← Commentary on DINA I song ngữ

163. Master DK is entering into the energy dynamics characteristic of the Ashram—especially characteristic among newly accepted disciples.

Trích nội dung chương

163. Master DK is entering into the energy dynamics characteristic of the Ashram—especially characteristic among newly accepted disciples. 163. Chân sư DK đang đi sâu vào những tương tác năng lượng đặc trưng của ashram—đặc biệt là giữa những đệ tử mới được chấp nhận.


163. Master DK is entering into the energy dynamics characteristic of the Ashram—especially characteristic among newly accepted disciples.

163. Chân sư DK đang đi sâu vào những tương tác năng lượng đặc trưng của ashram—đặc biệt là giữa những đệ tử mới được chấp nhận.

164. In this section He does not differentiate the Master’s group and the Master’s Ashram; similar problems arise in both centers of focus.

164. Trong phần này, Ngài không phân biệt nhóm của Chân sư với ashram của Chân sư; những vấn đề tương tự nảy sinh ở cả hai trung tâm tập trung này.

165. Not only does the Master have a potent effect upon the assembled chelas, but they have a potent effect upon each other.

165. Không chỉ Chân sư tác động mạnh mẽ lên các đệ tử đã tập hợp lại, mà họ cũng tác động mạnh mẽ lên nhau.

166. In the initial stages of ashramic life, “everything in their nature is accentuated”—the good and the bad. This fact can lead to some peculiar behavior.

166. Trong những giai đoạn đầu của đời sống ashram, “mọi điều trong bản chất của họ đều được tăng cường”—cả điều tốt lẫn điều xấu. Điều này có thể dẫn đến một số hành vi khác thường.

167. A Master need not try to stimulate His disciples; His very presence will do it. More often, He will have to attempt to offset the stimulation caused by His closer proximity, for He is more proximate to those within His Ashram than to those within His group, and more proximate to the members of His group than to many other human beings.

167. Một Chân sư không cần cố gắng kích thích các đệ tử của Ngài; chỉ riêng sự hiện diện của Ngài cũng sẽ làm điều đó. Thường thì Ngài phải cố gắng hóa giải sự kích thích do sự gần gũi hơn của Ngài gây ra, vì Ngài gần gũi với những người trong ashram của Ngài hơn với những người trong nhóm của Ngài, và gần gũi với các thành viên trong nhóm của Ngài hơn với nhiều người khác.

168. Disciples cannot forget the ever-present possibility of overstimulation. If a disciple succumbs to it, he may be damaged or, at the least, delayed. The Path of Initiation is one of necessitating increasing control, and overstimulation is a loss of control.

168. Các đệ tử không thể quên rằng khả năng bị kích thích quá mức luôn hiện hữu. Nếu một đệ tử không chống đỡ nổi sự kích thích ấy, y có thể bị tổn hại hoặc ít nhất cũng bị chậm trễ. Con Đường Điểm Đạo đòi hỏi khả năng kiểm soát ngày càng tăng, còn sự kích thích quá mức là một sự mất kiểm soát.

The individual disciple has, therefore, to watch the effect of three groups of energies which all make an impact upon him:

Do đó, mỗi đệ tử phải theo dõi tác động của ba nhóm năng lượng đều tác động lên y:

1. Those within his own nature (physical, emotional and mental) and those which come to him from his own soul.

1. Những năng lượng trong bản chất của chính y (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ) cùng những năng lượng đến với y từ chính linh hồn của y.

169. Point one deals with microcosmic effects.

169. Điểm thứ nhất đề cập đến các tác động tiểu thiên địa.

170. Both personality forces and soul energies can be stimulating. Although the reception and expression of soul energy is highly desirable, overstimulation can arise through soul contact. If soul energy leads to excessive personality stimulation, soul will soon be obscured. Of course, as one can understand, the obscuring of soul can arise through an excess of normal personality stimulation.

170. Cả các mãnh lực phàm ngã lẫn các năng lượng linh hồn đều có thể gây kích thích. Mặc dù việc tiếp nhận và biểu hiện năng lượng linh hồn là điều rất đáng mong muốn, sự kích thích quá mức có thể nảy sinh qua sự tiếp xúc với linh hồn. Nếu năng lượng linh hồn dẫn đến sự kích thích phàm ngã quá mức, linh hồn sẽ sớm bị che khuất. Dĩ nhiên, như có thể hiểu được, sự che khuất linh hồn có thể nảy sinh khi mức kích thích thông thường của phàm ngã trở nên quá cao.

171. The idea that one must “watch oneself” suggests that the virtue of vigilance is needed by the accepted disciple entering the Ashram. Master Morya has much to say about this virtue.

171. Ý tưởng rằng mỗi người phải “theo dõi bản thân” cho thấy đệ tử được chấp nhận đang bước vào ashram cần có đức tính tỉnh giác này. Chân sư Morya nói rất nhiều về đức tính này.

2. Those which make an impact upon him as they come to him from other members of the Ashram or group. This effect will be dependent upon his being detached where he himself is concerned and thus responsive to what comes from them. The occult law is that the more you love the more you can respond to and include the point of view, the nature and the force of your fellowmen. This is vitally true also of a group of disciples. What protects most disciples from too great a sensitivity is their preoccupation with themselves and with their own development.

2. Những năng lượng tác động lên y khi đến với y từ các thành viên khác của ashram hoặc nhóm. Tác động này sẽ tùy thuộc vào việc y có tách rời khỏi những gì liên quan đến bản thân mình hay không, nhờ đó có thể đáp ứng với những gì đến từ họ. Định luật huyền bí là các bạn càng yêu thương thì càng có thể đáp ứng và bao gồm quan điểm, bản chất và mãnh lực của đồng loại. Điều này cũng đúng một cách thiết yếu đối với một nhóm đệ tử. Điều bảo vệ phần lớn các đệ tử khỏi sự nhạy cảm quá mức là sự mải bận tâm đến bản thân và sự phát triển của chính họ.

172. The second series of effects come from the other members of the Ashram, i.e., from his fellow disciples.

172. Loạt tác động thứ hai đến từ các thành viên khác của ashram, tức là từ các đệ tử đồng môn của y.

173. The disciple who is detached from his own energy system will, perhaps, be more responsive to the energies and forces coming from his brothers.

173. Đệ tử tách rời khỏi hệ thống năng lượng của chính mình có lẽ sẽ đáp ứng nhiều hơn với các năng lượng và mãnh lực đến từ các huynh đệ của y.

174. DK talks here about the revelatory, sensitizing power of love. The loving disciple may be extremely sensitive to impacts from his close associates.

174. Ở đây, Chân sư DK nói về quyền năng mặc khải và làm tăng sự nhạy cảm của tình thương. Đệ tử giàu tình thương có thể cực kỳ nhạy cảm với những tác động từ những người cộng tác gần gũi.

175. The cultivation of this wide and inclusive love is a great necessity for members of an Ashram, but it can produce unexpected difficulties due to love-induced oversensitivity.

175. Việc vun bồi tình thương rộng lớn và bao gồm này là điều hết sức cần thiết đối với các thành viên của một ashram, nhưng nó có thể gây ra những khó khăn bất ngờ do tình thương làm nảy sinh sự nhạy cảm quá mức.

176. DK remarks, with His typical dry humor, that most disciples are protected from this difficulty because they are so preoccupied with themselves and their own development that they do not love enough to get hurt!

176. Với lối hài hước kín đáo đặc trưng, Chân sư DK nhận xét rằng phần lớn các đệ tử được bảo vệ khỏi khó khăn này vì họ quá mải bận tâm đến bản thân và sự phát triển của chính mình đến nỗi họ không yêu thương đủ để bị tổn thương!

[702]

[702]

3. Those transmuted forces which come to the disciple from the Master or are definitely transmitted to him by the Master.

3. Những mãnh lực đã chuyển hoá đến với đệ tử từ Chân sư hoặc do Chân sư chủ đích truyền đến y.

177. The third category of forces comes from the Master, or is transmitted to the disciple by the Master. Although the disciple may consider these types of forces very welcome, they can very definitely contribute to overstimulation and imbalance if not managed carefully.

177. Loại mãnh lực thứ ba đến từ Chân sư, hoặc do Chân sư truyền đến đệ tử. Mặc dù đệ tử có thể xem những loại mãnh lực này là rất đáng hoan nghênh, chúng chắc chắn có thể góp phần gây ra sự kích thích quá mức và mất cân bằng nếu không được điều tiết cẩn thận.

178. We see that, in studying the types of forces for which the disciple must “watch”, we have focussed on the three aspects of divinity. The microcosmic forces of the disciple’s own energy system correspond to the third aspect; energies and forces from his fellow disciples, to the second aspect; and the energies of the Master to the first aspect.

178. Chúng ta thấy rằng khi nghiên cứu các loại mãnh lực mà đệ tử phải “theo dõi”, chúng ta đã tập trung vào ba phương diện của thiên tính. Các mãnh lực tiểu thiên địa trong hệ thống năng lượng của chính đệ tử tương ứng với phương diện thứ ba; các năng lượng và mãnh lực từ các đệ tử đồng môn của y tương ứng với phương diện thứ hai; và các năng lượng của Chân sư tương ứng với phương diện thứ nhất.

The goal for all work done by disciples, either in group formation or in the Ashram, is the expression, within the group, of the causal creative process. This is summed up in the words which I have already quoted to you “the Life and the lives.” You have the analogous idea and its sequence of effects in the realisation that the Master (spirit or Monad) reflects Himself in or inspires the disciple (soul) and the latter is thus enabled to demonstrate soul activity upon the physical plane.

Mục tiêu của mọi công việc do các đệ tử thực hiện, dù trong đội hình nhóm hay trong ashram, là biểu hiện tiến trình sáng tạo nguyên nhân bên trong nhóm. Điều này được tóm lược trong những từ mà Tôi đã trích dẫn với các bạn: “Sự sống và các sự sống.” Các bạn có thể nắm bắt ý tưởng tương đồng và chuỗi tác động của nó khi nhận ra rằng Chân sư (tinh thần hay chân thần) phản chiếu chính Ngài trong đệ tử (linh hồn) hoặc truyền cảm hứng cho đệ tử, và nhờ đó đệ tử có thể thể hiện hoạt động của linh hồn trên cõi hồng trần.

179. The phrase, “the causal creative process” is brought forward as the goal of all work done by disciples in the Master’s group or in the Ashram. It is an interesting phrase. From one perspective, it demands the recognition of the content in the individual causal body and in the group causal body and the creative use of such content in line with the Plan.

179. Cụm từ “tiến trình sáng tạo nguyên nhân” được đưa ra như mục tiêu của mọi công việc do các đệ tử thực hiện trong nhóm của Chân sư hoặc trong ashram. Đây là một cụm từ thú vị. Từ một góc nhìn, nó đòi hỏi phải nhận ra những nội dung trong thể nguyên nhân cá nhân và trong thể nguyên nhân nhóm, đồng thời sử dụng những nội dung ấy một cách sáng tạo, phù hợp với Thiên Cơ.

180. All of us are endowed with a certain ‘causal content’; there is much such content of which we may be unaware. One of our tasks is to understand that which has been stored in the “treasury” of the individual and group causal body, and the application of the content, creatively, to the process of manifesting the Plan.

180. Tất cả chúng ta đều được phú cho một lượng ‘nội dung của thể nguyên nhân’ nhất định; có nhiều nội dung như thế mà chúng ta có thể chưa nhận biết. Một trong những nhiệm vụ của chúng ta là thấu hiểu những gì đã được tích trữ trong “kho tàng” của thể nguyên nhân cá nhân và thể nguyên nhân nhóm, cùng việc vận dụng những nội dung ấy một cách sáng tạo vào tiến trình biểu hiện Thiên Cơ.

181. The phrase, “causal creative process”, may also be interpreted as the ability to live in the “World of Causes” and to work from that elevation creatively and in line with the Plan. From this perspective, the World of Causes is ‘above’ that of the causal body. It can be conceived as the world of the spiritual triad. The World of Causes and the World of Significance can be considered equivalent.

181. Cụm từ “tiến trình sáng tạo nguyên nhân” cũng có thể được diễn giải là khả năng sống trong “Thế Giới Nguyên Nhân” và từ tầm cao ấy làm việc một cách sáng tạo, phù hợp với Thiên Cơ. Từ góc nhìn này, Thế Giới Nguyên Nhân nằm ‘cao hơn’ thế giới của thể nguyên nhân. Có thể quan niệm đó là thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Có thể xem Thế Giới Nguyên Nhân và Thế giới của thâm nghĩa là tương đương.

182. A threefold process of inspiration is discussed. When we think of the functioning of the Ashram, we must always remember the triplicity of spirit, soul and body, of Master, disciple/soul and the field of expression (whether that field is the general environment or the personality nature of humanity). The disciple is not the personality.

182. Một tiến trình truyền cảm hứng tam phân đang được bàn đến. Khi nghĩ về hoạt động của ashram, chúng ta phải luôn nhớ đến bộ ba tinh thần, linh hồn và thân thể, hay Chân sư, đệ tử/linh hồn và lĩnh vực biểu hiện (dù lĩnh vực ấy là môi trường chung hay bản chất phàm ngã của nhân loại). Người đệ tử không phải là phàm ngã.

I would like to consider in greater detail the nature of a Master’s group, sometimes called an Ashram. It might be valuable if I endeavoured to define an Ashram to you and so leave you with a clear idea of the difference between a Master’s particular group, and the many outer groups which, though working under His inspiration and upon the Plan, are not definitely and technically His Ashram.

Tôi muốn xem xét chi tiết hơn bản chất của nhóm của một Chân sư, đôi khi được gọi là một ashram. Có lẽ sẽ hữu ích nếu Tôi cố gắng định nghĩa một ashram cho các bạn, để các bạn có một ý niệm rõ ràng về sự khác biệt giữa nhóm riêng của một Chân sư và nhiều nhóm bên ngoài, vốn tuy hoạt động dưới cảm hứng của Ngài và theo Thiên Cơ, nhưng xét một cách xác định và theo nghĩa chuyên môn, không phải là ashram của Ngài.

183. Master DK undertakes to clarify still further the nature of the Ashram. If we study what He says with care, we shall see that in this section He considers a “Master’s group” as equivalent to a “Master’s Ashram”. In earlier paragraphs, He differentiated between the two.

183. Chân sư DK bắt đầu làm sáng tỏ hơn nữa bản chất của ashram. Nếu nghiên cứu kỹ những điều Ngài nói, chúng ta sẽ thấy rằng trong phần này, Ngài xem một “nhóm của Chân sư” là tương đương với một “ashram của Chân sư”. Trong những đoạn trước, Ngài đã phân biệt hai điều này.

184. A “Master’s particular group” is here considered the Ashram. He differentiates that particular group from the “many outer groups which, though working under His inspiration and upon the Plan, are not definitely and technically His Ashram”.

184. Một “nhóm riêng của Chân sư” ở đây được xem là ashram. Ngài phân biệt nhóm riêng ấy với “nhiều nhóm bên ngoài, vốn tuy hoạt động dưới cảm hứng của Ngài và theo Thiên Cơ, nhưng xét một cách xác định và theo nghĩa chuyên môn, không phải là ashram của Ngài”.

185. What was the status of the Groups-of-Nine which He organized in the 1930’s, or of the New Seed Group organized in 1940. Were these to be considered the “Master’s Ashram” or the “Master’s group or groups”?

185. Các Nhóm Chín Người mà Ngài tổ chức trong thập niên 1930 hoặc Nhóm Hạt Giống Mới được tổ chức vào năm 1940 có vị thế như thế nào. Liệu những nhóm này nên được xem là “ashram của Chân sư” hay “nhóm hoặc các nhóm của Chân sư”?

186. It would seem that these groups were not the Ashram, but were extensions of it. Many of the members of these groups were, in fact, in Master DK’s Ashram (if only on the periphery). By the time the New Seed Group was organized, all the members of this group, acknowledged by DK as “accepted disciples”, were in the Master’s Ashram. But, the Master’s particular group, His inner group, was much larger and deeper than that outer group. So although the Group of Twenty-Four (The New Seed Group) was, in a way, incorporated within the Ashram, it was not the Ashram itself, but only an outer extension.

186. Dường như những nhóm này không phải là ashram, mà là những phần mở rộng của ashram. Thực ra, nhiều thành viên của những nhóm này đã ở trong ashram của Chân sư DK (dù chỉ ở ngoại vi). Vào thời điểm Nhóm Hạt Giống Mới được tổ chức, tất cả các thành viên của nhóm này, được Chân sư DK công nhận là “các đệ tử được chấp nhận”, đều ở trong ashram của Chân sư. Nhưng nhóm riêng của Chân sư, nhóm bên trong của Ngài, lớn hơn và sâu rộng hơn nhiều so với nhóm bên ngoài ấy. Vì vậy, mặc dù theo một cách nào đó, Nhóm Hai Mươi Bốn Người (Nhóm Hạt Giống Mới) đã được đưa vào trong ashram, nhóm ấy không phải là chính ashram, mà chỉ là một phần mở rộng bên ngoài.

187. Those groups were only a few, not the many outer groups discussed above. There were and certainly are now many outer groups, working, for instance, in relation to Master DK’s plans and more or less under His inspiration. Such groups probably have far fewer members who are technically members of His Ashrams than had the few groups organized in the 1930’s and early 1940’s.

187. Những nhóm ấy chỉ là một vài nhóm, chứ không phải nhiều nhóm bên ngoài được bàn đến ở trên. Đã từng có và chắc chắn hiện nay vẫn có nhiều nhóm bên ngoài, chẳng hạn những nhóm hoạt động liên quan đến các kế hoạch của Chân sư DK và ít nhiều dưới cảm hứng của Ngài. Những nhóm như thế có lẽ có số thành viên thực sự thuộc các ashram của Ngài theo nghĩa chuyên môn ít hơn nhiều so với một vài nhóm được tổ chức trong thập niên 1930 và đầu thập niên 1940.

188. We have, then, three types of groups.

188. Như vậy, chúng ta có ba loại nhóm.

a. many outer groups related to the Master

a. nhiều nhóm bên ngoài có liên hệ với Chân sư

b. a few intermediate groups directly related to His Ashram, affiliated with it and meant to be incorporated within it. (Such were the Groups of Nine and New Seed Group. )

b. một vài nhóm trung gian có liên hệ trực tiếp với ashram của Ngài, gắn kết với ashram và dự kiến sẽ được đưa vào trong ashram. (Các Nhóm Chín Người và Nhóm Hạt Giống Mới là những nhóm như thế. )

c. the Master’s own group, an inner group, His particular group, which is the Ashram, per se.

c. nhóm của chính Chân sư, một nhóm bên trong, nhóm riêng của Ngài, chính là ashram.

An Ashram is a subjective fusion of individuals and not of personalities, gathered together for service purposes. It is a blending of individual activity into one whole—a whole which is united on objective and vision but which may (and frequently does) have differing methods and techniques. The work of the Ashram is essentially the presentation to the world of those service purposes which are carried forward as seems best to the individual disciple, under the “impression of the Master” and with the cooperation of His group. A group of disciples is not pledged to do the same type of work in the same way and at the same time. They are pledged to work under the inspiration of their soul, as their souls may direct and dictate, strengthened by contact with the Master and with each other. They are related to each other through identity of vision and of vibration, plus mutual respect and complete freedom—particularly the latter.

Một ashram là sự dung hợp chủ quan của các cá nhân chứ không phải của các phàm ngã, tập hợp lại vì các mục đích phụng sự. Đó là sự hòa quyện hoạt động cá nhân thành một toàn thể—một toàn thể thống nhất về mục tiêu và tầm nhìn nhưng có thể (và thường là như vậy) có những phương pháp và kỹ thuật khác nhau. Về bản chất, công việc của ashram là trình bày với thế giới những mục đích phụng sự ấy, được mỗi đệ tử thực hiện theo cách mà y cho là tốt nhất, dưới “ấn tượng của Chân sư” và với sự hợp tác của nhóm của Ngài. Một nhóm đệ tử không cam kết thực hiện cùng một loại công việc, theo cùng một cách và vào cùng một thời điểm. Họ cam kết làm việc dưới cảm hứng của linh hồn mình, theo sự chỉ dẫn và định hướng của linh hồn họ, được củng cố nhờ sự tiếp xúc với Chân sư và với nhau. Họ liên hệ với nhau qua sự đồng nhất về tầm nhìn và rung động, cùng với sự tôn trọng lẫn nhau và tự do hoàn toàn—đặc biệt là điều sau cùng.

189. Master DK continues to define the Ashram. It is a “subjective fusion of individuals and not of personalities gathered together for service purposes”. It is interesting and important to realize that “individuals” are not “personalities”. So often these terms are used interchangeably and, thus, inaccurately. The soul is the true individual. Therefore, an Ashram is a subjective fusion of souls.

189. Chân sư DK tiếp tục định nghĩa ashram. Đó là một “sự dung hợp chủ quan của các cá nhân chứ không phải của các phàm ngã tập hợp lại vì các mục đích phụng sự”. Thật thú vị và quan trọng khi nhận ra rằng “các cá nhân” không phải là “các phàm ngã”. Những thuật ngữ này rất thường được dùng thay thế cho nhau, và vì thế, thiếu chính xác. Linh hồn mới là cá nhân đích thực. Do đó, một ashram là sự dung hợp chủ quan của các linh hồn.

190. We see that the nature of the Ashram is inseparable from the concept of service.

190. Chúng ta thấy rằng bản chất của ashram không thể tách rời khái niệm phụng sự.

191. From the perspective of activity, many types of individual activity are blended into a whole. The unity preserved by this blending refers to unity of objective and vision. The variety factor is preserved in relation to method and technique.

191. Từ góc độ hoạt động, nhiều loại hoạt động cá nhân hòa quyện thành một toàn thể. Sự thống nhất được gìn giữ qua sự hòa quyện này là sự thống nhất về mục tiêu và tầm nhìn. Yếu tố đa dạng được gìn giữ trong phương pháp và kỹ thuật.

192. Through an Ashram, “service purposes” are presented to the world. The service rendered is under “the impression of the Master”; the Master’s group cooperates in this presentation. But the service purposes may have very individual service expressions according to the individual nature of the various disciples within the Ashram. Disciples are given great latitude with respect to their mode of expressing service purposes. We have constantly to keep in mind the distinction between “service purposes” and methods of service.

192. Thông qua một ashram, “các mục đích phụng sự” được trình bày với thế giới. Việc phụng sự được thực hiện dưới “ấn tượng của Chân sư”; nhóm của Chân sư hợp tác trong việc trình bày này. Nhưng các mục đích phụng sự có thể có những cách biểu hiện phụng sự rất riêng biệt, tùy theo bản chất riêng của các đệ tử khác nhau trong ashram. Các đệ tử có quyền tự do rất lớn trong cách biểu hiện các mục đích phụng sự. Chúng ta phải luôn ghi nhớ sự khác biệt giữa “các mục đích phụng sự” và các phương pháp phụng sự.

193. DK deals with the concept of a pledged group of disciples. They are not pledged to identicalness of outer method. There pledge commits them to no outer rigidity. An enforced outer uniformity would be a prison.

193. Chân sư DK đề cập đến khái niệm về một nhóm đệ tử đã lập lời cam kết. Họ không cam kết phải giống hệt nhau về phương pháp bên ngoài. Lời cam kết của họ không ràng buộc họ vào bất kỳ sự cứng nhắc bên ngoài nào. Một sự đồng nhất bên ngoài bị cưỡng ép sẽ là một nhà tù.

194. The pledge is directed to the soul. Their soul (and not any outer expectation) is the source their inspiration, and to that source of inspiration they are pledged. The soul dictates the specific direction of their service expression. The Master and the Ashram determine the general “service purposes”. The strength of the Master is their strength and the fellowship of the Ashram supports their strength. But the specific direction and the ways and means are their own, according to their best spiritual judgment.

194. Lời cam kết hướng đến linh hồn. Linh hồn của họ (chứ không phải bất kỳ kỳ vọng bên ngoài nào) là nguồn cảm hứng của họ, và họ cam kết với chính nguồn cảm hứng ấy. Linh hồn định hướng cụ thể cho cách biểu hiện phụng sự của họ. Chân sư và ashram xác định các “mục đích phụng sự” chung. Sức mạnh của Chân sư là sức mạnh của họ, và tình huynh đệ trong ashram nâng đỡ sức mạnh ấy. Nhưng phương hướng cụ thể cùng cách thức và phương tiện là do chính họ quyết định, theo sự phán đoán tinh thần tốt nhất của họ.

195. The proper method of disciplic relation is made completely clear: “They are related to each other through identity of vision and of vibration, plus mutual respect and complete freedom—particularly the latter.” Thus, the ideal is enunciated. Disciples are to relinquish their ‘supervision’ of each other, their attitudes of approval or disapproval; they are to trust the soul of their brother and, therefore, to feel confident about leaving him in complete freedom as regards his methods of cooperation with the Ashram.

195. Cách thức đúng đắn trong quan hệ giữa các đệ tử được làm sáng tỏ hoàn toàn: “Họ liên hệ với nhau qua sự đồng nhất về tầm nhìn và rung động, cùng với sự tôn trọng lẫn nhau và tự do hoàn toàn—đặc biệt là điều sau cùng.” Như vậy, lý tưởng đã được nêu rõ. Các đệ tử phải từ bỏ việc ‘giám sát’ lẫn nhau, từ bỏ thái độ tán thành hay không tán thành; họ phải tin cậy linh hồn của huynh đệ mình và do đó an tâm để người huynh đệ ấy được tự do hoàn toàn trong các phương pháp hợp tác với ashram.

As you ponder on this, I would ask you to realise that an Ashram is not a group of people, working under the tutelage of some Master. This is an important point to remember. It is—as said earlier—a magnetic point of tension, a fusion of [703] energies, directed towards a common centre and involving two magnetic factors:

Khi các bạn suy ngẫm về điều này, Tôi muốn các bạn nhận ra rằng một ashram không phải là một nhóm người làm việc dưới sự dìu dắt của một Chân sư nào đó. Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ. Như đã nói trước đây, đó là một điểm tập trung nhất tâm mang từ tính, một sự dung hợp của [703] các năng lượng, hướng về một trung tâm chung và bao hàm hai yếu tố từ tính:

196. We remember that individuals are not people. Master DK offers this most prosaic definition of an Ashram somewhat ironically. The picture painted is a parody of the deeper truth.

196. Chúng ta nhớ rằng các cá nhân không phải là những con người. Chân sư DK đưa ra định nghĩa hết sức tầm thường này về một ashram với đôi chút mỉa mai. Bức tranh được phác họa là một sự biếm họa của chân lý sâu xa hơn.

197. DK prefers to define the Ashram in energic terms: “a magnetic point of tension, a fusion of energies directed towards a common center…” The ‘personal factor’ is entirely missing from this definition. Thinking ‘personally’ is a great glamor caused by unrecognized habits of perception. Souls appear as “people”, but they are not. When we learn to see “people” as souls, our understanding of the true nature of an Ashram will immediately be transformed.

197. Chân sư DK thích định nghĩa ashram theo phương diện năng lượng: “một điểm tập trung nhất tâm có từ tính, một sự dung hợp các năng lượng hướng về một trung tâm chung…” Yếu tố ‘cá nhân’ hoàn toàn vắng mặt trong định nghĩa này. Suy nghĩ theo lối ‘cá nhân’ là một ảo cảm lớn do những thói quen nhận thức chưa được nhận ra gây nên. Các linh hồn có vẻ là “những con người”, nhưng họ không phải như vậy. Khi chúng ta học cách nhìn “những con người” như các linh hồn, sự thấu hiểu của chúng ta về bản chất đích thực của một ashram sẽ lập tức chuyển đổi.

198. The magnetism of the Ashram draws those who are affiliated by ray, karma, and an orientation to think as the Master thinks. The “common center”, of course, is the Master.

198. Từ điện của ashram thu hút những người có mối liên hệ về cung, nghiệp quả và có khuynh hướng suy nghĩ như Chân sư suy nghĩ. Dĩ nhiên, “trung tâm chung” chính là Chân sư.

1. A united urge towards group formation upon the mental plane. This is the higher correspondence to the herd instinct of the animal world and of the world of men, but is of a spiritual nature and quite differently motivated. The lower herd instinct is motivated largely by the instinct of self-preservation; the higher by the recognition of the immortal nature of the soul, and by the instinct to serve even with the sacrifice of oneself. The law of “death unto life” controls. When the magnetic pull of the group is adequately strong, then comes the death of the personality life. Until, therefore, the group of disciples in all its parts expresses this outgoing sacrificial urge, it is not an Ashram.

1. Một thôi thúc hợp nhất hướng tới việc hình thành nhóm trên cõi trí. Đây là sự tương ứng cao hơn của bản năng bầy đàn trong thế giới động vật và thế giới loài người, nhưng mang bản chất tinh thần và có động cơ hoàn toàn khác. Bản năng bầy đàn thấp chủ yếu do bản năng tự bảo tồn thúc đẩy; bản năng cao hơn do sự nhận biết bản chất bất tử của linh hồn và bản năng phụng sự, ngay cả khi phải hi sinh bản thân mình, thúc đẩy. Định luật “chết để bước vào sự sống” chi phối. Khi sức hút từ tính của nhóm đủ mạnh, đời sống phàm ngã sẽ đi đến chỗ chết. Vì vậy, chừng nào nhóm đệ tử chưa biểu lộ thôi thúc hi sinh hướng ra bên ngoài này trong mọi thành phần của mình, thì nhóm ấy chưa phải là một ashram.

199. Although the majority of Ashrams are now upon the buddhic plane, such Ashrams have their mental layer; members of the same Ashram are, as we have understood, gathered together in thought.

199. Mặc dù hiện nay phần lớn các ashram đều ở trên cõi Bồ đề, những ashram ấy vẫn có tầng trí tuệ; như chúng ta đã thấu hiểu, các thành viên của cùng một ashram quy tụ với nhau trong tư tưởng.

200. It is interesting to see DK relating the “united urge” which helps to gather disciples upon the mental plane to the “herd instinct”. So, one of the “magnetic factors” which characterizes an Ashram is a kind of ‘mental magnetism’ which is of a spiritual nature and spiritually motivated.

200. Thật thú vị khi thấy Chân sư DK liên hệ “thôi thúc hợp nhất” giúp quy tụ các đệ tử trên cõi trí với “bản năng bầy đàn”. Vì vậy, một trong những “yếu tố từ tính” đặc trưng cho một ashram là một loại ‘từ điện trí tuệ’ mang bản chất tinh thần và có động cơ tinh thần.

201. The normal herd instinct serves the instinct of self-preservation. The higher (and spiritual) instinct to gather is based upon soul recognition and upon “the instinct to serve even with the sacrifice of oneself.”

201. Bản năng bầy đàn thông thường phục vụ bản năng tự bảo tồn. Bản năng quy tụ cao hơn (và mang tính tinh thần) đặt nền tảng trên sự nhận biết linh hồn và trên “bản năng phụng sự, ngay cả khi phải hi sinh bản thân mình.”

202. Members of an Ashram are gathered together for the sake of service and sacrifice—both of which are deeply imbedded ‘soul instincts’.

202. Các thành viên của một ashram quy tụ với nhau vì phụng sự và hi sinh—cả hai đều là những bản năng ăn sâu trong ‘linh hồn’.

203. DK states a law which prevails in relation to the Ashram—the law of “death unto life”. We can sense the Scorpionic/Piscean quality of this law. The planet Pluto is involved and with it, the idea of death and resurrection. Self-immolation is suggested and a rising from one’s ashes into new life.

203. Chân sư DK nêu một định luật chi phối ashram—định luật “chết để bước vào sự sống”. Chúng ta có thể cảm nhận phẩm tính Hổ Cáp/Song Ngư của định luật này. Hành tinh Sao Diêm Vương có liên quan, và cùng với nó là ý tưởng về cái chết và sự phục sinh. Điều này gợi lên sự tự thiêu và việc từ tro tàn của chính mình trỗi dậy bước vào cuộc sống mới.

204. We are learning that membership in an Ashram means the “death” of certain factors and tendencies in the human energy system. Such membership leads to the “death of the personality life” which occurs effectively at the fourth initiation.

204. Chúng ta đang học rằng việc trở thành thành viên của một ashram hàm nghĩa “cái chết” của một số yếu tố và khuynh hướng trong hệ thống năng lượng con người. Tư cách thành viên ấy dẫn đến “cái chết của đời sống phàm ngã”, điều thực sự diễn ra ở lần điểm đạo thứ tư.

205. If a group wonders whether it is really a part of an Ashram, it is given a standard which must be fulfilled. A group of disciples, “in all its parts” must express this “outgoing sacrificial urge” in order to qualify as an Ashram.

205. Nếu một nhóm tự hỏi liệu mình có thực sự là một phần của ashram hay không, thì có một tiêu chuẩn mà nhóm ấy phải đáp ứng. Một nhóm đệ tử, “trong mọi thành phần của mình”, phải biểu lộ “thôi thúc hi sinh hướng ra bên ngoài” này để hội đủ điều kiện là một ashram.

206. We note that the urge is “outgoing”, meaning that it reaches humanity in service. Sacrifice is motivated by the urge to serve and save and, eventually, by the Will-to-Serve and the Will-to-Save.

206. Chúng ta lưu ý rằng thôi thúc ấy “hướng ra bên ngoài”, nghĩa là vươn tới nhân loại trong sự phụng sự. Sự hi sinh do thôi thúc phụng sự và cứu rỗi thúc đẩy, và cuối cùng là do Ý Chí-Phụng sự và Ý Chí-Cứu Rỗi.

207. We can understand that the Great Ashram which is gathered by Sanat Kumara (and which comprises the entirety of the Spiritual Hierarchy) is greatly animated by the sacrificial urge, in reflection of Their great Exemplar—the “Great Sacrifice” Himself.

207. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng ashram vĩ đại do Sanat Kumara quy tụ (bao gồm toàn thể Thánh đoàn) được thôi thúc hi sinh tiếp sinh lực mạnh mẽ, phản ánh Tấm Gương vĩ đại của Các Ngài—chính “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại”.

2. The magnetic pull of the positive centre at the very heart of the group; that means the magnetic pull of the Master. As you well know, theoretically at least, at the centre of the Ashram stands ever the Master, or else an initiate or a world disciple. His task is to blend and fuse the energies, tendered and proffered by the group (under the urge to serve) and to indicate the field of service. The mode of this instinctual activity is called occult obedience and this is voluntarily rendered and unitedly followed. When any group—working in this way under a Master—is moved by one spiritual impulse and functions through one firm organisation (like electrons around the positive nucleus in an atom), the potency of the group will become immediately effective and not before.

2. Sức hút từ tính của trung tâm dương tính ngay tại tâm điểm của nhóm; điều đó có nghĩa là sức hút từ tính của Chân sư. Như các bạn biết rõ, ít nhất về mặt lý thuyết, ở trung tâm ashram luôn có Chân sư, hoặc một điểm đạo đồ hay một đệ tử thế giới. Nhiệm vụ của Ngài là hòa trộn và dung hợp các năng lượng mà nhóm hiến dâng và trao tặng (dưới thôi thúc phụng sự), đồng thời chỉ ra lĩnh vực phụng sự. Phương thức của hoạt động bản năng này được gọi là sự tuân phục huyền bí; sự tuân phục ấy được thực hiện một cách tự nguyện và mọi người đồng lòng noi theo. Khi bất kỳ nhóm nào—hoạt động theo cách này dưới sự dẫn dắt của một Chân sư—được thúc đẩy bởi một xung lực tinh thần duy nhất và vận hành thông qua một tổ chức vững chắc duy nhất (như các điện tử quanh hạt nhân dương tính trong một nguyên tử), thì sức mạnh của nhóm sẽ lập tức phát huy hiệu quả, và chỉ khi ấy mới có thể như vậy.

208. Here the Master is viewed as the “heart” of the Ashram rather than its “will” or “spirit”.

208. Ở đây, Chân sư được xem là “trái tim” của ashram hơn là “ý chí” hay “tinh thần” của ashram.

209. The disciples entering an Ashram are, therefore, following a type of magnetism which draws them together on the mental plane (as discussed in point one), but they are also drawn to the Master as a great magnetic center.

209. Vì vậy, các đệ tử gia nhập một ashram đang đi theo một loại từ điện thu hút họ quy tụ trên cõi trí (như đã bàn ở điểm thứ nhất), nhưng họ cũng được thu hút đến với Chân sư như một trung tâm từ tính lớn.

210. We learn something interesting about the magnetic centers of Ashrams. Usually, at the center of any Ashram is to be found a Master, but lesser Ashrams can also be found gathered around “an initiate or a world disciple”. In such cases, it would seem necessary that the initiate be an initiate of the fourth degree and that the world disciple be of that rank as well. It does not seem possible that an initiate of the third degree can stand at the center of a true Ashram.

210. Chúng ta học được một điều thú vị về các trung tâm từ tính của những ashram. Thông thường, ở trung tâm của bất kỳ ashram nào cũng có một Chân sư, nhưng cũng có những ashram nhỏ hơn quy tụ quanh “một điểm đạo đồ hay một đệ tử thế giới”. Trong những trường hợp ấy, dường như điểm đạo đồ cần phải là một điểm đạo đồ bậc bốn, và đệ tử thế giới cũng phải ở cấp bậc ấy. Dường như một điểm đạo đồ bậc ba không thể đứng ở trung tâm của một ashram đích thực.

211. The magnetic center of the Ashram blends and fuses the proffered energies of the ones who are gathered; He (the Master) also indicates the field of service. We understand these actions of the center point as occurring along both the first and second ray lines. Blending and fusing correlate with the second ray line and indicating the field of service is a directorial function along the first ray line.

211. Trung tâm từ tính của ashram hòa trộn và dung hợp những năng lượng được hiến dâng của những người quy tụ; Ngài (Chân sư) cũng chỉ ra lĩnh vực phụng sự. Chúng ta thấu hiểu rằng những hoạt động này của điểm trung tâm diễn ra theo cả đường hướng cung một lẫn cung hai. Hòa trộn và dung hợp tương ứng với đường hướng cung hai, còn chỉ ra lĩnh vực phụng sự là một chức năng chỉ đạo theo đường hướng cung một.

212. DK gives us another insight on the nature of “occult obedience”. Disciples tender and proffer their energies to the center of the Ashram under the “urge to serve”. When they do so, they begin to function with “occult obedience” which is “voluntarily rendered”; the directing will of the Master or center is “voluntarily… and unitedly followed”.

212. Chân sư DK cho chúng ta thêm một sự thấu suốt về bản chất của “sự tuân phục huyền bí”. Các đệ tử hiến dâng và trao tặng năng lượng của mình cho trung tâm ashram dưới “thôi thúc phụng sự”. Khi làm như vậy, họ bắt đầu hoạt động với “sự tuân phục huyền bí”, một sự tuân phục “được thực hiện một cách tự nguyện”; họ “tự nguyện… và đồng lòng tuân theo” ý chí chỉ đạo của Chân sư hay trung tâm.

213. We understand that “occult obedience” is never compulsory, but is willingly given, and is stimulated by the Ashram as a “magnetic point of tension”. Occult obedience is, first of all, given to the Divine Plan (as understood by the disciple), but since the Master of the Ashram and His Ashram faithfully represent the Divine Plan, occult obedience is also offered to the Master and to the prevailing rules and practices of the Ashram.

213. Chúng ta thấu hiểu rằng “sự tuân phục huyền bí” không bao giờ mang tính cưỡng ép, mà được trao đi một cách tự nguyện, và được ashram khơi dậy với tư cách là một “điểm tập trung nhất tâm có từ tính”. Trước hết, sự tuân phục huyền bí hướng tới Thiên Cơ (theo sự thấu hiểu của đệ tử), nhưng vì Chân sư của ashram và ashram của Ngài đại diện trung thành cho Thiên Cơ, nên sự tuân phục huyền bí cũng được dành cho Chân sư và cho các quy luật cùng những phương thức thực hành hiện hành của ashram.

I would at this point indicate to you that the so-called inner Ashram is to the outer group what the soul and its vision is to the individual disciple, working in his personality vehicles. It is the place of interior resort. Disciples can, therefore, grasp their growth towards fusion as an Ashram (in process of physical exteriorisation) by the development of their spiritual recognition of the inner group potency and their facility to contact the Master—both as individuals or in group formation.

Ở điểm này, Tôi muốn chỉ ra cho các bạn rằng mối quan hệ giữa cái gọi là ashram bên trong với nhóm bên ngoài cũng giống như mối quan hệ giữa linh hồn cùng tầm nhìn của linh hồn với từng đệ tử đang hoạt động trong các hiện thể phàm ngã của mình. Đó là nơi nương tựa nội tâm. Vì vậy, các đệ tử có thể nhận biết sự phát triển của mình hướng tới sự dung hợp thành một ashram (đang trong tiến trình hiển lộ ở cõi hồng trần) qua sự phát triển khả năng nhận biết tinh thần về sức mạnh của nhóm bên trong và khả năng tiếp xúc với Chân sư—dù với tư cách cá nhân hay trong đội hình nhóm.

214. An important analogy is given so that we can keep in mind certain parallels between microcosmic process and group process.

214. Một phép tương đồng quan trọng được đưa ra để chúng ta có thể ghi nhớ một số điểm song song giữa tiến trình tiểu thiên địa và tiến trình nhóm.

215. The “inner Ashram” is likened to the soul and its vision. The outer group is likened to the individual disciple.

215. “Ashram bên trong” được ví với linh hồn và tầm nhìn của linh hồn. Nhóm bên ngoài được ví với từng đệ tử.

216. Why is the “inner Ashram” named the “so-called inner Ashram”? We have already seen this inner grouping which is the particular group of the Master described in various ways. A Master works closely with both His inner group and the outer groups which are closely affiliated with the inner group. There is a distinction, however. Members of the inner Ashram experience “Ashramic intimacy” to a higher degree than will those who are members only of the outer groups.

216. Tại sao “ashram bên trong” lại được gọi là “cái gọi là ashram bên trong”? Chúng ta đã thấy tập hợp bên trong này, vốn là nhóm riêng của Chân sư, được mô tả theo nhiều cách khác nhau. Một Chân sư làm việc chặt chẽ với cả nhóm bên trong của Ngài lẫn các nhóm bên ngoài có liên hệ mật thiết với nhóm bên trong. Tuy nhiên, có một sự khác biệt. Các thành viên của ashram bên trong trải nghiệm “sự thân mật trong ashram” ở mức độ cao hơn những người chỉ là thành viên của các nhóm bên ngoài.

217. The inner Ashram is defined as “the place of interior resort”. Its protective function is thus emphasized. It is a ‘place’ of spiritual refuge and spiritual re-affirmation. It is a ‘place’ to which the ashramic members ‘retreat’ for purposes of ‘recharging’ and for inspiration and strengthening. The manner of seeking ‘interior resort’ is through meditative alignment.

217. Ashram bên trong được định nghĩa là “nơi nương tựa nội tâm”. Như vậy, chức năng bảo vệ của nó được nhấn mạnh. Đó là một ‘nơi’ nương náu về tinh thần và tái khẳng định tinh thần. Đó là một ‘nơi’ mà các thành viên ashram ‘lui về’ nhằm ‘nạp lại năng lượng’, đón nhận cảm hứng và củng cố sức mạnh. Cách tìm kiếm ‘nơi nương tựa nội tâm’ là thông qua sự chỉnh hợp trong tham thiền.

218. DK’s small external groups were to grow towards “fusion as an Ashram” during the process of physical exteriorization which He had instituted. If the membership of these groups found in themselves an increasing spiritual recognition of the “inner group potency” (i.e. the potency of the inner Ashram) and if their facility to contact the Master, both as individuals and in group formation, was growing, they would know that their process of “fusion as an Ashram” was proceeding correctly.

218. Các nhóm nhỏ bên ngoài của Chân sư DK sẽ phát triển hướng tới “sự dung hợp thành một ashram” trong tiến trình hiển lộ ở cõi hồng trần mà Ngài đã khởi xướng. Nếu các thành viên của những nhóm này nhận thấy trong mình khả năng nhận biết tinh thần ngày càng tăng về “sức mạnh của nhóm bên trong” (tức là sức mạnh của ashram bên trong), và nếu khả năng tiếp xúc với Chân sư của họ, cả với tư cách cá nhân lẫn trong đội hình nhóm, đang phát triển, thì họ sẽ biết rằng tiến trình “dung hợp thành một ashram” của mình đang diễn ra đúng hướng.

219. All this suggests that the outer groups must come into increasingly close rapport with the inner group (the inner Ashram) and with the Master at its heart.

219. Tất cả điều này gợi ý rằng các nhóm bên ngoài phải ngày càng thiết lập mối giao cảm chặt chẽ với nhóm bên trong (ashram bên trong) và với Chân sư ở tâm điểm của nhóm ấy.

One of the things which a Master has to do is to teach His disciples to study and register truthfully their usual point of [704] daily focus. This constitutes the true introspective training, and when followed sanely and wisely leads to the realisation of the true, persistent, inner level of consciousness; it fosters also a recognition of the need to overcome limitation (frequently not the limitations usually registered) and the necessity for breaking the barriers imposed by the personality. This whole process might be summed up in the following words: The purpose of the Ashram and the training which it gives is to enable the disciple to live truly on every plane which he has succeeded in opening up to his consciousness. It is important to remember that no one is integrated into an Ashram until he has pierced beyond the confines of the purely personal levels of awareness; until he is sensitive to the ray and quality of the Master of the Ashram, and until he is normally soul conscious. The achievement of this involves great responsibility, and it is the shouldering of this responsibility which brings about the first indications of what I might call “ashramic consciousness”—a consciousness devoid of self-interest and always preoccupied with the essentials of spiritual living.

Một trong những việc Chân sư phải làm là dạy các đệ tử của Ngài khảo sát và ghi nhận trung thực điểm tập trung [704] thường lệ hằng ngày của mình. Điều này tạo thành sự huấn luyện nội quan đích thực, và khi được thực hiện một cách lành mạnh, minh triết, sẽ dẫn đến sự nhận biết cấp độ tâm thức bên trong đích thực và bền vững; nó cũng nuôi dưỡng sự nhận biết nhu cầu vượt qua giới hạn (thường không phải những giới hạn vẫn thường được ghi nhận) và sự cần thiết phải phá vỡ những rào cản do phàm ngã dựng lên. Toàn bộ tiến trình này có thể được tóm lược bằng những lời sau: Mục đích của ashram và sự huấn luyện mà ashram cung cấp là giúp đệ tử sống thực sự trên mọi cõi mà y đã thành công trong việc khai mở cho tâm thức của mình. Cần nhớ rằng không ai được tích hợp vào một ashram cho đến khi đã xuyên vượt những giới hạn của các cấp độ nhận biết thuần túy cá nhân; cho đến khi nhạy cảm với cung và phẩm tính của Chân sư chủ trì ashram, và cho đến khi thường xuyên có tâm thức linh hồn. Đạt được điều này bao hàm trách nhiệm lớn lao, và chính việc gánh vác trách nhiệm ấy đem lại những dấu hiệu đầu tiên của điều Tôi có thể gọi là “tâm thức ashram”—một tâm thức không có tư lợi và luôn chú tâm đến những điều cốt yếu của đời sống tinh thần.

220. Perhaps few of us are so introspectively astute that we infallibly understand the nature and level of our “usual point of daily focus”. One must pause to assess this.

220. Có lẽ ít người trong chúng ta có sự nhạy bén nội quan đến mức có thể thấu hiểu không sai lầm bản chất và cấp độ của “điểm tập trung thường lệ hằng ngày” của mình. Mỗi người cần dừng lại để đánh giá điều này.

221. The introspective task of attempting to determine the level of this focus (if followed wisely and sanely—i.e. by avoiding all tendency towards morbid introspection) brings the inner levels of conscious into increasing realization. The obstacles which hold consciousness to a certain level will also be more readily perceived and the need to overcome such limiting obstacles will also intensify.

221. Công việc nội quan nhằm xác định cấp độ của điểm tập trung này (nếu được thực hiện một cách minh triết và lành mạnh—tức là tránh mọi khuynh hướng nội quan bệnh hoạn) giúp chúng ta ngày càng nhận biết rõ các cấp độ tâm thức bên trong. Những chướng ngại giữ tâm thức ở một cấp độ nhất định cũng sẽ dễ được nhận thấy hơn, và nhu cầu vượt qua những chướng ngại gây giới hạn ấy cũng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn.

222. DK hints that the limitations discovered in this introspective process will not necessarily be the ones which are usually registered by the disciple. This is a general truth. In the training offered by DK, He confronted His chelas with an awareness of certain of their limitations which were entirely unknown to them. They had thought their major limitations were other than the ones DK considered still more hampering.

222. Chân sư DK gợi ý rằng những giới hạn được khám phá trong tiến trình nội quan này không nhất thiết là những giới hạn mà đệ tử thường ghi nhận. Đây là một chân lý chung. Trong sự huấn luyện do Chân sư DK cung cấp, Ngài khiến các đệ tử của mình phải đối diện với việc nhận biết một số giới hạn mà trước đó họ hoàn toàn không hay biết. Họ từng nghĩ những giới hạn chính của mình khác với những giới hạn mà Chân sư DK xem là còn gây trở ngại nhiều hơn.

223. The Master offers a most practical description of ashramic purpose and process: through the measures taken during ashramic training, a disciple is taught to “live truly on every plane” which may be in process of opening to his awareness. We all know that we have various kinds of awareness of various planes, but we are far from “living truly” on those planes. Ashramic training makes this possible. Eventually we will become master of and on all those planes and will manifest as a Master of the Wisdom.

223. Chân sư đưa ra một mô tả hết sức thực tiễn về mục đích và tiến trình của ashram: thông qua những biện pháp áp dụng trong quá trình huấn luyện tại ashram, đệ tử được dạy cách “sống thực sự trên mọi cõi” có thể đang dần khai mở cho sự nhận biết của y. Tất cả chúng ta đều biết mình có nhiều hình thức nhận biết khác nhau về các cõi khác nhau, nhưng chúng ta còn lâu mới “sống thực sự” trên những cõi ấy. Sự huấn luyện tại ashram khiến điều này trở nên khả thi. Cuối cùng, chúng ta sẽ làm chủ tất cả những cõi ấy và hoạt động thành thạo trên đó, rồi biểu hiện như một Chân sư Minh Triết.

224. The members of an Ashram naturally function in relation to more planes than will the average individual. DK reminds us that no one is admitted into an Ashram until he has pierced beyond the normal, personal ring-pass-nots, and is sensitive to the ray and quality of the Master and His Ashram. Ashramic membership is reserved for those who are at least beginning to live as souls. For such individuals, their “normal” consciousness is “soul consciousness”.

224. Dĩ nhiên, các thành viên của một ashram hoạt động trong mối liên hệ với nhiều cõi hơn một cá nhân bình thường. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng không ai được thu nhận vào một ashram cho đến khi đã xuyên vượt những vòng-giới-hạn thông thường mang tính cá nhân, và nhạy cảm với cung cùng phẩm tính của Chân sư và ashram của Ngài. Tư cách thành viên ashram dành cho những người ít nhất đã bắt đầu sống như những linh hồn. Đối với những cá nhân như vậy, tâm thức “bình thường” của họ là “tâm thức linh hồn”.

225. When “soul consciousness” is beginning to be one’s “normal” state of consciousness, there dawns a tremendous sense of responsibility. If this responsibility is properly “shouldered” it will be an indication that the responsible and responding disciple is moving towards “ashramic consciousness”. We begin to realize how ‘joyfully burdensome’ it is to be a member of an Ashram!

225. Khi “tâm thức linh hồn” bắt đầu trở thành trạng thái tâm thức “bình thường” của một người, một ý thức trách nhiệm hết sức lớn lao bắt đầu xuất hiện. Nếu trách nhiệm này được “gánh vác” đúng cách, điều đó sẽ cho thấy người đệ tử có trách nhiệm và biết đáp ứng đang tiến tới “tâm thức ashram”. Chúng ta bắt đầu nhận ra việc trở thành thành viên của một ashram thật ‘nặng gánh mà hoan hỉ’ biết bao!

226. True “ashramic consciousness”, as here defined, is “devoid of self-interest and always preoccupied with the essentials of spiritual living”. Ashramic membership is for those who have ‘shed the self’—at least the lower self. The defeat of the normal ego is an inevitable result of ashramic affiliation in its early stages. That little ego is considered a blockage to the enterprises which engage the members of the Ashram. It must go, and along with it all traces of self interest.

226. “Tâm thức ashram” đích thực, như được định nghĩa ở đây, là “không có tư lợi và luôn chú tâm đến những điều cốt yếu của đời sống tinh thần”. Tư cách thành viên ashram dành cho những người đã ‘rũ bỏ cái tôi’—ít nhất là phàm ngã. Sự thất bại của cái tôi thông thường là kết quả tất yếu của mối liên hệ với ashram trong những giai đoạn đầu. Cái tôi nhỏ bé ấy được xem là một chướng ngại đối với những công việc mà các thành viên ashram đang đảm nhiệm. Nó phải biến mất, và cùng với nó là mọi dấu vết của tư lợi.

227. Let every disciple take into consideration what he thinks to be “the essentials of spiritual living”, and test to see whether his consciousness is preoccupied with those essentials!

227. Mỗi đệ tử hãy xem xét điều mình cho là “những điều cốt yếu của đời sống tinh thần”, và kiểm nghiệm xem tâm thức mình có luôn chú tâm đến những điều cốt yếu ấy hay không!

The primary preoccupation of chelas at the beginning of their technical training is of a very varied nature and the Ashram life is usually merely an interesting background for daily experience and not the factor of importance which it should be, and not the main interest in the foreground of the consciousness. The necessities of daily living, the many and diverse family contacts, the resentments against life and its impacts, a dislike of criticism and of being misunderstood, the many problems of character, the pressures of psychic unfoldment and the pettinesses of circumstance frequently loom so large that awareness of the Ashram and its life is only an occasional inspiration instead of a fixed habit of life. The ability to make comparisons to the detriment of others (particularly of one’s own fellow disciples or of one’s own circumstances), the fear to let go and throw all one is and has into the life of the Ashram, foreboding as to the future and a host of mental thoughtforms, plus undue attention to the cyclic life of the physical body, present the Master with an appalling picture of the liabilities with which He is confronted. The factor of the attitude of the Master is one which disciples are very [705] apt to forget because they are so basically interested in themselves and in their reactions and problems.

Mối quan tâm chủ yếu của các đệ tử khi bắt đầu sự huấn luyện chuyên môn rất đa dạng, và đời sống ashram thường chỉ là một bối cảnh thú vị cho trải nghiệm hằng ngày, chưa phải là yếu tố quan trọng đúng như nó cần phải là, cũng chưa phải là mối quan tâm chính ở vị trí hàng đầu trong tâm thức. Những nhu cầu của đời sống hằng ngày, nhiều mối tiếp xúc gia đình đa dạng, sự oán giận đối với cuộc sống và những tác động của nó, sự không thích bị phê bình và hiểu lầm, nhiều vấn đề về tính cách, áp lực của sự khai mở thông linh và những chuyện vụn vặt của hoàn cảnh thường trở nên lớn đến mức sự nhận biết về ashram và đời sống của nó chỉ là một nguồn cảm hứng thỉnh thoảng xuất hiện, thay vì một thói quen sống bền vững. Khả năng đưa ra những so sánh bất lợi cho người khác (đặc biệt cho các đệ tử đồng môn hoặc cho hoàn cảnh của chính mình), nỗi sợ buông bỏ và dốc toàn bộ con người cùng mọi thứ mình có vào đời sống ashram, những dự cảm bất an về tương lai và vô số hình tư tưởng trí tuệ, cộng với sự chú ý quá mức đến đời sống theo chu kỳ của thể xác, bày ra trước Chân sư một bức tranh đáng kinh hoàng về những trở lực mà Ngài phải đối diện. Thái độ của Chân sư là một yếu tố mà các đệ tử rất [705] dễ quên, vì về cơ bản họ quá quan tâm đến bản thân cùng những phản ứng và vấn đề của mình.

228. DK discusses the usual preoccupations of chelas as they begin their technical training with an Ashram. The Ashram is seen as an “interesting background” for their usual daily experience, rather than occupying a place in the forefront of their consciousness. It might be said that their sense of values is not yet properly adjusted.

228. Chân sư DK bàn về những mối quan tâm thường lệ của các đệ tử khi họ bắt đầu sự huấn luyện chuyên môn trong một ashram. Họ xem ashram như một “bối cảnh thú vị” cho trải nghiệm thường nhật, thay vì dành cho nó một vị trí hàng đầu trong tâm thức. Có thể nói rằng ý thức về các giá trị của họ chưa được điều chỉnh đúng mức.

229. DK offers us a catalogue of the usual preoccupations (and troubles) which prevent ordinary disciples from placing the Ashram first. For them, awareness of the Ashram serves only as “an occasional inspiration instead of a fixed habit of life”.

229. Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một danh mục những mối quan tâm thường lệ (và những phiền toái) ngăn cản các đệ tử thông thường đặt ashram lên hàng đầu. Đối với họ, sự nhận biết về ashram chỉ đóng vai trò như “một nguồn cảm hứng thỉnh thoảng xuất hiện, thay vì một thói quen sống bền vững”.

230. Obviously, it takes considerable esoteric skill to live with a constant awareness of the Ashram and still tend efficiently to all that must be done. This is a great test for the disciple; can he infuse his daily affairs with ashramic quality? It will be found, I think, that if one lives with consistent ashramic awareness, that which must be done in the course of life in the three worlds will be better done. This remains for each disciple to prove.

230. Rõ ràng, cần có kỹ năng nội môn đáng kể để sống với sự nhận biết liên tục về ashram mà vẫn giải quyết hiệu quả mọi việc cần làm. Đây là một thử thách lớn đối với đệ tử; liệu y có thể thấm nhuần phẩm tính ashram vào những công việc hằng ngày của mình không? Tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy rằng nếu một người sống với sự nhận biết nhất quán về ashram, thì những việc cần làm trong đời sống ở ba cõi giới sẽ được thực hiện tốt hơn. Điều này vẫn cần mỗi đệ tử tự chứng minh.

231. We are presented with an “appalling picture of… liabilities” which confronts the Master as He surveys the psychological state of aspirants and disciples. Each of us will find ourselves involved with one or more of the various detrimental factors. These, of course, must be released and overcome if we are to enter into greater intimacy with ashramic process and with the Master.

231. Chúng ta được thấy một “bức tranh đáng kinh hoàng về… những trở lực” mà Chân sư phải đối diện khi Ngài khảo sát trạng thái tâm lý của những người chí nguyện và các đệ tử. Mỗi người trong chúng ta sẽ thấy mình vướng vào một hay nhiều yếu tố bất lợi khác nhau ấy. Dĩ nhiên, chúng ta phải buông bỏ và vượt qua chúng nếu muốn bước vào mối quan hệ mật thiết hơn với tiến trình ashram và với Chân sư.

232. One must wonder at the extraordinary patience of the Master as He persists with His program of spiritual training in the face of all these obstacles. What will it take for us to put that point of tension which the Ashram represents in first place, and all the points of extension (represented by our preoccupations) second?

232. Chúng ta không khỏi kinh ngạc trước lòng kiên nhẫn phi thường của Chân sư khi Ngài kiên trì với chương trình huấn luyện tinh thần của mình giữa tất cả những chướng ngại này. Cần có điều gì để chúng ta đặt điểm tập trung nhất tâm mà ashram đại diện lên hàng đầu, và đặt mọi điểm mở rộng (do những mối bận tâm của chúng ta đại diện) xuống hàng thứ hai?

233. In an effort to decentralize us, Master DK presents us with the Master’s problem. The Master certainly does not need our commiseration, but He certainly needs our understanding. Perhaps if we see our lives from His point of view, we will sooner disengage from those preoccupations which often render His attempts on our behalf futile.

233. Trong nỗ lực giúp chúng ta phi tập trung vào bản thân, Chân sư DK trình bày với chúng ta vấn đề mà Chân sưphải đối diện. Chắc chắn Chân sư không cần chúng ta thương cảm, nhưng Ngài chắc chắn cần sự thấu hiểu của chúng ta. Có lẽ nếu nhìn cuộc sống của mình từ quan điểm của Ngài, chúng ta sẽ sớm thoát khỏi những mối bận tâm thường khiến những nỗ lực Ngài dành cho chúng ta trở nên vô ích.

It might here be noted that disciples in an Ashram are primarily occupied with world affairs. As a group they are pledged to world work; as individuals, they are learning so to work. Would-be disciples need to distinguish between the effect (magnetic and dynamic) of the group and the conscious effort which the group may make, under united desire and the direction of the Master, to reach the minds of those directing world affairs and world happenings. The outer happenings are, to a certain point, predictable; they are the precipitated effects of hidden causes which lie deep in the subconsciousness of humanity. These can be noted and (up to a certain point) offset or stimulated by the group potency. This is one of the major tasks of the Hierarchy. The Masters work in the light and in the realm of causes. Disciples are as yet necessarily involved in the world of effects and, therefore, of illusion.

Ở đây có thể lưu ý rằng các đệ tử trong một ashram chủ yếu quan tâm đến các vấn đề thế giới. Với tư cách một nhóm, họ cam kết thực hiện công việc thế giới; với tư cách cá nhân, họ đang học cách làm việc như vậy. Những người mong trở thành đệ tử cần phân biệt giữa tác động (từ tính và năng động) của nhóm với nỗ lực có ý thức mà nhóm có thể thực hiện, dưới sự thúc đẩy của dục vọng hợp nhất và sự chỉ đạo của Chân sư, nhằm tiếp cận thể trí của những người đang điều hành các vấn đề và biến cố thế giới. Đến một mức độ nhất định, có thể dự đoán các biến cố bên ngoài; chúng là những hệ quả đã ngưng tụ từ các nguyên nhân ẩn kín nằm sâu trong tiềm thức của nhân loại. Nhóm có thể nhận biết những hệ quả này và (đến một mức độ nhất định) dùng sức mạnh của mình để hóa giải hoặc kích thích chúng. Đây là một trong những nhiệm vụ chính của Thánh đoàn. Các Chân sư làm việc trong ánh sáng và trong lĩnh vực nguyên nhân. Các đệ tử hiện vẫn tất yếu vướng mắc trong thế giới hệ quả và do đó, trong ảo tưởng.

234. Members of an Ashram have a ‘planetarized’ consciousness. They have transcended concern with strictly personal issues and are “occupied with world affairs”. They, thus, think in larger terms than will the average disciple.

234. Các thành viên của một ashram có tâm thức đã được ‘hành tinh hóa’. Họ đã vượt qua mối quan tâm đến những vấn đề thuần túy cá nhân và đang “quan tâm đến các vấn đề thế giới”. Do đó, họ suy nghĩ trong một phạm vi rộng lớn hơn người đệ tử thông thường.

235. The ashramic group is, as a whole, ahead of some of its individual members. There is a group-pledge to aid in “world work”. The various members are responding to this pledge and learning to work in this way.

235. Xét như một toàn thể, nhóm ashram đi trước một số thành viên riêng lẻ của mình. Nhóm có một lời cam kết chung nhằm hỗ trợ “công việc thế giới”. Các thành viên đang đáp ứng lời cam kết này và học cách làm việc theo hướng ấy.

236. DK is trying to give us an understanding of the scope of ashramic work. The Hierarchy is concerned with the salvage of humanity as a whole, and members of an Ashram are pledged to the same project.

236. Chân sư DK đang cố gắng giúp chúng ta thấu hiểu phạm vi công việc của ashram. Thánh đoàn quan tâm đến việc cứu vớt nhân loại như một toàn thể, và các thành viên của một ashram cũng cam kết thực hiện cùng công trình ấy.

237. DK asks us to make an important distinction between group effect and group effort.

237. Chân sư DK yêu cầu chúng ta phân biệt một điều quan trọng giữa tác động của nhóm và nỗ lực của nhóm.

238. The causes of “outer happenings” in the world are described in an interesting way. There is a certain predictability to the trend of such happenings (arising as they do from causes lying deep within the subconscious nature of humanity). One of the important tasks of the Hierarchy and its Ashrams is to be aware of these tendencies toward the precipitation of the subconscious life and to offset them or stimulate them as needed.

238. Nguyên nhân của những “biến cố bên ngoài” trên thế giới được mô tả theo một cách thú vị. Xu hướng của những biến cố như vậy có thể dự đoán được ở một mức độ nhất định (vì chúng phát sinh từ những nguyên nhân nằm sâu trong bản chất tiềm thức của nhân loại). Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Thánh đoàn và các ashram của Thánh đoàn là nhận biết những khuynh hướng ngưng tụ này của đời sống tiềm thức và hóa giải hoặc kích thích chúng tùy theo nhu cầu.

239. In this respect, Hierarchy serves as a great balancing factor. The life and fate of humanity would have been far worse than can be imagined without the intelligence and compassionate balancing of forces initiated and supervised by Hierarchy.

239. Về phương diện này, Thánh đoàn đóng vai trò một nhân tố cân bằng vĩ đại. Nếu không có trí tuệ và sự cân bằng các mãnh lực đầy lòng từ bi do Thánh đoàn khởi xướng và giám sát, cuộc sống và vận mệnh của nhân loại hẳn đã tồi tệ hơn nhiều so với những gì có thể hình dung.

240. The sense of all this is that ashramic work is world work. Humanity is a great mass of seething, conflicted energies, and within this ‘energic strife’ Hierarchy must work. The Masters, as full members of Hierarchy, work in the light and, thus, with causes. Disciples cannot yet work this way and are still bound to the world of effects and under illusion. When they enter an Ashram, however, they are precipitated into a field of vast responsibility (and difficulty), and within this field (and though hampered by ignorance and illusion) they must somehow learn to work with increasingly effectiveness.

240. Tất cả những điều này hàm ý rằng công việc của ashram là công việc thế giới. Nhân loại là một khối năng lượng khổng lồ đang sục sôi và xung đột, và chính trong ‘cuộc xung đột năng lượng’ này, Thánh đoàn phải làm việc. Các Chân sư, với tư cách những thành viên đầy đủ của Thánh đoàn, làm việc trong ánh sáng và do đó, làm việc với các nguyên nhân. Các đệ tử chưa thể làm việc theo cách này và vẫn còn bị ràng buộc với thế giới hệ quả, chịu sự chi phối của ảo tưởng. Tuy nhiên, khi gia nhập một ashram, họ lập tức bước vào một lĩnh vực trách nhiệm bao la (và đầy khó khăn); trong lĩnh vực ấy (dù bị vô minh và ảo tưởng cản trở), bằng cách nào đó họ phải học cách làm việc ngày càng hiệu quả hơn.

To work dominantly with the focal points of spiritual energy upon the outer plane immediately involves certain factors:

Làm việc chủ yếu với các tiêu điểm năng lượng tinh thần trên cõi bên ngoài lập tức đòi hỏi một số yếu tố:

1. A deep unerring love which “sees” in the light. Love is truly the revealer.

1. Một tình thương sâu sắc, không sai lệch, có khả năng “thấy” trong ánh sáng. Tình thương thực sự là tác nhân mặc khải.

241. We remember that Ashrams are “focal points of spiritual energy” within humanity.

241. Chúng ta nhớ rằng các ashram là những “tiêu điểm năng lượng tinh thần” trong nhân loại.

242. The Hierarchy is the Hierarchy of Love. Only those who truly love are admitted into its ranks.

242. Thánh đoàn là Thánh đoàn của Tình thương. Chỉ những ai thực sự yêu thương mới được thu nhận vào hàng ngũ của Thánh đoàn.

243. We understand, from what is here said, that love brings accurate perception. If one loves, one will see.

243. Từ những điều nói ở đây, chúng ta thấu hiểu rằng tình thương mang lại sự nhận thức chính xác. Ai yêu thương thì sẽ thấy.

244. The sight motivated by love is lighted sight. Love sees the light in others and in the world. Love penetrates through and beyond the usual obscurations. Love sees behind barriers to the soul in all things.

244. Cái nhìn do tình thương thúc đẩy là cái nhìn được soi sáng. Tình thương thấy ánh sáng nơi người khác và trong thế giới. Tình thương xuyên qua và vượt lên trên những che khuất thông thường. Tình thương nhìn xuyên qua những rào cản để thấy linh hồn trong vạn vật.

245. Ashramic workers love deeply and see the light and, thus, the light content of all that is perceived is revealed.

245. Những người hoạt động trong ashram yêu thương sâu sắc và thấy ánh sáng; do đó, phần ánh sáng hàm chứa trong tất cả những gì họ nhận thức đều hiển lộ.

2. The power to withdraw completely, as individuals and as a group, from the world of physical reactions, emotional biases, and to work purely on mental levels. There the disciple is focussed in his lower mind, but consciously oriented towards the soul and is becoming increasingly sensitive to the intuition and towards the vision and the Plan, as well as towards the group soul and to the Master—all in this order of response.

2. Khả năng rút lui hoàn toàn, với tư cách cá nhân cũng như với tư cách một nhóm, khỏi thế giới của những phản ứng hồng trần và thiên kiến cảm xúc, để làm việc thuần túy trên các cấp độ trí tuệ. Ở đó, người đệ tử tập trung trong hạ trí, nhưng có ý thức hướng về linh hồn và ngày càng nhạy cảm với trực giác, với tầm nhìn và Thiên Cơ, cũng như với hồn nhóm và Chân sư—tất cả theo đúng trình tự đáp ứng này.

246. Ashramic workers have mastered a certain power of detachment which allows them to withdraw from the physical and emotional worlds. The world of mind is closer to the light of the soul, and they focus their consciousness in the illumined mind.

246. Những người hoạt động trong ashram đã làm chủ một năng lực tách rời nhất định, cho phép họ rút khỏi các thế giới hồng trần và cảm xúc. Thế giới trí tuệ gần với ánh sáng của linh hồn hơn, và họ tập trung tâm thức trong thể trí được soi sáng.

247. Most disciples are not yet possessed of uninterrupted causal consciousness. Their task is to focus in the lower mind, remaining aware of the soul, and open to the intuition with reveals “the vision and the Plan”. Disciples are also to be increasingly sensitive to the “group soul and to the Master”.

247. Phần lớn các đệ tử chưa có tâm thức nguyên nhân liên tục. Nhiệm vụ của họ là tập trung trong hạ trí, duy trì sự nhận biết linh hồn và rộng mở với trực giác vốn mặc khải “tầm nhìn và Thiên Cơ”. Các đệ tử cũng cần ngày càng nhạy cảm với “hồn nhóm và Chân sư”.

248. Master DK has given us an order of procedure. It begins with the ability to abstract from physical/emotional turmoil and to focus as a soul-illumined mind. This focussing will open to the world of intuition which will reveal the worlds in which the Hierarchy normally lives and moves and has its being.

248. Chân sư DK đã chỉ cho chúng ta một trình tự tiến hành. Trình tự ấy bắt đầu với khả năng rút khỏi những xáo động hồng trần/cảm xúc và tập trung như một thể trí được linh hồn soi sáng. Sự tập trung này sẽ mở ra thế giới trực giác, vốn sẽ mặc khải những thế giới mà Thánh đoàn thường sống, hoạt động và hiện tồn.

3. Next follows the power, as a group, to formulate the desired thought-effect in such a manner that it will reach the mind or the soul of those you seek to contact, to project the thoughtform, built in such a way that it will be of the type and quality needed to evoke response, and so meet the need of those the disciple is seeking to help and strengthen. The projected thoughtform will embody the light and love, as well as the idea of the group in conformity with group vision.

3. Tiếp theo là khả năng, với tư cách một nhóm, định hình tác động tư tưởng mong muốn sao cho tác động ấy đến được thể trí hoặc linh hồn của những người mà các bạn tìm cách tiếp xúc; phóng chiếu hình tư tưởng được xây dựng sao cho có loại hình và phẩm tính cần thiết để gợi lên sự đáp ứng, qua đó đáp ứng nhu cầu của những người mà đệ tử đang tìm cách giúp đỡ và củng cố sức mạnh. Hình tư tưởng được phóng chiếu sẽ thể hiện ánh sáng và tình thương, cũng như ý tưởng của nhóm phù hợp với tầm nhìn của nhóm.

249. DK continues describing how members of an Ashram work.

249. Chân sư DK tiếp tục mô tả cách các thành viên của một ashram làm việc.

250. The next task is to build and project the desired thoughtforms so that they may be effective in the service of the Plan. This is a technical matter and requires that an ashramic member be, to some degree, a white magician. A Master is a white magician.

250. Nhiệm vụ tiếp theo là xây dựng và phóng chiếu những hình tư tưởng mong muốn để chúng có thể phụng sự Thiên Cơ một cách hiệu quả. Đây là một vấn đề kỹ thuật và đòi hỏi thành viên ashram phải là một nhà huyền thuật chánh đạo ở mức độ nào đó. Một Chân sư là một nhà huyền thuật chánh đạo.

“9. Before a thought-form is by thee constructed, vision its purpose, ascertain its goal, and verify the motive. ” (TWM 473)

“9. Trước khi xây dựng một hình tư tưởng, ngươi hãy hình dung mục đích của nó, xác định mục tiêu của nó và kiểm chứng động cơ. ” (TWM 473)

251. Before undertaking the process of building in thought and projecting the thought, one must know why one is doing so. What is the need to be met? If the need is understood, the thoughtform will be built properly and the energies qualifying it will be suitable for meeting the need. A useful thought must be presented in the right ‘clothing’.

251. Trước khi tiến hành quá trình xây dựng trong tư tưởng và phóng chiếu tư tưởng, cần biết vì sao mình làm như vậy. Đâu là nhu cầu cần đáp ứng? Nếu thấu hiểu nhu cầu, hình tư tưởng sẽ được xây dựng đúng cách, và những năng lượng quy định phẩm tính của nó sẽ thích hợp để đáp ứng nhu cầu ấy. Một tư tưởng hữu ích phải được trình bày trong ‘lớp áo’ thích hợp.

252. We note that the projected thoughtform “will embody the light and love, as well as the idea of the group in conformity with group vision”. The disciple is not building strictly individual thoughtforms. They are to carry the group note and to be representative of the Ashram of which the disciple is a member.

252. Chúng ta lưu ý rằng hình tư tưởng được phóng chiếu “sẽ thể hiện ánh sáng và tình thương, cũng như ý tưởng của nhóm phù hợp với tầm nhìn của nhóm”. Người đệ tử không xây dựng những hình tư tưởng thuần túy cá nhân. Chúng phải mang âm điệu của nhóm và đại diện cho ashram mà người đệ tử là thành viên.

253. Let us summarize the ways in which to work with those focal points of spiritual energy which are Ashrams:

253. Chúng ta hãy tóm lược những cách làm việc với các tiêu điểm năng lượng tinh thần, tức các ashram:

a. work with love and in the light

a. làm việc bằng tình thương và trong ánh sáng

b. work from mental levels, in contact with the soul and increasingly, intuitively sensitive to the group soul and the Master

b. làm việc từ các cấp độ trí tuệ, trong sự tiếp xúc với linh hồn và ngày càng nhạy cảm bằng trực giác với hồn nhóm và Chân sư

c. build and project thoughtforms which serve humanity by meeting its need, and which embody the quality of the Ashram

c. xây dựng và phóng chiếu những hình tư tưởng phụng sự nhân loại bằng cách đáp ứng nhu cầu của nhân loại, đồng thời thể hiện phẩm tính của ashram

[706]

[706]

For how many is this kind of work possible? Not many, as yet. Disciples are usually more preoccupied with their desire to help than with the scientific techniques of helping. They need to take the desire for granted and then forget about it. I would ask all disciples at this time to make it their major effort to see the vision clear; to recognise, and know for what they are, those who are in high position, guiding humanity and whose responsibility it is to lead humanity out of slavery into freedom. Aid them with love because they are where they are through their individual destiny and the guidance of their souls. Life must be seen truly and faced as it is—not realistically from the world standpoint but realistically from the standpoint of the soul, whose vision is long and inclusive and who sees life as it is.

Có bao nhiêu người có thể làm công việc này? Hiện nay chưa có nhiều. Các đệ tử thường bận tâm đến mong muốn giúp đỡ của mình hơn là những kỹ thuật giúp đỡ có tính khoa học. Họ cần xem mong muốn ấy là điều đương nhiên rồi quên nó đi. Vào lúc này, Tôi muốn yêu cầu tất cả các đệ tử tập trung nỗ lực chủ yếu vào việc thấy rõ tầm nhìn; nhận ra và biết đúng thực chất những người đang ở vị trí cao, hướng dẫn nhân loại và có trách nhiệm dẫn dắt nhân loại thoát khỏi cảnh nô lệ để đến với tự do. Hãy giúp đỡ họ bằng tình thương, vì họ ở những vị trí ấy nhờ vận mệnh cá nhân và sự hướng dẫn của linh hồn họ. Cần nhìn đúng cuộc sống và đối diện với cuộc sống như nó vốn có—không phải một cách thực tế theo quan điểm thế gian, mà một cách thực tế theo quan điểm của linh hồn, vốn có tầm nhìn xa, bao gồm và thấy cuộc sống như nó vốn có.

254. Master DK pauses to assess. Not many at this time can work in the ways proposed. Disciples are not yet very effective. They desire to help more than they actually help. They have much to master concerning the “scientific techniques of helping”.

254. Chân sư DK dừng lại để đánh giá. Hiện nay chưa có nhiều người có thể làm việc theo những cách đã đề xuất. Các đệ tử vẫn chưa thật sự hiệu quả. Họ mong muốn giúp đỡ nhiều hơn mức họ thực sự giúp đỡ. Họ còn phải nắm vững nhiều điều về “những kỹ thuật giúp đỡ có tính khoa học”.

255. There is a certain “glamor of aspiration” which negates right action. The one involved in this glamor is satisfied with aspiration which he (gladly and lazily) substitutes for effective action in service. DK asks us to move on.

255. Có một dạng “ảo cảm về khát vọng” làm vô hiệu hành động đúng đắn. Người vướng vào ảo cảm này hài lòng với khát vọng, mà y (một cách vui vẻ và lười biếng) dùng để thay thế hành động phụng sự hiệu quả. Chân sư DK yêu cầu chúng ta tiến bước.

256. DK asks for increasingly clarity of vision. He asks also that disciples recognize the true world leaders (this was written during the Second World War) and to “aid them with love”.

256. Chân sư DK yêu cầu tầm nhìn ngày càng sáng rõ hơn. Ngài cũng yêu cầu các đệ tử nhận ra những nhà lãnh đạo thế giới đích thực (điều này được viết trong Thế chiến thứ hai) và “giúp đỡ họ bằng tình thương”.

257. We see the Master calling for ‘spiritual realism’, not the cynical realism of the worldly minded.

257. Chúng ta thấy Chân sư đang kêu gọi ‘tinh thần thực tế về mặt tinh thần’, chứ không phải tinh thần thực tế đầy hoài nghi của những người có tư tưởng thế tục.

258. The soul “sees life as it is”. The soul-conscious disciple will begin to see as the soul sees—with a long-range vision and inclusively.

258. Linh hồn “thấy cuộc sống như nó vốn có”. Người đệ tử có tâm thức linh hồn sẽ bắt đầu thấy như linh hồn thấy—với tầm nhìn xa và theo cách bao gồm.

259. If disciples do not see clearly, they cannot act effectively, and so the Master calls for this clarification of vision. One can sense that He wishes disciples to be far more effective than they presently are. This call, written more than sixty years ago, still applies to our situation as disciples in an unstable world.

259. Nếu các đệ tử không thấy rõ, họ không thể hành động hiệu quả; vì vậy, Chân sư kêu gọi làm sáng rõ tầm nhìn. Có thể cảm nhận rằng Ngài mong các đệ tử làm việc hiệu quả hơn nhiều so với hiện tại. Lời kêu gọi này, được viết cách đây hơn sáu mươi năm, vẫn áp dụng cho hoàn cảnh của chúng ta với tư cách các đệ tử trong một thế giới bất ổn.

The acceptance of facts is one of the first duties of a disciple. In the task of aiding humanity, as a part of the Master’s group or Ashram, the fact that there are men and women placed in positions of power to carry out the divine plan is one of the first to be faced. This must be done uncritically, avoiding constant recognition of their limitations, with an understanding of their problem, with realisation of the call of their souls to yours and the pouring upon them of a constant stream of “loving understanding. ” They are more advanced disciples than you are—little as this may be realised. They are—consciously or unconsciously—under the “impression” of the Masters; there is little that the average disciple can do for them in moulding their thought or in shaping their decisions. I refer of course to the leaders of the Forces of Light upon the outer physical plane. But disciples and aspirants can surround them with a guarding wall of light and love; they can refrain from handicapping them with thoughts of criticism which can swell the tide of criticism which the worldly minded pour out upon them. As to attempting to reach and influence the leaders of the forces of materialism, I would ask you to refrain. It can more easily be done because the personality of the disciple will provide an open door of approach. But they are far stronger than the average disciple and the task would, therefore, be one of extreme danger.

Chấp nhận các sự thật là một trong những bổn phận đầu tiên của người đệ tử. Trong nhiệm vụ trợ giúp nhân loại với tư cách một phần của nhóm hay ashram của Chân sư, một trong những sự thật đầu tiên cần đối diện là có những người nam và nữ được đặt vào các vị trí quyền lực để thực hiện Thiên Cơ. Cần nhìn nhận điều này mà không chỉ trích, tránh liên tục chú ý đến những giới hạn của họ, đồng thời thấu hiểu vấn đề của họ, nhận biết lời kêu gọi từ linh hồn họ đến linh hồn các bạn và tuôn đổ lên họ một dòng “thấu hiểu đầy tình thương” liên tục. Họ là những đệ tử tiến xa hơn các bạn—dù ít ai nhận ra điều này. Một cách có ý thức hoặc vô thức, họ đang chịu “ấn tượng” từ các Chân sư; người đệ tử thông thường chẳng thể làm được bao nhiêu để giúp họ định hình tư tưởng hay quyết định. Dĩ nhiên, Tôi đang nói đến những người lãnh đạo các Mãnh Lực Ánh Sáng trên cõi hồng trần bên ngoài. Nhưng các đệ tử và người chí nguyện có thể bao quanh họ bằng một bức tường bảo vệ bằng ánh sáng và tình thương; họ có thể tránh gây trở ngại cho những nhà lãnh đạo ấy bằng các tư tưởng chỉ trích, vốn có thể làm dâng cao làn sóng chỉ trích mà những người có tư tưởng thế tục trút lên họ. Còn đối với việc tìm cách tiếp cận và gây ảnh hưởng đến những người lãnh đạo các mãnh lực duy vật, Tôi yêu cầu các bạn đừng làm vậy. Việc ấy có thể dễ thực hiện hơn vì phàm ngã của người đệ tử sẽ mở ra một cánh cửa tiếp cận. Nhưng họ mạnh hơn người đệ tử thông thường rất nhiều, nên nhiệm vụ ấy sẽ cực kỳ nguy hiểm.

260. DK is now speaking in first ray terms. The first ray “asserts the fact”, and under the first ray, disciples accept facts as they are. The Master calls such acceptance a “duty”.

260. Giờ đây, Chân sư DK đang nói theo cách của cung một. Cung một “khẳng định sự thật”, và dưới ảnh hưởng của cung một, các đệ tử chấp nhận những sự thật như chúng vốn có. Chân sư gọi sự chấp nhận ấy là một “bổn phận”.

261. The Tibetan is seeking to mobilize His disciples on behalf of the outer leaders of the Forces of Light.

261. Chân sư Tây Tạng đang tìm cách huy động các đệ tử của Ngài để hỗ trợ những người lãnh đạo bên ngoài của các Mãnh Lực Ánh Sáng.

262. These leaders need the soul support of those spiritually inclined men and women (presumably disciples such as those in DK’s groups) who understand their very difficult task. Criticism of these leaders is to be suspended, as is a constant reference to their limitations.

262. Những nhà lãnh đạo này cần sự hỗ trợ từ linh hồn của những người nam và nữ có khuynh hướng tinh thần (có lẽ là những đệ tử như các thành viên trong các nhóm của Chân sư DK), những người thấu hiểu nhiệm vụ hết sức khó khăn của họ. Cần ngừng chỉ trích những nhà lãnh đạo này, cũng như ngừng liên tục nhắc đến những giới hạn của họ.

263. The souls of the leaders are calling to the souls of such disciples as those in DK’s group, for support. DK asks that a “constant stream of ‘loving understanding’” be poured forth upon these leaders.

263. Linh hồn của những nhà lãnh đạo đang kêu gọi linh hồn của các đệ tử như những người trong nhóm của Chân sư DK để được hỗ trợ. Chân sư DK yêu cầu tuôn đổ lên những nhà lãnh đạo này một “dòng liên tục của ‘sự thấu hiểu đầy tình thương’”.

264. The Master offers a sobering assessment: those leaders are “more advanced disciples than you are”. Workers in the field of esotericism are likely to be proud of their esoteric knowledge and fail to realize that the ‘verbal possession’ of this great Teaching does not necessarily elevate them in spiritual status.

264. Chân sư đưa ra một nhận định khiến chúng ta phải tỉnh ngộ: những nhà lãnh đạo ấy là “những đệ tử tiến xa hơn các bạn”. Những người hoạt động trong lĩnh vực huyền bí học dễ tự hào về kiến thức huyền bí của mình mà không nhận ra rằng việc ‘sở hữu trên ngôn từ’ Giáo Huấn vĩ đại này không nhất thiết nâng cao địa vị tinh thần của họ.

265. Some of the world leaders in those days (and probably some today—Nelson Mandela, for instance) are “under impression” from the Hierarchy. They are often unconscious hierarchical workers who have (before birth it would seem) relinquished their consciousness their knowledge of Hierarchy in order to work more effectively on behalf of humanity.

265. Một số nhà lãnh đạo thế giới thời ấy (và có lẽ cả một số người ngày nay—chẳng hạn Nelson Mandela) đang “chịu ấn tượng” từ Thánh đoàn. Họ thường là những người hoạt động cho Thánh đoàn mà không ý thức điều đó, những người dường như đã từ bỏ tâm thức và kiến thức của mình về Thánh đoàn (trước khi sinh ra) để làm việc hiệu quả hơn vì nhân loại.

266. DK asks that His disciples surround these more advanced world disciples with a “wall of light” and refrain from all criticism, which can have the adverse effect of “swelling the tide of criticism” directed against them by the “worldly minded”.

266. Chân sư DK yêu cầu các đệ tử của Ngài bao quanh những đệ tử thế giới tiến xa hơn này bằng một “bức tường ánh sáng” và tránh mọi sự chỉ trích, vốn có thể gây tác động bất lợi là “làm dâng cao làn sóng chỉ trích” mà “những người có tư tưởng thế tục” hướng vào họ.

267. The same applies today. As potential or actual members of an Ashram, or at least as individuals gathered around the Teaching of Master DK, we can affect the world process positively or adversely through our thoughts. There are leaders in the world who need our assistance and support. As in those days, we cannot mould their thought or shape their decisions, but we can help to provide the positive atmosphere in which the best thoughts and decisions can be formulated.

267. Ngày nay, điều này cũng đúng. Với tư cách những thành viên tiềm năng hoặc thực sự của một ashram, hay ít nhất là những cá nhân quy tụ quanh Giáo Huấn của Chân sư DK, chúng ta có thể tác động tích cực hoặc bất lợi đến tiến trình thế giới qua tư tưởng của mình. Có những nhà lãnh đạo trên thế giới cần sự trợ giúp và hỗ trợ của chúng ta. Cũng như thời ấy, chúng ta không thể định hình tư tưởng hay quyết định của họ, nhưng có thể giúp tạo ra bầu không khí tích cực để những tư tưởng và quyết định tốt nhất có thể hình thành.

268. DK has often said that it is useless and dangerous for us to speculate about the black lodge:

268. Chân sư DK đã nhiều lần nói rằng việc chúng ta suy đoán về Hắc đoàn là vô ích và nguy hiểm:

“3. Humanity and cosmic evil, focussed for many millenia of years in what has been called the Black Lodge. Speculation anent this Lodge and its activities is both fruitless and dangerous. ” (EA 445)

“3. Nhân loại và cái ác vũ trụ, tập trung suốt nhiều thiên niên kỷ trong cái gọi là Hắc đoàn. Suy đoán về Hắc đoàn này và các hoạt động của nó vừa vô ích vừa nguy hiểm. ” (EA 445)

In this group instruction, He advises His disciples to avoid trying to contact or influence the representatives of that Lodge who are outer plane “leaders of the forces of materialism”. Another sober assessment is given; these evil leaders are far more powerful than the average disciple, and the well-meaning disciple attempting such contact would be in “extreme danger”. As Master DK does not exaggerate, we have to take Him at His word. This danger would probably not arise from outer causes; the inner causes would be sufficient.

Trong huấn thị nhóm này, Ngài khuyên các đệ tử của Ngài tránh tìm cách tiếp xúc hoặc gây ảnh hưởng đến những đại diện của Hắc đoàn ấy, tức những “người lãnh đạo các mãnh lực duy vật” trên cõi bên ngoài. Ngài đưa ra thêm một nhận định nghiêm túc: những nhà lãnh đạo tà ác này mạnh hơn người đệ tử thông thường rất nhiều, và người đệ tử có thiện ý tìm cách tiếp xúc như vậy sẽ lâm vào “tình thế cực kỳ nguy hiểm”. Vì Chân sư DK không phóng đại, chúng ta phải tin đúng như lời Ngài nói. Mối nguy hiểm này có lẽ không phát sinh từ những nguyên nhân bên ngoài; chỉ những nguyên nhân bên trong cũng đã đủ.

269. Were such contact attempted, the personality of the disciple would provide “an open door of approach”. We can be assured that the disciple’s personality would be adversely and negatively stimulated and his usefulness to the White Lodge threatened or damaged.

269. Nếu tìm cách tiếp xúc như vậy, phàm ngã của người đệ tử sẽ tạo ra “một cánh cửa tiếp cận rộng mở”. Chúng ta có thể chắc chắn rằng phàm ngã của người đệ tử sẽ bị kích thích theo hướng bất lợi và tiêu cực, và khả năng phụng sự Thánh đoàn của y sẽ bị đe dọa hoặc tổn hại.

270. Disciples must learn to co-measure their capabilities. This is all part of the “acceptance of facts” which DK is emphasizing.

270. Các đệ tử phải học cách đánh giá đúng mức năng lực của mình. Tất cả những điều này đều thuộc về việc “chấp nhận các sự thật” mà Chân sư DK đang nhấn mạnh.

[707]

[707]

In the Aquarian Age (which is now so near, relatively speaking), there will be an externalisation of the inner Ashram upon the outer plane. Disciples, initiates and world disciples will meet for the first time in human history as disciples, recognising each other and recognising the Master of their group. The inner Ashram is a focus of souls, free and unlimited; the outer Ashram—under the future Aquarian experiment—will be composed of a focus of personalities and souls. Limitation will, therefore, exist; responsibility will require conscious recognition and there will be a necessary slowing down of both action and perception in the outer space-time world.

Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình (nói một cách tương đối, hiện đã rất gần), ashram bên trong sẽ ngoại hiện trên cõi bên ngoài. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, các đệ tử, điểm đạo đồ và đệ tử thế giới sẽ gặp nhau với tư cách đệ tử, nhận ra nhau và nhận ra Chân sư của nhóm mình. Ashram bên trong là một tụ điểm của các linh hồn, tự do và không giới hạn; ashram bên ngoài—trong cuộc thử nghiệm Bảo Bình tương lai—sẽ gồm một tụ điểm của các phàm ngã và linh hồn. Do đó, giới hạn sẽ tồn tại; trách nhiệm sẽ đòi hỏi sự nhận biết có ý thức, và cả hành động lẫn nhận thức tất yếu sẽ chậm lại trong thế giới không gian–thời gian bên ngoài.

271. DK speaks of the impending externalization of the inner Ashram. The Aquarian Age will witness this externalization.

271. Chân sư DK nói về sự ngoại hiện sắp tới của ashram bên trong. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng kiến sự ngoại hiện này.