet been fully revealed, though a general statement describing each had been given.

2. Kỹ thuật nhóm phức tạp hơn và chưa được tiết lộ đầy đủ, dù đã có một lời trình bày khái quát mô tả kỹ thuật của từng nhóm.

3. We note that Master DK is indeed the Director of these groups and responsible for their correct guidance.

3. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK quả thực là Đấng Chỉ Đạo các nhóm này và chịu trách nhiệm hướng dẫn họ đúng đắn.

Stages I and II should be rapidly effective and almost instantaneous in their results, after three months’ careful work has been done. I request that you give careful, patient attention to them so that they develop eventually into stable habits and so give you no trouble and further difficulty. The initial stages in this type of work are of paramount importance.

Sau ba tháng thực hành cẩn thận, các Giai đoạn I và II phải nhanh chóng có hiệu quả và mang lại kết quả gần như tức thời. Tôi yêu cầu các bạn chú tâm thực hành chúng một cách cẩn thận, kiên nhẫn, để cuối cùng chúng trở thành những thói quen ổn định, nhờ đó không gây cho các bạn trở ngại và khó khăn nào thêm nữa. Những giai đoạn ban đầu trong loại công việc này có tầm quan trọng hàng đầu.

1. DK works to make the first stages of the meditation routine.

1. Chân sư DK cố gắng làm cho những giai đoạn đầu của bài thiền trở thành nếp thực hành quen thuộc.

2. Much training had already preceded the giving of this meditation. The meditation represents a stage of consolidation of considerable training.

2. Trước khi bài thiền này được trao, đã có nhiều sự huấn luyện. Bài thiền thể hiện một giai đoạn củng cố quá trình huấn luyện đáng kể ấy.

STAGE FOUR. Having finished the special group work under Stage III, the members of the group will then endeavour to link up with the other groups in the same manner in which they linked up with the members of their own group. In this case, however, disciples will not concern themselves with the personnel of any of the groups, including their own, but only — as a group — link their group with the other groups. Thus the concepts of illusion and of separateness, and the realisation of fusion, will assume correct proportions in your minds.

GIAI ĐOẠN BỐN. Sau khi hoàn thành công việc nhóm đặc biệt trong Giai đoạn III, các thành viên nhóm sẽ cố gắng liên kết với các nhóm khác theo cùng cách họ đã liên kết với các thành viên trong nhóm mình. Tuy nhiên, trong trường hợp này, các đệ tử sẽ không quan tâm đến thành viên của bất kỳ nhóm nào, kể cả nhóm mình, mà chỉ — với tư cách một nhóm — liên kết nhóm mình với các nhóm khác. Như vậy, các khái niệm về ảo tưởng và sự chia rẽ, cùng với sự chứng nghiệm về dung hợp, sẽ có được tỉ lệ đúng đắn trong thể trí các bạn.

1. It appears that the “special group work” has not been included in these instructions. These are the particulars in which many may be interested, but for which they would be unprepared unless they had successfully completed the earlier stages.

1. Dường như “công việc nhóm đặc biệt” chưa được đưa vào những huấn thị này. Đây là những chi tiết mà nhiều người có thể quan tâm, nhưng họ sẽ chưa sẵn sàng đón nhận nếu chưa hoàn thành thành công các giai đoạn trước.

2. Perhaps, if Master DK decides to re-animate these Seed Groups, such special techniques will again be applied — under His supervision.

2. Có lẽ, nếu Chân sư DK quyết định khôi phục hoạt động của các Nhóm hạt giống này, những kỹ thuật đặc biệt ấy sẽ lại được áp dụng — dưới sự giám sát của Ngài.

3. A further horizontal approach is to be utilized, this time between the groups (irrespective of their personnel), just as previously between the personnel in any particular group.

3. Một cách tiếp cận thêm nữa theo chiều ngang sẽ được sử dụng, lần này là giữa các nhóm (không xét đến thành viên của họ), cũng như trước đó là giữa các thành viên trong một nhóm cụ thể.

4. The Seed Group Work was to be one organic whole. The need of each Seed Group for initial insulation was a preliminary requirement. Later the interdependence of all such groups and their essential fusion would be experienced.

4. Công Việc Nhóm Hạt Giống phải là một toàn thể hữu cơ duy nhất. Nhu cầu cách ly ban đầu của mỗi Nhóm hạt giống là một yêu cầu sơ bộ. Về sau, các nhóm sẽ trải nghiệm sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả những nhóm ấy và sự dung hợp cốt yếu giữa họ.

5. DK is teaching His chelas to think in terms of the group as a whole; the personnel, really, are incidental.

5. Chân sư DK đang dạy các đệ tử của Ngài suy nghĩ về nhóm như một toàn thể; thực ra, thành phần thành viên chỉ là thứ yếu.

a. Next, as a group, say the Great Invocation three times:

a. Tiếp theo, với tư cách một nhóm, hãy đọc Đại Khấn Nguyện ba lần:

“Let the Forces of Light bring illumination to mankind.

“Cầu xin các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.

Let the Spirit of Peace be spread abroad.

Cầu xin Tinh thần Hòa Bình lan tỏa khắp nơi.

May Men of Goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.

Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.

Let Power attend the efforts of the Great Ones. ”

Cầu xin Quyền Năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả. ”

b. Then sound the Sacred Word, the O. M. three times.

b. Sau đó xướng Linh từ Thiêng liêng, O. M., ba lần.

c. Close with the prayer of the personality to the soul:

c. Kết thúc bằng lời cầu nguyện của phàm ngã với linh hồn:

“May the words of my mouth and the meditation of my heart be always acceptable in thy sight, Oh Soul, my Lord and my Redeemer.” [63]

“Cầu mong những lời từ miệng con và sự tham thiền trong tâm con luôn được Ngài chấp nhận, hỡi Linh Hồn, Chúa Tể và Đấng Cứu Chuộc của con.” [63]

1. The Great Invocation referenced is really Stanza I of a three-part Great invocation.

1. Đại Khấn Nguyện được nhắc đến thực ra là Bài kệ I của một Đại Khấn Nguyện gồm ba phần.

2. Stanza II was given in 1940 and Stanza III in 1945 (the Great Invocation as we normally think of it and sound it).

2. Bài kệ II được ban vào năm 1940 và Bài kệ III vào năm 1945 (Đại Khấn Nguyện mà chúng ta thường nghĩ đến và xướng lên).

3. The meditation closes with ancient words which hearken back to the Old Testament. This is really a prayer of the suppliant personality to the over-lighting Solar Angel.

3. Bài thiền kết thúc bằng những lời cổ xưa gợi về Cựu Ước. Đây thực sự là lời cầu nguyện của phàm ngã khẩn cầu Thái dương Thiên Thần đang soi sáng từ bên trên.

4. If we wish to approach the Solar Angel, we have been given the right means for doing so.

4. Nếu muốn tiếp cận Thái dương Thiên Thần, chúng ta đã được trao phương tiện đúng đắn để làm điều đó.

To the next commentary

Sang phần bình giảng tiếp theo

8. PART VII – 8. PHẦN VII

commentary by Michael D. Robbins

bình giảng của Michael D. Robbins

The need for telepathic sensitivity in every group, composed of disciples, is based upon three necessities; I would like you to understand this more clearly.

Nhu cầu về sự nhạy cảm viễn cảm trong mỗi nhóm gồm các đệ tử dựa trên ba điều cần thiết; Tôi muốn các bạn thấu hiểu điều này rõ hơn.

1. The cultivation of an inter-relation of a telepathic nature upon the mental plane is essential. This has always been an established fact or condition in the case of a Master and His disciple and between the senior disciples in any group of accepted disciples. The time has now come when this group quality must — for the sake of a needy world — be developed by disciples of lesser attainment in the group.

1. Việc vun bồi mối tương quan có bản chất viễn cảm trên cõi trí là điều thiết yếu. Đây luôn là một thực tế hay một điều kiện đã được xác lập trong quan hệ giữa một Chân sư với đệ tử của Ngài, và giữa các đệ tử cao niên trong bất kỳ nhóm đệ tử được chấp nhận nào. Giờ đây đã đến lúc các đệ tử có thành tựu thấp hơn trong nhóm phải phát triển phẩm tính nhóm này — vì một thế giới đang cần trợ giúp.

1. We understand that the development of telepathic sensitivity is not an option, but a need in every group of disciples which is to be associated with Hierarchy.

1. Chúng ta thấu hiểu rằng việc phát triển sự nhạy cảm viễn cảm không phải là một lựa chọn, mà là một nhu cầu trong mọi nhóm đệ tử sẽ liên kết với Thánh đoàn.

2. Such disciples are related to each other primarily on the plane of soul, but the plane of soul is (at this time) the higher mental plane. This is the kind of “mental telepathy” which is to be cultivated — higher mind to higher mind. Such higher telepathy will, of course, have its reflection in the normal form of mental telepathy — which includes ‘concrete’ mental content.

2. Những đệ tử như thế liên hệ với nhau chủ yếu trên cõi linh hồn, nhưng cõi linh hồn (vào thời điểm này) là cõi thượng trí. Đây là loại “viễn cảm trí tuệ” cần được vun bồi — từ thượng trí đến thượng trí. Dĩ nhiên, loại viễn cảm cao hơn ấy sẽ có sự phản chiếu trong hình thức viễn cảm trí tuệ thông thường — vốn bao gồm nội dung trí tuệ ‘cụ thể’ trong đó.

3. A familiar theme is enunciated: that which earlier was the prerogative of the Masters, initiates and senior disciples in groups of accepted disciples, must now become the prerogative of disciples of lesser attainment — all for the sake of a needy world.

3. Một chủ đề quen thuộc được nêu lên: điều trước kia là đặc quyền của các Chân sư, điểm đạo đồ và đệ tử cao niên trong các nhóm đệ tử được chấp nhận, giờ đây phải trở thành đặc quyền của những đệ tử có thành tựu thấp hơn — tất cả đều vì một thế giới đang cần trợ giúp.

4. The Tibetan is again letting us know that we (and all of Hierarchy) are in the midst of a “forcing process” with both its opportunities and attendant discomforts.

4. Chân sư Tây Tạng một lần nữa cho chúng ta biết rằng chúng ta (và toàn thể Thánh đoàn) đang ở giữa một “tiến trình thúc đẩy mạnh mẽ” với cả những cơ hội lẫn những khó chịu đi kèm.

5. Telepathic sensitivity is of the utmost importance so that there may be unanimity among the group brothers — one luminous soul-infused mind. Within an Ashram, all participants must be impressed by how the Master “sees things”. No argument and divisive, divergent points of view are then possible though illuminating discussion and the contribution of each ashramic member are always possible.

5. Sự nhạy cảm viễn cảm có tầm quan trọng tối cao để có thể có sự nhất trí giữa các huynh đệ trong nhóm — một thể trí sáng ngời duy nhất được linh hồn thấm nhuần. Trong một ashram, tất cả những người tham gia đều phải tiếp nhận ấn tượng từ cách Chân sư “nhìn nhận mọi việc”. Khi ấy, không thể có tranh cãi và những quan điểm khác biệt gây chia rẽ, dù vẫn luôn có thể thảo luận để làm sáng tỏ và đón nhận sự đóng góp của từng thành viên ashram.

2. This telepathic unfoldment will lead to a greater sensitivity to others. This is the secret of a Master’s work and the factor which enables Him to work through His disciples, using them as outposts of His consciousness. To do this with exactitude, He must be able to know their condition (mental, psychical and physical) when He chooses so to know. He can thus discover whether they are available or not for any specific service, whether they can be safely used or not and whether their sensitivity is such and their interpretation of what they sense is of sufficient accuracy so that they will respond intelligently to the need. Have I not had to study all of you this way? Think this out and ponder upon the implications.

2. Sự khai mở viễn cảm này sẽ dẫn đến sự nhạy cảm lớn hơn với người khác. Đây là bí quyết trong công việc của một Chân sư và là yếu tố giúp Ngài hoạt động thông qua các đệ tử, sử dụng họ như những tiền đồn của tâm thức Ngài. Để làm điều này một cách chính xác, Ngài phải có khả năng biết được tình trạng của họ (về trí tuệ, thông linh và hồng trần) khi Ngài muốn biết. Nhờ đó, Ngài có thể xác định họ có sẵn sàng cho một công việc phụng sự cụ thể nào đó hay không, có thể sử dụng họ một cách an toàn hay không, và liệu sự nhạy cảm của họ cùng cách họ diễn giải những gì mình cảm nhận có đủ chính xác để họ đáp ứng một cách thông minh trước nhu cầu hay không. Chẳng phải Tôi đã phải tìm hiểu tất cả các bạn theo cách này sao? Hãy suy nghĩ thấu đáo điều này và suy ngẫm về những hàm ý của nó.

1. “Creation” is coalescing through the sensitivity of all parts to each other. Sensitivity it is which reduces isolation and leads to the re-amalgamation of the apparently separated parts.

1. “Công cuộc sáng tạo” đang kết tụ nhờ sự nhạy cảm của mọi bộ phận đối với nhau. Chính sự nhạy cảm làm giảm sự cô lập và dẫn đến sự tái hợp nhất của những bộ phận có vẻ tách biệt.

2. The Tibetan speaks of the possibility of knowing another’s thoughts, feelings and physical condition — all through telepathic sensitivity. Such sensitivity, we see, is not limited to the mental realms. The condition of any vehicle or body can be ‘carried’ (“tele”) to a similar vehicle or body (“path”) in another. All aspects of a human being can communicate with similar such aspects in others, and be sensitively registered.

2. Chân sư Tây Tạng nói về khả năng biết được tư tưởng, cảm xúc và tình trạng thể xác của người khác — tất cả đều thông qua sự nhạy cảm viễn cảm. Chúng ta thấy rằng sự nhạy cảm ấy không chỉ giới hạn trong các cõi trí tuệ. Tình trạng của bất kỳ hiện thể hay thân thể nào cũng có thể được ‘truyền đi’ (“viễn”) đến một hiện thể hay thân thể tương tự (“cảm”) ở người khác. Mọi phương diện của một con người đều có thể giao tiếp với những phương diện tương tự ở người khác, và được ghi nhận một cách nhạy cảm.

3. The very important phrase “outposts of His consciousness” is used. What does this really mean? An “outpost” can be considered a sensitive sensing device. Just as a human being uses instruments to enhance his states of awareness, so the Master can use His chela as a kind of sensing devise; He can, as it were, ‘see through His chelas eyes’.

3. Cụm từ rất quan trọng “những tiền đồn của tâm thức Ngài” được sử dụng. Điều này thực sự hàm ý gì? Một “tiền đồn” có thể được xem là một thiết bị cảm nhận nhạy bén. Cũng như con người sử dụng các công cụ để nâng cao những trạng thái nhận biết của mình, Chân sư có thể sử dụng đệ tử của Ngài như một loại thiết bị cảm nhận; có thể nói, Ngài có thể ‘nhìn qua đôi mắt các đệ tử của Ngài’.

4. Consciousness is a ‘permeable substance’; it can subtly enter and infuse a substance like unto itself. The Master’s consciousness can subtly enter the consciousness of His chela. By so doing, the Master ‘sees’ not only what the chela ‘sees’, but understands with profound intimacy the internal subjective condition of the chela.

4. Tâm thức là một ‘chất liệu có khả năng thẩm thấu’; nó có thể đi vào và thấm nhuần một cách tinh tế một chất liệu tương tự chính nó. Tâm thức của Chân sư có thể đi vào tâm thức đệ tử của Ngài một cách tinh tế. Qua đó, Chân sư ‘thấy’ không chỉ những gì đệ tử ‘thấy’, mà còn thấu hiểu một cách sâu sắc và tường tận tình trạng chủ quan bên trong của người đệ tử ấy.

5. It is clear that Master DK studied His chelas in this intimate, subjective way, and based His decisions on what He discovered. Perhaps the Master has, unobtrusively, discovered some of us in this way too. Do we think we might notice when such subjective study was occurring? Perhaps, perhaps not. Perhaps there are moments when we think we feel His presence. At such times, study may be occurring.

5. Rõ ràng Chân sư DK đã tìm hiểu các đệ tử của Ngài theo cách chủ quan và tường tận này, rồi căn cứ vào những gì Ngài khám phá để đưa ra quyết định. Có lẽ Chân sư cũng đã âm thầm khám phá một số người trong chúng ta theo cách này. Chúng ta có nghĩ rằng mình có thể nhận ra khi sự tìm hiểu chủ quan như thế đang diễn ra không? Có lẽ có, có lẽ không. Có lẽ có những khoảnh khắc chúng ta nghĩ mình cảm thấy sự hiện diện của Ngài. Vào những lúc ấy, có thể sự tìm hiểu đang diễn ra.

6. The intimate study occurs for three reasons: to determine availability, safety and sensitivity. Disciples are not always in a condition to be used; it is not always safe to use them; they will not always have sufficient sensitivity to guarantee intelligent response to what the Master may seek to impart. The Master takes few chances in this regard. He will not undertake a process which He knows is doomed to failure.

6. Sự tìm hiểu tường tận này diễn ra vì ba lý do: để xác định mức độ sẵn sàng, sự an toàn và sự nhạy cảm. Các đệ tử không phải lúc nào cũng ở trong tình trạng có thể được sử dụng; không phải lúc nào cũng an toàn khi sử dụng họ; họ không phải lúc nào cũng đủ nhạy cảm để bảo đảm đáp ứng thông minh trước những gì Chân sư có thể muốn truyền đạt. Chân sư ít khi mạo hiểm về phương diện này. Ngài sẽ không tiến hành một tiến trình mà Ngài biết chắc chắn sẽ thất bại.

7. DK asks His chelas to ponder the implications of the kind of study to which He has subjected them. What (do we think) are those implications?

7. Chân sư DK yêu cầu các đệ tử của Ngài suy ngẫm về những hàm ý của cách thức Ngài đã tìm hiểu họ. Theo chúng ta, những hàm ý ấy là gì?

a. Surely, that the Master knows them very well — certainly better than they know themselves.

a. Chắc chắn là Chân sư biết họ rất rõ — chắc chắn rõ hơn họ tự biết mình.

b. Trust in the Master is advisable, even indispensable. The accuracy of His internal perception and His vast experience ensure that the measures He proposes will be exactly co-measured to the condition He has discovered through intimate investigation. Yet, many of the disciples seemed to distrust (or, at least, resist) His advice and did not follow it.

b. Nên tin cậy Chân sư, thậm chí điều này là không thể thiếu. Sự chính xác trong tri giác nội tâm và kinh nghiệm rộng lớn của Ngài bảo đảm rằng những biện pháp Ngài đề xuất sẽ hoàn toàn tương xứng với tình trạng Ngài đã khám phá qua sự khảo sát tường tận. Tuy nhiên, nhiều đệ tử dường như không tin tưởng (hoặc ít nhất là chống lại) lời khuyên của Ngài và đã không làm theo.

c. Knowing that such internal study has occurred is a strong invitation to “occult obedience”. It is a humbling experience to be known with utter intimacy. A type of wise acquiescence is required of the disciple and discipleship group in such cases.

c. Biết rằng sự tìm hiểu nội tâm như thế đã diễn ra là một lời mời gọi mạnh mẽ hướng đến “sự tuân phục huyền bí”. Việc được thấu biết đến tận cùng là một trải nghiệm khiến ta trở nên khiêm nhường. Trong những trường hợp như thế, người đệ tử và nhóm đệ tử cần có một sự thuận theo sáng suốt.

8. I wonder if we have realized how much selflessness it takes to be truly telepathic. The little ego must be entirely out of the way if there is to be truly accurate registration of the condition of another human being. If the would-be sensitive is focussed on himself along with the object of sensitive registration, there will be a ‘conflict-of-interest’ in arena of perception.

8. Tôi tự hỏi liệu chúng ta đã nhận ra cần có biết bao sự vô ngã để thực sự có khả năng viễn cảm hay chưa. Phàm ngã nhỏ bé phải hoàn toàn lùi sang một bên thì mới có thể ghi nhận thật sự chính xác tình trạng của một con người khác. Nếu người muốn trở nên nhạy cảm lại tập trung vào bản thân đồng thời với đối tượng cần ghi nhận một cách nhạy cảm, thì sẽ có một ‘xung đột lợi ích’ trong lĩnh vực tri giác.

3. This telepathic sensitivity will also lead to the new science of inter-communication which, in the New Age, will reach general use and comprehension. Of this condition, the radio is the outer physical symbol.

3. Sự nhạy cảm viễn cảm này cũng sẽ dẫn đến khoa học mới về giao tiếp qua lại, mà trong Kỷ Nguyên Mới, người ta sẽ sử dụng và thấu hiểu rộng rãi. Máy thu thanh là biểu tượng hồng trần bên ngoài của trạng thái này.

1. The great science of “inter-communication” is well on its way. It has flourished externally in a manner probably unforeseen by all except the most advanced seers.

1. Khoa học vĩ đại về “giao tiếp qua lại” đang tiến triển mạnh mẽ. Ở bên ngoài, nó đã phát triển rực rỡ theo một cách mà có lẽ không ai lường trước được, ngoại trừ những nhà thông nhãn tiến bộ nhất.

2. The radio now seems primitive compared to that which the modern television and the Internet can do.

2. Giờ đây, máy thu thanh có vẻ thô sơ so với những gì truyền hình hiện đại và mạng toàn cầu có thể làm được.

3. What is the value of this inter-communication?

3. Giá trị của sự giao tiếp qua lại này là gì?

a. The rapid illumination of the mind of humanity.

a. Sự soi sáng nhanh chóng trí tuệ của nhân loại.

b. The end of that form of ignorance based upon lack of contact and perception.

b. Sự chấm dứt dạng vô minh bắt nguồn từ việc thiếu tiếp xúc và tri giác.

c. The ability to ‘be there’ and thus participate in the experiences of one and all. This will promote an identification with all of humanity and the planet.

c. Khả năng ‘có mặt ở đó’ và nhờ vậy tham dự vào những trải nghiệm của từng người và của tất cả mọi người. Điều này sẽ thúc đẩy sự đồng hoá với toàn thể nhân loại và hành tinh.

d. Thus, the breaking down of limited ego consciousness, and the coming of the realization that “I am humanity”; “I am the world”.

d. Nhờ đó, tâm thức phàm ngã hạn hẹp sẽ tan rã, và sự nhận biết sẽ xuất hiện rằng “Tôi là nhân loại”; “Tôi là thế giới”.

4. Humanity is on its way to a pan-human, soul-infused group mind. Significant advances towards this will be noted during the Aquarian Age, with its emphasis upon universality.

4. Nhân loại đang tiến đến một thể trí nhóm bao trùm toàn thể nhân loại, được linh hồn thấm nhuần. Những bước tiến đáng kể theo hướng này sẽ được ghi nhận trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, với sự nhấn mạnh vào tính phổ quát.

Certain questions now arise and it might be well to formulate the answers to some of them. It could be wisely asked if anyone has the right to work telepathically upon the mind of any person? The answer is that you are doing it all the time, consciously or unconsciously, and without skill or purpose or — if there is a purpose — it is usually a personality purpose. It is through telepathy that ideas have been disseminated in the world by the process of mentally impressing the mind of some [64] disciple or sensitive person. It is then their task to find and direct the mind and activities of those individuals whose task is not only to be responsive to this impression but to bring it out into the consciousness of the world thinkers. Have you ever asked yourselves what are the aspects of the work, in connection with telepathy, which raise questions in your mind? Is it not distrust of personality intention or point of view and a questioning also as to your own sincerity or motives? Unless this work is carried forward selflessly and with complete freedom from personal prejudice and personal choices — political or religious — there can be no safe work along this line. That is why I emphasise to you the need of doing this work at the highest united point of meditation and with complete obedience to my decisions in the matter.

Giờ đây, một số câu hỏi nảy sinh, và có lẽ nên đưa ra câu trả lời cho một vài câu trong số đó. Một câu hỏi xác đáng có thể là: liệu bất kỳ ai có quyền tác động bằng viễn cảm lên thể trí của người khác hay không? Câu trả lời là các bạn luôn làm điều đó, một cách hữu thức hoặc vô thức, thiếu kỹ năng hay mục đích — hoặc nếu có mục đích thì thường là mục đích của phàm ngã. Chính qua viễn cảm, các ý tưởng đã được phổ biến trên thế giới bằng tiến trình dùng trí tuệ tạo ấn tượng lên thể trí của một [64] đệ tử hoặc một người nhạy cảm nào đó. Khi ấy, nhiệm vụ của họ là tìm kiếm và định hướng thể trí cùng các hoạt động của những cá nhân có nhiệm vụ không chỉ đáp ứng với ấn tượng này mà còn đưa nó vào tâm thức của các nhà tư tưởng trên thế giới. Các bạn đã bao giờ tự hỏi những phương diện nào của công việc liên quan đến viễn cảm khiến các bạn đặt câu hỏi chưa? Chẳng phải đó là sự thiếu tin tưởng vào ý định hay quan điểm của phàm ngã, đồng thời cũng là sự hoài nghi về lòng chân thành hay động cơ của chính mình sao? Trừ khi công việc này được tiến hành một cách vô ngã và hoàn toàn thoát khỏi thành kiến cá nhân cùng những lựa chọn cá nhân — về chính trị hay tôn giáo — thì không thể có công việc an toàn theo đường hướng này. Đó là lý do Tôi nhấn mạnh với các bạn sự cần thiết phải thực hiện công việc này tại điểm hợp nhất cao nhất trong tham thiền và hoàn toàn tuân theo những quyết định của Tôi về vấn đề này.

1. The Tibetan poses the dilemma of privacy and intrusion. Is telepathic sensitivity an intrusion into the mind of another? And, if so, is this intrusion justifiable?

1. Chân sư Tây Tạng nêu lên tình thế khó xử giữa quyền riêng tư và sự xâm nhập. Liệu sự nhạy cảm viễn cảm có phải là sự xâm nhập vào thể trí của người khác không? Và nếu vậy, sự xâm nhập này có chính đáng không?

2. Master DK’s answer to this concern is surprising; apparently we are working upon each other’s minds all the time and, usually, without skill or purpose. If purpose exists, it is usually selfish, personality purpose. Since, because of our very nature, we cannot help but influence others, we had best do it in the right manner.

2. Câu trả lời của Chân sư DK trước mối quan ngại này thật đáng ngạc nhiên; dường như chúng ta đang tác động lên thể trí của nhau mọi lúc và thường thiếu kỹ năng hay mục đích. Nếu có mục đích thì thường đó là mục đích ích kỷ của phàm ngã. Vì chính bản chất của chúng ta khiến chúng ta không thể không ảnh hưởng đến người khác, tốt hơn hết là chúng ta nên làm điều đó đúng cách.

3. The entire process of manifestation works through mental telepathy. Ideas or thoughts descend from ‘above’, inspired by higher spiritual sources. These ideas impress lesser minds, and the lesser minds impress still lesser minds. It is all one great hierarchy of impression and response to impression.

3. Toàn bộ tiến trình biểu hiện vận hành qua viễn cảm trí tuệ. Các ý tưởng hay tư tưởng giáng xuống từ ‘trên cao’, nhận cảm hứng từ những nguồn tinh thần cao hơn. Những ý tưởng này tạo ấn tượng lên các thể trí thấp hơn, và các thể trí thấp hơn lại tạo ấn tượng lên những thể trí còn thấp hơn nữa. Tất cả hợp thành một hệ thống thứ bậc rộng lớn duy nhất của sự tạo ấn tượng và đáp ứng với ấn tượng.

4. We, as disciples, have the task not only to be receptive to impression from the Masters and higher ‘impressive agencies’, but to find and impress other minds who are suitable for carrying out in some useful and practical manner that with which we have been impressed.

4. Là các đệ tử, chúng ta có nhiệm vụ không chỉ tiếp nhận ấn tượng từ các Chân sư và những ‘tác nhân tạo ấn tượng’ cao hơn, mà còn phải tìm kiếm và tạo ấn tượng lên những thể trí khác thích hợp để thực hiện, theo một cách hữu ích và thiết thực nào đó, những gì đã tạo ấn tượng lên chúng ta.

5. Since telepathy is such an inevitability the Tibetan asks his disciples to question themselves about their uneasiness when the subject of telepathy is raised.

5. Vì viễn cảm là điều tất yếu như vậy, Chân sư Tây Tạng yêu cầu các đệ tử của Ngài tự vấn về sự bất an của họ khi đề cập đến chủ đề viễn cảm.

6. DK tells his disciples that their concerns are based upon distrust and personality attitudes. Perhaps, knowing their own occasionally undesirable thoughts, they suspect that others may also have equally undesirable thought content. The disciples do not wish to be influenced by their fellow disciples; nor do they feel sufficiently purified to be deliberately influencing their fellow disciples. Clearly, an attitude of greater love and trust would resolve this inhibitory attitude.

6. Chân sư DK nói với các đệ tử của Ngài rằng những mối quan ngại của họ bắt nguồn từ sự thiếu tin tưởng và các thái độ của phàm ngã. Có lẽ, vì biết đôi khi chính mình có những tư tưởng không đáng có, họ nghi ngờ rằng người khác cũng có thể có nội dung tư tưởng không đáng có như vậy. Các đệ tử không muốn chịu ảnh hưởng của các đệ tử đồng môn; họ cũng không cảm thấy mình đã đủ thanh luyện để chủ ý ảnh hưởng đến các đệ tử đồng môn. Rõ ràng, một thái độ giàu tình thương và lòng tin hơn sẽ hóa giải thái độ gây cản trở này.

7. DK informs His disciples that unless the telepathic work is to be carried forward “selflessly and with complete freedom from personal prejudice and personal choices — political or religious — there can be no safe work along this line”.

7. Chân sư DK cho các đệ tử của Ngài biết rằng trừ khi công việc viễn cảm được tiến hành “một cách vô ngã và hoàn toàn thoát khỏi thành kiến cá nhân cùng những lựa chọn cá nhân — về chính trị hay tôn giáo — thì không thể có công việc an toàn theo đường hướng này”.

8. During such work, therefore, there is to be no attention at all on the little personal self. The concrete, judgmental mind is to be suspended, and no points of view are to be forced upon another. Those working thus are to render themselves open to the higher, selfless currents which represent the Divine Plan. We might say that this kind of work can only be well and safely accomplished by those who are “soul-infused”.

8. Vì vậy, trong công việc như thế, tuyệt nhiên không được chú tâm vào cái tôi cá nhân nhỏ bé. Phải tạm ngưng hoạt động của trí cụ thể hay phán xét, và không được áp đặt bất kỳ quan điểm nào lên người khác. Những người làm việc theo cách này phải mở lòng đón nhận các dòng năng lượng cao hơn, vô ngã, tiêu biểu cho Thiên Cơ. Chúng ta có thể nói rằng chỉ những người “được linh hồn thấm nhuần” mới có thể hoàn thành tốt đẹp và an toàn loại công việc này.

9. Deliberate telepathic work is not to be undertaken casually, but only from a high point in meditation.

9. Không được tiến hành công việc viễn cảm có chủ ý một cách tùy tiện, mà chỉ được thực hiện từ một điểm cao trong tham thiền.

10. The Tibetan’s call for complete obedience to His instructions and decisions should chasten all of us. We do not know so much that we can afford to intrude our own points of view in an occult experiment the full nature of which we do not understand. When one trusts a great Teacher, it makes sense, also, to trust His advice.

10. Lời kêu gọi của Chân sư Tây Tạng về việc hoàn toàn tuân theo các huấn thị và quyết định của Ngài hẳn phải khiến tất cả chúng ta khiêm nhường hơn. Chúng ta chưa hiểu biết đến mức có thể tùy ý đưa quan điểm riêng của mình vào một cuộc thử nghiệm huyền bí mà chúng ta chưa thấu hiểu đầy đủ bản chất. Khi tin tưởng một Huấn sư vĩ đại, việc tin tưởng cả lời khuyên của Ngài cũng là điều hợp lý.

11. Of course, we find ourselves in a rather different position than did the disciples whom Master DK chose to comprise His various experimental groups, yet there are many occasions when the Master’s advice is offered to all His readers. It is no suspension of our individual rights to attend very carefully to what He says and carry it out (if we can) as scrupulously as possible.

11. Dĩ nhiên, chúng ta ở trong một hoàn cảnh khá khác với các đệ tử mà Chân sư DK đã chọn để hợp thành những nhóm thử nghiệm khác nhau của Ngài, tuy nhiên, có nhiều trường hợp lời khuyên của Chân sư dành cho tất cả độc giả của Ngài. Việc hết sức chú tâm đến những gì Ngài nói và thực hiện những điều ấy chu đáo hết mức có thể (nếu chúng ta làm được) không hề đình chỉ các quyền cá nhân của chúng ta.

Another question could well be: What is the difference between this work which I am suggesting to you and the work of the Lodge of the Lords of Form?

Một câu hỏi khác cũng có thể là: Đâu là sự khác biệt giữa công việc Tôi đang đề nghị các bạn thực hiện với công việc của Hội đoàn các Chúa Tể Hình Tướng?

None whatsoever, except in motive and the point from which you must endeavour to work. The Lords of Form work entirely on and from the lower levels of the mental plane and with the energy of knowledge. The love aspect of the soul itself is inactive and, therefore, from the angle and vision of the Great White Lodge, motives are wrong and the objectives are selfish ones. This is true both of individuals and groups. Forget not that these Lords of Form are souls of great age and unique blindness. But that later, in some far distant cycle, and when karma has worked upon them and the Great Law has exacted full payment for all wrong done, that they too will begin to develop the love aspect and to transmute their motives. You too must work from mental levels but knowledge and love must be called into play together, producing only those results which are harmoniously and intelligently in line with the Plan. Disciples are not permitted to call into play and functioning activity the Will aspect of the soul, unless they are initiates of the third degree. Prior to that, they seldom realise the distinction between the imposition of the will and the directed impression of ideas. There is too much desire (which is embryonic will) in their equipment for them to be trusted as yet with this higher aspect of mental activity. I would ask you to get clearly in your minds in connection [65] with any telepathic work which these groups (working under me) should do, that it is the impression of ideas and not imposed direction which is the group ideal — a very different thing, my brother.

Hoàn toàn không có sự khác biệt nào, ngoại trừ động cơ và điểm xuất phát mà các bạn phải nỗ lực làm việc từ đó. Các Chúa Tể Hình Tướng làm việc hoàn toàn trên và từ những cấp độ thấp của cõi trí, bằng năng lượng tri thức. Phương diện bác ái của chính linh hồn không hoạt động và vì vậy, theo góc nhìn và tầm nhìn của Thánh đoàn, động cơ của họ là sai trái và các mục tiêu đều ích kỷ. Điều này đúng với cả cá nhân lẫn các nhóm. Đừng quên rằng các Chúa Tể Hình Tướng này là những linh hồn có tuổi đời rất lâu và sự mù quáng độc nhất. Nhưng về sau, trong một chu kỳ xa xôi nào đó, khi nghiệp quả đã tác động lên họ và Định Luật Vĩ Đại đã buộc họ thanh toán đầy đủ mọi điều sai trái đã gây ra, họ cũng sẽ bắt đầu phát triển phương diện bác ái và chuyển hoá động cơ của mình. Các bạn cũng phải làm việc từ các cấp độ trí tuệ, nhưng phải huy động cả tri thức lẫn bác ái, chỉ tạo ra những kết quả phù hợp với Thiên Cơ một cách hài hòa và sáng suốt. Các đệ tử không được phép huy động phương diện Ý Chí của linh hồn vào hoạt động, trừ khi họ là điểm đạo đồ bậc ba. Trước đó, họ hiếm khi nhận ra sự khác biệt giữa việc áp đặt ý chí và việc tạo ấn tượng bằng các ý tưởng có định hướng. Trong hệ thống năng lực của họ còn quá nhiều dục vọng (vốn là ý chí ở dạng phôi thai), nên chưa thể tin cậy giao cho họ phương diện cao hơn này của hoạt động trí tuệ. Tôi muốn các bạn hiểu rõ trong thể trí mình, về [65] bất kỳ công việc viễn cảm nào mà các nhóm này (làm việc dưới sự hướng dẫn của Tôi) nên thực hiện, rằng lý tưởng của nhóm là tạo ấn tượng bằng các ý tưởng chứ không phải áp đặt sự chỉ đạo — hai điều rất khác nhau, huynh đệ của Tôi.

1. The Tibetan poses another question which may well have been in the minds of His students: “What is the difference between this work which I am suggesting to you and the work of the Lodge of the Lords of Form?” And again, He offers a surprising answer. There is no difference — except in the realm of motive and point of departure.

1. Chân sư Tây Tạng nêu lên một câu hỏi khác có lẽ đã có trong thể trí các đạo sinh của Ngài: “Đâu là sự khác biệt giữa công việc Tôi đang đề nghị các bạn thực hiện với công việc của Hội đoàn các Chúa Tể Hình Tướng?” Và một lần nữa, Ngài đưa ra một câu trả lời đáng ngạc nhiên. Không có sự khác biệt nào — ngoại trừ về động cơ và điểm xuất phát.

2. We learn of the great intelligence of the Lords of Form, but, in them, the love aspect is “inactive”. The Tibetan did not say it was missing, for in the distant future (after much balancing suffering) love will be accessed and utilized, and redemption will come.

2. Chúng ta biết được trí thông minh lớn lao của các Chúa Tể Hình Tướng, nhưng ở họ, phương diện bác ái “không hoạt động”. Chân sư Tây Tạng không nói rằng phương diện ấy vắng thiếu, bởi trong tương lai xa xôi (sau nhiều đau khổ để tái lập sự cân bằng), họ sẽ tiếp cận và vận dụng bác ái, rồi sự cứu chuộc sẽ đến.

3. The Lords of Form are concentrated on the concrete levels of the mental plane. In their particular case, the love of the soul does not infuse these levels as it should and must in the case of a disciple of the Great White Lodge. It is interesting to realize that, in the case of a “Dark Brother”, the lower mind has separated itself from soul influence forming a kind of “eighth sphere” — a happening which the Tibetan considers an unqualified disaster.

3. Các Chúa Tể Hình Tướng tập trung vào các cấp độ cụ thể của cõi trí. Trong trường hợp riêng của họ, bác ái của linh hồn không thấm nhuần các cấp độ này như đáng lẽ phải có và nhất thiết phải có nơi một đệ tử của Thánh đoàn. Thật thú vị khi nhận ra rằng, trong trường hợp của một “huynh đệ bóng tối”, hạ trí đã tách khỏi ảnh hưởng của linh hồn, hình thành một loại “khối cầu thứ tám” — một diễn biến mà Chân sư Tây Tạng coi là một thảm họa hoàn toàn.

4. A selfish objective is one which fulfills the limited and limiting desire of the part rather than the good of the whole. The Brothers of Form (in an unusually descriptive phrase) are called “souls of great age and unique blindness”. They were highly developed even in the first solar system and were considered initiates of that system. They sought to perpetuate in this solar system the successes they achieved in the former system. The methods they chose were against the laws of this system, and especially against the Law of Love.

4. Một mục tiêu ích kỷ là mục tiêu thỏa mãn dục vọng hữu hạn và gây giới hạn của bộ phận thay vì lợi ích của toàn thể. Các Huynh Đệ Hình Tướng được gọi (bằng một cụm từ giàu sức mô tả khác thường) là “những linh hồn có tuổi đời rất lâu và sự mù quáng độc nhất”. Họ đã phát triển cao ngay từ hệ mặt trời thứ nhất và được xem là các điểm đạo đồ của hệ ấy. Họ tìm cách duy trì trong hệ mặt trời này những thành công đã đạt được trong hệ trước. Những phương pháp họ chọn đi ngược lại các định luật của hệ này, đặc biệt là Định luật Bác Ái.

5. The term “unique blindness” is quite interesting. It suggests a very unusual form of blindness which is not simply the result of ordinary ignorance. It suggests what might be called ‘willful blindness’, a refusal to see that which is obvious to most self-conscious units of life in the second solar system. It is not that the Lords of Form could not see. Rather, they do not want to and do not will to. To see as see those of more loving heart, would compromise their single-minded intent to achieve power for themselves. They have justified their course of action thoroughly and choose to eject any perception which would compromise the self-centered ferocity of their chosen world-view.

5. Thuật ngữ “sự mù quáng độc nhất” khá thú vị. Nó gợi lên một dạng mù quáng rất khác thường, không đơn thuần là kết quả của sự vô minh thông thường. Nó gợi lên điều có thể gọi là ‘sự mù quáng cố ý’, một sự khước từ nhìn thấy những gì hiển nhiên đối với phần lớn các đơn vị sự sống có ngã thức trong hệ mặt trời thứ hai. Không phải các Chúa Tể Hình Tướng không thể thấy. Mà đúng hơn, họ không muốn thấy và không chí nguyện thấy. Nhìn thấy như những người có trái tim giàu tình thương hơn nhìn thấy sẽ làm suy yếu ý định nhất tâm giành quyền lực cho chính mình của họ. Họ đã biện minh cặn kẽ cho đường lối hành động của mình và chọn loại bỏ bất kỳ nhận thức nào có thể làm suy yếu sự quyết liệt tập trung vào bản thân trong thế giới quan họ đã chọn.

6. The far-distant cycle which offers them redemption may well be a future solar system. It is impossible for students of our kind to know with certainty. The point to be grasped is that love will eventually enter their lives after the Great Law has been justly fulfilled, and their stupendous karmic debts have been repaid.

6. Chu kỳ xa xôi mang lại sự cứu chuộc cho họ rất có thể là một hệ mặt trời tương lai. Những đạo sinh như chúng ta không thể biết chắc điều đó. Điểm cần nắm bắt là cuối cùng tình thương sẽ đi vào cuộc sống của họ sau khi Định Luật Vĩ Đại đã được thực thi công minh và những món nợ nghiệp quả khổng lồ của họ đã được hoàn trả.

7. DK’s chelas are told that they also must work from mental levels, but the mind will be joined to love; in other words, the mind will become soul infused and will not engage in selfish purposings. Thoughts will be created which are intelligently harmonious in relation to the Divine Plan.

7. Các đệ tử của Chân sư DK được dạy rằng họ cũng phải làm việc từ các cấp độ trí tuệ, nhưng thể trí sẽ kết hợp với bác ái; nói cách khác, thể trí sẽ được linh hồn thấm nhuần và sẽ không theo đuổi những mục đích ích kỷ. Họ sẽ tạo ra những tư tưởng hài hòa một cách sáng suốt với Thiên Cơ.

8. Master DK points to a very important restraint upon His disciples: they may not use the power of their will to impose direction upon others. Only initiates of the third degree are allowed to call the will into play. After that degree has been experienced, the entire personality has been flooded with love-wisdom, and the will can be wisely used. Even then, the will is not allowed to determine the direction of others. The Brother of Light is not allowed to compromise or violate the freewill of his fellow human beings.

8. Chân sư DK chỉ ra một giới hạn rất quan trọng đối với các đệ tử của Ngài: họ không được dùng quyền năng của ý chí để áp đặt đường hướng lên người khác. Chỉ các điểm đạo đồ bậc ba mới được phép huy động ý chí. Sau khi đã trải qua bậc điểm đạo ấy, toàn bộ phàm ngã đã tràn ngập bác ái – minh triết, và ý chí có thể được sử dụng một cách minh triết. Ngay cả khi ấy, cũng không được dùng ý chí để quyết định đường hướng của người khác. Huynh Đệ Ánh Sáng không được làm tổn hại hay vi phạm ý chí tự do của đồng loại.

9. The distinction which Master DK calls to our attention is that between the “imposition of the will” and the “directed impression of ideas”. He tells us that it is not easy for disciples to make the distinction.

9. Sự phân biệt mà Chân sư DK lưu ý chúng ta là giữa “việc áp đặt ý chí” và “việc tạo ấn tượng bằng các ý tưởng có định hướng”. Ngài nói với chúng ta rằng các đệ tử không dễ phân biệt được điều này.

10. What, then, is the distinction? When will is imposed, direction is pre-determined. The faculty of choice is neutralized in the one upon whom the will is imposed. That individual is no longer self-determining. When, however, ideas are directed towards an individual, the ‘center of choice’ is never the target. The person toward whom ideas are directed is allowed to remain free. Directed ideas may be strongly present and readily available because they are directed, but directed ideas do not compel. Rather, they impel. There is an old saying about the “stars” which carries the same thought: “the stars impel, they do not compel”. It might be said, in this context, that the “stars” know the law.

10. Vậy sự khác biệt là gì? Khi ý chí bị áp đặt, đường hướng đã được định trước. Khả năng lựa chọn của người chịu sự áp đặt ý chí bị vô hiệu hóa. Cá nhân ấy không còn tự quyết nữa. Tuy nhiên, khi các ý tưởng được hướng đến một cá nhân, ‘trung tâm lựa chọn’ không bao giờ là mục tiêu nhắm tới. Người tiếp nhận các ý tưởng được hướng đến mình vẫn giữ tự do. Các ý tưởng có định hướng có thể hiện diện mạnh mẽ và sẵn có để tiếp nhận vì chúng được định hướng, nhưng các ý tưởng có định hướng không cưỡng ép. Đúng hơn, chúng thúc đẩy. Có một câu nói xưa về “các vì sao” mang cùng tư tưởng ấy: “các vì sao thúc đẩy, chứ không cưỡng ép”. Trong ngữ cảnh này, có thể nói rằng “các vì sao” biết định luật.

11. Desire is not will, though it is embryonic will. One who has not passed the third degree is still desire-driven, or, in any case, has too much of desire present to be trusted with what the Tibetan calls “this higher aspect of mental activity” — presumably, the power to wield the will aspect of the soul.

11. Dục vọng không phải là ý chí, dù nó là ý chí ở dạng phôi thai. Người chưa vượt qua bậc điểm đạo thứ ba vẫn chịu sự thúc đẩy của dục vọng, hoặc trong mọi trường hợp, vẫn còn quá nhiều dục vọng nên chưa thể được tin cậy giao cho điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là “phương diện cao hơn này của hoạt động trí tuệ” — có lẽ là quyền năng vận dụng phương diện ý chí của linh hồn.

12. Very simply, we are not allowed to force with our minds. Our task is to make rightly directed thought available to those who may need it, and through the luminosity of that thought, to clarify the way of those who are uncertain about the implications of various lines of possible action. We envision a positive issue to troubled circumstances, and we, thereby, help others see the possibility of that positive issue, but we do not force actions on any level. Otherwise, we rob another human being of the autonomy of his center. This is a form of spiritual ‘theft’ and is not permitted under the Good Law. All men must “return to God” willingly.

12. Nói thật đơn giản, chúng ta không được phép cưỡng ép bằng thể trí của mình. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tư tưởng được định hướng đúng đắn sẵn có đối với những người có thể cần đến nó, và qua ánh sáng của tư tưởng ấy, làm sáng tỏ con đường cho những người còn chưa chắc chắn về hệ quả của các đường lối hành động khả dĩ khác nhau. Chúng ta hình dung một kết cục tích cực cho những hoàn cảnh khó khăn, qua đó giúp người khác thấy khả năng đạt được kết cục tích cực ấy, nhưng chúng ta không cưỡng ép hành động trên bất kỳ cấp độ nào. Nếu làm thế, chúng ta tước đoạt của một người khác quyền tự chủ nơi trung tâm của y. Đây là một hình thức ‘trộm cắp’ về mặt tinh thần và Thiện Luật không cho phép điều đó. Mọi người phải “trở về với Thượng đế” một cách tự nguyện.

You might also ask: How can this collective impressing go on and yet leave a man free?

Các bạn cũng có thể hỏi: Làm thế nào việc tạo ấn tượng tập thể này có thể diễn ra mà vẫn để một người được tự do?

Because it will be kept clear of all directed will-force; all that workers and disciples in my groups will seek to do is to impress certain minds with the outlines or suggestions as to the Plan; these ideas will deal particularly with the concept that separation is a thing of the past and that unity is the goal of the immediate future; that hatred is retro-active and undesirable and that goodwill is the touchstone which will transform the world.

Bởi vì công việc ấy sẽ hoàn toàn không có mãnh lực ý chí có định hướng; tất cả những gì các người hoạt động và đệ tử trong các nhóm của Tôi sẽ tìm cách thực hiện là tạo ấn tượng lên một số thể trí bằng những nét phác thảo hoặc gợi ý về Thiên Cơ; những ý tưởng này sẽ đặc biệt đề cập đến quan niệm rằng sự chia rẽ là chuyện của quá khứ và sự hợp nhất là mục tiêu của tương lai trước mắt; rằng hận thù mang tính thụt lùi và không đáng có, còn thiện chí là đá thử vàng sẽ chuyển đổi thế giới.

1. The Tibetan asks the question we have just been considering. How can there be strongly directed impression (even “collective” impression) which leaves free those who are impressed?

1. Chân sư Tây Tạng đặt câu hỏi mà chúng ta vừa xem xét. Làm thế nào có thể có sự tạo ấn tượng được định hướng mạnh mẽ (thậm chí là sự tạo ấn tượng “tập thể”) mà vẫn để những người tiếp nhận ấn tượng được tự do?

2. The answer is that all such impression will be “kept clear of all directed will-force”. The moment we think (when exercising mental telepathy), “you will do what I think”, we have violated the law.

2. Câu trả lời là mọi sự tạo ấn tượng như thế sẽ “hoàn toàn không có mãnh lực ý chí có định hướng”. Ngay khi chúng ta nghĩ (trong lúc thực hành viễn cảm trí tuệ), “người ấy phải làm theo điều tôi nghĩ”, chúng ta đã vi phạm định luật.

3. We note that the Tibetan uses the word “suggestions”. He often tells us that a Master will never command but only suggest. It may be that seem that this would be truer of a second ray Master, but, according to DK, it is true of all. “God” must emerge in all units of life, and God is free.

3. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng dùng từ “gợi ý”. Ngài thường nói với chúng ta rằng một Chân sư sẽ không bao giờ ra lệnh mà chỉ gợi ý. Có vẻ điều này đúng hơn với một Chân sư cung hai, nhưng theo Chân sư DK, điều đó đúng với tất cả các Ngài. “Thượng đế” phải hiển lộ trong mọi đơn vị sự sống, và Thượng đế vốn tự do.

4. Master DK shares with us the kind of suggestions which directed thought impression should carry — suggestions concerning the uselessness of separation, the retrogressiveness of hatred and the value of unity and goodwill. All of these suggestions relate to the nature of the Divine Plan. God-as-Sanat-Kumara is attempting to impress all within His sphere of influence with the nature of the Plan. We who are in the flow of that directed impression simply seek to pass the impression along at our own level of possible influence.

4. Chân sư DK chia sẻ với chúng ta loại gợi ý mà việc tạo ấn tượng bằng tư tưởng có định hướng nên truyền tải — những gợi ý về sự vô ích của chia rẽ, tính thụt lùi của hận thù và giá trị của sự hợp nhất cùng thiện chí. Tất cả những gợi ý này đều liên quan đến bản chất của Thiên Cơ. Thượng đế trong cương vị Sanat Kumara đang tìm cách tạo ấn tượng về bản chất của Thiên Cơ lên tất cả những gì nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Chúng ta, những người ở trong dòng ấn tượng có định hướng ấy, chỉ tìm cách truyền tiếp ấn tượng trong phạm vi ảnh hưởng mà mình có thể tạo ra.

5. The more clearly we formulate thoughts which convey these understandings, the more readily will the mind of humanity be influenced positively.

5. Chúng ta càng hình thành rõ ràng những tư tưởng truyền tải các hiểu biết này, thể trí nhân loại càng dễ đón nhận ảnh hưởng tích cực.

6. When a mind is impressed by a disciple, initiate or Master of the Great White Lodge, what happens? A current of benevolently directed thought enters the mental field and there abides vividly and in strength. The one impressed sees more through the presence of that thought, and the direction of his thinking is potentially illumined. It is as if points of light had been implanted in the mental aura; these points act as beacons toward a more positive future, offering a wider range of choice to the one who (on his own) must decide — determining his own direction through his own choice.

6. Khi một đệ tử, điểm đạo đồ hoặc Chân sư của Thánh đoàn tạo ấn tượng lên một thể trí, điều gì xảy ra? Một dòng tư tưởng được định hướng một cách thiện lành đi vào trường trí tuệ và lưu lại đó một cách sống động, mạnh mẽ. Người tiếp nhận ấn tượng thấy được nhiều hơn nhờ sự hiện diện của tư tưởng ấy, và đường hướng tư duy của y có khả năng được soi sáng. Như thể những điểm sáng đã được cấy vào hào quang trí tuệ; các điểm sáng này đóng vai trò như những ngọn hải đăng hướng đến một tương lai tích cực hơn, mở ra phạm vi lựa chọn rộng hơn cho người phải tự mình quyết định — xác định đường hướng của chính mình qua sự lựa chọn của chính mình.

How then can you keep your minds free from your own desires and from your own interpretations? By achieving that poised and positive negativity on the part of the two lower aspects of the personality — the astral body and the brain as well as the etheric brain; these determine the reactions of the lower centres, particularly of the solar plexus centre.

Vậy làm thế nào các bạn có thể giữ cho thể trí của mình thoát khỏi những dục vọng và cách diễn giải của chính mình? Bằng cách đạt được tính âm quân bình và tích cực nơi hai phương diện thấp của phàm ngã — thể cảm dục và bộ não, cũng như bộ não dĩ thái; những yếu tố này quyết định các phản ứng của những trung tâm thấp, đặc biệt là trung tâm tùng thái dương.

1. The Tibetan becomes very practical. If desire (especially personal desire) is an obstacle to rightly motivated telepathy in line with the Divine Plan, how does the chela remain free from such desire, and from his own mental interpretations and formulations which also obstruct the correct process?

1. Chân sư Tây Tạng đi vào những điều rất thiết thực. Nếu dục vọng (đặc biệt là dục vọng cá nhân) là một trở ngại đối với viễn cảm có động cơ đúng đắn, phù hợp với Thiên Cơ, thì làm thế nào người đệ tử giữ mình thoát khỏi dục vọng ấy, cũng như những cách diễn giải và hình thành tư tưởng của riêng mình vốn cũng cản trở tiến trình đúng đắn?

2. A specific occult suggestion is offered: the chela is to achieve a “poised and positive negativity on the part of the two lower aspects of the personality”. There is something enigmatical about this phrase, for the Tibetan speaks of a “positive negativity”. It is clear that the focus of the disciple is to be ‘above’ the astral body and the etheric and physical brains. These three factors in the disciple’s makeup are not to assume a positive, impulsive position. With positive vigilance, the disciple is to ensure that they remain receptive (thus, negative), and do not interfere with the motive and direction of the telepathic process.

2. Một gợi ý huyền bí cụ thể được đưa ra: người đệ tử phải đạt được “tính âm quân bình và tích cực nơi hai phương diện thấp của phàm ngã”. Cụm từ này có điều gì đó bí ẩn, bởi Chân sư Tây Tạng nói đến “tính âm tích cực”. Rõ ràng, trọng tâm của người đệ tử phải ở ‘bên trên’ thể cảm dục cùng bộ não dĩ thái và bộ não hồng trần. Ba yếu tố này trong cấu tạo của người đệ tử không được giữ vai trò chủ động, phát động xung lực. Với sự tỉnh giác tích cực, người đệ tử phải bảo đảm rằng chúng luôn ở trạng thái tiếp nhận (do đó, mang tính âm), và không can thiệp vào động cơ cùng đường hướng của tiến trình viễn cảm.

3. An interesting piece of occultism is offered for our consideration: the astral body and etheric and physical brains “determine the reactions of the lower centres, particularly of the solar plexus center”. In this type of mental telepathy, the solar plexus and the lower centers are not to be active — at least they are not to interfere with the direction of higher thought, though they may be eventually impressed as a result of that higher thought.

3. Một điểm thú vị trong huyền bí học được đưa ra để chúng ta xem xét: thể cảm dục cùng bộ não dĩ thái và bộ não hồng trần “quyết định các phản ứng của những trung tâm thấp, đặc biệt là trung tâm tùng thái dương”. Trong loại viễn cảm trí tuệ này, tùng thái dương và các trung tâm thấp không được hoạt động — ít nhất chúng không được can thiệp vào đường hướng của tư tưởng cao hơn, dù cuối cùng chúng có thể tiếp nhận ấn tượng như một kết quả của tư tưởng cao hơn ấy.

4. The kind of telepathic activity suggested by the Tibetan does not, therefore, involve the ‘irrational’ aspects of the energy system. When we reach the level of mind, we enter the realm of rationality.

4. Vì vậy, loại hoạt động viễn cảm mà Chân sư Tây Tạng đề nghị không liên quan đến những phương diện ‘phi lý tính’ của hệ thống năng lượng. Khi đạt đến cấp độ thể trí, chúng ta bước vào lĩnh vực lý tính.

The mind will then be left free to fulfil three functions:

Khi ấy, thể trí sẽ được tự do thực hiện ba chức năng:

1. That of soul contact; this will result in illumination and a working knowledge of the immediate aspects of the Plan.

1. Tiếp xúc với linh hồn; điều này sẽ mang lại sự soi sáng và hiểu biết thực hành về những phương diện trước mắt của Thiên Cơ.

2. That of thought formulation and thoughtform creation. Then a clear thoughtform can be constructed with definiteness, and it can be positively directed.

2. Hình thành tư tưởng và sáng tạo hình tư tưởng. Khi ấy, có thể xây dựng một hình tư tưởng rõ ràng, xác định, và chủ động định hướng nó.

3. That of working on mental levels with your group brothers so that your thoughtform is a part of their thoughtform and you can, therefore, unitedly produce a living, embodied form which can be directed as I may determine.

3. Làm việc trên các cấp độ trí tuệ cùng những huynh đệ trong nhóm, để hình tư tưởng của các bạn là một phần trong hình tư tưởng của họ, và do đó, các bạn có thể cùng nhau tạo ra một hình tướng sống động, đã có hiện thân, có thể được định hướng theo quyết định của Tôi.

1. Master DK outlines how the mind of the disciple is to be used in the telepathic process, and how that mind is to be related to the group of disciplic minds of which it forms a part.

1. Chân sư DK phác thảo cách sử dụng thể trí của người đệ tử trong tiến trình viễn cảm, và cách thể trí ấy phải liên hệ với nhóm các thể trí đệ tử mà nó là một thành phần.

2. The mind is to be receptive to the soul; this will produce illumination and a practical knowledge of the Plan. This receptivity is related to the second aspect of divinity.

2. Thể trí phải tiếp nhận linh hồn; điều này sẽ mang lại sự soi sáng và hiểu biết thực tiễn về Thiên Cơ. Khả năng tiếp nhận này liên quan đến phương diện thứ hai của thiên tính.

3. The mind is also to be creatively active; clear, definite thoughtforms are to be built and positively directed (but by whom?). This type of creativity is related to the third aspect.

3. Thể trí cũng phải hoạt động sáng tạo; phải xây dựng những hình tư tưởng rõ ràng, xác định và chủ động định hướng chúng (nhưng ai định hướng?). Loại sáng tạo này liên quan đến phương diện thứ ba.

4. We note that the telepathic disciple is to be aware of the thoughtforms produced by his fellow disciples. He is to contribute to the unification of thoughtforms produced by himself and his brothers. The result of the amalgamation of such thoughtforms is the production of a “living, embodied form”.

4. Chúng ta lưu ý rằng người đệ tử thực hành viễn cảm phải nhận biết các hình tư tưởng do những đệ tử đồng môn tạo ra. Y phải góp phần hợp nhất những hình tư tưởng do chính mình và các huynh đệ tạo ra. Kết quả của sự hòa nhập những hình tư tưởng như thế là tạo ra một “hình tướng sống động, đã có hiện thân”.

5. Very interestingly, in this instance, it is the Tibetan Who assumes the role of directing the united form, and that direction proceeds according to His determination.

5. Điều rất thú vị là trong trường hợp này, chính Chân sư Tây Tạng đảm nhận vai trò định hướng hình tướng đã hợp nhất, và sự định hướng ấy diễn ra theo quyết định của Ngài.

6. The chelas, therefore, are working principally with the second and third aspects of divinity. The Master assumes responsibility for the application of the first aspect.

6. Vì vậy, các đệ tử làm việc chủ yếu với phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính. Chân sư đảm nhận trách nhiệm áp dụng phương diện thứ nhất.

7. How can a disciple facilitate the blending of his thoughtform with the thoughtforms created by his fellow disciples? Perhaps, by offering up his thought to the group pool of lighted thought, and ‘seeing’ it merge harmoniously with similar thoughts produced by his brothers.

7. Làm thế nào một đệ tử có thể tạo thuận lợi cho việc hòa trộn hình tư tưởng của mình với các hình tư tưởng do những đệ tử đồng môn tạo ra? Có lẽ bằng cách dâng tư tưởng của mình vào nguồn tư tưởng tràn đầy ánh sáng chung của nhóm, và ‘thấy’ nó hòa nhập một cách hài hòa với những tư tưởng tương tự do các huynh đệ tạo ra.

8. We note that the unified form produced must be both “living” and “embodied”. Simply, it must be animated by the soul and infused by the soul. The thoughtforms must ‘live with love’. Then they will be truly constructive, for love is the great constructive force. One can hardly offer up separative thoughtforms to the Master for His use!

8. Chúng ta lưu ý rằng hình tướng hợp nhất được tạo ra phải vừa “sống động” vừa “có hình hài”. Nói đơn giản, linh hồn phải truyền sự sống cho hình tướng ấy và thấm nhuần nó. Các hình tư tưởng phải ‘sống bằng tình thương’. Khi đó, chúng mới thực sự mang tính xây dựng, vì tình thương là mãnh lực xây dựng vĩ đại. Khó có thể dâng những hình tư tưởng chia rẽ lên Chân sư để Ngài sử dụng!

9. We see that correct procedure in this telepathic process requires that the lower man be ‘out of the way’ and that the mind be infused by the ‘higher man’ — the soul/Solar Angel, as that may be contacted in meditation.

9. Chúng ta thấy rằng cách tiến hành đúng trong tiến trình viễn cảm này đòi hỏi phàm nhân phải ‘không còn cản trở’ và thể trí phải thấm nhuần ‘con người cao siêu’ — tức linh hồn/Thái dương Thiên Thần, mà người ta có thể tiếp xúc trong khi tham thiền.

10. Sensitivity, creativity, clarity, definiteness, humility, and the suspension of the directing will — all these are needed if the telepathic process is to proceed correctly. To these qualities must be added that of love.

10. Sự nhạy cảm, tính sáng tạo, sự sáng rõ, tính xác định, lòng khiêm nhường và việc tạm ngưng ý chí chỉ đạo — tất cả đều cần thiết để tiến trình viễn cảm diễn ra đúng đắn. Bên cạnh những phẩm tính này, còn phải có tình thương.

11. We learn here that the Master knows best how to direct that which has been created by His chelas. Here is where humility enters the picture. Constructive thought energy is made available to the Master for His wise use.

11. Ở đây, chúng ta biết rằng Chân sư hiểu rõ nhất cách chỉ đạo những gì các đệ tử của Ngài đã tạo ra. Đây chính là lúc lòng khiêm nhường có vai trò. Năng lượng tư tưởng mang tính xây dựng được dâng lên Chân sư để Ngài sử dụng một cách minh triết.

Another question might here arise: Are there any specific and brief rules which should be obeyed?

Đến đây có thể nảy sinh một câu hỏi khác: Có những quy luật cụ thể và ngắn gọn nào cần tuân theo không?

The following might be given, but I would remind you that it is what you are that counts in this work more powerfully than anything else. The controlling factor is harmlessness in thought and word; the practice of this, with proper observation, will greatly help all of you. Next comes a refusal to think unkindly or with criticism; [66] this is essential in connection with those whose minds you seek to impress. Silence, complete and unbroken as to what you are doing, is also a vital factor; the utterance of words in connection with this most subtle and confidential work (or even discussion of the work with a fellow disciple) can shatter the delicate thoughtform which you are attempting to build. It can render the work of weeks abortive. A balanced attitude in relation to those in power throughout the world must also be cultivated; they need above all else the inspiration which can be brought to them from the Hierarchy.

Có thể đưa ra những điều sau đây, nhưng Tôi muốn nhắc các bạn rằng trong công việc này, chính con người các bạn có sức nặng hơn bất cứ điều gì khác. Yếu tố chi phối là tính vô tổn hại trong tư tưởng và lời nói; thực hành điều này cùng với sự quan sát đúng đắn sẽ giúp ích rất nhiều cho tất cả các bạn. Tiếp đến là việc khước từ những suy nghĩ thiếu tử tế hoặc mang tính chỉ trích; [66] điều này thiết yếu khi liên quan đến những người mà các bạn tìm cách tạo ấn tượng lên thể trí của họ. Sự im lặng hoàn toàn và liên tục về những gì các bạn đang làm cũng là một yếu tố sống còn; nói ra những lời liên quan đến công việc hết sức tinh tế và kín mật này (hoặc thậm chí bàn luận công việc với một đệ tử đồng môn) có thể phá vỡ hình tư tưởng tinh tế mà các bạn đang cố gắng xây dựng. Điều đó có thể khiến công sức nhiều tuần trở nên vô ích. Cũng cần vun bồi một thái độ quân bình đối với những người nắm quyền trên khắp thế giới; trên hết, họ cần cảm hứng mà Thánh đoàn có thể mang đến cho họ.

1. The Tibetan becomes increasingly practical as He proceeds to answer the questions which might arise in the minds of those He instructs.

1. Chân sư Tây Tạng ngày càng đi vào thực tiễn khi Ngài tiếp tục giải đáp những câu hỏi có thể nảy sinh trong thể trí của những người Ngài chỉ dạy.

2. Each of us should take to heart the following: “I would remind you that it is what you are [ital. MDR] that counts in this work more powerfully than anything else”. It is not action so much as quality that counts. In a way, ‘quality is action’. Master DK is hoping that those who participate in this work will be persons of quality. This means that they will be soul-infused, since the soul is the “quality of life”.

2. Mỗi chúng ta nên ghi lòng điều sau đây: “Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính con người các bạn đang là [chữ nghiêng: MDR] có sức nặng trong công việc này hơn bất cứ điều gì khác”. Điều có sức nặng không hẳn là hành động mà là phẩm tính. Theo một cách nào đó, ‘phẩm tính chính là hành động’. Chân sư DK hy vọng rằng những người tham gia công việc này sẽ là những người có phẩm tính. Điều này có nghĩa là họ sẽ được linh hồn thấm nhuần, vì linh hồn là “phẩm tính của sự sống”.

3. The great factor of “harmlessness” is accentuated as the “controlling factor”. It is not always possible to be constructively helpful, but at least one can attempt carefully to do no harm. We note that we are dealing not only with harmlessness of “word” but of “thought” — a more subtle and more foundational matter.

3. Yếu tố lớn lao là “tính vô tổn hại” được nhấn mạnh như “yếu tố chi phối”. Không phải lúc nào cũng có thể giúp ích theo cách xây dựng, nhưng ít nhất người ta có thể thận trọng cố gắng không gây tổn hại. Chúng ta lưu ý rằng ở đây không chỉ nói đến tính vô tổn hại của “lời nói” mà còn của “tư tưởng” — một vấn đề tinh tế hơn và có tính nền tảng hơn.

4. The right to impress another mind exists only within the current of love. Unkind, critical thoughts are easily summoned, but they are not allowed, especially in relation to the mind of the one who is to be impressed. It is easy to be in violation of this rule and much vigilance is required, as thought is both swift and conditioned by habit.

4. Quyền tạo ấn tượng lên thể trí người khác chỉ tồn tại trong dòng tình thương. Những tư tưởng thiếu tử tế, mang tính chỉ trích rất dễ nảy sinh, nhưng không được phép nuôi dưỡng chúng, nhất là đối với thể trí của người sẽ tiếp nhận ấn tượng. Người ta rất dễ vi phạm quy luật này, nên cần hết sức tỉnh giác, vì tư tưởng vừa nhanh chóng vừa chịu ảnh hưởng của thói quen.

5. What happens when we think unkindly and critically of someone? We produce subjective inharmony and barriers. We are no longer ‘on their wave-length’; we occultly ‘rupture’ the lines of communication. We can understand and benevolently influence others because we are like them — i. e. , ‘kindred souls’. One can not be kin to those to whom one is un-kind. Our internal criticism causes an almost unconscious defensive reaction in the one criticized. Such a one begins to protect himself/herself from the critical agent. Thus, a barrier is created and the thought directed for impression does not get through. Probably, it is better that it does not, as it could carry the poison of criticism. Without the right use of loving-understanding, there is no way to reach another telepathically

5. Điều gì xảy ra khi chúng ta nghĩ về ai đó một cách thiếu tử tế và đầy chỉ trích? Chúng ta tạo ra sự bất hòa và những rào cản chủ quan. Chúng ta không còn ‘cùng bước sóng với họ’; xét về mặt huyền bí, chúng ta ‘cắt đứt’ các đường giao tiếp. Chúng ta có thể thấu hiểu và ảnh hưởng đến người khác một cách thiện lành vì chúng ta giống họ — tức là, ‘những linh hồn đồng điệu’. Người ta không thể có sự thân tình với những người mà mình đối xử thiếu tử tế. Sự chỉ trích trong nội tâm của chúng ta gây ra một phản ứng tự vệ gần như vô thức ở người bị chỉ trích. Người ấy bắt đầu tự bảo vệ mình trước người chỉ trích. Như vậy, một rào cản hình thành, và tư tưởng được hướng đến để tạo ấn tượng không thể xuyên qua. Có lẽ tốt hơn là nó không xuyên qua, vì nó có thể mang theo chất độc của sự chỉ trích. Nếu không vận dụng đúng đắn sự thấu hiểu đầy tình thương, thì không có cách nào tiếp cận người khác bằng viễn cảm

6. DK shares His knowledge of occult law. Silence has its protective purpose; it guards the subtle work undertaken. This work proceeds in the realm of thought, in comparison to which the realm of speech is crude. The carefully constructed thoughtforms are delicate, fragile. They must be respected as such, and, so, much caution and restraint are needed. The occultist is a refined individual, well aware of the fragility of inner structures.

6. Chân sư DK chia sẻ tri thức của Ngài về định luật huyền bí. Sự im lặng có mục đích bảo vệ; nó gìn giữ công việc tinh tế đang được thực hiện. Công việc này diễn ra trong lĩnh vực tư tưởng, mà so với nó, lĩnh vực lời nói còn thô sơ. Những hình tư tưởng được xây dựng cẩn thận đều tinh tế, mong manh. Phải tôn trọng đặc tính ấy của chúng, và vì thế cần hết sức thận trọng và tiết chế. Nhà huyền bí học là một người tinh tế, nhận biết rõ tính mong manh của những cấu trúc bên trong.

7. The minds of leaders are obviously among the minds to be influenced. No fanatical, unbalanced approach will serve. Disciples who are seeking to direct and impress thought are agents of hierarchical inspiration, which the leaders of the world badly need. The telepathic communicator must think of himself as an ‘agent for inspiration’, rather than one who forces issues on the inner planes. Forcing (which pertains to the realm of Mars, Pluto and Vulcan) is of less value in this process (given the average disciple’s incomplete stage of development) than the offering of light through the planets of illumination (Mercury and Venus) and the planet of loving-understanding (Jupiter).

7. Hiển nhiên, thể trí của các nhà lãnh đạo nằm trong số những thể trí cần được tác động. Không cách tiếp cận cuồng tín, mất quân bình nào có thể giúp ích. Những đệ tử đang tìm cách định hướng tư tưởng và dùng tư tưởng để tạo ấn tượng là những tác nhân truyền cảm hứng của Thánh đoàn, điều mà các nhà lãnh đạo thế giới rất cần. Người giao tiếp viễn cảm phải xem mình là một ‘tác nhân truyền cảm hứng’, thay vì một người cưỡng ép các vấn đề trên những cõi bên trong. Trong tiến trình này, sự cưỡng ép (thuộc lĩnh vực của Sao Hỏa, Sao Diêm Vương và Vulcan) có ít giá trị hơn (xét giai đoạn phát triển còn chưa hoàn thiện của người đệ tử trung bình) so với việc trao tặng ánh sáng thông qua những hành tinh của sự soi sáng (Sao Thủy và Sao Kim) và hành tinh của sự thấu hiểu đầy tình thương (Sao Mộc).

8. One could spend at least a month on this paragraph. The instructions are simple but important in the extreme. Much retraining of the readily critical mind is required.

8. Người ta có thể dành ít nhất một tháng cho đoạn văn này. Những huấn thị này đơn giản nhưng vô cùng quan trọng. Cần rèn luyện lại rất nhiều đối với thể trí vốn dễ chỉ trích.

I would ask you, therefore, to practise purging the content of your minds of all critical and unkind thoughts so that you can achieve an attitude of divine indifference to the ephemeral and fleeting personalities and to the chaos everywhere to be seen and so endeavour to tune in on the attitude of the Hierarchy. This involves the emphasis of the consciousness-aspect and the careful observation of all that goes on beneath the surface — awakening, arousing and stimulating to a pronounced mental activity, the hitherto unconscious masses. The events which are happening in every country are bringing this about with much rapidity; humanity is coming alive and its consciousness is awakening to the subjective values. The Hierarchy is sore beset to meet humanity’s emerging need of guidance. The sensitivity of the human race (as the result of economic insufficiency, of war, anxiety and pain) is becoming so acute that we who work on the inner side must hasten to impress sensitive, awakening psychics with the right impression. Hence our effort to create these groups, and to use people like yourselves who are (theoretically) harmless but actually full of prejudice and hasty judgments. We have to use the material which lies to hand and are greatly handicapped at all times.

Vì vậy, Tôi muốn yêu cầu các bạn thực hành thanh lọc nội dung thể trí, loại bỏ mọi tư tưởng chỉ trích và thiếu tử tế để có thể đạt được thái độ điềm nhiên thiêng liêng trước những phàm ngã phù du, thoáng qua và cảnh hỗn loạn hiện diện khắp nơi, qua đó cố gắng hòa nhịp với thái độ của Thánh đoàn. Điều này bao hàm việc nhấn mạnh phương diện tâm thức và cẩn thận quan sát mọi diễn biến bên dưới bề mặt — đánh thức, khơi dậy và kích thích quần chúng vốn cho đến nay còn vô thức bước vào hoạt động trí tuệ rõ rệt. Những sự kiện đang diễn ra ở mọi quốc gia đang nhanh chóng mang lại điều này; nhân loại đang trở nên sống động và tâm thức của nhân loại đang thức tỉnh trước các giá trị chủ quan. Thánh đoàn đang vô cùng chật vật để đáp ứng nhu cầu hướng dẫn mới nảy sinh của nhân loại. Sự nhạy cảm của nhân loại (do thiếu thốn kinh tế, chiến tranh, lo âu và đau khổ) đang trở nên sắc bén đến mức chúng tôi, những người hoạt động ở phía bên trong, phải khẩn trương truyền ấn tượng đúng đắn đến những người thông linh nhạy cảm đang thức tỉnh. Do đó, chúng tôi nỗ lực tạo lập những nhóm này và sử dụng những người như các bạn, những người (về lý thuyết) là vô tổn hại nhưng thực tế lại đầy thành kiến và phán xét vội vàng. Chúng tôi phải sử dụng chất liệu sẵn có trong tay và lúc nào cũng gặp những trở ngại lớn.

1. The Master asks for a drastic disciplining — a purging, an elimination of the kind that must occur (generally) under the influence of Scorpio and Pluto.

1. Chân sư yêu cầu một sự rèn luyện kỷ luật quyết liệt — một sự thanh lọc, một sự loại trừ thuộc loại phải diễn ra (nói chung) dưới ảnh hưởng của Hổ Cáp và Sao Diêm Vương.

2. As many of those in His group were first degree initiates preparing (in this or in immediately future lives) for the second initiation (ruled by Scorpio, and thus influenced by eliminative Pluto) the Master’s request for a kind, uncritical attitude can be understood as necessary not only for group requirements but for the spiritual progress possible to them at their individual stage of development.

2. Vì nhiều người trong nhóm của Ngài là những điểm đạo đồ bậc một đang chuẩn bị (trong kiếp này hoặc những kiếp ngay sau đó) cho lần điểm đạo thứ hai (do Hổ Cáp cai quản, nên chịu ảnh hưởng của Sao Diêm Vương với tác dụng loại trừ), yêu cầu của Chân sư về một thái độ tử tế, không chỉ trích có thể được hiểu là cần thiết không chỉ cho các yêu cầu của nhóm mà còn cho sự tiến bộ tinh thần khả hữu đối với họ ở giai đoạn phát triển cá nhân.

3. As student-occultists we must become convinced of the tremendous power of thought. Through the nature and quality of our thoughts we have an unsuspected capacity to help (or hurt) others.

3. Là những đạo sinh huyền bí học, chúng ta phải xác tín về quyền năng to lớn của tư tưởng. Thông qua bản chất và phẩm tính tư tưởng của mình, chúng ta có một khả năng giúp đỡ (hoặc làm tổn thương) người khác mà chúng ta chưa ngờ tới.

4. The usual stimulants to criticism are considered — namely the behavior of personalities and the “chaos everywhere to be seen”. But the Hierarchy has a very different attitude towards such things, rightly judging personalities and conditions as “fleeting and ephemeral”. This attitude promotes “divine indifference”, for personalities and conditions are seen as of no great moment. One can more easily let such things “be” if they are understood as relatively inconsequential.

4. Những tác nhân thường kích thích sự chỉ trích được xem xét ở đây — cụ thể là hành vi của các phàm ngã và “cảnh hỗn loạn hiện diện khắp nơi”. Nhưng Thánh đoàn có một thái độ rất khác đối với những điều ấy, khi nhận định đúng đắn rằng các phàm ngã và hoàn cảnh đều “thoáng qua và phù du”. Thái độ này thúc đẩy “điềm nhiên thiêng liêng”, vì các phàm ngã và hoàn cảnh được nhìn nhận là không có tầm quan trọng lớn. Người ta dễ để những điều ấy “như chúng vốn vậy” hơn nếu hiểu rằng chúng tương đối ít hệ trọng.

5. So we see that a spiritually adjusted sense of values contributes to the development of a kind and uncritical attitude of mind based on divine indifference.

5. Như vậy, chúng ta thấy rằng một ý thức về các giá trị được điều chỉnh theo tinh thần góp phần phát triển một thái độ trí tuệ tử tế, không chỉ trích, dựa trên điềm nhiên thiêng liêng.

6. These chelas in training are either approaching Master DK’s Ashram or can be considered as incorporated into it, though standing, relatively, on the its periphery. Therefore it is suitable for them to develop the “attitude of Hierarchy”.

6. Những đệ tử đang được huấn luyện này hoặc đang tiến đến ashram của Chân sư DK hoặc có thể được xem là đã gia nhập ashram ấy, dù xét tương đối vẫn đứng ở ngoại vi. Vì vậy, việc họ phát triển “thái độ của Thánh đoàn”.

7. Master DK is asking for a specific type of focussing — on the “consciousness aspect” and not on evanescent phenomena. The chelas He is addressing are to become “Trained Observers”. Thus we see that they are to develop capacity both as “Telepathic Communicators” and as “Trained Observers”. We recognize in these two titles the first two Seed Groups among the ten.

7. Chân sư DK đang yêu cầu một cách tập trung cụ thể — vào “phương diện tâm thức” chứ không vào những hiện tượng thoáng qua. Những đệ tử mà Ngài đang nói với phải trở thành “Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”. Như vậy, chúng ta thấy rằng họ phải phát triển năng lực vừa với tư cách “Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm” vừa với tư cách “Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”. Trong hai danh xưng này, chúng ta nhận ra hai Nhóm hạt giống đầu tiên trong số mười nhóm.

8. The developing occultist can have no superficial mental attitude. All members of Hierarchy are, fundamentally, esoteric psychologists and must see beneath the phantasmagoria of life.

8. Nhà huyền bí học đang phát triển không thể có một thái độ trí tuệ hời hợt. Về căn bản, mọi thành viên của Thánh đoàn đều là những nhà tâm lý học nội môn và phải nhìn thấu bên dưới những cảnh tượng huyễn hóa của cuộc sống.

9. DK points the fact that humanity is rapidly (very rapidly) awakening to the subjective values. It is both interesting and compelling that Hierarchy is “sore beset” to meet humanity’s need for guidance. Indeed it is a need, as will be revealed to those who, closely observing human trends, see humanity’s tendency towards ‘misguidance’.

9. Chân sư DK chỉ ra sự thật rằng nhân loại đang nhanh chóng (rất nhanh chóng) thức tỉnh trước các giá trị chủ quan. Việc Thánh đoàn đang “vô cùng chật vật” để đáp ứng nhu cầu được hướng dẫn của nhân loại vừa thú vị vừa thôi thúc chúng ta chú ý. Quả thật, đó là một nhu cầu, như sẽ trở nên rõ ràng đối với những người quan sát kỹ các xu hướng của con người và thấy khuynh hướng của nhân loại dễ bị ‘dẫn dắt sai đường’.

10. Master DK speaks of the acute sensitivity of the human race, due to many distressing factors. Reading between the lines, one can infer that such sensitivity could be an open door to wrong direction as well as to more wholesome types of impression. It would seem that humanity will be impressed, inevitably, and it is up to the Hierarchy to do all it can to ensure that the impression is a sound one. Hence the need to train disciples (such as those here addressed) in the methods of the constructive direction of idea and thought for purposes of impressing the mind of humanity.

10. Chân sư DK nói về sự nhạy cảm sắc bén của nhân loại do nhiều yếu tố gây đau khổ. Đọc giữa các dòng, người ta có thể suy ra rằng sự nhạy cảm ấy có thể mở cửa cho cả sự dẫn dắt sai lầm lẫn những loại ấn tượng lành mạnh hơn. Dường như nhân loại tất yếu sẽ tiếp nhận ấn tượng, và Thánh đoàn có trách nhiệm làm mọi điều có thể để bảo đảm rằng ấn tượng ấy là đúng đắn. Do đó, cần huấn luyện các đệ tử (như những người đang được nói tới ở đây) về các phương pháp định hướng ý tưởng và tư tưởng một cách xây dựng nhằm tạo ấn tượng lên thể trí của nhân loại.

11. Many psychics (and by that term, we may mean astrally sensitive people) are today receiving many erroneous impressions. They are tuning into the astral plane and accepting all they receive as reality. This is a dangerous and misleading situation. If they were better trained, they would exercise more discrimination, and the likelihood of misguiding error would be greatly reduced. Modern disciples who, increasingly, are achieving mental polarization, have a role to play in this training.

11. Ngày nay, nhiều người thông linh (và với thuật ngữ ấy, chúng ta có thể muốn nói đến những người nhạy cảm về mặt cảm dục) đang tiếp nhận nhiều ấn tượng sai lầm. Họ đang hòa nhịp với cõi cảm dục và chấp nhận mọi điều mình tiếp nhận là thực tại. Đây là một tình trạng nguy hiểm và dễ dẫn đến lầm lạc. Nếu được huấn luyện tốt hơn, họ sẽ vận dụng sự phân biện nhiều hơn, và khả năng mắc sai lầm dẫn đến lạc hướng sẽ giảm đi rất nhiều. Các đệ tử hiện đại, những người ngày càng đạt được sự phân cực trí tuệ, có một vai trò trong việc huấn luyện này.

12. DK offers some humbling thoughts: those He is forced to work with are not entirely suitable. In fact, they are not really harmless, but are filled with prejudices and hasty judgments. Human minds are not to be impressed by such negative qualities, and would not be, were harmlessness a fact in the consciousness of those who impress others (both consciously and unconsciously).

12. Chân sư DK đưa ra một vài ý tưởng khiến chúng ta phải khiêm nhường: những người mà Ngài buộc phải làm việc cùng không hoàn toàn thích hợp. Thực tế, họ chưa thực sự vô tổn hại mà còn đầy thành kiến và phán xét vội vàng. Thể trí con người không nên tiếp nhận ấn tượng từ những phẩm tính tiêu cực ấy, và điều đó sẽ không xảy ra nếu tính vô tổn hại là một thực tại trong tâm thức của những người tạo ấn tượng lên người khác (cả một cách hữu thức lẫn vô thức).

13. Disciples are simply “material” and, often, material which handicaps the intentions of the greater beings who would use it. Let us seek to present as few handicaps to the Masters as we possibly can. Let us seek to be “material” suitable to Their Plans and Purposes.

13. Các đệ tử chỉ đơn thuần là “chất liệu” và thường là chất liệu cản trở ý định của những sinh mệnh cao cả hơn muốn sử dụng chất liệu ấy. Chúng ta hãy cố gắng gây ra ít trở ngại nhất có thể cho các Chân sư. Chúng ta hãy cố gắng trở thành “chất liệu” thích hợp với các Thiên Cơ và Mục Đích của Các Ngài.

After you have worked consciously at the purification of the mind and after you have attempted to free yourselves from prejudice, from preconceived ideas and hasty judgments and determinations (based upon your own background, tradition, social and racial status), you will then brood consciously on the process of thoughtform making; you will remember that — for group purposes and for simplicity — the following three stages are of importance: [67]

Sau khi đã có ý thức nỗ lực thanh lọc thể trí và cố gắng giải thoát mình khỏi thành kiến, khỏi những ý tưởng định sẵn cùng những phán xét và kết luận vội vàng (dựa trên bối cảnh riêng, truyền thống, địa vị xã hội và vị thế chủng tộc của mình), các bạn sẽ có ý thức suy ngẫm về tiến trình tạo lập hình tư tưởng; các bạn sẽ nhớ rằng — vì mục đích của nhóm và để đơn giản hóa — ba giai đoạn sau đây có tầm quan trọng: [67]

1. First comes purification of the mind. This is a detaching and eliminative process.

1. Trước hết là sự thanh lọc thể trí. Đây là một tiến trình tách rời và loại trừ.

2. Prejudice is a type of habitual thought which is incognizant of presented reality. Preconceived ideas are prejudices.

2. Thành kiến là một kiểu tư tưởng theo thói quen, không nhận biết thực tại đang hiện diện. Những ý tưởng định sẵn chính là thành kiến.

3. Hasty judgments also prevent the clear-seeing of the truth, for they fail to draw correct conclusions.

3. Những phán xét vội vàng cũng ngăn cản việc thấy rõ chân lý, vì chúng không rút ra được những kết luận đúng đắn.

4. Judgments and determinations are fixed thoughtforms which are based upon a limited, personal point of view and are, therefore, inaccurate.

4. Những phán xét và kết luận là các hình tư tưởng cố định dựa trên một quan điểm cá nhân hạn hẹp, và vì vậy không chính xác.

5. All these mental conditions are so much clutter and obstruction and would taint the ‘stream of impressive energy’ with negativity. Over and over again we see why purification must precede real occult work and that the purification must address increasingly subtle layers within the individual.

5. Tất cả những trạng thái trí tuệ này đều là những thứ ngổn ngang và chướng ngại, sẽ làm vẩn đục ‘dòng năng lượng tạo ấn tượng’ bằng tính tiêu cực. Hết lần này đến lần khác, chúng ta thấy vì sao sự thanh lọc phải đi trước công việc huyền bí thực sự và vì sao sự thanh lọc ấy phải hướng đến những lớp ngày càng tinh tế bên trong cá nhân.

6. After purification has been effected, practical knowledge of the “process of thoughtform making” must be developed. There is a skill to be developed and it will not be developed without reflection.

6. Sau khi đã thanh lọc, cần phát triển tri thức thực hành về “tiến trình tạo lập hình tư tưởng”. Có một kỹ năng cần phát triển, và kỹ năng ấy sẽ không phát triển nếu thiếu suy ngẫm.

1. The stage of pondering over the idea which is to be impressed upon the mind of some individual. This pondering and carefully directed thinking produces construction; it is a creative activity and is the first real stage in our work. I do not want you to endeavour to build thoughtforms. I want you to think clearly along lines which I may indicate. Then the desired thoughtform will automatically take shape and all of you will have contributed something to it.

1. Giai đoạn suy ngẫm về ý tưởng sẽ được truyền ấn tượng lên thể trí của một cá nhân nào đó. Sự suy ngẫm này cùng với tư duy được định hướng cẩn thận tạo nên sự xây dựng; đó là một hoạt động sáng tạo và là giai đoạn thực sự đầu tiên trong công việc của chúng ta. Tôi không muốn các bạn cố gắng xây dựng các hình tư tưởng. Tôi muốn các bạn tư duy rõ ràng theo những đường hướng mà Tôi có thể chỉ ra. Khi đó, hình tư tưởng mong muốn sẽ tự động thành hình và tất cả các bạn đều sẽ đóng góp điều gì đó vào hình tư tưởng ấy.

1. The magical process and the telepathic process have points in common, for a white magician begins very much as DK is here instructing those who are to be engaged in the process of telepathic impression.

1. Tiến trình huyền thuật và tiến trình viễn cảm có những điểm chung, vì một nhà huyền thuật chánh đạo khởi đầu rất giống với cách Chân sư DK đang chỉ dạy ở đây cho những người sẽ tham gia tiến trình truyền ấn tượng bằng viễn cảm.

2. The work is definitely to impress the mind of an individual or individuals but not compel the will. DK tells how preparation may be made.

2. Công việc rõ ràng là tạo ấn tượng lên thể trí của một hay nhiều cá nhân, nhưng không cưỡng ép ý chí. Chân sư DK chỉ dẫn cách chuẩn bị.

3. Firstly, the idea to be impressed is to be pondered by the agent of impression. What is the value of this pondering? Pondering is, essentially, a constructive process. The second ray is the Ray of Cohesion, an attractive, building ray, and “pondering” is a process directly related to the second ray. Through the focus generated through the ‘staying with’ of pondering, the intuition is invoked. The plane of intuition is the plane of “pure reason”; in the state of pure reason, ideas cohere with faithfulness to their archetypes.

3. Trước hết, tác nhân truyền ấn tượng phải suy ngẫm về ý tưởng cần truyền đạt. Sự suy ngẫm này có giá trị gì? Về căn bản, suy ngẫm là một tiến trình xây dựng. Cung hai là Cung Cố Kết, một cung thu hút và xây dựng, và “suy ngẫm” là một tiến trình liên hệ trực tiếp với cung hai. Thông qua sự tập trung do việc ‘kiên trì ở lại với đối tượng’ trong suy ngẫm tạo ra, trực giác được khẩn cầu. Cõi trực giác là cõi của “lý trí thuần khiết”; trong trạng thái lý trí thuần khiết, các ý tưởng gắn kết với nhau mà vẫn trung thành với những nguyên mẫu của chúng.

4. Pondering, thus, enriches the idea being pondered and infuses the idea with the increasing reality and truth characteristic of the buddhic plane.

4. Như vậy, sự suy ngẫm làm phong phú ý tưởng đang được suy ngẫm và thấm nhuần ý tưởng ấy bằng thực tại và chân lý ngày càng sâu sắc, vốn là đặc trưng của cõi Bồ đề.

5. To simply build thoughtforms (without due reference to archetypal pattern) is to enter prematurely into thought manipulation. The chela may feel an eagerness to build, but such a probably unenlightened eagerness could prevent success.

5. Chỉ đơn thuần xây dựng các hình tư tưởng (mà không tham chiếu thích đáng đến mô hình nguyên mẫu) là bước vào việc thao tác tư tưởng quá sớm. Người đệ tử có thể háo hức xây dựng, nhưng sự háo hức có lẽ chưa được soi sáng ấy có thể ngăn cản thành công.