← Commentary on DINA I song ngữ

SECTION ONETALKS TO DISCIPLES, – PHẦN MỘTNHỮNG BÀI NÓI CHUYỆN VỚI CÁC ĐỆ TỬ,

Trích nội dung chương

5. Perhaps among those who are only moderately developed from the evolutionary perspective, the fourth ray is more frequently found than the third, but we should not assume that to be qualified by the fourth ray means that one is less intelligent than an individual found upon the third ray. 5. Có lẽ trong số những người chỉ phát triển ở mức vừa phải xét từ góc độ tiến hoá, cung bốn thường gặp hơn cung ba; nhưng chúng ta không nên cho rằng việc mang phẩm tính cung bốn có nghĩa là một người kém thông minh hơn một cá nhân thuộc cung ba.


5. Perhaps among those who are only moderately developed from the evolutionary perspective, the fourth ray is more frequently found than the third, but we should not assume that to be qualified by the fourth ray means that one is less intelligent than an individual found upon the third ray.

5. Có lẽ trong số những người chỉ phát triển ở mức vừa phải xét từ góc độ tiến hoá, cung bốn thường gặp hơn cung ba; nhưng chúng ta không nên cho rằng việc mang phẩm tính cung bốn có nghĩa là một người kém thông minh hơn một cá nhân thuộc cung ba.

6. There are both horizontal and vertical dimensions to ray analysis, and these must be considered carefully.

6. Việc phân tích cung có cả chiều ngang lẫn chiều dọc, và cần xem xét kỹ lưỡng cả hai chiều này.

7. In general, the descriptions in the paragraph under consideration are very useful and help us form mental “pegs” for the proper association of related thoughts.

7. Nhìn chung, những mô tả trong đoạn văn đang xét rất hữu ích và giúp chúng ta hình thành những “điểm tựa” trong trí để liên kết đúng đắn các tư tưởng có liên quan.

8. Note that under the seventh ray, AAB speaks about “these energies” in their equipment. She seems to be saying that a ray is not simply a monolithic energy, but is a diversified demonstration, a plurality. We should hold this thought in mind when analyzing ray structure and when seeking to detect the presence of a given ray in individuals and groups. A given ray may come in seven subray demonstrations—each subray of a given ray may be quite distinct from other subrays. For instance, there are three prominent second ray types (DINA II 518) (though probably there are seven). Each of these three is quite distinct for the other two, and could even be mistaken for a ray quality other than that of the second ray. Much circumspection is required for accurate analysis.

8. Hãy lưu ý rằng ở phần cung bảy, AAB nói đến “những năng lượng này” trong bộ máy của họ. Dường như Bà muốn nói rằng một cung không chỉ đơn thuần là một năng lượng đồng nhất, mà là một biểu hiện đa dạng, một tập hợp nhiều thành phần. Chúng ta nên ghi nhớ điều này khi phân tích cấu trúc cung và khi tìm cách nhận biết sự hiện diện của một cung nhất định trong các cá nhân và các nhóm. Một cung nhất định có thể biểu hiện qua bảy cung phụ—mỗi cung phụ của cung ấy có thể rất khác với các cung phụ khác. Chẳng hạn, có ba loại người cung hai nổi bật (DINA II 518) (dù có lẽ có đến bảy loại). Mỗi loại trong ba loại này đều rất khác hai loại còn lại, và thậm chí có thể bị nhầm là mang phẩm tính của một cung khác với cung hai. Cần hết sức thận trọng để phân tích chính xác.

However, only when a man is highly developed and nearing the Path of Discipleship is it possible for the esoteric student accurately to surmise what his ray may be. People of all kinds and professions are found on all the rays. The conflict in a disciple’s life is found to lie in the fact that the ray of his soul and the ray of his integrated personality are posed against each other. At the same time, his emotional nature, his mental equipment and his physical brain are also controlled by some one or other of the rays and in this fivefold relationship lies hid much of the problem of the evolving human being. The Tibetan tells the members of His group which five rays condition them and students will learn much by a study of what He says. In the cases where I happen to know the disciple concerned personally and something of his problems, it was amazingly interesting to me to note how infallibly right the Tibetan was in His diagnosis of the rays involved. In reading these instructions will you please remember that though the Tibetan usually speaks of the soul, He also uses the word “ego” interchangeably, meaning thereby the spiritual ego and not the personal ego of the psychologists.

Tuy nhiên, chỉ khi một người đã phát triển cao và đang đến gần Con Đường Đệ Tử, đạo sinh nội môn mới có thể phỏng đoán chính xác người ấy có thể thuộc cung nào. Những người thuộc mọi loại hình và nghề nghiệp đều hiện diện trên tất cả các cung. Xung đột trong đời sống một đệ tử nằm ở chỗ cung linh hồn và cung phàm ngã tích hợp của y đối lập với nhau. Đồng thời, bản chất cảm xúc, bộ máy trí tuệ và bộ não hồng trần của y cũng chịu sự kiểm soát của một cung nào đó; chính trong mối quan hệ ngũ phân này ẩn giấu phần lớn vấn đề của con người đang tiến hoá. Chân sư Tây Tạng cho các thành viên trong nhóm của Ngài biết năm cung nào tác động lên họ, và các đạo sinh sẽ học được nhiều điều qua việc nghiên cứu những gì Ngài nói. Trong những trường hợp tôi tình cờ quen biết trực tiếp người đệ tử liên quan và biết phần nào những vấn đề của người ấy, tôi vô cùng thích thú khi nhận thấy Chân sư Tây Tạng luôn chẩn đoán đúng các cung liên quan một cách không sai lệch. Khi đọc những huấn thị này, xin các bạn nhớ rằng tuy Chân sư Tây Tạng thường nói đến linh hồn, Ngài cũng dùng từ “chân ngã” thay thế cho từ ấy, qua đó muốn nói đến chân ngã tinh thần chứ không phải phàm ngã theo cách hiểu của các nhà tâm lý học.

1. AAB sounds a warning. A study of the seven rays may not be for all—at least not in its completeness. One needs to be “highly developed” and “nearing the Path of Discipleship” before the soul ray will emerge and be detectable.

1. AAB đưa ra một lời cảnh báo. Việc nghiên cứu bảy cung có thể không dành cho tất cả mọi người—ít nhất là khi nghiên cứu một cách toàn diện. Một người cần phải “phát triển cao” và “đang đến gần Con Đường Đệ Tử” thì cung linh hồn mới xuất hiện và có thể được nhận biết.

2. Then another problem, corroborated elsewhere by DK: namely that “people of all kinds and professions are found on all rays”. That certain professions may attract more of some ray types than others is probably statistically true, but one cannot allow profession alone to be the sole discriminator of ray type. Profession, however, cannot be ignored when pursuing ray analysis.

2. Tiếp đó là một vấn đề khác, mà Chân sư DK cũng xác nhận ở nơi khác: đó là “những người thuộc mọi loại hình và nghề nghiệp đều hiện diện trên tất cả các cung”. Một số nghề nghiệp có thể thu hút người thuộc một số loại hình cung nhiều hơn những loại khác; điều này có lẽ đúng về mặt thống kê, nhưng không thể chỉ dùng nghề nghiệp làm tiêu chí duy nhất để phân biệt loại hình cung. Tuy nhiên, cũng không thể bỏ qua nghề nghiệp khi tiến hành phân tích cung.

3. The main reason for conflict in a disciple’s life is given: the soul ray is posed against the personality ray. This is not a new idea to most of us, but to see it working out may be a revelation.

3. Lý do chính gây xung đột trong đời sống của một đệ tử được nêu ra: cung linh hồn đối lập với cung phàm ngã. Đây không phải là một ý tưởng mới đối với phần đông chúng ta, nhưng việc thấy nó diễn ra trong thực tế có thể là một sự mặc khải.

4. AAB points to the fivefold ray formula which characterizes each of us. In this ray formula is hidden much of our present problem and potential.

4. AAB chỉ ra công thức cung ngũ phân đặc trưng cho mỗi chúng ta. Trong công thức cung này ẩn giấu phần lớn vấn đề và tiềm năng hiện tại của chúng ta.

5. AAB remarks about her own amazement when considering the problems of disciples known to her vis-à-vis their ray formula as diagnosed by the Tibetan. Clearly, we are being given a very important interpretive tool for S/self-understanding. However, we, per se, are not literally being ‘given’ the tool as it was given to the disciples in Master DK’s groups. Rather, we are being informed that it exists, and have to ascertain its nature ourselves. Fortunately, we have many hints on which to proceed.

5. AAB nói về sự kinh ngạc của chính Bà khi xem xét những vấn đề của các đệ tử mà Bà quen biết trong mối liên hệ với công thức cung của họ theo chẩn đoán của Chân sư Tây Tạng. Rõ ràng, chúng ta đang được trao một công cụ diễn giải rất quan trọng để thấu hiểu Chân ngã/bản thân. Tuy nhiên, chính chúng ta không thực sự được ‘trao’ công cụ ấy như các đệ tử trong những nhóm của Chân sư DK đã được trao. Thay vào đó, chúng ta được cho biết rằng công cụ ấy tồn tại, và phải tự xác định bản chất của nó. May thay, chúng ta có nhiều gợi ý để dựa vào đó mà tiếp tục.

6. AAB also calls our attention to the use of the word “ego”. In the teaching it is used in three ways: as the lower personal ego (rarely); as the spiritual ego or higher self (frequently); and as the monadic Ego (again, rarely, but actually).

6. AAB cũng lưu ý chúng ta về cách dùng từ “chân ngã”. Trong giáo lý, từ này được dùng theo ba nghĩa: phàm ngã cá nhân thấp kém (hiếm khi); chân ngã tinh thần hay Bản Ngã Cao Siêu (thường xuyên); và Chân ngã chân thần (cũng hiếm khi, nhưng thực sự có).

7. The Tibetan must be read carefully. He is most cautious with the use of words, and much can be hidden from the enquiring student who reads inattentively. One may read a given sentence in the teaching for many years using a certain interpretation, only to discover that it has not been correct; a word, or the use of a word, had been understood incorrectly. We must proceed with caution. Master DK hides much in His sentences (though He simultaneously discloses much to those who know how to read).

7. Cần đọc kỹ những gì Chân sư Tây Tạng viết. Ngài hết sức thận trọng trong cách dùng từ, và nhiều điều có thể vẫn ẩn kín đối với đạo sinh đang tìm hiểu nhưng đọc thiếu chú tâm. Một người có thể đọc một câu nào đó trong giáo lý suốt nhiều năm theo một cách diễn giải nhất định, rồi mới phát hiện rằng cách hiểu ấy không đúng; một từ, hoặc cách dùng một từ, đã bị hiểu sai. Chúng ta phải tiến bước thận trọng. Chân sư DK ẩn giấu nhiều điều trong các câu văn của Ngài (dù đồng thời Ngài cũng hé lộ nhiều điều cho những ai biết cách đọc).

We have not felt it wise to give the meditations assigned or the breathing exercises, except in a few cases. They were strictly individual and suited to the person and his peculiar problems. In one or two cases, however, after due consideration, we have inserted some of the meditations with slight changes. It was obvious that they could be only helpful.

Chúng tôi thấy rằng không nên công bố các bài thiền được giao hay các bài tập thở, ngoại trừ một vài trường hợp. Chúng hoàn toàn mang tính cá nhân và phù hợp với từng người cùng những vấn đề riêng của họ. Tuy nhiên, trong một hai trường hợp, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, chúng tôi đã đưa vào một số bài thiền với những thay đổi nhỏ. Rõ ràng, những bài ấy chỉ có thể đem lại lợi ích.

1. We see something of the responsibility which falls to those who seek to distributed esoteric knowledge. Knowledge is power and, in many cases, danger.

1. Chúng ta thấy được phần nào trách nhiệm đặt lên những người tìm cách phổ biến tri thức nội môn. Tri thức là quyền năng và, trong nhiều trường hợp, cũng là mối nguy hiểm.

2. People are so eager for rapid progress, or what they think to be rapid progress.

2. Người ta quá háo hức muốn tiến bộ nhanh chóng, hoặc đạt điều mà họ nghĩ là tiến bộ nhanh chóng.

3. Breathing exercises would be eagerly pursued by the ambitious, and simple principles like service and occult obedience would be neglected. By not giving out certain breathing exercises, AAB is saving us from ourselves, for in many, eagerness overcomes discretion, and much damage can be done.

3. Những người nhiều tham vọng sẽ hăng hái theo đuổi các bài tập thở, trong khi bỏ bê những nguyên tắc đơn giản như phụng sự và tuân phục huyền môn. Bằng việc không công bố một số bài tập thở, AAB đang cứu chúng ta khỏi chính mình, vì ở nhiều người, sự háo hức lấn át tính thận trọng, và điều đó có thể gây ra nhiều tổn hại.

4. So, a fine discrimination has been used to present meditations and exercises which are only useful and cannot be harmful, if rightly followed.

4. Vì vậy, Bà đã vận dụng khả năng phân biện tinh tế để trình bày những bài thiền và bài tập chỉ đem lại lợi ích, không thể gây hại nếu thực hành đúng cách.

5. We can understand how thoroughly the Teacher or Master must understand the individual nature of His student. The Master’s ability for such knowledge far transcends our own. But only with such knowledge, is it safe to assign breathing exercises (exercises which manipulate the fires. of the etheric-physical body). In this field, “less is more”. Above all, we seek to do no harm. As yet we know little. We must reserve judgment and wait for the time when we are better informed.

5. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng Huấn sư hay Chân sư phải thấu hiểu bản chất riêng của môn sinh mình tường tận đến mức nào. Khả năng của Chân sư trong việc biết rõ như vậy vượt xa khả năng của chúng ta. Nhưng chỉ với sự hiểu biết như thế, việc giao các bài tập thở mới an toàn (những bài tập điều khiển các ngọn lửa của thể dĩ thái–thể xác). Trong lĩnh vực này, “ít lại là nhiều”. Trên hết, chúng ta tìm cách không gây tổn hại. Cho đến nay, chúng ta còn biết rất ít. Chúng ta phải tạm chưa phán đoán và chờ đến khi có hiểu biết đầy đủ hơn.

At the end of each instruction, we have put a sentence or two which gives information as to the work of the disciple in the Ashram. This will prove particularly enlightening as, for instance, in the cases of P. D. W. and K. E. S. where the Tibetan shows definite prevision and the knowledge that both these men would die a few years later. He is obviously preparing them for that great transition.

Ở cuối mỗi huấn thị, chúng tôi đã thêm một hai câu cung cấp thông tin về công việc của người đệ tử trong ashram. Điều này sẽ đặc biệt giúp làm sáng tỏ, chẳng hạn trong các trường hợp của P. D. W. và K. E. S., khi Chân sư Tây Tạng cho thấy sự tiên kiến rõ ràng và biết rằng cả hai người nam này sẽ qua đời vài năm sau đó. Hiển nhiên, Ngài đang chuẩn bị cho họ đón nhận sự chuyển tiếp lớn lao ấy.

1. The Tibetan is a Master in the use of language, and of the Eastern Masters with Whom we are most familiar, knew English the best.

1. Chân sư Tây Tạng là một Chân sư về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, và trong số các Chân sư phương Đông mà chúng ta quen thuộc nhất, Ngài thông thạo tiếng Anh hơn cả.

2. As we read what DK has to say, we will grow in our appreciation of how He says it. He is a master of tact, firmness and illumination. Words can be so dangerous, especially the words coming from a Master. He seeks to bring about important changes in the lives of His disciples. He knows things about them which could or would arouse in them adverse reactions. Somehow, He must present the knowledge which must reach them in such a way that it arouses good response rather than bad reaction.

2. Khi đọc những điều Chân sư DK nói, chúng ta sẽ ngày càng trân trọng cách Ngài nói những điều ấy. Ngài là bậc thầy về sự khéo léo, tính kiên định và khả năng soi sáng. Lời nói có thể rất nguy hiểm, nhất là lời nói từ một Chân sư. Ngài tìm cách đem lại những thay đổi quan trọng trong đời sống các đệ tử của Ngài. Ngài biết những điều về họ có thể hoặc sẽ khơi dậy trong họ những phản ứng bất lợi. Bằng cách nào đó, Ngài phải trình bày những hiểu biết cần truyền đến họ sao cho khơi dậy sự đáp ứng tốt đẹp thay vì phản ứng tiêu cực.

3. Sometimes, however, despite His best efforts, the adverse reaction came, and a number of disciples quit the project because they felt “misunderstood by the Tibetan”. In fact they were not misunderstood at all, but understood only too well. They were not ready for the revelation which the presence of the Master inevitably brings.

3. Tuy nhiên, đôi khi, bất chấp mọi nỗ lực của Ngài, phản ứng bất lợi vẫn xảy ra, và một số đệ tử đã rời bỏ dự án vì cảm thấy “Chân sư Tây Tạng hiểu lầm mình”. Thực ra, Ngài hoàn toàn không hiểu lầm họ, mà hiểu họ quá rõ. Họ chưa sẵn sàng đón nhận sự mặc khải mà sự hiện diện của Chân sư tất yếu đem lại.

4. AAB speaks of the prophetic power of the Tibetan—in at least two cases, to predict impending death.

4. AAB nói về quyền năng tiên tri của Chân sư Tây Tạng—ít nhất trong hai trường hợp, Ngài đã tiên đoán cái chết sắp đến.

5. In the case of PDW, DK closed His remarks with these words:

5. Trong trường hợp của PDW, Chân sư DK kết thúc những lời nhận xét của Ngài bằng những lời sau:

“Your field of service is around you and embraces all who come your way, and the path of this service leads straight to me, my brother. . . . ”

“Lĩnh vực phụng sự của em ở quanh em và bao gồm tất cả những ai đến với em; con đường phụng sự này dẫn thẳng đến Tôi, hỡi huynh đệ của Tôi. . . . ”

6. In the case of KES, the Tibetan said, in His closing instruction,

6. Trong trường hợp của KES, Chân sư Tây Tạng nói trong huấn thị cuối cùng của Ngài:

“You could do much for F. C. D. from the quiet of your room. I might add, that he is seeking to help you physically and to strengthen you with life (where’er you live that life). ” (DINA I 551)

“Em có thể làm nhiều điều cho F. C. D. từ sự tĩnh lặng trong căn phòng của em. Tôi có thể nói thêm rằng người ấy đang tìm cách giúp em về mặt thể chất và củng cố em bằng sự sống (dù ở bất cứ đâu em sống sự sống ấy). ” (DINA I 551)

7. The Tibetan has the task of preparing his disciples for great changes without alarming them or causing adverse reaction. We shall study how He does this.

7. Chân sư Tây Tạng có nhiệm vụ chuẩn bị cho các đệ tử của Ngài đón nhận những thay đổi lớn lao mà không làm họ lo sợ hay gây ra phản ứng bất lợi. Chúng ta sẽ nghiên cứu cách Ngài thực hiện điều này.

In closing, I would like to thank all these disciples who have so kindly placed their personal instructions at my disposal [xv] in an effort to be of service to the coming generation of disciples. In many cases, they helped prepare them for the press. I would like also to thank those who helped me to get the text ready for publication, particularly Joseph Lovejoy who gave days of labour to the book; he has for years helped me prepare the Tibetan’s books for publication.

Để kết thúc, tôi muốn cảm ơn tất cả những đệ tử này, những người đã hết lòng trao cho tôi quyền sử dụng các huấn thị riêng của họ [xv] nhằm phụng sự thế hệ đệ tử sắp đến. Trong nhiều trường hợp, họ đã giúp chuẩn bị những huấn thị ấy để đưa đi in. Tôi cũng muốn cảm ơn những người đã giúp tôi chuẩn bị bản thảo để xuất bản, đặc biệt là Joseph Lovejoy, người đã dành nhiều ngày làm việc cho cuốn sách; trong nhiều năm, ông đã giúp tôi chuẩn bị các sách của Chân sư Tây Tạng để xuất bản.

1. Words of gratitude follow. Indeed we can all be grateful to these disciples who opened themselves to public scrutiny for the benefit of the disciples who were to follow them.

1. Tiếp theo là những lời tri ân. Thật vậy, tất cả chúng ta đều có thể biết ơn những đệ tử này, những người đã để công chúng xem xét kỹ lưỡng chính mình vì lợi ích của các đệ tử đến sau.

2. None of us is really and essentially an individual personality. We are all an emanation of the One Life, and we do not ‘belong to ourselves alone’. This attitude is, of course, impersonal, and demonstrates that necessary ‘distance’ from the personal which will allow the personality to be used as an instrument and not as an end in itself.

2. Thực sự và xét về bản chất, không ai trong chúng ta là một phàm ngã riêng lẻ. Tất cả chúng ta đều là một phát xạ của Sự Sống Duy Nhất, và chúng ta không ‘chỉ thuộc về riêng mình’. Dĩ nhiên, thái độ này mang tính phi cá nhân và thể hiện ‘khoảng cách’ cần thiết đối với những gì thuộc cá nhân, nhờ đó phàm ngã có thể được sử dụng như một công cụ chứ không phải một mục đích tự nó.

I hope all who read this book will receive the inspiration that we who have prepared it have received; I hope also that their confidence in the Hierarchy and in the existence of Christ and His Disciples, the Masters, may receive such an impetus that many more will attempt to tread the Way and join the great number of aspirants in every country who are seeking to tread the Path by becoming the Path Itself.

Tôi hy vọng tất cả những ai đọc cuốn sách này sẽ đón nhận nguồn cảm hứng mà chúng tôi, những người đã chuẩn bị cuốn sách, đã nhận được; tôi cũng hy vọng niềm tin của họ vào Thánh đoàn và vào sự hiện hữu của Đức Christ cùng các Đệ tử của Ngài, tức các Chân sư, sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ đến mức có thêm nhiều người cố gắng bước trên Đường Đạo và gia nhập đông đảo những người chí nguyện ở mọi quốc gia, những người đang tìm cách bước trên Đường Đạo bằng cách trở thành chính Đường Đạo.

1. We see the service which this book (DINA I) was intended to provide.

1. Chúng ta thấy mục đích phụng sự mà cuốn sách này (DINA I) hướng đến.

2. AAB ends with an inspiring exhortation, as DK so often does.

2. AAB kết thúc bằng một lời khích lệ đầy cảm hứng, như Chân sư DK vẫn thường làm.

3. Inspiration is a ‘breathing in’ of a living fire. It uplifts and gives the energy to go on. There is much inertia to be overcome. “Sloth” is the “major liability of the average initiate”—not just the average disciple! Inspiration overcomes sloth.

3. Cảm hứng là sự ‘hít vào’ một ngọn lửa sống động. Nó nâng chúng ta lên và đem lại năng lượng để tiếp tục. Có rất nhiều tính trì trệ cần phải vượt qua. “Sự lười biếng” là “nhược điểm lớn nhất của điểm đạo đồ trung bình”—chứ không chỉ của đệ tử trung bình! Cảm hứng khắc phục sự lười biếng.

4. Surely we must see that what was possible for these disciples, chosen to be members of DK’s outer groups, is also possible for us—at some time, whether in the immediate future or some time afterwards. Surely we feel a keen incentive to make ourselves worthy of such training so that we may rapidly join the ranks of those who are really equipped to serve.

4. Chắc hẳn chúng ta phải thấy rằng những gì đã có thể xảy ra với các đệ tử này, những người được chọn làm thành viên các nhóm bên ngoài của Chân sư DK, cũng có thể xảy ra với chúng ta—vào một lúc nào đó, dù trong tương lai gần hay về sau. Chắc hẳn chúng ta cảm thấy một động lực mạnh mẽ thôi thúc mình trở nên xứng đáng với sự huấn luyện ấy, để có thể nhanh chóng gia nhập hàng ngũ những người thực sự có đủ khả năng phụng sự.

5. AAB is calling out to the “band of brothers”, asking that their ranks be swelled as they tread the Way together.

5. AAB đang kêu gọi “đoàn huynh đệ”, mong hàng ngũ của họ ngày càng đông đảo khi cùng nhau bước trên Đường Đạo.

6. She ends by asking us to tread the Path by “becoming the Path Itself”. Upon this injunction each of us must ponder. To fulfill it, would change us from theoretical esotericists into the genuine item—the practical esotericist.

6. Bà kết thúc bằng lời đề nghị chúng ta bước trên Đường Đạo bằng cách “trở thành chính Đường Đạo”. Mỗi chúng ta phải suy ngẫm về huấn lệnh này. Thực hiện được điều ấy sẽ chuyển đổi chúng ta từ những nhà bí truyền học lý thuyết thành những nhà bí truyền học đích thực—những người thực hành huyền bí học.

7. May we be inspired by our study of the DINA books, and may we move on—together—”out of the fire, into the cold and towards a newer tension”

7. Cầu mong chúng ta được truyền cảm hứng qua việc nghiên cứu các sách DINA, và cầu mong chúng ta cùng nhau tiến bước—”ra khỏi ngọn lửa, đi vào giá lạnh và hướng đến một điểm tập trung nhất tâm mới hơn”

October 1943

Tháng Mười năm 1943

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

To the next commentary

Sang phần bình giảng tiếp theo

SECTION ONETALKS TO DISCIPLES, – PHẦN MỘTNHỮNG BÀI NÓI CHUYỆN VỚI CÁC ĐỆ TỬ,

2. PART I – 2. PHẦN I

[3]

[3]

MY BROTHERS:

CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

It is of importance that you realise that today something new is happening. There is the emergence of a new kingdom in nature, the fifth kingdom; this is the Kingdom of God on earth or the kingdom of souls. It is precipitating on earth and will be composed of those who are becoming group-conscious and who can work in group formation. This will be possible, because these people will have achieved a self-initiated perfection (even if relative in nature) and will be identified with certain group expansions of consciousness. It will also be because they have arrived at love of their fellowmen, just as they have loved themselves in the past. Think on this with clarity, my brothers, and grasp, if you can, the full significance of this last sentence.

Điều quan trọng là các bạn nhận ra rằng ngày nay có một điều mới mẻ đang diễn ra. Một giới mới trong thiên nhiên đang xuất hiện, giới thứ năm; đây là Thiên Giới trên Trái Đất hay giới của các linh hồn. Giới ấy đang ngưng tụ trên Trái Đất và sẽ gồm những người đang trở nên có tâm thức nhóm và có thể làm việc theo đội hình nhóm. Điều này sẽ khả thi vì những người ấy sẽ đạt được một sự hoàn thiện do chính mình khởi xướng (dù về bản chất chỉ là tương đối) và sẽ đồng hoá với một số sự mở rộng tâm thức nhóm. Điều đó cũng sẽ khả thi vì họ đã đạt đến chỗ yêu thương đồng loại như đã từng yêu thương chính mình trong quá khứ. Hỡi các huynh đệ của Tôi, hãy suy nghĩ thật sáng suốt về điều này và, nếu có thể, hãy nắm bắt trọn vẹn thâm nghĩa của câu cuối ấy.

1. The Tibetan begins with the essential — the reason for which He and all the Masters are working and one of the main reasons for which the Christ is ‘Reappearing’. A major emergence is underway.

1. Chân sư Tây Tạng bắt đầu bằng điều cốt yếu—lý do mà Ngài cùng tất cả các Chân sư đang làm việc, và một trong những lý do chính khiến Đức Christ đang ‘Tái Lâm’. Một sự xuất hiện trọng đại đang diễn ra.

2. The fifth kingdom of nature, the kingdom of souls already exists, but it is the forthcoming precipitation of that kingdom on earth which is of moment.

2. Giới thứ năm của thiên nhiên, giới của các linh hồn, đã hiện hữu, nhưng chính sự ngưng tụ sắp tới của giới ấy trên Trái Đất mới là điều có ý nghĩa trọng đại.

3. Participation in that kingdom begins with the first initiation. Therefore, we can understand that the initiate of the first degree is becoming group conscious. One can be a member of that kingdom (though, perhaps, not a full member) before one is completely group conscious.

3. Việc tham gia vào giới ấy bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất. Do đó, chúng ta có thể thấu hiểu rằng điểm đạo đồ bậc một đang trở nên có tâm thức nhóm. Một người có thể là thành viên của giới ấy (dù có lẽ chưa phải là thành viên trọn vẹn) trước khi hoàn toàn có tâm thức nhóm.

4. What is a “self-initiated perfection”? What is the self that initiates that perfection? The dedicated personality is certainly involved. Although the soul is constantly sending its streams of elevating energy to the personality, the personality must aspire towards soul-life and to the relative perfection that supervenes when the state of soul-infusion develops.

4. Thế nào là một “sự hoàn thiện do chính mình khởi xướng”? Bản ngã nào khởi xướng sự hoàn thiện ấy? Chắc chắn phàm ngã tận hiến có dự phần. Dù linh hồn không ngừng gửi những dòng năng lượng nâng cao của nó đến phàm ngã, phàm ngã vẫn phải khát vọng hướng đến đời sống linh hồn và sự hoàn thiện tương đối nảy sinh khi trạng thái được linh hồn thấm nhuần phát triển.

5. Perfection is another word for “completion”. If one’s soul nature is not a part of one’s personality demonstration, there is no completion. There is not even “integration”.

5. Hoàn thiện là một từ khác để chỉ “sự hoàn tất”. Nếu bản chất linh hồn của một người không là một phần trong biểu hiện phàm ngã của người ấy, thì không có sự hoàn tất. Thậm chí còn chưa có “sự tích hợp”.

6. What are the “expansions of consciousness” which characterize those who are members of the fifth kingdom? Perhaps one is the ability to ‘hold the group in the heart’. The group becomes strongly present in the individual’s consciousness; life is lived and decisions made with the group in heart and mind.

6. Những “sự mở rộng tâm thức” nào là đặc trưng của các thành viên thuộc giới thứ năm? Có lẽ một trong số đó là khả năng ‘giữ nhóm trong tim’. Nhóm hiện diện mạnh mẽ trong tâm thức của cá nhân; người ấy sống và đưa ra quyết định với nhóm luôn ở trong tâm và trí.

7. A key discriminator for those who would be members of this kingdom is to love one’s fellowman just as one has loved himself/herself in the past.

7. Một tiêu chí phân biệt then chốt đối với những người muốn trở thành thành viên của giới này là yêu thương đồng loại của mình như đã từng yêu thương chính mình trong quá khứ.

“Let the disciple search within the heart’s deep cave. If there the fire burns bright, warming his brother, yet heating not himself, the hour has come for making application to stand before the door”. (Rule I for Applicants)

“Hãy để đệ tử tìm kiếm trong hang sâu của trái tim. Nếu ngọn lửa nơi ấy cháy sáng, sưởi ấm huynh đệ của y mà không làm nóng chính y, thì giờ đã đến để thỉnh cầu được đứng trước cánh cửa.” (Quy luật I dành cho Những Người Thỉnh Nguyện)

8. Life experience eventually transfers one’s focus to others and their welfare. Pain is the great sensitizer, and over millennia, the experience of pain makes it possible to feel what another feels (as if the feeling were one’s own). Pain ‘softens the Cancerian shell’, as it were. This participation in the energy states of another is the beginning of love. Selfishness “builds up a wall of separation”. The wall has to be broken so that the individual can participate in energy states outside his/her own ring-pass-not.

8. Kinh nghiệm sống cuối cùng chuyển sự tập trung của mỗi người sang người khác và phúc lợi của họ. Đau khổ là tác nhân lớn làm tăng sự nhạy cảm, và qua hàng thiên niên kỷ, trải nghiệm đau khổ khiến con người có thể cảm nhận điều người khác cảm nhận (như thể cảm giác ấy là của chính mình). Có thể nói, đau khổ ‘làm mềm lớp vỏ Cự Giải’. Sự cùng dự phần vào các trạng thái năng lượng của người khác này là khởi đầu của tình thương. Tính ích kỷ “dựng lên một bức tường ngăn cách”. Bức tường phải bị phá vỡ để cá nhân có thể dự phần vào các trạng thái năng lượng bên ngoài vòng-giới-hạn của chính mình.

“The selfish words, sent forth with strong intent, build up a wall of separation. Long time it takes to break that wall and so release the stored-up, selfish purpose. See to thy motive, and seek to use those words which blend the little life with the large purpose of the will of God. ” (Fifteen Counsels, TWM, 474)

“Những lời ích kỷ, phát ra với ý định mạnh mẽ, dựng lên một bức tường ngăn cách. Phải mất nhiều thời gian mới phá vỡ được bức tường ấy và nhờ đó giải phóng mục đích ích kỷ đã tích tụ. Hãy xem xét động cơ của ngươi, và tìm cách dùng những lời hòa quyện sự sống nhỏ bé với mục đích rộng lớn của Ý Chí của Thượng Đế. ” (Mười Lăm Lời Khuyên, Luận về Chánh Thuật, 474)

9. For those who are ready to enter the fifth kingdom, ego boundaries have been challenged — penetrated, melted, shattered, vaporized, even pulverized (the work of certain great trans-Saturnian planets). The candidate for the fifth kingdom no longer lives unto himself alone.

9. Đối với những người đã sẵn sàng bước vào giới thứ năm, các ranh giới phàm ngã đã chịu thử thách — bị xuyên thủng, làm tan chảy, đập vỡ, hóa hơi, thậm chí nghiền nát (công việc của một số hành tinh lớn nằm ngoài quỹ đạo Sao Thổ). Ứng viên vào giới thứ năm không còn chỉ sống cho riêng mình.

10. Understanding the New Discipleship is or real importance. DK’s teachings on this subject were second in importance only to His teachings on Shamballa. (R&I 251)

10. Việc thấu hiểu Địa Vị Đệ Tử Mới có tầm quan trọng thực sự. Giáo huấn của Chân sư DK về chủ đề này chỉ đứng sau giáo huấn của Ngài về Shamballa về tầm quan trọng. (Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, 251)

11. A new method of spiritual approach is being enunciated. We wish to avail ourselves of the opportunity being offered — do we not?

11. Một phương pháp tiếp cận tinh thần mới đang được trình bày. Chúng ta muốn tận dụng cơ hội đang được trao cho mình — phải vậy không?

Their work will largely be to summarise and make effective the work of those two great Sons of God, the Buddha and the Christ. As you know, One of Them brought illumination to the world and embodied the principle of wisdom, and the Other brought love to the world and embodied in Himself a great cosmic principle — the principle of love.

Công việc của họ phần lớn sẽ là tổng kết và làm cho công việc của hai Người Con vĩ đại ấy của Thượng đế, Đức Phật và Đức Christ, phát huy hiệu quả. Như các bạn biết, một trong hai Ngài đã mang sự soi sáng đến cho thế giới và là hiện thân của nguyên khí minh triết, còn Ngài kia mang tình thương đến cho thế giới và thể hiện nơi chính Ngài một nguyên khí vũ trụ vĩ đại — nguyên khí bác ái.

1. Those who are presently entering the fifth kingdom of nature have as their exemplars the Christ and the Buddha — the two great Brothers Who, together, reflect the Love-Wisdom nature of both our Planetary Logos and (to a much lesser degree) our Solar Logos.

1. Những người hiện đang bước vào giới thứ năm trong thiên nhiên lấy Đức Christ và Đức Phật làm gương mẫu — hai Huynh đệ vĩ đại cùng nhau phản ánh bản chất Bác Ái – Minh Triết của cả Hành Tinh Thượng đế chúng ta lẫn Thái dương Thượng đế chúng ta (ở mức độ thấp hơn nhiều).

2. The modern disciple, then, must be familiar with the work of these two great Sons of God. He/she must know at least the essence of that work, and, as it were, summarize that essence in his/her approach to living.

2. Vì vậy, người đệ tử hiện đại phải am hiểu công việc của hai Người Con vĩ đại này của Thượng đế. Người đệ tử ấy ít nhất phải biết tinh túy của công việc ấy và, có thể nói, thể hiện cô đọng tinh túy đó trong cách sống của mình.

3. The Buddha is the “Lord of Light” and conveys “Mind-Wisdom”. His planet is Mercury.

3. Đức Phật là “Chúa Tể Ánh Sáng” và truyền đạt “Trí Tuệ – Minh Triết”. Hành tinh của Ngài là Sao Thủy.

4. The Christ is the “Lord of Love” and conveys “Love-Wisdom”. His planet is Venus.

4. Đức Christ là “Chúa Tể Bác Ái” và truyền đạt “Bác Ái – Minh Triết”. Hành tinh của Ngài là Sao Kim.

5. The Buddha experienced a touch of the cosmic mental plane — a feat almost inconceivable to the normal human consciousness.

5. Đức Phật đã trải nghiệm một thoáng tiếp xúc với cõi trí vũ trụ — một thành tựu gần như không thể hình dung đối với tâm thức con người thông thường.

6. The Christ was the embodiment of the cosmic principle of Love.

6. Đức Christ là hiện thân của nguyên khí Bác Ái vũ trụ.

7. We see, therefore, that both were channels for types of energy which originated ‘above’ and ‘beyond’ the cosmic physical plane. Thus Their extraordinary impact on world affairs and humanity, in particular.

7. Do đó, chúng ta thấy cả hai Ngài đều là những kênh dẫn cho các loại năng lượng bắt nguồn từ ‘bên trên’ và ‘vượt ngoài’ cõi hồng trần vũ trụ. Vì thế, Các Ngài có ảnh hưởng phi thường đến các sự vụ thế giới và đặc biệt là nhân loại.

How can the effectiveness of Their work be brought about? The process will follow three lines:

Làm thế nào để công việc của Các Ngài phát huy hiệu quả? Tiến trình này sẽ theo ba hướng:

1. Individual effort, made by the individual disciple, using the technique of detachment, of dispassion and of discrimination which the Buddha taught.

1. Nỗ lực cá nhân do từng đệ tử thực hiện, sử dụng kỹ thuật tách rời, không đam mê và phân biện mà Đức Phật đã dạy.

2. Group initiation, made possible by the self-initiated effort of individual disciples, following out the injunctions of the Christ and leading to a complete subordination of the personality and of the unit to group interest and group good [4].

2. Điểm đạo nhóm, trở nên khả thi nhờ nỗ lực do từng đệ tử tự khởi xướng, tuân theo những huấn thị của Đức Christ và dẫn đến sự hoàn toàn đặt phàm ngã và đơn vị cá nhân dưới lợi ích và điều thiện của nhóm [4].

3. Group endeavour, carried forward as a group, to love all beings and to apprehend and understand the true significance of the Aquarian technique of group love and work.

3. Nỗ lực nhóm, do cả nhóm cùng thực hiện, để yêu thương mọi sinh linh và nắm bắt, thấu hiểu thâm nghĩa đích thực của kỹ thuật Bảo Bình về tình thương và công việc nhóm.

1. It is not that humanity does not know what is to be done. It is simply that there has been a cleavage between knowledge and performance. This cleavage must at last be overcome by the modern disciple.

1. Không phải nhân loại không biết điều cần làm. Chỉ đơn giản là đã có một khoảng cách giữa tri thức và thực hành. Cuối cùng, người đệ tử hiện đại phải vượt qua khoảng cách này.

2. If, in the Aquarian Age, the combined Ways of the Buddha and the Christ are instituted, that Age will have been a spiritual success. The culture of the Aquarian Age must be made to express the major quality of these two great Exemplars — Love and Wisdom.

2. Nếu trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, các Con Đường kết hợp của Đức Phật và Đức Christ được thiết lập, thì Kỷ Nguyên ấy sẽ thành công về mặt tinh thần. Phải làm cho nền văn hóa của Kỷ Nguyên Bảo Bình biểu lộ phẩm tính chủ yếu của hai Đấng Gương Mẫu vĩ đại này — Bác Ái và Minh Triết.

3. How shall Their work be rendered effective?

3. Làm thế nào để công việc của Các Ngài phát huy hiệu quả?

a. Individual effort. The Buddha taught “self-reliance” and emphasized it decisively in His “Last Sermon”. The “three D’s” which the Buddha taught led to the spiritual preparation of the individual for accepted discipleship: dispassion in relation to the emotional body, discrimination in relation to the mental body, and detachment in relation to the entire personality. Discipline (for the physical body) and decentralization, again for the entire personality, might also be added.

a. Nỗ lực cá nhân. Đức Phật dạy “tự lực” và nhấn mạnh điều ấy một cách dứt khoát trong “Bài Thuyết Pháp Cuối Cùng”. “Ba điều bắt đầu bằng chữ D” mà Đức Phật đã dạy dẫn đến sự chuẩn bị tinh thần của cá nhân cho địa vị đệ tử được chấp nhận: không đam mê đối với thể cảm xúc, phân biện đối với thể trí, và tách rời đối với toàn bộ phàm ngã. Cũng có thể thêm vào kỷ luật (đối với thể xác) và phi tập trung vào bản thân, một lần nữa đối với toàn bộ phàm ngã.

b. Successful individual effort leads to the possibility of participating correctly in the process of group initiation. Unless the members of a group which is a candidate for initiation are, themselves, self-motivated and self-propelling disciples, group initiation is not possible, for a real group could not exist. Such a group requires the participation of strong individuals who are willing to subordinate their individual strength to group good, without vitiating that strength.

b. Nỗ lực cá nhân thành công dẫn đến khả năng tham gia đúng đắn vào tiến trình điểm đạo nhóm. Trừ khi chính các thành viên của một nhóm ứng viên điểm đạo là những đệ tử có động lực và sức thúc đẩy từ bên trong, điểm đạo nhóm không thể xảy ra, vì một nhóm thực sự sẽ không thể tồn tại. Một nhóm như vậy đòi hỏi sự tham gia của những cá nhân mạnh mẽ sẵn lòng đặt sức mạnh cá nhân của mình dưới điều thiện của nhóm mà không làm suy yếu sức mạnh ấy.

c. Notice that the Tibetan calls for “complete” subordination of the personality to group interest and group good. The requirements are uncompromising, and many will be the tests on the way to perfection. Members of the Hierarchy have achieved this kind of subordination. A refined sense of values (soul values) is required if the personality or unit is to willingly consent to such subordination.

c. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng kêu gọi đặt phàm ngã “hoàn toàn” dưới lợi ích và điều thiện của nhóm. Những yêu cầu này không chấp nhận sự thỏa hiệp, và trên con đường đi đến sự hoàn thiện sẽ có nhiều thử thách. Các thành viên của Thánh đoàn đã đạt được sự phục tùng như thế. Cần có một ý thức tinh tế về các giá trị (các giá trị linh hồn) để phàm ngã hay đơn vị cá nhân sẵn lòng chấp thuận sự phục tùng ấy.

d. The group works as a group. It moves forward in love (the love of all beings). Group love and (real) group work are completely interdependent. It is impossible to have one without the other — at least not in spiritual groups.

d. Nhóm hoạt động với tư cách một nhóm. Nhóm tiến lên trong tình thương (tình thương dành cho mọi sinh linh). Tình thương nhóm và công việc nhóm (đích thực) hoàn toàn phụ thuộc lẫn nhau. Không thể có điều này mà thiếu điều kia — ít nhất là trong các nhóm tinh thần.

e. Group endeavor could be carried forward by individuals. Older types of groups have done this. Such individual spoke for the entire group and mobilized the entire group according to their will. Therefore, it is important that group endeavor be carried forward “as a group”. This means an end to crude forms of unilateralism, acting, instead, with the other members of the group in mind and heart. At least the imagined presence of all group members will be present in any significant decision. This does not necessarily mean that every little matter will be discussed in person, but that the one who must decide will do so as if the others were part of the decision. Such an attitude will temper individualism.

e. Nỗ lực nhóm có thể do các cá nhân thực hiện. Các loại nhóm trước đây đã làm như vậy. Những cá nhân như thế lên tiếng thay cho toàn nhóm và huy động toàn nhóm theo ý chí của mình. Do đó, điều quan trọng là nỗ lực nhóm phải được thực hiện “với tư cách một nhóm”. Điều này có nghĩa là chấm dứt những hình thức đơn phương thô thiển, thay vào đó hành động với các thành viên khác của nhóm trong tâm trí và trái tim mình. Trong bất kỳ quyết định quan trọng nào, ít nhất sự hiện diện trong hình dung của mọi thành viên nhóm sẽ hiện hữu . Điều này không nhất thiết có nghĩa là mọi chuyện nhỏ đều phải được thảo luận trực tiếp, mà là người phải quyết định sẽ làm như vậy như thể những người khác cùng tham gia vào quyết định ấy. Một thái độ như thế sẽ điều hòa chủ nghĩa cá nhân.

I have felt that a linking up of your minds in connection with the work of the Buddha and of the Christ might serve a useful purpose and give you all a glimpse and an indication of Their two systems of unfoldment — one preparatory to accepted discipleship and the other to initiation — which would be sequential and inter-related. The synthesis of Their work is easily seen by us who work with a fuller vision and a less impeded outlook than is as yet possible to you.

Tôi cảm thấy rằng việc kết nối các thể trí của các bạn quanh công việc của Đức Phật và Đức Christ có thể phục vụ một mục đích hữu ích, cho tất cả các bạn thoáng thấy và nhận được một chỉ dấu về hai hệ thống khai mở của Các Ngài — một hệ thống chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận, hệ thống kia chuẩn bị cho điểm đạo — vốn nối tiếp và liên hệ với nhau. Chúng tôi, những người làm việc với tầm nhìn đầy đủ hơn và cách nhìn ít bị cản trở hơn mức hiện nay các bạn có thể đạt được, dễ dàng thấy sự tổng hợp trong công việc của Các Ngài.

1. The Masters must certainly deplore the way in which so many Christians and Buddhists perceive their religions as entirely different from each other and, even, opposed.

1. Các Chân sư hẳn phải lấy làm tiếc trước cách rất nhiều tín đồ Kitô giáo và Phật giáo xem tôn giáo của mình hoàn toàn khác biệt, thậm chí đối lập với tôn giáo kia.

2. The Great Brothers of the East and West function in the closest unity, and work as if one.

2. Các Huynh đệ Vĩ đại của phương Đông và phương Tây hoạt động trong sự hợp nhất mật thiết nhất và làm việc như một.

3. It is clear that, in the new discipleship, the ways and systems of the Buddha and the Christ are to be linked as if they were part of One Great Work, which, indeed, they are.

3. Rõ ràng, trong địa vị đệ tử mới, các con đường và hệ thống của Đức Phật và Đức Christ phải được kết nối như thể chúng là những phần của Một Công Việc Vĩ Đại, mà quả thực chúng chính là như vậy.

4. To link the East and West through an appreciation of the interrelated work of the Buddha and the Christ is an act of religio-philosophical inclusion suitable to Aquarian consciousness.

4. Kết nối phương Đông và phương Tây qua việc trân trọng công việc tương liên của Đức Phật và Đức Christ là một hành động bao gồm về mặt tôn giáo và triết học, phù hợp với tâm thức Bảo Bình.

5. Can we understand how the Buddha’s work was preparatory to accepted discipleship and the Christ’s, to initiation? Naturally, those who worked closely with the Buddha also took initiation, and some who followed the Christ’s way found themselves stepping on the path of accepted discipleship. But the principle of the statement is correct.

5. Chúng ta có thể thấu hiểu công việc của Đức Phật đã chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận, còn công việc của Đức Christ chuẩn bị cho điểm đạo như thế nào không? Dĩ nhiên, những người làm việc gần gũi với Đức Phật cũng được điểm đạo, và một số người đi theo con đường của Đức Christ nhận thấy mình đang bước trên con đường dẫn đến địa vị đệ tử được chấp nhận. Nhưng về nguyên tắc, phát biểu ấy là đúng.

6. A simple way of understanding the two systems is that the Buddha’s Teaching led to an ability to detach from a desire for “life in the three worlds”. Once that detachment was in place, it became possible to “give all” under the injunction of the Christ, Who taught service to the world through complete sacrifice. This complete giving leads directly to initiation.

6. Một cách đơn giản để thấu hiểu hai hệ thống là Giáo Huấn của Đức Phật dẫn đến khả năng tách rời khỏi dục vọng về “sự sống trong ba cõi giới”. Một khi đã có sự tách rời ấy, con người có thể “hiến dâng tất cả” theo huấn thị của Đức Christ, Đấng đã dạy phụng sự thế gian qua sự hi sinh trọn vẹn. Sự hiến dâng trọn vẹn này dẫn thẳng đến điểm đạo.

7. One gathers that the Tibetan is preparing the way for the New World Religion which will emphasize both the Buddha’s and the Christ’s approaches.

7. Có thể hiểu rằng Chân sư Tây Tạng đang chuẩn bị con đường cho Tân Tôn Giáo Thế Giới, vốn sẽ nhấn mạnh cả hai cách tiếp cận của Đức Phật và Đức Christ.

I am, therefore, dividing my disciples into groups so that they may work on different aspects of the Plan, and also laying the ground for group work which will greatly help the individual but which will also — above everything else — forward the work of the New Age.

Do đó, Tôi đang chia các đệ tử của mình thành những nhóm để họ có thể làm việc trên các phương diện khác nhau của Thiên Cơ, đồng thời đặt nền móng cho công việc nhóm sẽ giúp ích rất nhiều cho cá nhân nhưng cũng sẽ — trên hết mọi điều — thúc đẩy công việc của Kỷ Nguyên Mới.

1. Here the Tibetan speaks of His plan to divide His students into the “groups-of-nine”, although in this reference He is not explicit about exact numbers within the intended groups nor about the details of their functioning.

1. Ở đây, Chân sư Tây Tạng nói về kế hoạch chia các đạo sinh của Ngài thành “các nhóm chín người”, mặc dù trong đoạn này Ngài không nói rõ số lượng chính xác trong các nhóm dự kiến, cũng như chi tiết về cách hoạt động của họ.

2. The Tibetan’s plan (only partially fulfilled) was to form a number of “groups-of-nine” — perhaps only seven, but perhaps ten.

2. Kế hoạch của Chân sư Tây Tạng (chỉ được thực hiện một phần) là thành lập một số “nhóm chín người” — có lẽ chỉ bảy nhóm, nhưng cũng có lẽ là mười nhóm.

3. These groups of nine would focus on the familiar seed-group areas of service:

3. Những nhóm chín người này sẽ tập trung vào các lĩnh vực phụng sự quen thuộc của nhóm hạt giống:

a. Telepathy

a. Viễn cảm

b. Glamor

b. Ảo cảm

c. Healing

c. Trị liệu

d. Education

d. Giáo dục

e. Politics

e. Chính trị

f. Religion

f. Tôn giáo

g. Science

g. Khoa học

h. Psychology

h. Tâm lý học

i. Economics

i. Kinh tế học

j. Creative Manifestation

j. Biểu hiện Sáng tạo

4. It may have been the intention to form the last three seed-groups from those who were participating in the first seven. We cannot be sure. Probably group eight and nine would have had nine members, and group ten, perhaps twenty-seven members, drawing three from each of the previous nine groups of nine. .

4. Có thể ý định là thành lập ba nhóm hạt giống cuối cùng từ những người đang tham gia bảy nhóm đầu tiên. Chúng ta không thể chắc chắn. Có lẽ nhóm tám và nhóm chín mỗi nhóm sẽ có chín thành viên, còn nhóm mười có lẽ có hai mươi bảy thành viên, lấy ba người từ mỗi nhóm trong chín nhóm chín người trước đó. .

5. These groups were intended to result in four types of benefit:

5. Những nhóm này được dự định sẽ mang lại bốn loại lợi ích:

a. individual benefit for the group participants

a. lợi ích cá nhân cho những người tham gia nhóm

b. benefit for those the group served

b. lợi ích cho những người mà nhóm phụng sự

c. benefit for the group as a group.

c. lợi ích cho nhóm với tư cách một nhóm.

d. benefit for humanity as a whole

d. lợi ích cho toàn thể nhân loại

However, the main purpose of these three was, as will be clear, a group purpose, and was intended to have a role in forwarding the work of the New Age.

Tuy nhiên, như sẽ thấy rõ, mục đích chính của ba điều này là mục đích nhóm, và nhằm giữ một vai trò trong việc thúc đẩy công việc của Kỷ Nguyên Mới.

6. The first volume of the discipleship books — Discipleship in the New Age, Vol. I, deals with the work done while the groups-of-nine were extant. They were disbanded in 1940 prior to reorganization under different groupings.

6. Tập đầu tiên của bộ sách về địa vị đệ tử — Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, bàn đến công việc đã thực hiện khi các nhóm chín người còn tồn tại. Các nhóm này giải thể vào năm 1940 trước khi được tổ chức lại theo những cách phân nhóm khác.

It is, therefore, my intention to write a little in detail in connection with these groups. My time is very limited and I shall have to put a great deal of information into these talks and into any individual instructions which I may be led to give (probably at widely separated intervals) to my disciples. I am not basically writing for any of you at all but in order to lay the foundation for the group work to be done in the world during the coming years. What I say should be read with care, for the written word may contain several meanings and these can be sensed, according to the intuition — awakened or otherwise — of the aspirant.

Do đó, Tôi có ý định viết đôi chút chi tiết về các nhóm này. Thời gian của Tôi rất hạn hẹp, và Tôi sẽ phải đưa rất nhiều thông tin vào những bài nói chuyện này cũng như vào bất kỳ huấn thị cá nhân nào mà Tôi có thể thấy cần trao cho các đệ tử của mình (có lẽ vào những thời điểm cách nhau rất xa). Về cơ bản, Tôi hoàn toàn không viết cho riêng bất kỳ ai trong các bạn, mà để đặt nền móng cho công việc nhóm sẽ được thực hiện trên thế giới trong những năm sắp tới. Những điều Tôi nói cần được đọc kỹ, vì lời văn có thể chứa nhiều tầng nghĩa, và người chí nguyện có thể cảm nhận những tầng nghĩa ấy tùy theo trực giác của mình — đã thức tỉnh hay chưa.

1. The Tibetan states His intention to write about the groups which would come to be known as the “Seed Groups”.

1. Chân sư Tây Tạng nêu ý định viết về các nhóm về sau sẽ được biết đến với tên gọi “Các Nhóm Hạt Giống”.

2. One can only imagine what the ‘schedule’ of a Master would be like. If He says His time is very limited He means it. We have to remember the historical period in which the DINA experiment occurred; it took place in the years prior to the outset of World War II. From the Masters’ perspective, the imminent danger could already be seen. DK was, thus, writing to these students at a time of gathering world crisis when the masters were doing everything possible to prevent world disaster. Nevertheless, Master DK took time from His pressing schedule to attend to the relatively unimportant task of writing to a group of disciples whom He had accepted. He did this for the sake of their future group usefulness, not for their welfare as personalities.

2. Người ta chỉ có thể hình dung ‘lịch làm việc’ của một Chân sư sẽ như thế nào. Nếu Ngài nói thời gian của Ngài rất hạn hẹp thì đúng là như vậy. Chúng ta phải nhớ đến giai đoạn lịch sử diễn ra cuộc thử nghiệm Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới; đó là những năm trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ. Từ góc nhìn của các Chân sư, đã có thể thấy mối nguy hiểm cận kề. Như vậy, Chân sư DK viết cho những đạo sinh này vào lúc cuộc khủng hoảng thế giới đang tích tụ, khi các Chân sư đang làm mọi điều có thể để ngăn chặn thảm họa thế giới. Tuy nhiên, Chân sư DK vẫn dành thời gian trong lịch làm việc dồn dập của Ngài để lo việc tương đối ít quan trọng là viết cho một nhóm đệ tử mà Ngài đã chấp nhận. Ngài làm điều này vì khả năng hữu ích của họ trong công việc nhóm tương lai, chứ không vì phúc lợi của họ với tư cách các phàm ngã.

3. A Master is capable of conveying much in little. This is one way to economize on time.

3. Một Chân sư có khả năng truyền đạt nhiều điều qua ít lời. Đây là một cách tiết kiệm thời gian.

4. His words to his disciples are immediately decentralizing. They are told that the Master is not writing for any of them, really, but for larger purposes. The potentials for glamorous response were considerable, and Master DK seeks always to offset such a possibility. He begins the group approach immediately.

4. Những lời Ngài nói với các đệ tử lập tức giúp họ phi tập trung vào bản thân. Ngài cho họ biết rằng thực ra Chân sư không viết cho riêng bất kỳ ai trong số họ, mà vì những mục đích lớn lao hơn. Khả năng xuất hiện những đáp ứng mang ảo cảm là đáng kể, và Chân sư DK luôn tìm cách hóa giải khả năng ấy. Ngài lập tức bắt đầu cách tiếp cận nhóm.

5. Here, He gives sound advice concerning how to read a Master’s words — with care. The Master is fully aware of the several levels of interpretation of His words that may be possible. In fact, He is consciously writing for several levels of apprehension simultaneously.

5. Ở đây, Ngài đưa ra lời khuyên xác đáng về cách đọc những lời của một Chân sư — một cách cẩn trọng. Chân sư hoàn toàn biết rõ có thể có nhiều cấp độ diễn giải những lời của Ngài. Thực ra, Ngài chủ ý viết đồng thời cho nhiều cấp độ lĩnh hội.

6. He challenges His students to use their intuition if they are to get the most out of what He may say.

6. Ngài thách thức các đạo sinh của mình sử dụng trực giác nếu muốn thu nhận được nhiều nhất từ những điều Ngài có thể nói.

I, your Tibetan Brother, am supposing upon the part of each of my disciples, one basic essential at least and that is a persevering earnestness which nothing will deter. Each of you starts upon this work with certain fundamental characteristics; each of you is beginning this definite enterprise of training for initiation with certain defects which act as deterrents and as handicaps; each of you has been recognised by his light and for his potentialities and with these we must perforce do the best we can. Note, therefore, the difficult problem confronting Those Who are guiding world evolution and looking for those who can aid in Their work [5].

Tôi, Huynh đệ Tây Tạng của các bạn, giả định rằng mỗi đệ tử của Tôi ít nhất đều có một điều cốt yếu căn bản, đó là lòng nhiệt thành bền bỉ mà không gì có thể làm thoái chí. Mỗi người trong các bạn bắt đầu công việc này với những đặc điểm nền tảng nhất định; mỗi người trong các bạn bắt đầu công cuộc huấn luyện cụ thể để chuẩn bị cho điểm đạo này với những khuyết điểm nhất định gây cản trở và bất lợi; mỗi người trong các bạn đã được nhận biết qua ánh sáng và các tiềm năng của mình, và với những điều ấy, chúng ta nhất thiết phải làm hết sức có thể. Do đó, hãy lưu ý vấn đề khó khăn mà Các Đấng đang hướng dẫn sự tiến hoá thế giới và tìm kiếm những người có thể trợ giúp công việc của Các Ngài phải đối diện [5].

1. In a factual manner, Master DK points to the sina qua non of the training He is proposing to give — “a persevering earnestness which nothing will deter”. At the very least, those in His groups must not give up. Of course, a number of them did precisely that, and some few were discontinued by DK and AAB.

1. Một cách thực tế, Chân sư DK chỉ ra điều kiện không thể thiếu của sự huấn luyện mà Ngài dự định trao cho — “lòng nhiệt thành bền bỉ mà không gì có thể làm thoái chí”. Ít nhất, những người trong các nhóm của Ngài phải không bỏ cuộc. Dĩ nhiên, một số người trong họ đã làm đúng điều ấy, và một số ít đã được Chân sư DK và Bà AAB cho ngừng tham gia.

2. DK is nothing if not realistic in His assessment of His students’ abilities and liabilities. He studies their character — probably for hours (though at a distance, and not just once, but, perhaps, every time He has writes them a letter). He knows somewhat the kind of responses He may expect. He sees their light, its potential and promise; He also sees their defects and, really, is far more aware of such defects than the students are. So often we are blind to our own liabilities, more easily seen by another — especially by a Master of the Wisdom.

2. Chân sư DK hết sức thực tế khi đánh giá những khả năng và nhược điểm của các đạo sinh của Ngài. Ngài nghiên cứu tính cách của họ — có lẽ hàng giờ liền (dù từ xa, và không chỉ một lần, mà có lẽ mỗi lần Ngài viết thư cho họ). Ngài biết phần nào những loại đáp ứng mà Ngài có thể trông đợi. Ngài thấy ánh sáng của họ, tiềm năng và triển vọng của ánh sáng ấy; Ngài cũng thấy các khuyết điểm của họ và thực sự biết rõ những khuyết điểm ấy hơn các đạo sinh rất nhiều. Chúng ta rất thường không thấy những nhược điểm của chính mình, trong khi người khác dễ thấy chúng hơn — đặc biệt là một Chân sư Minh Triết.

3. He knows He faces no easy task. The ‘material’ with which He has to work is what it is, and with it, He will do the best he can.

3. Ngài biết mình đang đối diện một nhiệm vụ không hề dễ dàng. ‘Chất liệu’ mà Ngài phải làm việc cùng vốn là như vậy, và với chất liệu ấy, Ngài sẽ làm hết sức có thể.

4. The Tibetan, no doubt, “looked up” a number of significant past lives of His proposed group members. Perhaps He, Himself, was present in those lives (for He so often addresses the disciples as “Brother of Old”) and readily remembered what was significant. In any case, it would be necessary for Him to evaluate whether the spiritual potentials of his would-be disciples outweighed their liabilities. Probably, if He felt this were not the case, He would not have invited these disciples to become participants in His outer groups. Probably, in some cases He gave a disciple the benefit of the doubt, realizing that, for the spirit, anything is possible, and a new level of functioning could possibly be reached, however improbable it might seem.

4. Chắc hẳn Chân sư Tây Tạng đã “tra cứu” một số kiếp sống quá khứ quan trọng của những người Ngài dự định đưa vào nhóm. Có lẽ chính Ngài đã hiện diện trong những kiếp sống ấy (vì Ngài rất thường gọi các đệ tử là “Huynh Đệ của Ngày Xưa”) và dễ dàng nhớ lại những điều quan trọng. Dù sao, Ngài cũng cần đánh giá xem các tiềm năng tinh thần của những người có thể trở thành đệ tử của Ngài có lớn hơn những nhược điểm của họ hay không. Có lẽ, nếu Ngài cảm thấy điều này không đúng, Ngài đã không mời những đệ tử ấy tham gia các nhóm bên ngoài của Ngài. Có lẽ trong một số trường hợp, Ngài đã tin tưởng dành cho một đệ tử cơ hội dù còn nghi ngại, vì nhận ra rằng đối với tinh thần, mọi điều đều có thể, và một cấp độ hoạt động mới có thể có khả năng đạt tới, dù điều ấy dường như khó xảy ra đến đâu.

5. The Tibetan’s remarks may have produced in some of His students an attitude of humility; that would have been a desirable response. It is always a good sign when a disciple appreciates (at least a little) the problem with which his/her Master is confronted.

5. Những nhận xét của Chân sư Tây Tạng có thể đã khơi dậy thái độ khiêm nhường nơi một số đạo sinh của Ngài; đó hẳn là một đáp ứng đáng mong muốn. Luôn là một dấu hiệu tốt khi một đệ tử nhận thức được (ít nhất đôi chút) vấn đề mà Chân sư của mình đang đối diện.

6. It is only a developed sense of spiritual values which will see the disciple through, as the many inevitable difficulties involved in such training descend. Venus (for values) and Vulcan (for persistence) are both required. We can see that Taurus (the sign of Wisdom and Enlightenment) must be involved in such training, and, indeed, it is the ruler of the New Group of World Servers. I have often suspected that the Tibetan’s astrology contains much Taurus (as well as Gemini — the “Messenger”).

6. Chỉ một ý thức phát triển về các giá trị tinh thần mới giúp người đệ tử vượt qua khi nhiều khó khăn tất yếu trong sự huấn luyện như thế ập đến. Cả Sao Kim (về các giá trị) lẫn Vulcan (về sự kiên trì) đều cần thiết. Chúng ta có thể thấy Kim Ngưu (dấu hiệu của Minh Triết và Giác Ngộ) hẳn phải có liên quan đến sự huấn luyện như thế, và quả thực, đó là chủ tinh của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tôi thường nghi rằng lá số chiêm tinh của Chân sư Tây Tạng có nhiều ảnh hưởng của Kim Ngưu (cũng như Song Tử — “Sứ Giả”).

I will teach you. Whether or not you profit by the teaching is entirely your own affair; that is something that the disciples of the New Age need to learn. There is no such thing as occult obedience as usually taught by the current occult schools. In the olden days in the East, the Master exacted from His disciple that implicit obedience which actually made the Master responsible and placed upon His shoulders the destiny or the karma of the disciple. That condition no longer holds good. The intellectual principle in the individual is now too much developed to warrant this type of expectancy. Therefore, this condition no longer holds good. In the coming New Age, the Master is responsible for the offering of opportunity and for the right enunciation of the truth but for no more than that. In these more enlightened days, no such position is assumed by the teacher as in the past, and I do not assume it. I shall with frankness speak. I know my disciples, for no disciple is admitted into an Ashram without deep consideration on the part of the teacher. I shall convey by hint and symbol that which should be apprehended and it will be noted and understood by those among my disciples who have the opened, inner ear and true humility of heart. If it is not recognised, time will pursue its onward course and revelation will ultimately come. I exact, therefore, no blind obedience. But, however, if advice and suggestion are accepted and you choose — of your own free will — to follow my instructions, those instructions must be followed accurately. Also, there must be none of that constant looking for results and for phenomena which has deterred the course and the progress of many would-be disciples.

Tôi sẽ dạy các bạn. Các bạn có tiếp thu được lợi ích từ giáo huấn hay không hoàn toàn là việc của chính các bạn; đó là điều mà các đệ tử của Kỷ Nguyên Mới cần học. Không có sự tuân phục huyền bí theo cách các trường phái huyền bí hiện nay thường dạy. Thuở trước ở phương Đông, Chân sư đòi hỏi đệ tử phải tuyệt đối tuân phục, điều thực sự khiến Chân sư phải chịu trách nhiệm và đặt lên vai Ngài vận mệnh hay nghiệp quả của đệ tử. Điều kiện ấy không còn thích hợp nữa. Nguyên khí trí tuệ nơi cá nhân hiện đã phát triển quá cao để còn có thể biện minh cho sự kỳ vọng như vậy. Vì thế, điều kiện ấy không còn thích hợp nữa. Trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến, Chân sư chịu trách nhiệm tạo cơ hội và trình bày chân lý một cách đúng đắn, nhưng không hơn thế. Trong thời đại sáng suốt hơn này, huấn sư không còn đảm nhận vị thế như trong quá khứ, và Tôi cũng không đảm nhận vị thế ấy. Tôi sẽ nói thẳng thắn. Tôi biết các đệ tử của mình, vì không một đệ tử nào được thu nhận vào một ashram mà không qua sự cân nhắc sâu sắc của huấn sư. Qua gợi ý và biểu tượng, Tôi sẽ truyền đạt những điều cần được lĩnh hội; và những đệ tử nào của Tôi có nội nhĩ khai mở cùng lòng khiêm nhường chân thật sẽ nhận biết và thấu hiểu những điều ấy. Nếu chưa nhận ra, thời gian vẫn tiếp tục trôi và sự mặc khải cuối cùng sẽ đến. Vì thế, Tôi không đòi hỏi sự tuân phục mù quáng. Tuy nhiên, nếu các bạn chấp nhận lời khuyên và sự gợi ý, và tự nguyện lựa chọn làm theo những huấn thị của Tôi, thì phải tuân theo những huấn thị ấy một cách chính xác. Ngoài ra, không được liên tục tìm kiếm kết quả và hiện tượng, điều đã cản trở bước đường và sự tiến bộ của nhiều người mong trở thành đệ tử.

1. Master DK begins on a note or real frankness. He is always frank; that is undeniable. But at various moments (found in the personal instructions), He seems to soften His tone — always, so it would seem, purposefully.

1. Chân sư DK mở đầu bằng một âm điệu thực sự thẳng thắn. Ngài luôn thẳng thắn; đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng vào những lúc khác nhau (như thấy trong các huấn thị riêng), Ngài dường như làm dịu giọng — và dường như lúc nào cũng có chủ đích.

2. Responsibility for progress is immediately placed upon the shoulders of the participating disciples. The purpose of doing so is to correct old and inapplicable ideas concerning obedience to the Master — and, therefore, dependence upon the Master. The Masters wish to see people become Masters, and, therefore, They must strengthen them rather than cultivate over-reliance.

2. Trách nhiệm về sự tiến bộ lập tức được đặt lên vai các đệ tử tham gia. Mục đích của việc này là sửa lại những ý tưởng cũ và không còn thích hợp về sự tuân phục Chân sư — và do đó, về sự phụ thuộc vào Chân sư. Các Chân sư muốn thấy con người trở thành những Chân sư, vì thế Các Ngài phải củng cố sức mạnh nơi họ thay vì nuôi dưỡng sự lệ thuộc quá mức.

3. DK clearly defines His responsibilities as compared with the kind of responsibility for students that Masters used to assume when working in older systems of training. He informs His students that He will not assume that kind of responsibility. His approach will be of a new order: new for Him and new for the disciples.

3. Chân sư DK xác định rõ những trách nhiệm của Ngài so với loại trách nhiệm đối với môn sinh mà các Chân sư từng đảm nhận khi làm việc trong những hệ thống huấn luyện trước đây. Ngài cho các môn sinh biết rằng Ngài sẽ không đảm nhận loại trách nhiệm ấy. Cách tiếp cận của Ngài sẽ thuộc một kiểu mới: mới đối với Ngài và mới đối với các đệ tử.

4. Master DK knows He is dealing with a more intelligent, independent type of disciple than existed in former days. He wishes to see that independence grow, accompanied by a new form of obedience — occult obedience — a willingness to obey the inner impulses of the soul at all costs. And of course, a willingness to follow the instructions of the Master with accuracy.

4. Chân sư DK biết Ngài đang làm việc với một kiểu đệ tử thông minh và độc lập hơn những đệ tử thuở trước. Ngài muốn thấy tính độc lập ấy phát triển, đi kèm với một hình thức tuân phục mới — sự tuân phục huyền bí — sự sẵn lòng tuân theo những thôi thúc bên trong của linh hồn bằng mọi giá. Và dĩ nhiên, sự sẵn lòng làm theo các huấn thị của Chân sư một cách chính xác.

5. He lets the disciples know that He knows them well, having studied them carefully. He tells something of how He will teach — through hint and symbol — which will require for understanding the “opened, inner ear and true humility of heart”.

5. Ngài cho các đệ tử biết rằng Ngài hiểu rõ họ, vì đã nghiên cứu họ kỹ lưỡng. Ngài nói đôi điều về cách Ngài sẽ dạy — qua gợi ý và biểu tượng — mà để thấu hiểu sẽ cần có “nội nhĩ khai mở cùng lòng khiêm nhường chân thật”.

6. There is no question but that Master DK is being firm here. He knows He may succeed; the experiment, however, may fail (as indeed, from one perspective, it did). But, as is characteristic of a second ray Master, He assures His disciples that even the liability of present non-recognition of that which He imparts, will give way someday to recognition and understanding.

6. Không nghi ngờ gì, ở đây Chân sư DK tỏ ra kiên quyết. Ngài biết Ngài có thể thành công; tuy nhiên, cuộc thử nghiệm có thể thất bại (như thực tế đã xảy ra, xét từ một góc độ). Nhưng, đúng với đặc trưng của một Chân sư cung hai, Ngài bảo đảm với các đệ tử rằng ngay cả tình trạng bất lợi hiện thời là chưa nhận ra những điều Ngài truyền đạt, một ngày kia cũng sẽ nhường chỗ cho sự nhận biết và thấu hiểu.

7. There is no question that the disciples gathered here will one day be enlightened. It is only a question of when. For the purposes of the immediate experiment it was hoped that the necessary enlightenment would come sooner rather than later.

7. Không nghi ngờ gì, các đệ tử quy tụ nơi đây một ngày kia sẽ giác ngộ. Vấn đề chỉ là khi nào. Vì mục đích của cuộc thử nghiệm trước mắt, người ta hy vọng sự giác ngộ cần thiết sẽ đến sớm hơn là muộn.

8. DK wants His students to follow His advice with accuracy. This is a reasonable expectation, as He knows so much of what is supposed to be accomplished and how, and they know so little. It became a disappointing fact that a number of these disciples did not follow the instruction He gave with accuracy; in fact, a number (at a certain point in the process) ceased doing the work he assigned and discontinued their work with Him altogether. He assured them, of course, that the Ashramic link remained inwardly unbroken.

8. Chân sư DK muốn các môn sinh làm theo lời khuyên của Ngài một cách chính xác. Đây là một kỳ vọng hợp lý, vì Ngài biết rất nhiều về những gì cần hoàn thành và cách hoàn thành, còn họ biết rất ít. Một sự thật đáng thất vọng đã xuất hiện: một số đệ tử này đã không làm theo chính xác huấn thị Ngài ban; thực tế, một số người (vào một thời điểm nhất định trong tiến trình) đã ngừng làm công việc Ngài giao và hoàn toàn chấm dứt việc cộng tác với Ngài. Dĩ nhiên, Ngài bảo đảm với họ rằng mối liên kết ashram vẫn không đứt đoạn ở bên trong.

9. The notes of freewill, truth and responsibility resound through this paragraph. The disciples are assumed to be mature men and women who do not have to be handled with “kid gloves”. This was the ideal, at least. Some, in fact, proved to be rather “thin-skinned” and oversensitive. It is amazing to see how Master DK functioned in such situations — so full of love and yet completely truthful and firm.

9. Những âm điệu của ý chí tự do, chân lý và trách nhiệm vang lên xuyên suốt đoạn này. Các đệ tử được xem là những người nam và nữ trưởng thành, không cần phải đối xử một cách “quá nâng niu, dè dặt”. Ít nhất, đó là lý tưởng. Thực tế, một số người tỏ ra khá “dễ tự ái” và quá nhạy cảm. Thật đáng kinh ngạc khi thấy cách Chân sư DK hành xử trong những tình huống như vậy — tràn đầy tình thương mà vẫn hoàn toàn chân thật và kiên quyết.

10. He closes the paragraph with the request that there be no searching for phenomena (psychic phenomena) as evidence of successful group work. Such phenomena pertain to the personality and not to the soul. He sounds a note of warning; interest in phenomena deters progress. As might be suspected, some did look for phenomena. One disciple was dismissed largely for pursuing this orientation — in his case, the orientation of an astral magician.

10. Ngài kết thúc đoạn văn bằng lời yêu cầu đừng tìm kiếm các hiện tượng (hiện tượng thông linh) làm bằng chứng cho sự thành công của công việc nhóm. Những hiện tượng ấy thuộc về phàm ngã chứ không thuộc về linh hồn. Ngài cất lên một âm điệu cảnh báo; sự quan tâm đến các hiện tượng cản trở tiến bộ. Như có thể dự đoán, một số người quả đã tìm kiếm các hiện tượng. Một đệ tử đã bị cho rời nhóm chủ yếu vì theo đuổi khuynh hướng này — trong trường hợp của ông, đó là khuynh hướng của một nhà huyền thuật cảm dục.

11. We can see Master DK laying out the principles by which the work would proceed. It is always good to be clear at the outset. An experiment unlike any that these individuals had ever attempted was about to commence. A clear statement of principles helps to prevent a reversion to the habitual.

11. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đề ra những nguyên khí mà công việc sẽ dựa vào đó để tiến hành. Rõ ràng ngay từ đầu luôn là điều tốt. Một cuộc thử nghiệm khác hẳn mọi điều những cá nhân này từng thử làm sắp bắt đầu. Việc trình bày rõ ràng các nguyên khí giúp ngăn ngừa sự quay về với lối quen thuộc.

This is also for me an experiment, for those of us who are members of some degree of the Hierarchy are necessarily changing the old ways and adapting the old methods to the newer circumstances and to the advance of evolution. Many tried disciples and aspirants (should I have said “tired,” brother of mine, for I surmise that both words are true?) are to be subjected to experiments which will involve the application of the ancient rules in a modern way. Disciples in the olden days were the product of more peaceful times. The “chitta” (or mind-stuff as Patanjali calls it in his famous Book of Rules) was neither so highly developed nor was it tinctured by so [6] much thought or potentially so illumined. Today, knowledge is widespread and many, many people are already thinking for themselves.

Đối với Tôi, đây cũng là một cuộc thử nghiệm, vì những người trong chúng tôi là thành viên ở một cấp bậc nào đó của Thánh đoàn tất yếu phải thay đổi những lối cũ và điều chỉnh các phương pháp cũ cho phù hợp với hoàn cảnh mới hơn và bước tiến của tiến hoá. Nhiều đệ tử và người chí nguyện đã qua thử thách (huynh đệ của tôi, có lẽ Tôi nên nói là “mệt mỏi”, vì Tôi đoán cả hai từ đều đúng?) sẽ trải qua những cuộc thử nghiệm liên quan đến việc áp dụng các quy luật cổ xưa theo cách hiện đại. Các đệ tử thuở trước là sản phẩm của những thời đại thanh bình hơn. “Chất trí” (hay chất liệu trí tuệ, như Patanjali gọi trong tác phẩm nổi tiếng Sách Các Quy Luật của ông) chưa phát triển cao đến thế, cũng chưa nhuốm màu bởi nhiều [6] tư tưởng đến thế, hay có tiềm năng được soi sáng đến mức ấy. Ngày nay, tri thức phổ biến rộng rãi và rất, rất nhiều người đã tự suy nghĩ.

1. DK sounds the note of experimentation. To assume assured success would produce the wrong attitude in the participants.

1. Chân sư DK cất lên âm điệu của sự thử nghiệm. Việc cho rằng chắc chắn sẽ thành công sẽ tạo ra thái độ sai lầm nơi những người tham gia.

2. The Masters, ever seeking to adapt Plan to Purpose, utilize the experimental method. They are very Uranian in this respect.

2. Các Chân sư, luôn tìm cách điều chỉnh Thiên Cơ cho phù hợp với Thiên Ý, sử dụng phương pháp thử nghiệm. Về phương diện này, Các Ngài mang đậm tính chất Sao Thiên Vương.

3. We learn that the Hierarchy is attempting to employ new methods. If disciples have been sufficiently “tried” and tested, they might be chosen to participate in these methods. A little of the Master’s humor emerges here. He knows His “tried” disciples well enough to know that they are “tired” too!

3. Chúng ta biết rằng Thánh đoàn đang cố gắng sử dụng những phương pháp mới. Nếu các đệ tử đã được “thử thách” và kiểm nghiệm đầy đủ, họ có thể được chọn để tham gia thực hành những phương pháp này. Một chút nét hài hước của Chân sư bộc lộ ở đây. Ngài hiểu rõ các đệ tử đã qua “thử thách” của mình đủ để biết rằng họ cũng “mệt mỏi” nữa!

4. The note of so much of DK’s teaching is here sounded: an ancient teaching is given a modern presentation. Eastern esotericism is being adapted to the Western consciousness.

4. Âm điệu xuyên suốt phần lớn giáo huấn của Chân sư DK vang lên ở đây: một giáo huấn cổ xưa được trình bày theo cách hiện đại. Huyền bí học phương Đông đang được điều chỉnh cho phù hợp với tâm thức phương Tây.

5. DK recognizes the turbulence of the times — a factor which has militated against the successful growth of occultism in the West. The peace of the ancient East had its advantages but also its liabilities. In the West the mind has been assiduously cultivated and has presented an entirely different type of discipleship material to a Master willing to offer occult training.

5. Chân sư DK nhận ra sự biến động của thời đại — một yếu tố đã cản trở sự phát triển thành công của huyền bí học ở phương Tây. Sự thanh bình của phương Đông cổ xưa có những ưu điểm nhưng cũng có những bất lợi. Ở phương Tây, trí tuệ đã được chuyên cần trau dồi, đem đến một nguồn đệ tử hoàn toàn khác cho một Chân sư sẵn lòng huấn luyện huyền bí.

6. The potentials for the growth of occultism in the West are considerable — as are the complications. But, essentially, it is a good thing that people in the West are “thinking for themselves”. They will come closer to achieving the kind of self-exertion which the Path of Initiation requires.

6. Tiềm năng phát triển của huyền bí học ở phương Tây rất đáng kể — và những phức tạp cũng vậy. Nhưng về cơ bản, việc người phương Tây “tự suy nghĩ” là một điều tốt. Họ sẽ tiến gần hơn đến việc đạt được sự tự nỗ lực mà Con Đường Điểm Đạo đòi hỏi.

The material for discipleship with which the Masters have to deal and the type of person which has to be developed and led on towards illumination is of a higher quality and grade, if I may employ so inadequate a term. The experiment of changing methods and of implementing the new technique of group work has to be carried out, likewise, in the midst of the stress and strain of Western civilisation. This imposes on all chosen to participate in this work an undue effort, but if continuance is found possible and success ensues, it tempers the material to a finer degree of power. As has been said, the jungles of the Occident are of a different kind to those within the Eastern zone. They call for peace in turmoil; for power in fatigue; for persistence in spite of bad health; for understanding in spite of the clamour of Western life. Progress is, therefore, made in spite of, and not because of, existing conditions. For disciples, such as those I am now going to attempt to teach, there is no retiring from the world. There is no condition of physical peace and of quiet wherein the soul may be invoked and in which work — potent in results — may be achieved in the calm of silence and the rest of what the Hindu calls samadhi — complete detachment from the calls of the body and the emotions. The work has to go forward in clamour. The point of peace must be found in the midst of riot. Wisdom must be attained in the very midst of intellectual turmoil and the work of cooperation with the Hierarchy on the inner side of life must proceed amidst the devastating racket of modern life in the great cities. Such is your problem and such is my problem as I seek to aid you.

Chất liệu dành cho địa vị đệ tử mà các Chân sư phải làm việc cùng, và kiểu người cần được phát triển, dẫn dắt tiến đến sự soi sáng, có phẩm tính và cấp bậc cao hơn, nếu Tôi có thể dùng một cách diễn đạt thiếu thỏa đáng đến thế. Cuộc thử nghiệm thay đổi phương pháp và triển khai kỹ thuật mới của công việc nhóm cũng phải tiến hành giữa những căng thẳng và áp lực của nền văn minh phương Tây. Điều này đòi hỏi tất cả những người được chọn tham gia công việc phải nỗ lực quá mức, nhưng nếu có thể tiếp tục và đạt thành công, nó sẽ tôi luyện chất liệu ấy đến một mức quyền năng tinh tế hơn. Như đã nói, những khu rừng rậm của phương Tây khác với những khu rừng rậm ở phương Đông. Chúng đòi hỏi sự bình an giữa hỗn loạn; quyền năng trong mệt mỏi; sự kiên trì bất chấp sức khỏe kém; sự thấu hiểu bất chấp tiếng huyên náo của đời sống phương Tây. Vì thế, sự tiến bộ đạt được bất chấp những điều kiện hiện hữu, chứ không phải nhờ những điều kiện ấy. Với những đệ tử như các bạn mà giờ đây Tôi sắp cố gắng chỉ dạy, không có chuyện rút lui khỏi thế gian. Không có điều kiện thanh bình và yên tĩnh về mặt hồng trần để khẩn cầu linh hồn, và để thực hiện công việc — đem lại những kết quả mạnh mẽ — trong sự bình lặng của im lặng và sự an nghỉ của trạng thái mà người Ấn Độ giáo gọi là thiền định — hoàn toàn tách rời khỏi những đòi hỏi của thân thể và cảm xúc. Công việc phải tiến hành giữa huyên náo. Phải tìm thấy điểm bình an giữa náo loạn. Phải đạt được minh triết ngay giữa những xáo động trí tuệ, và công việc hợp tác với Thánh đoàn ở phía bên trong của sự sống phải tiếp tục giữa tiếng ồn ào tàn phá của đời sống hiện đại nơi các thành phố lớn. Đó là vấn đề của các bạn, và cũng là vấn đề của Tôi khi Tôi tìm cách trợ giúp các bạn.

1. So, the “material” with which the Master has to work (note the objectivity in the use of the word “material”) is of a “higher quality and grade”. Thus, the potentials are considerable, for occultism is destined to move its focus from the East to the West.

1. Vì vậy, “chất liệu” mà Chân sư phải làm việc cùng (hãy lưu ý tính khách quan trong cách dùng từ “chất liệu”) có “phẩm tính và cấp bậc cao hơn”. Do đó, tiềm năng rất đáng kể, vì huyền bí học có vận mệnh chuyển trọng tâm từ phương Đông sang phương Tây.

2. The stress and strain of Western living, however, present a real difficulty. Again, great effort and “continuance” hold the solution to the problem.

2. Tuy nhiên, những căng thẳng và áp lực của đời sống phương Tây tạo ra một khó khăn thực sự. Một lần nữa, nỗ lực lớn lao và sự “tiếp tục bền bỉ” chứa đựng lời giải cho vấn đề.

3. Because the obstacles are greater in the West, the results may be more potent.

3. Vì những trở ngại ở phương Tây lớn hơn, kết quả có thể mạnh mẽ hơn.

4. DK acknowledges are there are “jungles” in both the East and the West. He names the qualities which are required for success in the ‘Western jungle’.

4. Chân sư DK thừa nhận rằng có những “khu rừng rậm” ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Ngài nêu những phẩm tính cần có để thành công trong ‘rừng rậm phương Tây’.

5. As all of us are, to a degree, immersed in the ‘Western-jungle’, we can ponder the extent to which we are achieving or have achieved the requirements. One fact emerges — the environment will not assist the esoteric way of life. One has to make progress despite the environment.

5. Vì tất cả chúng ta, ở một mức độ nào đó, đều đắm mình trong ‘rừng rậm phương Tây’, chúng ta có thể suy ngẫm xem mình đang đáp ứng hoặc đã đáp ứng những yêu cầu ấy đến mức nào. Một sự thật hiện rõ — môi trường sẽ không hỗ trợ lối sống huyền bí. Mỗi người phải tiến bộ bất chấp môi trường.

6. Many of us may have been spiritually trained in relative seclusion during former centuries. That type of quiet, seclusion and removal from the world is no longer possible, and we should not expect it or long for it. The ‘game’ has changed.

6. Nhiều người trong chúng ta có thể đã được huấn luyện tinh thần trong sự ẩn cư tương đối vào những thế kỷ trước. Kiểu yên tĩnh, ẩn cư và xa rời thế gian ấy không còn khả thi nữa, và chúng ta không nên kỳ vọng hay khao khát điều đó. ‘Cuộc chơi’ đã thay đổi.

7. The West is said to have a ray four personality. Accordingly, we see the contradictions pile up. There must be achievement in the very midst of circumstances seemingly designed to vigorously resist that achievement.

7. Người ta nói phương Tây có phàm ngã cung bốn. Theo đó, chúng ta thấy những mâu thuẫn chồng chất. Phải đạt thành tựu ngay giữa những hoàn cảnh dường như được tạo ra để chống lại mạnh mẽ chính thành tựu ấy.

8. The Tibetan does not mince words: “intellectual turmoil”, “devastating racket”. If the modern disciple can brave such opposition and still triumph, something real and lasting is achieved.

8. Chân sư Tây Tạng nói thẳng, không né tránh: “xáo động trí tuệ”, “tiếng ồn ào tàn phá”. Nếu đệ tử hiện đại có thể đương đầu với sự chống đối như vậy mà vẫn chiến thắng, thì một thành tựu thực sự và bền vững đã được đạt đến.

9. In a way, the West is ‘occultly unsubdued’. We disciples, with our knowledge of inner patterns, are meant to impose those patterns on chaotic patterns which resist the imposition. It will be a long process; this imposition is part of creating “a new heaven and a new earth”. It is nothing if not a “Herculean labor”.

9. Theo một nghĩa nào đó, phương Tây vẫn ‘chưa được thuần phục về mặt huyền bí’. Chúng ta, những đệ tử có tri thức về các mô hình bên trong, có nhiệm vụ áp đặt những mô hình ấy lên các mô hình hỗn loạn đang chống lại sự áp đặt đó. Đây sẽ là một tiến trình lâu dài; sự áp đặt này là một phần của việc tạo dựng “một trời mới và một đất mới”. Đó quả thực là một “kỳ công của Hercules”.

10. For this type of labor, we have enlisted, and it will surely be with us for centuries to come. Do we imagine that we will experience our last incarnation before the end of the Aquarian Age? We might, but the odds are very much against it.

10. Chúng ta đã tình nguyện đảm nhận loại công việc này, và chắc chắn nó sẽ còn đồng hành cùng chúng ta trong nhiều thế kỷ tới. Chúng ta có hình dung rằng mình sẽ trải qua kiếp lâm phàm cuối cùng trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình kết thúc không? Có thể, nhưng khả năng ấy rất thấp.

11. We can see that Master DK is not at all minimizing the difficulties of His experiment as He talks to his disciples. He is preparing them for what they will encounter. This type of providential approach forestalls complaint, which only inhibits the way.

11. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK hoàn toàn không giảm nhẹ những khó khăn của cuộc thử nghiệm khi nói với các đệ tử. Ngài đang chuẩn bị cho họ đối diện với những gì sẽ gặp. Cách tiếp cận có sự trù liệu này ngăn ngừa lời phàn nàn, vốn chỉ gây cản trở trên đường.

12. The disciple must be, above all, realistic if he/she hopes to fulfill his/her full potential.

12. Trên hết, đệ tử phải thực tế nếu mong phát huy trọn vẹn tiềm năng của mình.

For me, there is also the problem of excessive expenditure of force as I attempt to reach each of you and to study each of you at certain intervals. There is the work, at long range, of reading your minds, of seeing your light, and of vitalising your auras. This has not hitherto been the problem of the Eastern Teachers, except in very rare cases. Those who are now working in the modern world under the Masters of the Wisdom have undergone a preliminary tuning-up process and a training in receptivity during an earlier incarnation or incarnations. [7] Forget not, therefore, that I also have a problem which I am willing to undertake for the sake of a needy world and as my contribution to hastening the coming in of the new and more fruitful era. Let us, therefore, facilitate each others’ efforts.

Đối với Tôi, còn có vấn đề tiêu hao mãnh lực quá mức khi Tôi cố gắng tiếp cận từng người trong các bạn và nghiên cứu từng người vào những khoảng thời gian nhất định. Có công việc đọc thể trí các bạn, nhìn thấy ánh sáng của các bạn và tiếp sinh lực cho hào quang của các bạn từ khoảng cách xa. Cho đến nay, đây chưa từng là vấn đề của các Huấn sư phương Đông, ngoại trừ những trường hợp rất hiếm. Những người hiện đang làm việc trong thế giới hiện đại dưới sự hướng dẫn của các Chân sư Minh Triết đã trải qua một tiến trình điều chỉnh sơ bộ và sự huấn luyện về khả năng tiếp nhận trong một hay nhiều kiếp lâm phàm trước. [7] Vì thế, đừng quên rằng Tôi cũng có một vấn đề mà Tôi sẵn lòng đảm nhận vì một thế giới đang cần được trợ giúp, và xem đó là phần đóng góp của Tôi nhằm thúc đẩy sự xuất hiện của kỷ nguyên mới, phong phú thành quả hơn. Vì vậy, chúng ta hãy tạo thuận lợi cho những nỗ lực của nhau.

1. Master DK uses the teaching technique of informing the student about the teacher’s problem. This takes the student out of his/her usual perspective, which cares little about what the teacher faces.

1. Chân sư DK sử dụng kỹ thuật giảng dạy bằng cách cho môn sinh biết vấn đề của huấn sư. Điều này đưa môn sinh ra khỏi góc nhìn thông thường của mình, vốn ít quan tâm đến những gì huấn sư phải đối diện.

2. Master DK was working at a distance and had to use occult means to reach His students. Under the Law of Economy, only so much expenditure of force is warranted for any task. Apparently reaching some of these students/disciples called for considerable force — so many were the auric barriers.

2. Chân sư DK làm việc từ xa và phải sử dụng những phương tiện huyền bí để tiếp cận các môn sinh của Ngài. Theo Định luật Tiết Kiệm, mỗi nhiệm vụ chỉ cho phép tiêu hao một lượng mãnh lực nhất định. Dường như việc tiếp cận một số môn sinh/đệ tử này đòi hỏi mãnh lực đáng kể — vì có quá nhiều rào cản trong hào quang.

3. DK clearly states the kind of occult work necessitated on His part to make the experiment a success: reading minds, seeing light and vitalizing auras (all at a great distance). Only a Master could do this successfully.

3. Chân sư DK nêu rõ loại công việc huyền bí mà Ngài phải thực hiện để cuộc thử nghiệm thành công: đọc thể trí, nhìn thấy ánh sáng và tiếp sinh lực cho hào quang (tất cả đều từ khoảng cách rất xa). Chỉ một Chân sư mới có thể thực hiện thành công điều này.

4. Thus, the potentials for significant achievement are great, but so are the challenges presented.

4. Như vậy, tiềm năng đạt thành tựu đáng kể rất lớn, nhưng những thách thức đặt ra cũng lớn không kém.

5. The Masters lay Their plans far ahead. That these particular disciples were involved in this experiment is no matter of chance or caprice. Some of the necessary work had been done during their previous incarnations. This work had, to a degree, been foreseen and training for it had been undertaken.

5. Các Chân sư hoạch định kế hoạch của Các Ngài từ rất lâu trước đó. Việc những đệ tử cụ thể này tham gia cuộc thử nghiệm không phải là chuyện ngẫu nhiên hay tùy hứng. Một phần công việc cần thiết đã được thực hiện trong những kiếp lâm phàm trước của họ. Ở một mức độ nào đó, công việc này đã được thấy trước và việc huấn luyện cho công việc ấy đã được tiến hành.

6. We are assured, therefore, that the participants had the necessary sensitivity; they had cultivated it in times past. Still, it was, at times, hard to get through to them.

6. Vì thế, chúng ta được bảo đảm rằng những người tham gia có sự nhạy cảm cần thiết; họ đã vun bồi điều đó trong quá khứ. Dẫu vậy, đôi lúc vẫn khó truyền đạt đến họ.

7. Master DK clearly states His problem, so that His students can assume a helpful and cooperative attitude. He calls for collaboration and mutual facilitation, mutual helpfulness.

7. Chân sư DK nêu rõ vấn đề của Ngài để các môn sinh có thể có thái độ trợ giúp và hợp tác. Ngài kêu gọi sự cộng tác, tạo thuận lợi và trợ giúp lẫn nhau.