← Commentary on DINA I song ngữ

16. PART IV – 16. PHẦN IV

Trích nội dung chương

272. We note that the externalization will occur “for the first time in human history”. Whereas in the very early days of evolution the Masters walked among men, the men of the period were not members of an Ashram. They could not be. Human evolution had not yet done its work. 272. Chúng ta lưu ý rằng sự ngoại hiện sẽ diễn ra “lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại”. Dù trong những ngày đầu tiên của tiến hóa, các Chân sư từng đi lại giữa loài người, nhưng con người thời ấy không phải là thành viên của một ashram. Họ chưa thể là thành viên. Tiến hóa nhân loại chưa hoàn thành công việc của mình.


272. We note that the externalization will occur “for the first time in human history”. Whereas in the very early days of evolution the Masters walked among men, the men of the period were not members of an Ashram. They could not be. Human evolution had not yet done its work.

272. Chúng ta lưu ý rằng sự ngoại hiện sẽ diễn ra “lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại”. Dù trong những ngày đầu tiên của tiến hóa, các Chân sư từng đi lại giữa loài người, nhưng con người thời ấy không phải là thành viên của một ashram. Họ chưa thể là thành viên. Tiến hóa nhân loại chưa hoàn thành công việc của mình.

273. In the immediate future, disciples will recognize each other on the physical plane and will simultaneously recognize the Master of their group, Who, Himself, in many cases, will be in physical presence.

273. Trong tương lai gần, các đệ tử sẽ nhận ra nhau trên cõi hồng trần và đồng thời nhận ra Chân sư của nhóm mình; trong nhiều trường hợp, chính Ngài sẽ hiện diện trong thể xác.

274. Towards this externalization we are all working, with greater or lesser degrees of consciousness. As far as our present planetary process is concerned, it is the “main event”.

274. Tất cả chúng ta đều đang làm việc hướng đến sự ngoại hiện này, với mức độ ý thức nhiều hay ít. Xét tiến trình hành tinh hiện tại của chúng ta, đó là “sự kiện chính”.

275. DK again distinguishes between the inner and outer Ashrams. The inner Ashram “is a focus of souls, free and unlimited”; “the outer Ashram…will be composed of a focus of personalities and souls”. This, of course, is the problem and the potential.

275. Chân sư DK lại phân biệt giữa các ashram bên trong và bên ngoài. Ashram bên trong “là một tụ điểm của các linh hồn, tự do và không giới hạn”; “ashram bên ngoài… sẽ gồm một tụ điểm của các phàm ngã và linh hồn”. Dĩ nhiên, đây vừa là vấn đề vừa là tiềm năng.

276. We note the use of the word “focus”. An Ashram is a “focus of souls”; this requires pondering. It is a definition given in terms of the language of consciousness and energy. An Ashram is a focalization of consciousnesses and of energies.

276. Chúng ta lưu ý cách dùng từ “tụ điểm”. Một ashram là một “tụ điểm của các linh hồn”; điều này đòi hỏi sự suy ngẫm. Đây là một định nghĩa diễn đạt bằng ngôn ngữ của tâm thức và năng lượng. Một ashram là sự quy tụ các tâm thức và các năng lượng.

277. We cannot expect that the externalizations of the inner Ashram will function with the same freedom as the inner Ashram itself. The outer time-space world presents its obstructions. This fact will have to be recognized and due allowance made. Patience and understanding will be required.

277. Chúng ta không thể kỳ vọng rằng những biểu hiện ngoại hiện của ashram bên trong sẽ hoạt động với cùng sự tự do như chính ashram bên trong. Thế giới thời gian–không gian bên ngoài đặt ra những trở ngại của nó. Cần nhận biết sự thật này và tính đến nó một cách thỏa đáng. Sẽ cần có sự kiên nhẫn và thấu hiểu.

The true Ashram (of which the coming outer Ashrams will be but reflections) is not for lower concrete mind discussion. It is a focal point of receptivity; it embraces the effort to establish mutual contact through an united recognition of the vision, of the esoteric basis of life and the laws governing action. It is not a place, however, for long and silent meditation processes, for it is a point of tension where, together, the Ageless Wisdom in its more esoteric aspects is discussed, where the nature of soul relationship is recognised and where the fusion of auras and the inter-blending of the “Triangles” goes forward consciously. An Ashram is the state of mind of a spiritual group. It is a point of united thought; it is a centre for the clarification of the vision and not of physical plane methods of work. As disciples learn to integrate themselves into a Master’s Ashram, they discover that the first thing they have to do is to establish a basic harmony between themselves and their fellow disciples and to reinforce the contact between their own souls, the ashramic group and the Master. Then they learn to comprehend—through discussion and experiment—the nature of the energies which are seeking world expression, and the nature of the forces which must be reduced to powerlessness, if these new incoming energies are to prove effective in bringing about the desired changes under the Plan.

Ashram đích thực (mà các ashram bên ngoài sắp tới chỉ là những phản ánh) không dành cho việc bàn luận bằng hạ trí cụ thể. Đó là một tiêu điểm tiếp nhận; nó bao hàm nỗ lực thiết lập sự tiếp xúc lẫn nhau thông qua sự nhận biết thống nhất về tầm nhìn, về nền tảng huyền bí của sự sống và các định luật chi phối hành động. Tuy nhiên, đó không phải là nơi dành cho những quá trình tham thiền lâu dài và im lặng, vì đó là một điểm tập trung nhất tâm, nơi mọi người cùng thảo luận về Minh Triết Ngàn Đời trong những phương diện huyền bí hơn của nó, nơi bản chất của mối quan hệ linh hồn được nhận biết và nơi sự dung hợp các hào quang cùng sự hòa quyện lẫn nhau của các “Tam Giác” diễn ra một cách có ý thức. Một ashram là trạng thái trí tuệ của một nhóm tinh thần. Đó là một điểm tư tưởng hợp nhất; đó là một trung tâm làm sáng rõ tầm nhìn chứ không phải các phương pháp làm việc trên cõi hồng trần. Khi các đệ tử học cách tích hợp mình vào ashram của một Chân sư, họ khám phá rằng điều đầu tiên phải làm là thiết lập sự hòa hợp căn bản giữa mình với các đệ tử đồng môn, đồng thời củng cố sự tiếp xúc giữa linh hồn mình, nhóm ashram và Chân sư. Sau đó, qua thảo luận và thử nghiệm, họ học cách thấu hiểu bản chất của những năng lượng đang tìm cách biểu hiện trong thế giới, và bản chất của những mãnh lực phải bị làm cho mất hết sức mạnh nếu những năng lượng mới đang đi vào này muốn tạo ra một cách hiệu quả những thay đổi mong muốn theo Thiên Cơ.

278. It would seem that DK has been discussing the nature of the true Ashram to a great extent; He tells us, however, that the “true Ashram” “is not for lower concrete mind discussion”. Does this mean that the true Ashram cannot be understood through such discussion (which is probable) or that it is forbidden to discuss it in this way (which is advisable)? We have learned that only the intuition, love and pure reason will really penetrate the Ashram. The concrete mind is left standing outside the door.

278. Dường như Chân sư DK đã bàn luận khá nhiều về bản chất của ashram chân chính; tuy nhiên, Ngài cho chúng ta biết rằng “ashram chân chính” “không phải là đề tài để hạ trí cụ thể bàn luận”. Điều này có nghĩa là không thể thấu hiểu ashram chân chính qua sự bàn luận như thế (điều này có lẽ đúng), hay là không được phép bàn luận về ashram theo cách này (điều cấm ấy là thích đáng)? Chúng ta đã học rằng chỉ trực giác, tình thương và lý trí thuần khiết mới thực sự thâm nhập được ashram. Trí cụ thể phải đứng lại bên ngoài cửa.

279. The following explains why the concrete mind cannot grasp the nature of the Ashram. It is a most esoteric definition and emphasizes the esoteric dynamics of ashramic process: “It is a focal point of receptivity; it embraces the effort to establish mutual contact through an united recognition of the vision, of the esoteric basis of life and the laws governing action. ”

279. Những điều sau đây giải thích vì sao trí cụ thể không thể nắm bắt bản chất của ashram. Đây là một định nghĩa hết sức huyền bí, nhấn mạnh những động lực huyền bí của tiến trình ashram: “Đó là một tiêu điểm tiếp nhận; nó bao hàm nỗ lực thiết lập sự tiếp xúc lẫn nhau thông qua sự nhận biết thống nhất về tầm nhìn, về nền tảng huyền bí của sự sống và các định luật chi phối hành động. ”

280. The definitions of an Ashram as offered in this section are exceedingly esoteric and, therefore, useful to the discerning student. Some think of the Ashram as a center for meditative retreat. A number of outer ashrams in India, for instance, are that. However, a true Ashram “is a point of tension where, together, the Ageless Wisdom in its more esoteric aspects is discussed, where the nature of soul relationship is recognised and where the fusion of auras and the inter-blending of the ‘Triangles’ goes forward consciously. ”

280. Những định nghĩa về ashram được trình bày trong phần này hết sức huyền bí và do đó hữu ích cho đạo sinh có khả năng phân biện. Một số người nghĩ rằng ashram là một trung tâm tĩnh tu để tham thiền. Chẳng hạn, một số ashram bên ngoài tại Ấn Độ là như thế. Tuy nhiên, một ashram chân chính “là một điểm tập trung nhất tâm, nơi mọi người cùng bàn luận về những phương diện huyền bí hơn của Minh Triết Ngàn Đời, nơi bản chất của mối quan hệ linh hồn được nhận biết và nơi sự dung hợp các hào quang cùng sự hòa quyện lẫn nhau của các ‘Tam Giác’ diễn ra một cách có ý thức. ”

281. We have to get used to the Ashram described in terms of the “Language of Energy”. The resulting descriptions are more accurate than those expressed in more conventional language.

281. Chúng ta phải làm quen với việc mô tả ashram bằng “Ngôn Ngữ Năng Lượng”. Những mô tả như thế chính xác hơn những mô tả bằng ngôn ngữ thông thường.

282. The important factor of the “fusion of auras” and the “inter-blending of the ‘Triangles’…” is presented in the definition immediately above. We are to think of the Ashram as a center in which soul-fusion is achieved.

282. Yếu tố quan trọng của “sự dung hợp các hào quang” và “sự hòa quyện lẫn nhau của các ‘Tam Giác’…” được trình bày trong định nghĩa ngay trên đây. Chúng ta cần xem ashram là một trung tâm nơi đạt tới sự dung hợp linh hồn.

283. We note, however, that within an Ashram there is discussion of a certain kind. Master DK now and then tells us of the kinds of discussions which have occurred in Ashrams (often between Himself and Master KH, or between a Master and His chela during the hours of sleep). Such discussions invariably concern the deeper aspects of the Wisdom.

283. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng trong ashram vẫn có một loại bàn luận nhất định. Thỉnh thoảng, Chân sư DK kể cho chúng ta về những loại bàn luận từng diễn ra trong các ashram (thường là giữa chính Ngài và Chân sư KH, hoặc giữa một Chân sư và đệ tử của Ngài trong những giờ ngủ). Những cuộc bàn luận như thế luôn liên quan đến các phương diện sâu xa hơn của Minh Triết.

284. Once excellent definition after another is presented: “an Ashram is the state of mind of a spiritual group”. According to our state of mind, then, we will participate or not. Our state of mind must be held at a certain requisite point of tension if we are to enter that state of mind which is ashramic.

284. Hết định nghĩa xuất sắc này đến định nghĩa xuất sắc khác được trình bày: “ashram là trạng thái trí tuệ của một nhóm tinh thần”. Như vậy, tùy theo trạng thái trí tuệ của mình, chúng ta sẽ tham dự hoặc không. Chúng ta phải duy trì trạng thái trí tuệ của mình tại một điểm tập trung nhất tâm nhất định theo yêu cầu nếu muốn bước vào trạng thái trí tuệ của ashram.

285. The Ashram is a “point of united thought”. The word “point” should be pondered. Through the necessary “point of tension”, the “point of thought” can be accessed. It is incumbent upon disciples who would be ashramic members to bring their thought processes to the requisite point—a point which reflects the Master’s purpose.

285. Ashram là một “điểm tư tưởng hợp nhất”. Cần suy ngẫm về từ “điểm”. Thông qua “điểm tập trung nhất tâm” cần thiết, chúng ta có thể tiếp cận “điểm tư tưởng”. Các đệ tử muốn trở thành thành viên ashram có bổn phận đưa những tiến trình tư tưởng của mình đến điểm—một điểm phản ánh mục đích của Chân sư—đúng theo yêu cầu.

286. Further an Ashram is “a centre for the clarification of vision and not of physical plane methods of work”. The physical plane methods are left to the individual disciples. If the vision has been clarified, the methods will reflect the vision and will manifest that which the Master of the Ashram intends.

286. Hơn nữa, ashram là “một trung tâm để làm sáng tỏ tầm nhìn chứ không phải các phương pháp làm việc trên cõi hồng trần”. Các phương pháp trên cõi hồng trần được giao cho từng đệ tử tự quyết định. Nếu tầm nhìn đã sáng tỏ, các phương pháp sẽ phản ánh tầm nhìn ấy và biểu hiện điều mà Chân sư của ashram dự định.

287. What is required of a disciple as he enters the Ashram? First a basic harmony has to be established with all fellow members of the Ashram. As well, the disciple’s soul contact is reinforced, as is contact with the ashramic group and with the Master. Entry requires a great spiritual deepening and strengthening, all occurring within a general atmosphere of love and harmony regardless of the ray of the Ashram. The Hierarchy is the Hierarchy of Love.

287. Một đệ tử cần đáp ứng những gì khi bước vào ashram? Trước hết, y phải thiết lập sự hài hòa căn bản với tất cả các thành viên khác trong ashram. Đồng thời, sự tiếp xúc với linh hồn của người đệ tử được củng cố, cũng như sự tiếp xúc với nhóm ashram và với Chân sư. Việc gia nhập đòi hỏi đời sống tinh thần phải trở nên sâu sắc và mạnh mẽ hơn nhiều; tất cả đều diễn ra trong bầu không khí chung của tình thương và sự hài hòa, bất kể ashram thuộc cung nào. Thánh đoàn là Thánh đoàn của Tình Thương.

288. In the laboratory that the Ashram represents, important discussions concerning the nature of energy are pursued. The forces with which ashramic members must work are to be deeply understood. Right methods of applying these forces are to be learned. The nature of the opposing forces must also be comprehended if they are to be “reduced to powerlessness”.

288. Trong phòng thí nghiệm mà ashram là hiện thân, những cuộc bàn luận quan trọng về bản chất của năng lượng được tiến hành. Các thành viên ashram phải thấu hiểu sâu sắc những mãnh lực mà họ phải làm việc với. Họ phải học những phương pháp đúng đắn để vận dụng các mãnh lực này. Họ cũng phải thấu hiểu bản chất của những mãnh lực đối kháng nếu muốn “khiến chúng trở nên bất lực”.

289. All such discussions concerning occult energies are to render the ashramic member more effective in promoting the manifestation of the Divine Plan.

289. Mọi cuộc bàn luận như thế về các năng lượng huyền bí đều nhằm giúp thành viên ashram thúc đẩy sự biểu hiện của Thiên Cơ một cách hiệu quả hơn.

They learn also that there is no weakness and no strength in themselves, as individuals, which may not be submitted to the group “gaze”; thus they arrive at the stripping away of all the “veils” which prevent the clear light of the soul from shining [708] forth. The goal of all work done in the Ashram of any of the Masters is Truth—on all levels and at all times. As disciples learn thus to work from the point or centre of light, understanding and truth into which they are being steadily integrated, their exoteric usefulness and effective service will be greatly increased; they will—as a group—know what has to be done and find eventually that it is done.

Họ cũng học được rằng nơi bản thân họ, với tư cách cá nhân, không có điểm yếu hay điểm mạnh nào mà không thể đưa ra trước “ánh nhìn” của nhóm; nhờ đó, họ tiến đến việc gỡ bỏ mọi “bức màn” ngăn ánh sáng trong trẻo của linh hồn chiếu [708] tỏa. Mục tiêu của mọi công việc thực hiện trong ashram của bất kỳ Chân sư nào là Chân Lý—trên mọi cấp độ và vào mọi lúc. Khi các đệ tử học cách làm việc như thế từ điểm hay trung tâm ánh sáng, sự thấu hiểu và chân lý mà họ đang dần dần tích hợp vào, tính hữu dụng ngoại môn và khả năng phụng sự hiệu quả của họ sẽ gia tăng rất nhiều; với tư cách một nhóm, họ sẽ biết điều gì phải làm và cuối cùng nhận thấy rằng điều ấy đã hoàn thành.

290. To enter the Ashram is to enter the culture of impersonality. All that relates to the personality (as horrible or embarrassing as it may seem to the sensitive disciples) is subject to scrutiny by the “group gaze”. With growing impersonality, the disciple must learn to tolerate this revealing gaze, which strips away “the ‘veils’ which prevent the clear light of the soul from shining forth”. After all, the disciple is not his personality; the disciple, essentially, is the “observer” which is, essentially, the spirit.

290. Bước vào ashram là bước vào nền văn hóa phi cá nhân. Mọi điều liên quan đến phàm ngã (dù có vẻ kinh khủng hay gây ngượng ngùng đến đâu đối với các đệ tử nhạy cảm) đều chịu sự xem xét của “ánh nhìn của nhóm”. Khi ngày càng trở nên phi cá nhân, người đệ tử phải học cách chịu đựng ánh nhìn phơi bày ấy, vốn gỡ bỏ “những ‘bức màn’ ngăn ánh sáng trong trẻo của linh hồn chiếu tỏa”. Xét cho cùng, người đệ tử không phải là phàm ngã của mình; về bản chất, người đệ tử là “người quan sát”, mà về bản chất chính là tinh thần.

291. Another great principle is enunciated: “The goal of all work done in the Ashram of any of the Masters is Truth—on all levels and at all times. ” This potent sentence is to be pondered. The requirement is high.

291. Một nguyên khí vĩ đại khác được phát biểu: “Mục tiêu của mọi công việc thực hiện trong ashram của bất kỳ Chân sư nào là Chân Lý—trên mọi cấp độ và vào mọi lúc. ” Cần suy ngẫm câu nói đầy uy lực này. Đòi hỏi này rất cao.

292. This dedication to Truth, rightly pursued, reveals the Divine Plan and eventually the Divine Purpose.

292. Khi được thực hành đúng đắn, sự tận hiến cho Chân Lý này sẽ làm hiển lộ Thiên Cơ và cuối cùng là Thiên Ý.

293. The Ashram is a “point or centre of light, understanding and truth”. Disciples are being slowly integrated into this point or center, and as this occurs, their usefulness in the exoteric world is steadily increased.

293. Ashram là một “điểm hay trung tâm ánh sáng, sự thấu hiểu và chân lý”. Các đệ tử đang từ từ tích hợp vào điểm hay trung tâm này, và khi điều ấy diễn ra, tính hữu dụng của họ trong thế giới ngoại môn không ngừng gia tăng.

294. Many disciples do not yet, with certainty, “know what has to be done”. The cultivation of “Truth—on all levels and at all times” will reveal what must be done, and, says the Tibetan, the group will “find eventually that it is done”. The wielding of Truth brings fulfillment.

294. Nhiều đệ tử vẫn chưa biết chắc “điều gì phải làm”. Việc vun bồi “Chân Lý—trên mọi cấp độ và vào mọi lúc” sẽ làm hiển lộ điều phải làm, và Chân sư Tây Tạng nói rằng cuối cùng nhóm sẽ “nhận thấy rằng điều ấy đã hoàn thành”. Việc vận dụng Chân Lý đưa đến sự thành tựu.

295. Truth will dispel ignorance and reveal both Plan and Purpose. The Ashram exists to serve Plan and Purpose; the pursuit of Truth is the Ashram’s tool in this regard.

295. Chân Lý sẽ xua tan vô minh và làm hiển lộ cả Thiên Cơ lẫn Thiên Ý. Ashram tồn tại để phụng sự Thiên Cơ và Thiên Ý; việc theo đuổi Chân Lý là công cụ của ashram trong phương diện này.

The major task of the Master in the early stages of training His disciple is to bring to an end the period of the disciple’s intense preoccupation with himself, with his service, with his reaction to the Master or the promise of future contact with the Master, with his own ideas anent discipleship and his personal interpretations of truth. The Master takes a group of people with fixed ideas (which they are entirely sure are correct, being the best and highest they have been able to grasp to date) and with the conviction that they have reached a point where they have registered certain spiritual values and concepts, where they have evolved their own formulations of truth and where they are eagerly demanding the next step. The first thing, therefore, which He has to do is (using a strong and perhaps a strange phrase) to blast them wide open, give them a deep sense of insecurity as to the formulas and symbols of the lower concrete mind and so prepare them for the reception of newer and higher approaches to truth. This is frequently brought about by forcing them to question all the conclusions of the past.

Nhiệm vụ chính của Chân sư trong những giai đoạn đầu huấn luyện đệ tử của Ngài là chấm dứt thời kỳ người đệ tử quá bận tâm đến bản thân, đến việc phụng sự của mình, đến phản ứng của mình đối với Chân sư hay triển vọng tiếp xúc với Chân sư trong tương lai, đến những ý tưởng riêng về địa vị đệ tử và những diễn giải cá nhân về chân lý. Chân sư tiếp nhận một nhóm người có những ý tưởng cố định (mà họ hoàn toàn chắc chắn là đúng, vì đó là những điều tốt nhất và cao nhất họ có thể nắm bắt cho đến lúc ấy), đồng thời tin chắc rằng họ đã đạt đến một điểm mà họ ghi nhận được những giá trị và khái niệm tinh thần nhất định, đã phát triển những cách trình bày chân lý riêng và đang háo hức đòi hỏi bước kế tiếp. Do đó, điều đầu tiên Ngài phải làm là (dùng một cách nói mạnh mẽ và có lẽ lạ lùng) phá tung mọi khuôn khổ của họ, khiến họ cảm thấy hết sức bất an về các công thức và biểu tượng của hạ trí cụ thể, qua đó chuẩn bị cho họ tiếp nhận những cách tiếp cận chân lý mới hơn và cao hơn. Ngài thường thực hiện điều này bằng cách buộc họ chất vấn mọi kết luận của quá khứ.

296. When the disciple enters the Ashram, a process of ‘deconditioning’ must take place.

296. Khi người đệ tử bước vào ashram, một tiến trình ‘tháo gỡ những khuôn mẫu đã định hình’ phải diễn ra.

297. The newly accepted disciple is still quite selfish and self-absorbed. He still thinks of ‘his’ service, and of ‘his’ Ashram and Master in self-centered terms. All this must be brought to an end, and his strictly personal interpretations of truth adjusted to the spiritual facts.

297. Người đệ tử mới được chấp nhận vẫn còn khá ích kỷ và mải mê với bản thân. Y vẫn nghĩ về việc phụng sự ‘của mình’, về ashram và Chân sư ‘của mình’ theo lối tập trung vào bản thân. Tất cả những điều này phải chấm dứt, và những diễn giải hoàn toàn mang tính cá nhân của y về chân lý phải được điều chỉnh cho phù hợp với các sự thật tinh thần.

298. The group that the Master “takes” into His Ashram has many liabilities. Self-assurance and fixity of thought are among them. Such people have, to their own satisfaction, evolved their own formulations of truth and are now “eagerly demanding the next step”.

298. Nhóm mà Chân sư “tiếp nhận” vào ashram của Ngài có nhiều nhược điểm. Sự tự tin chắc chắn và tư tưởng cố định nằm trong số đó. Những người như thế đã phát triển những cách trình bày chân lý riêng khiến họ hài lòng, và giờ đây đang “háo hức đòi hỏi bước kế tiếp”.

299. DK surprises us in describing how a Master proceeds under these circumstances. He does not reinforce the hard-won convictions which His chelas have evolved through the use of their concrete mind. Instead He undertakes to “blast them wide open”. It is obviously a first ray process and gives the disciples a “deep sense of insecurity as to the formulas and symbols of the lower concrete mind”. In this way they are prepared for newer and higher approaches to truth.

299. Chân sư DK khiến chúng ta ngạc nhiên khi mô tả cách một Chân sư hành động trong những hoàn cảnh này. Ngài không củng cố những niềm xác tín mà các đệ tử của Ngài đã vất vả phát triển nhờ sử dụng trí cụ thể. Thay vào đó, Ngài tiến hành “phá tung mọi khuôn khổ của họ”. Đây rõ ràng là một tiến trình cung một, khiến các đệ tử “cảm thấy hết sức bất an về các công thức và biểu tượng của hạ trí cụ thể”. Theo cách này, họ được chuẩn bị cho những cách tiếp cận chân lý mới hơn và cao hơn.

300. Some of us are familiar with the Law of Repulse as it is presented along the seven ray lines. In each of these seven variations of a basic Law of the Soul, the effect of this ‘blasting’ will be apparent. Under this law the disciple receives a shock which turns him from his old way of doing things and opens him to new and better ways of approach.

300. Một số người trong chúng ta quen thuộc với Định luật Đẩy Lùi như được trình bày theo bảy đường cung. Trong mỗi biến thể thuộc bảy biến thể này của một Định luật căn bản của Linh Hồn, tác động của việc ‘phá tung’ này sẽ thể hiện rõ. Dưới tác động của định luật này, người đệ tử nhận một cú sốc khiến y từ bỏ cách làm cũ và mở lòng đón nhận những cách tiếp cận mới và tốt hơn.

301. One can imagine that this will not be a pleasant process for the disciple (unless the disciple is possessed of much first ray, and enjoys the destruction of the old and cherished).

301. Có thể hình dung rằng đây sẽ không phải là một tiến trình dễ chịu đối với người đệ tử (trừ khi y có nhiều năng lượng cung một và thích thú trước sự hủy diệt những điều cũ kỹ, từng được trân quý).

302. The Master, we are told, will force us to question all the conclusions of the past. We will be forced to examine our life and hard-won conclusions truthfully and objectively, in the light of the Ashram. Much of error will be revealed in this needed process of deglamorization, disillusionment and destruction.

302. Chúng ta được cho biết rằng Chân sư sẽ buộc chúng ta chất vấn mọi kết luận của quá khứ. Chúng ta sẽ buộc phải xem xét cuộc sống và những kết luận khó nhọc mới có được của mình một cách trung thực, khách quan, trong ánh sáng của ashram. Nhiều sai lầm sẽ lộ rõ trong tiến trình cần thiết này nhằm loại bỏ ảo cảm, phá bỏ ảo tưởng và hủy diệt.

We have all—disciples and initiates of all degrees—to enter the secret place of initiation with a sense of blindness (or loss of direction) and with a feeling of complete destitution. The disciple needs to bear in mind that he has to become “a moving point and hence a line”; he ascends towards the Hierarchy and assumes the correct spiritual attitude but, at the same time, he descends into what he erroneously regards as the depth of human difficulty and iniquity (if necessary), preserving always his spiritual integrity but learning three important lessons:

Tất cả chúng ta—các đệ tử và các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ—đều phải bước vào nơi bí mật của điểm đạo với cảm giác mù lòa (hay mất phương hướng) và cảm giác hoàn toàn trắng tay. Người đệ tử cần ghi nhớ rằng y phải trở thành “một điểm chuyển động và do đó thành một đường”; y vươn lên về phía Thánh đoàn và giữ thái độ tinh thần đúng đắn, nhưng đồng thời, y đi xuống nơi mà y lầm tưởng là vực sâu của những khó khăn và tội lỗi của con người (nếu cần), luôn giữ vững sự toàn vẹn tinh thần của mình nhưng học ba bài học quan trọng:

303. The “place of initiation” is ever a secret place. It is a ‘place’ where the hitherto unknown is revealed. What will happen during the ceremony of initiation (and, more widely, during the ongoing process of initiation) is unknown. The “secrets of initiation” bring us “from darkness to light” (at least with respect to the permitted illumination of any particular degree).

303. “Nơi điểm đạo” luôn là một nơi bí mật. Đó là một ‘nơi’ mà những điều trước đó chưa biết được mặc khải. Những gì sẽ xảy ra trong nghi lễ điểm đạo (và rộng hơn là trong tiến trình điểm đạo đang tiếp diễn) đều là điều chưa biết. Những “bí mật của điểm đạo” đưa chúng ta “từ bóng tối đến ánh sáng” (ít nhất là trong phạm vi soi sáng mà một cấp độ cụ thể cho phép).

304. DK speaks in Masonic terms. All candidates enter blindly, with a feeling of disorientation and destitution. They do not know where they are going, but they have trust.

304. Chân sư DK nói bằng thuật ngữ của Hội Tam Điểm. Mọi ứng viên đều bước vào trong sự mù lòa, với cảm giác mất phương hướng và trắng tay. Họ không biết mình đang đi đâu, nhưng họ có lòng tin.

305. No matter what the degree to which we may be making application, the experiences of that degree are actually unknown to us, howevermuch theory we may have accumulated regarding them. The supervising Powers mean us well, but we have to drop old ways to take advantage of that which They have to offer. This, of course, is a humbling (and necessary) experience.

305. Dù chúng ta đang xin bước vào cấp độ nào, những trải nghiệm của cấp độ ấy thực sự vẫn là điều chúng ta chưa biết, bất kể đã tích lũy bao nhiêu lý thuyết về chúng. Các Đấng Quyền Năng giám sát đều có thiện ý với chúng ta, nhưng chúng ta phải từ bỏ những lối cũ để tận dụng những gì Các Ngài ban tặng. Dĩ nhiên, đây là một trải nghiệm dạy chúng ta khiêm nhường (và là điều cần thiết).

306. In geometrical terms, the disciple has to become “a moving point and hence a line”. When the first ray type of motion, the motion of “progress onward” is applied, the point becomes a line. The antahkarana is built and alignment with the higher worlds becomes a reality.

306. Theo ngôn ngữ hình học, người đệ tử phải trở thành “một điểm chuyển động và do đó thành một đường”. Khi áp dụng kiểu chuyển động của cung một, chuyển động “tiến về phía trước”, điểm trở thành một đường. Antahkarana được xây dựng và sự chỉnh hợp với các cõi cao trở thành hiện thực.

307. The line is an ascending line and it leads into the Hierarchy.

307. Đường này là một đường đi lên và dẫn vào Thánh đoàn.

308. Interestingly and importantly, the ascent is paralleled by a simultaneous descent. into the “depth of human difficulty and iniquity” (should this be necessary). Hierarchy is approaching Shamballa and humanity simultaneously. Newly accepted disciples are approaching Hierarchy and humanity simultaneously.

308. Điều thú vị và quan trọng là sự đi lên diễn ra song song với sự đi xuống đồng thời vào “vực sâu của những khó khăn và tội lỗi của con người” (nếu điều này là cần thiết). Thánh đoàn đang đồng thời tiến gần đến Shamballa và nhân loại. Các đệ tử mới được chấp nhận đang đồng thời tiến gần đến Thánh đoàn và nhân loại.

309. Eventually, the “Highest and the Lowest Meet”. As our scope of understanding expands, the height and depth of our experience ‘elongates’; we reaching into higher worlds and plunging into those which appear to be ‘lower’—and we are to be ‘at home’ in both.

309. Cuối cùng, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. Khi phạm vi thấu hiểu của chúng ta mở rộng, chiều cao và chiều sâu trải nghiệm của chúng ta ‘kéo dài’; chúng ta vươn vào các cõi cao hơn và lao xuống những cõi có vẻ ‘thấp hơn’—và chúng ta phải ‘cảm thấy như ở nhà’ trong cả hai.

1. The recognition that he shares all human tendencies, good and bad, and hence is able to serve.

1. Nhận biết rằng y có chung mọi khuynh hướng của con người, cả tốt lẫn xấu, và do đó có khả năng phụng sự.

310. In the process of simultaneously ascending and descending, three important lessons are learned.

310. Trong tiến trình đồng thời đi lên và đi xuống, chúng ta học được ba bài học quan trọng.

311. One of the first and humbling experiences is that the candidate “shares all human tendencies”—all without exception. The good is in us; the bad is there as well (even if unexpressed or, at length, transmuted and transformed).

311. Một trong những trải nghiệm đầu tiên dạy sự khiêm nhường là ứng viên “có chung mọi khuynh hướng của con người”—tất cả, không ngoại lệ. Cái tốt ở trong chúng ta; cái xấu cũng ở đó (dù chưa biểu lộ, hoặc sau cùng đã được chuyển hoá và chuyển đổi).

312. There is but One Identity in cosmos, and all things are included in it. We, essentially, are that One Identity.

312. Trong vũ trụ chỉ có một Bản Sắc Duy Nhất, và mọi sự vật đều nằm trong đó. Về bản chất, chúng ta là Bản Sắc Duy Nhất ấy.

2. The discovery that the thing which he most despises and fears is the thing which exists most strongly in him, but [709] which is as yet unrecognised. He discovers also that he has to explore and know these despised and feared areas of consciousness so that they become eventually an asset, instead of something to be avoided. He learns to fear nothing; he is all things; he is a human being but he is also a mystic, an occultist, a psychic and a disciple. And—because of all these acquired states of consciousness—he becomes eventually a Master. He has “mastered” all stages and states of awareness.

2. Khám phá rằng điều y khinh ghét và sợ hãi nhất chính là điều tồn tại mạnh mẽ nhất trong y, nhưng [709] vẫn chưa được nhận biết. Y cũng khám phá rằng mình phải thăm dò và biết những vùng tâm thức bị khinh ghét và sợ hãi này để cuối cùng chúng trở thành một lợi thế, thay vì là điều phải tránh né. Y học cách không sợ điều gì; y là mọi sự; y là một con người nhưng cũng là một nhà thần bí, một nhà huyền bí học, một người thông linh và một đệ tử. Và—nhờ tất cả những trạng thái tâm thức đã đạt được này—cuối cùng y trở thành một Chân sư. Y đã “làm chủ” mọi giai đoạn và trạng thái nhận biết.

313. This statement is extremely chastening. Let us think of those things which we may have most feared and despised. Certainly, at first, these things have seemed “out there” and “in others”. Those who remain psychologically naïve will never see it in any other way.

313. Lời khẳng định này có sức răn tỉnh rất lớn. Chúng ta hãy nghĩ đến những điều mình có thể đã sợ hãi và khinh ghét nhất. Chắc chắn, thoạt đầu, những điều này dường như ở “ngoài kia” và “trong người khác”. Những người còn ngây thơ về mặt tâm lý sẽ không bao giờ nhìn nhận điều ấy theo cách nào khác.

314. Yet, we are advised that the thing we hate and fear most is not only in us but strongly in us. This should bring a reflective pause.

314. Tuy nhiên, chúng ta được nhắc rằng điều mình căm ghét và sợ hãi nhất không chỉ ở trong chúng ta, mà còn tồn tại mạnh mẽ trong chúng ta. Điều này hẳn phải khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm.

315. One can imagine that the Law of Karma is at work in this process, for that which we hate and fear is that which we seek to see changed. The changes we work to bring about in “them” (i. e. , in the not-Self) are, when successful, really changing and transforming conditions which exist within ourselves. When an individual seeks to clear the world of certain abuses, he is simultaneously clearing himself of those same abuses. At first he will not realize this.

315. Có thể hình dung rằng Định luật Nghiệp Quả đang tác động trong tiến trình này, vì điều chúng ta căm ghét và sợ hãi chính là điều chúng ta tìm cách thay đổi. Những thay đổi mà chúng ta nỗ lực tạo ra nơi “họ” (tức là, nơi phi ngã), khi thành công, thực sự đang thay đổi và chuyển đổi những tình trạng tồn tại trong chính chúng ta. Khi một cá nhân tìm cách loại bỏ những tệ nạn nào đó khỏi thế giới, y đồng thời cũng đang loại bỏ chính những tệ nạn ấy khỏi bản thân. Thoạt đầu, y sẽ không nhận ra điều này.

316. Conversely, if I have the psychological insight to remove my own projections from others and the world, the changes I succeed in bringing about in myself will induce similar beneficial changes in “them” and in the world.

316. Ngược lại, nếu tôi có sự thấu suốt tâm lý để gỡ bỏ những phóng chiếu của chính mình lên người khác và thế giới, những thay đổi tôi tạo ra thành công trong bản thân sẽ khơi dậy những thay đổi có lợi tương tự nơi “họ” và trong thế giới.

317. The “despised and feared areas of consciousness” are, therefore, to be explored. This is the work of depth psychology—especially spiritual depth psychology. How can such areas “become eventually an asset”? Well, one can learn the pitfalls. One can learn how to overcome these hidden factors. One can serve others by helping them to release themselves from these factors. One can achieve ‘redemptive humility’.

317. Do đó, cần thăm dò những “vùng tâm thức bị khinh ghét và sợ hãi”. Đây là công việc của tâm lý học chiều sâu—đặc biệt là tâm lý học chiều sâu tinh thần. Làm thế nào những vùng ấy có thể “cuối cùng trở thành một lợi thế”? Người ta có thể học cách nhận biết những cạm bẫy. Người ta có thể học cách khắc phục những yếu tố ẩn giấu này. Người ta có thể phụng sự người khác bằng cách giúp họ giải thoát khỏi những yếu tố ấy. Người ta có thể đạt tới ‘sự khiêm nhường có sức cứu chuộc’.

318. Fear is a great opponent to the student of occultism. The true occultist has no fear.

318. Sợ hãi là một đối thủ lớn của đạo sinh huyền bí học. Nhà huyền bí học chân chính không sợ hãi.

319. DK says it: the disciple “is all things”. This passing statement should be taken literally. It is a metaphysical truth and has immense practical utility.

319. Chân sư DK nói rõ điều đó: người đệ tử “là mọi sự”. Cần hiểu lời khẳng định thoáng qua này theo nghĩa đen. Đó là một chân lý siêu hình có giá trị thực tiễn vô cùng lớn.

320. The initiate realizes himself as a human being, a mystic, an occultist, a psychic and a disciple. He is all of these. He does not seek to protect himself by erecting artificial barriers. There is nothing he is not.

320. Điểm đạo đồ nhận biết mình là một con người, một nhà thần bí, một nhà huyền bí học, một người thông linh và một đệ tử. Y là tất cả những điều ấy. Y không tìm cách bảo vệ mình bằng việc dựng lên những rào cản giả tạo. Không có điều gì mà y không là.

321. The initiate has been through all manner of experiences and eventually becomes the master of these experiences. The Masters of the Wisdom have experienced the heights and depths of life and have won through. On the way to Mastership, one must be prepared to face all things—within oneself and within the world (only to find that they are the same).

321. Điểm đạo đồ đã trải qua mọi loại trải nghiệm và cuối cùng trở thành người làm chủ những trải nghiệm này. Các Chân sư Minh Triết đã trải nghiệm những đỉnh cao và vực sâu của cuộc sống và đã vượt qua tất cả. Trên con đường đạt đến quả vị Chân sư, mỗi người phải sẵn sàng đối diện với mọi điều—bên trong bản thân mình và trong thế giới (để rồi nhận ra rằng chúng là một).

3. The uselessness of past attitudes and dogmatic ways of looking at life and people (based usually on tradition and circumstance) when they separate him from his fellowmen.

3. Sự vô ích của những thái độ trong quá khứ và những cách nhìn giáo điều về cuộc sống và con người (thường dựa trên truyền thống và hoàn cảnh) khi chúng chia cách y với đồng loại.

322. The initiate discards much as he ascends. Old, outdated formulations have to go. They do not serve. They separate him from his fellowmen.

322. Điểm đạo đồ từ bỏ nhiều điều khi tiến lên. Những cách diễn đạt cũ kỹ, lỗi thời phải được loại bỏ. Chúng không giúp ích. Chúng chia cách y với đồng loại.

323. The initiate is rapidly overcoming the Great Heresy of Separateness. There is nothing good or evil in the world from which he feels himself separate, but of course, he has learned to overcome innate evil.

323. Điểm đạo đồ đang nhanh chóng vượt qua Đại Tà thuyết về tính chia rẽ. Không có điều thiện hay điều ác nào trong thế giới mà y cảm thấy mình tách biệt khỏi, nhưng dĩ nhiên, y đã học cách vượt qua điều ác cố hữu.

When he has really learnt these three things, he is initiate.

Khi đã thực sự học được ba điều này, y là điểm đạo đồ.

324. We will want to study these three factors with renewed care, for when they have been learnt, the one who learns “is initiate”.

324. Chúng ta hẳn sẽ muốn nghiên cứu lại ba yếu tố này một cách cẩn trọng hơn, vì khi đã học được chúng, người học “là điểm đạo đồ”.

a. the initiate shares all human tendencies

a. điểm đạo đồ có chung mọi khuynh hướng của con người

b. what is most feared and despised is strongly within the one who fears and despises; a man is all things and cannot separate himself from anything

b. điều mà người ta sợ hãi và khinh miệt nhất hiện diện mạnh mẽ trong chính người sợ hãi và khinh miệt; con người là tất cả mọi sự và không thể tách mình khỏi bất cứ điều gì

c. old, separative attitudes and perspectives have to go

c. những thái độ và quan điểm cũ mang tính chia rẽ phải được loại bỏ

325. I think a careful reading of this group instruction will reveal the richness of its content. There is much to be pondered and absorbed.

325. Tôi nghĩ rằng việc đọc kỹ huấn thị nhóm này sẽ cho thấy sự phong phú trong nội dung của nó. Có nhiều điều cần suy ngẫm và tiếp thu.

326. The Tibetan wants to see us in closer relation to the Ashram, and sooner than later, functioning as full members of the Ashram (whichever Ashram may be ‘ours’). The methods for achieving this closer affiliation are clearly given. We have to acknowledge them and practice them so that achievement may soon eventuate.

326. Chân sư Tây Tạng muốn thấy chúng ta có mối liên hệ mật thiết hơn với ashram, và sớm hoạt động như những thành viên đầy đủ của ashram (bất kể ashram nào là ‘của chúng ta’). Các phương pháp để đạt được mối liên kết mật thiết hơn này đã được trình bày rõ ràng. Chúng ta phải nhận biết và thực hành chúng để sớm đạt được thành tựu.

With Love and Many Blessings,

Với tình thương và nhiều phúc lành,

Michael, with gratitude for the assistance of all co-workers.

Michael, với lòng biết ơn sự hỗ trợ của tất cả các cộng sự.

16. PART IV – 16. PHẦN IV

commentary by Michael D. Robbins

bình giảng của Michael D. Robbins

As we study the various stages in discipleship through which all must pass, we shall discover that one of the things which happens is the irradiation of the daily life. This irradiation emanates from the world of meaning in which the disciple is learning to live consciously and always. One of the problems with which the Master is engaged in relation to His group of disciples is to teach them the deep significance of the familiar and also the importance of the truths which underlie all platitudes. This is perhaps the most difficult task of all because of the habitual reaction to the familiar and the need to do two things: Prove that the familiar veils an important reality and that by penetrating to the “world of meaning,” the disciple discovers that he can enter into the first stage of the period of preparation for accepted discipleship.

Khi nghiên cứu các giai đoạn khác nhau của địa vị đệ tử mà tất cả đều phải trải qua, chúng ta sẽ khám phá rằng một trong những điều xảy ra là sự tỏa sáng của đời sống hằng ngày. Sự tỏa sáng này phát ra từ Thế giới của ý nghĩa, nơi người đệ tử đang học cách sống một cách có ý thức và thường xuyên. Một trong những vấn đề mà Chân sư đang giải quyết trong mối liên hệ với nhóm đệ tử của Ngài là dạy họ thâm nghĩa của những điều quen thuộc, cũng như tầm quan trọng của những chân lý nằm sau mọi lời sáo ngữ. Đây có lẽ là nhiệm vụ khó khăn nhất, vì phản ứng theo thói quen trước những điều quen thuộc và vì cần làm hai việc: Chứng minh rằng những điều quen thuộc che phủ một thực tại quan trọng và rằng khi thâm nhập vào “Thế giới của ý nghĩa,”người đệ tử khám phá rằng mình có thể bước vào giai đoạn đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận.

1. We can understand irradiation as the permeating presence of soul energy--permeating through the personality and its three vehicles. It is a subtle matter; an intangible, extraordinary quality is present which is wanting in the average individual.

1. Chúng ta có thể thấu hiểu sự tỏa sáng là sự hiện diện thấm khắp của năng lượng linh hồn—thấm qua phàm ngã và ba hiện thể của nó. Đây là một vấn đề tinh tế; có sự hiện diện của một phẩm tính phi thường, vô hình, vốn thiếu vắng nơi người bình thường.

2. What does it mean to live in the “world of meaning”? It is surely a specific state of consciousness. Could we call this kind consciousness, “contextual consciousness” in which no perception is taken strictly at face value? Far more than the concrete mind is at work. In contextual consciousness all phenomena are related to noumena. All patterns presented to consciousness are related to archetypal patterns. The specific is seen within the context of the general, the part in relation to the whole.

2. Sống trong “Thế giới của ý nghĩa”hàm ý điều gì? Chắc chắn đó là một trạng thái tâm thức cụ thể. Liệu chúng ta có thể gọi loại tâm thức này là “tâm thức theo bối cảnh”, trong đó không một tri giác nào chỉ được hiểu theo vẻ ngoài? Ở đây, hoạt động vượt xa phạm vi của trí cụ thể. Trong tâm thức theo bối cảnh, mọi hiện tượng đều có liên hệ với những thực tại nằm sau chúng. Mọi mô hình xuất hiện trước tâm thức đều có liên hệ với những mô hình nguyên mẫu. Cái riêng được nhìn trong bối cảnh của cái chung, bộ phận được nhìn trong mối liên hệ với toàn thể.

3. The meaning of the familiar is customarily overlooked. The divine is “staring us in the face”, but we often fail to see it. We have become habituated to the familiar and have lost its meaning. Our awareness in relation to the familiar has become desensitized.

3. Ý nghĩa của những điều quen thuộc thường bị bỏ qua. Điều thiêng liêng đang “hiện rõ ngay trước mắt chúng ta”, nhưng chúng ta thường không nhìn thấy. Chúng ta đã quá quen với những điều quen thuộc và đánh mất ý nghĩa của chúng. Sự nhận biết của chúng ta đối với những điều quen thuộc đã trở nên chai lì.

4. As disciples we must learn to see everything with a ‘fresh eye’, with ‘spiritual innocence’.

4. Là đệ tử, chúng ta phải học cách nhìn mọi điều bằng một ‘cái nhìn mới mẻ’, với ‘sự hồn nhiên tinh thần’.

5. Platitudes are undervalued truths. Their ‘truth value’ has been worn away through habituation. What can remove the veils or obscurative scales of many years of inattentive perception? What can reveal the divine in the obvious? We can begin by adopting the attitude that (in relation to all perceptions) one is standing before a profound mystery; nothing is to be disrespected. All has its revelatory value.

5. Những lời sáo ngữ là những chân lý bị đánh giá thấp. ‘Giá trị chân lý’của chúng đã bị bào mòn do quá quen thuộc. Điều gì có thể gỡ bỏ những bức màn hay những lớp vảy che mờ do nhiều năm tri giác thiếu chú tâm tạo nên? Điều gì có thể làm hiển lộ điều thiêng liêng trong những gì hiển nhiên? Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc giữ thái độ rằng (đối với mọi tri giác) mình đang đứng trước một điều huyền nhiệm sâu xa; không có gì đáng bị xem thường. Mọi sự đều có giá trị mặc khải.

6. In this paragraph, we learn that two things are required of the one who would be an “accepted disciple”. First we have the power to prove that the familiar veils an important reality. This can be done, at first, by treating the familiar as if it were unfamiliar. We might “look again”, “listen again”, to see and hear what the familiar veils. Pausing over the familiar until it reveals its secret can be a startling experience. We see how often we gloss over the meaning behind and enveloping the familiar. We think we know what things are, but when we pause in the consideration of an object, for instance, many more associations enter the mind, and we learn to ‘re-vision’ the thing observed within its larger context. The one who will not pause to consider will not enter the world of meaning. Con-sideration, according to its etymology, references the stars—the sidereal world.

6. Trong đoạn này, chúng ta biết rằng có hai điều cần thiết đối với người muốn trở thành một “đệ tử được chấp nhận”. Trước hết, chúng ta có khả năng chứng minh rằng những điều quen thuộcche phủ một thực tại quan trọng. Ban đầu, có thể làm điều này bằng cách đối xử với những điều quen thuộc như thể chúng xa lạ. Chúng ta có thể “nhìn lại”, “lắng nghe lại”, để thấy và nghe những gì mà những điều quen thuộc che phủ. Dừng lại trước những điều quen thuộc cho đến khi chúng hé lộ bí mật có thể là một trải nghiệm gây sửng sốt. Chúng ta thấy mình thường lướt qua ý nghĩaẩn sau và bao trùm những điều quen thuộc đến mức nào. Chúng ta nghĩ mình biết sự vật là gì, nhưng chẳng hạn, khi dừng lại để suy xét một đối tượng, nhiều mối liên tưởng hơn đi vào thể trí, và chúng ta học cách ‘nhìn lại’sự vật đang quan sát trong bối cảnh rộng lớn hơn của nó. Người không chịu dừng lại để suy xétsẽ không bước vào Thế giới của ý nghĩa. Sự suy xét,xét theo từ nguyên, có liên hệ với các vì sao—thế giới tinh tú.

7. The Tibetan offers a most qualified statement: “by penetrating to the ‘world of meaning,’ the disciple discovers that he can enter into the first stage of the period of preparation for accepted discipleship. ” Not accepted discipleship; not the stage of preparation for accepted discipleship; but only the “first stage” of preparation for accepted discipleship. It would seem that disciples would want to learn much about the nature of meaning, as he would become an accepted disciple must have a relatively long experience functioning within the world of meaning before “acceptance”, technically understood, is possible.

7. Chân sư Tây Tạng đưa ra một phát biểu được giới hạn rất chặt chẽ: “khi thâm nhập vào ‘Thế giới của ý nghĩa,’người đệ tử khám phá rằng mình có thể bước vào giai đoạn đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận. ”Không phải địa vị đệ tử được chấp nhận; không phải giai đoạn chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận; mà chỉ là “giai đoạn đầu tiên”của việc chuẩn bị cho địa vị đệ tử được chấp nhận. Dường như các đệ tử hẳn sẽ muốn học hỏi nhiều về bản chất của ý nghĩa,vì người muốn trở thành đệ tử được chấp nhận phải có kinh nghiệm hoạt động tương đối lâu dài trong Thế giới của ý nghĩa trước khi “sự chấp nhận”, hiểu theo nghĩa chuyên môn, có thể xảy ra.

8. Why is the world of meaning so important to the accepted disciple? Perhaps because the Master and His Ashram are forever related to an all-embracing planetary context. They ever work in relation to the “larger planetary picture” and to even more expansive contexts. The accepted disciple is a member of the Ashram (though on its periphery), and as such, must learn to think in larger terms than heretofore. Parts much be seen in relation to wholes, or there will be improper structure to thought and its execution. The Master and the Ashram implement the Divine Plan. That which They externalize must be that which is divinely intended. All things must be seen in relation to an encompassing Plan and Purpose. The beginning of the understanding necessary for this kind of work occurs in the world of meaning, which is the antechamber to the world of significance (where Plan, and eventually, Purpose are revealed).

8. Tại sao Thế giới của ý nghĩa lại quan trọng đến thế đối với đệ tử được chấp nhận? Có lẽ vì Chân sư và ashram của Ngài luôn gắn liền với một bối cảnh hành tinh bao trùm tất cả. Các Ngài luôn làm việc trong mối liên hệ với “bức tranh hành tinh rộng lớn hơn”và với những bối cảnh còn rộng lớn hơn nữa. Đệ tử được chấp nhận là một thành viên của ashram (dù ở ngoại vi), và với tư cách ấy, phải học cách tư duy trong phạm vi rộng lớn hơn trước. Phải nhìn các bộ phận trong mối liên hệ với những toàn thể, nếu không tư tưởng và việc thực hiện tư tưởng ấy sẽ có cấu trúc không thích hợp. Chân sư và ashram thực hiện Thiên Cơ. Điều mà Các Ngài ngoại hiện phải là điều phù hợp với ý định thiêng liêng. Phải nhìn mọi sự trong mối liên hệ với một Thiên Cơ và Thiên Ý bao trùm. Sự thấu hiểu cần thiết cho loại công việc này bắt đầu trong Thế giới của ý nghĩa, vốn là tiền sảnh dẫn vào Thế giới của thâm nghĩa (nơi Thiên Cơ, và cuối cùng là Thiên Ý, được mặc khải).

9. Let us ask ourselves: “What is the greater context in which I understand all ‘presentations to consciousness’? Do I think in terms of humanity? In terms of our planet? In terms of the solar system and beyond (however theoretically)? What is the particular whole in relation to which I reference my thought?

9. Chúng ta hãy tự hỏi: “Đâu là bối cảnh rộng lớn hơn mà trong đó tôi thấu hiểu mọi ‘điều xuất hiện trước tâm thức’? Tôi có tư duy trong phạm vi nhân loại không? Trong phạm vi hành tinh chúng ta không? Trong phạm vi hệ mặt trời và xa hơn nữa không (dù chỉ trên lý thuyết)? Đâu là toàn thểcụ thể mà tôi lấy làm hệ quy chiếu cho tư tưởng của mình?

The first stage which we must study is that of “Little Chelaship. ” In dealing with this stage, as with them all, I would remind you that I am approaching the subject from the angle of what the Master has to do, and not from the angle of the disciple’s work. There has been so much written on that subject from the angle of the disciple and so many books put out on the subject that familiarity with the theme militates against true apprehension. The effort to understand has been focussed upon the disciple and his problems of character and personality.

Giai đoạn đầu tiên mà chúng ta phải nghiên cứu là “Địa vị tiểu đệ tử. ” Khi bàn về giai đoạn này, cũng như tất cả các giai đoạn khác, Tôi muốn nhắc các bạn rằng Tôi đang tiếp cận đề tài từ góc độ những gì Chân sư phải làm, chứ không từ góc độ công việc của người đệ tử. Đã có quá nhiều điều được viết về đề tài ấy từ góc độ người đệ tử và quá nhiều sách được xuất bản về đề tài này, đến nỗi sự quen thuộc với chủ đề cản trở sự lĩnh hội chân thực. Nỗ lực thấu hiểu đã tập trung vào người đệ tử cùng những vấn đề về tính cách và phàm ngã của y.

10. Many readers may imagine that Master DK is repetitious in His Teaching. In fact, if it appears that there is repetition, the reader must pay greater attention to ‘the angle of presentation’. Is the apparently repeated topic being presented from the same angle as before? What is the context of the presentation—an individual, group, pan-human, or planetary context? There are subtleties to be observed if one is to gather the most from apparent repetitions.

10. Nhiều độc giả có thể cho rằng Chân sư DK lặp đi lặp lại trong Giáo Huấn của Ngài. Thực ra, nếu có vẻ như xuất hiện sự lặp lại, người đọc phải chú ý hơn đến ‘góc độ trình bày’. Chủ đề có vẻ lặp lại ấy có được trình bày từ cùng một góc độ như trước không? Bối cảnh của phần trình bày là gì—bối cảnh cá nhân, nhóm, toàn nhân loại hay hành tinh? Có những điều tinh tế cần nhận ra nếu muốn thu nhận được nhiều nhất từ những sự lặp lại bề ngoài ấy.

11. In this case, the discussion of “Little Chelaship” is presented from the Master’s point of view. One of the values of this kind of presentation is that it is decentralizing. Many disciples think ever in terms of themselves. This presentation forces them to attempt to understand from the Master’s perspective.

11. Trong trường hợp này, phần thảo luận về “Địa vị tiểu đệ tử”được trình bày từ quan điểm của Chân sư. Một trong những giá trị của cách trình bày này là nó giúp phi tập trung vào bản thân. Nhiều đệ tử luôn suy nghĩ xoay quanh chính mình. Cách trình bày này buộc họ cố gắng thấu hiểu từ góc nhìn của Chân sư.

12. Again, an important theme is emphasized: familiarity militates against true apprehension. Familiarity and mindlessness go hand in hand. One is reminded of one of the points in the Buddha’s Noble Eightfold Path—”Right Mindfulness”. Sanat Kumara is quoted in “The Crest Jewel of Discrimination” by Sankaracarya. He is reputed to have said, “Inadvertence is equivalent to death”.

12. Một lần nữa, một chủ đề quan trọng được nhấn mạnh: sự quen thuộc cản trở sự lĩnh hội chân thực. Sự quen thuộc và sự thiếu chú tâm đi đôi với nhau. Điều này gợi nhớ đến một chi phần trong Bát Chánh Đạo của Đức Phật—”Chánh Niệm”. Lời của Sanat Kumara được trích trong “Bảo Ngọc Tối Thượng của Sự Phân Biện”của Sankaracarya. Người ta cho rằng Ngài đã nói: “Sự lơ đễnh tương đương với cái chết”.

13. So we are entering this important matter of disciplic development from quite a different perspective. Our context is thus enlarged, and the study should become, therefore, more meaningful.

13. Vì vậy, chúng ta đang đi vào vấn đề quan trọng về sự phát triển của đệ tử từ một góc nhìn hoàn toàn khác. Nhờ đó, bối cảnhcủa chúng ta được mở rộng, và do vậy, việc nghiên cứu hẳn sẽ trở nên có ý nghĩahơn.

[710]

[710]

It will not be possible for me to indicate the work in detail. I intend only to show you as far as is possible how a Master prepares the probationer to step from off the Probationary Path on to the Path of Discipleship. At this point, I would like to point out that I shall be dealing with a period covering the stages of discipleship from the first stage to that of adept. At the fourth stage, the disciple emerges out of his Master’s group and becomes what is esoterically called “a fixed aspect of the Hierarchy. ” This is a phrase which is necessarily quite meaningless to you.

Tôi sẽ không thể trình bày công việc này một cách chi tiết. Tôi chỉ có ý định chỉ cho các bạn thấy, trong chừng mực có thể, cách một Chân sư chuẩn bị cho người dự bị bước từ Con Đường Dự Bị sang Con Đường Đệ Tử. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi sẽ bàn về một thời kỳ bao gồm các giai đoạn của địa vị đệ tử, từ giai đoạn đầu tiên đến quả vị chân sư. Ở giai đoạn thứ tư, người đệ tử ra khỏi nhóm của Chân sư mình và trở thành điều mà huyền bí học gọi là “một phương diện cố định của Thánh đoàn. ” Đây là một cụm từ tất nhiên hoàn toàn vô nghĩa đối với các bạn.

14. Little Chelaship may be considered a stage of probationary discipleship. During this stage, the probationary disciple is really an aspirant, and not necessarily a “true aspirant” as DK later defines that term. Little Chelaship (though associated correspondentially with the first initiation) probably does not necessitate the taking of that initiation. We will proceed carefully, however, and attempt to draw the most reasonable conclusions. Master DK, probably intentionally, refrains from being too concrete when speaking of these matters. He seeks to avoid the ‘hardening’ of the concrete mind with its endless possibilities for rigid classification.

14. Có thể xem Địa vị tiểu đệ tử là một giai đoạn của địa vị đệ tử dự bị. Trong giai đoạn này, đệ tử dự bị thực sự là một người chí nguyện, và chưa chắc là một “người chí nguyện chân chính”theo định nghĩa mà Chân sư DK đưa ra sau này cho thuật ngữ ấy. Địa vị tiểu đệ tử (dù có mối liên hệ tương ứng với lần điểm đạo thứ nhất) có lẽ không đòi hỏi phải trải qua lần điểm đạo ấy. Tuy nhiên, chúng ta sẽ tiến hành thận trọng và cố gắng rút ra những kết luận hợp lý nhất. Có lẽ Chân sư DK cố ý tránh quá cụ thể khi nói về những vấn đề này. Ngài tìm cách tránh sự ‘xơ cứng’của trí cụ thể với vô vàn khả năng phân loại cứng nhắc của nó.

15. In the paragraph above Master DK is referencing a long period of disciplic development—a period perhaps of twenty or even thirty incarnations. On the other hand, for the soul that is truly intent, it may be a period of perhaps only ten incarnations.

15. Trong đoạn trên, Chân sư DK đang đề cập đến một thời kỳ phát triển lâu dài của đệ tử—một thời kỳ có lẽ kéo dài hai mươi hoặc thậm chí ba mươi kiếp lâm phàm. Mặt khác, đối với linh hồn thực sự quyết tâm, đó có thể là một thời kỳ có lẽ chỉ gồm mười kiếp lâm phàm.

16. The fourth stage of discipleship here referenced is that of Chela on the Thread. Such a chela is definitely a peripheral member of Hierarchy. The chela has mounted the Fixed Cross and upon that Cross has proven himself. Thus He can become “a fixed aspect of the Hierarchy”. He can be trusted not to deviate (as so many may and do) before the “Temptation in the Desert” is passed.

16. Giai đoạn thứ tư của địa vị đệ tử được nhắc đến ở đây là giai đoạn Đệ tử trên đường dây. Một đệ tử như vậy chắc chắn là thành viên ở ngoại vi của Thánh đoàn. Người đệ tử đã bước lên Thập Giá Cố Định và chứng tỏ bản thân trên Thập Giá ấy. Nhờ đó, y có thể trở thành “một phương diện cố định của Thánh đoàn”. Có thể tin rằng y sẽ không chệch hướng (như rất nhiều người có thể và thực sự đã làm) trước khi vượt qua “Sự Cám Dỗ trong Hoang Mạc”.

He comes then under the influence of Shamballa and the mode of preparing people for association with that first major centre is very different to that of preparing them for participation in the work of the centre which we call the Hierarchy. The one involves the development of love and of group consciousness; the other involves the unfoldment of the will and the attainment of the stage to which Patanjali gives the name of “isolated unity. ” This is a phrase which is quite meaningless to any one below the degree of the third initiation. In this discussion, I shall not be dealing with preparation for the various initiations and their specific differences. I shall be dealing with the growth of what is called “ashramic intimacy,” with the approach of the disciple to the world of souls and to the unfoldment of his consciousness in relation to the Hierarchy. I shall be concerned with his growth in sensitivity and his subsequent and consequent growth in creativity—not the creativity of form as much as the creativity of vibration, its impact upon the world of men and the consequent later appearance of responsive organisms, in contra-distinction to created forms. I would ask you to reflect upon this thought.

Bấy giờ, y chịu ảnh hưởng của Shamballa, và phương thức chuẩn bị cho con người liên kết với trung tâm lớn thứ nhất ấy rất khác với phương thức chuẩn bị cho họ tham gia công việc của trung tâm mà chúng ta gọi là Thánh đoàn. Một phương thức bao hàm sự phát triển tình thương và tâm thức nhóm; phương thức kia bao hàm sự khai mở ý chí và việc đạt đến giai đoạn mà Patanjali gọi là “Hợp Nhất Cô Lập. ”Đây là một cụm từ hoàn toàn vô nghĩa đối với bất cứ ai chưa đạt cấp độ của lần điểm đạo thứ ba. Trong cuộc thảo luận này, Tôi sẽ không bàn về việc chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo khác nhau và những khác biệt cụ thể giữa chúng. Tôi sẽ bàn về sự tăng trưởng của điều được gọi là “sự thân mật với ashram,”về sự tiếp cận của người đệ tử với thế giới linh hồn và sự khai mở tâm thức của y trong mối liên hệ với Thánh đoàn. Tôi sẽ quan tâm đến sự tăng trưởng tính nhạy cảm của y, cùng sự tăng trưởng tiếp theo và do đó mà có trong tính sáng tạo—không thiên về tính sáng tạo hình tướng bằng tính sáng tạo rung động,tác động của nó lên thế giới loài người và sự xuất hiện sau đó, như một hệ quả, của những cơ cấu hữu cơ có khả năng đáp ứng, khác với những hình tướng được tạo ra. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về tư tưởng này.

17. When does the chela come under the influence of Shamballa? Perhaps, to some small extent, in preparation for the third initiation, at which point the monadic aspect is activated and consciously registered.

17. Khi nào người đệ tử chịu ảnh hưởng của Shamballa? Có lẽ, ở một mức độ nhỏ, trong khi chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba, thời điểm phương diện chân thần được kích hoạt và ghi nhận một cách có ý thức.

18. Two modes of preparation are here discussed. Theoretically we can discuss the second; practically, we are interested in the first—that of preparation for participation in Hierarchy. Love and group consciousness can be equated; much work still remains to be accomplished along these lines by the average disciple today. It is unsafe to approach Shamballa before love and group consciousness have been instituted.

18. Ở đây có hai phương thức chuẩn bị được bàn đến. Về mặt lý thuyết,chúng ta có thể thảo luận phương thức thứ hai; về mặt thực hành, chúng ta quan tâm đến phương thức thứ nhất—chuẩn bị để tham gia Thánh đoàn. Có thể xem tình thương và tâm thức nhóm là tương đương; người đệ tử trung bình ngày nay vẫn còn nhiều việc phải hoàn thành theo những hướng này. Tiếp cận Shamballa trước khi tình thương và tâm thức nhóm được thiết lập là điều không an toàn.

19. The unfoldment of the will and the attainment of “isolated unity” are closely related. The one who knows that “the macrocosmic Whole is all there is” has attained isolated unity. This advanced state can only be approach when the heart is open. I would recommend the meditation in DINA II, 660-661, on the qualities of the heart center. When the ‘curriculum of the heart’ is fulfilled, the initiate is prepared to begin to grasp the nature of isolated unity. One must be a Master to grasp this realization in real fullness.

19. Sự khai mở ý chí và việc đạt đến “Hợp Nhất Cô Lập”có mối liên hệ chặt chẽ. Người biếtrằng “Toàn Thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu.”đã đạt đến Hợp Nhất Cô Lập. Chỉ có thể tiếp cận trạng thái tiến bộ này khi trái tim rộng mở. Tôi muốn giới thiệu bài thiền trong DINA II, 660-661, về những phẩm tính của trung tâm tim. Khi ‘chương trình học của trái tim’được hoàn tất, điểm đạo đồ sẵn sàng bắt đầu nắm bắt bản chất của Hợp Nhất Cô Lập. Phải là một Chân sư mới có thể nắm bắt sự chứng nghiệm này một cách thực sự trọn vẹn.

20. DK narrows His consideration, telling us what He will and will not do. His theme is “ashramic intimacy” and the disciple’s approach to the “world of souls”. The ensuing discussion is related to the unfoldment of ashramic and hierarchical consciousness.

20. Chân sư DK thu hẹp phạm vi xem xét của Ngài, cho chúng ta biết Ngài sẽ làm gì và không làm gì. Chủ đề của Ngài là “sự thân mật với ashram”và sự tiếp cận của người đệ tử với “thế giới linh hồn”. Phần thảo luận tiếp theo liên quan đến sự khai mở tâm thức ashram và tâm thức Thánh đoàn.

21. The term “ashramic intimacy” is arresting. It suggests that many barriers which prevent communion with the Ashram are out of the way. As with all states of intimacy, daring and risk are involved; fear must be suspended. It is clear that before such intimacy becomes factual, there must exist considerable trust in both directions—from the disciple towards the Ashram, and from the Ashram towards the disciple. Can one imagine real intimacy if trust does not exist?

21. Thuật ngữ “sự thân mật với ashram”gây chú ý. Nó gợi ý rằng nhiều rào cản ngăn trở sự hiệp thông với ashram đã được loại bỏ. Cũng như mọi trạng thái thân mật, ở đây cần sự táo bạo và chấp nhận rủi ro; phải gác lại nỗi sợ. Rõ ràng, trước khi sự thân mật như vậy trở thành hiện thực, phải có lòng tinđáng kể theo cả hai chiều—từ người đệ tử hướng tới ashram, và từ ashram hướng tới người đệ tử. Liệu có thể hình dung sự thân mật thực sự nếu không có lòng tin?

22. DK discusses the growth of sensitivity. It is, we remember, insensitivity which robs the familiar of its revelatory value.

22. Chân sư DK bàn về sự tăng trưởng tính nhạy cảm. Chúng ta nhớ rằng chính sự thiếu nhạy cảmtước đi giá trị mặc khải của những điều quen thuộc.

23. Two types of creativity are discussed: “creativity of form” and “creativity of vibration”. With the first kind of creativity we are rather familiar. The creator brings forth new forms and presents them to the world. But what is “creativity of vibration”, leading to the appearance of “responsive organisms” rather than “created forms”?

23. Hai loại tính sáng tạo được bàn đến là: “tính sáng tạo hình tướng”và “tính sáng tạo rung động”. Chúng ta khá quen thuộc với loại tính sáng tạo thứ nhất. Người sáng tạo tạo ra những hình tướng mới và đưa chúng đến với thế giới. Nhưng “tính sáng tạo rung động”là gì, mà lại dẫn đến sự xuất hiện của “những cơ cấu hữu cơ có khả năng đáp ứng”thay vì “những hình tướng được tạo ra”?

24. Perhaps it is the capacity to skillfully alter vibration so that it conforms to the vibratory pattern which must be according to the Plan and Purpose. A truly responsive organism is characterized by much sensitivity between its parts and by a great sensitivity of its organic wholeness to other wholes. Unless intra-systemic vibrations are handled skillfully, there will be dissonance and lack of cohesion, and no real intra-organismic sensitivity. The kind of sensitivity of which we speak relies upon harmony; it is creativity of vibration which can create this harmony and produce those internal relations which allow “responsive organisms” to exist.

24. Có lẽ đó là khả năng thay đổi rung động một cách khéo léođể nó phù hợp với mô hình rung động phải hiện hữutheo Thiên Cơ và Thiên Ý. Một cơ cấu hữu cơ thực sự có khả năng đáp ứng mang đặc trưng là tính nhạy cảm cao giữa các bộ phận và tính nhạy cảm rất lớn của toàn thể hữu cơ ấy đối với những toàn thể khác. Nếu không xử lý khéo léo những rung động bên trong hệ thống, sẽ có sự bất hòa và thiếu cố kết, và không có tính nhạy cảm thực sự bên trong cơ cấu hữu cơ. Loại tính nhạy cảm mà chúng ta đang nói đến dựa vào sự hài hòa; chính tính sáng tạo rung động có thể tạo nên sự hài hòa này và tạo ra những mối liên hệ nội tại cho phép “những cơ cấu hữu cơ có khả năng đáp ứng”hiện hữu.

25. So, we are asked to become creative in the wielding of vibration—to selectively create the vibrations which we will radiate and choose the vibrations to which we will respond. When this type of creativity is operating correctly, the group organisms in which we participate will be externally and subtly healthy, and both internal and external responsiveness will reach a high stage of development.

25. Vì vậy, chúng ta được yêu cầu trở nên sáng tạo trong việc vận dụng rung động—tạo ra một cách có chọn lọc những rung động mà chúng ta sẽ phát ra và lựa chọn những rung động mà chúng ta sẽ đáp ứng. Khi loại tính sáng tạo này hoạt động đúng đắn, những cơ cấu nhóm mà chúng ta tham gia sẽ lành mạnh cả về mặt bên ngoài lẫn mặt vi tế, và khả năng đáp ứng cả bên trong lẫn bên ngoài sẽ đạt đến một giai đoạn phát triển cao.

26. Let us wield vibration creatively and in line with the greater Good. Let us pattern vibration creatively within any larger context in which we find ourselves a participant.

26. Chúng ta hãy vận dụng rung động một cách sáng tạo và phù hợp với điều Thiện lớn lao hơn. Chúng ta hãy định hình rung động một cách sáng tạo trong bất kỳ bối cảnh rộng lớn hơn nào mà mình tham gia.

27. Creativity of vibration is subtler affair than creativity of form. It is far less tangible, but utterly necessary if responsive organisms are to be created.

27. Tính sáng tạo rung động là một vấn đề tinh tế hơn tính sáng tạo hình tướng. Nó ít hữu hình hơn nhiều, nhưng hoàn toàn thiết yếu để tạo ra những cơ cấu hữu cơ có khả năng đáp ứng.

This growth in sensitivity is difficult to understand. The members of a Master’s group and of His Ashram have to become increasingly sensitive—sensitive to the Master and to His pledged workers. You cannot be made sensitive or be rendered sensitive by some type of process or ordered training. Men and women are sensitive, only they do not know it, being so preoccupied with outer matters, with form life and objective things.

Sự tăng trưởng về tính nhạy cảm này thật khó thấu hiểu. Các thành viên trong nhóm của một Chân sư và trong ashram của Ngài phải ngày càng trở nên nhạy cảm hơn—nhạy cảm với Chân sư và với những người hoạt động đã cam kết của Ngài. Không một loại tiến trình hay sự huấn luyện có hệ thống nào có thể làm cho các bạn trở nên nhạy cảm. Những người nam và nữ vốn nhạy cảm, chỉ có điều họ không biết điều đó, vì quá bận tâm đến những vấn đề bên ngoài, đời sống hình tướng và những sự vật khách quan.

28. This sensitivity is required if there is to be group cohesion. An Ashram is a cohesive spiritual organism.

28. Sự nhạy cảm này là điều cần thiết để có sự cố kết nhóm. Một ashram là một cơ thể tinh thần có tính cố kết.

29. Have we questioned our own sensitivity to the Master and to His pledged workers? This can be done in ‘quiet reflection.

29. Chúng ta đã tự hỏi về sự nhạy cảm của mình đối với Chân sư và những người hoạt động đã cam kết của Ngài chưa? Có thể làm điều này trong sự ‘suy ngẫm tĩnh lặng.

30. An important point is brought forward. Training, per se, does not produce sensitivity. Perhaps, however, it may help us remove that which stands in the way of our innate sensitivity.

30. Một điểm quan trọng được nêu ra. Chính sự huấn luyện không tạo ra tính nhạy cảm. Tuy nhiên, có lẽ nó có thể giúp chúng ta loại bỏ những gì cản trở tính nhạy cảm bẩm sinh của chúng ta.

31. It is reassuring, is it not, to realize that we are inherently sensitive. It is our outer preoccupations which prevent us from utilizing the sensitivity of which we are already possessed.

31. Thật yên tâm khi nhận ra rằng chúng ta vốn đã nhạy cảm, phải không? Chính những mối bận tâm bên ngoài ngăn cản chúng ta sử dụng tính nhạy cảm mà chúng ta đã có.

32. The obvious question for us is, “with what are we outwardly preoccupied”. Preoccupation is of the nature of maya; naturally, when we are caught in the swirl of habitual activity we do not notice that it is habitual and a deterrent to sensitivity.

32. Câu hỏi hiển nhiên đối với chúng ta là, “chúng ta đang bận tâm đến điều gì ở bên ngoài”. Sự bận tâm mang bản chất của ảo lực; dĩ nhiên, khi bị cuốn vào vòng xoáy của hoạt động theo thói quen, chúng ta không nhận thấy rằng đó là thói quen và là một trở ngại đối với tính nhạy cảm.

33. If we do find ourselves doing something in a rather obsessive manner which, propelled by its own momentum, refuses to stop, we may have detected a pattern which militates against sensitivity.

33. Nếu quả thật chúng ta nhận thấy mình đang làm một việc gì đó theo cách khá ám ảnh, mà do động lượng của chính nó thúc đẩy nên cứ tiếp diễn không chịu dừng lại, thì có thể chúng ta đã phát hiện một mô hình chống lại tính nhạy cảm.

34. Preoccupation is a matter of ‘action at the periphery’; it is, in a way, a loss of center.

34. Sự bận tâm là vấn đề ‘hoạt động ở ngoại vi’; theo một nghĩa nào đó, đó là sự đánh mất trung tâm.

Let me put it this way: What you say to yourself and to others—through your spoken words or your life—is so noisy that it is not easy to be what you are and to be recognised as a [711] spiritual being. The Master is guided by what He knows of you in your quiet moments of aspiration, by what you have demonstrated for years to be your fixed life tendency and by the manner in which you react at moments of crisis or tension. The task of the Master is to stimulate the disciple to be at all times what He knows him to be at his highest times. That is a simple and almost childish way of putting it but it serves to express the general idea.

Để Tôi diễn đạt thế này: Những gì các bạn nói với chính mình và với người khác—qua lời nói hay cuộc sống của các bạn—ồn ào đến mức các bạn khó sống đúng với con người thật của mình và khó được nhận biết là một [711] sinh linh tinh thần. Chân sư dựa vào những gì Ngài biết về các bạn trong những khoảnh khắc khát vọng tĩnh lặng, vào những gì các bạn đã thể hiện qua nhiều năm như khuynh hướng sống ổn định của mình, và vào cách các bạn phản ứng trong những lúc khủng hoảng hay căng thẳng. Nhiệm vụ của Chân sư là kích thích đệ tử để vào mọi lúc, y đều sống đúng với con người mà Ngài biết y vốn là trong những thời điểm cao nhất của y. Đó là cách diễn đạt đơn giản và gần như trẻ con, nhưng cũng giúp diễn tả ý tưởng chung.

35. The Master speaks directly of our noisiness. Words are often noisy, but a life-as-lived, may be noisy as well. Apparently we are putting forth many discordant vibrations of considerable amplitude; these vibrations act as a kind of barrier between what we really are and what we seem to be. The issue discussed here is one of transparency—a state which arises through the right kind of quietude.

35. Chân sư nói thẳng về sự ồn ào của chúng ta. Lời nói thường ồn ào, nhưng cách chúng ta sống cũng có thể ồn ào như vậy. Dường như chúng ta đang phát ra nhiều rung động bất hòa với biên độ đáng kể; những rung động này tạo thành một loại rào cản giữa con người thật mà chúng ta là và con người mà chúng ta có vẻ là. Vấn đề được bàn ở đây là tính trong suốt—một trạng thái nảy sinh từ sự tĩnh lặng đúng cách.

36. How are we known? Certainly not by what we seem to be! Our fellow human beings may ‘know’ us in this rather indirect manner, but the Master (through deep love) has achieved the power of intimate comprehension and knows us as we are.

36. Người khác biết chúng ta như thế nào? Chắc chắn không phải qua con người mà chúng ta có vẻ là! Những người đồng loại có thể ‘biết’ chúng ta theo cách khá gián tiếp này, nhưng Chân sư, nhờ tình thương sâu sắc, đã đạt được năng lực thấu hiểu sâu tận và biết chúng ta đúng như con người thật của chúng ta.

37. He sees us at our internal ‘best’ and is not dismayed by our outer and fallible demonstrations which will, one day, subside.

37. Ngài nhìn thấy chúng ta ở trạng thái nội tâm ‘tốt đẹp nhất’ và không nản lòng trước những biểu hiện sai sót bên ngoài của chúng ta, vốn một ngày nào đó sẽ lắng xuống.

38. He knows us according to our “fixed life tendency”. We see here the need to become the “one-pointed disciple”. A constantly deviating disciple is still far from the goal.

38. Ngài biết chúng ta qua “khuynh hướng sống ổn định”. Ở đây, chúng ta thấy sự cần thiết phải trở thành “người đệ tử nhất tâm”. Một đệ tử liên tục chệch hướng vẫn còn cách xa mục tiêu.

39. As well, when crises and tensions emerge, what will we do? How will we respond? Such moments are testing moments, and that which is deeply recessed in us will emerge—for better or worse. The Master will see these emergences.

39. Ngoài ra, khi những khủng hoảng và căng thẳng xuất hiện, chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ đáp ứng như thế nào? Những lúc như vậy là những thời điểm thử thách, và những gì ẩn sâu trong chúng ta sẽ bộc lộ—dù tốt hay xấu. Chân sư sẽ nhìn thấy những điều bộc lộ ấy.

40. When, at all times, we can be what we are at our “highest times”, the Master’s work with us will have been largely accomplished. Obviously, this is everyone’s task. We know what we are when “at our best”; we know as well the constant deviations from this “best”, and perhaps, what brings on these deviations. The Master works with us wisely, but the lion’s share of the work is our own, under the guidance of our Solar Angel.

40. Khi vào mọi lúc, chúng ta có thể sống đúng với con người của mình trong “những thời điểm cao nhất của mình”, thì công việc của Chân sư với chúng ta đã phần lớn hoàn thành. Hiển nhiên, đây là nhiệm vụ của mọi người. Chúng ta biết mình là người như thế nào khi “ở trạng thái tốt đẹp nhất”; chúng ta cũng biết những lần liên tục chệch khỏi trạng thái “tốt đẹp nhất” này, và có lẽ biết cả điều gì gây ra những lệch lạc ấy. Chân sư làm việc với chúng ta một cách minh triết, nhưng phần lớn của công việc là do chính chúng ta thực hiện, dưới sự hướng dẫn của Thái dương Thiên Thần của chúng ta.

A Master does this because the need of the world for decentralised, forward-looking, loving and intelligent workers is so great, particularly at this time. Many have reached the point where they may become sensitive if the loud assertions of personality are dimmed and the light of the soul is permitted to pour through. Then the Master can be known and contacted.

Một Chân sư làm điều này vì thế giới rất cần những người hoạt động phi tập trung vào bản thân, hướng tới tương lai, đầy tình thương và thông minh, đặc biệt vào lúc này. Nhiều người đã đạt đến điểm mà họ có thể trở nên nhạy cảm nếu những lời khẳng định ồn ào của phàm ngã dịu xuống và ánh sáng của linh hồn có thể tuôn chảy qua. Khi ấy, họ có thể biết và tiếp xúc với Chân sư.

41. Why should the Master bother with our training?—a rather small matter it would seem.

41. Tại sao Chân sư phải bận tâm đến việc huấn luyện chúng ta?—một việc có vẻ khá nhỏ nhặt.

42. World need is so great that He must. He is evoking our best. Our best is stored within our causal body. We can see why causal consciousness is so necessary. In such consciousness we are aligned with our best and highest, and can express them.

42. Nhu cầu của thế giới lớn đến mức Ngài phải làm như vậy. Ngài đang khơi dậy những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta. Những gì tốt đẹp nhất của chúng ta được lưu giữ trong thể nguyên nhân. Chúng ta có thể thấy tại sao tâm thức nguyên nhân lại cần thiết đến vậy. Trong tâm thức ấy, chúng ta chỉnh hợp với những gì tốt đẹp nhất và cao nhất của mình, và có thể biểu lộ chúng.

43. A close study of the requirements above will show that personality assertions are related to the realm of sound, and soul presence to the realm of light. Indeed, the personality is, generically, an example of the third aspect of divinity (associated with sound), and the lighted soul of the second.

43. Nghiên cứu kỹ những yêu cầu trên sẽ cho thấy rằng những lời khẳng định của phàm ngã liên quan đến lĩnh vực âm thanh, còn sự hiện diện của linh hồn liên quan đến lĩnh vực ánh sáng. Thật vậy, xét về loại hình, phàm ngã là một ví dụ về phương diện thứ ba của thiên tính, gắn với âm thanh, còn linh hồn tỏa sáng là ví dụ về phương diện thứ hai.

44. What is required of us is a kind of ‘fade out/fade in’—what is called in the film industry, a “cross-fade”. The second ray is the ray of quietude; the third, the ray of sound, and often, when unregulated, of ‘loud’ speech and thought. Outer sounds must fade out so the inner light may fade in.

44. Điều chúng ta cần thực hiện là một kiểu ‘mờ dần/hiện dần’—điều mà ngành điện ảnh gọi là “chuyển cảnh hòa tan”. Cung hai là cung của sự tĩnh lặng; cung ba là cung của âm thanh, và thường là cung của lời nói cùng tư tưởng ‘ồn ào’ khi không được điều tiết. Âm thanh bên ngoài phải lắng dần để ánh sáng bên trong có thể hiện dần.

45. The prescription for contacting the Master is simple and clear: less noise.

45. Phương cách để tiếp xúc với Chân sư thật đơn giản và rõ ràng: bớt ồn ào.

When you can get away from yourselves and your personal reactions, your own interpretations, and your personal demands, you will discover for yourselves how and in what manner the Master is seeking to impress you and the group with which you may be affiliated. You will become sensitive to that impression. You can then facilitate (as it is called) the activity of the Master by a profound and deep interest in the esoteric life to the exclusion of your own and also of the Master’s individuality. There are many ways which can then be revealed which will aid the interplay between you, the disciple, and the Master.

Khi các bạn có thể thoát khỏi sự vướng bận vào bản thân cùng những phản ứng cá nhân, những cách diễn giải của riêng mình và những đòi hỏi cá nhân, các bạn sẽ tự khám phá cách thức Chân sư đang tìm cách truyền ấn tượng đến các bạn và nhóm mà các bạn có thể có liên hệ. Các bạn sẽ trở nên nhạy cảm với ấn tượng ấy. Khi ấy, các bạn có thể tạo thuận lợi, như người ta thường gọi, cho hoạt động của Chân sư bằng sự quan tâm sâu xa và sâu sắc đến đời sống nội môn, đến mức không còn chú tâm đến cá tính riêng của mình và cả cá tính riêng của Chân sưnữa. Khi ấy, nhiều cách thức có thể được tiết lộ để hỗ trợ sự tương tác giữa các bạn, người đệ tử, và Chân sư.

46. We are to step back from the personality; we are to ‘get away from ourselves’. Apparently our preoccupations are shutting the Master out—not to mention the soul.

46. Chúng ta cần lùi lại khỏi phàm ngã; chúng ta cần ‘thoát khỏi sự vướng bận vào bản thân’. Dường như những mối bận tâm của chúng ta đang ngăn Chân sư đến với chúng ta—chưa kể đến linh hồn.

47. Master DK is asking for ‘depersonalization’, decentralization—a lessening of our preoccupation with the outer man. If we can succeed, the sensitivity we already have will make itself apparent.

47. Chân sư DK đang yêu cầu ‘thoát khỏi sự chi phối của phàm ngã’, phi tập trung vào bản thân—giảm bớt sự bận tâm đến con người bên ngoài. Nếu chúng ta có thể thành công, tính nhạy cảm mà chúng ta đã có sẽ tự bộc lộ.

48. Once that self-veiled sensitivity emerges we can assist the Master through our profound and deep interest in the esoteric life. This interest is to go forward in such a way that our own individuality and even that of the Master is of dwindling interest. Let us pause to ask, “Is this the case for us?”

48. Một khi tính nhạy cảm do chính mình che lấp ấy xuất hiện, chúng ta có thể trợ giúp Chân sư qua sự quan tâm sâu xa và sâu sắc đến đời sống nội môn. Sự quan tâm này phải phát triển đến mức chúng ta ngày càng ít chú tâm đến cá tính riêng của mình và thậm chí cả cá tính riêng của Chân sư. Chúng ta hãy dừng lại để tự hỏi, “Điều này có đúng với chúng ta không?”

49. Of course “the esoteric life” here referenced is not merely esoteric study. It is an attitude of deep and subtle responsiveness towards all occurrences, inner and outer. Such a life can only be pursued within an ‘internal quietude’ which persists in the midst of surface noise.

49. Dĩ nhiên, “đời sống nội môn” được nói đến ở đây không chỉ là việc nghiên cứu nội môn. Đó là một thái độ đáp ứng sâu sắc và tinh tế đối với mọi sự việc xảy ra, cả bên trong lẫn bên ngoài. Chỉ có thể theo đuổi một đời sống như vậy trong sự ‘tĩnh lặng nội tâm’ vẫn duy trì giữa tiếng ồn trên bề mặt.

50. DK seems to be hinting at certain mysterious revelations which emerge in the midst of internal quietude, while deeply and profoundly living the esoteric life. These revelations are usually shut out by our self-generated surface noise.

50. Dường như Chân sư DK đang gợi ý về những sự mặc khải huyền nhiệm nhất định xuất hiện trong sự tĩnh lặng nội tâm, khi sống đời sống nội môn một cách sâu xa và sâu sắc. Những sự mặc khải này thường bị tiếng ồn trên bề mặt do chính chúng ta tạo ra ngăn chặn.

51. The Master will not tell us how the interplay between us and Him is to be facilitated. We are to learn of these things in the quiet, away from the noise of our lower self.

51. Chân sư sẽ không nói cho chúng ta biết cách tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa chúng ta và Ngài. Chúng ta cần học biết những điều này trong sự tĩnh lặng, tránh xa tiếng ồn của phàm ngã.

52. I am reminded of one of DK’s important counsels from TWM: “Keep silence and the light will enter in. ”

52. Tôi nhớ đến một trong những lời khuyên quan trọng của Chân sư DK trong Luận về Chánh Thuật: “Hãy giữ im lặng và ánh sáng sẽ đi vào. ”

As all the rays are the subrays of the second ray, we shall be primarily concerned with the second ray modes of working with disciples; they form the basis of all the other techniques. The differences which may appear lie in the application of processes according to ray type and the utilisation of emphasis upon certain centres. Again, I would ask you to ponder on this phrase because it contains much information for those who can bring the light of the intuition to bear upon it. I shall be dealing with the relation of a Master and His group to the individual disciple and not so much with the attitudes and procedures of the disciple. This, you will note is a somewhat new slant.

Vì mọi cung đều là những cung phụ của cung hai, chúng ta sẽ chủ yếu quan tâm đến các phương thức làm việc với đệ tử theo cung hai; chúng tạo thành nền tảng của mọi kỹ thuật khác. Những khác biệt có thể xuất hiện nằm ở việc áp dụng các tiến trình theo loại cung và việc chú trọng đến một số trung tâm nhất định. Một lần nữa, Tôi muốn các bạn suy ngẫm về cụm từ này, vì nó chứa đựng nhiều thông tin cho những ai có thể soi ánh sáng trực giác vào đó. Tôi sẽ bàn đến mối quan hệ của một Chân sư và nhóm của Ngài với từng đệ tử, và ít đề cập hơn đến những thái độ cùng cách thức tiến hành của người đệ tử. Các bạn sẽ nhận thấy đây là một góc nhìn phần nào mới mẻ.

53. The importance of the second ray is constantly stated in the Tibetan’s writings.

53. Tầm quan trọng của cung hai liên tục được khẳng định trong các trước tác của Chân sư Tây Tạng.

54. It is the modes of working on the second ray that those on all rays must learn. Love-Wisdom is the primary energy for both our planet and solar system. It is easy to forget this, as there tends to be an emphasis on distinction in the minds of many disciples.

54. Chính các phương thức làm việc theo cung hai là điều mà những người thuộc mọi cung đều phải học. Bác Ái – Minh Triết là năng lượng chủ yếu của cả hành tinh lẫn hệ mặt trời của chúng ta. Chúng ta dễ quên điều này, vì trong thể trí của nhiều đệ tử thường có khuynh hướng nhấn mạnh những khác biệt.

55. Of course a Master working with His chelas needs to know the various differences and distinctions here mentioned, but the principal approach is that of the second ray.

55. Dĩ nhiên, một Chân sư làm việc với các đệ tử của Ngài cần biết những khác biệt và nét phân biệt được đề cập ở đây, nhưng cách tiếp cận chủ yếu vẫn là cách của cung hai.

56. Every ray can be correlated with one or more chakras. The heart within the head, correlated to the second ray, would seem to be a constant in all ray techniques.

56. Mỗi cung đều có thể tương ứng với một hay nhiều luân xa. Trung tâm tim trong đầu, tương ứng với cung hai, dường như là một yếu tố bất biến trong mọi kỹ thuật của các cung.

57. Our approach, then, will be to understand the principal technique and other ray adaptations as necessary.

57. Vậy, cách tiếp cận của chúng ta sẽ là thấu hiểu kỹ thuật chủ yếu và những điều chỉnh theo các cung khác khi cần thiết.

58. We are going to receive the ashramic perspective in this matter. We can act “as if” we were members of the Ashram, and attempt to understand the stages of discipleship from that rather different “slant”.

58. Chúng ta sắp tiếp nhận góc nhìn của ashram về vấn đề này. Chúng ta có thể hành động “như thể” mình là thành viên của ashram, và cố gắng thấu hiểu các giai đoạn của địa vị đệ tử từ “góc nhìn” khá khác biệt ấy.

Basically and essentially, the disciple’s attitude is not really of much importance in comparison with the effect of the Hierarchy and its techniques upon him. The results are [712] inevitable, because they are dependent upon two important factors:

Về cơ bản và thực chất, thái độ của người đệ tử thật sự không quan trọng lắm khi so với tác động của Thánh đoàn và các kỹ thuật của Thánh đoàn lên y. Các kết quả [712] là tất yếu, vì chúng phụ thuộc vào hai yếu tố quan trọng:

59. DK relegates the disciple’s attitude to a relatively unimportant position. It is the power of the Hierarchy and its techniques is emphasized.

59. Chân sư DK đặt thái độ của người đệ tử vào một vị trí tương đối ít quan trọng. Điều được nhấn mạnh là quyền năng của Thánh đoàn và các kỹ thuật của Thánh đoàn.

60. It is important to realize that much that is of great importance to the progress of the individual disciple does not originate from within his individual nature.

60. Cần nhận ra rằng nhiều điều vô cùng quan trọng đối với sự tiến bộ của từng đệ tử không bắt nguồn từ bên trong bản chất cá nhân của y.