Trích nội dung chương
, but voluntarily he turns his back and passes down the stairs he has successfully ascended, meeting his past in the form of the many shells (from which he is completely detached). , nhưng y tự nguyện quay lưng và đi xuống những bậc thang mình đã vượt lên thành công, gặp lại quá khứ dưới hình thức nhiều vỏ bọc (mà y đã hoàn toàn tách rời).
, but voluntarily he turns his back and passes down the stairs he has successfully ascended, meeting his past in the form of the many shells (from which he is completely detached).
, nhưng y tự nguyện quay lưng và đi xuống những bậc thang mình đã vượt lên thành công, gặp lại quá khứ dưới hình thức nhiều vỏ bọc (mà y đã hoàn toàn tách rời).
7. His task is now entirely benevolent. He offers “the hands of helpfulness”, helping others to ascend the stairs he ascended long ago.
7. Giờ đây, nhiệm vụ của y hoàn toàn mang tính thiện lành. Y đưa “đôi tay trợ giúp”, giúp người khác bước lên những bậc thang mà y đã vượt lên từ lâu.
8. The “bird of peace” which sits upon his shoulders has alighted there because he serves the Christ and can focus the buddhic energy (the energy of peace and harmony).
8. “Con chim hòa bình” đậu trên vai y đã đáp xuống đó vì y phụng sự Đức Christ và có thể tập trung năng lượng Bồ đề (năng lượng của hòa bình và hòa hợp).
9. He wears the “sandals of the messenger”—the messenger of Hierarchy. He is toiling in the ‘area’ of the Common Cross, and thus the significance of the signs Pisces (the feet), and Gemini and Sagittarius (both associated, at a certain stage of evolution, with the bearing of messages from above). He is filled with love and can bring that love to those struggling upon the Mutable Cross—the Cross whereon the third aspect of divinity is developed and expressed.
9. Y mang “đôi dép của sứ giả”—sứ giả của Thánh đoàn. Y đang lao động trong ‘phạm vi’ của Thập Giá Thông Thường, và đó là thâm nghĩa của các dấu hiệu Song Ngư (bàn chân), cùng Song Tử và Nhân Mã (cả hai, ở một giai đoạn tiến hoá nhất định, đều liên quan đến việc mang thông điệp từ trên cao). Y tràn đầy tình thương và có thể mang tình thương ấy đến với những người đang phấn đấu trên Thập Giá Biến đổi—Thập Giá nơi phương diện thứ ba của thiên tính được phát triển và biểu hiện.
10. The “utter glory of radiant life” comes to the liberated monad. He stands nearly at that level of liberation, but chooses to remain ‘below’ rather than release himself from the area of urgent need focussed in the lower worlds. Thus, the utter peace of the monad is not yet his. Instead he remains as a great toiler on behalf of humanity and the “little ones”. His, the task to uplift, and this he pursues until his term of service is ended.
10. “Vinh quang trọn vẹn của sự sống rạng ngời” đến với chân thần đã giải thoát. Y đứng gần đến mức độ giải thoát ấy, nhưng chọn ở lại ‘bên dưới’ thay vì tự giải phóng khỏi phạm vi nhu cầu cấp thiết tập trung trong các cõi thấp. Vì thế, sự bình an trọn vẹn của chân thần vẫn chưa thuộc về y. Thay vào đó, y ở lại như một người lao động vĩ đại vì nhân loại và “những kẻ bé nhỏ”. Nhiệm vụ của y là nâng đỡ, và y theo đuổi nhiệm vụ ấy cho đến khi thời hạn phụng sự của mình kết thúc.
DISCIPLESHIP AND PAIN
ĐỊA VỊ ĐỆ TỬ VÀ ĐAU KHỔ
"The sons of God, who know and see and hear (and knowing, know they know) suffer the pain of conscious limitation. Deep in the inmost depths of conscious being, their lost estate of liberty eats like a canker. Pain, sickness, poverty and loss are seen as such, and from them every son of God revolts. He knows that in himself, as once he was before he entered prisoner into form, he knew not pain. Sickness and death, corruption and disease, they touched him not. The riches of the universe were his, and naught he knew of loss.
“Những người con của Thượng đế, những người biết, thấy và nghe (và trong khi biết, biết rằng mình biết), chịu nỗi đau của sự giới hạn hữu thức. Sâu trong tận cùng hiện hữu có ý thức, trạng thái tự do đã mất gặm nhấm họ như một vết loét. Đau khổ, ốm đau, nghèo khó và mất mát được nhìn nhận đúng như chúng là, và mọi người con của Thượng đế đều phản kháng chúng. Y biết rằng trong chính mình, như thuở trước khi bước vào hình tướng làm tù nhân, y từng không biết đến đau khổ. Ốm đau và cái chết, sự mục nát và bệnh tật, chúng không chạm đến y. Sự giàu có của vũ trụ từng thuộc về y, và y chẳng biết gì về mất mát.
1. The individualized, self-conscious human being can stand back from himself and know that he knows. His is a particular pain—the pain ofconscious limitation, arising because deep within his nature, he ‘knows’ himself to be spirit.
1. Con người đã biệt ngã hóa, có ngã thức, có thể lùi lại để quan sát chính mình và biết rằng mình biết. Y có một nỗi đau đặc biệt—nỗi đau của sự giới hạn hữu thức, nảy sinh vì sâu trong bản chất mình, y ‘biết’ mình là tinh thần.
2. Spirit rebels at its confinement in matter. The states to which it is subjected through its voluntary sacrifice (pain, sickness, poverty and loss) are not natural to spirit.
2. Tinh thần phản kháng sự giam hãm trong vật chất. Những trạng thái mà tinh thần phải chịu qua sự hi sinh tự nguyện của mình (đau khổ, ốm đau, nghèo khó và mất mát) không phải là những trạng thái tự nhiên đối với tinh thần.
3. The factor of comparison, in this and many cases, is a great cause of pain.
3. Trong trường hợp này và nhiều trường hợp khác, yếu tố so sánh là một nguyên nhân lớn gây đau khổ.
4. Pain and duality are inseparable. It has been said in the Vedantic Teaching, “Wherever there are two, there is fear.” We might also say, “Wherever there are two, there is pain”, however subtle that pain may be.
4. Đau khổ và nhị nguyên không thể tách rời. Giáo lý Vedanta từng nói: “Ở đâu có hai, ở đó có sợ hãi.” Chúng ta cũng có thể nói: “Ở đâu có hai, ở đó có đau khổ”, dù nỗi đau ấy tinh tế đến đâu.
5. We are told that the psychology of the “Divine Rebel” is most prominent on our planet because of the limitation of expression sensed by our Planetary Logos. This rebellion transfers to all Sons of God under His sway.
5. Chúng ta được cho biết rằng tâm lý của “Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng” nổi bật nhất trên hành tinh chúng ta, vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cảm nhận sự giới hạn trong biểu hiện. Sự phản kháng này truyền sang tất cả những người Con của Thượng đế dưới quyền Ngài.
"The lives that enter into form along with lives self-conscious, the deva lives which build the forms indwelt by all the sons of God, they know not pain or loss or poverty. [677] The form decays, the other forms retire, and that which is required to nourish and keep strong the outer, lacks. But lacking also will and planned intent, they feel no aggravation and know not clear revolt."
“Những sự sống đi vào hình tướng cùng với những sự sống có ngã thức, những sự sống thiên thần xây dựng các hình tướng mà tất cả những người con của Thượng đế ngự trong đó, không biết đến đau khổ, mất mát hay nghèo khó. [677] Hình tướng suy tàn, những hình tướng khác rút lui, và những gì cần thiết để nuôi dưỡng, giữ cho phần bên ngoài mạnh mẽ trở nên thiếu hụt. Nhưng vì cũng thiếu ý chí và chủ định có kế hoạch, chúng không cảm thấy nỗi khổ gia tăng và không biết đến sự phản kháng rõ rệt.”
1. The stanza above brings the nature of the “deva lives” into focus. They enter into form with the self-conscious lives, but do not suffer pain and loss as do these self-conscious lives.
1. Bài kệ trên làm nổi bật bản chất của “những sự sống thiên thần”. Chúng đi vào hình tướng cùng với những sự sống có ngã thức, nhưng không chịu đau khổ và mất mát như những sự sống có ngã thức ấy.
2. The devas are participants in the process of decay and disintegration, just as man is, but the kind of devas here under discussion lack “will and planned intent”, so they do not experience pain and conscious revolt. If their plans and intentions opposed the disintegration of form, a painful duality in consciousness would be created, but since the factors of will and planned intent are lacking, the sense of duality is also missing.
2. Các thiên thần tham gia vào tiến trình suy tàn và tan rã, cũng như con người, nhưng loại thiên thần đang được bàn đến ở đây thiếu “ý chí và chủ định có kế hoạch”, nên chúng không trải nghiệm đau khổ và sự phản kháng hữu thức. Nếu những kế hoạch và ý định của chúng chống lại sự tan rã của hình tướng, một trạng thái nhị nguyên đau đớn trong tâm thức sẽ hình thành; nhưng vì thiếu những yếu tố ý chí và chủ định có kế hoạch, nên cũng không có cảm nhận về nhị nguyên.
A word about pain might be in place here, though I have naught of an abstruse nature to communicate anent the evolution of the human hierarchy through the medium of pain. The devas do not suffer pain as does mankind. Their rate of rhythm is steadier although in line with the Law. They learn through application to the work of building and through incorporation into the form of that which is built. They grow through appreciation of and joy in the forms built and the work accomplished. The devas build and humanity breaks and through the shattering of the forms man learns through discontent. Thus is acquiescence in the work of the greater Builders achieved. Pain is that upward struggle through matter which lands a man at the Feet of the Logos; pain is the following of the line of the greatest resistance and thereby reaching the summit of the mountain; pain is the smashing of the form and the reaching of the inner fire; pain is the cold of isolation which leads to the warmth of the central Sun; pain is the burning in the furnace in order finally to know the coolness of the water of life; pain is the journeying into the far country, resulting in the welcome to the Father's Home; pain is the illusion of the Father's disowning, which drives the prodigal straight to the Father's heart; pain is the cross of utter loss, that renders back the riches of the eternal bounty; pain is the whip that drives the struggling builder to carry to utter perfection the building of the Temple.
Có lẽ ở đây nên nói đôi lời về đau khổ, dù Tôi không có điều gì mang tính thâm áo để truyền đạt về sự tiến hoá của Huyền Giai nhân loại thông qua đau khổ. Các thiên thần không chịu đau khổ như nhân loại. Nhịp điệu của họ có tốc độ ổn định hơn, tuy vẫn phù hợp với Định luật. Họ học hỏi qua việc chuyên tâm vào công việc xây dựng và qua việc hòa nhập vào hình tướng của những gì được xây dựng. Họ phát triển qua sự trân trọng và hoan hỉ trong những hình tướng đã xây dựng và công việc đã hoàn thành. Các thiên thần xây dựng còn nhân loại phá vỡ, và qua việc đập tan các hình tướng, con người học hỏi thông qua sự bất mãn. Nhờ đó, con người đạt đến sự thuận theo công việc của các đấng đại kiến tạo. Đau khổ là cuộc phấn đấu vươn lên xuyên qua vật chất, đưa con người đến dưới Chân Thượng đế; đau khổ là đi theo con đường nhiều trở ngại nhất và nhờ đó lên đến đỉnh núi; đau khổ là đập tan hình tướng và chạm đến lửa bên trong; đau khổ là cái lạnh của sự cô lập dẫn đến hơi ấm của Mặt Trời trung tâm; đau khổ là sự thiêu đốt trong lò nung để cuối cùng biết được sự mát lành của nước sự sống; đau khổ là hành trình đến miền đất xa xôi, dẫn đến sự đón chào tại Nhà Cha; đau khổ là ảo tưởng rằng Cha đã từ bỏ mình, thôi thúc đứa con hoang đàng đi thẳng đến trái tim Cha; đau khổ là thập giá của sự mất mát hoàn toàn, đem trả lại sự giàu có của nguồn ân huệ vĩnh cửu; đau khổ là ngọn roi thúc giục đấng kiến tạo đang phấn đấu đưa việc xây dựng Đền Thờ đến sự hoàn hảo trọn vẹn.
1. It is clear that because of pain the human hierarchy evolves more rapidly. Pain is a great corrective, signaling deviation from the archetype.
1. Rõ ràng nhờ đau khổ mà Huyền Giai nhân loại tiến hoá nhanh hơn. Đau khổ là một tác nhân điều chỉnh mạnh mẽ, báo hiệu sự lệch khỏi nguyên mẫu.
2. DK tells us that the devas do not suffer pain “as does mankind”. Reading carefully, we might infer that there may be some manner in which they do suffer pain, but “not as does mankind”.
2. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng các thiên thần không chịu đau khổ “như nhân loại”. Đọc kỹ, chúng ta có thể suy ra rằng có thể có một cách nào đó mà họ thực sự chịu đau khổ, nhưng “không như nhân loại”.
3. The steadiness of the devas’ rate of rhythm is important to note, That rhythm is in line with the Law. Without the participating of the devas, universal laws on all levels would not be the invariable factors they are.
3. Cần lưu ý sự ổn định trong tốc độ nhịp điệu của các thiên thần. Nhịp điệu ấy phù hợp với Định luật. Nếu không có sự tham gia của các thiên thần, các định luật vũ trụ ở mọi cấp độ sẽ không phải là những yếu tố bất biến như hiện nay.
4. We are told how the devas learn and grow. For the devas, learning and growing are directly related to experiencing the forms into which they build themselves. They take joy in the forms built and the work accomplished. We see that the devas are essentially the builders, and we see their close connection to the magical seventh ray—though naturally there are devas on all seven rays.
4. Chúng ta được cho biết cách các thiên thần học hỏi và phát triển. Đối với các thiên thần, việc học hỏi và phát triển liên quan trực tiếp đến việc trải nghiệm những hình tướng mà họ xây dựng chính mình vào trong đó. Họ hoan hỉ trong những hình tướng đã xây dựng và công việc đã hoàn thành. Chúng ta thấy rằng các thiên thần về bản chất là những đấng kiến tạo, và thấy mối liên hệ mật thiết của họ với cung bảy huyền thuật—dù tất nhiên có các thiên thần trên cả bảy cung.
5. The contrast between the ways in which devas and men learn is most significant. We can see why the devas are considered a feminine kingdom and man a masculine one. From the perspective we achieve by contrasting devic acquiescence with human revolt, we can see the devas as generically correlated with the second ray and rebellious man with the first.
5. Sự tương phản giữa cách học hỏi của thiên thần và con người có thâm nghĩa sâu sắc. Chúng ta có thể thấy vì sao các thiên thần được xem là một giới mang tính nữ, còn con người là một giới mang tính nam. Từ góc nhìn có được khi đối chiếu sự thuận theo của thiên thần với sự phản kháng của con người, chúng ta có thể thấy các thiên thần nói chung tương ứng với cung hai, còn con người phản kháng tương ứng với cung một.
6. There follow many beautiful descriptions of the nature of pain and its many uses. These descriptions apply to man especially.
6. Tiếp theo là nhiều mô tả đẹp đẽ về bản chất của đau khổ và nhiều công dụng của nó. Những mô tả này đặc biệt áp dụng cho con người.
7. Studying carefully the descriptions of pain, we find the presence of what might be called ‘sacrificial duality’. The pairs of opposites are fundamentally involved in each description. Through pain, the opposites are contained and unified. Pain produces a salutary effect which is opposite to its apparent nature.
7. Khi nghiên cứu kỹ những mô tả về đau khổ, chúng ta nhận thấy sự hiện diện của điều có thể gọi là ‘nhị nguyên hi sinh’. Những cặp đối cực có liên hệ căn bản trong mỗi mô tả. Qua đau khổ, các đối cực được dung chứa và hợp nhất. Đau khổ tạo ra một hiệu quả lành mạnh trái ngược với bản chất bề ngoài của nó.
8. Pain seems to epitomize everything that is objectionable to man, but if endured and understood, brings him to his heart’s desire .
8. Đau khổ dường như là hiện thân của mọi điều con người không mong muốn, nhưng nếu chịu đựng và thấu hiểu nó, con người sẽ đạt được điều lòng mình khao khát.
9. Of one is to struggle against the limitations of matter, there will necessarily be pain. All pain is not necessarily upward tending, but there is a beneficent kind of pain which is caused by the aspiration of the imbedded spirit. This is particularly the kind of pain experienced by the disciple.
9. Nếu con người phải đấu tranh chống lại những giới hạn của vật chất, tất yếu sẽ có đau khổ. Không phải mọi đau khổ đều nhất thiết có xu hướng đưa lên cao, nhưng có một loại đau khổ mang lại lợi ích, do khát vọng của tinh thần đang bị vùi lấp gây ra. Đây đặc biệt là loại đau khổ mà người đệ tử trải nghiệm.
10. Few of us, perhaps, wish to follow the “line of greatest resistance” which will bring us to the mountain top and to the “Feet of the Logos”, but at length the pain of trying to avoid pain becomes greater than thepain to be endured in ascent. Then the change comes and we do what we must do.
10. Có lẽ ít người trong chúng ta muốn đi theo “con đường nhiều trở ngại nhất”, con đường sẽ đưa chúng ta lên đỉnh núi và đến dưới “Chân Thượng đế”, nhưng cuối cùng nỗi đau do cố tránh đau khổ trở nên lớn hơn nỗi đau phải chịu đựng khi vươn lên. Khi ấy, sự thay đổi đến và chúng ta làm điều mình phải làm.
11. Pain is the path to the “inner fire” reached through the “smashing” of the form. This is a potent image suggestive of the first ray deeply imbedded in the nature of man. I have often wondered whether the monadic nature of the human kingdom is not the first (associated as humanity is with Scorpio and Hercules, that great first ray disciple). Perhaps there are few of us who wish to smash the form, but this unpleasant result will necessarily occur if we strive to attain our essence.
11. Đau khổ là con đường dẫn đến “lửa bên trong”, đạt được qua việc “đập tan” hình tướng. Đây là một hình ảnh mạnh mẽ gợi đến cung một ẩn sâu trong bản chất con người. Tôi thường tự hỏi liệu bản chất chân thần của giới nhân loại có phải là cung một hay không (vì nhân loại liên hệ với Hổ Cáp và Hercules, người đệ tử cung một vĩ đại ấy). Có lẽ ít người trong chúng ta muốn đập tan hình tướng, nhưng kết quả khó chịu này tất yếu sẽ xảy ra nếu chúng ta nỗ lực đạt đến bản chất cốt yếu của mình.
12. How will the pain of isolation lead to the “warmth of the central Sun”? That cold will release us from the heat of fire by friction and open us to the warming influence of solar love. When we think of the “central Sun” we usually think of electric fire. The central Sun, however, can be considered our monad, which is ultimately a solar factor (having its home within the Sun). Moreover, the Solar Logos is a powerfully ray two being. Thus, indeed, there will be warmth associated with the “central Sun”, simply because of the nature of the Solar Logos.
12. Nỗi đau của sự cô lập sẽ dẫn đến “hơi ấm của Mặt Trời trung tâm” như thế nào? Cái lạnh ấy sẽ giải phóng chúng ta khỏi sức nóng của Lửa ma sát và mở chúng ta ra với ảnh hưởng sưởi ấm của tình thương thái dương. Khi nghĩ đến “Mặt Trời trung tâm”, chúng ta thường nghĩ đến Lửa Điện. Tuy nhiên, có thể xem Mặt Trời trung tâm là chân thần của chúng ta, vốn xét đến cùng là một yếu tố thái dương (có nơi cư ngụ trong Mặt Trời). Hơn nữa, Thái dương Thượng đế là một Đấng mang cung hai mạnh mẽ. Vì thế, quả thực sẽ có hơi ấm gắn với “Mặt Trời trung tâm”, đơn giản là do bản chất của Thái dương Thượng đế.
13. How will burning in the fiery furnace lead to knowledge of the coolness of the “water of life”? And why is the “water of life” cool? Fiery burning releases us from heated experience under fire by friction. We are released towards the buddhic plane, where the clear cold light is found. The “water of life” (which can be understood as the energies of the buddhic plane as fed by still higher planes) cools all desire for life in the world of form. The coolness of buddhi is a relief to the consciousness aflame with lower desire.
13. Sự thiêu đốt trong lò lửa sẽ dẫn đến việc biết được sự mát lành của “nước sự sống” như thế nào? Và vì sao “nước sự sống” lại mát? Sự thiêu đốt bằng lửa giải phóng chúng ta khỏi những trải nghiệm nóng bỏng dưới tác động của Lửa ma sát. Chúng ta được giải phóng để hướng đến cõi Bồ đề, nơi có ánh sáng trong trẻo, lạnh. “Nước sự sống” (có thể hiểu là những năng lượng của cõi Bồ đề do các cõi còn cao hơn tiếp dưỡng) làm nguội mọi dục vọng muốn sống trong thế giới hình tướng. Sự mát lành của Bồ đề đem lại nhẹ nhõm cho tâm thức đang bốc cháy vì dục vọng thấp.
14. How is pain the “the journeying into the far country, resulting in the welcome to the Father's Home”? In this case the “journeying into the far country” is not the departure of the “Prodigal Son” into a wasteland. Rather, in this case, it can be interpreted as a painful departure from ordinary, though cherished, life (through the processes of abstraction), leading eventually to the attainment of that point of inner abstraction which is the Father’s Home, the home of the monad. (Of course, it must also be said that to “leave the Father’s home” is perhaps the most painful of all experiences; only the intensity of monadic love can offset this pain of separation. Since the human monads gladly separate themselves for the sake of lesser lives, we can assume that the intensity of monadic love is sufficiently strong to negate the existential pain of separation.)
14. Đau khổ là “hành trình đến miền đất xa xôi, dẫn đến sự đón chào tại Nhà Cha” như thế nào? Trong trường hợp này, “hành trình đến miền đất xa xôi” không phải là việc “Đứa Con Hoang Đàng” ra đi đến một vùng đất hoang. Ở đây, có thể hiểu đó là sự rời bỏ đầy đau đớn đời sống thông thường, dù rất được yêu quý (qua các tiến trình triệt xuất), cuối cùng dẫn đến việc đạt được điểm triệt xuất nội tâm vốn là Nhà Cha, nơi cư ngụ của chân thần. (Tất nhiên, cũng phải nói rằng “rời Nhà Cha” có lẽ là trải nghiệm đau đớn nhất trong mọi trải nghiệm; chỉ cường độ tình thương chân thần mới có thể hóa giải nỗi đau chia lìa này. Vì các chân thần nhân loại hoan hỉ tự tách mình ra vì những sự sống nhỏ hơn, chúng ta có thể cho rằng cường độ tình thương chân thần đủ mạnh để vô hiệu hóa nỗi đau hiện sinh của sự chia lìa.)
15. How is pain “the illusion of the Father's disowning, which drives the prodigal straight to the Father's heart”? There is That within every Son of God which is connected to the Father. When the consciousness is in a benighted condition in the outer world, it may seem that all connection with the Father has been lost. But because the Father is already deeply within the one who feels disowned and disconnected, a deep pain arises (again the pain of perceived duality). Under the pressure of this pain, the inherent connection with the Father is intensely activated and the Prodigal Son resolves to return to the Father (i.e., return to that which he really is).
15. Đau khổ là “ảo tưởng rằng Cha đã từ bỏ mình, thôi thúc đứa con hoang đàng đi thẳng đến trái tim Cha” như thế nào? Có Cái Đó trong mỗi người Con của Thượng đế vốn liên kết với Cha. Khi tâm thức ở trong trạng thái tối tăm nơi thế giới bên ngoài, dường như mọi liên kết với Cha đã mất. Nhưng vì Cha đã ở sâu bên trong người đang cảm thấy mình bị từ bỏ và mất liên kết, nên một nỗi đau sâu sắc nảy sinh (một lần nữa là nỗi đau của nhị nguyên được cảm nhận). Dưới áp lực của nỗi đau này, mối liên kết vốn có với Cha được khơi dậy mãnh liệt, và Đứa Con Hoang Đàng quyết trở về với Cha (nghĩa là trở về với điều mà y thực sự là).
16. How is pain “the cross of utter loss that renders back the riches of the eternal bounty”? It is clear that the riches of eternal bounty cannot fill the hands of the one who is grasping for lesser things. Pain is the process which forces the dropping of those lesser things, freeing the hands to receive the bounty.
16. Đau khổ là “thập giá của sự mất mát hoàn toàn, đem trả lại sự giàu có của nguồn ân huệ vĩnh cửu” như thế nào? Rõ ràng sự giàu có của nguồn ân huệ vĩnh cửu không thể lấp đầy đôi tay của người đang nắm níu những điều nhỏ bé hơn. Đau khổ là tiến trình buộc phải buông bỏ những điều nhỏ bé ấy, giải phóng đôi tay để đón nhận ân huệ.
17. How is pain “the whip that drives the struggling builder to carry to utter perfection the building of the Temple"? We have all been slaves. It is a compulsory servitude which leads to an understanding of true service. We are all building the Temple, whether the temple of the causal body or the Temple of Humanity. Our inner will is that our outer mechanism comply with the Divine Will (which, essentially, is our will). Inwardly, we will the completion of the divine task, regardless of the cost to our own outer mechanism. As souls, we adopt the attitude that the outer man must conform to inner intention. This is painful to the outer man, but it would be far more painful to the inner man were he unable to express his divinely inspired intention in the lower worlds.
17. Đau khổ là “ngọn roi thúc giục đấng kiến tạo đang phấn đấu đưa việc xây dựng Đền Thờ đến sự hoàn hảo trọn vẹn” như thế nào? Tất cả chúng ta đều từng là nô lệ. Chính sự phục dịch bắt buộc dẫn đến sự thấu hiểu về phụng sự đích thực. Tất cả chúng ta đều đang xây dựng Đền Thờ, dù là đền thờ của thể nguyên nhân hay Đền Thờ Nhân Loại. Ý chí bên trong của chúng ta là để bộ máy bên ngoài tuân theo Ý Chí thiêng liêng (về bản chất, đó chính là ý chí của chúng ta). Ở bên trong, chúng ta quyết chí hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng, bất kể bộ máy bên ngoài của chính mình phải trả giá thế nào. Với tư cách linh hồn, chúng ta giữ thái độ rằng con người bên ngoài phải tuân theo ý định bên trong. Điều này gây đau đớn cho con người bên ngoài, nhưng con người bên trong sẽ còn đau đớn hơn nhiều nếu không thể biểu hiện ý định được cảm hứng thiêng liêng khơi dậy của mình trong các cõi thấp.
The uses of pain are many, and they lead the human soul out of darkness into light, out of bondage into liberation, out of agony into peace. That peace, that light and that liberation, within the ordered harmony of the cosmos are for all the sons of men.
Đau khổ có nhiều công dụng, và chúng dẫn linh hồn con người ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, ra khỏi trói buộc đến giải thoát, ra khỏi thống khổ đến bình an. Sự bình an ấy, ánh sáng ấy và sự giải thoát ấy, trong sự hài hòa có trật tự của vũ trụ, dành cho tất cả những người con của nhân loại.
1. From all this we may learn that pain is the indicator of true direction.
1. Từ tất cả những điều này, chúng ta có thể học được rằng đau khổ là dấu chỉ của phương hướng đúng đắn.
2. Like chastening karma, pain seems to be one thing but, in disguise, is really another.
2. Giống như nghiệp quả tôi luyện, đau khổ có vẻ là một điều, nhưng dưới lớp ngụy trang ấy, thực ra lại là một điều khác.
3. Pain—a perceived negativity—has the goal of ultimate positivity. It is a prime tool of the Lords of Karma. It is in the study of pain and its uses that we discover the truth of the old Heraclitian maxim: “everything turns into its opposite”.
3. Đau khổ—một điều được cảm nhận là tiêu cực—có mục tiêu là tính tích cực tối hậu. Nó là một công cụ chủ yếu của các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả. Chính khi nghiên cứu đau khổ và các công dụng của nó, chúng ta khám phá chân lý của châm ngôn cổ của Heraclitus: “mọi thứ đều chuyển thành đối cực của mình”.
4. Pain arises from duality, and humanity, more than any other kingdom, is beset by duality. Scorpio, humanity’s astrological sign produces the “Conflict with duality. The Fighter.”
4. Đau khổ nảy sinh từ nhị nguyên, và nhân loại, hơn bất kỳ giới nào khác, bị nhị nguyên bủa vây. Hổ Cáp, dấu hiệu chiêm tinh của nhân loại, tạo ra “Xung đột với nhị nguyên. Người Chiến Đấu.”
5. Because the opposites are so clearly presented to us, we can more rapidly and decisively choose the higher of the pairs of opposites. The whole process of human progress is a redemptive one, facilitated bypain.
5. Vì các đối cực hiện ra quá rõ ràng trước chúng ta, chúng ta có thể nhanh chóng và dứt khoát hơn trong việc chọn cực cao hơn trong các cặp đối cực. Toàn bộ tiến trình tiến bộ của nhân loại là một tiến trình cứu chuộc, được thúc đẩy nhờ đau khổ.
FROM THE OLD COMMENTARY
TRÍCH CỔ LUẬN
"The assuaging waters cool. They slowly bring relief, abstracting form from all that can be touched. The quivering [678] fever heat of long repressed desire yields to the cooling draught. Water and pain negate each other. Long is the process of the cooling draught.
“Những dòng nước xoa dịu làm mát lành. Chúng từ từ đem lại sự nhẹ nhõm, triệt xuất hình tướng khỏi tất cả những gì có thể chạm đến. Sức nóng [678] hừng hực run rẩy của dục vọng bị dồn nén từ lâu nhường chỗ cho ngụm nước mát. Nước và đau khổ triệt tiêu lẫn nhau. Tiến trình của ngụm nước mát thật dài lâu.
1. This selection from the Old Commentary deals in symbolic terms with certain stages of the ‘Path of Release’.
1. Đoạn trích Cổ Luận này dùng ngôn ngữ biểu tượng để bàn đến những giai đoạn nhất định của ‘Con Đường Giải Thoát’.
2. “All that can be touched” constitutes all within the three lower worlds from which one must release oneself—all that normal sentiency reveals.
2. “Tất cả những gì có thể chạm đến” bao gồm mọi thứ trong ba cõi thấp mà con người phải tự giải thoát khỏi—tất cả những gì khả năng cảm nhận thông thường cho thấy.
3. The abstracting from form seems to be the abstractive elevation of consciousness so that it can express through ever subtler forms.
3. Việc triệt xuất khỏi hình tướng dường như là sự nâng cao tâm thức qua triệt xuất, để tâm thức có thể biểu hiện qua những hình tướng ngày càng tinh tế hơn.
4. What are the “assuaging waters”? These waters have to do with the realizations achievable in the higher worlds; they bring a melting, a fusing and an identification with all souls. To the one who has long struggled to tread the Path, disciplining himself, suppressing desire (acting as if lower desire does not exist), higher realizations of the fusing and blending powers greatly lessens the pain of unfulfilled or repudiated desire. These ‘waters’ negates the fiery pain of desire.
4. “Những dòng nước xoa dịu” là gì? Những dòng nước này liên quan đến các chứng nghiệm có thể đạt được trong các cõi cao; chúng đem lại sự tan chảy, dung hợp và đồng hoá với mọi linh hồn. Đối với người từ lâu đã nỗ lực bước trên Đường Đạo, tự rèn luyện kỷ luật, chế ngự dục vọng (hành động như thể dục vọng thấp không tồn tại), những chứng nghiệm cao siêu hơn về các quyền năng dung hợp và hoà quyện làm giảm đáng kể nỗi đau của dục vọng không được thoả mãn hoặc đã bị khước từ. Những ‘dòng nước’ này xoá bỏ nỗi đau thiêu đốt của dục vọng.
5. The “heat” here referenced is “fire by friction”; the “water” can be meaningfully related to the energy of solar fire.
5. “Sức nóng” được nhắc đến ở đây là “lửa ma sát”; có thể liên hệ “nước” một cách có ý nghĩa với năng lượng của Lửa Thái dương.
6. The fusing and blending love of the soul has much to do to cool, tranquilize and, eventually, offset and negate the fiery urgency of personal desire. The process can take many lives.
6. Tình thương dung hợp và hoà quyện của linh hồn góp phần rất lớn vào việc làm nguội, làm dịu và cuối cùng hoá giải, xoá bỏ sự thôi thúc thiêu đốt của dục vọng cá nhân. Tiến trình này có thể kéo dài nhiều kiếp.
"The burning fire releases all that blocks the way of life. Bliss comes and follows after fire, as fire upon the waters. Water and fire together blend and cause the great Illusion. Fog is the product of mist and steam and noise, veiling the Light, hiding the Truth and shutting out the Sun.
"Ngọn lửa thiêu đốt giải trừ tất cả những gì ngăn trở con đường của sự sống. Chí phúc đến và theo sau lửa, như lửa trên những dòng nước. Nước và lửa cùng hoà quyện và tạo nên Ảo Tưởng vĩ đại. Sương mù là sản phẩm của sương và hơi nước cùng tiếng ồn, che phủ Ánh Sáng, che giấu Chân Lý và ngăn khuất Mặt Trời.
1. There are many fires. What are the burning fires here referenced? If the “burning fire” releases all that blocks the way of “life”, then we are speaking of the fires that open the door for the entrance of the life aspect of divinity. One reasonable interpretation is that these fires are the fires which consume the causal body.
1. Có nhiều loại lửa. Những ngọn lửa thiêu đốt được nhắc đến ở đây là gì? Nếu “ngọn lửa thiêu đốt” giải trừ tất cả những gì ngăn trở con đường của “sự sống”, thì chúng ta đang nói đến những ngọn lửa mở cửa cho phương diện sự sống của thiên tính đi vào. Một cách diễn giải hợp lý là đây chính là những ngọn lửa thiêu huỷ thể nguyên nhân.
2. The “waters’ mentioned in this section refer to personality sentiency, especially the sentiency of the astral body. On a higher turn of the spiral, the waters may also refer to the soul’s sense of ‘touch’ which, though relatively advanced in nature, gives way to a higher octave of sentiency after the releasing fire has done its work.
2. “Những dòng nước” được nhắc đến trong phần này chỉ khả năng cảm nhận của phàm ngã, đặc biệt là khả năng cảm nhận của thể cảm dục. Ở một vòng xoắn cao hơn, những dòng nước cũng có thể chỉ cảm giác ‘xúc chạm’ của linh hồn; tuy có bản chất tương đối tiến bộ, cảm giác này vẫn nhường chỗ cho một quãng tám cao hơn của khả năng cảm nhận sau khi ngọn lửa giải thoát đã hoàn thành công việc.
3. The fact that bliss comes and follows after the fire is another hint that we are here discussing a very high stage of evolution. Bliss is directly related to the life aspect of divinity and supervenes in a more continuous way after passing through the fires which accompany the fourth initiation.
3. Việc chí phúc đến và theo sau lửa là một gợi ý nữa cho thấy ở đây chúng ta đang bàn đến một giai đoạn tiến hoá rất cao. Chí phúc liên quan trực tiếp đến phương diện sự sống của thiên tính và xuất hiện liên tục hơn sau khi vượt qua những ngọn lửa đi kèm với lần điểm đạo thứ tư.
4. There are processes necessitating the application of fire and water which belong to the ‘curricula’ of both the second initiation and the fourth.
4. Có những tiến trình đòi hỏi vận dụng lửa và nước, thuộc ‘chương trình học’ của cả lần điểm đạo thứ hai lẫn lần điểm đạo thứ tư.
5. We must study these stanzas carefully. In one paragraph a lengthy period of time, perhaps spanning many lives, may be indicated.
5. Chúng ta phải nghiên cứu kỹ những bài kệ này. Một đoạn văn có thể hàm chứa một khoảng thời gian dài, có lẽ trải qua nhiều kiếp.
6. One product of the union of water and fire is kama-manas. The kama-manasic mind is deluded by the Great Illusion. Neither feeling nor thought are pure when combined as kama-manas; glamor and illusion are the result of this combining.
6. Một sản phẩm của sự kết hợp giữa nước và lửa là dục-trí. Thể trí mang tính trí-cảm chịu sự mê hoặc của Ảo Tưởng Vĩ Đại. Khi kết hợp thành dục-trí, cả cảm xúc lẫn tư tưởng đều không thuần khiết; ảo cảm và ảo tưởng là kết quả của sự kết hợp này.
7. When mind (fire) is combined with water (i.e., with kama
7. Khi thể trí (lửa) kết hợp với nước (tức là với dục vọng
, feeling, desire), bias is the result, leading to distorted perception. Only the mind detached and illumined by the soul can begin to perceive reality.
, cảm xúc, ham muốn), kết quả là thiên kiến, dẫn đến tri giác méo mó. Chỉ thể trí đã tách rời và được linh hồn soi sáng mới có thể bắt đầu nhận thức thực tại.
8. A very interesting definition of the nature of “fog” is given: “Fog is the product of mist and steam and noise.” We may judge “fog” to be denser than mist. Steam is super-heated water, but only when it combines with mist (which consists of visible, airborne water droplets) does a vision-obscuring “fog” result.
8. Có một định nghĩa rất thú vị về bản chất của “sương mù”: “Sương mù là sản phẩm của sương và hơi nước cùng tiếng ồn.” Chúng ta có thể cho rằng “sương mù” đậm đặc hơn sương. Hơi nước là nước được nung nóng đến mức rất cao, nhưng chỉ khi kết hợp với sương (gồm những giọt nước nhỏ có thể nhìn thấy, lơ lửng trong không khí), nó mới tạo thành “sương mù” che khuất tầm nhìn.
[Picture 2 ]
9. Noise is incoherent sound; it lacks regular vibration (musical tone) and order. Noise is always sound which is either inharmonious with the present sonic ‘atmosphere’ or disruptive of it.
9. Tiếng ồn là âm thanh thiếu mạch lạc; nó thiếu rung động đều đặn (âm có cao độ trong âm nhạc) và trật tự. Tiếng ồn luôn là âm thanh không hoà hợp với ‘bầu không khí’ âm thanh hiện có hoặc phá vỡ bầu không khí ấy.
10. This stanza tells us that “fog” (obscurative glamor and illusion) has a discordant, disruptive sonic content.
10. Bài kệ này cho chúng ta biết rằng “sương mù” (ảo cảm và ảo tưởng gây che khuất) chứa những âm thanh bất hoà, gây rối loạn.
11. “Fog” from the perspective of consciousness, veils Light, hides Truth and shuts out the Sun. The first light to be veiled is the light of the soul. Truth, also, is focussed, initially, in the soul realm, though later in progressively higher realms. And the “Sun”, here given, is the soul.
11. Xét từ góc độ tâm thức, “sương mù” che phủ Ánh Sáng, che giấu Chân Lý và ngăn khuất Mặt Trời. Ánh sáng đầu tiên bị che phủ là ánh sáng của linh hồn. Ban đầu, Chân Lý cũng tập trung trong cõi linh hồn, dù về sau ở những cõi ngày càng cao hơn. Và “Mặt Trời” được nhắc đến ở đây là linh hồn.
12. Water and fire are necessary in the purificatory and redemptive process, but there are times in the evolutionary process when their mutual interaction produces temporary, undesirable results.
12. Nước và lửa cần thiết trong tiến trình thanh luyện và cứu chuộc, nhưng có những lúc trong tiến trình tiến hoá, sự tương tác giữa chúng tạo ra những kết quả tạm thời, không mong muốn.
13. Kama, or feeling, must be purified and rendered responsive to the heart and soul. Fire, or mind, must be infused by the higher light so that it serves the truth-seeing soul consciousness.
13. Dục vọng, hay cảm xúc, phải được thanh luyện và trở nên đáp ứng với trái tim và linh hồn. Lửa, hay thể trí, phải được ánh sáng cao hơn thấm nhuần để phụng sự tâm thức linh hồn vốn thấy được chân lý.
“The fire burns fiercely. Pain and the waters disappear. Cold, heat, the light of day, the radiance of the rising sun and perfect knowledge of the Truth appear.
“Lửa cháy dữ dội. Đau đớn và những dòng nước biến mất. Cái lạnh, sức nóng, ánh sáng ban ngày, ánh huy hoàng của mặt trời đang mọc và tri thức hoàn hảo về Chân Lý xuất hiện.
1. Of the many possible burning grounds, these two sentences seem to reference one of the final ones—final where humanity, per se, is concerned.
1. Trong số nhiều vùng đất cháy có thể có, hai câu này dường như đề cập đến một trong những vùng cuối cùng—cuối cùng xét đối với chính nhân loại.
2. Pain disappears with the disappearance of the normal personality (which is not the ‘mayavirupic personality’ which still may be used by a Master). Pain is most associated with the number four—the number symbolizing the personality (though that number symbolizes the buddhic plane as well, and other higher energy fields).
2. Đau đớn biến mất cùng với sự biến mất của phàm ngã thông thường (khác với ‘phàm ngã trong huyễn thân’ mà một Chân sư vẫn có thể sử dụng). Đau đớn gắn liền nhiều nhất với số bốn—con số tượng trưng cho phàm ngã (dù con số ấy cũng tượng trưng cho cõi Bồ đề và những trường năng lượng cao hơn khác).
3. The “waters” which disappear are all types of magnetisms and contacts which relate not only to personality but to the soul within the causal body—for it is the destruction of the causal body which is the subject of this short section of the stanza.
3. “Những dòng nước” biến mất là mọi loại từ điện và tiếp xúc không chỉ liên quan đến phàm ngã mà còn đến linh hồn trong thể nguyên nhân—vì sự huỷ diệt thể nguyên nhân chính là chủ đề của phần ngắn này trong bài kệ.
4. The “cold” is the influence of buddhi—the clear, cold light of the buddhic plane. The “heat” is spiritual energy, not (in this section) personality heat or force. The “light of day” can only be seen from the perspective of the spiritual triad. Interestingly, the type of light associated with the triumphant sign Scorpio is the “light of day”.
4. “Cái lạnh” là ảnh hưởng của Bồ đề—ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo của cõi Bồ đề. “Sức nóng” là năng lượng tinh thần, chứ không phải sức nóng hay mãnh lực của phàm ngã (trong phần này). Chỉ từ góc độ của Tam Nguyên Tinh Thần mới có thể thấy “ánh sáng ban ngày”. Điều thú vị là loại ánh sáng gắn với dấu hiệu Hổ Cáp chiến thắng chính là “ánh sáng ban ngày”.
5. The “rising sun” is not alone the soul-as-sun, but the suns of triad and monad. The “perfect knowledge of Truth” is buddhic in nature, or higher. It is not given to the consciousness within the causal body (relatively advanced though such consciousness may be) to grasp Truth as it can be known within the spiritual triad—a field of spiritual experience unencumbered by all that which has been generated from ‘below’. The spiritual triad is more a transcendental than a transpersonal field.
5. “Mặt trời đang mọc” không chỉ là linh hồn được ví như mặt trời, mà còn là những mặt trời của Tam nguyên tinh thần và chân thần. “Tri thức hoàn hảo về Chân Lý” có bản chất Bồ đề hoặc cao hơn. Tâm thức trong thể nguyên nhân (dù có thể tương đối tiến bộ) không thể nắm bắt Chân Lý như khi nhận biết Chân Lý trong Tam Nguyên Tinh Thần—một trường trải nghiệm tinh thần không vướng bận bất cứ điều gì phát sinh từ ‘bên dưới’. Tam Nguyên Tinh Thần là một trường siêu việt hơn là một trường siêu cá nhân.
"This is the path for all who seek the Light. First form, and all its longing. Then pain. Then the assuaging waters and the appearance of a little fire. The fire grows, and heat is then active within the tiny sphere and does its fiery work. Moisture likewise is seen; dense fog, and to the pain is added sad bewilderment, for they who use the fire of mind during the early stage are lost within a light illusory.
"Đây là con đường dành cho tất cả những ai tìm kiếm Ánh Sáng. Trước tiên là hình tướng cùng mọi niềm khát khao của nó. Rồi đến đau đớn. Rồi đến những dòng nước xoa dịu và sự xuất hiện của một ngọn lửa nhỏ. Lửa lớn dần, và bấy giờ sức nóng hoạt động trong khối cầu nhỏ bé, thực hiện công việc thiêu đốt của nó. Hơi ẩm cũng xuất hiện; sương mù dày đặc, và nỗi hoang mang buồn bã chồng thêm lên đau đớn, vì những ai sử dụng lửa của trí tuệ trong giai đoạn đầu đều lạc lối trong một thứ ánh sáng hư ảo.
1. In this case the “Light” may be looked at generically and as occurring at all stages. The “Light” eventually sought is the “Highest Light”.
1. Trong trường hợp này, có thể xét “Ánh Sáng” theo nghĩa chung và như hiện diện ở mọi giai đoạn. “Ánh Sáng” cuối cùng được tìm kiếm là “Ánh Sáng Cao Nhất”.
2. The developmental sequence is given. The curriculum of form comes first. Form is subject to desire, and intensified desire is understood as “longing”.
2. Trình tự phát triển đã được nêu ra. Chương trình học của hình tướng đến trước tiên. Hình tướng chịu sự chi phối của dục vọng, và dục vọng tăng cường được hiểu là “khát khao”.
3. The following of desire and longing can only lead to “pain”, because such a pursuit keeps a human being divided from his/her higher nature; that division creates dissonance; dissonance (prolonged and unresolved) is pain.
3. Việc chạy theo dục vọng và khát khao chỉ có thể dẫn đến “đau đớn”, vì sự theo đuổi ấy khiến con người vẫn chia lìa với bản chất cao siêu của mình; sự chia lìa ấy tạo nên bất hoà; bất hoà (kéo dài và không được giải quyết) chính là đau đớn.
4. “Assuaging waters” in their first mode, represent the harmonizing of the emotional/desire nature, through the incipient power of love. The aspiring soul-in-incarnation touches the realm of beauty, the realm of soul.
4. Ở hình thức đầu tiên, “những dòng nước xoa dịu” tượng trưng cho sự hài hoà hoá bản chất cảm xúc/dục vọng nhờ quyền năng mới chớm nở của tình thương. Linh hồn đang nhập thể, mang khát vọng vươn lên, tiếp xúc với cõi của cái đẹp, cõi linh hồn.
5. The “little fire” is the preliminary use of the mind to clarify the path of life.
5. “Ngọn lửa nhỏ” là bước đầu sử dụng thể trí để làm sáng tỏ con đường của sự sống.
6. It is clear that we are here describing an alchemical formula.
6. Rõ ràng, ở đây chúng ta đang mô tả một công thức luyện kim.
7. The “tiny sphere” may be thought of as the ‘sphere of mind’. The entire aura is, relatively, also a “tiny sphere”.
7. Có thể xem “khối cầu nhỏ bé” là ‘khối cầu của thể trí’. Xét một cách tương đối, toàn bộ hào quang cũng là một “khối cầu nhỏ bé”.
8. The “tiny fire” grows in intensity and the unsuspected “moisture” within the sphere condenses. The moisture is “seen” because of condensation. Conditions grow more opaque as visible moisture turns into “dense fog”. This happens because desire and feeling become inflamed by the growing fire. Intensified desire blots out the light.
8. “Ngọn lửa nhỏ bé” tăng dần cường độ, và “hơi ẩm” không ai ngờ tới trong khối cầu ngưng tụ lại. Hơi ẩm trở nên “thấy được” do ngưng tụ. Tình trạng ngày càng mờ đục khi hơi ẩm thấy được biến thành “sương mù dày đặc”. Điều này xảy ra vì ngọn lửa đang lớn dần làm dục vọng và cảm xúc bùng cháy. Dục vọng tăng cường che lấp ánh sáng.
9. The ascending unit is temporarily lost. Harmony with soul remains unachieved, prevented by intensified desire; hence, the sad bewilderment.
9. Đơn vị đang tiến lên tạm thời lạc lối. Sự hài hoà với linh hồn vẫn chưa đạt được, do dục vọng tăng cường ngăn trở; vì thế mới có nỗi hoang mang buồn bã.
10. A light is shining, but it is an illusory light, though seeming to such individuals, real enough.
10. Một ánh sáng đang chiếu rọi, nhưng đó là ánh sáng hư ảo, dù đối với những người ấy, nó có vẻ hoàn toàn chân thực.
"Fierce grows the heat; next comes the loss of power to suffer. When this stage has been outgrown, there comes the shining of the unobstructed Sun and the clear bright light of Truth. This is the path back to the hidden centre.
"Sức nóng trở nên dữ dội; tiếp đến là sự mất đi khả năng chịu đau khổ. Khi đã vượt qua giai đoạn này, Mặt Trời không còn bị che khuất toả sáng, cùng ánh sáng trong trẻo, rạng ngời của Chân Lý. Đây là con đường trở về trung tâm ẩn giấu.
1. The burning intensifies until all personality sentiency is burned away. Fire has eliminated all ‘watery’ attachments. Only when there is some form of attachment can there be pain because attachment makes the rending process possible. Attachment is a dualistic act.
1. Sự thiêu đốt tăng cường cho đến khi toàn bộ khả năng cảm nhận của phàm ngã bị thiêu huỷ. Lửa đã loại bỏ mọi sự quyến luyến mang tính ‘nước’. Chỉ khi có một hình thức quyến luyến nào đó mới có thể có đau đớn, vì sự quyến luyến khiến tiến trình xé lìa trở nên khả hữu. Quyến luyến là một hành vi nhị nguyên.
2. The power to suffer is can be understood as preoccupation with evident inharmonies. Suffering can cease in two ways; inharmonies can be harmonized, bringing release; or, inharmonies may for a time remain, but the consciousness has learned to abstract itself from them. When desire for life in the lower worlds ceases, suffering ceases. This, the Buddha has taught us through His Four Noble Truths.
2. Có thể hiểu khả năng chịu đau khổ là sự bận tâm với những bất hoà hiển nhiên. Đau khổ có thể chấm dứt theo hai cách: những bất hoà có thể được điều hoà, đem lại sự giải thoát; hoặc những bất hoà có thể còn tồn tại một thời gian, nhưng tâm thức đã học cách rút khỏi chúng. Khi dục vọng sống trong các cõi thấp chấm dứt, đau khổ chấm dứt. Đức Phật đã dạy chúng ta điều này qua Tứ Diệu Đế của Ngài.
3. The power of soul love will also contribute to the negation of suffering.
3. Quyền năng tình thương của linh hồn cũng góp phần xoá bỏ đau khổ.
4. The “Sun” is referenced throughout the various sections of the stanza. The clue to the meaning of the “unobstructed Sun” comes when we realize that not only the personality, but the causal body, too, is an obstruction. The spiritual triad is the “unobstructed Sun”, and on a still higher turn of the spiral, the monad is that Sun.
4. “Mặt Trời” được nhắc đến xuyên suốt các phần khác nhau của bài kệ. Manh mối để hiểu ý nghĩa của “Mặt Trời không còn bị che khuất” xuất hiện khi chúng ta nhận ra rằng không chỉ phàm ngã mà cả thể nguyên nhân cũng là một chướng ngại. Tam Nguyên Tinh Thần là “Mặt Trời không còn bị che khuất”, và ở một vòng xoắn cao hơn nữa, chân thần chính là Mặt Trời ấy.
5. The symbol of the “Sun” is closely related to buddhic energy and to the plane of buddhi. When we hear of the clear bright light of Truth”, buddhi is again suggested.
5. Biểu tượng “Mặt Trời” liên hệ mật thiết với năng lượng Bồ đề và cõi Bồ đề. Khi nghe nói đến “ánh sáng trong trẻo, rạng ngời của Chân Lý”, chúng ta lại được gợi nhắc đến Bồ đề.
6. The light shed by the rising of the “unobstructed Sun” throws light upon the Path leading back to the monad, the “hidden center”. The deepest center of any system is always hidden.
6. Ánh sáng toả ra khi “Mặt Trời không còn bị che khuất” mọc lên soi sáng Đường Đạo dẫn trở về chân thần, “trung tâm ẩn giấu”. Trung tâm sâu thẳm nhất của bất cứ hệ thống nào cũng luôn ẩn giấu.
"Use pain. Call for the fire, O Pilgrim, in a strange and foreign land. The waters wash away the mud and slime of nature's growth. The fires burn the hindering forms which seek to hold the pilgrim back and so bring release. The living waters, as a river, sweep the pilgrim to the Father's Heart. The fires destroy the veil, hiding the Father's Face."
"Hãy sử dụng đau đớn. Hãy cầu gọi lửa, hỡi Người Hành Hương nơi miền đất xa lạ. Những dòng nước cuốn trôi bùn và nhớt nhầy từ sự sinh trưởng của thiên nhiên. Những ngọn lửa thiêu huỷ các hình tướng chướng ngại tìm cách níu giữ người hành hương, và nhờ đó đem lại sự giải thoát. Những dòng nước hằng sống, như một dòng sông, cuốn người hành hương đến Trái Tim của Cha. Những ngọn lửa huỷ diệt bức màn che giấu Dung Nhan của Cha."
1. We end this beautiful alchemical stanza with directives and injunctions for the earnest Pilgrim. In fact, the human being is being addressed as if he/she were the monad, the Pilgrim in the “strange and foreign land”—the deserts, seas and fires of the three lower worlds. Eventually, even the world of the spiritual triad comes to be regarded as a “foreign land”.
1. Chúng ta kết thúc bài kệ luyện kim đẹp đẽ này bằng những chỉ dẫn và huấn lệnh dành cho Người Hành Hương tha thiết. Thật ra, lời ở đây nói với con người như thể người ấy là chân thần, Người Hành Hương nơi “miền đất xa lạ”—những sa mạc, biển cả và ngọn lửa của ba cõi thấp. Cuối cùng, ngay cả thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần cũng được xem là một “miền đất xa lạ”.
2. The right response to pain is not suffering but use. All is to be used. This, of course, will require the detachment which only a focus within the soul and spiritual triad can provide.
2. Đáp ứng đúng đắn với đau đớn không phải là chịu đau khổ mà là sử dụng nó. Mọi sự đều phải được sử dụng. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi sự không quyến luyến mà chỉ việc tập trung trong linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần mới có thể đem lại.
3. In this summary section, two kinds of fires and two kinds of waters are referenced.
3. Phần tổng kết này đề cập đến hai loại lửa và hai loại nước.
4. The first waters are the ‘waters of grief’, the ‘tears of purification’, which eventually harmonize the astral body of the aspiring human being, washing away the unholy mixture of earth and water we call “mud” and “slime”. We have only to recall from the Secret Doctrinethe loathsome ‘creations’ wrought by “Nature unaided” to realize the nature of “mud” and “slime”.
4. Những dòng nước đầu tiên là ‘những dòng nước sầu muộn’, ‘những giọt lệ thanh luyện’, cuối cùng làm hài hoà thể cảm dục của con người mang khát vọng, cuốn trôi hỗn hợp bất tịnh giữa đất và nước mà chúng ta gọi là “bùn” và “nhớt nhầy”. Chúng ta chỉ cần nhớ lại trong Giáo Lý Bí Nhiệm những ‘tạo vật’ ghê tởm do “Thiên Nhiên không được trợ giúp” tạo ra là có thể nhận ra bản chất của “bùn” và “nhớt nhầy”.
5. The first fires are the quasi-liberating fires of mind which burn through lesser and inhibiting forms created by the benighted indwelling consciousness. Such forms are ‘seen through’ and, thus, repudiated.
5. Những ngọn lửa đầu tiên là những ngọn lửa của thể trí có phần mang tính giải thoát, thiêu huỷ những hình tướng thấp kém và gây cản trở do tâm thức vô minh ngự bên trong tạo ra. Người ta ‘nhìn thấu’ những hình tướng ấy và do đó khước từ chúng.
6. The “living waters” are entirely higher than the waters of the first kind. These are the “waters” of the buddhic plane. Buddhi is connected with the “Heart of God”, which can be found in an even more intensive form on the monadic plane, where the “Father’s Heart” and the “Father’s Home” are united.
6. “Những dòng nước hằng sống” hoàn toàn cao hơn những dòng nước thuộc loại thứ nhất. Đây là “những dòng nước” của cõi Bồ đề. Bồ đề liên kết với “Trái Tim của Thượng đế”, vốn có thể được tìm thấy dưới một hình thức mãnh liệt hơn nữa trên cõi chân thần, nơi “Trái Tim của Cha” và “Nhà của Cha” hợp nhất.
7. Those who have experienced buddhi know the flow of love which belongs to the experience. This “flow” is a river of liquid love uniting and harmonizing all aspects of creation.
7. Những ai đã trải nghiệm Bồ đề đều biết dòng chảy tình thương thuộc về trải nghiệm ấy. “Dòng chảy” này là một dòng sông tình thương lỏng, hợp nhất và làm hài hoà mọi phương diện của sự sáng tạo.
8. The final fire may, itself, be considered to occur in two forms. The first of these higher fires (really a union of fire by friction, solar fire and, especially, electric fire) destroys the causal body. But it can be asked, when this destruction occurs, is the “Father’s Face” really revealed?
8. Có thể xem chính ngọn lửa cuối cùng xuất hiện dưới hai hình thức. Ngọn lửa đầu tiên trong số những ngọn lửa cao siêu này (thực ra là sự hợp nhất của Lửa ma sát, Lửa Thái dương và đặc biệt là Lửa Điện) huỷ diệt thể nguyên nhân. Nhưng có thể đặt câu hỏi: khi sự huỷ diệt này xảy ra, “Dung Nhan của Cha” có thực sự hiển lộ không?
9. The “Father’s Face” is, we are told, only revealed at the fifth initiation, when the candidate, now a Master, can “see the Father face to face”. Thus there is another burning ground, following that of the fourth initiation, which makes this possible.
9. Chúng ta được cho biết rằng “Dung Nhan của Cha” chỉ hiển lộ ở lần điểm đạo thứ năm, khi ứng viên, lúc này đã là một Chân sư, có thể “thấy Cha mặt đối mặt”. Vì vậy, có một vùng đất cháy khác, tiếp sau vùng đất cháy của lần điểm đạo thứ tư, khiến điều này trở nên khả hữu.
10. A still higher fire, not only reveals the “Father in Heaven” (our monadic aspect), but brings about complete identification with the monad. This is the fire which burns through the spiritual triad, considering that triad as the personality of the monad and, therefore, at length, an obstruction. It requires, however, a very high stage of evolution, if the permanent atoms of the spiritual triad are no longer to be necessary. Anything that would be said about such a stage and the process of the monad’s divestiture of the triadal permanent atoms would necessarily be entirely speculative.
10. Một ngọn lửa cao hơn nữa không chỉ làm hiển lộ “Cha trên Trời” (phương diện chân thần của chúng ta), mà còn đem lại sự đồng hoá hoàn toàn với chân thần. Đây là ngọn lửa thiêu xuyên qua Tam Nguyên Tinh Thần, xem Tam nguyên ấy là phàm ngã của chân thần và do đó, cuối cùng, là một chướng ngại. Tuy nhiên, phải đạt đến một giai đoạn tiến hoá rất cao thì các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần mới không còn cần thiết nữa. Bất cứ điều gì nói về một giai đoạn như thế và tiến trình chân thần rũ bỏ các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần tất nhiên đều hoàn toàn mang tính suy đoán.
DISCIPLESHIP AND ITS END
ĐỊA VỊ ĐỆ TỬ VÀ SỰ KẾT THÚC CỦA NÓ
There is a curious and ancient Atlantean chant which is no longer used but in those far off times was chanted by the initiate who took the third initiation—the consummating initiation of that period. It goes as follows. The translation of the symbols in which it was written necessitates the loss of rhythm and potency.
Có một bài tụng Atlantis cổ xưa và kỳ lạ, nay không còn được sử dụng, nhưng vào những thời xa xưa ấy, điểm đạo đồ đã tụng bài này khi trải qua lần điểm đạo thứ ba—lần điểm đạo viên mãn của thời kỳ đó. Bài tụng như sau. Việc dịch những biểu tượng dùng để viết bài tụng tất yếu làm mất đi nhịp điệu và uy lực.
1. There is much beauty in the following “chant” (as the Tibetan calls it). We no longer know the melody, if there was one, or the ‘pitch’ on which it was chanted or intoned. Nor do we know the rhythm. All these would be of great interest. The meaning, however, we can grasp.
1. “Bài tụng” sau đây (theo cách gọi của Chân sư Tây Tạng) chứa đựng nhiều vẻ đẹp. Chúng ta không còn biết giai điệu, nếu từng có, hay ‘cao độ’ dùng để tụng hoặc ngâm bài này. Chúng ta cũng không biết nhịp điệu. Tất cả những điều ấy hẳn rất đáng quan tâm. Tuy nhiên, chúng ta có thể nắm bắt ý nghĩa.
2. One wonders how Master DK knows about such ancient forms of words. Does He find them in the inner libraries to which He has access? Or does He, perhaps, remember using them?
2. Người ta tự hỏi làm sao Chân sư DK biết được những hình thức ngôn từ cổ xưa đến vậy. Ngài tìm thấy chúng trong những thư viện bên trong mà Ngài có thể tiếp cận chăng? Hay có lẽ Ngài nhớ đã từng sử dụng chúng?
3. The times were, indeed, far off, because the end of the last part of the Atlantean Civilization occurred more than 800,000 years ago according to The Secret Doctrine.
3. Quả thật, đó là những thời rất xa xưa, vì theo Giáo Lý Bí Nhiệm,
4. We learn that the third initiation was the consummating initiation of the Atlantean period. This stands to reason when we learn that both the Christ and the Buddha (the most advanced of our present dual humanity) took the third initiation during the Atlantean period.
4. Chúng ta được biết rằng lần điểm đạo thứ ba là lần điểm đạo viên mãn của thời kỳ Atlantis. Điều này hợp lý khi chúng ta biết rằng cả Đức Christ lẫn Đức Phật (hai vị tiến hoá cao nhất trong hai bộ phận nhân loại hiện nay của chúng ta) đều trải qua lần điểm đạo thứ ba trong thời kỳ Atlantis.
5. After studying the chant, we must wonder why it is no longer in use. It is probably the result of our present inability to read the symbols in which it is written.
5. Sau khi nghiên cứu bài tụng, chúng ta hẳn phải tự hỏi vì sao bài này không còn được sử dụng. Có lẽ đó là do hiện nay chúng ta không thể đọc được những biểu tượng dùng để viết bài tụng.
6. The right use of mantric chant with full rhythm and potency will probably emerge during the New Age. Many ancient practices will be restored and will probably appear entirely new to us.
6. Việc sử dụng đúng đắn cách tụng mantram với đầy đủ nhịp điệu và uy lực có lẽ sẽ xuất hiện trong Kỷ Nguyên Mới. Nhiều thực hành cổ xưa sẽ được khôi phục và có lẽ sẽ có vẻ hoàn toàn mới mẻ đối với chúng ta.
"I stand between the Heavens and Earth! I vision God; I see the forms God took. I hate them both. Naught do [679] they mean to me, for one I cannot reach, and for the lower of the two I have no longer any love.
"Tôi đứng giữa Trời và Đất! Tôi linh thị Thượng đế; tôi thấy những hình tướng Thượng đế đã khoác lấy. Tôi căm ghét cả hai. Đối với tôi, [679] cả hai đều chẳng có ý nghĩa gì, vì một bên tôi không thể vươn tới, còn bên thấp hơn trong hai bên thì tôi không còn chút tình thương nào nữa.
1. The state of wretchedness of the disciple poised between heaven and ‘hell’ is suggested.
1. Ở đây gợi lên trạng thái khốn khổ của người đệ tử lơ lửng giữa thiên đường và ‘địa ngục’.
2. Heaven is the world of the soul on its own plane. Earth is the three lower worlds.
2. Trời là thế giới của linh hồn trên chính cõi của linh hồn. Đất là ba cõi thấp.
3. We are presented with a vivid description of the disciple’s dual consciousness.
3. Chúng ta có một mô tả sống động về tâm thức kép của người đệ tử.
4. There is some sense of the divine, “God”, and also a realization of the forms taken during the long and repetitive processes of incarnation.
4. Có một phần cảm nhận về điều thiêng liêng, về “Thượng đế”, đồng thời cũng có sự nhận biết về những hình tướng đã khoác lấy trong các tiến trình lâm phàm kéo dài và lặp đi lặp lại.
5. The wretchedness of the experience is dramatized in the sentence, “I hate them both.” The disciple hates not only that which imprisons him but the good that he cannot yet achieve.
5. Nỗi khốn khổ của trải nghiệm này được khắc hoạ mạnh mẽ trong câu: “Tôi căm ghét cả hai.” Người đệ tử căm ghét không chỉ những gì giam cầm mình mà cả điều tốt đẹp mình chưa thể đạt tới.
6. The disciple approaching the third degree is repelled by life in the lower worlds, and at the same time incapable of achieving his fondest dreams. Despair temporarily accompanies this inability, and the strange psychological rejection of that which is so much coveted.
6. Người đệ tử đang tiến gần cấp độ thứ ba cảm thấy ghê sợ đời sống trong các cõi thấp, đồng thời không thể thực hiện những ước mơ tha thiết nhất của mình. Sự bất lực này tạm thời đi kèm với tuyệt vọng và sự khước từ kỳ lạ về mặt tâm lý đối với chính điều mình khao khát đến thế.
7. The disciple here described stands in a no-man’s-land of existential dissatisfaction. This condition, however, is temporary.
7. Người đệ tử được mô tả ở đây đứng trong một miền trung gian vô định của sự bất mãn về hiện tồn. Tuy nhiên, tình trạng này chỉ là tạm thời.
"Torn I am. Space and its Life I cannot know, and so I want it not. Time and its myriad forms, I know too well. Pendant I hang betwixt the two, desiring neither.
"Tôi bị giằng xé. Không Gian và Sự Sống của nó, tôi không thể biết, nên tôi không muốn. Thời Gian cùng muôn vàn hình tướng của nó, tôi biết quá rõ. Tôi treo lơ lửng giữa hai bên, chẳng mong muốn bên nào.
1. The chant continues to describe the painful rending process.
1. Bài tụng tiếp tục mô tả tiến trình xé lìa đau đớn.
2. The disciple is torn, interestingly, between Time and Space. In the chant Space is given a superior position. It represents freedom and expansion. It is associated with “Ouranos” (Uranus), Lord of “Heaven”.
2. Điều thú vị là người đệ tử bị giằng xé giữa Thời Gian và Không Gian. Trong bài tụng, Không Gian giữ vị trí cao hơn. Nó tượng trưng cho tự do và sự mở rộng. Nó gắn với “Ouranos” (Sao Thiên Vương), Chúa Tể của “Trời”.
3. Time, however, is associated with Saturn and all the limitation for which it is renowned.
3. Tuy nhiên, Thời Gian gắn với Sao Thổ và mọi giới hạn vốn làm nên danh tiếng của hành tinh này.
4. Saturn represents the familiar in relation to which the disciple experiences disgust, even hatred. He is functioning under the “Law of Repulse”.
4. Sao Thổ tượng trưng cho những gì quen thuộc mà người đệ tử cảm thấy chán ghét, thậm chí căm hận. Y đang hoạt động dưới “Định luật Đẩy Lùi”.
5. Uranus/Space, represents the new and all that is, paradoxically, hated because it is unachievable.
5. Sao Thiên Vương/Không Gian tượng trưng cho cái mới và tất cả những gì, nghịch lý thay, bị căm ghét vì không thể đạt được.
6. The aspiring disciple is swinging between the pairs of opposites. He is pendant, the “Hanged Man”, Caught between an attraction to things which cannot be consummated, and a repulsion from that which has been long experienced, his is the depression of desirelessness.
6. Người đệ tử mang khát vọng dao động giữa các cặp đối cực. Y treo lơ lửng, là “Người Treo Ngược”. Mắc kẹt giữa sức hút của những điều không thể đạt đến viên mãn và sự ghê sợ đối với những gì đã trải nghiệm từ lâu, y rơi vào nỗi chán nản của trạng thái không còn ham muốn.
"God from high Heaven speaks. There is a change. I hear with ear attentive, and, listening, turn my head. That which I visioned, yet visioning could not reach, is nearer to my heart. Old longings come again, yet die. Old chains of glamour snap. Forward I rush.
"Thượng đế từ Trời cao cất tiếng. Có một sự đổi thay. Tôi chăm chú lắng tai nghe và, trong khi lắng nghe, quay đầu lại. Điều tôi đã linh thị, nhưng dẫu linh thị vẫn không thể vươn tới, nay gần trái tim tôi hơn. Những khát khao cũ trở lại, rồi tàn lụi. Những xiềng xích ảo cảm cũ đứt tung. Tôi lao về phía trước.
1. Fortunately, the disciple need not do all to remedy this pendant state.
1. May thay, người đệ tử không phải làm tất cả để khắc phục trạng thái lơ lửng này.
2. The “Voice of God” is heard. The energy changes. The disciple hearkens to the heavenly Word.
2. “Tiếng Nói của Thượng đế” vang đến. Năng lượng thay đổi. Người đệ tử lắng nghe Linh từ từ trời cao.
3. The effect of this Word makes it possible for him to turn his head. The vision of Heaven comes closer and seems more attainable. He is encouraged.
3. Tác động của Linh từ này khiến y có thể quay đầu lại. Linh ảnh về Trời đến gần hơn và dường như dễ đạt tới hơn. Y được khích lệ.
4. Although the forces of the ancient past rise again, they easily fade away and die.
4. Dù những mãnh lực của quá khứ xa xưa lại trỗi dậy, chúng dễ dàng phai nhạt rồi tàn lụi.
5. An advance is made against glamor. This powerful phrase describes the advance: “The chains of glamour snap.”
5. Có một bước tiến trong việc chống lại ảo cảm. Câu đầy uy lực này mô tả bước tiến ấy: “Những xiềng xích ảo cảm đứt tung.”
6. Released, temporarily, from the slavery of past magnetisms, the disciple who would be initiate rushes forward towards Heaven and the Voice.
6. Tạm thời thoát khỏi sự nô dịch của những từ điện quá khứ, người đệ tử hướng tới địa vị điểm đạo đồ lao về phía trước, hướng đến Trời và Tiếng Nói.
"Myriads of voices speak and halt me in my tracks. The thunder of the sounds of earth shuts out the voice of God. I turn me on my forward path, and vision once again the long held joys of earth, and flesh and kin. I lose the vision of eternal things. The voice of God dies out.
"Muôn vàn tiếng nói cất lên, chặn đứng bước chân tôi. Tiếng gầm của những âm thanh trần thế át đi tiếng nói của Thượng đế. Trên con đường tiến tới, tôi quay lại và một lần nữa thấy những niềm vui bấy lâu của trần gian, xác thịt và thân quyến. Tôi mất đi linh thị về những điều vĩnh cửu. Tiếng nói của Thượng đế lịm tắt.
1. But the experience of duality is not over. The lower forces and energies have not been overcome and they pull with strength upon the disciple who thought he was advancing.
1. Nhưng trải nghiệm nhị nguyên vẫn chưa chấm dứt. Những mãnh lực và năng lượng thấp chưa bị chế ngự, và chúng lôi kéo mạnh mẽ người đệ tử vốn tưởng mình đang tiến lên.
2. He is halted in his tracks. The many sounds of earth overpower the “voice of God”.
2. Bước chân y bị chặn đứng. Muôn vàn âm thanh trần thế lấn át “tiếng nói của Thượng đế”.
3. The disciple revolves and faces towards the conditions which have for so long imprisoned him.
3. Người đệ tử xoay lại, hướng về những hoàn cảnh đã giam cầm y bấy lâu.
4. But now, again under the sway of glamor and illusion, they seemattractive to him.
4. Nhưng giờ đây, một lần nữa dưới sự chi phối của ảo cảm và ảo tưởng, chúng có vẻ hấp dẫn đối với y.
5. He capitulates to the appeal of the familiar: the joys of earth, flesh and kin hold him once again, and his vision of things eternal dies. He no longer hears the voice of God.
5. Y đầu hàng sức quyến rũ của những gì quen thuộc: những niềm vui của trần gian, xác thịt và thân quyến lại níu giữ y, và linh thị của y về những điều vĩnh cửu lịm tắt. Y không còn nghe tiếng nói của Thượng đế.
6. If we turn our concentration towards that which long has held us, the vision we are seeking to cultivate is weakened. “Heaven” is not so strongly established in the lives of most of us that it cannot be overcome by the force of the familiar. If we turn our eyes to earth, we shall strengthen its hold over us. One cannot contemplate with equal love the energies which oppose each other.
6. Nếu chúng ta hướng sự tập trung vào những gì từ lâu đã níu giữ mình, linh thị mà chúng ta đang tìm cách vun bồi sẽ suy yếu. “Trời” chưa được xác lập vững chắc trong đời sống của đa số chúng ta đến mức sức mạnh của những gì quen thuộc không thể lấn át. Nếu hướng mắt về trần gian, chúng ta sẽ củng cố sự kìm giữ của nó đối với mình. Không thể chiêm ngưỡng với tình thương ngang nhau những năng lượng đối nghịch nhau.
"Torn again am I, but only for a little time. Backward and forward shifts my little self, e'en as a bird soars into heaven and settles back again upon the tree. Yet God, in His high place, outlasts the little bird. Thus do I know that God will victor be and later hold my mind and me in thrall.
"Tôi lại bị giằng xé, nhưng chỉ trong chốc lát. Cái ngã nhỏ bé của tôi dịch chuyển tới lui, như một con chim bay vút lên trời rồi lại đậu xuống cây. Tuy nhiên, Thượng đế ở chốn cao của Ngài tồn tại lâu bền hơn con chim nhỏ bé. Vì vậy, tôi biết Thượng đế sẽ chiến thắng và rồi sẽ nắm giữ thể trí cùng chính tôi trong sự ràng buộc của Ngài.
1. The rending and tearing process continues. The duration of the changes shortens.
1. Tiến trình xé lìa và giằng xé tiếp diễn. Thời gian của những biến đổi rút ngắn lại.
2. The little self is the area of fluctuation, not the Higher Self.
2. Cái ngã nhỏ bé là nơi dao động, chứ không phải chân ngã.
3. The image of a bird periodically attempting to fly to heaven only to seek the security of the branch is most descriptive of the disciple’s state.
3. Hình ảnh một con chim hết lần này đến lần khác cố bay lên trời rồi lại tìm sự an toàn nơi cành cây mô tả hết sức xác đáng trạng thái của người đệ tử.
4. God and the little bird (the personality that would soar) are contrasted. God (the spirit/soul) is mighty, and, of course, will outlast the little bird.
4. Thượng đế và con chim nhỏ bé (phàm ngã muốn bay vút lên) được đặt trong thế đối chiếu. Thượng đế (tinh thần/linh hồn) hùng mạnh và dĩ nhiên sẽ tồn tại lâu bền hơn con chim nhỏ bé.
5. The one in thrall to the lower worlds shall be in thrall to God. When God captures us and enslaves us in a higher way, not only is God the victor but so are we.
5. Người đang chịu sự ràng buộc của các cõi thấp sẽ chịu sự ràng buộc của Thượng đế. Khi Thượng đế thu phục và ràng buộc chúng ta theo một cách cao hơn, không chỉ Thượng đế chiến thắng mà cả chúng ta cũng vậy.
6. Despite his fluctuating experience, a firm faith arises within struggling disciple. He senses that God’s victory is imminent.
6. Bất chấp trải nghiệm dao động của mình, một đức tin vững chắc nảy sinh trong người đệ tử đang phấn đấu. Y cảm thấy chiến thắng của Thượng đế đã gần kề.
"Hark to the joyous paean that I chant; the work is done. My ear is deaf to all the calls of earth, except to that small voice of all the hidden souls within the outer forms, for they are as myself; with them I am at-one.
"Hãy lắng nghe khúc khải hoàn hoan hỉ tôi đang tụng; công việc đã hoàn tất. Tai tôi không còn nghe mọi tiếng gọi của trần gian, ngoại trừ tiếng nói nhỏ nhẹ của tất cả những linh hồn ẩn giấu trong các hình tướng bên ngoài, vì họ cũng như tôi; với họ, tôi là một.
1. The disciple breaks through. He consciousness is filled with joyous song—the paean of victory.
1. Người đệ tử đột phá. Tâm thức y tràn ngập khúc ca hoan hỉ—khúc khải hoàn chiến thắng.
2. The lower voices and sounds have no more hold over him. He need no longer struggle with them because, in fact, his ear has become deaf to those sounds.
2. Những tiếng nói và âm thanh thấp không còn níu giữ y. Y không cần tiếp tục đấu tranh với chúng, vì thật ra tai y đã không còn nghe những âm thanh ấy.
3. He is now deaf to all allurement, but still sensitive to the still small voice of soul imbedded within every form.
3. Giờ đây, y không còn nghe mọi lời quyến rũ, nhưng vẫn nhạy cảm với tiếng nói nhỏ nhẹ, tĩnh lặng của linh hồn ẩn trong mọi hình tướng.
4. Though free now himself, he realizes his oneness with the souls still imprisoned in form.
4. Dù bản thân nay đã tự do, y nhận ra mình là một với những linh hồn vẫn còn bị giam cầm trong hình tướng.
5. A great sense of unity descends upon him. He identifies with all humanity. He is swept by buddhic energy; the first great at-one-ment has occurred.
5. Một cảm nhận lớn lao về sự hợp nhất tràn ngập y. Y đồng hoá với toàn thể nhân loại. Năng lượng Bồ đề cuốn lấy y; sự hợp nhất lớn lao đầu tiên đã xảy ra.
"God's voice rings clear, and in its tones and overtones the little voices of the little forms dim and fade out. I dwell within a world of unity. I know all souls are one.
"Tiếng nói của Thượng đế vang lên trong trẻo, và trong những âm điệu cùng bồi âm của tiếng nói ấy, những tiếng nói nhỏ bé của các hình tướng nhỏ bé mờ dần rồi lịm tắt. Tôi sống trong một thế giới hợp nhất. Tôi biết mọi linh hồn là một.
1. The chant uses a musical analogy. The triumphant disciple hears all the rich variety of God’s voice.
1. Bài tụng dùng một phép tương đồng âm nhạc. Người đệ tử chiến thắng nghe được toàn bộ sự đa dạng phong phú trong tiếng nói của Thượng đế.
2. These heavenly tones are far more real than the “voices of the little forms” which dim and fade. The greater Sound has overcome the myriad lesser sounds.
2. Những âm điệu từ trời cao này chân thực hơn rất nhiều so với “những tiếng nói của các hình tướng nhỏ bé” đang mờ dần rồi lịm tắt. Âm Thanh lớn hơn đã chế ngự muôn vàn âm thanh nhỏ hơn.
3. The disciple, now initiate, lives in ‘uni-son’—the sonic equivalent of unity.
3. Người đệ tử, nay là điểm đạo đồ, sống trong sự ‘đồng thanh’—tương ứng của sự hợp nhất trong âm thanh.
4. Oneness is no longer a theory. It is known.
4. Sự nhất thể không còn là một lý thuyết. Đó là điều đã biết.
5. The second principle of the Secret Doctrine is established in consciousness: “All souls are one with the Oversoul.”
5. Nguyên khí thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm được xác lập trong tâm thức: “Mọi linh hồn là một với đại hồn.”
"Swept am I by the universal Life and as I sweep upon my onward way—the way of God—I see all lesser energies die out. I am the One; I, God. I am the form in which all forms are merged. I am the soul in which all souls are fused. I am the Life, and in that Life, all little lives remain."
"Sự Sống vũ trụ cuốn lấy tôi, và khi tôi tiến ào trên con đường phía trước—con đường của Thượng đế—tôi thấy mọi năng lượng nhỏ hơn lịm tắt. Tôi là Đấng Duy Nhất; Tôi, Thượng đế. Tôi là hình tướng trong đó mọi hình tướng hoà nhập. Tôi là linh hồn trong đó mọi linh hồn dung hợp. Tôi là Sự Sống, và trong Sự Sống ấy, mọi sự sống nhỏ bé tồn tại."
1. The Presence of Divinity intensifies. The initiate experiences a taste of “universal Life”—the life which lies even beyond the life of our Planetary Logos.
1. Sự Hiện Diện của Thiên Tính trở nên mãnh liệt hơn. Điểm đạo đồ nếm trải phần nào “Sự Sống vũ trụ”—sự sống vượt xa cả sự sống của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.
2. A vast vision of unity, reminiscent of the Great Vision in the Bhagavad Gita, presents itself.
2. Một linh thị bao la về sự hợp nhất xuất hiện, gợi nhớ Linh Thị Vĩ Đại trong Chí Tôn Ca.
3. The Way of God appears. But it is a Way which reveals the divinity not only of spirit/soul but of form.
3. Con Đường của Thượng đế xuất hiện. Nhưng đó là một Con Đường làm hiển lộ thiên tính không chỉ của tinh thần/linh hồn mà cả của hình tướng.
4. God and Form are one. The initiate knows that he is God, Form, and all-inclusive Life. He embraces all forms of Life. The sense of separation is forever ended.
4. Thượng đế và Hình Tướng là một. Điểm đạo đồ biết rằng mình là Thượng đế, Hình Tướng và Sự Sống bao gồm tất cả. Y bao hàm mọi hình thức của Sự Sống. Cảm thức chia rẽ chấm dứt vĩnh viễn.
5. The Many and the One are revealed to be identical. Synthesis supervenes. The great Pairs of Opposites are resolved. “Two Merge with One.”
5. Cái Nhiều và Đấng Duy Nhất hiển lộ là đồng nhất. Sự tổng hợp xuất hiện. Những Cặp Đối Cực lớn lao được hoá giải. “Hai Hoà Nhập Với Một.”
These words, chanted in the ancient formulas on peculiar and selected notes, were most potent and brought definite results in certain ancient ceremonies that have long since died out.
Những lời này, được xướng tụng trong các công thức cổ xưa theo những âm điệu đặc biệt và được tuyển chọn, có quyền năng rất lớn và đem lại những kết quả rõ rệt trong một số nghi lễ cổ xưa vốn đã mai một từ lâu.
1. The Tibetan’s description of the ancient practices is extremely interesting.
1. Mô tả của Chân sư Tây Tạng về các thực hành cổ xưa vô cùng thú vị.
2. One senses that, although these practices have long since died out, they would still be of great value in the coming Age. Otherwise, why would He tell us about such chants, practices and ceremonies?
2. Người ta cảm thấy rằng, mặc dù các thực hành này đã mai một từ lâu, chúng vẫn sẽ có giá trị lớn trong Kỷ Nguyên sắp tới. Nếu không, tại sao Ngài lại nói với chúng ta về những bài tụng, thực hành và nghi lễ như thế?
3. One senses that the chant not only described a process leading to the third initiation, but induced processes leading thereto.
3. Người ta cảm thấy rằng bài tụng không chỉ mô tả một tiến trình dẫn đến lần điểm đạo thứ ba, mà còn khơi động những tiến trình dẫn đến đó.
4. It is clear that humanity has forgotten much of value which must be restored with the Restoration of the Mysteries.
4. Rõ ràng nhân loại đã quên nhiều điều giá trị cần được khôi phục cùng với sự Phục Hồi Các Bí Pháp.
5. A greatness of culture and civilization presently inconceivable to us is on its way. Our task is to do all we can to ensure that the Hierarchy can externalize as expediently and beautifully as possible. More is not within our power. When Hierarchy is again visibly present with us, the longed for revelations will come and the world will be transformed—made anew. Surely this is worth our intensive labor.
5. Một nền văn hóa và văn minh vĩ đại mà hiện nay chúng ta chưa thể hình dung đang đến gần. Nhiệm vụ của chúng ta là làm tất cả những gì có thể để bảo đảm Thánh đoàn có thể ngoại hiện một cách thuận lợi và tốt đẹp nhất. Những gì vượt quá điều đó đều nằm ngoài khả năng của chúng ta. Khi Thánh đoàn lại hiện diện hữu hình giữa chúng ta, những sự mặc khải hằng mong đợi sẽ đến và thế giới sẽ chuyển đổi—được đổi mới. Chắc chắn điều này xứng đáng với nỗ lực hết mình của chúng ta.
[680]
[680]
14. PART II – 14. PHẦN II
commentary by Michael D. Robbins
bình giảng của Michael D. Robbins
Two questions always arise the moment the stage of discipleship is discussed: the problem of occult obedience and the nature of the vision. I would like to deal with these right at the beginning of any help which I may be able to give you. What is this occult obedience which a Master is supposed to exact? Today, the Masters are dealing with the highly mental type of disciple who believes in the freedom of the human will and consciousness and who resents the imposition of any so-called authority. The intellectual man will not accept any infringement of his freedom, and in this he is basically right. He objects to having to obey. This is today axiomatic. Out of this fundamental question, lesser ones arise which I would like to cite. Has the disciple to obey the slightest hint which the Master may give? Must every request and suggestion be accepted? Must all that a Master says be accepted as true and infallibly correct? Is the disciple wrong when he refuses (if he does) to recognise the Master’s point of view and the statements He may make? Will the fact of Accepted Discipleship limit his freedom of opinion or choice, coerce his judgment and make him simply a replica in thought of the Master’s thought? These are questions of importance.
Hai câu hỏi luôn nảy sinh ngay khi bàn đến giai đoạn địa vị đệ tử: vấn đề vâng phục huyền bí và bản chất của tầm nhìn. Tôi muốn bàn đến hai điều này ngay từ đầu trong bất kỳ sự trợ giúp nào mà Tôi có thể dành cho các bạn. Sự vâng phục huyền bí mà người ta cho rằng một Chân sư đòi hỏi là gì? Ngày nay, các Chân sư đang làm việc với kiểu đệ tử có trí tuệ phát triển cao, tin vào sự tự do của ý chí và tâm thức con người, đồng thời phản đối việc áp đặt bất kỳ cái gọi là quyền uy nào. Người trí thức sẽ không chấp nhận bất kỳ sự xâm phạm nào đến tự do của mình, và về cơ bản, y đúng trong điều này. Y phản đối việc phải vâng phục. Ngày nay, đây là điều hiển nhiên. Từ câu hỏi căn bản này nảy sinh những câu hỏi nhỏ hơn mà Tôi muốn nêu ra. Đệ tử có phải tuân theo cả gợi ý nhỏ nhất mà Chân sư có thể đưa ra không? Mọi yêu cầu và đề nghị đều phải được chấp nhận sao? Có phải mọi điều một Chân sư nói đều phải được chấp nhận là chân thật và hoàn toàn đúng đắn không? Đệ tử có sai không khi y từ chối—nếu y có từ chối—thừa nhận quan điểm của Chân sư và những phát biểu mà Ngài có thể đưa ra? Việc trở thành Đệ Tử Được Chấp Nhận có hạn chế quyền tự do quan điểm hay lựa chọn của y, cưỡng ép sự phán đoán của y và khiến tư tưởng của y chỉ đơn thuần là bản sao tư tưởng của Chân sư không? Đây là những câu hỏi quan trọng.
1. The Tibetan begins to deal with two problems fundamental to all disciplic training: the problems of occult obedience and of vision.
1. Chân sư Tây Tạng bắt đầu bàn đến hai vấn đề căn bản đối với mọi sự huấn luyện đệ tử: vấn đề vâng phục huyền bí và tầm nhìn.
2. There is much misunderstanding about the nature of occult obedience and Master DK seeks to set the matter straight at the outset.
2. Có nhiều hiểu lầm về bản chất của sự vâng phục huyền bí, và Chân sư DK tìm cách làm sáng tỏ vấn đề ngay từ đầu.
3. The modern disciple is different from his more devotional and less intelligent counterpart of former times. Today’s disciple is often a “highly mental type” and, with that increase in mentality, has come an increasing demand for freedom, even though the principle of freedom is incompletely understood. The modern, intelligent and, thus, more willful disciple believe he has a personal authority which must not be infringed (even by a Master). DK speaks directly here; such disciples object “to having to obey”.
3. Đệ tử thời nay khác với người đệ tử thời trước vốn sùng tín hơn và kém thông minh hơn. Ngày nay, đệ tử thường thuộc “kiểu người có trí tuệ phát triển cao” và cùng với sự gia tăng năng lực trí tuệ ấy là đòi hỏi ngày càng cao về tự do, dù nguyên khí tự do vẫn chưa được thấu hiểu đầy đủ. Đệ tử thời nay, thông minh và do đó cũng quyết ý hơn, tin rằng mình có một quyền uy cá nhân không được phép xâm phạm (ngay cả một Chân sư cũng vậy). Ở đây, Chân sư DK nói thẳng; những đệ tử như thế phản đối “việc phải vâng phục”.
4. Overall, DK considers this a good development, but one can imagine that it will necessitate an adaptation in the approach long-used by Masters in the training of Their chelas.
4. Nhìn chung, Chân sư DK xem đây là một sự phát triển tốt đẹp, nhưng có thể hình dung rằng điều này sẽ đòi hỏi sự điều chỉnh trong cách tiếp cận mà các Chân sư từ lâu đã dùng để huấn luyện các đệ tử của Các Ngài.
5. DK lists many associated questions which relate to the nature of occult obedience. They all amount to a single question: “just how closely must a disciple obey his Master”? If a disciple becomes an accepted disciple will this fact “limit his freedom of opinion or choice, coerce his judgment and make him simply a replica in thought of the Master’s thought”? The very thought that this last prospect may eventuate is a true horror to many disciples, especially those who do not yet understand the nature of occult obedience, and who have not yet really entered the Ashram. Had they done so they would know that such fear-based thoughts are unfounded and have no basis in reality.
5. Chân sư DK liệt kê nhiều câu hỏi liên quan đến bản chất của sự vâng phục huyền bí. Tất cả đều quy về một câu hỏi duy nhất: “đệ tử phải vâng phục Chân sư của mình sát đến mức nào”? Nếu một đệ tử trở thành đệ tử được chấp nhận, liệu điều này có “hạn chế quyền tự do quan điểm hay lựa chọn của y, cưỡng ép sự phán đoán của y và khiến tư tưởng của y chỉ đơn thuần là bản sao tư tưởng của Chân sư”? Chỉ riêng ý nghĩ rằng viễn cảnh cuối cùng này có thể xảy ra cũng đã là một nỗi kinh hoàng thực sự đối với nhiều đệ tử, nhất là những người chưa thấu hiểu bản chất của sự vâng phục huyền bí và chưa thực sự gia nhập ashram. Nếu đã gia nhập, họ sẽ biết rằng những ý nghĩ bắt nguồn từ sợ hãi như thế là vô căn cứ và không có cơ sở trong thực tại.
The obedience required is obedience to the Plan. It is not obedience to the Master, no matter what many old-style occult schools may say. The obedience which is asked of you is based on your growing recognition of the Plan for humanity, as it emerges in your consciousness through the processes of meditation and through definite service, based upon a growing love of your fellowmen.
Sự vâng phục được đòi hỏi là vâng phục Thiên Cơ. Đó không phải là vâng phục Chân sư, bất kể nhiều trường phái huyền bí kiểu cũ có thể nói gì. Sự vâng phục mà các bạn được yêu cầu dựa trên việc ngày càng nhận biết Thiên Cơ dành cho nhân loại, khi Thiên Cơ ấy dần hiện rõ trong tâm thức các bạn qua những tiến trình tham thiền và sự phụng sự cụ thể, dựa trên tình thương ngày càng sâu đậm đối với đồng loại.
6. DK states with utter simplicity the principle underlying occult obedience: “the obedience required is obedience to the Plan. ”
6. Chân sư DK trình bày hết sức đơn giản nguyên khí nền tảng của sự vâng phục huyền bí: “sự vâng phục được đòi hỏi là vâng phục Thiên Cơ. ”
7. The older types of occult schools emphasize much the necessity of obedience to the Master (personally), but DK says that this is not necessary, per se.
7. Các trường phái huyền bí kiểu cũ nhấn mạnh rất nhiều sự cần thiết phải vâng phục Chân sư (về mặt cá nhân), nhưng Chân sư DK nói rằng chính sự vâng phục ấy không phải là điều cần thiết.
8. However, it should be said that since the Master, Himself, is invariably obedient to the Plan, and has a much deeper knowledge of the Plan than will be possible for any of His chelas, then, obedience to the Master is, effectively, obedience to the Plan.
8. Tuy nhiên, cần nói rằng vì chính Chân sư luôn vâng phục Thiên Cơ và có sự hiểu biết về Thiên Cơ sâu xa hơn rất nhiều so với bất kỳ đệ tử nào của Ngài có thể đạt được, nên trên thực tế, vâng phục Chân sư là vâng phục Thiên Cơ.
9. DK spells out with great exactitude the nature of the obedience asked of His disciples and, really, of all modern disciples. We are expected to develop an obedience which is based on our “growing recognition for the Plan for humanity. ” When we really recognize the Plan and its goodness, our obedience to it will automatically follow. In any case, Socrates thought so; for him, to really know the good was to do the good.
9. Chân sư DK giải thích hết sức chính xác bản chất của sự vâng phục mà Ngài yêu cầu nơi các đệ tử của mình và thực ra là nơi mọi đệ tử thời nay. Chúng ta được kỳ vọng phát triển một sự vâng phục dựa trên việc “ngày càng nhận biết Thiên Cơ dành cho nhân loại. ” Khi chúng ta thực sự nhận biết Thiên Cơ và tính thiện lành của Thiên Cơ, sự vâng phục của chúng ta đối với Thiên Cơ sẽ tự nhiên theo sau. Dù sao đi nữa, Socrates đã nghĩ như vậy; đối với ông, thực sự biết điều thiện là làm điều thiện.