← Commentary on DINA I song ngữ

15. PART III – 15. PHẦN III

Trích nội dung chương

3. The recognition which the Master accords to a group of dedicated aspirants when He accepts them as His disciples. 3. Sự công nhận mà Chân sư dành cho một nhóm người chí nguyện tận hiến khi Ngài chấp nhận họ làm đệ tử của Ngài.


I would have you, therefore, ponder carefully upon the following recognitions:

Vì vậy, Tôi muốn các bạn suy ngẫm kỹ về những sự nhận biết và công nhận sau đây:

[692]

[692]

1. The recognition of the vision.

1. Sự nhận biết tầm nhìn.

2. The recognition of the Plan, for vision and Plan are not the same.

2. Sự nhận biết Thiên Cơ, vì tầm nhìn và Thiên Cơ không giống nhau.

3. The recognition which the Master accords to a group of dedicated aspirants when He accepts them as His disciples.

3. Sự công nhận mà Chân sư dành cho một nhóm người chí nguyện tận hiến khi Ngài chấp nhận họ làm đệ tử của Ngài.

4. Your recognition of the Master’s ideas as goals to future endeavour.

4. Việc các bạn nhận biết những ý tưởng của Chân sư là các mục tiêu cho nỗ lực tương lai.

5. Your recognition of each other as souls and servers.

5. Việc các bạn nhận biết nhau là những linh hồn và những người phụng sự.

117. Master DK is trying to train us in recognition. Such recognition will facilitate the illumination of our consciousness and, hence, our usefulness.

117. Chân sư DK đang cố gắng huấn luyện chúng ta về khả năng nhận biết. Sự nhận biết ấy sẽ tạo thuận lợi cho việc soi sáng tâm thức chúng ta và do đó gia tăng tính hữu ích của chúng ta.

118. Of the vision, much has been said. It is important that we recognize that the vision and the Plan are not the same. The Plan is the ‘Plan of Love’ and those who love enough will recognize the Plan. Meanwhile, their vision they have acquired is a temporary expedient to lead them closer to an intuitive and loving recognition of the Plan.

118. Người ta đã nói nhiều về tầm nhìn. Điều quan trọng là chúng ta nhận ra rằng tầm nhìn và Thiên Cơ không giống nhau. Thiên Cơ là ‘Thiên Cơ của Tình thương’, và những ai yêu thương đủ nhiều sẽ nhận biết Thiên Cơ. Trong khi đó, tầm nhìn mà họ đã có được là một phương tiện tạm thời để dẫn họ đến gần hơn với sự nhận biết Thiên Cơ bằng trực giác và tình thương.

119. The third recognition is related to the stage of Accepted Discipleship. We are here dealing not just with the recognition of the single disciple, but with a form of group recognition, which includes the individual recognitions.

119. Sự công nhận thứ ba liên quan đến giai đoạn Địa vị Đệ tử Được Chấp nhận. Ở đây, chúng ta không chỉ đề cập đến việc công nhận một đệ tử riêng lẻ, mà đến một hình thức công nhận nhóm, vốn bao gồm những sự công nhận cá nhân.

120. Master DK recognized the entire personnel of the New Seed Group in 1940 and, in so doing, conferred upon all of them, individually, the status of “accepted disciple”. He did not go picking and choosing among them saying, “You are accepted and you are not. ”

120. Chân sư DK đã công nhận toàn bộ nhân sự của Nhóm Hạt Giống Mới vào năm 1940, và qua đó ban cho từng người trong số họ địa vị “đệ tử được chấp nhận”. Ngài không chọn lựa giữa họ rồi nói: “Người này được chấp nhận, người kia thì không. ”

121. The fourth recognition proves that we can appreciate the Master’s intentions and problems. As potential members of an Ashram, our purpose is to understand what the Master seeks to see accomplished. According to the clarity of that recognition, so will be our usefulness to the Ashram.

121. Sự nhận biết thứ tư chứng tỏ rằng chúng ta có thể hiểu được những ý định và vấn đề của Chân sư. Là những thành viên tiềm năng của một ashram, mục đích của chúng ta là thấu hiểu điều Chân sư mong muốn thấy được hoàn thành. Sự nhận biết ấy càng rõ ràng thì chúng ta càng hữu ích cho ashram.

122. Point five involves our recognition of each other—not as personalities but as “souls and servers”. This, very simply, requires that we see each other in the right way. Already we have learned that the members of Master DK’s groups were too preoccupied with themselves, personally, and with each other, also personally. This type of preoccupation would prevent the achievement of recognition five.

122. Điểm thứ năm liên quan đến việc chúng ta nhận biết nhau—không phải là những phàm ngã mà là “những linh hồn và những người phụng sự”. Rất đơn giản, điều này đòi hỏi chúng ta nhìn nhau đúng cách. Chúng ta đã biết rằng các thành viên trong những nhóm của Chân sư DK quá bận tâm đến bản thân về mặt cá nhân, và cũng bận tâm đến nhau về mặt cá nhân. Kiểu bận tâm này sẽ ngăn cản việc đạt được sự nhận biết thứ năm.

When these recognitions are properly understood, there will then be eventual recognition, by the Hierarchy, of a group of disciples who can be used as a channel through which spiritual energy, light and love can be poured into a needy and agonising world. The group will then be endowed with power to serve but it will not be power given to it by the Master. It will be a potency which it has engendered itself. This power which disciples wield comes as a response to a life rightly lived and love fully given. There is a great law which can be embodied in the words “to those who give all, all is given. ” This is true of the individual disciple and of a Master’s group. Most aspirants to discipleship today do not know or realise this law; they do not give freely and fully either to the work of the Hierarchy or to those who need. Until they do, they limit their effectiveness and shut the door on supply, not only for themselves but for the group with which they are affiliated in service. Herein lies responsibility. The clue to supply is personality harmlessness and the dedication of all individual resources to the service of the Great Ones, without restraint and spontaneously. When you, as a disciple, try to live harmlessly—in thought and word and deed—and when nothing is held back materially, emotionally or from the angle of time, when physical strength is so given and the gift of all resources is accompanied with happiness, then the disciple will have all that is needed to carry on his work and the same is true of all working groups of servers. Such is the law. Perfection is not yet possible, it is needless for me to say, but greater effort on your part to give and serve is possible.

Khi các bạn thấu hiểu đúng những sự nhận biết và công nhận này, cuối cùng Thánh đoàn sẽ công nhận một nhóm đệ tử có thể được sử dụng làm kênh dẫn để năng lượng tinh thần, ánh sáng và tình thương tuôn đổ vào một thế giới đang thiếu thốn và quằn quại. Khi ấy, nhóm sẽ có quyền năng phụng sự, nhưng đó không phải là quyền năng do Chân sư ban cho. Đó sẽ là một sức mạnh do chính nhóm tạo ra. Quyền năng mà các đệ tử vận dụng này đến như một sự đáp ứng với một cuộc đời sống đúng đắn và tình thương được trao đi trọn vẹn. Có một định luật vĩ đại có thể diễn đạt bằng những lời: “những ai trao đi tất cả sẽ được ban cho tất cả.” Điều này đúng với người đệ tử riêng lẻ cũng như với một nhóm của Chân sư. Ngày nay, phần lớn những người chí nguyện hướng tới địa vị đệ tử không biết hoặc không nhận ra định luật này; họ không trao đi một cách tự nguyện và trọn vẹn, dù cho công việc của Thánh đoàn hay cho những người thiếu thốn. Chừng nào chưa làm được như vậy, họ còn tự giới hạn hiệu quả hoạt động của mình và đóng cánh cửa tiếp nhận nguồn cung ứng, không chỉ cho bản thân mà còn cho nhóm mà họ gắn bó trong công việc phụng sự. Chính trong đó có trách nhiệm. Chìa khóa dẫn đến nguồn cung ứng là tính vô tổn hại của phàm ngã và sự tận hiến mọi nguồn lực cá nhân cho việc phụng sự Các Đấng Cao Cả, một cách tự nguyện và không dè giữ. Khi các bạn, với tư cách đệ tử, cố gắng sống vô tổn hại—trong tư tưởng, lời nói và hành động—và khi không giữ lại điều gì về vật chất, cảm xúc hay thời gian, khi sức mạnh thể chất được trao đi như vậy và việc hiến tặng mọi nguồn lực đi cùng niềm hạnh phúc, thì người đệ tử sẽ có tất cả những gì cần thiết để tiếp tục công việc của mình; điều này cũng đúng với mọi nhóm người phụng sự đang hoạt động. Định luật là như vậy. Tôi không cần phải nói rằng hiện nay chưa thể đạt đến sự hoàn hảo, nhưng các bạn có thể nỗ lực nhiều hơn để trao đi và phụng sự.

123. The five recognitions open the door to recognition by the Hierarchy of a group of disciples who can be used as a channel for that which Hierarchy can bestow, and wants to bestow—spiritual energy, love and light. Master DK is building groups—for the future, and over them He will preside, again in the future, and perhaps the not-too-distant future. Such groups will be fit to work in a practical manner with the Fourteen Rules for Disciples and Initiates found in The Rays and the Initiations.

123. Năm sự nhận biết mở cửa để Thánh đoàn công nhận một nhóm đệ tử có thể làm kênh dẫn cho những gì Thánh đoàn có thể ban tặng, và muốn ban tặng—năng lượng tinh thần, tình thương và ánh sáng. Chân sư DK đang xây dựng các nhóm cho tương lai, và trong tương lai, Ngài sẽ chủ trì các nhóm ấy, có lẽ trong một tương lai không xa lắm. Những nhóm như thế sẽ đủ khả năng vận dụng thiết thực Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo.

124. It is not that the Master confers upon such groups the power to serve. This the group itself engenders from within itself. That power arises when the group can live rightly and when it offers love fully. The task of the Master is to stimulate and empower that which has been rightly engendered. There is much the Master can add to a group which (because of its own decisions and determinations) is proceeding along right lines.

124. Không phải Chân sư ban cho những nhóm như thế quyền năng phụng sự. Chính nhóm khơi sinh quyền năng này từ bên trong mình. Quyền năng ấy nảy sinh khi nhóm có thể sống đúng đắn và trao trọn tình thương. Nhiệm vụ của Chân sư là kích thích và tăng cường quyền năng cho những gì đã được khơi sinh đúng đắn. Chân sư có thể bổ sung rất nhiều cho một nhóm đang tiến đúng hướng nhờ những quyết định và quyết tâm của chính nhóm ấy.

125. This section of DINA I is filled with memorable statements. Among these is the following, expressing as it does a great Law: “To those who give all, all is given. ” All of us are enjoined to ponder this most simple statement of occult fact. When we are just about to become initiates of the fourth degree, we must make this law factual in our lives, by, in fact, giving all.

125. Phần này của DINA I chứa đầy những lời đáng ghi nhớ. Trong số đó có lời sau đây, thể hiện một Định luật vĩ đại: “Những ai cho đi tất cả sẽ được ban cho tất cả.” Tất cả chúng ta đều được khuyên hãy suy ngẫm về lời phát biểu hết sức giản dị này về một sự thật huyền bí. Khi sắp trở thành điểm đạo đồ bậc bốn, chúng ta phải làm cho định luật này thành hiện thực trong đời sống mình, bằng cách thực sự cho đi tất cả.

126. The law applies to individuals and to groups. We learn the Master’s assessment: it is not much observed. Because aspirants and disciples do not give, freely and fully, both to the Ashram and for the helping of humanity, they limit their effectiveness. The riches of the universe are ready to pour into the wise hands of individuals and groups who give all. If, however, the giving is stingy or only partial, the door is shut on the sources of supply. It takes a long time before disciples come to realize this. Great trust is required to prove to oneself the validity of this law. A length there is no other choice. Having lost much (of time and opportunity) by not giving fully, the disciple finally decides to give ever more fully until all he has is given in the cause. As he proceeds (in confirmation of the law), all he may need to carry forward the work, will pour in.

126. Định luật này áp dụng cho cả cá nhân lẫn nhóm. Chúng ta biết được nhận định của Chân sư: định luật này ít được tuân theo. Vì những người chí nguyện và đệ tử không cho đi một cách rộng rãi và trọn vẹn, cả cho ashram lẫn cho việc giúp đỡ nhân loại, nên họ tự hạn chế hiệu quả của mình. Sự phong phú của vũ trụ sẵn sàng tuôn vào những bàn tay minh triết của các cá nhân và nhóm cho đi tất cả. Tuy nhiên, nếu sự cho đi là keo kiệt hoặc chỉ một phần, cánh cửa dẫn đến các nguồn cung ứng sẽ đóng lại. Phải mất một thời gian dài các đệ tử mới nhận ra điều này. Cần có lòng tin rất lớn để tự kiểm chứng tính xác thực của định luật này. Cuối cùng, không còn lựa chọn nào khác. Sau khi đã mất nhiều thời gian và cơ hội vì không cho đi trọn vẹn, cuối cùng người đệ tử quyết định cho đi ngày càng trọn vẹn hơn, cho đến khi tất cả những gì mình có đều được hiến dâng cho chính nghĩa. Khi người đệ tử tiến bước, mọi điều cần thiết để tiếp tục công việc sẽ tuôn đến, qua đó xác chứng định luật này.

127. DK has told us of a law. Now we know about it. Because we know about it, we are responsible for acting according to it. Thus He says, “Herein lies responsibility. ”

127. Chân sư DK đã cho chúng ta biết về một định luật. Giờ đây chúng ta đã biết về định luật ấy. Vì đã biết, chúng ta có trách nhiệm hành động theo định luật ấy. Do đó, Ngài nói: “Chính trong đó có trách nhiệm.”

128. Our education proceeds: “The clue to supply is personality harmlessness and the dedication of all individual resources to the service of the Great Ones, without restraint and spontaneously. ” All spiritual workers naturally want to work effectively and to have enough resources (money, assistance, etc. ) to do so. Now the clue to supply is being clearly delineated.

128. Việc giáo dục chúng ta tiếp tục: “Chìa khóa của nguồn cung ứng là tính vô tổn hại của phàm ngã và sự hiến dâng mọi nguồn lực cá nhân để phụng sự Các Đấng Cao Cả, không giữ lại và một cách tự phát.” Tất cả những người hoạt động tinh thần đương nhiên đều muốn làm việc hiệu quả và có đủ nguồn lực như tiền bạc, sự trợ giúp, v.v. để làm được điều đó. Giờ đây, chìa khóa của nguồn cung ứng đang được nêu rõ.

129. The requirements are easy to understand, so it seems, but difficult to carry out. A really thorough pondering on the nature of harmlessness is required of us at the outset; harmlessness is not what it often seems. Such pondering must be followed by an ability to assess our resources and to give them all, in the right way, of course—not holding anything back and giving spontaneously (without the long delay caused by personal conflicts over whether to give or not to give).

129. Những yêu cầu này có vẻ dễ hiểu, nhưng khó thực hiện. Ngay từ đầu, chúng ta cần suy ngẫm thật thấu đáo về bản chất của tính vô tổn hại; tính vô tổn hại không phải là điều người ta thường nghĩ. Sau sự suy ngẫm ấy, chúng ta phải có khả năng đánh giá các nguồn lực của mình và cho đi tất cả, dĩ nhiên theo cách đúng đắn—không giữ lại điều gì và cho đi một cách tự phát, không trì hoãn lâu do những giằng co cá nhân về việc nên cho hay không nên cho.

130. Again the Master addresses us directly as “you”. We are to try to live harmlessly in thought, word and deed, holding back nothing from the angle of thought, emotion, physical energy or time (and we are to release all this happily). It is not expected that the achievement of true harmlessness will be an immediate accomplishment, but the effort must be there. As well, we are to assess all the many things that can rightfully be given (from all dimensions of our being), and then, rightly, to give. One cannot give in such a way as to take that which may not be rightfully taken; therefore, karmic obligations must be understood and respected. Another way to say this is that “one cannot rob Peter to pay Paul”.

130. Một lần nữa, Chân sư trực tiếp gọi chúng ta là “các bạn”. Chúng ta phải cố gắng sống vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động, không giữ lại điều gì về tư tưởng, cảm xúc, năng lượng hồng trần hay thời gian, và chúng ta phải trao tất cả những điều này một cách vui vẻ. Không ai kỳ vọng rằng tính vô tổn hại đích thực sẽ đạt được ngay tức khắc, nhưng phải có sự nỗ lực. Đồng thời, chúng ta phải đánh giá tất cả những gì có thể cho đi một cách chính đáng, từ mọi chiều kích của con người mình, rồi cho đi một cách đúng đắn. Không thể cho đi theo cách phải lấy đi những gì mình không có quyền lấy; vì vậy, phải thấu hiểu và tôn trọng các bổn phận nghiệp quả. Một cách diễn đạt khác là “không thể cướp của người này để trả cho người kia”.

131. The ideal is here enunciated, and it is a beautiful idea. We should return to this section over and again, since conformity to its requirements will guide us to spiritual success.

131. Lý tưởng được nêu ra ở đây, và đó là một ý tưởng đẹp. Chúng ta nên trở lại phần này nhiều lần, vì việc tuân theo các yêu cầu của nó sẽ dẫn chúng ta đến thành công về tinh thần.

The time will, therefore, surely come when you will, as individuals and as part of a Master’s group, subordinate your [693] personal lives to the need of humanity and to the intention of the Master. You will be and not struggle so hard to be; you will give and not fight constantly the tendency not to give; you will forget your physical bodies and not give so much attention to them (and the result will be better health); you will think and not live so deeply in the world of feeling; you will sanely and wisely and as a normal procedure put the work of the Master and of service first.

Vì vậy, chắc chắn sẽ đến lúc các bạn, với tư cách cá nhân và thành viên trong nhóm của một Chân sư, đặt [693] đời sống cá nhân của mình dưới nhu cầu của nhân loại và chủ đích của Chân sư. Các bạn sẽ hiện hữu mà không phải quá vất vả để hiện hữu; các bạn sẽ cho đi mà không phải liên tục đấu tranh với khuynh hướng không muốn cho đi; các bạn sẽ quên các thể xác của mình và không chú tâm quá nhiều đến chúng, và kết quả sẽ là sức khỏe tốt hơn; các bạn sẽ suy nghĩ và không sống quá sâu trong thế giới cảm xúc; các bạn sẽ sáng suốt, minh triết và xem việc đặt công việc của Chân sư cùng công việc phụng sự lên hàng đầu là cách làm bình thường.

132. DK envisions a future of greater freedom for His chelas. That freedom is based upon the subordination of their “personal lives to the need of humanity and to the intention of the Master. ”

132. Chân sư DK hình dung một tương lai tự do hơn cho các đệ tử của Ngài. Sự tự do ấy dựa trên việc họ đặt “đời sống cá nhân dưới nhu cầu của nhân loại và chủ đích của Chân sư.”

133. We are studying the universe as a great Hierarchy, and our personal/individual lives must be organized in a hierarchical manner. The personality and all its concerns must be subordinated to the soul and its wider life, love and wisdom.

133. Chúng ta đang nghiên cứu vũ trụ như một hệ thống thứ bậc vĩ đại, và đời sống cá nhân của chúng ta phải được tổ chức theo thứ bậc. Phàm ngã cùng mọi mối quan tâm của nó phải được đặt dưới linh hồn cùng sự sống, tình thương và minh triết rộng lớn hơn của linh hồn.

134. In the future, we as disciples will learn to be; we will give freely; we will drop our preoccupation with our physical natures and our health will improve; we will think rather than being immersed so much in feeling; we will, finally, put the work of the Master and of service first, and we will do so not as an enforced discipline, but as the wise and normal procedure of our daily living.

134. Trong tương lai, với tư cách đệ tử, chúng ta sẽ học cách hiện hữu; chúng ta sẽ cho đi rộng rãi; chúng ta sẽ thôi bận tâm về bản chất hồng trần của mình và sức khỏe sẽ cải thiện; chúng ta sẽ suy nghĩ thay vì đắm chìm quá nhiều trong cảm xúc; cuối cùng, chúng ta sẽ đặt công việc của Chân sư cùng công việc phụng sự lên hàng đầu, và chúng ta sẽ làm thế như một cách sống minh triết và bình thường hằng ngày, chứ không phải như một kỷ luật cưỡng ép.

135. It is useful to know that which will eventuate—however long it may take. Such knowledge inspires us to get on with the task and achieve sooner rather than later.

135. Biết được điều sẽ xảy đến là hữu ích, dù phải mất bao lâu đi nữa. Sự hiểu biết ấy truyền cảm hứng để chúng ta tiếp tục nhiệm vụ và sớm đạt thành tựu.

136. The principles are all so clear, but the resistance is strong; it has been so long in the making. We can see why Master DK regards us as under the sway of inertia.

136. Các nguyên tắc đều rất rõ ràng, nhưng sức kháng cự lại mạnh mẽ; sức kháng cự ấy đã hình thành từ rất lâu. Chúng ta có thể thấy vì sao Chân sư DK xem chúng ta là đang chịu sự chi phối của tính trì trệ.

What is that work? To provide a working intelligent and consecrated group of servers through whom hierarchical plans can be carried forward and to demonstrate, upon the physical plane, a focal point of spiritual energy. This can then be employed by the Hierarchy to help humanity everywhere, particularly in this time of crisis. The plans of the Hierarchy, as they embody the will of Shamballa, can be and are carried out; the process, however, is either a conscious one or an unconscious mass response to impression. Among the disciples of the world, the response and subsequent activity is a conscious one and leads to intelligent undertakings.

Công việc ấy là gì? Là tạo dựng một nhóm người phụng sự đang hoạt động, thông minh và thánh hiến, qua đó các kế hoạch của Thánh đoàn có thể được triển khai, đồng thời thể hiện trên cõi hồng trần một tiêu điểm năng lượng tinh thần. Khi ấy, Thánh đoàn có thể sử dụng tiêu điểm này để giúp đỡ nhân loại ở khắp nơi, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng hiện nay. Các kế hoạch của Thánh đoàn, vì thể hiện ý chí của Shamballa, có thể và thực sự đang được thực hiện; tuy nhiên, tiến trình ấy hoặc có ý thức, hoặc là sự đáp ứng vô thức của quần chúng đối với ấn tượng. Trong hàng ngũ các đệ tử trên thế giới, sự đáp ứng và hoạt động tiếp theo đều có ý thức và dẫn đến những công cuộc thông minh.

137. We are in a section in which the Master is summarizing certain essential points.

137. Chúng ta đang ở phần Chân sư tổng kết một số điểm cốt yếu.

138. What really is the Master’s work? He is looking for groups through whom hierarchical energy and plans can be expressed. He is looking for focal points of spiritual energy.

138. Công việc thực sự của Chân sư là gì? Ngài đang tìm kiếm những nhóm có thể biểu lộ năng lượng và các kế hoạch của Thánh đoàn. Ngài đang tìm kiếm những tiêu điểm năng lượng tinh thần.

139. The Hierarchy is seeking ‘group vehicles’ through whom They can work, pouring Their energy forth for a needy world.

139. Thánh đoàn đang tìm kiếm ‘những vận cụ nhóm’ để Các Ngài có thể hoạt động qua đó, tuôn đổ năng lượng của Các Ngài cho một thế giới đang cần trợ giúp.

140. Master DK is looking for conscious cooperators who can work in group formation. The Plans of Shamballa through Hierarchy will, indeed, materialize, but will this materialization be sooner or later; will it be with the aid of the conscious cooperation of those who should be willing to cooperate, or will it be through the slower method of mass impression? One way or the other, the Will of God will be done. Hierarchy naturally seeks for it to be done as rapidly, harmoniously and beautifully as possible, with the minimum of unnecessary pain.

140. Chân sư DK đang tìm kiếm những người cộng tác có ý thức, có thể làm việc trong đội hình nhóm. Các Thiên Cơ của Shamballa thông qua Thánh đoàn sẽ thực sự hiện hình, nhưng sự hiện hình này sẽ đến sớm hay muộn; sẽ nhờ sự hợp tác có ý thức của những người lẽ ra phải sẵn lòng hợp tác, hay sẽ qua phương pháp chậm hơn là tạo ấn tượng lên quần chúng? Bằng cách này hay cách khác, Ý Chí của Thượng Đế sẽ được thực hiện. Đương nhiên, Thánh đoàn mong điều ấy được thực hiện nhanh chóng, hài hòa và tốt đẹp nhất có thể, với ít đau khổ không cần thiết nhất.

141. Disciples in the world are obliged to respond consciously to Shamballic Will (to the extent they can) and to hierarchical plans as they reflect that greater Will.

141. Các đệ tử trên thế giới có bổn phận đáp ứng có ý thức với Ý Chí của Shamballa trong khả năng của mình, và với các kế hoạch của Thánh đoàn khi những kế hoạch ấy phản ánh Ý Chí lớn lao hơn đó.

142. A great experiment is underway, and disciples are being welded into the ranks of Hierarchy somewhat ahead of schedule. The Masters are trying to work directly with disciples—not only through Their initiates. The opportunity is intense. Can we rise to the occasion?

142. Một cuộc thử nghiệm lớn đang diễn ra, và các đệ tử đang được gắn kết vào hàng ngũ Thánh đoàn sớm hơn dự kiến đôi chút. Các Chân sư đang cố gắng làm việc trực tiếp với các đệ tử, chứ không chỉ thông qua những điểm đạo đồ của Các Ngài. Cơ hội này đòi hỏi rất cao. Chúng ta có thể vươn lên đáp ứng thời cơ này chăng?

The task of the Master is to evoke from His disciples such a depth of consecrated love and such a realisation of today’s opportunity that the personality aspects of their lives will fade out in their consciousness and their main preoccupation will be: What must be my service at this time? What are the non-essential things in my life to which I should pay no attention? What is the task to be done? Who are the people I can help? Which aspects of the Master’s work should I endeavour to give the most help at this time? These questions must all meet with a balanced, intelligent and non-fanatical response and answer.

Nhiệm vụ của Chân sư là khơi dậy nơi các đệ tử của Ngài một tình thương thánh hiến sâu sắc và sự nhận biết về cơ hội hôm nay đến mức những phương diện phàm ngã trong đời sống họ sẽ mờ dần khỏi tâm thức, và mối quan tâm chính của họ sẽ là: Công việc phụng sự của tôi vào lúc này phải là gì? Đâu là những điều không thiết yếu trong đời sống mà tôi không nên chú ý đến? Nhiệm vụ cần làm là gì? Tôi có thể giúp đỡ những ai? Vào lúc này, tôi nên cố gắng trợ giúp nhiều nhất cho những phương diện nào trong công việc của Chân sư? Tất cả những câu hỏi này đều phải được đáp ứng và trả lời một cách quân bình, thông minh và không cuồng tín.

143. It is impossible to misunderstand the import of this final paragraph. Required of us are a deep and consecrated love and a realization of today’s unparalleled opportunities.

143. Không thể hiểu lầm ý nghĩa của đoạn cuối này. Chúng ta cần có một tình thương sâu sắc và thánh hiến, cùng sự nhận biết về những cơ hội vô song của ngày hôm nay.

144. If we love enough and if we vividly realize the uniqueness of the presented opportunity, we will submerge our personality lives in the need of the hour—humanity’s need and the need of our planet.

144. Nếu chúng ta yêu thương đủ và nhận ra thật sống động tính độc nhất của cơ hội đang mở ra, chúng ta sẽ hòa tan đời sống phàm ngã của mình vào nhu cầu của thời điểm này—nhu cầu của nhân loại và nhu cầu của hành tinh chúng ta.

145. The five questions given are clear enough, and we should not evade the opportunity of answer them. I would recommend that each of us stops now, and addresses each of the questions. The matter can be handled in five minutes, at least for the first superficial pass. Much pondering of each question will be needed to achieve greater depth.

145. Năm câu hỏi được nêu ra đã đủ rõ, và chúng ta không nên né tránh cơ hội trả lời chúng. Tôi đề nghị mỗi người chúng ta dừng lại ngay lúc này và lần lượt xem xét từng câu hỏi. Có thể dành năm phút cho việc này, ít nhất là cho lượt xem xét sơ bộ đầu tiên. Để đi sâu hơn, chúng ta sẽ cần suy ngẫm nhiều về từng câu hỏi.

146. DK cautions us: our response is to be “balanced, intelligent and non-fanatical”. We are to demonstrate the intelligent, loving realism of a true disciple.

146. Chân sư DK nhắc nhở chúng ta: sự đáp ứng của chúng ta phải “quân bình, thông minh và không cuồng tín”. Chúng ta phải thể hiện tinh thần thực tế thông minh và đầy tình thương của một đệ tử chân chính.

147. These same five questions can be discussed in a group context. To do so will promote the kind of group consciousness Master DK is seeking to see us develop.

147. Cũng có thể thảo luận năm câu hỏi này trong bối cảnh nhóm. Làm như vậy sẽ thúc đẩy loại tâm thức nhóm mà Chân sư DK mong thấy chúng ta phát triển.

148. Let us do all we can to fulfill the evident requirements. “Herein lies responsibility. ”

148. Chúng ta hãy làm hết khả năng để đáp ứng những yêu cầu đã rõ. “Chính trong đó có trách nhiệm.”

With Love and Many Blessings to All,

Với Tình thương và Nhiều Phúc lành gửi đến Tất cả,

Michael with the cooperation of all Co-workers

Michael cùng sự hợp tác của toàn thể các Cộng sự

15. PART III – 15. PHẦN III

commentary by Michael D. Robbins

bình giảng của Michael D. Robbins

In considering this whole subject of discipleship there are certain things of which I would like to remind you. If you will reflect upon them you will find they may change somewhat your idea of what constitutes discipleship but they will also enrich your general concept anent this subject.

Khi xem xét toàn bộ chủ đề địa vị đệ tử này, có một số điều Tôi muốn nhắc các bạn. Nếu suy ngẫm về chúng, các bạn sẽ thấy chúng có thể phần nào thay đổi ý tưởng của mình về những yếu tố cấu thành địa vị đệ tử, đồng thời cũng làm phong phú quan niệm tổng quát của các bạn về chủ đề này.

1. Master DK is attempting the present an understanding of the new discipleship.

1. Chân sư DK đang cố gắng trình bày sự thấu hiểu về địa vị đệ tử mới.

2. He has told us that, of the seven several “newer truths” for which He was responsible as a transmitting agent (seven in all), the “Teaching on the New Discipleship” was the second in importance (R&I 251)

2. Ngài đã cho chúng ta biết rằng, trong bảy “chân lý mới hơn” mà Ngài chịu trách nhiệm truyền đạt với tư cách một tác nhân trung chuyển, tổng cộng là bảy, thì “Giáo huấn về Địa Vị Đệ Tử Mới” đứng thứ hai về tầm quan trọng (Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, 251)

The first point which I would like to bring out is that accepted disciples are in training for initiation. If, when they [694] approach the Path of Discipleship they fail to grasp this fact and to give the fullest cooperation, they postpone the time of that initiation. Their grasp of the fact will be demonstrated in the intensity of their proffered service. Planned service is one of the modes of the training. Disciples in the early stages of their work are apt to be primarily interested in themselves and in their own reactions and attitudes to the Master. The fact that they are working in a Master’s group seems to them the fact of paramount importance.

Điểm đầu tiên Tôi muốn nêu rõ là các đệ tử được chấp nhận đang được huấn luyện để điểm đạo. Nếu khi [694] bước vào Con Đường Đệ Tử, họ không nắm bắt sự thật này và không hợp tác trọn vẹn nhất, họ sẽ trì hoãn thời điểm của cuộc điểm đạo ấy. Việc họ nắm bắt sự thật này sẽ thể hiện qua cường độ phụng sự mà họ hiến dâng. Phụng sự có kế hoạch là một trong những phương thức huấn luyện. Trong các giai đoạn đầu của công việc, các đệ tử thường chủ yếu quan tâm đến bản thân cùng những phản ứng và thái độ của mình đối với Chân sư. Với họ, việc mình đang làm việc trong nhóm của một Chân sư dường như là điều quan trọng nhất.

3. Many important points about accepted discipleship and world discipleship have been emerging. These two stages have to be clearly understood and DK is clearing up a number of misconceptions.

3. Nhiều điểm quan trọng về địa vị đệ tử được chấp nhận và địa vị đệ tử thế giới đã dần hiện rõ. Cần thấu hiểu rõ hai giai đoạn này, và Chân sư DK đang làm sáng tỏ một số quan niệm sai lầm.

4. DK puts pressure upon accepted disciples by reminding them that they “are in training for initiation”. This means that much forward progress is expected of them.

4. Chân sư DK tạo áp lực lên các đệ tử được chấp nhận bằng cách nhắc họ rằng họ “đang được huấn luyện để điểm đạo”. Điều này có nghĩa là Ngài kỳ vọng họ tiến bộ nhiều.

5. “The fullest cooperation” is expected of an accepted disciple; presumably this means cooperation with the Master Who has the disciple under direction and supervision. An accepted disciple who realizes his/her initiatory opportunity will demonstrate this realization in an intensity of proffered service.

5. “Sự hợp tác trọn vẹn nhất” là điều được kỳ vọng ở một đệ tử được chấp nhận; có lẽ điều này hàm ý sự hợp tác với Chân sư đang chỉ dẫn và giám sát người đệ tử ấy. Một đệ tử được chấp nhận nhận ra cơ hội điểm đạo của mình sẽ thể hiện sự nhận biết ấy qua cường độ phụng sự mà mình hiến dâng.

6. Another important principle is stated: “planned service is one of the modes of training”—training the accepted disciple for initiation. We note that the service must be planned service, which engages the both the disciple’s understanding of humanity’s needs and his/her self-knowledge (so needed for one who is to know where and how best to serve).

6. Một nguyên tắc quan trọng khác được nêu ra: “phụng sự có kế hoạch là một trong những phương thức huấn luyện”—huấn luyện đệ tử được chấp nhận để điểm đạo. Chúng ta lưu ý rằng sự phụng sự ấy phải có kế hoạch, vận dụng cả sự thấu hiểu của người đệ tử về nhu cầu của nhân loại lẫn sự tự hiểu biết của người ấy, điều rất cần thiết cho người phải biết nên phụng sự ở đâu và như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất.

7. DK seeks to distinguish the attitude of the accepted disciple from the attitudes of “disciples in the early stages” who are usually rather self-centered. They are overly concerned about their relationship to the Master and about His relationship to them. They forget that the Master’s group is primarily a serving group; it is an instrument of service. They think too much about the group and themselves in relation to the group rather than of the service to be rendered. The passage of time, however, will bring their attitudes into line with those of the more experienced members of the Ashram.

7. Chân sư DK tìm cách phân biệt thái độ của đệ tử được chấp nhận với thái độ của “các đệ tử trong những giai đoạn đầu”, vốn thường khá tập trung vào bản thân. Họ quá bận tâm về mối quan hệ của mình với Chân sư và mối quan hệ của Ngài với họ. Họ quên rằng nhóm của Chân sư trước hết là một nhóm phụng sự; đó là một công cụ phụng sự. Họ nghĩ quá nhiều về nhóm và về bản thân trong mối quan hệ với nhóm, thay vì về công việc phụng sự cần thực hiện. Tuy nhiên, thời gian sẽ đưa thái độ của họ đến chỗ phù hợp với thái độ của các thành viên giàu kinh nghiệm hơn trong ashram.

The second thing which I would like to point out is that there is a great difference between a Master’s group and His Ashram. This is seldom realised. Many people can be found in a Master’s group but the personnel of His Ashram are picked out of that of the group. In a group, the Master is in touch with and aware of the aspiring disciple and he has had a definite contact with Him, but this has involved a personality as well as a soul relation. But in an Ashram only that is to be found within the sphere of influence of an Ashram which is of the soul. Nothing of the personality is allowed to enter in—personality reactions, disabilities, limitations, personality thoughts and all that is material and connected with the lower nature, never reaches the Ashram at all. In the early stages, therefore, of a disciple’s work, it is possible that there is little or nothing that the disciple will be able to contribute of any kind for a long time. Only those positively sensed intuitions and those definite soul impressions and impulses which the disciple may succeed in evoking (through meditation and growing purity of intention) can contribute anything to the life of the Ashram. There is consequently a law which protects the Ashram from your limitations. I have been using the word “Ashram” quite definitely in my effort to lead you to discriminate between a group and an Ashram. An Ashram is basically formed of those who through their knowledge, devotion and service have worked their way out of a group into an inner centre where the Master’s energy, wisdom and effort is more easily available. In order to work their way from the group into the Ashram, disciples will need most carefully to discriminate between their high grade personality inclinations, their [695] responses to truth and ideals and their true soul reactions, spiritual wisdom and intuitive perception.

Điều thứ hai Tôi muốn chỉ ra là có sự khác biệt lớn giữa nhóm của một Chân sư và ashram của Ngài. Ít người nhận ra điều này. Nhóm của một Chân sư có thể gồm nhiều người, nhưng các thành viên trong ashram của Ngài được tuyển chọn từ nhóm ấy. Trong một nhóm, Chân sư có liên hệ với người đệ tử chí nguyện và biết rõ người ấy, còn người đệ tử đã có sự tiếp xúc rõ rệt với Ngài; nhưng điều này bao hàm cả mối quan hệ phàm ngã lẫn linh hồn. Tuy nhiên, trong một ashram, chỉ những gì thuộc về linh hồn mới hiện diện trong phạm vi ảnh hưởng của ashram. Không điều gì thuộc phàm ngã được phép đi vào—những phản ứng, những khiếm khuyết, những giới hạn, những tư tưởng của phàm ngã cùng tất cả những gì thuộc vật chất và liên quan đến bản chất thấp đều không bao giờ đến được ashram. Vì vậy, trong những giai đoạn đầu của công việc, có thể trong một thời gian dài người đệ tử chỉ có rất ít hoặc không có gì để đóng góp dưới bất kỳ hình thức nào. Chỉ những trực giác được cảm nhận một cách xác thực cùng những ấn tượng và xung lực rõ rệt của linh hồn mà người đệ tử có thể khơi dậy thành công qua tham thiền và sự thanh khiết ngày càng tăng của chủ đích mới có thể đóng góp điều gì đó cho sự sống của ashram. Do đó, có một định luật bảo vệ ashram khỏi những giới hạn của các bạn. Tôi đã dùng từ “ashram” một cách có chủ ý trong nỗ lực giúp các bạn phân biện giữa một nhóm và một ashram. Về cơ bản, một ashram gồm những người, nhờ tri thức, lòng sùng tín và sự phụng sự, đã nỗ lực tiến từ một nhóm vào một trung tâm bên trong, nơi năng lượng, minh triết và nỗ lực của Chân sư dễ tiếp cận hơn. Để tiến từ nhóm vào ashram, các đệ tử cần phân biện hết sức cẩn thận giữa những khuynh hướng phàm ngã cao cấp, những [695] đáp ứng của mình với chân lý và lý tưởng, với những phản ứng linh hồn đích thực, minh triết tinh thần và tri giác trực giác của mình.

8. Another very important discrimination which Master DK seeks to bring to our attention is the difference between a Master’s Ashram and a Master’s group. A Master’s group is the much larger of the two; the members of a Master’s Ashram are chosen from His group. Members of an Ashram have, therefore, been subjected to a discriminating process of selection. Thus, an Ashram can be considered a select group, with all of responsibility that that may imply.

8. Một sự phân biện rất quan trọng khác mà Chân sư DK muốn chúng ta chú ý là sự khác biệt giữa ashram của một Chân sư và nhóm của một Chân sư. Nhóm của một Chân sư lớn hơn nhiều so với ashram; các thành viên trong ashram của một Chân sư được chọn từ nhóm của Ngài. Vì vậy, các thành viên của một ashram đã trải qua một tiến trình tuyển chọn có phân biện. Do đó, có thể xem một ashram là một nhóm tinh tuyển, với tất cả trách nhiệm mà điều ấy có thể hàm ý.

9. There is definite contact between the Master and the members of His group or groups, but this contact includes the personality of the disciple. We can see that all of the DINA disciples were in the Master’s group because DK was contacting them as personalities. Some of them were also in His Ashram. Later, when the Group of Twenty-Four was formed, and all were given to know they were now accepted disciples, it could be said that all members of that outer group were in His Ashram (at least on its periphery, for most could venture no closer to the center). Though all were in His Ashram, that group was certainly not DK’s Ashram in its entirety.

9. Quả thật có sự tiếp xúc rõ rệt giữa Chân sư và các thành viên trong nhóm hoặc các nhóm của Ngài, nhưng sự tiếp xúc này bao gồm cả phàm ngã của người đệ tử. Chúng ta có thể thấy tất cả các đệ tử trong DINA đều ở trong nhóm của Chân sư, vì Chân sư DK tiếp xúc với họ với tư cách các phàm ngã. Một số người trong họ cũng ở trong ashram của Ngài. Về sau, khi Nhóm Hai Mươi Bốn được thành lập và tất cả đều được cho biết rằng giờ đây họ là các đệ tử được chấp nhận, có thể nói rằng tất cả thành viên của nhóm bên ngoài ấy đều ở trong ashram của Ngài, ít nhất là ở ngoại vi, vì phần lớn chưa thể tiến gần trung tâm hơn. Dù tất cả đều ở trong ashram của Ngài, nhóm ấy chắc chắn không phải là toàn bộ ashram của Chân sư DK.

10. It is fascinating and important to realize that in an Ashram, only that which is “of the soul” is allowed to penetrate. No personality states, even high personality states, enter the sacred vibratory precincts of the Ashram. Personality reactions, limitations, thoughts and all that is material and pertains to the lower nature (i. e. , all that with which we, as disciples, are all-too-familiar) are kept outside the ‘door’ (a vibratory barrier) of the Ashram.

10. Thật thú vị và quan trọng khi nhận ra rằng trong một ashram, chỉ những gì “thuộc về linh hồn” mới được phép đi vào. Không trạng thái phàm ngã nào, dù là những trạng thái phàm ngã cao, có thể đi vào phạm vi rung động thiêng liêng của ashram. Những phản ứng, giới hạn, tư tưởng của phàm ngã cùng tất cả những gì thuộc vật chất và liên quan đến bản chất thấp—nghĩa là tất cả những gì mà chúng ta, với tư cách đệ tử, đã quá quen thuộc—đều bị giữ bên ngoài ‘cánh cửa’ của ashram, một rào chắn rung động.

11. This causes us to pause and consider: if we think we may be members of a Master’s Ashram, just ‘how much of us’ actually enters the ashramic ‘space’.

11. Điều này khiến chúng ta dừng lại suy xét: nếu nghĩ rằng mình có thể là thành viên trong ashram của một Chân sư, thì thực sự ‘bao nhiêu phần trong con người chúng ta’ đi vào ‘không gian’ của ashram?

12. DK often speaks of the necessity for a disciple to contribute to the qualitative content of an Ashram. Here we learn a humbling fact; in the beginning stages of ashramic membership, there is very little a disciple can contribute.

12. Chân sư DK thường nói về việc một đệ tử cần đóng góp vào nội dung phẩm tính của một ashram. Ở đây, chúng ta biết được một sự thật khiến mình khiêm nhường: trong những giai đoạn đầu làm thành viên ashram, người đệ tử có thể đóng góp rất ít.

13. If we have wondered just what we can contribute to the Ashram, the following sentence clarifies the matter:

13. Nếu từng tự hỏi mình thực sự có thể đóng góp gì cho ashram, thì câu sau đây làm sáng tỏ vấn đề:

“Only those positively sensed intuitions and those definite soul impressions and impulses which the disciple may succeed in evoking (through meditation and growing purity of intention) can contribute anything to the life of the Ashram. ”

“Chỉ những trực giác được cảm nhận một cách xác thực cùng những ấn tượng và xung lực rõ rệt của linh hồn mà người đệ tử có thể khơi dậy thành công qua tham thiền và sự thanh khiết ngày càng tăng của chủ đích mới có thể đóng góp điều gì đó cho sự sống của ashram.”

This is really interesting, because it means that when we succeed in touching high vibratory levels in our meditation work (or during the normal course of daily consciousness—as when an inspiration seems suddenly to arise), that success (in consciousness) is a tiny success for the Ashram. The extent, to which a disciple can improve the quality of the relationship between his soul and personality, or his personality and the spiritual triad, is a measure of his contribution to the Ashram. Every soul-illumination or triadal-illumination reaching the physical brain consciousness adds quality to the Ashram. This may be true as well of illuminations reaching the disciple when focussed on the astral or mental planes (for instance, in the hours of sleep).

Điều này thật sự thú vị, vì nó có nghĩa là khi chúng ta thành công trong việc tiếp xúc với các cấp độ rung động cao trong công việc tham thiền (hoặc trong diễn tiến bình thường của tâm thức hằng ngày—như khi một cảm hứng dường như đột nhiên nảy sinh), thì thành công ấy (trong tâm thức) là một thành công nhỏ bé của ashram. Mức độ một đệ tử có thể cải thiện phẩm tính của mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, hoặc giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần, là thước đo sự đóng góp của người ấy cho ashram. Mỗi sự soi sáng từ linh hồn hoặc từ Tam Nguyên Tinh Thần đến được tâm thức bộ não hồng trần đều bổ sung phẩm tính cho ashram. Điều này cũng có thể đúng với những sự soi sáng đến với đệ tử khi người ấy tập trung trên cõi cảm dục hoặc cõi trí (chẳng hạn, trong những giờ ngủ).

14. We are told that there is a law “which protects the Ashram from your limitations”. Many new members of an Ashram (i. e. , accepted disciples) still have much within their consciousness which is unfit for inclusion in the ashramic pool of thought. The Ashram must be, in some way, ‘vibratorily sealed’ against thoughts and feelings below a certain standard.

14. Chúng ta được cho biết rằng có một định luật “bảo vệ ashram khỏi những giới hạn của các bạn”. Nhiều thành viên mới của một ashram (tức là các đệ tử được chấp nhận) vẫn còn nhiều điều trong tâm thức chưa thích hợp để đưa vào nguồn tư tưởng chung của ashram. Theo một cách nào đó, ashram phải ‘về mặt rung động được niêm kín’ trước những tư tưởng và cảm xúc thấp hơn một chuẩn mực nhất định.

15. We could ask why the Ashram needs protection. An Ashram is a center of light, love and purpose upon the triadal planes of the cosmic physical plane. Most Ashrams are to be found on the buddhic plane (with some upon both the atmic and higher mental planes). An Ashram is a center for hierarchical work; it holds a responsible position in the administration and manifestation of the Divine Plan for this planet. ‘Vibratory interference’ with its plans and purpose cannot be allowed as the greater good would be compromised.

15. Chúng ta có thể hỏi tại sao ashram cần được bảo vệ. Một ashram là một trung tâm ánh sáng, bác ái và mục đích trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần thuộc cõi hồng trần vũ trụ. Phần lớn các ashram nằm trên cõi Bồ đề (một số nằm trên cả cõi atma và cõi thượng trí). Một ashram là một trung tâm thực hiện công việc của Thánh đoàn; ashram giữ một vị trí đầy trách nhiệm trong việc điều hành và biểu hiện Thiên Cơ cho hành tinh này. ‘Sự nhiễu loạn rung động’ đối với các kế hoạch và mục đích của ashram là điều không thể cho phép, vì lợi ích lớn lao hơn sẽ bị tổn hại.

16. Just as at a stately and solemn gathering of cultured individuals the entry of an unwashed person with soiled garments would cause a disturbance, so all within our auras which is not cleansed cannot be allowed into the Ashram. Even more may be said—even personality energies which are (by personality standards) cleansed cannot be allowed. The vibration of such energies is still too low when compared to the quality of the energies assembled in the Ashram.

16. Cũng như tại một cuộc hội họp trang trọng và nghiêm túc của những người có văn hóa, sự xuất hiện của một người chưa tắm rửa, mặc quần áo cáu bẩn sẽ gây xáo trộn, mọi điều chưa được thanh lọc trong hào quang của chúng ta đều không thể được phép đi vào ashram. Còn có thể nói xa hơn nữa—ngay cả những năng lượng phàm ngã đã được (theo các chuẩn mực của phàm ngã) thanh lọc cũng không thể được phép đi vào. Rung động của những năng lượng như thế vẫn quá thấp khi so với phẩm tính của các năng lượng quy tụ trong ashram.

17. Of whom is the Ashram formed?

17. Ashram gồm những ai?

“An Ashram is basically formed of those who through their knowledge, devotion and service have worked their way out of a group into an inner centre where the Master’s energy, wisdom and effort are more easily available. ”

“Về cơ bản, một ashram gồm những người, nhờ tri thức, lòng sùng tín và sự phụng sự, đã nỗ lực tiến từ một nhóm vào một trung tâm bên trong, nơi năng lượng, minh triết và nỗ lực của Chân sư dễ tiếp cận hơn. ”

We are learning that three factors—knowledge, devotion and service—enable a member of a Master’s group to work his way into the Master’s Ashram. Does it surprise us that “devotion” is one of the methods? In this case we should interpret “devotion” as ‘devotion to the Plan’ rather than to the person of the Master.

Chúng ta đang học rằng ba yếu tố—tri thức, lòng sùng tín và sự phụng sự—giúp một thành viên trong nhóm của một Chân sư nỗ lực tiến vào ashram của Chân sư ấy. Chúng ta có ngạc nhiên khi “lòng sùng tín” là một trong những phương pháp ấy không? Trong trường hợp này, chúng ta nên hiểu “lòng sùng tín” là ‘lòng tận hiến đối với Thiên Cơ’ hơn là đối với cá nhân Chân sư.

18. We are given another discriminator between an Ashram and a Master’s group. In a Master’s Ashram, “the Master’s energy, wisdom and effort are more easily available”. This means that the Master is vibratorily closer to the members of the Ashram than to the members of His group or groups. His presence is more intensely felt and His energies more readily accessible.

18. Chúng ta được cung cấp thêm một tiêu chí để phân biệt một ashram với nhóm của một Chân sư. Trong ashram của một Chân sư, “năng lượng, minh triết và nỗ lực của Chân sư dễ tiếp cận hơn”. Điều này có nghĩa là về mặt rung động, Chân sư gần gũi với các thành viên của ashram hơn với các thành viên trong nhóm hoặc các nhóm của Ngài. Họ cảm nhận sự hiện diện của Ngài mãnh liệt hơn và dễ tiếp cận các năng lượng của Ngài hơn.

19. Thus far, DK is speaking of two major groupings of human beings related to a Master’s work—a Master’s group and a Master’s Ashram. It should be said, however, that not all who are merely interested in DK’s Teaching (or in any Master’s Teaching) are necessarily in a Master’s group. More that a little interest is required to be included in such a group. I would say a strong interest in His work and a pledged determination to participate in that work to the extent possible are requirements for inclusion.

19. Cho đến đây, Chân sư DK đang nói về hai tập hợp người chủ yếu có liên hệ với công việc của một Chân sư—nhóm của một Chân sư và ashram của một Chân sư. Tuy nhiên, cần nói rằng không phải tất cả những ai chỉ quan tâm đến Giáo Huấn của Chân sư DK (hoặc Giáo Huấn của bất kỳ Chân sư nào) đều nhất thiết thuộc nhóm của một Chân sư. Để được đưa vào một nhóm như thế, cần có nhiều hơn một chút quan tâm. Tôi cho rằng sự quan tâm sâu sắc đến công việc của Ngài và quyết tâm đã được xác lập bằng lời cam kết tham gia công việc ấy trong khả năng của mình là những điều kiện để được đưa vào nhóm.

20. Master DK established several “Groups-of-Nine” (as reflected in DINA I). These groups were all part of the group of the Master; not all members of these groups, however, were yet in His Ashram. Our groups (for instance, the 28 Rules Group, and the LAWS Group) are still further removed from the presence and supervision of Master DK than those groups, and those groups (at least those formed during the DINA I period) were not yet confirmed ashramic groups (although they were related to His Ashram). We can see that some caution and humility are needed if this subject is to be properly understood.

20. Chân sư DK đã thành lập một số “Nhóm Chín Người” (như được phản ánh trong DINA I). Tất cả những nhóm này đều thuộc nhóm của Chân sư; tuy nhiên, chưa phải mọi thành viên của các nhóm ấy đều đã ở trong ashram của Ngài. Các nhóm của chúng ta (chẳng hạn, Nhóm 28 Quy Luật và Nhóm LAWS) còn xa sự hiện diện và giám sát của Chân sư DK hơn những nhóm ấy, mà những nhóm ấy (ít nhất là những nhóm hình thành trong thời kỳ DINA I) vẫn chưa được xác nhận là các nhóm thuộc ashram (mặc dù họ có liên hệ với ashram của Ngài). Chúng ta có thể thấy rằng cần có sự thận trọng và khiêm nhường nhất định để thấu hiểu đúng đắn chủ đề này.

21. DK is offering this information so that a number of us can work our way out of a group of people rather interested in His work into His group, and more specifically, out of His group into His Ashram. At the present time, Master DK no longer has the kinds of outer groups He once had in the 1930’s and 1940’s, but the time when He again will is, I think, fast approaching.

21. Chân sư DK cung cấp thông tin này để một số người trong chúng ta có thể nỗ lực tiến từ một nhóm người khá quan tâm đến công việc của Ngài vào nhóm của Ngài, và cụ thể hơn, từ nhóm của Ngài vào ashram của Ngài. Hiện nay, Chân sư DK không còn có những loại nhóm bên ngoài mà Ngài từng có trong thập niên 1930 và 1940, nhưng tôi nghĩ thời điểm Ngài lại có những nhóm như thế đang nhanh chóng đến gần.

22. To enter His Ashram some principle discriminations are needed; He is now elaborating on the distinction between personality energies (unfit for ashramic inclusion) and soul energies (which are fit for such inclusion).

22. Để bước vào ashram của Ngài, cần có một số sự phân biện chủ yếu; giờ đây Ngài đang giải thích rõ hơn sự khác biệt giữa các năng lượng phàm ngã (không thích hợp để đưa vào ashram) và các năng lượng linh hồn (thích hợp để đưa vào đó).

23. On the one hand we have “high grade personality inclinations and responses to truth and ideals”. These, of course, are of great value and are to be encouraged in all aspirants and disciples, but such inclinations and responses are not the same as “soul reactions, spiritual wisdom and intuitive perception. ” Let us pause to realize the distinction. These different types of energy demonstrations come from different ‘places’.

23. Một mặt, chúng ta có “những khuynh hướng cao cấp của phàm ngã và những đáp ứng của phàm ngã đối với chân lý và các lý tưởng”. Dĩ nhiên, những điều này có giá trị lớn lao và cần được khuyến khích ở mọi người chí nguyện và đệ tử, nhưng những khuynh hướng và đáp ứng như thế không giống với “những phản ứng của linh hồn, minh triết tinh thần và tri giác trực giác. ” Chúng ta hãy dừng lại để nhận ra sự khác biệt này. Những kiểu biểu lộ năng lượng khác nhau này bắt nguồn từ những ‘nơi chốn khác nhau’.

24. Obviously, then, the more we learn to function consciously as souls-in-incarnation, the more rapidly we will be ‘transferred’ from the Master’s group (or from a group related to His work) to His Ashram.

24. Vậy rõ ràng, càng học cách hoạt động hữu thức như những linh hồn đang nhập thể, chúng ta càng nhanh chóng được ‘chuyển dịch’ từ nhóm của Chân sư (hoặc từ một nhóm có liên hệ với công việc của Ngài) vào ashram của Ngài.

25. Those who are gathered around the Teaching of Master DK (or of any other Master) cannot say with justification that they are a member of His Ashram unless, for other reasons, they know they are, and even then, they would be reluctant to say so unless in the company of those who could be trusted to understand. To say that one may be in the Ashram of a Master is not the same as claiming to be an initiate.

25. Những người quy tụ quanh Giáo Huấn của Chân sư DK (hoặc của bất kỳ Chân sư nào khác) không có cơ sở để nói rằng mình là thành viên trong ashram của Ngài, trừ phi vì những lý do khác, họ biết mình là thành viên; và ngay cả khi ấy, họ cũng sẽ ngần ngại nói ra, trừ khi ở cùng những người mà họ tin có thể thấu hiểu. Nói rằng mình có thể ở trong ashram của một Chân sư không đồng nghĩa với việc tự nhận là một điểm đạo đồ.

26. What is being suggested here is that accepted disciples are learning to live in such a way that they may really contribute to the content of the Ashram. This means they are learning to live beyond their personality—even beyond the higher demonstrations of that personality.

26. Điều được gợi ý ở đây là các đệ tử được chấp nhận đang học cách sống sao cho họ có thể thật sự đóng góp vào nội dung của ashram. Điều này có nghĩa là họ đang học cách sống vượt lên trên phàm ngã của mình—thậm chí vượt lên trên cả những biểu lộ cao hơn của phàm ngã ấy.

The third point which I would like to bring out is that disciples when they form part of an Ashram are subjecting themselves to a greatly increased pressure and are in a position to participate in much wider distribution of energy than heretofore. Today, as the Coming One nears the earth and draws closer to humanity, and as the inflow of spiritual energy from Shamballa into the hierarchical Centre becomes greater, there is a great keying up of human receptivity and a greatly augmented stimulation is taking place with varying effects. This involves an intensified aspiration and spiritual determination. It also signifies an opportunity of an unprecedented nature.

Điểm thứ ba mà Tôi muốn nêu rõ là khi trở thành một phần của ashram, các đệ tử tự đặt mình dưới áp lực gia tăng rất nhiều và có khả năng tham gia phân phối năng lượng rộng rãi hơn trước rất nhiều. Ngày nay, khi Đấng Đang Đến tiến gần Trái Đất và đến gần nhân loại hơn, và khi dòng năng lượng tinh thần từ Shamballa tuôn vào Trung tâm Thánh đoàn ngày càng mạnh mẽ, khả năng tiếp nhận của con người được nâng cao rất nhiều, và một sự kích thích gia tăng mạnh mẽ đang diễn ra với những tác động khác nhau. Điều này bao hàm khát vọng và quyết tâm tinh thần được tăng cường. Nó cũng biểu thị một cơ hội có tính chất chưa từng có.

27. Let us review the major points made thus far: a) accepted disciples are in training for initiation; b) there is a great difference between a Master’s group and a Master’s Ashram.

27. Chúng ta hãy ôn lại những điểm chính đã nêu cho đến đây: a) các đệ tử được chấp nhận đang được huấn luyện để điểm đạo; b) có sự khác biệt lớn giữa nhóm của một Chân sư và ashram của một Chân sư.

28. The third point relates to pressure—a fact of life from which many people try to flee. Those who, as accepted disciples, are entering an Ashram will be subject to ‘ashramic pressure’, and this will intensify all aspects of their personality life (the good and the bad) and their soul life (the good—though perhaps not the best).

28. Điểm thứ ba liên quan đến áp lực—một thực tế của đời sống mà nhiều người cố trốn tránh. Những người đang bước vào một ashram với tư cách đệ tử được chấp nhận sẽ chịu ‘áp lực của ashram’, và điều này sẽ tăng cường mọi phương diện trong đời sống phàm ngã của họ (cả tốt lẫn xấu) và trong đời sống linh hồn của họ (điều tốt—dù có lẽ chưa phải điều tốt nhất).

29. The higher energies are forcing their way into the energy system of the chela, and because of the greatly augmented reception of such energy, its distribution is also greatly enhanced. Those who can stand the pressure are in a position to give more in service. Thus the sacrifice of withstanding ashramic pressure is worth the pain which comes with that pressure.

29. Các năng lượng cao hơn đang tìm đường xâm nhập vào hệ thống năng lượng của đệ tử, và vì khả năng tiếp nhận năng lượng ấy gia tăng rất nhiều, sự phân phối năng lượng ấy cũng được tăng cường đáng kể. Những ai có thể chịu đựng áp lực ấy đều có khả năng cống hiến nhiều hơn trong phụng sự. Vì vậy, sự hi sinh khi chịu đựng áp lực của ashram là xứng đáng với nỗi đau mà áp lực ấy mang lại.

30. The “Coming One” (at least this particular “Coming One”) is the Lord Maitreya, the Christ.

30. “Đấng Đang Đến” (ít nhất là vị “Đấng Đang Đến” cụ thể này) là Đức Di Lặc, Đức Christ.

31. The Coming One is said to be nearing the earth. What may DK mean by this? Can “earth” mean the physical plane or the three lower worlds? It surely cannot mean the planet, for the Christ is already ‘here’.

31. Người ta nói rằng Đấng Đang Đến đang tiến gần Trái Đất. Chân sư DK có thể muốn nói gì qua điều này? Liệu “Trái Đất” có thể hàm ý cõi hồng trần hoặc ba cõi thấp không? Chắc chắn không thể hàm ý hành tinh này, vì Đức Christ đã ở ‘đây’.

32. There are, however, other Avatars who are ‘Coming Ones’, and They, at the time this group instruction was written, may have been nearing the “earth” (considered as a planet). The Avatar of Synthesis was, perhaps, the major one. It is said that He linked with the Planetary Logos at approximately the time that the Great Invocation (Stanza III) was released to humanity through Master DK and Alice Bailey.

32. Tuy nhiên, còn có những Đấng Hoá Thân khác là ‘Các Đấng Đang Đến’, và vào thời điểm bản huấn thị nhóm này được viết, Các Ngài có thể đang tiến gần “Trái Đất” (xét như một hành tinh). Có lẽ Đấng Hoá Thân Tổng Hợp là vị chủ yếu. Người ta nói rằng Ngài đã liên kết với Hành Tinh Thượng đế vào khoảng thời gian Đại Khấn Nguyện (Bài kệ III) được truyền đến nhân loại qua Chân sư DK và Alice Bailey.

33. We learn that Shamballa is behind the general intensification of vibration experienced by humanity, by discipleship groups, and by the individual disciple. Human receptivity is increasing along with intensified aspiration and spiritual determination. Three levels of human beings are, thus, feeling the Shamballically-driven intensification—normal human beings, aspirants and disciples. Of course, initiates and the members of Hierarchy are ‘feeling’ it even more intensely, but that subject is not under discussion at the moment.

33. Chúng ta được biết rằng Shamballa đứng sau sự tăng cường rung động nói chung mà nhân loại, các nhóm đệ tử và từng đệ tử riêng lẻ đang trải nghiệm. Khả năng tiếp nhận của con người đang gia tăng cùng với khát vọng và quyết tâm tinh thần được tăng cường. Như vậy, ba cấp độ con người đang cảm nhận sự tăng cường do Shamballa thúc đẩy—những người bình thường, những người chí nguyện và các đệ tử. Dĩ nhiên, các điểm đạo đồ và các thành viên của Thánh đoàn đang ‘cảm nhận’ điều ấy còn mãnh liệt hơn nữa, nhưng lúc này chúng ta chưa bàn đến chủ đề ấy.

34. If we wish to understand the source of the “unprecedented opportunity” with which we and all human beings are now presented, we learn that it is the esoteric approach of Shamballa. We are living in Shamballic-times. Never has the energy of Shamballa been constructively closer to humanity than during the last two centuries or so, beginning with the year 1825. Since the Shamballic Impact in that year, there have been at least two other Shamballic Impacts and, very likely, more which are imminent—perhaps in 2025 (though this possibility is not discussed in the Teaching). Even if there is no Shamballa Impact, per se, in that year, the Great Conclave of 2025 will be held. Such Conclaves are very strongly under Shamballic impression.

34. Nếu muốn thấu hiểu nguồn gốc của “cơ hội chưa từng có” hiện đang mở ra cho chúng ta và toàn thể nhân loại, chúng ta được biết rằng đó là sự tiến gần của Shamballa về mặt huyền bí. Chúng ta đang sống trong thời đại của Shamballa. Chưa bao giờ năng lượng của Shamballa gần gũi với nhân loại theo chiều hướng xây dựng như trong khoảng hai thế kỷ vừa qua, bắt đầu từ năm 1825. Kể từ Tác Động Shamballa vào năm ấy, đã có ít nhất hai Tác Động Shamballa khác, và rất có thể còn có những tác động nữa sắp xảy ra—có lẽ vào năm 2025 (dù khả năng này không được bàn đến trong Giáo Huấn). Ngay cả nếu chính một Tác Động Shamballa không xảy ra trong năm ấy, Đại Mật Nghị năm 2025 vẫn sẽ được tổ chức. Những Mật Nghị như thế chịu ấn tượng rất mạnh từ Shamballa.

You have been told that when the Buddha came and worked on earth, many aspirants entered the ranks of accepted disciples and many disciples took one or other of the major initiations. There was, therefore, a definite shift of the personnel of the Hierarchy and a great expansion towards Shamballa and, at the same time, towards humanity. When the Christ made His appearance on earth, there was a similar and still greater climaxing effort which culminated in the inclusion of disciples in the Masters’ inner Ashrams. Hitherto, these Ashrams had been kept for those who had taken the first initiation. Before the time of Christ only those who had taken the first initiation and were initiate formed the Ashram. Owing, however, to the growing sensitivity of humanity, it was then decided that disciples could be admitted into the Ashrams and so be mentally and astrally en rapport with the inner group and begin to form part of the Master’s sphere of directed influence.

Các bạn đã được cho biết rằng khi Đức Phật đến và hoạt động trên Trái Đất, nhiều người chí nguyện đã gia nhập hàng ngũ đệ tử được chấp nhận, và nhiều đệ tử đã trải qua một trong những cuộc điểm đạo chủ yếu. Vì vậy, đã có một sự chuyển dịch rõ rệt về nhân sự của Thánh đoàn và một sự mở rộng lớn lao hướng đến Shamballa, đồng thời hướng đến nhân loại. Khi Đức Christ xuất hiện trên Trái Đất, cũng có một nỗ lực tương tự đạt đến cao điểm còn lớn lao hơn, mà đỉnh cao là việc đưa các đệ tử vào những ashram bên trong của các Chân sư. Trước đó, những ashram này chỉ dành cho những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Trước thời Đức Christ, chỉ những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất và là điểm đạo đồ mới hợp thành ashram. Tuy nhiên, do tính nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại, khi ấy đã có quyết định cho phép các đệ tử gia nhập các ashram, nhờ đó hòa hợp với nhóm bên trong về mặt trí tuệ và cảm dục, và bắt đầu trở thành một phần trong phạm vi ảnh hưởng có định hướng của Chân sư.

35. Master DK speaks of the great ingatherings of aspirants, disciples and initiates which occurred in the times of the Buddha and the Christ.

35. Chân sư DK nói về những đợt quy tụ lớn lao của những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ đã diễn ra vào thời Đức Phật và Đức Christ.

36. The ingathering at the time of the Buddha was preliminary. Aspirants became accepted disciples and disciples (accepted disciples) took one or other of the major initiations. (If we study closely what is said here, it becomes clear that those who are not yet accepted disciples are, in a way, considered “aspirants” (sometimes called probationary disciples).

36. Đợt quy tụ vào thời Đức Phật mang tính sơ bộ. Những người chí nguyện trở thành đệ tử được chấp nhận, và các đệ tử (đệ tử được chấp nhận) trải qua một trong những cuộc điểm đạo chủ yếu. (Nếu nghiên cứu kỹ điều được nói ở đây, chúng ta sẽ thấy rõ rằng theo một cách nào đó, những người chưa phải là đệ tử được chấp nhận được xem là “người chí nguyện” (đôi khi được gọi là đệ tử dự bị).

37. The present dual process which sees Hierarchy moving both towards Shamballa and towards humanity seems to have begun at the time of the Buddha last physical incarnation, some 2500 years ago.

37. Tiến trình kép hiện nay, trong đó Thánh đoàn vừa tiến về phía Shamballa vừa tiến về phía nhân loại, dường như đã bắt đầu vào lần lâm phàm hồng trần cuối cùng của Đức Phật, cách đây khoảng 2500 năm.

38. The Buddha is now a Shamballic Being, and at that time seemed to make His first well-defined contact with Shamballa (just as the Christ made His own contact some five hundred years later in the Garden of Gethsemene). The Buddha’s Great Enlightenment was certainly a Shamballic Impression, for He contacted a measure of the “Greatest Light” which relates directly to the “Unfettered Enlightenment” of Shamballa. The Christ however anchored the first strand of Shamballic Will for the sake of humanity. What we might call the ‘Shamballic event’ in the Buddha’s life reached the mental plane; the Christ brought Shamballa all the way ‘down’ to the physical plane.

38. Đức Phật hiện là một Đấng thuộc Shamballa, và vào thời ấy dường như Ngài đã thực hiện sự tiếp xúc rõ rệt đầu tiên với Shamballa (cũng như Đức Christ đã thực hiện sự tiếp xúc của riêng Ngài khoảng năm trăm năm sau đó trong vườn Gethsemene). Sự Đại Giác Ngộ của Đức Phật chắc chắn là một Ấn Tượng từ Shamballa, vì Ngài đã tiếp xúc phần nào với “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất” vốn liên hệ trực tiếp với “Sự Giác Ngộ Không Còn Ràng Buộc” của Shamballa. Tuy nhiên, Đức Christ đã neo giữ sợi đầu tiên của Ý Chí Shamballa vì lợi ích của nhân loại. Điều mà chúng ta có thể gọi là ‘sự kiện Shamballa’ trong cuộc đời Đức Phật đã vươn đến cõi trí; Đức Christ đã đưa Shamballa ‘xuống’ tận cõi hồng trần.

39. The Christ’s initial externalizing work some two thousand years ago made an even greater impact that the Buddha’s work (in terms of ingathering) It represented, DK tells us, “a still greater climaxing effort”, and as a result disciples were included in the Masters’ inner Ashrams.

39. Công việc ngoại hiện ban đầu của Đức Christ cách đây khoảng hai nghìn năm đã tạo ra một tác động còn lớn lao hơn công việc của Đức Phật (xét về sự quy tụ). Chân sư DK cho chúng ta biết rằng công việc ấy thể hiện “một nỗ lực đạt đến cao điểm còn lớn lao hơn”, và kết quả là các đệ tử đã được đưa vào những ashram bên trong của các Chân sư.

40. Now we must read very carefully. We are told that before the time of the Christ “only those who had taken the first initiation and were initiate formed the Ashram. ” A little thought will reveal that the “first initiation” here discussed is probably the third initiation and that the “disciples” here referenced consist of all those who have taken the first planetary initiation (and can thus be accepted disciples, as can those who have taken the planetary second degree) but not the third initiation. (We remember that to take the first planetary degree is no assurance that one is or will immediately be an accepted disciple. ) The clue that DK means the third initiation when He writes of the first is found in the words, “and were initiate”—a phrase which usually relates to those having taken the third degree. Probationary initiates (although they are initiates of the first two degrees) are not referred to as “initiate”.

40. Giờ đây chúng ta phải đọc thật kỹ. Chúng ta được cho biết rằng trước thời Đức Christ, “chỉ những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất và là điểm đạo đồ mới hợp thành ashram. ” Suy ngẫm đôi chút sẽ thấy rằng “lần điểm đạo thứ nhất” được bàn đến ở đây có lẽ là lần điểm đạo thứ ba, và rằng “các đệ tử” được nhắc đến ở đây bao gồm tất cả những ai đã trải qua lần điểm đạo hành tinh thứ nhất (và do đó có thể là đệ tử được chấp nhận, cũng như những người đã đạt cấp điểm đạo hành tinh thứ hai), nhưng chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba. (Chúng ta nhớ rằng việc đạt cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất không bảo đảm một người đã là, hoặc sẽ ngay lập tức trở thành, đệ tử được chấp nhận. ) Manh mối cho thấy Chân sư DK muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba khi Ngài viết về lần thứ nhất nằm trong những từ “và là điểm đạo đồ”—một cụm từ thường liên quan đến những người đã đạt cấp điểm đạo thứ ba. Các điểm đạo đồ dự bị (mặc dù họ là điểm đạo đồ của hai cấp đầu tiên) không được gọi là “điểm đạo đồ”.

41. From the time that Christ last appeared in physical manifestation, it was decided that the sensitivity of humanity was such that “disciples could be admitted in the Ashrams”, thus being in closer touch with the Master. We are speaking, as DK tells us, of admittance to the “inner Ashrams”. The meaning of the term “disciples”, (as here used) is, I think, “accepted disciples” or, at least, those whom the Master has been supervising for some time and who are no longer probationary, but at least pledged. An initiate of the first planetary degree, however, is not necessarily an accepted disciple, and so, according to the terminology we have been reviewing in this paragraph, could simply be considered an “aspirant”. While an initiate of the first planetary degree, the “Birth” is not necessarily an accepted disciple, most initiates of the second degree can be considered to be so.

41. Kể từ lần cuối Đức Christ xuất hiện trong sự biểu hiện hồng trần, đã có quyết định rằng tính nhạy cảm của nhân loại đã đạt đến mức “các đệ tử có thể được thu nhận vào các ashram”, nhờ đó tiếp xúc gần gũi hơn với Chân sư. Như Chân sư DK cho chúng ta biết, chúng ta đang nói đến việc được thu nhận vào “những ashram bên trong”. Tôi nghĩ ý nghĩa của thuật ngữ “các đệ tử” (như được dùng ở đây) là “các đệ tử được chấp nhận”, hoặc ít nhất là những người mà Chân sư đã giám sát một thời gian, không còn ở giai đoạn dự bị mà ít nhất đã cam kết. Tuy nhiên, một điểm đạo đồ của cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất không nhất thiết là đệ tử được chấp nhận, và do đó, theo hệ thuật ngữ mà chúng ta đang xem xét trong đoạn này, người ấy có thể chỉ được xem là một “người chí nguyện”. Trong khi một điểm đạo đồ của cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất, “Giáng Sinh”, không nhất thiết là đệ tử được chấp nhận, thì phần lớn điểm đạo đồ cấp hai có thể được xem là như thế.

42. It is often confusing to understand how Master DK uses the terms “aspirant”, “disciple” and “initiate”. From the foregoing we may conclude that, from a perspective often used,

42. Việc thấu hiểu cách Chân sư DK sử dụng các thuật ngữ “người chí nguyện”, “đệ tử” và “điểm đạo đồ” thường gây bối rối. Từ những điều trên, chúng ta có thể kết luận rằng, theo một góc nhìn thường được sử dụng,

a. all who are not yet accepted disciples (even though they be initiates of the first planetary degree) are still to be considered aspirants or probationary disciples;

a. tất cả những ai chưa phải là đệ tử được chấp nhận (dù họ là điểm đạo đồ của cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất) vẫn phải được xem là người chí nguyện hoặc đệ tử dự bị;

b. when a disciple becomes an “accepted disciple”, he or she is no longer an aspirant, but is, well and truly, a disciple;

b. khi một đệ tử trở thành “đệ tử được chấp nhận”, người ấy không còn là người chí nguyện nữa mà đã thật sự là một đệ tử;

c. a probationary initiate of the first or second degree may be considered an aspirant or a disciple, depending upon the perspective employed, but is not really considered “initiate”;

c. một điểm đạo đồ dự bị cấp một hoặc cấp hai có thể được xem là người chí nguyện hoặc đệ tử, tùy theo góc nhìn được sử dụng, nhưng chưa thật sự được xem là “điểm đạo đồ”;

d. the term “disciple” can be used to indicate one who is not yet an accepted disciple, but is often used to indicate only one who is an accepted disciple;

d. thuật ngữ “đệ tử” có thể được dùng để chỉ một người chưa phải là đệ tử được chấp nhận, nhưng thường chỉ được dùng để chỉ người đã là đệ tử được chấp nhận;

e. a true initiate (i. e. , one who is “initiate”) is an initiate of the third degree (i. e. , of the first solar degree). Sometimes DK differentiates between the first planetary initiation and the first solar initiation, but often, He simply says “first initiation”, and then it will be up to the reader to discern His meaning.

e. một điểm đạo đồ đích thực (tức là người “là điểm đạo đồ”) là một điểm đạo đồ cấp ba (tức là thuộc cấp điểm đạo thái dương thứ nhất). Đôi khi Chân sư DK phân biệt lần điểm đạo hành tinh thứ nhất với lần điểm đạo thái dương thứ nhất, nhưng thường thì Ngài chỉ nói “lần điểm đạo thứ nhất”, và khi ấy người đọc phải tự phân biện tinh thần để nhận ra ý Ngài.

43. Important information concerning those who are members of an Ashram is here given:

43. Ở đây có thông tin quan trọng về những người là thành viên của một ashram:

a. members of an Ashram are mentally and astrally en rapport with the “inner group”. We note that astral rapport is included. Physical-brain and etheric rapport is not necessarily included. We would assume that mental-rapport would, naturally, be included.

a. các thành viên của một ashram có sự tương thông về trí tuệ và cảm dục với “nhóm bên trong”. Chúng ta lưu ý rằng sự tương thông cảm dục cũng được bao gồm. Sự tương thông qua bộ não hồng trần và dĩ thái không nhất thiết được bao gồm. Chúng ta có thể cho rằng sự tương thông trí tuệ đương nhiên được bao gồm.

b. an Ashram is the “sphere of the Master’s directed influence”. This means that a Master’s group is not part of this sphere, at least not to the same extent as the “inner Ashram”.

b. một ashram là “khối cầu chịu ảnh hưởng có định hướng của Chân sư”. Điều này có nghĩa là nhóm của một Chân sư không thuộc khối cầu này, ít nhất là không ở cùng mức độ như “ashram bên trong”.

This is the opportunity which is held out today before the aspirants and probationary disciples. This effort might be termed an externalisation of the Ashram. You have been told that it is the intention of the Hierarchy to restore the Mysteries on earth. This is the first step towards that objective. If this embryonic externalisation succeeds in functioning and if those participating in this new effort manage to work with unity, love and understanding, and if this proves so strong as to withstand all disintegrating forces, then it may be possible later to increase the membership, power and size of any Ashram. [696] This lies entirely in the hands of the group. Every new person who is put in touch with the Ashram becomes a definite responsibility. The work of integration and of absorption lies with the Ashram and not with the individual. This is not easily apparent until disciples are accepted and integral parts of the Ashram. Such disciples constitute a definite problem.

Đây là cơ hội ngày nay mở ra trước những người chí nguyện và các đệ tử dự bị. Nỗ lực này có thể được gọi là sự ngoại hiện của ashram. Các bạn đã được cho biết rằng Thánh đoàn có ý định khôi phục các Huyền Nhiệm trên Trái Đất. Đây là bước đầu tiên hướng tới mục tiêu ấy. Nếu sự ngoại hiện ở giai đoạn phôi thai này hoạt động thành công, và nếu những người tham gia nỗ lực mới này có thể làm việc trong sự hợp nhất, tình thương và thấu hiểu, và nếu sự hợp nhất ấy chứng tỏ đủ mạnh để chống chọi mọi mãnh lực gây tan rã, thì về sau có thể gia tăng số thành viên, quyền năng và quy mô của bất kỳ ashram nào. [696] Điều này hoàn toàn nằm trong tay của nhóm. Mỗi người mới được kết nối với ashram đều trở thành một trách nhiệm rõ rệt. Công việc tích hợp và thu nhận thuộc về ashram, chứ không thuộc về cá nhân. Điều này không dễ thấy rõ cho đến khi các đệ tử được chấp nhận và trở thành những thành phần không thể tách rời của ashram. Những đệ tử như thế tạo thành một vấn đề rõ rệt.

44. DK has been speaking of the processes by means of which those upon the spiritual path ascend to the next level of spiritual attainment. The widespread opportunity to do so is even more intensely present today than it was in the days of the Buddha or the Christ.

44. Chân sư DK đã nói về những tiến trình nhờ đó những người trên con đường tinh thần vươn lên cấp độ thành tựu tinh thần kế tiếp. Ngày nay, cơ hội rộng mở để làm điều ấy còn hiện diện mạnh mẽ hơn cả vào thời Đức Phật hay Đức Christ.

45. Is there a distinction between the “aspirant” and the “probationary disciple”? If so, we might say that the stage of “aspirant” begins definitely before the first degree may be taken (and, as we have seen, may be considered as extending to the stage of Accepted Discipleship). The term “probationary disciple” may indicate a slightly greater degree of advancement than that of “aspirant”, per se, because the word “disciple” is included in the term (indicating, as it does, a greater degree of mental focus and, hence, of stability). From one perspective we might think of the term “probationary disciple” as beginning at the first planetary degree, the “Birth” and lasting until Accepted Discipleship. From another perspective, however, the term is used almost interchangeably with the term “aspirant”, and so can be regarded as beginning before the planetary first degree. It may be regarded as correct to consider the “Path of Aspiration” and the “Path of Probationary Discipleship” to be equivalent, though it is reasonable to think of the first path beginning earlier than the second.

45. Có sự phân biệt nào giữa “người chí nguyện” và “đệ tử dự bị” không? Nếu có, chúng ta có thể nói rằng giai đoạn “người chí nguyện” chắc chắn bắt đầu trước khi có thể đạt bậc điểm đạo thứ nhất (và, như chúng ta đã thấy, có thể được xem là kéo dài đến giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận). Thuật ngữ “đệ tử dự bị” có thể chỉ một mức độ tiến bộ cao hơn đôi chút so với chính danh xưng “người chí nguyện”, vì từ “đệ tử” nằm trong thuật ngữ ấy (qua đó cho thấy một mức độ tập trung trí tuệ cao hơn và, do đó, ổn định hơn). Từ một góc nhìn, chúng ta có thể nghĩ rằng thuật ngữ “đệ tử dự bị” bắt đầu từ bậc điểm đạo hành tinh thứ nhất, tức “Giáng Sinh”, và kéo dài đến Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, thuật ngữ này được dùng gần như thay thế cho thuật ngữ “người chí nguyện”, nên có thể được xem là bắt đầu trước bậc điểm đạo hành tinh thứ nhất. Có thể xem là đúng khi coi “Con Đường Chí Nguyện” và “Con Đường Đệ Tử Dự Bị” là tương đương, dù cũng hợp lý khi nghĩ rằng con đường thứ nhất bắt đầu sớm hơn con đường thứ hai.

46. The opportunity before aspirants and disciples today is to participate in the “externalization of the Ashram”. In these studies we are talking specifically about the externalization of Master DK’s Ashram, though some other Ashrams are, in general, part of this experimental process.

46. Cơ hội trước mắt những người chí nguyện và các đệ tử ngày nay là tham gia vào “sự ngoại hiện của ashram”. Trong những nghiên cứu này, chúng ta đang nói cụ thể về sự ngoại hiện của ashram của Chân sư DK, dù nhìn chung một số ashram khác cũng tham gia tiến trình thử nghiệm này.

47. Hierarchy is intent upon restoring the Mysteries on earth. The ingathering, the ‘promotions’, and the general process of externalization is all part of this Restoration. The Restoration of the Mysteries should be considered in relation to Aries and to the “Forces of Restoration” which are powerful at the Aries Full Moon (nominally, Easter).

47. Thánh đoàn quyết tâm khôi phục các Huyền Nhiệm trên Trái Đất. Sự quy tụ, những ‘lần thăng cấp’ và tiến trình ngoại hiện nói chung đều thuộc về sự Khôi Phục này. Cần xem xét Sự Khôi Phục các Huyền Nhiệm trong mối liên hệ với Bạch Dương và với “Các Mãnh Lực Khôi Phục” vốn mạnh mẽ vào kỳ Trăng Tròn Bạch Dương (trên danh nghĩa là Lễ Phục Sinh).

48. We can see that Master DK’s experiment with His own Ashram is a kind of test. It is an “embryonic externalisation”, an externalisation in its very earliest phases. Some sixty to seventy years ago He was writing in the present tense; now we know that the externalisation He intended did not succeed as He had hoped. His disciples did not succeed in working with sufficient unity, love and understanding and the effort, overall, did not withstand “all disintegrating forces”.

48. Chúng ta có thể thấy rằng cuộc thử nghiệm của Chân sư DK với chính ashram của Ngài là một dạng kiểm nghiệm. Đó là một “sự ngoại hiện ở giai đoạn phôi thai”, một sự ngoại hiện trong những giai đoạn sơ khởi nhất. Khoảng sáu mươi đến bảy mươi năm trước, Ngài đã viết ở thì hiện tại; giờ đây chúng ta biết rằng sự ngoại hiện mà Ngài dự định đã không thành công như Ngài hy vọng. Các đệ tử của Ngài đã không thành công trong việc làm việc với đủ sự hợp nhất, tình thương và thấu hiểu, và xét tổng thể, nỗ lực ấy đã không chống chọi được “mọi mãnh lực gây tan rã”.

49. Had there been success, we are told, it would have been possible to increase the size and power of any Ashram. So Master DK’s work was a kind of probe, and the ‘probation’ failed. We see that Hierarchy (under Uranus, which is the exoteric ruler of Aquarius) is an experimenting group. When a hierarchical experiment is successful, it may be deemed wise (under the Law of Economy) to conduct more experiments of the kind. We should realize that (such is the nature of Hierarchy) many experiments with externalization lie ahead. The Hierarchy will externalize, but Their methods are often unanticipated.

49. Chúng ta được cho biết rằng nếu đã thành công, thì có thể đã gia tăng quy mô và quyền năng của bất kỳ ashram nào. Vì vậy, công việc của Chân sư DK là một dạng thăm dò, và ‘cuộc thử thách’ ấy đã thất bại. Chúng ta thấy rằng Thánh đoàn (dưới ảnh hưởng của Sao Thiên Vương, chủ tinh ngoại môn của Bảo Bình) là một nhóm tiến hành thử nghiệm. Khi một cuộc thử nghiệm của Thánh đoàn thành công, việc tiến hành thêm các cuộc thử nghiệm cùng loại có thể được xem là khôn ngoan (theo Định luật Tiết Kiệm). Chúng ta nên nhận ra rằng (bản chất của Thánh đoàn là như vậy) còn nhiều cuộc thử nghiệm về sự ngoại hiện đang ở phía trước. Thánh đoàn sẽ ngoại hiện, nhưng phương pháp của Các Ngài thường nằm ngoài dự liệu.

50. DK speaks again of His group, composed of the several groups He had organized. Success or failure lay “entirely” in their hands. One feels the weight of responsibility which must have impressed itself upon early readers of these group instructions—readers who were, in fact, members of such groups within the Master’s group.

50. Chân sư DK lại nói về nhóm của Ngài, gồm một số nhóm mà Ngài đã tổ chức. Thành công hay thất bại nằm “hoàn toàn” trong tay họ. Người ta cảm nhận được sức nặng của trách nhiệm hẳn đã in sâu vào những người đầu tiên đọc các huấn thị dành cho nhóm này—những độc giả thực ra là thành viên của các nhóm như thế trong nhóm của Chân sư.

51. Then DK generalizes about the relationship of the accepted disciple to the Ashram. The newly accepted disciple is a “definite responsibility” and a “definite problem”—not only to himself, but to the Ashram.

51. Sau đó, Chân sư DK khái quát về mối quan hệ giữa đệ tử được chấp nhận và ashram. Người đệ tử mới được chấp nhận là một “trách nhiệm rõ rệt” và một “vấn đề rõ rệt”—không chỉ đối với chính mình, mà cả với ashram.

52. Yet the adjustments required (integration and absorption into the Ashram) must come very much from the Ashram itself. Should we become accepted disciples, or should we recognize that we already are, we probably do not realize anything like the full extent of the problem to the Ashram we are or have been. Ours is not yet the ashramic perspective.

52. Tuy nhiên, những điều chỉnh cần thiết (sự tích hợp và thu nhận vào ashram) phải phần lớn đến từ chính ashram. Nếu chúng ta trở thành đệ tử được chấp nhận, hoặc nếu chúng ta nhận ra rằng mình đã là như thế, thì có lẽ chúng ta còn lâu mới nhận ra đầy đủ mức độ của vấn đề đối với ashram mà chúng ta đang hoặc đã tạo ra. Chúng ta chưa có góc nhìn của ashram.

53. We can see why a Master must measure with great care the possibility of accepting a disciple. It is far from a casual choice, and the welfare of the Ashram is always at stake, as well, of course, as the welfare of the new accepted disciple who is inevitably placed under extreme pressure due to his acceptance.

53. Chúng ta có thể thấy vì sao một Chân sư phải cân nhắc hết sức cẩn trọng khả năng chấp nhận một đệ tử. Đó hoàn toàn không phải một lựa chọn tùy tiện, và sự an lạc của ashram luôn được đặt lên bàn cân, cũng như, tất nhiên, sự an lạc của người đệ tử mới được chấp nhận, người tất yếu phải chịu áp lực cực lớn do việc được chấp nhận ấy.

The question now arises: How does a Master form and organise His Ashram or inner group of which the personnel is provided from the outer group of aspirants? It must surely be apparent to you that a Master, in forming His Ashram, proceeds as automatically as does the Creator. He meditates; He visualises; He speaks and that which He seeks to create and to materialise (in line with the hierarchical Plan) begins to take form. By the power of His focussed and directed thought, He attracts to Him those whose type of mind synchronises with His, because of ray, karmic relationships, point in evolution and love for humanity. In the words focus and direction lay the key to any technique or method of contributing to what I might here call the reservoir of thought which is an Ashram. It is a sustained focus, plus a dynamic direction which makes this reservoir of thought contributory to world service and creatively effective. The important thing for an accepted disciple to grasp is what the Master is seeking to accomplish through the medium of His group. This entails, finally, the enquiry, in the mind of the disciple, as to whether he thinks, focusses and works along lines similar to that of the Master. How close is the disciple to the Master’s thoughts? The Master is prevented by occult law from using any pressure or power in the effort to swing the minds of those whom He is influencing into unison with His. He may not impose His will upon the disciple; His desires, aspirations and wishes must not be the enforced directing agency in the lives of those with whom He is in touch. He may impress their minds with what He feels is needed in periods of world crisis. He can express to them what He feels should be done. But it remains for the disciple to decide and prove. Disciples are in a Master’s group because of similarity of ideas, even though they sense and express those ideas far less clearly than He does and see the vision as through a glass darkly. But their innate convictions are [697] basically the same and their task is to discover the points of contact, the analogous idealism for the group effort and then to submerge their entire individual lives and activities in the recognised effort. Behind this effort stands the Master—an initiating and distributing centre of power.

Giờ đây nảy sinh câu hỏi: Một Chân sư hình thành và tổ chức ashram hay nhóm bên trong của Ngài như thế nào, khi nhân sự của nhóm này đến từ nhóm người chí nguyện bên ngoài? Hẳn các bạn phải thấy rõ rằng khi hình thành ashram của Ngài, một Chân sư tiến hành một cách tự động như Đấng Sáng Tạo. Ngài tham thiền; Ngài hình dung; Ngài cất lời, và điều Ngài tìm cách sáng tạo và hiện hình (phù hợp với Thiên Cơ của Thánh đoàn) bắt đầu thành hình. Bằng quyền năng tư tưởng tập trung và có định hướng của Ngài, Ngài thu hút về phía mình những người có loại thể trí đồng nhịp với thể trí của Ngài, do cung, các mối quan hệ nghiệp quả, điểm tiến hoá và tình thương dành cho nhân loại. Trong hai từ tập trung và định hướng có chìa khóa cho bất kỳ kỹ thuật hay phương pháp đóng góp nào vào điều mà ở đây Tôi có thể gọi là kho dự trữ tư tưởng, tức một ashram. Chính sự tập trung bền bỉ, cộng với sự định hướng năng động, khiến kho dự trữ tư tưởng này đóng góp vào việc phụng sự thế gian và có hiệu quả sáng tạo. Điều quan trọng mà một đệ tử được chấp nhận cần nắm bắt là Chân sư đang tìm cách hoàn thành điều gì thông qua nhóm của Ngài. Cuối cùng, điều này đòi hỏi người đệ tử tự hỏi trong thể trí mình liệu mình có suy nghĩ, tập trung và làm việc theo những đường hướng tương tự Chân sư hay không. Người đệ tử gần gũi với tư tưởng của Chân sư đến mức nào? Định luật huyền bí ngăn Chân sư sử dụng bất kỳ áp lực hay quyền năng nào để cố đưa thể trí của những người chịu ảnh hưởng của Ngài vào sự đồng điệu với thể trí của Ngài. Ngài không được áp đặt ý chí của mình lên người đệ tử; những mong muốn, khát vọng và nguyện ước của Ngài không được trở thành tác nhân chỉ đạo mang tính cưỡng ép trong đời sống của những người Ngài tiếp xúc. Ngài có thể ghi ấn lên thể trí họ điều Ngài cảm thấy là cần thiết trong những thời kỳ khủng hoảng thế giới. Ngài có thể bày tỏ với họ điều Ngài cảm thấy nên làm. Nhưng người đệ tử vẫn phải tự quyết định và chứng minh. Các đệ tử ở trong nhóm của một Chân sư vì sự tương đồng về ý tưởng, dù họ cảm nhận và biểu đạt những ý tưởng ấy kém rõ ràng hơn Ngài rất nhiều và nhìn thấy tầm nhìn như qua một tấm kính mờ. Nhưng về cơ bản, những xác tín vốn có của họ [697] là như nhau, và nhiệm vụ của họ là khám phá những điểm tiếp xúc, tinh thần lý tưởng tương đồng cho nỗ lực nhóm, rồi hòa toàn bộ đời sống và hoạt động cá nhân của mình vào nỗ lực đã nhận biết ấy. Đứng sau nỗ lực này là Chân sư—một trung tâm khởi xướng và phân phối quyền năng.