Trích nội dung chương
54. DK now discusses the procedure of forming and organizing an Ashram, which is an “inner group” when compared to the “outer group” of aspirants (as He names them here). 54. Giờ đây, Chân sư DK bàn về phương thức hình thành và tổ chức một ashram, vốn là một “nhóm bên trong” khi so với “nhóm bên ngoài” gồm những người chí nguyện (như Ngài gọi họ ở đây).
54. DK now discusses the procedure of forming and organizing an Ashram, which is an “inner group” when compared to the “outer group” of aspirants (as He names them here).
54. Giờ đây, Chân sư DK bàn về phương thức hình thành và tổ chức một ashram, vốn là một “nhóm bên trong” khi so với “nhóm bên ngoài” gồm những người chí nguyện (như Ngài gọi họ ở đây).
55. To do this, the Master meditates, visualizes and speaks (each of these acts representing one of the first three aspects of divinity). He forms His Ashram through a white-magical process. We can follow similar procedures (dim reflections of the Master’s process) as we attempt to form our groups upon the physical plane.
55. Để làm điều này, Chân sư tham thiền, hình dung và cất lời (mỗi hành động này đại diện cho một trong ba phương diện đầu tiên của thiên tính). Ngài hình thành ashram của mình qua một tiến trình chánh thuật. Chúng ta có thể làm theo những phương thức tương tự (những phản chiếu mờ nhạt của tiến trình của Chân sư) khi cố gắng hình thành các nhóm của mình trên cõi hồng trần.
56. The Master uses the attractive power of “focussed and directed thought”. If aspirants or disciples are drawn to Him, via His thought, it will be because their type of mind synchronizes with His; because of similarity of ray; because of karmic relationships, a sufficient point in evolution and, very importantly, because of their love for humanity. We can see that the formation of an Ashram is a scientific process based on sound. We can also see that this process is very selective. Disciples do not ‘join’ and Ashram simply because they wish to. They must be fit to do so and appropriate for a particular Master’s Ashram; the criteria are specific and exacting.
56. Chân sư sử dụng quyền năng thu hút của “tư tưởng tập trung và có định hướng”. Nếu những người chí nguyện hay các đệ tử được thu hút đến với Ngài qua tư tưởng của Ngài, thì đó là vì loại thể trí của họ đồng nhịp với thể trí của Ngài; vì sự tương đồng về cung; vì các mối quan hệ nghiệp quả, một điểm tiến hoá đủ cao và, rất quan trọng, vì tình thương của họ dành cho nhân loại. Chúng ta có thể thấy rằng sự hình thành một ashram là một tiến trình khoa học dựa trên âm thanh. Chúng ta cũng có thể thấy rằng tiến trình này có tính chọn lọc rất cao. Các đệ tử không ‘gia nhập’ một ashram chỉ vì họ muốn thế. Họ phải đủ tư cách để làm điều ấy và phù hợp với ashram của một Chân sư cụ thể; các tiêu chí đều cụ thể và khắt khe.
57. Serious students of the Tibetan’s books should ponder on their relation to the Ageless Wisdom and more specifically, on their possible relationship to Master DK. Some of the criteria have been given and we have the opportunity to measure ourselves against them. We know of many potential students of the Bailey Books who begin reading in earnest only to discover that their mind does not synchronize with the Master’s mind; among other reasons, there may be a fundamental dissimilarity of ray. This is an important initial test. The “Blue Books” sound their own distinctive note and only those who can resonate to them to a significant degree will find themselves, eventually, within Master DK’s “inner group”. (Some, however, may be in His Ashram Who resonate closely to Him and who are not readers of His books, but reading His great Teaching is filled with advantages for knowing the nature of His thought. )
57. Những đạo sinh nghiêm túc nghiên cứu các sách của Chân sư Tây Tạng nên suy ngẫm về mối quan hệ của mình với Minh Triết Ngàn Đời và, cụ thể hơn, về mối quan hệ mà mình có thể có với Chân sư DK. Một số tiêu chí đã được đưa ra và chúng ta có cơ hội đối chiếu bản thân với chúng. Chúng ta biết nhiều người có tiềm năng trở thành đạo sinh nghiên cứu sách Bailey đã bắt đầu đọc một cách nghiêm túc, rồi lại khám phá ra rằng thể trí của họ không đồng nhịp với thể trí của Chân sư; trong số các nguyên nhân, có thể có sự khác biệt căn bản về cung. Đây là một phép thử ban đầu quan trọng. Những “Quyển Sách Xanh” ngân lên âm điệu đặc trưng riêng, và chỉ những ai có thể cộng hưởng với chúng ở mức độ đáng kể mới cuối cùng thấy mình ở trong “nhóm bên trong” của Chân sư DK. (Tuy nhiên, một số người có thể ở trong ashram của Ngài, cộng hưởng mật thiết với Ngài mà không đọc sách của Ngài; dù vậy, việc đọc Giáo Huấn vĩ đại của Ngài mang lại rất nhiều thuận lợi để biết bản chất tư tưởng của Ngài. )
58. Of course, we must remember that Master DK is busy training the disciples from several Ashrams and upon various different rays (first, third, sixth and seventh ray souls were to be found in His Groups-of-Nine), but regardless of some ray differences and various fundamental ashramic affiliations, most if not all of the disciples on the outer plane who could be trained by Him, had at least a significant attraction to what He said in book form. If they were not second ray souls, it is likely they were second ray monads.
58. Dĩ nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Chân sư DK bận huấn luyện các đệ tử từ nhiều ashram và thuộc nhiều cung khác nhau (trong các Nhóm Chín Người của Ngài có những linh hồn cung một, cung ba, cung sáu và cung bảy), nhưng bất kể một số khác biệt về cung và những mối liên hệ căn bản với các ashram khác nhau, phần lớn, nếu không phải tất cả, các đệ tử trên cõi bên ngoài có thể được Ngài huấn luyện ít nhất cũng cảm thấy sức thu hút đáng kể từ những điều Ngài trình bày trong sách. Nếu họ không phải là những linh hồn cung hai, thì có lẽ họ là những chân thần cung hai.
59. DK highlights the word “focus” with regard to making a contribution to the Ashram. We receive another definition of the term, “Ashram”: it is a “reservoir of thought”, and focus is required of those who would contribute to that reservoir.
59. Chân sư DK nhấn mạnh từ “tập trung” liên quan đến việc đóng góp cho ashram. Chúng ta nhận được một định nghĩa khác về thuật ngữ “ashram”: đó là một “kho dự trữ tư tưởng”, và những ai muốn đóng góp vào kho dự trữ ấy đều cần có sự tập trung.
60. There are at least two perspectives from which the idea of “contribution” is to be considered. We have just considered the possibility that a disciple may (and, really, must) contribute to the Ashram. Now, we consider the Ashram’s contribution to humanity and the planet. It is “sustained focus” and “dynamic direction” that make an Ashram “contributory to world service and creatively effective”. It seems it would also be incumbent upon any accepted disciple to serve the world (and the Ashramic intent) through a ‘sustained focus of thought, dynamically directed’. The implication is that accepted disciples must learn to serve through thought.
60. Có ít nhất hai góc nhìn để xem xét ý tưởng “đóng góp”. Chúng ta vừa xem xét khả năng một đệ tử có thể (và thực ra phải) đóng góp cho ashram. Giờ đây, chúng ta xem xét sự đóng góp của ashram ấy cho nhân loại và hành tinh. Chính “sự tập trung bền bỉ” và “sự định hướng năng động” khiến một ashram “đóng góp vào việc phụng sự thế gian và có hiệu quả sáng tạo”. Dường như bất kỳ đệ tử được chấp nhận nào cũng có bổn phận phụng sự thế gian (và ý định của ashram) thông qua một ‘sự tập trung tư tưởng bền bỉ, được định hướng một cách năng động’. Điều này hàm ý rằng các đệ tử được chấp nhận phải học cách phụng sự bằng tư tưởng.
61. We come to the important idea that a disciple who is a prospective member of a Master’s group (or Ashram) must really come to understand the nature of a Master’s objectives when working through any particular group. What does the Master seek to see accomplished? It is a decentralizing question.
61. Chúng ta đi đến ý tưởng quan trọng rằng một đệ tử có triển vọng trở thành thành viên trong nhóm của một Chân sư (hay ashram) phải thực sự đi đến chỗ thấu hiểu bản chất các mục tiêu của Chân sư khi Ngài làm việc qua bất kỳ nhóm cụ thể nào. Điều mà Chân sư muốn thấy hoàn thành là gì? Đó là một câu hỏi giúp phi tập trung vào bản thân.
62. Do we, as prospective members of Master DK’s Ashram, think, focus and work along lines which are similar to the Master? How close, really, are we to the Master’s thoughts? This will not be a question easily answered, but there are many clues which can help us towards a reasonably accurate conclusion. The many books written by Master DK should reveal something about His thinking process, to which we may compare our own. (With much study of His books, of course, our thinking process may come to resemble His increasingly. )
62. Là những thành viên tương lai của ashram của Chân sư DK, chúng ta có suy nghĩ, tập trung và làm việc theo những đường hướng tương tự Chân sư không? Thực sự, chúng ta gần gũi đến mức nào với tư tưởng của Chân sư? Đây sẽ không phải là câu hỏi dễ trả lời, nhưng có nhiều manh mối có thể giúp chúng ta đi đến một kết luận tương đối chính xác. Nhiều cuốn sách do Chân sư DK viết hẳn phải cho thấy phần nào tiến trình tư duy của Ngài, để chúng ta có thể đối chiếu với tiến trình của mình. (Dĩ nhiên, khi nghiên cứu nhiều sách của Ngài, tiến trình tư duy của chúng ta có thể ngày càng giống với tiến trình của Ngài. )
63. As well, by reading the pamphlet, “My Work” and by reviewing the various activities Master DK sought to establish through the Arcane School and the Lucis Trust, the outlines of His external work should be no mystery and, again, we may measure our tendency to work in certain ways and directions against the work which He seeks to see accomplished.
63. Ngoài ra, qua việc đọc tập sách nhỏ “Công Việc của Tôi” và xem lại các hoạt động khác nhau mà Chân sư DK đã tìm cách thiết lập thông qua Trường Arcane và Quỹ Lucis, những nét chính trong công việc bên ngoài của Ngài hẳn không còn là điều bí ẩn; một lần nữa, chúng ta có thể đối chiếu khuynh hướng làm việc theo những cách thức và đường hướng nhất định của mình với công việc mà Ngài muốn thấy hoàn thành.
64. DK focusses on an occult law which prevents the Master from swaying a disciple’s mind. The Master may not use His will to enforce a disciple’s compliance with His thoughts, wishes, hopes and aspirations. The Master may not become an enforcing, directing agency in the lives of His disciples. The members of the Black Lodge are limited by no such constraints; they do not respect anyone’s free will. Should the Master impose His will upon His disciples, He could surely overcome them, but in the last analysis, the disciples would not evolve and, at length, would revolt from the imposition. Nothing of lasting value would be accomplished and they would be weakened instead of strengthened towards an eventual Mastership.
64. Chân sư DK tập trung vào một định luật huyền bí ngăn Chân sư thao túng thể trí của một đệ tử. Chân sư không được sử dụng ý chí của mình để buộc một đệ tử tuân theo những tư tưởng, nguyện ước, hy vọng và khát vọng của Ngài. Chân sư không được trở thành một tác nhân cưỡng ép, chỉ đạo trong đời sống các đệ tử của Ngài. Các thành viên của Hắc đoàn không chịu những ràng buộc như vậy; họ không tôn trọng ý chí tự do của bất kỳ ai. Nếu Chân sư áp đặt ý chí của Ngài lên các đệ tử, chắc chắn Ngài có thể khuất phục họ, nhưng xét đến cùng, các đệ tử sẽ không tiến hoá và về lâu dài sẽ nổi loạn chống lại sự áp đặt ấy. Sẽ không hoàn thành được điều gì có giá trị lâu bền, và họ sẽ suy yếu thay vì được củng cố để cuối cùng đạt quả vị Chân sư.
65. What the Master can do is to impress their minds (without imposing His will); He may express strongly that which He feels should be done. But according to the Sirian Law of Freedom, the disciple must be left free to decide the final issue.
65. Điều Chân sư có thể làm là ghi ấn lên thể trí họ (mà không áp đặt ý chí của Ngài); Ngài có thể bày tỏ mạnh mẽ điều Ngài cảm thấy nên làm. Nhưng theo Định luật Tự Do của Sao Thiên Lang, người đệ tử phải được tự do quyết định vấn đề cuối cùng.
66. Master DK compares the Master with His disciples; they both share a certain “similarity of ideas”, however fallible may be the disciples’ vision and however flawed may be their expression of those ideas. The passage of time will help them see the Master’s vision with increasing clarity and will develop their skill-in-action so that they may contribute usefully to the manifestation of the Master’s ideas. At first, as the Master scans the world for potential members of His Ashram, it is simply similarity in quality of thought which is sought.
66. Chân sư DK so sánh Chân sư với các đệ tử của Ngài; cả hai đều có một mức độ “tương đồng về ý tưởng”, dù tầm nhìn của các đệ tử có thể sai lệch đến đâu và cách họ biểu đạt những ý tưởng ấy có thể khiếm khuyết đến mức nào. Thời gian trôi qua sẽ giúp họ nhìn thấy tầm nhìn của Chân sư ngày càng rõ ràng hơn và phát triển sự khéo léo trong hành động, để họ có thể đóng góp hữu ích vào sự biểu hiện các ý tưởng của Chân sư. Ban đầu, khi Chân sư dò xét thế gian để tìm những thành viên tiềm năng cho ashram của Ngài, điều Ngài tìm kiếm đơn giản là sự tương đồng về phẩm tính tư tưởng.
67. A disciple who has the potential truly to be a member of a Master’s Ashram, shares with that particular Master certain “innate convictions”. Starting with the foundation of those shared convictions, the disciple’s task is to discover “points of contact” and “analogous idealisms”; then follows the submergence of the disciple’s life in the work of the Ashram, to the extent that the disciple may recognize that work.
67. Một đệ tử có tiềm năng thực sự trở thành thành viên trong ashram của một Chân sư chia sẻ với chính Chân sư ấy những “xác tín vốn có”. Khởi đầu từ nền tảng những xác tín chung ấy, nhiệm vụ của người đệ tử là khám phá “những điểm tiếp xúc” và “những tinh thần lý tưởng tương đồng”; tiếp đó là sự hòa nhập đời sống của người đệ tử vào công việc của ashram, trong chừng mực người đệ tử có thể nhận biết công việc ấy.
68. Thus, similarity of quality is the basis of future cooperation. Once that similarity is recognized, the disciple is responsible for many adjustments and modifications in individual thought and behavior. The prognosis, however, will generally be good (over time) because the energetic basis for affiliation and cooperation is harmonious and sound.
68. Như vậy, sự tương đồng về phẩm tính là nền tảng của sự hợp tác trong tương lai. Một khi nhận ra sự tương đồng ấy, người đệ tử có trách nhiệm thực hiện nhiều điều chỉnh và thay đổi trong tư tưởng và hành vi cá nhân. Tuy nhiên, triển vọng nhìn chung sẽ tốt đẹp (theo thời gian), vì nền tảng năng lượng cho sự liên kết và hợp tác là hài hòa và vững chắc.
69. Another important definition or description of the Master emerges: He is “an initiating and distributing centre of power”. The Master represents the monadic aspect to His Ashram. He is responsible to Shamballa for various initiatives on behalf of the Divine Plan. As well, He is the distributor of hierarchical, and to a degree, Shamballic energies and forces.
69. Một định nghĩa hay mô tả quan trọng khác về Chân sư xuất hiện: Ngài là “một trung tâm khởi xướng và phân phối quyền năng”. Đối với ashram của mình, Chân sư đại diện cho phương diện chân thần. Ngài chịu trách nhiệm trước Shamballa về những sáng kiến khác nhau nhằm phụng sự Thiên Cơ. Đồng thời, Ngài là đấng phân phối các năng lượng và mãnh lực của Thánh đoàn và, ở một mức độ nào đó, của Shamballa.
70. We can see why the symbol of the circle with a central dot is so apt for the Master in relation to His sphere of directed influence—the Ashram.
70. Chúng ta có thể thấy vì sao biểu tượng vòng tròn có một chấm ở trung tâm lại thích hợp đến thế với Chân sư trong mối quan hệ với khối cầu chịu ảnh hưởng có định hướng của Ngài—ashram.
Every Ashram or inner group is essentially a reservoir of thought and that reservoir has for its spring or source, the ideas, dreams, vision and aspiration of the Master. This is impulsed by His monadic potency, influenced by the One Who is His Master and developed and fed by His experience, unfolded as His wisdom grew and His capacity to further the hierarchical Plan had been dedicated, used and increased. Then it becomes a clear pool of thought, augmented and fed from the spring of many lives, from the pure vision and consecrated dreams of many disciples.
Về bản chất, mỗi ashram hay nhóm bên trong là một kho dự trữ tư tưởng, và kho dự trữ ấy có mạch nguồn là những ý tưởng, ước mơ, tầm nhìn và khát vọng của Chân sư. Kho dự trữ này nhận xung lực từ uy lực chân thần của Ngài, chịu ảnh hưởng của Đấng là Chân sư của Ngài, được kinh nghiệm của Ngài phát triển và nuôi dưỡng, được khai mở khi minh triết của Ngài tăng trưởng và khi năng lực thúc đẩy Thiên Cơ của Thánh đoàn nơi Ngài đã được hiến dâng, sử dụng và gia tăng. Rồi nó trở thành một hồ tư tưởng trong trẻo, được bồi đắp và nuôi dưỡng từ mạch nguồn của nhiều kiếp sống, từ tầm nhìn thuần khiết và những ước mơ thánh hiến của nhiều đệ tử.
71. DK emphasizes the Ashram as a “reservoir of thought”. He uses the analogy a “spring” which feeds the reservoir. The Master’s ideas, dreams, vision and aspiration are the spring.
71. Chân sư DK nhấn mạnh rằng ashram là một “kho dự trữ tư tưởng”. Ngài dùng hình ảnh tương đồng về một “mạch nguồn” nuôi dưỡng kho dự trữ ấy. Những ý tưởng, ước mơ, tầm nhìn và khát vọng của Chân sư chính là mạch nguồn đó.
72. We note that a Master, too, has dreams, visions and aspirations; therefore, these three factors do not pertain only to the astral plane and its energies, for the Master works from a vibratory level far ‘above’ the astral level.
72. Chúng ta lưu ý rằng một Chân sư cũng có những ước mơ, tầm nhìn và khát vọng; do đó, ba yếu tố này không chỉ thuộc về cõi cảm dục và các năng lượng của cõi ấy, vì Chân sư làm việc từ một cấp độ rung động ‘cao hơn’ rất nhiều so với cấp độ cảm dục.
73. The Ashram is, more specifically, impulsed by the “monadic potency” of its Master. The Ashram is ‘will-driven’ and its processes are part of the enactment of Divine Purpose as it is empowered by Divine Will—the Purpose and Will of the Planetary Logos.
73. Cụ thể hơn, ashram nhận xung lực từ “uy lực chân thần” của Chân sư mình. Ashram ‘do ý chí thúc đẩy’, và các tiến trình của nó là một phần của việc thực thi Thiên Ý, được Ý Chí thiêng liêng tiếp sức—Thiên Ý và Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế.
74. Master KH is and has been the Master of Master DK. Thus the work of Master DK’s Ashram is “influenced” by Master KH and, really, is somehow ‘included’ within Master KH’s still greater Ashram.
74. Chân sư KH hiện là và từ lâu đã là Chân sư của Chân sư DK. Vì vậy, công việc của ashram của Chân sư DK chịu “ảnh hưởng” của Chân sư KH và, thực ra, theo một cách nào đó, được ‘bao hàm’ trong ashram còn rộng lớn hơn của Chân sư KH.
75. From a more general point of view, the Ashram of any Master will be influenced by the One Who is to Him a Master.
75. Theo một góc nhìn tổng quát hơn, ashram của bất kỳ Chân sư nào cũng sẽ chịu ảnh hưởng của Đấng là Chân sư của Ngài.
76. Depending upon how we read the possibly ambiguous sentence containing the reference to the Master’s Master, we may find 1) that it refers to the unfolding wisdom and increasing capacities of the greater Master, or that 2) it simply refers to the lesser Master. My impression is that the sentence in question refers to the growth of the Master Whose Ashram is under discussion and that the reference to the Master’s Master is merely a part of the picture.
76. Tùy theo cách chúng ta đọc câu có thể mang nghĩa mơ hồ, trong đó nhắc đến Chân sư của một Chân sư, chúng ta có thể thấy rằng 1) câu ấy nói đến minh triết đang khai mở và những năng lực ngày càng gia tăng của vị Chân sư cao hơn, hoặc 2) câu ấy chỉ nói đến vị Chân sư thấp hơn. Theo cảm nhận của tôi, câu đang xét nói đến sự tăng trưởng của vị Chân sư có ashram đang được bàn đến, còn việc nhắc đến Chân sư của Ngài chỉ là một phần của bức tranh.
77. The monadic ray of a disciple may be different from the monadic of the Master of his Ashram, at least as concerns the disciple’s initial ashramic experience. After the second degree, however, the disciple may transfer into the Ashram of a Master whose ray is the same of his monadic ray (LOM 267). It is not stated, however, whether, in this instance, the monadic ray of the Master will be the same as the disciple’s monadic ray. The idea conveyed is that (in the new Ashram entered after the second degree) the ray of the Master inspiring the Ashram to which the disciple has transferred (whether the Master’s soul or monadic ray) will be the same as the disciple’s monadic ray. In cases where the disciple’s soul and monadic ray are the same as the soul and monadic ray of his Master, it could be said that he truly ‘belongs’ to that Master.
77. Cung chân thần của một đệ tử có thể khác với cung chân thần của Chân sư đứng đầu ashram mà người đệ tử ấy thuộc về, ít nhất là xét đến trải nghiệm ashram của người đệ tử ấy trong giai đoạn ban đầu này. Tuy nhiên, sau cấp điểm đạo thứ hai, người đệ tử có thể chuyển sang ashram của một Chân sư có cung trùng với cung chân thần của mình (LOM 267). Tuy nhiên, không có lời xác định rằng, trong trường hợp này, cung chân thần của Chân sư có trùng với cung chân thần của người đệ tử hay không. Ý tưởng được truyền đạt là (trong ashram mới mà người đệ tử gia nhập sau cấp điểm đạo thứ hai) cung của Chân sư truyền cảm hứng cho ashram mà người đệ tử đã chuyển đến (dù đó là cung linh hồn hay cung chân thần của Chân sư) sẽ trùng với cung chân thần của người đệ tử. Trong những trường hợp mà cung linh hồn và cung chân thần của người đệ tử trùng với cung linh hồn và cung chân thần của Chân sư mình, có thể nói rằng người đệ tử ấy thực sự ‘thuộc về’ vị Chân sư ấy.
78. The ashramic “reservoir of thought” must be a “clear pool of thought” fed from the spring of many of the Master’s lives, and fed also from the “pure vision and consecrated dreams of many disciples”. Since only soul experiences can truly contribute to an Ashram, we must conclude that “pure vision” and “consecrated dreams” are of the soul.
78. Trong ashram, “bể chứa tư tưởng” phải là một “hồ tư tưởng trong vắt” nhận nguồn nuôi dưỡng từ nhiều kiếp sống của Chân sư, đồng thời cũng nhận nguồn nuôi dưỡng từ “tầm nhìn thuần khiết và những giấc mơ thánh hiến của nhiều đệ tử”. Vì chỉ những trải nghiệm linh hồn mới có thể thực sự đóng góp cho một ashram, chúng ta phải kết luận rằng “tầm nhìn thuần khiết” và “những giấc mơ thánh hiến” đều thuộc về linh hồn.
79. It may be pondered with profit: “what is the thought content of a Master’s Ashram”? Do we have the experience of tapping into that reservoir of pure thought? If so, how is it different from reading the books written by the Tibetan? The question can, of course, be applied to gauging the thought content of other Ashrams.
79. Suy ngẫm câu hỏi sau có thể mang lại lợi ích: “nội dung tư tưởng trong ashram của một Chân sư là gì”? Chúng ta có trải nghiệm tiếp cận bể chứa tư tưởng thuần khiết ấy không? Nếu có, trải nghiệm ấy khác với việc đọc những cuốn sách do Chân sư Tây Tạng viết như thế nào? Dĩ nhiên, cũng có thể dùng câu hỏi này để đánh giá nội dung tư tưởng của các ashram khác.
To this reservoir of pure thought, every pledged disciple is asked to make his contribution and, if he can do so, it will enable the Ashram to meet the need and help every aspirant to pass off the Probationary Path on to the Path of Accepted Discipleship. Every centre or focus of power has a definite sphere of influence and a true, active Ashram is a positive force within the centre which we call humanity.
Mỗi đệ tử đã cam kết đều được yêu cầu đóng góp vào bể chứa tư tưởng thuần khiết này; và nếu người đệ tử có thể làm được điều ấy, ashram sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu và giúp mọi người chí nguyện rời Con Đường Dự Bị để bước sang Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Mỗi trung tâm hay tiêu điểm quyền năng đều có một phạm vi ảnh hưởng xác định, và một ashram chân chính, hoạt động tích cực là một mãnh lực tích cực bên trong trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại.
80. If we are “pledged disciples” we are asked to make our contribution to the ashramic reservoir of pure thought. It is obvious that, if we are to do so, our thoughts, at the very least, must be pure.
80. Nếu chúng ta là “những đệ tử đã cam kết”, chúng ta được yêu cầu đóng góp vào bể chứa tư tưởng thuần khiết của ashram. Rõ ràng, muốn làm được điều ấy, ít nhất tư tưởng của chúng ta phải thuần khiết.
81. The purpose of our contribution is to assist the Ashram help aspirants off the Probationary Path and onto the Path of Accepted Discipleship. When we examine the content of this sentence we find the Probationary Path (trodden by aspirants and probationary disciples) preceding the Path of Accepted Discipleship.
81. Mục đích đóng góp của chúng ta là hỗ trợ ashram giúp những người chí nguyện rời Con Đường Dự Bị để bước sang Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Khi xem xét nội dung câu này, chúng ta thấy Con Đường Dự Bị (mà những người chí nguyện và đệ tử dự bị bước đi) có trước Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận.
82. In the book Initiation: Human and Solar, the chapter on “The Probationary Path” precedes the chapter on “The Path of Discipleship”. We may conclude that the discussion on the Path of Discipleship refers primarily to those who are pledged disciples and accepted disciples. The information on “The Probationary Path” would then refer to those who are aspirants and probationary disciples.
82. Trong cuốn sách Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương, chương về “Con Đường Dự Bị” đứng trước chương về “Con Đường Đệ Tử”. Chúng ta có thể kết luận rằng phần bàn luận về Con Đường Đệ Tử chủ yếu nói đến những người là đệ tử đã cam kết và đệ tử được chấp nhận. Như vậy, thông tin về “Con Đường Dự Bị” sẽ nói đến những người chí nguyện và đệ tử dự bị.
83. DK speaks of the “sphere of influence” of an Ashram. An important statement is made: “a true, active Ashram is a positive force within the centre which we call humanity”. It would repay our consideration to ponder on the various Ashrams with which we may be somewhat familiar, and determine the ways in which these Ashrams may be considered positive forces within humanity.
83. Chân sư DK nói đến “phạm vi ảnh hưởng” của một ashram. Ngài đưa ra một phát biểu quan trọng: “một ashram chân chính, hoạt động tích cực là một mãnh lực tích cực bên trong trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại”. Sẽ rất đáng để chúng ta suy ngẫm về các ashram mà mình ít nhiều biết đến, và xác định những phương diện mà theo đó có thể xem các ashram này là những mãnh lực tích cực trong nhân loại.
The disciple now naturally and rightly questions how thought power and spiritual instinct are related, how they can work constructively and how their interdependence demonstrates. I wonder how I can make the idea clear to you? Let me first call your attention to the fact that it is instinct which leads a disciple to respond to a Master’s call or note, to His vibration and to His group. Instinct, in its early stages, is the name given to the response of the material mechanism to its environing material world—the three worlds of human evolution. Later, upon the evolutionary ladder, the mind appears as an interpreting agency and the nature of the mechanism and of the environment is slowly understood. The relationships become clarified. Spiritual instinct is the capacity of the soul to register contact with the Hierarchy of which the soul is inherently a part, just as in the body a man’s mechanical, instinctual responses, reactions and reflexes are an integral part of the material mechanism. In the case of the spiritual instincts, [698] it is the intuition which interprets and illumines the mind. The power of thought as employed in the work of the Ashram is dependent upon the power of the disciple to focus and raise the conscious mind, to contact the soul and evoke the intuition. When that has been successfully done, then comes the unison of the three factors: mental illumination, soul impulse and intuitive perception. This triple combination will produce that type of thought which will be effective in activity, productive of the Plan, conducive to selflessness and motivated by love.
Lúc này, một cách tự nhiên và đúng đắn, người đệ tử đặt câu hỏi: quyền năng tư tưởng và bản năng tinh thần liên hệ với nhau như thế nào, chúng có thể hoạt động mang tính xây dựng ra sao, và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng biểu lộ như thế nào. Tôi tự hỏi làm sao có thể làm sáng tỏ ý tưởng này cho các bạn? Trước hết, Tôi xin lưu ý các bạn rằng chính bản năng dẫn dắt một đệ tử đáp ứng tiếng gọi hay âm điệu của một Chân sư, đáp ứng rung động và nhóm của Ngài. Trong những giai đoạn đầu, bản năng là tên gọi dành cho sự đáp ứng của bộ máy vật chất đối với thế giới vật chất bao quanh nó—ba cõi giới của tiến hoá nhân loại. Về sau, trên thang tiến hoá, thể trí xuất hiện như một tác nhân diễn giải, và bản chất của bộ máy cùng môi trường dần dần được thấu hiểu. Các mối quan hệ trở nên sáng tỏ. Bản năng tinh thần là năng lực của linh hồn ghi nhận sự tiếp xúc với Thánh đoàn, mà linh hồn vốn là một phần trong đó, cũng như trong thân thể, những đáp ứng, phản ứng và phản xạ máy móc, mang tính bản năng của con người là một phần không thể tách rời của bộ máy vật chất. Đối với các bản năng tinh thần, [698] chính trực giác diễn giải và soi sáng thể trí. Quyền năng tư tưởng được sử dụng trong công việc của ashram phụ thuộc vào năng lực của người đệ tử tập trung và nâng thể trí hữu thức lên, tiếp xúc với linh hồn và khơi dậy trực giác. Khi đã thực hiện thành công điều ấy, sự đồng thanh của ba yếu tố sẽ xuất hiện: sự soi sáng trí tuệ, xung lực linh hồn và tri giác trực giác. Sự kết hợp tam phân này sẽ tạo ra loại tư tưởng có hiệu quả trong hoạt động, giúp thực hiện Thiên Cơ, dẫn đến tính vô ngã và lấy tình thương làm động lực.
84. The Tibetan discusses the relationship between thought power and spiritual instinct.
84. Chân sư Tây Tạng bàn về mối quan hệ giữa quyền năng tư tưởng và bản năng tinh thần.
85. We remember that an initiate of the first planetary degree must demonstrate spiritual instinct:
85. Chúng ta nhớ rằng một điểm đạo đồ ở cấp điểm đạo hành tinh thứ nhất phải biểu lộ bản năng tinh thần:
“Spiritual instinct, the lowest aspect of the intuition, indicates readiness for the first initiation; an illumined mind and spiritual intelligence are the definite sign that a man can take the second initiation, whilst spiritual perception or intuitive instinct signifies preparedness for the Transfiguration, the third initiation. ” (DINA II 267)
“Bản năng tinh thần, phương diện thấp nhất của trực giác, cho thấy sự sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất; một thể trí được soi sáng và trí thông minh tinh thần là dấu hiệu rõ rệt cho thấy một người có thể trải qua lần điểm đạo thứ hai, trong khi tri giác tinh thần hay bản năng trực giác biểu thị sự chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc Biến hình, lần điểm đạo thứ ba. ” (DINA II 267)
We read here that “spiritual instinct is the lowest aspect of the intuition”. Thought power and the intuition are to be related.
Ở đây, chúng ta đọc thấy rằng “bản năng tinh thần là phương diện thấp nhất của trực giác”. Cần thiết lập mối liên hệ giữa quyền năng tư tưởng và trực giác.
86. Perhaps we had not realized that it is “instinct” by means of which we respond to the Master’s call, to His note, to His vibration or group. There is something inherent within us which answers to the vibration which goes forth from the Master. This is similar to, but not the same as, the unconscious instinct which directs the form nature towards gratification. Rather, it is the spiritual instinct of the incarnated soul.
86. Có lẽ chúng ta chưa nhận ra rằng chính nhờ “bản năng” mà chúng ta đáp ứng tiếng gọi của Chân sư, đáp ứng âm điệu, rung động hay nhóm của Ngài. Có điều gì đó vốn sẵn có trong chúng ta đáp lại rung động phát ra từ Chân sư. Điều này tương tự, nhưng không đồng nhất với bản năng vô thức hướng bản chất hình tướng đến sự thoả mãn. Đúng hơn, đó là bản năng tinh thần của linh hồn đã nhập thể.
87. We find that instinct (at whatever level it may operate) is a directing and relating agency.
87. Chúng ta thấy rằng bản năng (dù hoạt động ở cấp độ nào) cũng là một tác nhân định hướng và liên kết.
88. Spiritual instinct is further defined: “Spiritual instinct is the capacity of the soul to register contact with the Hierarchy of which the soul is inherently a part… In the case of the spiritual instincts, it is the intuition which interprets and illumines the mind. ” Instinct is the response of like to like; the incarnated soul answers to its source on higher planes. Just as the mind has interpreted and clarified the nature of the lower instincts, so, when spiritual instinct is operative, the intuition interprets the mind. Thus, is illusion dispelled!
88. Bản năng tinh thần được định nghĩa thêm: “Bản năng tinh thần là năng lực của linh hồn ghi nhận sự tiếp xúc với Thánh đoàn, mà linh hồn vốn là một phần trong đó… Đối với các bản năng tinh thần, chính trực giác diễn giải và soi sáng thể trí. ” Bản năng là sự đáp ứng giữa những gì đồng loại; linh hồn đã nhập thể đáp lại cội nguồn của mình trên các cõi cao. Cũng như thể trí đã diễn giải và làm sáng tỏ bản chất của các bản năng thấp, khi bản năng tinh thần hoạt động, trực giác diễn giải thể trí. Nhờ vậy, ảo tưởng bị xua tan!
89. Thought which is to be used in relation to the Ashram is of a special kind. This type of thought depends upon the power of the disciple to raise the conscious mind to contact with the soul, which act evokes the intuition. In short, the thought demonstrated in an Ashram is not only logical, reasonable thought; it is illumined thought—thought illumined by the intuition.
89. Tư tưởng dùng trong mối liên hệ với ashram thuộc một loại đặc biệt. Loại tư tưởng này phụ thuộc vào năng lực của người đệ tử nâng thể trí hữu thức lên tiếp xúc với linh hồn; hành động ấy khơi dậy trực giác. Tóm lại, tư tưởng biểu lộ trong một ashram không chỉ là tư tưởng hợp lôgic, hợp lý; đó là tư tưởng được soi sáng—tư tưởng được trực giác soi sáng.
90. A union of three factors is required of those who would think in a way that is useful to the Ashram and contributes to the Ashram: mental illumination, soul impulse and intuitive perception. Thus “Three Minds Unite”.
90. Những ai muốn tư duy theo cách hữu ích cho ashram và đóng góp cho ashram cần có sự hợp nhất của ba yếu tố: sự soi sáng trí tuệ, xung lực linh hồn và tri giác trực giác. Như vậy, “ba trí hợp nhất”.
91. We note the use of an unusual word, “unison” rather than merely “unity”. There is to be a “unison” (a sounding as of one note) between mental illumination, soul impulse and intuitive perception. This requires, of course, the relative completion of the antahkarana, ‘reaching’ at least ‘as far as’ the buddhic plane (the plane from which the intuition can be accessed).
91. Chúng ta lưu ý việc sử dụng một từ khác thường, “đồng thanh” thay vì chỉ là “hợp nhất”. Cần có sự “đồng thanh” (cùng xướng như một âm điệu duy nhất) giữa sự soi sáng trí tuệ, xung lực linh hồn và tri giác trực giác. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi antahkarana phải tương đối hoàn thiện, ‘vươn tới’ ít nhất ‘tận’ cõi Bồ đề (cõi từ đó có thể tiếp cận trực giác).
92. Ashramic thought, then, is characterised by this ‘triple unison’; ashramic thought is “thought which will be effective in activity, productive of the Plan, conducive to selflessness and motivated by love. ” A number of divine aspects are united in ashramic thought—activity, love and the selflessness of will, all these leading to the manifestation of that portion of the Divine Plan intended by the Master, as He is inspired by still higher Chohans and Shamballic Lives.
92. Vậy, tư tưởng ashram có đặc trưng là sự ‘đồng thanh tam phân’ này; tư tưởng ashram là “tư tưởng có hiệu quả trong hoạt động, giúp thực hiện Thiên Cơ, dẫn đến tính vô ngã và lấy tình thương làm động lực. ” Một số phương diện thiêng liêng hợp nhất trong tư tưởng ashram—hoạt động, tình thương và tính vô ngã của ý chí; tất cả đều dẫn đến sự biểu hiện của phần Thiên Cơ mà Chân sư dự định thực hiện, khi Ngài nhận cảm hứng từ các Đấng Chohan và các Sự Sống Shamballa còn cao hơn nữa.
93. If we are to contribute to the Ashram’s reservoir of pure thought, it is in this manner that we must learn to think. The thoughts of a high-grade personality (unillumined by the soul) will be insufficient to meet the ashramic standard.
93. Nếu muốn đóng góp vào bể chứa tư tưởng thuần khiết của ashram, chúng ta phải học tư duy theo cách này. Tư tưởng của một phàm ngã ở trình độ cao (chưa được linh hồn soi sáng) sẽ không đủ đáp ứng tiêu chuẩn của ashram.
According to the ability of the group, as a whole, to function under the impetus of the spiritual instinct will be the success of the Master to carry out His plans through the medium of the group. Under divine law, He may not work alone; He cannot work alone. He can inspire, teach, ask for cooperation and give guidance as to the needed work. Beyond that, no Master may go. In this world cycle, the work of the Hierarchy is conditioned by the disciples, and they can well understand, therefore, why the last fetter cast off by a Master is irritation! No initiate can form a true Ashram until all capacity to misunderstand, to express irritation and to criticise has vanished. The power of thought of a Master, if misused, could be a potent destructive force. He must be able to trust Himself before His Ashram can run on right lines and with safety.
Mức độ thành công của Chân sư trong việc thực hiện các kế hoạch của Ngài thông qua nhóm sẽ tuỳ thuộc vào khả năng của toàn nhóm hoạt động dưới sự thúc đẩy của bản năng tinh thần. Theo định luật thiêng liêng, Ngài không được phép làm việc một mình; Ngài không thể làm việc một mình. Ngài có thể truyền cảm hứng, giảng dạy, yêu cầu hợp tác và hướng dẫn về công việc cần làm. Không Chân sư nào được phép vượt quá giới hạn ấy. Trong chu kỳ thế giới này, công việc của Thánh đoàn chịu ảnh hưởng của các đệ tử; vì vậy, họ có thể hiểu rõ tại sao xiềng xích cuối cùng mà một Chân sư dứt bỏ lại là sự bực bội! Không điểm đạo đồ nào có thể thành lập một ashram chân chính cho đến khi mọi khả năng hiểu lầm, biểu lộ sự bực bội và chỉ trích đều tan biến. Quyền năng tư tưởng của một Chân sư, nếu sử dụng sai, có thể trở thành một mãnh lực huỷ diệt mạnh mẽ. Ngài phải có khả năng tin cậy chính mình thì ashram của Ngài mới có thể vận hành đúng hướng và an toàn.
94. The ability of the group to function under the impetus of spiritual instinct is one of the major requirements related to the success of the group. A Master will not succeed in carrying out His plans “through the medium of the group” unless the group is actuated by spiritual instinct. This means that the soul contact of the members of the group is real and assured.
94. Khả năng của nhóm hoạt động dưới sự thúc đẩy của bản năng tinh thần là một trong những yêu cầu chính liên quan đến sự thành công của nhóm. Một Chân sư sẽ không thành công trong việc thực hiện các kế hoạch của Ngài “thông qua nhóm”, trừ khi bản năng tinh thần thúc đẩy nhóm hoạt động. Điều này có nghĩa là sự tiếp xúc với linh hồn của các thành viên trong nhóm phải có thực và vững chắc.
95. It is of very real interest to read that a Master may not, and cannot, work alone because it would be against divine law to do so. We are in a solar system conditioned by the great Law of Attraction and the principle of Right Relationship must be fulfilled. Our second ray planet is also strongly conditioned by this cosmic law.
95. Thật đáng quan tâm khi đọc rằng một Chân sư không được phép và không thể làm việc một mình, vì làm như vậy sẽ trái với định luật thiêng liêng. Chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời chịu ảnh hưởng của Định luật Hấp Dẫn vĩ đại, và nguyên khí Quan Hệ Đúng Đắn phải được thực hiện trọn vẹn. Hành tinh cung hai của chúng ta cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của định luật vũ trụ này.
96. Thus far, we see that a Master is not allowed to work alone and that He may not coerce those with whom He works. The Master inspires, teaches, guides and requests cooperation, but may not apply His will to enforce it.
96. Đến đây, chúng ta thấy rằng một Chân sư không được phép làm việc một mình và Ngài không được phép cưỡng ép những người cùng làm việc với Ngài. Chân sư truyền cảm hứng, giảng dạy, hướng dẫn và đề nghị hợp tác, nhưng không được phép dùng ý chí của Ngài để cưỡng bách sự hợp tác ấy.
97. We, as disciples, must come to realize just how much we can assist or retard the plans of the Hierarchy. It is arresting to read that “in this world cycle the work of the Hierarchy is conditioned by the disciples…” Finally, so it seems, humanity has reached its ‘Age of Responsibility’; it is no longer an infant humanity, and must, consequently, make those choices and self-determinations which will lead to progress or failure.
97. Là đệ tử, chúng ta phải nhận ra mình có thể hỗ trợ hay làm chậm các kế hoạch của Thánh đoàn đến mức nào. Thật đáng chú ý khi đọc rằng “trong chu kỳ thế giới này, công việc của Thánh đoàn chịu ảnh hưởng của các đệ tử…” Dường như cuối cùng nhân loại đã bước vào ‘Thời Đại Trách Nhiệm’ của mình; nhân loại không còn ở thời kỳ ấu thơ nữa, và do đó phải đưa ra những lựa chọn cùng quyết định tự chủ sẽ dẫn đến tiến bộ hoặc thất bại.
98. The Master speaks, almost humorously, of the need to be rid of “irritation”. He is not talking about disciples. Disciples have often been told they must cast off irritation. He is speaking of Himself, and of the other Masters Who inspire and guide Ashrams.
98. Với giọng gần như hài hước, Chân sư nói về sự cần thiết phải loại bỏ “sự bực bội”. Ngài không nói về các đệ tử. Các đệ tử thường được nhắc rằng họ phải dứt bỏ sự bực bội. Ngài đang nói về chính Ngài và các Chân sư khác, những Đấng truyền cảm hứng và hướng dẫn các ashram.
99. Masters are forced to work with and through Their disciples, who are, relatively, inert to say the least. Disciples do so many things which are simply at variance with the Master’s intentions and with the welfare of the Ashram, that one would think frustration a justifiable response from the Master.
99. Các Chân sư buộc phải làm việc cùng và thông qua các đệ tử của Các Ngài, những người mà nói một cách nhẹ nhàng nhất thì cũng tương đối trì trệ. Các đệ tử làm quá nhiều điều hoàn toàn trái với những ý định của Chân sư và với lợi ích của ashram, đến mức người ta có thể cho rằng sự thất vọng là một phản ứng chính đáng của Chân sư.
100. However frustrated a Master may ‘feel’, He is not allowed to express that frustration through irritation and criticism. No initiate can organize a “true Ashram” if He is still conditioned by the power to misunderstand (for to understand all is to forgive all—we have been told). Similarly, the Master must have transcended all tendency toward irritation or criticism. Should He not have done so, and could He have organized an Ashram, its members would be “short lived”, for a Master’s thought is extremely potent, and if misused would become, as DK tells us, “a potent destructive force”.
100. Dù một Chân sư có ‘cảm thấy’ thất vọng đến đâu, Ngài cũng không được phép biểu lộ sự thất vọng ấy qua sự bực bội và chỉ trích. Không điểm đạo đồ nào có thể tổ chức một “ashram chân chính” nếu Ngài vẫn còn chịu ảnh hưởng của khả năng hiểu lầm (vì chúng ta đã được dạy rằng thấu hiểu tất cả là tha thứ tất cả). Tương tự, Chân sư phải vượt qua mọi khuynh hướng bực bội hay chỉ trích. Nếu Ngài chưa làm được điều ấy mà vẫn có thể tổ chức một ashram, thì các thành viên trong đó sẽ “đoản thọ”, vì tư tưởng của một Chân sư có sức mạnh vô cùng lớn, và nếu sử dụng sai, như Chân sư DK cho chúng ta biết, nó sẽ trở thành “một mãnh lực huỷ diệt mạnh mẽ”.
101. What, really, is “irritation”? It is, I think we will recognize, a Martian and not a Venusian state. It is an identification with thwarted desire and a constrained wish to be rid of that which has thwarted the desire. Let us suppose that the source of irritation is another human being, and not circumstantial. During the moment that irritation prevails, the soul of the irritating person, is not seen—only the action or behavior which has caused the irritation is experienced. Thus, consciousness is denied an understanding of the source of the offending behavior and of the critical path by following which the offending behavior can be negated or eliminated. Thus irritation is both blinding and destructive, and works badly also on the individual who entertains it.
101. Thực ra, “sự bực bội” là gì? Tôi nghĩ chúng ta sẽ nhận ra rằng đó là một trạng thái thuộc Sao Hỏa, chứ không thuộc Sao Kim. Đó là sự đồng hoá với dục vọng bị cản trở và một mong muốn bị dồn nén nhằm loại bỏ điều đã cản trở dục vọng ấy. Chúng ta hãy giả sử rằng nguồn gây bực bội là một người khác, chứ không phải hoàn cảnh. Trong khoảnh khắc sự bực bội chiếm ưu thế, người ta không nhìn thấy linh hồn của người gây bực bội—chỉ trải nghiệm hành động hay cách cư xử đã gây ra sự bực bội ấy. Do đó, tâm thức không thể thấu hiểu nguồn gốc của cách cư xử gây khó chịu, cũng như con đường then chốt mà nếu đi theo, người ta có thể hoá giải hoặc loại bỏ cách cư xử ấy. Vì vậy, sự bực bội vừa làm mù quáng vừa mang tính huỷ diệt, đồng thời cũng tác động xấu đến người nuôi dưỡng nó.
102. Irritation is born of the urgency for accomplishment. It arises when the urge to accomplish is much greater than the understanding of why accomplishment is not immediately occurring. When this thwarted urgency can be transformed into understanding (and correct action taken in the light of this understanding), irritation will vanish. In the Agni Yoga Teaching we are told that irritation or “imperil” is to be worn away through “cosmic perception”.
102. Sự bực bội nảy sinh từ sự thôi thúc cấp bách muốn hoàn thành công việc. Nó xuất hiện khi sự thôi thúc muốn hoàn thành công việc lớn hơn rất nhiều so với sự thấu hiểu lý do tại sao công việc chưa hoàn thành ngay. Khi sự thôi thúc cấp bách bị cản trở này có thể chuyển đổi thành sự thấu hiểu (và hành động đúng đắn được thực hiện dưới ánh sáng của sự thấu hiểu ấy), sự bực bội sẽ tan biến. Trong Giáo Huấn Agni Yoga, chúng ta được dạy rằng sự bực bội hay “độc tố do bực bội” cần được bào mòn dần qua “tri giác vũ trụ”.
103. On our own much lower level of perception than that experienced by the Masters, we have all probably had experiences with the misuse of thought and speech by others, and, more importantly, by ourselves. When we ponder the damage we may have done, we can only imagine what would be the result if a Master could not control Himself!.
103. Ở cấp độ tri giác của chúng ta, thấp hơn rất nhiều so với cấp độ mà các Chân sư trải nghiệm, có lẽ tất cả chúng ta đều từng trải nghiệm việc sử dụng sai tư tưởng và lời nói của người khác, và quan trọng hơn, của chính mình. Khi suy ngẫm về những tổn hại mình có thể đã gây ra, chúng ta chỉ có thể tưởng tượng hậu quả sẽ ra sao nếu một Chân sư không thể tự chủ!.
104. Of course, He could hardly become a Master unless compassion and self-control had established themselves immovably in His consciousness.
104. Dĩ nhiên, Ngài khó có thể trở thành một Chân sư nếu lòng từ bi và khả năng tự chủ chưa an trụ một cách bất lay chuyển trong tâm thức Ngài.
105. DK says a Master “must be able to trust Himself before His Ashram can run on right lines and with safety. ” His long-training, through many lives of suffering, realization and service, builds this self-trust. I think we can see how far we all have to go before we are capable, spontaneously, of similar feats of understanding and self-control.
105. Chân sư DK nói rằng một Chân sư “phải có khả năng tin cậy chính mình thì ashram của Ngài mới có thể vận hành đúng hướng và an toàn. ”Quá trình rèn luyện lâu dài của Ngài, qua nhiều kiếp sống đau khổ, chứng nghiệm và phụng sự, xây dựng nên lòng tin cậy bản thân ấy. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy tất cả chúng ta còn phải tiến xa đến đâu mới có thể tự nhiên đạt được những thành tựu tương tự về sự thấu hiểu và khả năng tự chủ.
106. Still, it is always useful to emulate the Masters. As They are now, so we shall be—sooner or later. Every effort we make to love, understand and, overall, live harmlessly, takes us towards the condition which They have already achieved.
106. Tuy vậy, noi gương các Chân sư luôn là điều hữu ích. Sớm hay muộn, chúng ta cũng sẽ trở nên như Các Ngài hiện nay. Mỗi nỗ lực yêu thương, thấu hiểu và, trên hết, sống vô tổn hại đều đưa chúng ta đến gần trạng thái mà Các Ngài đã đạt được.
In this work of assembling the necessary thought power for constructive work, the etheric web is definitely involved. It leads then to a reorganisation of the web. Academic explanations do not help the student to understand this. When the mind (the instrument of thought) is the vehicle of soul life, soul light and soul love, and the etheric web is responsive to the inflow of energy from the mind, then the reorganisation of the individual etheric web takes place. The individual etheric body is only a part, an aspect, of the etheric web of humanity; the steady reorganisation of the many parts leads to a transformation of the whole, when enough time has elapsed.
Trong công việc tập hợp quyền năng tư tưởng cần thiết cho hoạt động xây dựng này, mạng lưới dĩ thái chắc chắn có liên quan. Khi ấy, công việc này dẫn đến sự tái tổ chức mạng lưới. Những lời giải thích mang tính học thuật không giúp đạo sinh thấu hiểu điều này. Khi thể trí (công cụ của tư tưởng) là hiện thể của sự sống linh hồn, ánh sáng linh hồn và tình thương linh hồn, và mạng lưới dĩ thái đáp ứng dòng năng lượng tuôn vào từ thể trí, thì sự tái tổ chức mạng lưới dĩ thái cá nhân diễn ra. Thể dĩ thái cá nhân chỉ là một phần, một phương diện, của mạng lưới dĩ thái nhân loại; khi đủ thời gian đã trôi qua, sự tái tổ chức đều đặn của nhiều phần sẽ dẫn đến sự chuyển đổi toàn thể.
107. We are familiar with the idea that the mind and etheric body are related. The mental/etheric signs are Gemini and Aquarius, and people born in or under those signs will understand much about this relation.
107. Chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng thể trí và thể dĩ thái có liên hệ với nhau. Các dấu hiệu trí tuệ/dĩ thái là Song Tử và Bảo Bình, và những người sinh ra trong hay dưới ảnh hưởng của các dấu hiệu ấy sẽ thấu hiểu nhiều điều về mối liên hệ này.
108. The power of thought rightly used will lead to a reorganization of the etheric web. It is interesting to read that “academic explanations” will not help us to understand this process. Apparently, it has to be lived.
108. Quyền năng tư tưởng được sử dụng đúng đắn sẽ dẫn đến sự tái tổ chức mạng lưới dĩ thái. Thật thú vị khi đọc rằng “những lời giải thích mang tính học thuật” sẽ không giúp chúng ta thấu hiểu tiến trình này. Dường như phải sống trải tiến trình ấy.
109. The mind must be in a certain effective condition before it can be useful in bringing about the reorganization of the individual (and, later, planetary) etheric web. The mind must be soul-illumined and inspired, and the etheric body responsive to the inflowing energies of the mind. Then the reorganization of the etheric body will proceed.
109. Thể trí phải ở trong một trạng thái hoạt động hữu hiệu nhất định thì mới có thể hữu ích trong việc mang lại sự tái tổ chức mạng lưới dĩ thái cá nhân (và về sau là mạng lưới dĩ thái hành tinh). Thể trí phải được linh hồn soi sáng và truyền cảm hứng, còn thể dĩ thái phải đáp ứng những năng lượng tuôn vào từ thể trí. Khi ấy, sự tái tổ chức thể dĩ thái sẽ diễn ra.
110. Thus, if we wish to reorganize our etheric patterns, we must see to the condition of our mind and its relation to the soul.
110. Vì vậy, nếu muốn tái tổ chức các mô hình dĩ thái của mình, chúng ta phải chú tâm đến trạng thái của thể trí và mối quan hệ của nó với linh hồn.
111. DK envisions the transformation of the etheric body of humanity. This will only occur gradually when many people have managed to bring about the reorganization of their individual etheric body.
111. Chân sư DK hình dung sự chuyển đổi thể dĩ thái của nhân loại. Điều này sẽ chỉ diễn ra dần dần khi nhiều người đã tái tổ chức được thể dĩ thái cá nhân của mình.
112. We can understand that the Age of Aquarius will be a time when such reorganization (under Uranus and Aquarius) may proceed apace. The energies which will be potent during that Age are the very energies need for this transformation. The continued strength and presence of the seventh ray during the Aquarian Age is also a great factor in bringing about this desirable reorganization.
112. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng Thời Đại Bảo Bình sẽ là thời kỳ mà sự tái tổ chức như vậy (dưới ảnh hưởng của Sao Thiên Vương và Bảo Bình) có thể tiến triển nhanh chóng. Những năng lượng sẽ có sức mạnh lớn trong Thời Đại ấy chính là những năng lượng cần thiết cho sự chuyển đổi này. Sức mạnh và sự hiện diện liên tục của cung bảy trong Thời Đại Bảo Bình cũng là một yếu tố quan trọng giúp mang lại sự tái tổ chức đáng mong muốn này.
The medium through which this takes place is the Mind. The mind creates or formulates those thoughtforms (or embodied energies) which express, upon the mental plane, the measure of the disciple’s understanding of the Plan, and his [699] ability to convey the embodied mental energy to the etheric body—unimpeded by the emotional nature or by any lower upsurging desire.
Trung gian để điều này diễn ra là Thể Trí. Thể trí tạo ra hoặc kiến lập những hình tư tưởng (hay những năng lượng được hiện thân) biểu đạt trên cõi trí mức độ thấu hiểu Thiên Cơ của người đệ tử, cùng [699] khả năng của y trong việc chuyển năng lượng trí tuệ đã được hiện thân đến thể dĩ thái—không để bản chất cảm xúc hay bất kỳ dục vọng thấp kém nào trỗi dậy cản trở.
113. We are to understand the importance of the mind in reorganizing the etheric body.
113. Chúng ta cần thấu hiểu tầm quan trọng của thể trí trong việc tái tổ chức thể dĩ thái.
114. The thoughtforms created are to reflect an understanding of the Plan (to whatever degree possible). These thoughtforms are then to be conveyed to the etheric body and will have a reorganizing effect. The etheric patterns thus created will help to bring the physical plane into increasing conformity with the pattern of the Plan.
114. Những hình tư tưởng được tạo ra phải phản ánh sự thấu hiểu Thiên Cơ (trong mức độ có thể). Sau đó, những hình tư tưởng này phải được chuyển đến thể dĩ thái và sẽ có tác dụng tái tổ chức thể ấy. Những mô hình dĩ thái được tạo ra như vậy sẽ giúp cõi hồng trần ngày càng phù hợp với mô hình của Thiên Cơ.
115. We note that the emotional nature is often considered an obstacle in this transmission from mental body to vital body. The Tibetan is here emphasizing the importance of a particular alignment—soul, mind, brain.
115. Chúng ta lưu ý rằng bản chất cảm xúc thường được xem là một chướng ngại trong sự truyền dẫn này từ thể trí đến thể sinh lực. Ở đây, Chân sư Tây Tạng đang nhấn mạnh tầm quan trọng của một sự chỉnh hợp đặc biệt—linh hồn, thể trí, bộ não.
The etheric body is a web of light energy, impulsed or motivated by the type or the quality of the energies to which it responds, from the angle of evolutionary development.
Thể dĩ thái là một mạng lưới năng lượng ánh sáng, được thúc đẩy hoặc tạo động lực theo loại hay phẩm tính của những năng lượng mà nó đáp ứng, xét từ góc độ phát triển tiến hoá.
116. The etheric body is capable of ‘carrying’ many kinds of energy—personal, transpersonal and transcendental.
116. Thể dĩ thái có khả năng ‘mang’ nhiều loại năng lượng—cá nhân, siêu cá nhân và siêu việt.
117. How it does so is, however, a great mystery. We may lightly use the word ‘carry’, but can the etheric body really ‘carry’ and transmit energies which are not of the etheric plane?
117. Tuy nhiên, cách thức thể dĩ thái làm điều đó là một bí nhiệm lớn. Chúng ta có thể dễ dàng dùng từ ‘mang’, nhưng liệu thể dĩ thái có thực sự ‘mang’ và truyền dẫn những năng lượng không thuộc cõi dĩ thái hay không?
118. Perhaps it would be best to think that etheric energies can undergo various kinds of repatterning according to the type of energy or force which is impulsing those etheric energies. On the etheric plane, there will be found etheric energies and forces; on other planes, other types of energy and forces will be found. Does astral force, for instance, really descend to the etheric plane, or does it impulse etheric energy, patterning it in a certain way? If this were the true modus operandi, then the way that mental energy impulsively patterns etheric energies would be different from the astral impulsive patterning, and soul impulsions would be different still, as would triadal impulsions—each leading to distinctive modes of repatterning.
118. Có lẽ tốt nhất nên nghĩ rằng các năng lượng dĩ thái có thể trải qua nhiều kiểu tái định hình khác nhau tuỳ theo loại năng lượng hay mãnh lực đang thúc đẩy những năng lượng dĩ thái ấy. Trên cõi dĩ thái có các năng lượng và mãnh lực dĩ thái; trên những cõi khác có những loại năng lượng và mãnh lực khác. Chẳng hạn, mãnh lực cảm dục có thực sự giáng xuống cõi dĩ thái, hay nó thúc đẩy năng lượng dĩ thái, định hình năng lượng ấy theo một cách nhất định? Nếu đây là phương thức vận hành thực sự, thì cách năng lượng trí tuệ thúc đẩy và định hình các năng lượng dĩ thái sẽ khác với cách mãnh lực cảm dục thúc đẩy và định hình chúng; các xung lực của linh hồn lại khác nữa, cũng như các xung lực của Tam Nguyên Tinh Thần—mỗi loại dẫn đến những phương thức tái định hình riêng biệt.
119. We do not know enough about the physics of the inner planes to understand how these ‘patterning impulsions’ would operate, but perhaps the principle is clear: energies and forces remain on the plane appropriate to them, but their impulsive effects can be ‘felt’ on lower planes, such as the etheric plane, causing (according to the distinctive nature of the impelling energies) ‘differential repatterning’ on such lower planes.
119. Chúng ta chưa biết đủ về vật lý học của các cõi bên trong để thấu hiểu cách những ‘xung lực định hình’ này vận hành, nhưng có lẽ nguyên khí ấy đã rõ: các năng lượng và mãnh lực vẫn ở trên cõi thích hợp với chúng, nhưng những tác động thúc đẩy của chúng có thể được ‘cảm nhận’ trên các cõi thấp hơn, chẳng hạn như cõi dĩ thái, gây ra (tuỳ theo bản chất riêng biệt của những năng lượng thúc đẩy) ‘sự tái định hình khác biệt’ trên các cõi thấp hơn ấy.
It might be stated that:
Có thể phát biểu rằng:
1. Unevolved or savage man responds simply to prana or physical energy, vitalising the appetites of the lower nature, developing the instincts and thus laying the foundation of a physical vehicle as the outer garment of the soul. At this stage, intellect is embryonic; the physical appetites and the five senses are dominating factors. All this is due to the activity of prana as it pours through the etheric or vital body.
1. Người chưa tiến hoá hay còn man dã chỉ đáp ứng với prana hay năng lượng hồng trần, vốn tiếp sinh lực cho những ham muốn của bản chất thấp, phát triển các bản năng và nhờ đó đặt nền tảng cho một hiện thể hồng trần làm lớp áo bên ngoài của linh hồn. Ở giai đoạn này, trí năng còn ở dạng phôi thai; những ham muốn thể xác và năm giác quan là các yếu tố chi phối. Tất cả điều này là do hoạt động của prana khi nó tuôn qua thể dĩ thái hay thể sinh lực.
120. In point one, the Tibetan discusses the Lemurian stage of development—one that is strictly physical, sensory, and endowed with the presence of only an embryonic intellect. In the Lemurian state, even the life of desire is undeveloped, except for the crudest physical desires.
120. Trong điểm thứ nhất, Chân sư Tây Tạng bàn đến giai đoạn phát triển Lemuria—một giai đoạn thuần tuý thuộc thể xác, giác quan, và chỉ có trí năng ở dạng phôi thai. Trong trạng thái Lemuria, ngay cả đời sống dục vọng cũng chưa phát triển, ngoại trừ những dục vọng thể xác thô sơ nhất.
121. There are relatively few among today’s humanity who find themselves in this state. The spleen, sacral center, and the base of the spine center (functioning in a preliminary mode) are the centers activated.
121. Trong nhân loại ngày nay, tương đối ít người còn ở trong trạng thái này. Luân xa lá lách, trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống (hoạt động theo phương thức sơ khởi) là những trung tâm được kích hoạt.
2. Average man is impulsed by desire which is an energy, emanating from world desire and which—developing or organising the astral body—generates desire-energy. It pours into the vital body and galvanises physical man into those activities which will lead to the satisfaction of desire. This is a parallel process to the work of prana, impelling the animal instinctive nature into activity. These necessarily parallel and produce conflict—the first clash (within the man) of the pair of opposites. Gradually, the pranic energy becomes automatic in its activity; the shift of the consciousness is into the astral or desire body and the functioning of the instinctual nature drops below the threshold of the consciousness. Man then focusses his life in the astral vehicle and his etheric body becomes animated by the potent inflow of desire-energy.
2. Người trung bình chịu sự thúc đẩy của dục vọng, một năng lượng phát xạ từ dục vọng của thế gian và—qua việc phát triển hay tổ chức thể cảm dục—tạo ra năng lượng dục vọng. Năng lượng này tuôn vào thể sinh lực và thúc đẩy con người hồng trần bước vào những hoạt động sẽ dẫn đến sự thoả mãn dục vọng. Đây là một tiến trình song song với công việc của prana, vốn thúc đẩy bản chất bản năng động vật đi vào hoạt động. Hai tiến trình này tất yếu diễn ra song song và tạo ra xung đột—sự va chạm đầu tiên (bên trong con người) của cặp đối cực. Dần dần, năng lượng prana trở nên tự động trong hoạt động của nó; tâm thức chuyển vào thể cảm dục hay thể dục vọng, và hoạt động của bản chất bản năng chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức. Khi ấy, con người tập trung đời sống của mình trong hiện thể cảm dục, còn dòng năng lượng dục vọng mạnh mẽ tuôn vào làm sinh động thể dĩ thái của y.
122. The great majority of today’s humanity is emotionally polarised and impulsed by the energy of desire.
122. Đại đa số nhân loại ngày nay phân cực cảm xúc và chịu sự thúc đẩy của năng lượng dục vọng.
123. We note, interestingly, that desire both develops and organizes the astral vehicle. We remember that a principle creates a vehicle, and not the other way around.
123. Điều thú vị là chúng ta nhận thấy dục vọng vừa phát triển vừa tổ chức hiện thể cảm dục. Chúng ta nhớ rằng một nguyên khí tạo ra một hiện thể, chứ không phải ngược lại.
124. We read that desire “pours into the vital body”; again, this is, I think, a symbolic way of describing the process. I hypothesize that astral currents remain on the astral plane, but cause those changes in the etheric body which impel that body towards the satisfaction of desire.
124. Chúng ta đọc thấy rằng dục vọng “tuôn vào thể sinh lực”; một lần nữa, tôi nghĩ đây là cách mô tả tiến trình theo nghĩa biểu tượng. Tôi đưa ra giả thuyết rằng các dòng cảm dục vẫn ở trên cõi cảm dục, nhưng gây ra những biến đổi trong thể dĩ thái, thúc đẩy thể này hướng đến sự thoả mãn dục vọng.
125. If prana activates the animal instincts and desire force impels towards the satisfaction of desire, the simultaneous presence of these two forces creates possibility of a conflict between forces, for the satisfaction of animal instinct may lead in a direction contrary to the satisfaction of certain desires. The Tibetan calls this the “first clash (within the man) of the pair of opposites”.
125. Nếu prana kích hoạt các bản năng động vật và mãnh lực dục vọng thúc đẩy hướng đến sự thoả mãn dục vọng, thì sự hiện diện đồng thời của hai mãnh lực này tạo ra khả năng xung đột giữa các mãnh lực, vì sự thoả mãn bản năng động vật có thể dẫn theo một hướng trái ngược với sự thoả mãn một số dục vọng nhất định. Chân sư Tây Tạng gọi đây là “sự va chạm đầu tiên (bên trong con người) của cặp đối cực”.
126. Astral energy is inherently ‘higher’ than the pranic forces driving the physical-instinctual nature; these lesser forces gradually subside into automaticism. Whatever becomes automatic soon drops below the threshold of consciousness. Consciousness, per se, then focuses in the desire body. The man is conscious of what he wants without having to attend consciously to his vital condition, which can be relied upon to support the acquisitions of desire.
126. Năng lượng cảm dục vốn ‘cao hơn’ các mãnh lực prana thúc đẩy bản chất thể xác và bản năng; những mãnh lực thấp hơn này dần lắng xuống thành hoạt động tự động. Bất cứ điều gì trở nên tự động đều sớm chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức. Khi ấy, chính tâm thức tập trung trong thể dục vọng. Con người biết rõ điều mình muốn mà không cần chú tâm một cách hữu thức đến tình trạng sinh lực của mình, vốn có thể tin cậy là sẽ hỗ trợ việc đạt được những gì dục vọng mong muốn.
127. Once this change has occurred, the main patterning within the etheric body is primarily impulsed by desire currents. Perhaps, it would be more accurate to say that the desire-impelled repatterning of the etheric vehicle is superimposed upon the patterning which is more instinctually based and pranically induced. Obviously, some of the original pranically-induced patterning remains as a foundation for the etheric pattern impelled by the energy of desire. The first pattern serves as a foundation for the second.
127. Một khi sự thay đổi này diễn ra, sự định hình chính bên trong thể dĩ thái chủ yếu chịu sự thúc đẩy của các dòng dục vọng. Có lẽ sẽ chính xác hơn nếu nói rằng sự tái định hình hiện thể dĩ thái do dục vọng thúc đẩy được chồng lên sự định hình vốn dựa nhiều hơn vào bản năng và do prana tạo ra. Hiển nhiên, một phần sự định hình ban đầu do prana tạo ra vẫn còn lại làm nền tảng cho mô hình dĩ thái do năng lượng dục vọng thúc đẩy. Mô hình thứ nhất làm nền tảng cho mô hình thứ hai.
3. The developed man, with an integrated personality, gradually brings the etheric body under the control of mental energy and his physical plane activity is not then so much implemented by instinct or desire as by thought energy, dedicated to and expressing the nature of the man’s plan. This plan indicates increasingly his intelligent desire—selfish in the early stages, complex and dualistic in the intermediate stages but slowly responding to the world plan and to the divine intent for humanity.
3. Người đã phát triển, với một phàm ngã tích hợp, dần đưa thể dĩ thái vào dưới sự kiểm soát của năng lượng trí tuệ; khi ấy, hoạt động của y trên cõi hồng trần được thực hiện nhờ năng lượng tư tưởng nhiều hơn là nhờ bản năng hay dục vọng, và năng lượng ấy hướng đến cũng như biểu đạt bản chất kế hoạch của y. Kế hoạch này ngày càng biểu thị dục vọng có trí tuệ của y—ích kỷ trong những giai đoạn đầu, phức tạp và mang tính nhị nguyên trong những giai đoạn trung gian, nhưng dần dần đáp ứng với Thiên Cơ thế giới và chủ đích thiêng liêng dành cho nhân loại.
128. The next stage is that of the “developed man”, who has integrated the personality, selfishly at first, and soul-responsively, eventually.
128. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn của “người đã phát triển”, người đã tích hợp phàm ngã, lúc đầu một cách ích kỷ, và cuối cùng theo cách đáp ứng với linh hồn.
129. Etheric patterning dependent upon the impulsion of prana or desire, gives may to a patterning impelled by mental currents, which, again, according to this theory, is superimposed upon the earlier two patterns. The etheric body comes under the control of mental energy.
129. Sự định hình dĩ thái phụ thuộc vào xung lực của prana hay dục vọng nhường chỗ cho sự định hình do các dòng trí tuệ thúc đẩy; một lần nữa, theo lý thuyết này, sự định hình ấy được chồng lên hai mô hình trước đó. Thể dĩ thái đi vào dưới sự kiểm soát của năng lượng trí tuệ.
130. The etheric body will be patterned according to the nature of a man’s plan. That plan initially does not conform to the Divine Plan, and it will take a long time before it does.
130. Thể dĩ thái sẽ được định hình theo bản chất kế hoạch của một người. Ban đầu, kế hoạch ấy chưa phù hợp với Thiên Cơ, và phải mất một thời gian dài mới đạt được sự phù hợp ấy.
131. Three basic stages are as follows:
131. Ba giai đoạn cơ bản như sau:
a. etheric patterning based on selfish personality plans.
a. sự định hình dĩ thái dựa trên những kế hoạch ích kỷ của phàm ngã.
b. etheric patterning based on mixed motives, on plans which have elements of both selfishness and unselfishness.
b. sự định hình dĩ thái dựa trên những động cơ pha trộn, trên những kế hoạch có cả yếu tố ích kỷ lẫn vô kỷ.
c. etheric patterning based on the plans of the soul which reflect, in some measure, the Divine Plan for this planet and are, hence, unselfish.
c. sự định hình dĩ thái dựa trên những kế hoạch của linh hồn, phản ánh phần nào Thiên Cơ dành cho hành tinh này và do đó mang tính vô kỷ.
132. Plan is Pattern, as we know. According to the nature and origin of the plan which mentally imposed upon the etheric body, so will be the nature of the etheric patterning.
132. Thiên Cơ là Mô Hình, như chúng ta biết. Bản chất của sự định hình dĩ thái sẽ tuỳ thuộc vào bản chất và nguồn gốc của kế hoạch mà thể trí áp đặt lên thể dĩ thái.
[700]
[700]
4. Finally, when the power of the Triangles (the spiritual name given in The Secret Doctrine to the soul) is being imposed upon the personality, then their energy supersedes the other energies and the personality—focussed now in the mind and responsive to soul impression—expresses upon the physical plane, through the medium of the physical brain and the body, the intent, potency and nature of the all-inclusive soul.
4. Cuối cùng, khi quyền năng của các Tam Giác (danh xưng tinh thần dành cho linh hồn trong Giáo Lý Bí Nhiệm) đang được áp đặt lên phàm ngã, thì năng lượng của chúng thay thế các năng lượng khác; phàm ngã—giờ đây tập trung trong thể trí và đáp ứng với ấn tượng từ linh hồn—biểu đạt trên cõi hồng trần, qua trung gian bộ não thể xác và thân thể, chủ đích, uy lực và bản chất của linh hồn bao gồm tất cả.
133. Finally the pattern imposed on the etheric field is impulsed by the “Triangles”. The term “Triangles” is another name for soul.
133. Cuối cùng, mô hình áp đặt lên trường dĩ thái chịu sự thúc đẩy của các “Tam Giác”. Thuật ngữ “Tam Giác” là một tên gọi khác của linh hồn.
134. What is suggested is that the patterning in the etheric body becomes increasingly triangular.
134. Điều được gợi ra là sự định hình trong thể dĩ thái ngày càng mang dạng tam giác.
135. This section immediately makes us think of Master DK’s project, “Triangles” (dear to His heart) and what may be its esoteric basis. Eventually, the Triangles work is to repattern the etheric body of the planet into a “network of triangles” which will be not only soul-responsive, but responsive to the spiritual triad, and even, in emergencies, to the Three Buddhas of Activity (the esoteric origin of the Triangles work).
135. Đoạn này lập tức khiến chúng ta nghĩ đến dự án của Chân sư DK mang tên “Tam Giác” (rất thân thiết với tâm Ngài) và điều có thể là nền tảng nội môn của dự án ấy. Cuối cùng, công việc Tam Giác sẽ tái định hình thể dĩ thái của hành tinh thành một “mạng lưới các tam giác” không chỉ đáp ứng với linh hồn, mà còn đáp ứng với Tam Nguyên Tinh Thần, và thậm chí, trong những trường hợp khẩn cấp, với Ba Vị Phật Hoạt Động (nguồn gốc nội môn của công việc Tam Giác).
136. One of the great geometrical themes occurring on our planet is the transformation of the quaternary into the triad or triangle. The esoteric bisection of the square is involved in this process. This was taught to Master DK probably by Master KH when He was Pythagoras.
136. Một trong những chủ đề hình học lớn diễn ra trên hành tinh chúng ta là sự chuyển đổi bộ tứ thành tam nguyên tinh thần hay tam giác. Việc chia đôi hình vuông theo nghĩa nội môn có liên quan đến tiến trình này. Có lẽ Chân sư KH đã dạy điều này cho Chân sư DK khi Ngài là Pythagoras.
137. Point number four tells us of the climactic, integrated stage in the repatterning of the etheric body. When it is accomplished, the Divine Plan may manifest on Earth.
137. Điểm thứ tư cho chúng ta biết về giai đoạn tích hợp đạt đến đỉnh cao trong việc tái định hình thể dĩ thái. Khi việc ấy hoàn thành, Thiên Cơ có thể biểu hiện trên Trái Đất.
138. This manifestation must be worked out microcosmically through the energy system of each individual, and when sufficient numbers of individuals have accomplished the task, it will become possible to think in terms of the triangularization of the enteric body of humanity, and eventually of the planet.
138. Sự biểu hiện này phải được thực hiện ở cấp độ tiểu thiên địa qua hệ thống năng lượng của mỗi cá nhân; khi có đủ số cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, chúng ta mới có thể nghĩ đến việc tam giác hoá thể dĩ thái của nhân loại, và cuối cùng là của hành tinh.
The individual etheric web galvanises the automatic physical body into activity. The energies, controlling the physical body through the medium of the etheric web, are the four mentioned above. The conflict in the brain consciousness of the evolving human unit begins to assume importance when the man starts to recognise these controlling energies, their source and their effects.
Mạng lưới dĩ thái cá nhân thúc đẩy thể xác vốn hoạt động tự động đi vào hoạt động. Những năng lượng kiểm soát thể xác qua trung gian mạng lưới dĩ thái là bốn loại đã đề cập ở trên. Sự xung đột trong tâm thức não bộ của đơn vị nhân loại đang tiến hoá bắt đầu trở nên quan trọng khi con người bắt đầu nhận ra những năng lượng kiểm soát này, nguồn gốc và tác động của chúng.
139. The physical body is an automaton to the etheric body (its higher counterpart).
139. Thể xác là một bộ máy tự động đối với thể dĩ thái (đối phần cao hơn của nó).
140. Master DK has enumerated four types of energy which control the physical body through the medium of the etheric body: prana, desire, thought and soul energy.
140. Chân sư DK đã liệt kê bốn loại năng lượng kiểm soát thể xác qua trung gian thể dĩ thái: prana, dục vọng, tư tưởng và năng lượng linh hồn.
141. When various of these energies come together, the potential for “internecine warfare” is strong and can hardly be avoided.
141. Khi một số năng lượng khác nhau trong những năng lượng này hội tụ, khả năng xảy ra “nội chiến tương tàn” rất lớn và khó có thể tránh khỏi.
“Man is therefore (from the angle of force expression) a mass of conflicting energies and an active centre of moving forces with a shift of emphasis constantly going on, and with the aggregation of the numerous streams of energy presenting a confusing kaleidoscope of active inter-relations, interpenetration, internecine warfare, and interdependence until such time as the personality forces (symbolic of divine multiplicity) are subdued or ‘brought into line’ by the dominant soul. That is what we really mean by the use of the word ‘alignment’. ” (EP II 340)
“Do đó, con người (xét từ góc độ biểu đạt mãnh lực) là một khối năng lượng xung đột và một trung tâm hoạt động của những mãnh lực đang chuyển động, với trọng tâm liên tục dịch chuyển, và với sự tập hợp của vô số dòng năng lượng tạo thành một kính vạn hoa rối rắm gồm những mối tương quan năng động, sự xuyên thấm lẫn nhau, tương tàn trong nội chiến, và sự tương thuộc, cho đến khi linh hồn chi phối chế ngự các mãnh lực phàm ngã (tượng trưng cho tính đa tạp thiêng liêng) hoặc ‘đưa chúng vào hàng ngũ’ của mình. Đó là điều chúng ta thực sự muốn nói khi dùng từ ‘chỉnh hợp’. ” (EP II 340)
142. At first man hardly knows what is happening to him. There is conflict in the brain consciousness but, as yet, man is too unconscious of the causes of this conflict to do anything about it. Gradually the various contending energies are recognized, and their sources and effects are increasingly understood. Then the conflict becomes an important educative factor in consciousness; the man has entered the process of personality integration (however many lives it may take).
142. Lúc đầu, con người hầu như không biết điều gì đang xảy ra với mình. Có xung đột trong tâm thức não bộ, nhưng con người vẫn còn quá thiếu nhận biết về nguyên nhân của sự xung đột này để có thể làm gì nhằm xử lý nó. Dần dần, con người nhận ra các năng lượng đang tranh chấp và ngày càng thấu hiểu nguồn gốc cũng như tác động của chúng. Khi ấy, sự xung đột trở thành một yếu tố giáo dục quan trọng trong tâm thức; con người đã bước vào tiến trình tích hợp phàm ngã (dù tiến trình này có thể kéo dài bao nhiêu kiếp sống).
It is immediately obvious that the work of the disciple is, therefore, almost entirely within the realm of energy and forces. The study of occultism is the study of forces and of their origin and effects. An Ashram is a place wherein this study enters the laboratory or experimental stage. The disciple is supposed to be in process of becoming aware of the forces and energies which condition him as an individual; these originate within himself and produce changes and specific effects in his life-expression upon the physical plane. When he knows himself to be the “Life and the lives” (as The Secret Doctrine puts it), a sum total of forces and a controlling energy, then he can be a world disciple and work significantly in an Ashram.
Do đó, có thể thấy ngay rằng công việc của người đệ tử gần như hoàn toàn nằm trong lĩnh vực năng lượng và mãnh lực. Nghiên cứu huyền bí học là nghiên cứu các mãnh lực cùng nguồn gốc và tác động của chúng. Một ashram là nơi việc nghiên cứu này bước vào giai đoạn phòng thí nghiệm hay thực nghiệm. Người đệ tử phải đang trong tiến trình nhận biết những mãnh lực và năng lượng tác động lên mình với tư cách một cá nhân; chúng phát sinh bên trong chính y và tạo ra những biến đổi cùng các tác động cụ thể trong sự biểu đạt đời sống của y trên cõi hồng trần. Khi y biết mình là “Sự sống và các sự sống” (như cách diễn đạt trong Giáo Lý Bí Nhiệm), một tổng thể các mãnh lực và một năng lượng kiểm soát, thì y có thể trở thành một đệ tử thế giới và làm việc một cách đầy thâm nghĩa trong một ashram.
143. A disciple works understandingly with energies and forces. Such work is characteristic of the Path of Occultism but not of the Path of Mysticism.
143. Một đệ tử làm việc với các năng lượng và mãnh lực bằng sự thấu hiểu. Công việc như vậy là đặc trưng của Con Đường Huyền Bí Học, nhưng không phải của Con Đường Thần Bí Học.
144. An important definition of occultism is given: “the study of occultism is the study of forces and of their origin and effects”. To be an occultist, significant time must be spent upon the fifth ray which is especially adept at deciphering the ‘Language of Energy’.
144. Một định nghĩa quan trọng về huyền bí học được đưa ra: “nghiên cứu huyền bí học là nghiên cứu các mãnh lực cùng nguồn gốc và tác động của chúng”. Để trở thành một nhà huyền bí học, cần dành một lượng đáng kể thời gian trên cung năm, cung đặc biệt thành thạo trong việc giải mã ‘Ngôn Ngữ Năng Lượng’.
145. The practical occultist, however, is not simply a student. The Ashram is the ‘place’ where study turns into experimentation. An Ashram is something of an ‘occult laboratory’.
145. Tuy nhiên, nhà huyền bí học thực hành không đơn thuần là một đạo sinh. Ashram là ‘nơi’ việc nghiên cứu chuyển thành thực nghiệm. Một ashram phần nào là một ‘phòng thí nghiệm huyền bí’.
146. An occultist’s first area of observation and experimentation is his own energy system; he must become the master of his microcosmic self. We can see that a study of the seven rays and of esoteric astrology play an important role in producing the occultist. Through such sciences a man comes to understand himself far more objectively than heretofore possible, and in terms of energy.
146. Lĩnh vực quan sát và thực nghiệm đầu tiên của một nhà huyền bí học là chính hệ thống năng lượng của y; y phải làm chủ bản ngã tiểu thiên địa của mình. Chúng ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu bảy cung và Chiêm Tinh Học Nội Môn đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhà huyền bí học. Qua những khoa học như vậy, con người đi đến chỗ thấu hiểu bản thân một cách khách quan hơn nhiều so với trước đây, và xét theo phương diện năng lượng.
147. The disciple aims to arrive at the point in consciousness when he knows himself to be the “Life and the lives”. DK again borrows from The Secret Doctrine—which is entirely justified as He was responsible, we are told, for imparting to HPB much of the information found within it.
147. Người đệ tử hướng đến việc đạt tới điểm trong tâm thức khi y biết mình là “Sự sống và các sự sống”. Một lần nữa, Chân sư DK mượn cách diễn đạt từ Giáo Lý Bí Nhiệm—điều này hoàn toàn chính đáng vì, như chúng ta được cho biết, chính Ngài đã chịu trách nhiệm truyền đạt cho Bà HPB phần lớn thông tin có trong tác phẩm ấy.
148. In an earlier group instruction, Master DK spent much time describing the “world disciple” and the “accepted disciple” and differentiating them from each other. We now come to another definition of a world disciple, expressed in terms of energy.
148. Trong một huấn thị nhóm trước đây, Chân sư DK đã dành nhiều thời gian mô tả “đệ tử thế giới” và “đệ tử được chấp nhận”, đồng thời phân biệt hai loại đệ tử này với nhau. Giờ đây, chúng ta đến với một định nghĩa khác về đệ tử thế giới, được diễn đạt theo phương diện năng lượng.
149. When a man truly knows that he is the “Life and the lives” he is in position to work as a world disciple.
149. Khi một người thực sự biết rằng mình là “Sự sống và các sự sống”, y có đủ điều kiện để làm việc như một đệ tử thế giới.
150. He can then work significantly in an Ashram. The word “significantly” is, itself, significant, because many may work in relation to an Ashram before the stage of world disciple is reached, but they will not be working significantly. To work “significantly”, one works in relation to the World of Significance which lies ‘beyond’ the World of Meaning. To enter the World of Significance and to work there, one must be an initiate of the third degree—which is another way of defining a world disciple.
150. Khi ấy, y có thể làm việc một cách đầy thâm nghĩa trong một ashram. Bản thân cụm từ “một cách đầy thâm nghĩa” cũng mang thâm nghĩa, vì nhiều người có thể làm việc trong mối liên hệ với một ashram trước khi đạt đến giai đoạn đệ tử thế giới, nhưng họ sẽ chưa làm việc một cách đầy thâm nghĩa. Để làm việc “một cách đầy thâm nghĩa”, người ta làm việc trong mối liên hệ với Thế giới của thâm nghĩa, vốn nằm ‘vượt ngoài’ Thế giới của ý nghĩa. Để đi vào Thế giới của thâm nghĩa và làm việc ở đó, người ta phải là một điểm đạo đồ bậc ba—đây là một cách khác để định nghĩa đệ tử thế giới.
151. The one who recognizes himself as the “Life and the lives” is, in fact, an initiate of the third degree—a world disciple, working “significantly” in an Ashram.
151. Người nhận biết mình là “Sự sống và các sự sống” thực ra là một điểm đạo đồ bậc ba—một đệ tử thế giới, làm việc “một cách đầy thâm nghĩa” trong một ashram.
It will be apparent to you, therefore, that when a disciple enters into an Ashram and works in closer relation with his Master than heretofore, he begins to collaborate as far as is in him with his fellow disciples; then you have (in terms of occultism) a repetition of the relation between the “Life” of the group (in this case, the Master) and “the lives” (in this case, the disciples), of the central energy and the responding forces. From the Master’s angle of the group problem, duality enters into the group expression. He, the central energy, must work through the forces. From the angle of the disciple, a force (which is himself) is brought into relation with other forces; [701] it must, at the same time, become responsive to an energy, that of the Master. This response comes through the recognition of identity of purpose, of origin and of nature, but not identity in the field of expression. You can see, therefore, that an Ashram is, indeed, a very vortex of forces, set in motion by the many types of energy within the ring-pass-not of the Ashram itself. The basic principles of dualism make themselves felt as the energy of spirit makes its impact upon soul force and personality force. Forget not that a Master expresses monadic energy, whilst disciples in His group are seeking to express soul energy and are doing so, in some measure, through their love and service. To this soul energy, they add personality force which arises from their being, as yet, focussed in the personality life, even whilst aspiring to soul consciousness. Herein lies their usefulness from the Master’s point of view and herein lies their difficulty and—at times—their failure.
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng khi một đệ tử gia nhập một ashram và làm việc trong mối liên hệ gần gũi với Chân sư của mình hơn trước, y bắt đầu cộng tác hết khả năng với các đệ tử đồng môn; khi ấy, xét theo huyền bí học, chúng ta có sự lặp lại mối quan hệ giữa “Sự sống” của nhóm (trong trường hợp này là Chân sư) và “các sự sống” (trong trường hợp này là các đệ tử), giữa năng lượng trung tâm và những mãnh lực đáp ứng. Từ góc nhìn của Chân sư về vấn đề của nhóm, nhị nguyên đi vào sự biểu đạt của nhóm. Ngài, năng lượng trung tâm, phải làm việc qua các mãnh lực. Từ góc nhìn của người đệ tử, một mãnh lực (chính là y) được đưa vào mối liên hệ với những mãnh lực khác; [701] đồng thời, mãnh lực ấy phải trở nên đáp ứng với một năng lượng, là năng lượng của Chân sư. Sự đáp ứng này đến qua việc nhận biết sự đồng nhất về mục đích, nguồn gốc và bản chất, nhưng không phải sự đồng nhất trong lĩnh vực biểu đạt. Do đó, các bạn có thể thấy rằng một ashram quả thực là một xoáy mãnh lực, do nhiều loại năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của chính ashram khởi động. Các nguyên khí cơ bản của thuyết nhị nguyên bộc lộ tác động khi năng lượng tinh thần tác động lên mãnh lực linh hồn và mãnh lực phàm ngã. Đừng quên rằng một Chân sư biểu đạt năng lượng chân thần, trong khi các đệ tử trong nhóm của Ngài đang tìm cách biểu đạt năng lượng linh hồn và phần nào thực hiện điều đó qua tình thương và sự phụng sự của họ. Họ thêm vào năng lượng linh hồn này mãnh lực phàm ngã, vốn phát sinh từ việc họ vẫn còn tập trung trong đời sống phàm ngã, ngay cả khi đang khát vọng hướng đến tâm thức linh hồn. Chính trong điều này có sự hữu ích của họ theo quan điểm của Chân sư, và cũng chính trong điều này có khó khăn của họ cùng—đôi khi—sự thất bại của họ.
152. The Tibetan develops the theme of the “Life and the lives” analogically. In the earlier paragraph we saw how the individual disciple comes to understand himself in these terms. Now the analogy is extended to the group: the Master is the “Life” and the many disciples, are the “lives”.
152. Chân sư Tây Tạng phát triển chủ đề “Sự sống và các sự sống” theo phép tương đồng. Trong đoạn trước, chúng ta đã thấy cách người đệ tử cá nhân đi đến chỗ thấu hiểu bản thân theo những thuật ngữ này. Giờ đây, phép tương đồng được mở rộng sang nhóm: Chân sư là “Sự sống”, còn nhiều đệ tử là “các sự sống”.
153. The analogical extension becomes applicable when the disciple enters the Ashram and begins to collaborate with his fellow disciples.
153. Sự mở rộng phép tương đồng trở nên thích hợp khi người đệ tử gia nhập ashram và bắt đầu cộng tác với các đệ tử đồng môn.
154. In both the microcosm and the group, there will be an initial division between the “Life” and the “lives”. The Master faces a problem of duality and so does the individual disciple.
154. Trong cả tiểu thiên địa lẫn nhóm, ban đầu sẽ có sự phân chia giữa “Sự sống” và “các sự sống”. Chân sư đối diện với một vấn đề nhị nguyên, và người đệ tử cá nhân cũng vậy.
155. DK is entering into a discussion of energies and forces; energies are always to work upon forces, which are to respond to energies.
155. Chân sư DK đang đi vào một cuộc bàn luận về các năng lượng và mãnh lực; các năng lượng luôn phải tác động lên các mãnh lực, còn các mãnh lực phải đáp ứng với các năng lượng.
156. DK is speaking in the ‘Language of Energy’. The disciple entering an Ashram as an accepted disciple is considered “a force” or a “unit of force”. He is brought into relation with other forces (i. e. , with other disciples), and has to learn to respond to an energy; the Master is the “energy”.
156. Chân sư DK đang nói bằng ‘Ngôn Ngữ Năng Lượng’. Người đệ tử gia nhập một ashram với tư cách đệ tử được chấp nhận được xem là “một mãnh lực” hay một “đơn vị mãnh lực”. Y được đưa vào mối liên hệ với những mãnh lực khác (t. l. , với những đệ tử khác), và phải học cách đáp ứng với một năng lượng; Chân sư là “năng lượng”.
157. DK differentiates between the fields of expression characteristic of the Master and His disciples. The disciples’ “response comes through the recognition of identity of purpose, of origin and of nature”; the disciple recognizes the Master and responds to Him. Disciple and Master are, shall we say, qualitatively aligned, but their fields of expression are very different (the Master’s being much greater in scope and much higher in vibration).
157. Chân sư DK phân biệt các lĩnh vực biểu hiện đặc trưng của Chân sư và các đệ tử của Ngài. Các đệ tử có “sự đáp ứng nảy sinh qua việc nhận ra sự đồng nhất về mục đích, nguồn gốc và bản chất”; đệ tử nhận ra Chân sư và đáp ứng với Ngài. Đệ tử và Chân sư, có thể nói là, chỉnh hợp về phẩm tính, nhưng các lĩnh vực biểu hiện của hai bên rất khác nhau (lĩnh vực biểu hiện của Chân sư có phạm vi rộng lớn hơn nhiều và rung động cao hơn nhiều).
158. The Tibetan wants us to understand the Ashram in energic terms as a “very vortex of forces”. Many types of energies and forces are brought together to create this vortex.
158. Chân sư Tây Tạng muốn chúng ta thấu hiểu ashram theo phương diện năng lượng, như “chính một xoáy mãnh lực”. Nhiều loại năng lượng và mãnh lực kết hợp với nhau để tạo nên xoáy này.
159. In an Ashram three types of energies/forces are brought together. Dualism still prevails, as monadic energy (provided by the Master) seeks to make its impact upon the union of soul energy and personality force. A process of “harmony through conflict” is at work in all Ashrams. Eventually the lower energies/forces are subdued and harmonized with the greater, imposing energy (i. e. , that of the Master)
159. Trong một ashram, ba loại năng lượng/mãnh lực kết hợp với nhau. Tính nhị nguyên vẫn chiếm ưu thế, khi năng lượng chân thần (do Chân sư cung cấp) tìm cách tác động lên sự hợp nhất giữa năng lượng linh hồn và mãnh lực phàm ngã. Một tiến trình “hài hòa thông qua xung đột” đang diễn ra trong mọi ashram. Cuối cùng, các năng lượng/mãnh lực thấp được chế ngự và trở nên hài hòa với năng lượng lớn hơn đang áp đặt ảnh hưởng (tức là năng lượng của Chân sư)
160. The Master expresses monadic energy within His Ashram. The members of the Ashram seek to love and serve and, thus, seek to express soul energy.
160. Chân sư biểu hiện năng lượng chân thần trong ashram của Ngài. Các thành viên của ashram tìm cách yêu thương và phụng sự, và do đó, tìm cách biểu hiện năng lượng linh hồn.
161. Although personality energy is not allowed to enter the Ashram, it is still an important factor in the Master’s consciousness, because so many of the members of His Ashram are still focussed in their personality life.
161. Mặc dù năng lượng phàm ngã không được phép đi vào ashram, nó vẫn là một yếu tố quan trọng trong tâm thức của Chân sư vì rất nhiều thành viên trong ashram của Ngài vẫn tập trung vào đời sống phàm ngã của họ.
162. Personality is at once a great complication and a great opportunity. It can cause the failures of various disciples or the group; but its presence can also assist with the externalization process, helping the Master reach larger numbers of people through the personalities of His chelas—only, however, if those personalities are soul-infused.
162. Phàm ngã đồng thời vừa là một yếu tố gây phức tạp lớn vừa là một cơ hội lớn. Nó có thể gây ra những thất bại của các đệ tử hoặc của nhóm; nhưng sự hiện diện của nó cũng có thể hỗ trợ tiến trình ngoại hiện, giúp Chân sư tiếp cận nhiều người hơn thông qua các phàm ngã của các đệ tử của Ngài—tuy nhiên, chỉ khi những phàm ngã ấy được linh hồn thấm nhuần.
Disciples within the Master’s group or the Master’s Ashram have a potent effect upon each other, for everything in their nature is accentuated. The Master has to watch carefully to see that He does not unduly stimulate the disciples’ vehicles through the very fact of His relation to them.
Các đệ tử trong nhóm của Chân sư hoặc trong ashram của Chân sư tác động mạnh mẽ lên nhau, vì mọi điều trong bản chất của họ đều được tăng cường. Chân sư phải quan sát cẩn thận để bảo đảm rằng Ngài không kích thích quá mức các hiện thể của các đệ tử chỉ vì mối quan hệ của Ngài với họ.