Trích nội dung chương
61. It seems that if Hierarchy applies its techniques, the individual disciple will inevitably respond. However, the disciple to whom the techniques are applied must be fit to receive them. 61. Dường như nếu Thánh đoàn áp dụng các kỹ thuật của mình, người đệ tử tất yếu sẽ đáp ứng. Tuy nhiên, người đệ tử mà các kỹ thuật ấy được áp dụng cho phải đủ điều kiện để tiếp nhận chúng.
61. It seems that if Hierarchy applies its techniques, the individual disciple will inevitably respond. However, the disciple to whom the techniques are applied must be fit to receive them.
61. Dường như nếu Thánh đoàn áp dụng các kỹ thuật của mình, người đệ tử tất yếu sẽ đáp ứng. Tuy nhiên, người đệ tử mà các kỹ thuật ấy được áp dụng cho phải đủ điều kiện để tiếp nhận chúng.
1. The first factor is that directed, hierarchical impression is not imposed until the man has fitted himself through self-discipline to respond to it and is, therefore, nearing the end of the Path.
1. Yếu tố thứ nhất là Thánh đoàn chỉ truyền ấn tượng có định hướng khi con người đã tự rèn luyện qua kỷ luật bản thân để có khả năng đáp ứng với ấn tượng ấy, và do đó đang tiến gần đến cuối Đường Đạo.
62. Hierarchy utilizes intelligence and correct timing in the matter of imposing “hierarchical impression”.
62. Thánh đoàn vận dụng trí thông minh và chọn đúng thời điểm trong việc truyền “ấn tượng của Thánh đoàn”.
63. Under the Law of Economy, Hierarchy will not apply techniques to those who are unable to respond.
63. Theo Định luật Tiết Kiệm, Thánh đoàn sẽ không áp dụng các kỹ thuật cho những người không có khả năng đáp ứng.
64. We note the role of self-discipline in preparing for proper response to hierarchical impression.
64. Chúng ta lưu ý vai trò của kỷ luật bản thân trong việc chuẩn bị để đáp ứng đúng đắn với ấn tượng của Thánh đoàn.
2. The second is the factor of group response. This means response in two directions:
2. Yếu tố thứ hai là yếu tố đáp ứng nhóm. Điều này có nghĩa là đáp ứng theo hai hướng:
a. To sensed human need, leading consequently to a pledged life of service.
a. Với nhu cầu nhân loại mà mình cảm nhận được, từ đó dẫn đến một cuộc đời cam kết phụng sự.
b. To soul impression, leading to spiritual sensitivity.
b. Với ấn tượng của linh hồn, dẫn đến tính nhạy cảm tinh thần.
65. The soul is group conscious, and the Hierarchy will not impose its techniques until that group consciousness has been somewhat developed.
65. Linh hồn có tâm thức nhóm, và Thánh đoàn sẽ không áp dụng các kỹ thuật của mình cho đến khi tâm thức nhóm ấy đã phát triển đến một mức độ nào đó.
66. If a disciple responds to human need, he will pledge his life to service.
66. Nếu một đệ tử đáp ứng với nhu cầu nhân loại, y sẽ cam kết dành cuộc đời mình cho việc phụng sự.
67. Response to human need and to soul are both group responses—for, in fact, there is no “my soul and thine”, and the so-called ‘individual soul’ is something of an illusion.
67. Sự đáp ứng với nhu cầu nhân loại và với linh hồn đều là những đáp ứng nhóm—vì thật ra không có “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn”, và cái gọi là ‘linh hồn cá nhân’ phần nào là một ảo tưởng.
When these two factors are established—even if unknown to the disciple in his waking consciousness—the grip of the soul upon the personality becomes irrevocable. Then, and only then, the Master can begin to work and the response will be effective, real and lasting.
Khi hai yếu tố này đã được xác lập—ngay cả khi người đệ tử không biết điều đó trong tâm thức tỉnh thức của mình—sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã trở nên không thể đảo ngược. Khi ấy, và chỉ khi ấy, Chân sư mới có thể bắt đầu làm việc, và sự đáp ứng sẽ hữu hiệu, chân thực và bền vững.
68. When a man has risen through self-discipline and is capable of group response, it indicates a powerful and irrevocable grip by the soul upon the personality. It is interesting that the two factors of 1) sufficient discipline and 2) group response may not be apprehended to the disciple in his waking consciousness.
68. Khi một người đã vươn lên nhờ kỷ luật bản thân và có khả năng đáp ứng nhóm, điều đó cho thấy linh hồn đã nắm giữ phàm ngã một cách mạnh mẽ và không thể đảo ngược. Điều thú vị là người đệ tử có thể không nhận biết hai yếu tố: 1) kỷ luật đủ mức và 2) đáp ứng nhóm, trong tâm thức tỉnh thức của mình.
69. We are looking at the preliminary requirements which signal the onset of the Master’s work. The Master cannot work unless the “grip of the soul upon the personality” has become “irrevocable”.
69. Chúng ta đang xem xét những yêu cầu sơ bộ báo hiệu sự khởi đầu công việc của Chân sư. Chân sư không thể làm việc trừ khi “sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã” đã trở nên “không thể đảo ngược”.
Now let me enumerate for you again the stages with which we shall be dealing:
Bây giờ, để Tôi liệt kê lại cho các bạn những giai đoạn mà chúng ta sẽ bàn đến:
1. The stage wherein the disciple is contacted by the Master through some chela upon the physical plane. This is the stage of Little Chelaship.
1. Giai đoạn Chân sư tiếp xúc với người đệ tử qua một đệ tử nào đó trên cõi hồng trần. Đây là giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử.
70. This is clearly an external stage. The young disciple is insufficiently sensitive to anything but an outward recognition of the Master’s quality mediated through the Master’s chela upon the physical plane.
70. Đây rõ ràng là một giai đoạn bên ngoài. Người đệ tử còn non trẻ chưa đủ nhạy cảm để nhận biết điều gì ngoài sự nhận ra bên ngoài về phẩm tính của Chân sư, qua trung gian là đệ tử của Ngài trên cõi hồng trần.
71. Of the first three stages, this stage can be correlated with the third ray.
71. Trong ba giai đoạn đầu, giai đoạn này có thể tương ứng với cung ba.
2. The stage wherein a higher disciple directs the chela from egoic or soul levels. This is the stage called a Chela in the Light.
2. Giai đoạn một đệ tử cao cấp hơn hướng dẫn người đệ tử từ các cấp độ chân ngã hay linh hồn. Đây là giai đoạn gọi là Đệ tử trong Ánh sáng.
72. In the phase of Chela in the Light, the directing disciple may be discarnate or incarnate. The directing, however, occurs from soul levels.
72. Trong giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng, người đệ tử hướng dẫn có thể không nhập thể hoặc đang nhập thể. Tuy nhiên, sự hướng dẫn diễn ra từ các cấp độ linh hồn.
73. In this second stage, the chela’s subjective sensitivity has grown beyond the sensitivity of the ‘Little Chela’.
73. Trong giai đoạn thứ hai này, tính nhạy cảm chủ quan của người đệ tử đã phát triển vượt quá tính nhạy cảm của ‘Tiểu đệ tử’.
74. Of the first three stages, this stage can be correlated with the second ray.
74. Trong ba giai đoạn đầu, giai đoạn này có thể tương ứng với cung hai.
3. The stage wherein, according to necessity, the Master contacts the chela through:
3. Giai đoạn mà, tùy theo nhu cầu, Chân sư tiếp xúc với người đệ tử thông qua:
a. A vivid dream experience.
a. Một trải nghiệm giấc mơ sống động.
b. A symbolic teaching.
b. Một lời dạy mang tính biểu tượng.
c. The using of a thoughtform of some Master.
c. Việc sử dụng một hình tư tưởng của một Chân sư nào đó.
d. A contact with the Master in meditation.
d. Một sự tiếp xúc với Chân sư trong khi tham thiền.
e. A definite, remembered interview with the Master in His Ashram.
e. Một cuộc gặp gỡ rõ ràng với Chân sư trong ashram của Ngài mà người đệ tử còn nhớ được.
75. Of the first three stages, this stage can be correlated with the first ray. This stage, in general, represents a rather direct and relatively unmediated contact with the Master. In the last of the five modes of contact here enumerated, it is entirely direct.
75. Trong ba giai đoạn đầu, giai đoạn này có thể tương ứng với cung một. Nhìn chung, giai đoạn này thể hiện một sự tiếp xúc khá trực tiếp và tương đối ít qua trung gian với Chân sư. Trong phương thức cuối cùng của năm phương thức tiếp xúc được liệt kê ở đây, sự tiếp xúc hoàn toàn trực tiếp.
76. When we come to the discussion of stage three of the Six Stages of Discipleship we will explore the implications of each of these five modes of contact.
76. Khi bàn đến giai đoạn thứ ba trong Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử, chúng ta sẽ tìm hiểu những hàm ý của từng phương thức trong năm phương thức tiếp xúc này.
77. We should continued to remember that each of the seven stages of discipleship (although we are studying then as the Six Stages of Discipleship) is being presented from the point of view of the Master and the Ashram
77. Chúng ta nên tiếp tục nhớ rằng mỗi giai đoạn trong bảy giai đoạn của địa vị đệ tử, mặc dù chúng ta đang nghiên cứu chúng dưới tên gọi Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử, đều được trình bày từ quan điểm của Chân sư và ashram
78. In each of the five modes of contact characteristic of Accepted Discipleship, we are to understand the Master as the prime initiator of contact with the disciple.
78. Trong mỗi phương thức thuộc năm phương thức tiếp xúc đặc trưng cho Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận, chúng ta cần hiểu rằng Chân sư là Đấng chủ động khởi xướng sự tiếp xúc với người đệ tử.
This is definitely the stage of Accepted Discipleship.
Đây rõ ràng là giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận.
4. The stage wherein, having shown his wisdom in work and his appreciation of the Master’s problem, the disciple is taught how (in an emergency) to attract the Master’s attention and thus draw upon His strength and knowledge and advice. This is an instantaneous happening [713] and practically takes none of the Master’s time. This has the peculiar name of the Chela on the Thread, or Sutratma.
4. Giai đoạn mà, sau khi đã thể hiện minh triết trong công việc và sự thấu hiểu vấn đề của Chân sư, người đệ tử được dạy cách thu hút sự chú ý của Chân sư trong trường hợp khẩn cấp, và nhờ đó vận dụng sức mạnh, tri thức cùng lời khuyên của Ngài. Điều này xảy ra tức thời [713] và hầu như không chiếm chút thời gian nào của Chân sư. Giai đoạn này có tên gọi đặc biệt là Đệ tử trên đường dây, hay sinh mệnh tuyến.
79. Beyond the stage of Accepted Discipleship lies for the disciple the possibility of contacting the Master according to need as a Chela on the Thread.
79. Sau giai đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận, người đệ tử có khả năng tiếp xúc với Chân sư tùy theo nhu cầu, với tư cách là Đệ tử trên đường dây.
80. We note that this type of contact is not initiated by the Master as was stage three, but by the disciple.
80. Chúng ta lưu ý rằng loại tiếp xúc này không do Chân sư khởi xướng như trong giai đoạn thứ ba, mà do người đệ tử.
81. We note the two prerequisites: the disciple permitted to contact the Master must 1) appreciate the Master’s problem and 2) must only seek to attract the Master’s attention in cases of emergency. Such an emergency will never be a personal emergency; it will be an emergency in relation to the work which the disciple is performing on behalf of the Master and the Ashram. If we believe ourselves affiliated with a particular Master’s group or Ashram, how deeply do we appreciate the Master’s problem? The attempt to answer the question will be an exercise in decentralization—and humility.
81. Chúng ta lưu ý hai điều kiện tiên quyết: người đệ tử được phép tiếp xúc với Chân sư phải 1) thấu hiểu vấn đề của Chân sư và 2) chỉ tìm cách thu hút sự chú ý của Chân sư trong những trường hợp khẩn cấp. Một trường hợp khẩn cấp như thế sẽ không bao giờ là chuyện khẩn cấp cá nhân; đó sẽ là chuyện khẩn cấp liên quan đến công việc mà người đệ tử đang thực hiện thay mặt Chân sư và ashram. Nếu tin rằng mình có liên hệ với nhóm hoặc ashram của một Chân sư cụ thể, chúng ta thấu hiểu vấn đề của Chân sư sâu sắc đến đâu? Nỗ lực trả lời câu hỏi ấy sẽ là một bài tập về sự phi tập trung vào bản thân—và lòng khiêm nhường.
82. We note that the contact accorded to a Chela on the Thread is not a lengthy one. Rather it is instantaneous and does not represent a significant interruption to the Master. Nevertheless, even this kind of very brief contact for appropriating the Master’s strength, knowledge or advice, can only be initiated in true emergencies.
82. Chúng ta lưu ý rằng sự tiếp xúc dành cho một Đệ tử trên đường dây không kéo dài. Sự tiếp xúc ấy diễn ra tức thời và không gây gián đoạn đáng kể cho Chân sư. Tuy nhiên, ngay cả kiểu tiếp xúc rất ngắn ngủi này để tiếp nhận sức mạnh, tri thức hoặc lời khuyên của Chân sư cũng chỉ có thể được khởi xướng trong những trường hợp thực sự khẩn cấp.
83. Some sense of proportion should enter our minds. There are quite a few disciples who feel that the Master is rather constantly interested in them (as persons) and always available for consultation. I think we can see the error of this assumption through its lack of co-measurement.
83. Chúng ta cần có một ý thức nhất định về tỉ lệ trong thể trí. Có khá nhiều đệ tử cảm thấy rằng Chân sư gần như liên tục quan tâm đến họ (với tư cách cá nhân) và luôn sẵn sàng để họ tham vấn. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy giả định này sai lầm vì nó thiếu sự cân nhắc tương xứng.
84. We may question: “What is the nature of the “thread” utilized to set up a call to the Master. ” We learn that it is related to the Sutratma or Life Thread.
84. Chúng ta có thể hỏi: “Bản chất của “sợi dây” dùng để thiết lập một lời kêu gọi đến Chân sư là gì? ” Chúng ta được biết rằng nó liên quan đến sinh mệnh tuyến hay Sợi dây Sự Sống.
5. The stage wherein the disciple is permitted to know the method whereby he may set up a vibration or a call which will entitle him to an interview with the Master. This is only permitted to those trusted chelas who can be depended upon not to use their knowledge for anything except the need of the work. No personality reason or distress would prompt them to use it. At this stage, the disciple is called a Chela within the aura.
5. Giai đoạn trong đó người đệ tử được phép biết phương pháp tạo ra một rung động hoặc một lời kêu gọi cho phép y được diện kiến Chân sư. Điều này chỉ dành cho những đệ tử đáng tin cậy, những người có thể được tin tưởng rằng sẽ chỉ sử dụng tri thức của mình vì nhu cầu công việc. Không một lý do hay nỗi khổ nào của phàm ngã có thể thúc đẩy họ sử dụng tri thức ấy. Ở giai đoạn này, người đệ tử được gọi là Đệ tử trong hào quang.
85. The fifth stage is still more advanced. In this stage, the call to which the Master will respond will, in fact, require of Him a significant expenditure of time and energy.
85. Giai đoạn thứ năm còn tiến xa hơn nữa. Thật vậy, ở giai đoạn này, lời kêu gọi mà Chân sư sẽ đáp ứng đòi hỏi Ngài dành ra một lượng thời gian và năng lượng đáng kể.
86. The degree of trust required before the privileges related to this stage can be accorded is significant. Even dire personality distress will not prompt the “Chela within the Aura” to ‘send up’ a call for a direct interview with the Master. Only the needs of the work will entitle the chela to such an interview.
86. Cần có một mức độ tin cậy đáng kể trước khi có thể ban những đặc ân liên quan đến giai đoạn này. Ngay cả nỗi khổ cùng cực của phàm ngã cũng sẽ không thúc đẩy “Đệ tử trong hào quang” ‘gửi lên’ một lời kêu gọi xin diện kiến trực tiếp Chân sư. Chỉ nhu cầu công việc mới cho phép người đệ tử có được một cuộc diện kiến như thế.
87. We must realize the extremely busy schedule of a Master. Probably we would be staggered at the number of important processes in which the Masters are engaged, and at Their efficiency in organizing such processes.
87. Chúng ta phải nhận biết lịch trình vô cùng bận rộn của một Chân sư. Có lẽ chúng ta sẽ choáng ngợp trước số lượng những tiến trình quan trọng mà các Chân sư đang tham gia, cũng như hiệu quả của Các Ngài trong việc tổ chức những tiến trình ấy.
88. To be “within the aura” signifies great sensitivity to the Master’s vibration and quality. Such a chela can be easily overshadowed and can radiate the quality emanating from the Master and His Ashram.
88. Ở “trong hào quang” hàm ý sự nhạy cảm cao độ với rung động và phẩm tính của Chân sư. Một đệ tử như thế có thể dễ dàng được phủ bóng và có thể tỏa ra phẩm tính phát xạ từ Chân sư và ashram của Ngài.
6. The stage wherein the disciple can get his Master’s ear at any time. He is in close touch always. This is the stage wherein a chela is being definitely and consciously prepared for immediate initiation, or—having taken initiation—is being given specialised work to do in collaboration with his. . . . At this stage, he is described as the Chela within the Master’s heart.
6. Giai đoạn trong đó người đệ tử có thể được Chân sư của mình lắng nghe bất cứ lúc nào. Y luôn giữ mối liên hệ mật thiết. Đây là giai đoạn trong đó người đệ tử đang được chuẩn bị một cách rõ rệt và hữu thức cho cuộc điểm đạo sắp tới, hoặc—sau khi đã được điểm đạo—được giao công việc chuyên biệt để phối hợp với . . . của y. Ở giai đoạn này, y được mô tả là Đệ tử trong tim của Chân sư.
89. The final stage of the six stages, goes by the name, “Chela within the Master’s Heart”.
89. Giai đoạn cuối cùng trong sáu giai đoạn mang tên “Đệ tử trong tim của Chân sư”.
90. Such a chela will certainly be a trusted initiate, with long experience in the service of a particular Master.
90. Một đệ tử như thế chắc chắn sẽ là một điểm đạo đồ đáng tin cậy, có kinh nghiệm lâu năm trong việc phụng sự một Chân sư cụ thể.
91. We can understand that such a chela will have to be very familiar with the Master’s work and problems. It is a tremendous responsibility to have access to “his Master’s ear at any time”. We can view the “Chela within the Heart” more as a collaborator of his Master.
91. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng một đệ tử như thế phải rất quen thuộc với công việc và những vấn đề của Chân sư. Đó là một trách nhiệm vô cùng lớn lao khi có thể được “Chân sư của mình lắng nghe bất cứ lúc nào”. Chúng ta có thể xem “Đệ tử trong tim” thiên về vai trò một cộng sự của Chân sư mình.
92. The initiation or initiations referenced in this paragraph surely cannot be among the earlier initiations. There is reason to believe that the fourth initiation is the one probably under discussion. Interestingly, the heart center is the one emphasized at the fourth degree.
92. Cuộc điểm đạo hoặc những cuộc điểm đạo được đề cập trong đoạn này chắc chắn không thể nằm trong số những cuộc điểm đạo ban đầu. Có lý do để tin rằng lần điểm đạo thứ tư có lẽ là cuộc điểm đạo đang được bàn đến. Điều thú vị là trung tâm tim chính là trung tâm được nhấn mạnh ở cấp độ thứ tư.
93. There is an ellipsis: “in collaboration with his…” We may speculate upon the omission if we wish. With whom or with what would a true initiate or advanced initiate collaborate?
93. Có một chỗ lược bỏ: “phối hợp với… của y” Chúng ta có thể suy đoán về phần bị lược bỏ nếu muốn. Một điểm đạo đồ chân chính hoặc một điểm đạo đồ tiến hóa cao sẽ phối hợp với ai hay với điều gì?
94. The rhythm of the heart in relation to the rhythmic impulses by which a Master guides His Ashram may be considered in relation to this sixth stage.
94. Có thể xem xét nhịp điệu của tim trong mối liên hệ với những xung động nhịp nhàng mà qua đó một Chân sư hướng dẫn ashram của Ngài, khi bàn về giai đoạn thứ sáu này.
7. There is a later stage of still closer identification, where there is a complete blending of the Lights, but there is no adequate paraphrase of the terms used to convey this name.
7. Có một giai đoạn về sau với sự đồng hoá còn mật thiết hơn nữa, trong đó có sự hòa quyện hoàn toàn của các Ánh sáng, nhưng không có cách diễn giải nào thích đáng cho những thuật ngữ dùng để truyền đạt tên gọi này.
95. What does “a complete blending of the Lights” suggest to us? Surely, the light of the chela and the light of the Master.
95. Cụm từ “sự hòa quyện hoàn toàn của các Ánh sáng” gợi cho chúng ta điều gì? Chắc chắn là ánh sáng của người đệ tử và ánh sáng của Chân sư.
96. We understand from this that it is a stage in which the term “identification” is significant. It is as if the chela finds no distinction between his own will and the will of the Master.
96. Từ điều này, chúng ta thấu hiểu rằng đây là một giai đoạn trong đó thuật ngữ “đồng hoá” có ý nghĩa quan trọng. Dường như người đệ tử không thấy sự khác biệt nào giữa ý chí của chính mình và ý chí của Chân sư.
97. One thinks, perhaps, of the mysterious relationship between the Christ and the Master Jesus, for the first ‘became’, in a sense, the second.
97. Có lẽ người ta nghĩ đến mối quan hệ huyền nhiệm giữa Đức Christ và Chân sư Jesus, vì theo một nghĩa nào đó, Đấng thứ nhất đã ‘trở thành’ Đấng thứ hai.
98. It would seem that a very high degree of initiation is indicated, yet the term “chela” still applies.
98. Dường như ở đây muốn nói đến một cấp độ điểm đạo rất cao, tuy nhiên thuật ngữ “đệ tử” vẫn được áp dụng.
I would have you note that the six stages above mentioned have been translated and paraphrased for occidental understanding and must in no way be considered as translations of the ancient terms.
Tôi muốn các bạn lưu ý rằng sáu giai đoạn vừa nêu đã được dịch và diễn giải để người phương Tây có thể thấu hiểu, và tuyệt đối không được xem chúng là những bản dịch của các thuật ngữ cổ.
99. It is clear that the Master is referencing certain ancient manuals on discipleship.
99. Rõ ràng Chân sư đang dẫn chiếu một số cẩm nang cổ về địa vị đệ tử.
100. His great gift to us is His ability to translate what we could never understand into terms which we can.
100. Món quà lớn lao Ngài dành cho chúng ta là khả năng chuyển những điều chúng ta không bao giờ có thể thấu hiểu thành những thuật ngữ mà chúng ta có thể thấu hiểu.
Stage I. Little Chelaship.
Giai đoạn I. Địa vị tiểu đệ tử.
This stage is so definitely exoteric that many people have left it far behind. The first indication that a man has reached that stage (from the angle of the Master) comes when the “light flashes out” in some one life; thereby the attention of the Master is attracted to the person. It might be said that the preface to the Master’s interest falls into four parts and it is only when all four are found present together and simultaneously that this happens:
Giai đoạn này rõ ràng mang tính ngoại môn đến mức nhiều người đã vượt xa nó. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy một người đã đạt đến giai đoạn ấy (theo góc nhìn của Chân sư) xuất hiện khi “ánh sáng lóe lên” trong một kiếp sống nào đó; nhờ vậy, người ấy thu hút sự chú ý của Chân sư. Có thể nói rằng những điều mở đầu cho sự quan tâm của Chân sư ấy gồm bốn phần và chỉ khi cả bốn cùng hiện diện đồng thời thì điều này mới xảy ra:
101. The fact that this is a definitely exoteric phase relates it to the third ray which, in one respect, is the ray of things obvious and external.
101. Việc đây rõ ràng là một giai đoạn ngoại môn liên hệ nó với cung ba, vốn, xét về một phương diện, là cung của những gì hiển nhiên và bên ngoài.
102. We are emphasizing the Master’s perspective, let us remember, so we are told how the Master recognizes a disciple suited to enter this stage. The man (not yet a disciple) flashes forth—i. e. , his “light flashes out”.
102. Chúng ta hãy nhớ rằng mình đang nhấn mạnh góc nhìn của Chân sư, nên chúng ta được cho biết cách Chân sư nhận ra một đệ tử thích hợp để bước vào giai đoạn này. Người ấy (chưa phải là đệ tử) tỏa sáng—nghĩa là , “ánh sáng của y lóe lên”.
103. From this perspective, we may gather that Little Chelaship occurs before the first initiation, because it seems to indicate a Master’s first noticement of the man. Little Chelaship (at least the beginning of that stage) probably cannot coincide with the first initiation because a Master must recommend a disciple to the Initiator for even that preliminary initiation, and this recommendation would surely follow upon long observation of the disciple.
103. Từ góc nhìn này, chúng ta có thể suy ra rằng Địa vị tiểu đệ tử xuất hiện trước lần điểm đạo thứ nhất, vì dường như nó đánh dấu sự chú ý đầu tiên của một Chân sư đến người ấy. Địa vị tiểu đệ tử (ít nhất là lúc bắt đầu giai đoạn ấy) có lẽ không thể trùng với lần điểm đạo thứ nhất, bởi ngay cả đối với cuộc điểm đạo sơ bộ ấy, một Chân sư cũng phải tiến cử người đệ tử với Đấng Điểm đạo, và chắc chắn sự tiến cử này phải diễn ra sau một thời gian dài quan sát người đệ tử.
104. DK speaks of four stages which lead to the flashing forth of the light and the attraction of the Master’s interest. We note that all four stages must be operative simultaneously if the Master’s attention is to be attracted.
104. Chân sư DK nói đến bốn giai đoạn dẫn đến việc ánh sáng lóe lên và thu hút sự quan tâm của Chân sư. Chúng ta lưu ý rằng cả bốn giai đoạn phải hoạt động đồng thời thì mới có thể thu hút sự chú ý của Chân sư.
1. The aspirational intent of the man upon the physical plane suddenly succeeds in enabling him to make a soul [714] contact. The moment that that takes place the light in the head is momentarily intensified.
1. Ý hướng đầy khát vọng của con người trên cõi hồng trần đột nhiên thành công trong việc giúp y thiết lập sự tiếp xúc [714] với linh hồn. Ngay khi điều đó xảy ra, ánh sáng trong đầu nhất thời tăng cường độ.
105. In order to enter the stage of Little Chelaship, it is clear that that man must be an aspirant. He aspires to something higher (though he may not know its name). When the intensity of that aspiration is sufficient, he succeeds in making soul contact.
105. Rõ ràng, để bước vào giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, người ấy phải là một người chí nguyện. Y khát vọng hướng đến điều gì đó cao hơn (dù có thể y chưa biết tên gọi của nó). Khi khát vọng ấy đạt cường độ đủ mạnh, y thành công trong việc thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn.
106. It is clear that soul-contact occurs long before the first initiation. As a man begins to reorient his life towards higher values, higher desires, he is reorienting to the soul/Solar Angel.
106. Rõ ràng sự tiếp xúc với linh hồn xảy ra từ lâu trước lần điểm đạo thứ nhất. Khi một người bắt đầu định hướng lại cuộc sống của mình về những giá trị cao hơn, những dục vọng cao hơn, y đang tái định hướng về linh hồn/Thái dương Thiên Thần.
107. We see that it is the “light in the head” which the Master notices, by what means who may say? The ‘flashing out’, therefore, may be considered a phenomenon related to the light in the head.
107. Chúng ta thấy rằng chính “ánh sáng trong đầu” là điều Chân sư chú ý đến, nhưng bằng phương tiện nào thì ai có thể nói được? Vì vậy, sự ‘lóe lên’ có thể được xem là một hiện tượng liên quan đến ánh sáng trong đầu.
2. The karmic agitation of the man’s life becomes greatly increased and—apart from his own individual karma—he, for the first time, consciously takes part in and shoulders a part of the karma of his group. This dual karmic undertaking sets up a veritable vortex of force in the group aura. This attracts hierarchical attention.
2. Sự xáo động do nghiệp quả trong cuộc sống của người ấy gia tăng mạnh mẽ và—ngoài nghiệp quả cá nhân của chính mình—lần đầu tiên y tham gia một cách hữu thức và gánh vác một phần nghiệp quả của nhóm mình. Việc đảm nhận nghiệp quả kép này tạo ra một xoáy mãnh lực thực sự trong hào quang nhóm. Điều này thu hút sự chú ý của Thánh đoàn.
108. We remember that all four of these requirements (prefacing a Master’s interest in a potential chela) must be in evidence simultaneously.
108. Chúng ta nhớ rằng cả bốn yêu cầu này (mở đầu cho sự quan tâm của một Chân sư đến một đệ tử tiềm năng) phải biểu hiện đồng thời.
109. From what is said, we gather that some degree of group consciousness is under development. The man is no longer strictly selfish.
109. Từ những điều đã nói, chúng ta suy ra rằng tâm thức nhóm đang phát triển đến một mức độ nào đó. Người ấy không còn hoàn toàn ích kỷ nữa.
110. It might be that the sixth petal of the love-tier of petals is active in this regard, for it is a petal of sacrifice within the love tier. The sixth petal is also involved in the paying of karma prior to full concentration upon the third or sacrifice tier of petals. We recall reading how stressful is the period preceding the first initiation, when both Vulcan and Pluto are active. The sixth petal of the egoic lotus is associated with Virgo, and hence Vulcan is easily implicated. Pluto would be implicated as a force which begins to release a man from the Common Cross onto the Fixed Cross. Pisces is active in such a release, and Pisces is ruled by Pluto.
110. Có thể cánh hoa thứ sáu thuộc tầng cánh hoa bác ái đang hoạt động trong phương diện này, vì đó là một cánh hoa hi sinh trong tầng bác ái. Cánh hoa thứ sáu cũng tham gia vào việc trả nghiệp quả trước khi hoàn toàn tập trung vào tầng cánh hoa thứ ba, tức tầng hi sinh. Chúng ta nhớ đã đọc rằng thời kỳ trước lần điểm đạo thứ nhất căng thẳng biết bao, khi cả Vulcan lẫn Sao Diêm Vương đều hoạt động. Cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen Chân Ngã gắn với Xử Nữ, do đó dễ thấy Vulcan có liên quan. Sao Diêm Vương có thể liên quan với tư cách một mãnh lực bắt đầu giải phóng con người khỏi Thập Giá Thông Thường để bước lên Thập Giá Cố Định. Song Ngư hoạt động trong sự giải phóng ấy, và Sao Diêm Vương cai quản Song Ngư.
Of the sixth petal, the following is stated:
Về cánh hoa thứ sáu, có lời như sau:
The Petal of Sacrifice for the astral plane; unfoldment is brought about by the attitude of man as he consciously endeavours to give up his own desires for the sake of his group. His motive is still somewhat a blind one, and still coloured by the desire for a return of that which he gives and for love from those he seeks to serve, but it is of a much higher order than the blind sacrifice to which a man is driven by circumstances as is the case in the earlier unfoldment. (TCF 540-541)
Cánh hoa Hi sinh dành cho cõi cảm dục; sự khai mở diễn ra nhờ thái độ của con người khi y nỗ lực một cách hữu thức để từ bỏ những dục vọng của riêng mình vì lợi ích của nhóm. Động cơ của y vẫn còn phần nào mù quáng, vẫn nhuốm màu dục vọng muốn nhận lại những gì mình cho đi và muốn có tình thương từ những người mà y tìm cách phụng sự, nhưng động cơ ấy thuộc một cấp độ cao hơn nhiều so với sự hi sinh mù quáng mà hoàn cảnh buộc con người phải thực hiện trong thời kỳ khai mở trước đó. (TCF 540-541)
111. The group aura here referenced must be the soul group focussed on the soul ray which is the same as the Master’s ray.
111. Hào quang nhóm được đề cập ở đây hẳn phải là hào quang của nhóm linh hồn tập trung trên cung linh hồn, cùng cung với cung của Chân sư.
112. So there is a dual karmic agitation—individual and in relation to a larger group. This distress, and the possible intensifying selflessness which may result from it, attracts the Master’s attention.
112. Vì vậy, có một sự xáo động kép do nghiệp quả—ở cấp độ cá nhân và trong mối liên hệ với một nhóm lớn hơn. Nỗi khổ này, cùng với lòng vị tha có thể gia tăng từ đó, thu hút sự chú ý của Chân sư.
3. The next point is not so easy to explain or grasp. You have been told that the soul is in deep meditation for the greater part of the cycle of lives of any one individual, and that it is only when a fair measure of personality integration is set up that the soul’s attention is drawn away from its own interior considerations and egoic affairs to those of its shadow. When this happens, the egoic group is definitely affected and the Master (upon the same ray as that of the soul concerned) becomes aware of what is esoterically called “a downward gazing soul. ” On the Path of Discipleship, the ego is all the time consciously aware of the striving personality and there comes a stage when (towards the end of the Path of Evolution) the soul recapitulates the evolutionary processes of involution and evolution. Soul energy descends and personality force ascends and this takes place through a process of conscious descents and ascents. I refer here to the process which is undertaken by the soul under hierarchical impulse, and not to that in which the personality invokes the soul under the desperate need brought about in the lower consciousness by the gradual cessation of desire.
3. Điểm tiếp theo không dễ giải thích hay nắm bắt. Các bạn đã được cho biết rằng linh hồn ở trong trạng thái thiền định sâu trong phần lớn chu kỳ các kiếp sống của mỗi cá nhân, và chỉ khi phàm ngã đạt được một mức độ tích hợp khá cao thì sự chú ý của linh hồn mới chuyển từ những suy xét nội tại và những công việc chân ngã của chính nó sang những điều ấy nơi cái bóng của nó. Khi điều này xảy ra, nhóm chân ngã chịu ảnh hưởng rõ rệt và Chân sư (trên cùng cung với linh hồn liên quan) nhận biết điều mà huyền bí học gọi là “một linh hồn nhìn xuống. ” Trên Con Đường Đệ Tử, chân ngã luôn nhận biết một cách hữu thức về phàm ngã đang nỗ lực, và đến một giai đoạn (gần cuối Con Đường Tiến Hoá), linh hồn tái diễn những tiến trình giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. Năng lượng linh hồn đi xuống và mãnh lực phàm ngã đi lên, và điều này diễn ra qua một tiến trình đi xuống và đi lên có ý thức. Ở đây, Tôi đề cập đến tiến trình do linh hồn thực hiện dưới xung động của Thánh đoàn, chứ không phải tiến trình trong đó phàm ngã khẩn cầu linh hồn do nhu cầu bức thiết nảy sinh trong tâm thức thấp khi dục vọng dần chấm dứt.
113. We are discussing (in relation to these four states) inner occurrences which attract the Master’s attention to the one who can become a Little Chela.
113. Chúng ta đang bàn đến (trong mối liên hệ với bốn trạng thái này) những diễn biến bên trong thu hút sự chú ý của Chân sư đến người có thể trở thành một Tiểu đệ tử.
114. As presented in this paragraph, the “soul” is equivalent to the Solar Angel—the angelic supervisor of the aspirant.
114. Theo cách trình bày trong đoạn này, “linh hồn” tương đương với Thái dương Thiên Thần—vị thiên thần giám sát người chí nguyện.
115. It is important to realize that the candidate for Little Chelaship has achieved “a fair measure of personality integration”, though he is by no means a completely integrated personality (i. e. , an initiate of the third degree). We recall that “integration” is one of the three terms which characterize the process occurring at the third degree.
115. Cần nhận biết rằng ứng viên cho Địa vị tiểu đệ tử đã đạt được “một mức độ tích hợp phàm ngã khá cao”, dù y hoàn toàn chưa phải là một phàm ngã tích hợp trọn vẹn (nghĩa là , một điểm đạo đồ cấp ba). Chúng ta nhớ rằng “sự tích hợp” là một trong ba thuật ngữ đặc trưng cho tiến trình diễn ra ở cấp độ thứ ba.
116. The Master is aware of the egoic group which shares the same ray as His own. Apparently, He is also aware of the Solar Angels which are allied to the causal bodies of such ray groupings.
116. Chân sư nhận biết nhóm chân ngã có cùng cung với cung của chính Ngài. Dường như Ngài cũng nhận biết các Thái dương Thiên Thần liên kết với những thể nguyên nhân thuộc các nhóm cung như thế.
117. Thus far (in relation to the four processes being enumerated): the man is aspiring; there is karmic agitation, and, also, there is a “downward gazing soul” or “ego”.
117. Cho đến lúc này (trong mối liên hệ với bốn tiến trình đang được liệt kê): con người đang khát vọng; có sự xáo động do nghiệp quả; và cũng có một “linh hồn nhìn xuống” hay “chân ngã”.
118. We are reaching the end of the Path of Evolution, ready, perhaps, to begin the Path of Initiation (assuming that this Path begins at the first degree).
118. Chúng ta đang tiến gần đến cuối Con Đường Tiến Hoá, có lẽ đã sẵn sàng bắt đầu Con Đường Điểm Đạo (giả định rằng Con Đường này bắt đầu ở cấp độ thứ nhất).
119. The “downward gazing soul” begins its downward gaze well before the commencement of the true Path of Discipleship.
119. “Linh hồn nhìn xuống” bắt đầu nhìn xuống từ rất lâu trước khi Con Đường Đệ Tử chân chính khởi đầu.
120. In the paragraph above, we are speaking of some rather spiritually ‘aggressive’ actions on the part of the soul/Solar Angel/Ego. The soul descends, invoking the personality, which, in evocative response, ascends.
120. Trong đoạn trên, chúng ta đang nói đến một số hành động khá ‘quyết liệt’ về mặt tinh thần từ phía linh hồn/Thái dương Thiên Thần/Chân ngã. Linh hồn đi xuống, khẩn cầu phàm ngã, và phàm ngã đi lên trong sự đáp ứng được gợi lên.
121. Again, we note that the personality (i. e. , the man in the three worlds) has no control over these initiatives undertaken by the Solar Angel.
121. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng phàm ngã (nghĩa là , con người trong ba cõi giới) không có quyền kiểm soát những sáng kiến này của Thái dương Thiên Thần.
122. It would seem that the stage of Little Chelaship represents only the beginning of the Solar Angel’s more assertive approach towards its personality, for the light (representing soul contact) has only just flashed forth.
122. Dường như giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử chỉ đánh dấu bước đầu trong cách tiếp cận chủ động hơn của Thái dương Thiên Thần đối với phàm ngã của mình, vì ánh sáng (biểu thị sự tiếp xúc với linh hồn) chỉ vừa mới lóe lên.
123. In the paragraph under discussion, however, DK may be discussing not only the beginning of the phase of little Chelaship, but the entire process, for the description seems to cover a span lasting more than one life, and Little Chelaship, itself, lasts for several lives.
123. Tuy nhiên, trong đoạn đang bàn, Chân sư DK có thể đang đề cập không chỉ đến bước khởi đầu của giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, mà cả toàn bộ tiến trình, vì phần mô tả dường như bao quát một khoảng thời gian dài hơn một kiếp sống, và bản thân Địa vị tiểu đệ tử kéo dài trong nhiều kiếp.
124. DK is speaking very much from the perspective of how higher energy sources relate to lower. The desperate personality can invoke the soul, and the soul will respond. But what is here discussed is an organized program of soul-descent engineered by the soul/Solar Angel when recognizing that the appropriate time to do so has come. The soul response to personality desperation is not discussed.
124. Chân sư DK đang nói chủ yếu từ góc nhìn về cách các nguồn năng lượng cao liên hệ với các nguồn năng lượng thấp. Phàm ngã trong cơn tuyệt vọng có thể khẩn cầu linh hồn, và linh hồn sẽ đáp ứng. Nhưng điều được bàn đến ở đây là một chương trình có tổ chức về sự đi xuống của linh hồn, do linh hồn/Thái dương Thiên Thần hoạch định khi nhận biết rằng thời điểm thích hợp để làm như thế đã đến. Sự đáp ứng của linh hồn trước nỗi tuyệt vọng của phàm ngã không được bàn đến.
125. A very interesting hint is offered: in effect, the gradual cessation of desire produces desperation. The failure of the lower world to attract (a natural development once a period of relative satiation is reached) sends the consciousness looking (upward) for that to which it can relate. The lower life becomes empty and in desperation the man looks upward to fill it.
125. Một gợi ý rất thú vị được đưa ra: thực chất, việc dục vọng dần chấm dứt tạo ra nỗi tuyệt vọng. Việc thế giới thấp không còn sức thu hút (một diễn biến tự nhiên khi đã đạt đến một thời kỳ tương đối thỏa mãn) khiến tâm thức tìm kiếm (hướng lên trên) điều mà nó có thể liên hệ. Đời sống thấp trở nên trống rỗng, và trong nỗi tuyệt vọng, con người ngước lên để lấp đầy nó.
4. Gradually the antahkarana is built and in this way the “greater Light and the lesser light” are consciously related. A path of light and energy is established or created between these two divine aspects. As time goes on, there appears in the egoic group what is technically known as the “linking light” or the “bridging radiance. ” This is the Path referred to in The Old Testament as “the path of the just is as a shining light which shineth more and more until the day be with us. ” In the esoteric [715] books it is referred to in the following terms: “Before a man can tread the path, he must become that path himself. ”
4. Dần dần antahkarana được xây dựng, và bằng cách này, “Ánh sáng lớn hơn và ánh sáng nhỏ hơn” được liên kết một cách hữu thức. Một con đường ánh sáng và năng lượng được thiết lập hoặc tạo ra giữa hai phương diện thiêng liêng này. Theo thời gian, trong nhóm chân ngã xuất hiện điều mà thuật ngữ chuyên môn gọi là “ánh sáng liên kết” hay “ánh rạng ngời bắc cầu. ” Đây là Đường Đạo được nhắc đến trong Cựu Ước: “con đường của người công chính như ánh sáng rạng ngời, càng lúc càng sáng cho đến khi ban ngày đến với chúng ta. ” Trong các sách huyền bí [715], điều này được diễn đạt như sau: “Trước khi một người có thể bước trên đường đạo, chính y phải trở thành đường đạo ấy. ”
126. Although the Tibetan began this section as a discussion of the four part “preface to the Master’s interest” in a potential little chela, He seems to be expanding the consideration into some of the later stages of discipleship.
126. Mặc dù Chân sư Tây Tạng bắt đầu phần này bằng việc bàn về bốn phần của “những điều mở đầu cho sự quan tâm của Chân sư” đến một tiểu đệ tử tiềm năng, dường như Ngài đang mở rộng sự xem xét sang một số giai đoạn về sau của địa vị đệ tử.
127. The antahkarana here referenced may be the first part of the antahkarana—that connecting the mental unit more fully to the causal body. The Ego/causal body, then, would be the “greater light” and the man upon the mental plane would be the “lesser light”.
127. Antahkarana được đề cập ở đây có thể là phần đầu tiên của antahkarana—phần nối đơn vị hạ trí với thể nguyên nhân một cách trọn vẹn hơn. Khi ấy, Chân ngã/thể nguyên nhân sẽ là “ánh sáng lớn hơn”, còn con người trên cõi trí sẽ là “ánh sáng nhỏ hơn”.
128. It is quite clear that the Master is a keen observer of the egoic group with which He is affiliated.
128. Rõ ràng Chân sư là người quan sát tinh tường nhóm chân ngã mà Ngài có liên hệ.
129. When a man demonstrates a “linking light” or “bridging radiance” he is on the way to soul infusion. When the man is preoccupied with “the path of the just” he is more definitely building the higher part of the antahkarana—that part which we technically call the antahkarana.
129. Khi một người biểu lộ một “ánh sáng liên kết” hay “hào quang bắc cầu”, y đang tiến tới sự thấm nhuần của linh hồn. Khi người ấy chuyên chú vào “con đường của người công chính”, y đang xây dựng một cách rõ rệt hơn phần cao của antahkarana—phần mà về mặt chuyên môn chúng ta gọi là antahkarana.
130. For participation in this first stage of discipleship, then, the four requirements (the four prefaces to the Master’s interest) are:
130. Vậy, để tham gia giai đoạn đầu tiên này của địa vị đệ tử, bốn yêu cầu (bốn điều kiện tiên quyết để thu hút sự quan tâm của Chân sư) là:
130. Aspiration
130. Khát vọng
131. Karmic expiation of a dual sort
131. Sự thanh toán nghiệp quả thuộc hai loại
132. A downward gazing soul, increasingly more assertive
132. Một linh hồn nhìn xuống, ngày càng khẳng định uy lực mạnh mẽ hơn
133. The creation of a “linking light” or “bridging radiance” and eventually of the antahkarana proper.
133. Việc tạo ra một “ánh sáng liên kết” hay “hào quang bắc cầu”, và cuối cùng là antahkarana thực thụ.
131. It can, however, be questioned whether the chela passing through the humble stage of Little Chelaship has, in fact, built a very solid relationship with the Solar Angel, let alone the spiritual triad (to which the higher aspect of the antahkarana is the link).
131. Tuy nhiên, có thể đặt câu hỏi liệu đệ tử đang trải qua giai đoạn khiêm tốn của Địa vị tiểu đệ tử có thực sự xây dựng được một mối quan hệ thật vững chắc với Thái dương Thiên Thần hay chưa, chứ chưa nói đến Tam Nguyên Tinh Thần (mà phương diện cao của antahkarana là mối liên kết dẫn tới đó).
These four stages have been described in The Old Commentary in the following terms:
Cổ Luận đã mô tả bốn giai đoạn này bằng những lời sau:
132. The fourfold enumeration is now expressed in its original, archaic and more poetic form.
132. Giờ đây, bốn mục vừa liệt kê được diễn đạt bằng hình thức nguyên thủy, cổ xưa và giàu chất thơ hơn.
“The point of light shines forth. It waxes and it wanes. The point becomes a line through the starting of a vortex and from the centre of the whirling force, there comes a voice—invocative and clear.
“Điểm ánh sáng tỏa chiếu. Nó tăng rồi giảm. Điểm trở thành một đường khi một xoáy lực khởi động, và từ trung tâm của mãnh lực xoáy tròn, một tiếng nói vang lên—khẩn cầu và trong trẻo.
133. This section refers to the first of the four stages.
133. Phần này đề cập đến giai đoạn đầu tiên trong bốn giai đoạn.
134. The “point of light” is the light in the head.
134. “Điểm ánh sáng” là ánh sáng trong đầu.
135. The “flashing out” of the light is equivalent to the line arising from the vortex. The vortex is a vortex of aspiration.
135. Sự “lóe sáng” của ánh sáng tương đương với đường vươn lên từ xoáy lực. Xoáy lực ấy là một xoáy lực khát vọng.
136. The voice is an invocative cry; it has arisen from the vortex of aspiration.
136. Tiếng nói là một tiếng kêu khẩn cầu; nó phát sinh từ xoáy lực khát vọng.
137. The whirling of the vortex is what makes the ascent of aspiration possible. The whirling generates ascending force which reaches towards the One Who sits in silent work.
137. Chuyển động xoáy tròn của xoáy lực khiến khát vọng có thể vươn lên. Chuyển động xoáy tròn tạo ra mãnh lực hướng thượng, vươn tới Đấng đang ngồi làm việc trong im lặng.
The One Who sits in silent work, alone and unafraid (because the part is not alone and the group is unafraid) looks down, catches the light, reflects the whirling force and hears the voice.
Đấng đang ngồi làm việc trong im lặng, đơn độc và không sợ hãi (vì bộ phận không đơn độc và nhóm không sợ hãi), nhìn xuống, đón lấy ánh sáng, phản chiếu mãnh lực xoáy tròn và nghe tiếng nói.
138. This “One” is the soul/Solar Angel on its own plane. It is the “downward gazing soul”.
138. “Đấng” này là linh hồn/Thái dương Thiên Thần trên cõi riêng của Ngài. Đó là “linh hồn nhìn xuống”.
139. The “silent work” is the work of the Solar Angel, per se, when its attention is largely detached from that of the personality. What that work may be is only vaguely hinted in a few references. A higher form of telepathy is part of such work.
139. “Công việc trong im lặng” là công việc của chính Thái dương Thiên Thần, khi sự chú tâm của Ngài phần lớn tách rời khỏi sự chú tâm của phàm ngã. Công việc ấy có thể là gì thì chỉ được gợi ra mơ hồ trong một vài đoạn đề cập đến nó. Một hình thức viễn cảm cao hơn là một phần của công việc ấy.
140. This “One” is entirely group conscious and thus unafraid. The group is unafraid because the vulnerability which often causes fear is overcome through the mutual supplementation characteristic of group relation.
140. “Đấng” này hoàn toàn có tâm thức nhóm và vì thế không sợ hãi. Nhóm không sợ hãi vì sự bổ sung lẫn nhau, vốn là đặc trưng của quan hệ nhóm, khắc phục được tình trạng dễ bị tổn thương thường gây ra sợ hãi.
141. The part is not alone because it is engaged (‘below’) with other parts to which it is attached. The “part” has not achieved the “isolated unity” in which the One dwells.
141. Bộ phận không đơn độc vì nó gắn kết (‘ở dưới’) với những bộ phận khác mà nó liên thuộc. “Bộ phận” chưa đạt được “Hợp Nhất Cô Lập” mà Đấng Duy Nhất an trú trong đó.
142. The ascending line of light is caught by the One; thus there is engagement between the two. The ascending voice is heard, and later answered by the “Voice of the Soul”. The whirling force of the lower is somehow reflected by the higher. It would seem that a corresponding motion is the response of the higher.
142. Đấng Duy Nhất đón lấy đường ánh sáng vươn lên; nhờ đó hai bên có sự gắn kết. Tiếng nói vươn lên được nghe thấy, rồi sau đó được đáp lại bằng “Tiếng Nói của Linh Hồn”. Bằng cách nào đó, phần cao phản chiếu mãnh lực xoáy tròn của phần thấp. Dường như một chuyển động tương ứng là sự đáp ứng của phần cao.
Then from the silent point of power, a Word goes forth: Be still. Be silent. Know that I am God. The needed work will now begin.
Rồi từ điểm quyền năng im lặng, một Linh từ phát ra: Hãy tĩnh lặng. Hãy im lặng. Hãy biết rằng Ta là Thượng đế. Giờ đây, công việc cần thiết sẽ bắt đầu.
143. The downward gazing soul asserts itself through the power of a Word.
143. Linh hồn nhìn xuống khẳng định uy lực qua quyền năng của một Linh từ.
144. This Word is that which mystics have down the ages heard: “Be still and know that I am God”.
144. Linh từ này là điều mà các nhà thần bí qua bao thời đại đã nghe thấy: “Hãy tĩnh lặng và biết rằng Ta là Thượng đế”.
145. DK began this letter of instruction speaking of the unnecessary personality noise which obscured the soul, and our natural, inherent soul sensitivity. In this portion of the Old Commentary, the outer activity and noise of the outer form is subdued by the masterful soul/Solar Angel.
145. Chân sư DK mở đầu bức thư huấn thị này bằng cách nói về tiếng ồn không cần thiết của phàm ngã, vốn che khuất linh hồn và sự nhạy cảm tự nhiên, vốn có của chúng ta đối với linh hồn. Trong phần này của Cổ Luận, linh hồn/Thái dương Thiên Thần đầy uy lực làm lắng dịu hoạt động và tiếng ồn bên ngoài của hình tướng bên ngoài.
146. This Old Commentary selection seems to be preparing the personality for the onset of the white magical process.
146. Đoạn trích Cổ Luận này dường như đang chuẩn bị phàm ngã cho sự khởi đầu của tiến trình chánh thuật.
Between the Great One and the little striving one, communion is established; the interplay begins; the mind assumes its rightful place. The Path is surely laid. ”
Giữa Đấng Cao Cả và kẻ bé nhỏ đang nỗ lực, sự hiệp thông được thiết lập; sự tương tác bắt đầu; thể trí đảm nhận vị trí đúng đắn của mình. Đường Đạo được đặt nền vững chắc. ”
147. We are discussing something a Geminian process.
147. Chúng ta đang bàn về một tiến trình có phần mang tính Song Tử.
148. The “Great One” is the “Elder Brother” or the Solar Angel.
148. “Đấng Cao Cả” là “Huynh Trưởng” hay Thái dương Thiên Thần.
149. The “little striving one” is the personality.
149. “Kẻ bé nhỏ đang nỗ lực” là phàm ngã.
150. Communion and interplay are Geminian patterns.
150. Hiệp thông và tương tác là những mô hình Song Tử.
151. The alignment of soul/mind/brain is established.
151. Sự chỉnh hợp linh hồn/thể trí/bộ não được thiết lập.
152. The first part of the Path—the initial antahkarana, so necessary before the “Bridge of Light” proper can be built—is “surely laid”.
152. Phần đầu tiên của Đường Đạo—antahkarana sơ khởi, vốn rất cần thiết trước khi “Cầu Ánh Sáng” thực thụ có thể được xây dựng—được “đặt nền vững chắc”.
153. And all this (at least a good measure of it) takes place before the Master’s attention is attracted to the one who is ready to become a Little Chela.
153. Và tất cả những điều này (ít nhất là một phần đáng kể) diễn ra trước khi sự chú ý của Chân sư hướng đến người đã sẵn sàng trở thành một Tiểu đệ tử.
When the four aspects of inter-related activity are present, then what might be called “spiritual habits” begin to form and are steadily established. Their united effect serves eventually to attract the attention of the Master. The contact is still too feeble and the grip of the soul upon the personality is still too weak to warrant the Master Himself doing anything directly with the aspirant. The stage is one of pure mysticism and of selfish spiritual purpose. The recognition of group relationship is missing; the knowledge of group inclination is not present; there is no true, unselfish desire to serve. There is only a vague desire for personal liberation, for personal integrity and for personal lasting happiness. This has to be changed into group emancipation, group cohesion and group joy.
Khi bốn phương diện hoạt động liên hệ với nhau đều hiện diện, những gì có thể gọi là “thói quen tinh thần” bắt đầu hình thành và dần dần được thiết lập vững chắc. Cuối cùng, tác dụng kết hợp của chúng thu hút sự chú ý của Chân sư. Sự tiếp xúc vẫn còn quá yếu ớt và sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã vẫn còn quá yếu, chưa đủ để chính Chân sư trực tiếp làm điều gì với người chí nguyện. Đây là giai đoạn thuần túy thần bí và mang mục đích tinh thần ích kỷ. Chưa có sự nhận biết về quan hệ nhóm; chưa có sự hiểu biết về khuynh hướng của nhóm; không có mong muốn phụng sự chân thật, vô tư. Chỉ có một mong muốn mơ hồ về sự giải thoát cá nhân, sự toàn vẹn cá nhân và hạnh phúc cá nhân lâu bền. Điều này phải chuyển đổi thành sự giải phóng nhóm, sự cố kết nhóm và sự hoan hỉ của nhóm.
154. The four prefacing stages are called “four aspects of inter-related activity”.
154. Bốn giai đoạn mở đầu được gọi là “bốn phương diện hoạt động liên hệ với nhau”.
155. These four aspects contribute to the development of “spiritual habits”—new and soul-suited patterns of living.
155. Bốn phương diện này góp phần phát triển “thói quen tinh thần”—những mô hình sống mới, phù hợp với linh hồn.
156. The Tibetan, as stated, seems to extend some of the four stages into areas of activity appropriate to stages beyond Little Chelaship, but the statement is made that the “united effect” of the four eventually attracts the Master’s attention.
156. Như đã nói, Chân sư Tây Tạng dường như mở rộng một số trong bốn giai đoạn sang những lĩnh vực hoạt động phù hợp với các giai đoạn vượt trên Địa vị tiểu đệ tử, nhưng Ngài khẳng định rằng “tác dụng kết hợp” của cả bốn cuối cùng thu hút sự chú ý của Chân sư.
157. The Master may attend, however briefly, to the aspiring personality, but any soul contact thus far created, being relatively “feeble”, does not warrant the Master’s sustained attention. The truly Vulcanic grip of the soul has not yet been established. Once it is, the Master will increase His attentiveness.
157. Chân sư có thể chú ý đến phàm ngã đang khát vọng, dù chỉ trong chốc lát, nhưng bất kỳ sự tiếp xúc nào với linh hồn đã tạo lập được cho đến lúc này, do còn tương đối “yếu ớt”, đều chưa đủ để Chân sư duy trì sự chú ý. Sự nắm giữ thực sự mang tính Vulcan của linh hồn vẫn chưa được thiết lập. Một khi điều đó được thiết lập, Chân sư sẽ gia tăng sự chú tâm của Ngài.
158. DK emphasizes the selfishness of this stage even though earlier He said that the potential Little Chela has begun to work off some aspects of group karma as well as his own. Probably the “shouldering” of an aspect of the karma of his group is not performed from really selfless motives. It is more ‘spiritually instinctive’. Refer to the earlier citation from TCF 540-541 on the experiences associated with the sixth petal of the egoic lotus.
158. Chân sư DK nhấn mạnh tính ích kỷ của giai đoạn này, mặc dù trước đó Ngài nói rằng người có khả năng trở thành Tiểu đệ tử đã bắt đầu thanh toán một số phương diện của nghiệp quả nhóm cũng như nghiệp quả riêng của mình. Có lẽ việc “gánh vác” một phương diện nghiệp quả của nhóm mình không xuất phát từ những động cơ thực sự vô ngã. Điều đó mang tính ‘bản năng tinh thần’ nhiều hơn. Hãy tham khảo đoạn trích trước đó từ TCF 540-541 về những trải nghiệm gắn với cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen Chân Ngã.
159. These thoughts may provide another indication that the aspirant is still working with the love tier of petals rather than the sacrifice tier.
159. Những suy nghĩ này có thể đưa ra một dấu hiệu nữa cho thấy người chí nguyện vẫn đang làm việc với tầng cánh hoa bác ái hơn là tầng cánh hoa hi sinh.
160. The little chela (especially at the outset) is still essential personal and selfish.
160. Tiểu đệ tử (đặc biệt vào lúc khởi đầu) về căn bản vẫn mang tính cá nhân và ích kỷ.
161. The threefold equation offered by DK is most interesting.
161. Phép đối chiếu tam phân mà Chân sư DK đưa ra rất thú vị.
a. The vague desire for personality liberation must be transformed into group emancipation.
a. Mong muốn mơ hồ về sự giải thoát phàm ngã phải chuyển đổi thành sự giải phóng nhóm.
b. The desire for personal integrity must be transformed into the will towards group cohesion.
b. Mong muốn về sự toàn vẹn cá nhân phải chuyển đổi thành ý chí hướng tới sự cố kết nhóm.
c. The desire for personal lasting happiness must be transformed into the will towards group joy.
c. Mong muốn về hạnh phúc cá nhân lâu bền phải chuyển đổi thành ý chí hướng tới sự hoan hỉ của nhóm.
162. The third aspect of divinity is associated with the individual and with rotary motion. There must be a transformation into the second aspect of divinity represented by the group states enumerated immediately above. Group process is associated with “spiral-cyclic motion”.
162. Phương diện thứ ba của thiên tính gắn với cá nhân và chuyển động quay. Phải có sự chuyển đổi sang phương diện thứ hai của thiên tính, biểu hiện qua các trạng thái nhóm vừa liệt kê ở trên. Tiến trình nhóm gắn với “chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ”.
163. It would seem that in this stage (at least the beginning of it) there is insufficient love of one’s fellowman to produce an initiate of even the first degree.
163. Dường như trong giai đoạn này (ít nhất là lúc khởi đầu), tình thương đối với đồng loại chưa đủ để tạo nên một điểm đạo đồ, dù chỉ ở cấp thứ nhất.
Members of the New Group of World Servers should watch with care for all those who show signs of having passed through the “birth” experience and should help them toward a greater maturity. They should assume that all those who truly love their fellowmen, who are interested in the esoteric teaching, and who seek to discipline themselves in order to attain greater beauty of life, are initiate and have undergone the first initiation. (R&I 667)
Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nên cẩn thận quan sát tất cả những ai có dấu hiệu đã trải qua kinh nghiệm “giáng sinh” và nên giúp họ đạt tới sự trưởng thành hơn nữa. Họ nên xem rằng tất cả những ai thực sự yêu thương đồng loại, quan tâm đến giáo huấn nội môn và tìm cách tự rèn luyện để đạt tới một đời sống đẹp đẽ hơn, đều là điểm đạo đồ và đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. (R&I 667)
Probably little chelas love themselves more than their fellowmen.
Có lẽ các tiểu đệ tử yêu chính mình hơn đồng loại.
164. We may think of little chelas as numbered among disciples, but really, they are probationary disciples who are more aspirants than disciples. We must remember that the term “aspirant” may, in certain contexts, signify those who have already taken the first initiation.
164. Chúng ta có thể nghĩ rằng các tiểu đệ tử thuộc hàng đệ tử, nhưng thực ra họ là đệ tử dự bị, mang tính người chí nguyện nhiều hơn là đệ tử. Chúng ta phải nhớ rằng thuật ngữ “người chí nguyện”, trong một số ngữ cảnh, có thể chỉ những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất.
The first stage, therefore, in the training of such an aspirant is to relate him to a more advanced disciple who will lead him gradually onward and give him the help he needs. The reason for this is that the disciple is closer to the aspirant, far from perfection himself and is also learning to serve. This stage of development covers the period of occult enquiry and esoteric [716] investigation and usually is spread over several lives. The aspirant at this stage runs from one teacher to another, according to inclination, opportunity and necessity. He is an example of instability but is carefully watched by the disciple who has transcended this particular stage of volatility; his task is to see that the aspirant escapes from this “network of futility,” as it is sometimes called, and that he gradually settles down to the later stage of interior investigation.
Do đó, giai đoạn đầu tiên trong việc huấn luyện một người chí nguyện như vậy là kết nối y với một đệ tử tiến bộ hơn, người sẽ dần dần dẫn dắt y tiến bước và giúp đỡ y theo nhu cầu. Lý do là người đệ tử gần gũi với người chí nguyện hơn, bản thân còn xa mới hoàn thiện và cũng đang học cách phụng sự. Giai đoạn phát triển này bao gồm thời kỳ tìm hiểu huyền bí và khảo cứu nội môn [716] và thường kéo dài qua nhiều kiếp sống. Ở giai đoạn này, người chí nguyện chạy từ huấn sư này sang huấn sư khác, tùy theo khuynh hướng, cơ hội và nhu cầu. Y là một điển hình của sự thiếu ổn định, nhưng người đệ tử đã vượt qua giai đoạn dao động đặc thù này vẫn cẩn thận theo dõi y; nhiệm vụ của người đệ tử là bảo đảm người chí nguyện thoát khỏi “mạng lưới vô ích,” như đôi khi người ta gọi, và dần dần ổn định để bước vào giai đoạn khảo cứu nội tâm về sau.
165. In this paragraph, the little chela is called an “aspirant”. That is what he actually is.
165. Trong đoạn này, tiểu đệ tử được gọi là một “người chí nguyện”. Đó chính là địa vị thực sự của người ấy.
166. The more advanced disciple or chela on the physical plane to whom the little chela becomes related, will direct and lead the chela upon the spiritual path.
166. Người đệ tử tiến bộ hơn trên cõi hồng trần, mà tiểu đệ tử được kết nối với, sẽ chỉ dẫn và dẫn dắt tiểu đệ tử trên con đường tinh thần.
167. The one who leads and guides the little chela is far from perfect. He is only a disciple, though a more advanced disciple than the little chela. Because the guiding disciple is closer in development to the little chela, he can more easily supply the little chela with what he needs for progress.
167. Người dẫn dắt và hướng dẫn tiểu đệ tử còn xa mới hoàn thiện. Người ấy chỉ là một đệ tử, dù tiến bộ hơn tiểu đệ tử. Vì mức phát triển của người đệ tử hướng dẫn gần với tiểu đệ tử hơn, người ấy có thể dễ dàng cung cấp cho tiểu đệ tử những gì cần thiết để tiến bộ.
168. How many lives are “several lives”? Three, four, five, perhaps six. The stage of Little Chelaship begins, it would seem, before the first initiation, but may conclude afterwards. We will try to dray accurate conclusions. The Teaching does not say with definition that those in the stages of Little Chelaship or Chela in the Light must necessarily have taken the first initiation. Accepted disciples, however, must have taken the Initiation of the Birth.
168. “Nhiều kiếp sống” là bao nhiêu kiếp? Ba, bốn, năm, có lẽ sáu. Dường như giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử bắt đầu trước lần điểm đạo thứ nhất, nhưng có thể kết thúc sau đó. Chúng ta sẽ cố gắng rút ra những kết luận chính xác. Giáo Huấn không khẳng định rõ rằng những người ở các giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử hay Đệ tử trong Ánh sáng nhất thiết phải trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, các đệ tử được chấp nhận phải trải qua Cuộc Điểm Đạo Giáng Sinh.
169. What characterizes this stage of Little Chelaship?—positively, “occult enquiry and esoteric investigation”. Many questions are asked, but the method of receiving answers is initially superficial.
169. Điều gì đặc trưng cho giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử này?—Về mặt tích cực, đó là “tìm hiểu huyền bí và khảo cứu nội môn”. Nhiều câu hỏi được đặt ra, nhưng lúc đầu, phương pháp tiếp nhận câu trả lời còn hời hợt.
170. Again, associating this stage with the third ray, the aspirant runs here and there in search of answers, teaching and guidance. He often lands in a “network of futility:” (again suggesting the third ray). He is characterized by instability which suggests the importance of Gemini, the third sign (in its earlier application). He is more Mercurial than Venusian, for Mercury in this instance represents the concrete mind and Venus, the soul. The personality ray of Mercury may well be the third.
170. Một lần nữa, khi liên hệ giai đoạn này với cung ba, người chí nguyện chạy khắp nơi tìm kiếm câu trả lời, giáo huấn và sự hướng dẫn. Y thường rơi vào một “mạng lưới vô ích:” (một lần nữa gợi đến cung ba). Y có đặc điểm là thiếu ổn định, điều này gợi ra tầm quan trọng của Song Tử, dấu hiệu thứ ba (trong tác động ở giai đoạn đầu của nó). Y mang tính Sao Thủy nhiều hơn Sao Kim, vì trong trường hợp này, Sao Thủy đại diện cho trí cụ thể, còn Sao Kim đại diện cho linh hồn. Cung phàm ngã của Sao Thủy rất có thể là cung ba.
171. We can see that the aspirant who is the little chela is very extroverted and only later settles down to the “interior investigation” which is the sounder and deeper approach of one who can call himself a true disciple.
171. Chúng ta có thể thấy rằng người chí nguyện ở địa vị tiểu đệ tử rất hướng ngoại, và chỉ về sau mới ổn định để “khảo cứu nội tâm”, vốn là cách tiếp cận vững chắc hơn và sâu sắc hơn của người có thể tự gọi mình là một đệ tử chân chính.
172. Perhaps some of are presently little chelas, but in all probability, serious students of DK’s Teaching have outgrown this stage. Perhaps a number of us have as a responsibility the supervision of little chelas. If this is the case, we have to help them escape from the “network of futility” in which they have become ensnared through unregulated, chaotic aspiration and lack of discipline.
172. Có lẽ một số người trong chúng ta hiện là tiểu đệ tử, nhưng rất có thể những đạo sinh nghiêm túc nghiên cứu Giáo Huấn của Chân sư DK đã vượt qua giai đoạn này. Có lẽ một số người trong chúng ta có trách nhiệm giám sát các tiểu đệ tử. Nếu đúng như vậy, chúng ta phải giúp họ thoát khỏi “mạng lưới vô ích” mà họ đã mắc vào do khát vọng hỗn loạn, không được điều hòa và do thiếu kỷ luật.
173. A guiding physical plane disciple is a point of stability in the life of a little chela.
173. Một đệ tử hướng dẫn trên cõi hồng trần là một điểm ổn định trong đời sống của tiểu đệ tử.
During all this period, the Master pays no attention whatsoever to the aspirant. It will be a long time before the aspirant will be admitted into His presence and make a personal contact. The chela who is supervising this interim stage reports to the Master at rare and widely separated intervals; it is only when the aspirant has reached the point where he “can enter into the light of the Angel,” that the Master begins to take over his training. The disciple is now, irrevocably and finally, ready. This takes place at the third stage, that of Accepted Discipleship.
Trong suốt thời kỳ này, Chân sư hoàn toàn không chú ý đến người chí nguyện. Phải còn lâu người chí nguyện mới được phép đến trước sự hiện diện của Ngài và thiết lập sự tiếp xúc cá nhân. Người đệ tử giám sát giai đoạn chuyển tiếp này báo cáo với Chân sư vào những dịp hiếm hoi và cách xa nhau; chỉ khi người chí nguyện đạt tới điểm mà y “có thể bước vào ánh sáng của Thiên Thần,” Chân sư mới bắt đầu đảm nhận việc huấn luyện y. Giờ đây, người đệ tử đã hoàn toàn sẵn sàng, dứt khoát và không thể đảo ngược. Điều này diễn ra ở giai đoạn thứ ba, giai đoạn Địa vị Đệ tử Được Chấp nhận.
174. The Master may have noticed the one who is ready to enter the stage of Little Chelaship, but no further attention needs to be paid to such an aspirant. The supervising attention of the guiding disciple upon the physical plane will be sufficient.
174. Chân sư có thể đã nhận thấy người đã sẵn sàng bước vào giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, nhưng không cần chú ý thêm đến người chí nguyện ấy. Sự chú tâm giám sát của người đệ tử hướng dẫn trên cõi hồng trần là đủ.
175. How long will it be before the aspirant turned disciple will be admitted into the Master’s presence? If the stage of Little Chelaship lasts “several lives” and the stage of Chela in the Light a few more, perhaps it could be eight, nine or ten lives before the advancing chela is admitted into the presence of the Master as a true “accepted disciple”. Subjective (and largely unconscious) contact with the Master is always possible long before fully personal contact becomes possible.
175. Phải mất bao lâu người chí nguyện đã trở thành đệ tử mới được phép đến trước sự hiện diện của Chân sư? Nếu giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử kéo dài “nhiều kiếp sống” và giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng kéo dài thêm vài kiếp nữa, thì có lẽ phải tám, chín hay mười kiếp sống trước khi người đệ tử đang tiến bước được phép đến trước sự hiện diện của Chân sư với tư cách một “đệ tử được chấp nhận” đích thực. Sự tiếp xúc chủ quan (và phần lớn là vô thức) với Chân sư luôn có thể xảy ra từ rất lâu trước khi sự tiếp xúc hoàn toàn mang tính cá nhân trở nên khả hữu.
176. It is established, then, that the Master, although aware of the little chela, does not direct and guide his development. That is left to supervising chelas upon the physical plane.
176. Như vậy, đã xác định rằng Chân sư, tuy biết đến tiểu đệ tử, vẫn không chỉ dẫn và hướng dẫn sự phát triển của người ấy. Việc đó được giao cho các đệ tử giám sát trên cõi hồng trần.
177. The guiding physical plane chela must be capable of reporting to the Master regarding the little chela’s progress. This seems to be a requirement, and the fulfillment of this requirement must be possible (at least on inner planes) even if the guiding chela is not aware of his capacity to make such a report.
177. Người đệ tử hướng dẫn trên cõi hồng trần phải có khả năng báo cáo với Chân sư về sự tiến bộ của tiểu đệ tử. Đây dường như là một yêu cầu, và việc đáp ứng yêu cầu này phải khả thi (ít nhất trên các cõi bên trong), ngay cả khi người đệ tử hướng dẫn không biết mình có khả năng thực hiện một báo cáo như vậy.
178. The intervals for reporting are, however, rare and infrequent, which makes one wonder whether a little chela might not have the same guiding physical plane chela for more than one incarnation.
178. Tuy nhiên, những dịp báo cáo rất hiếm hoi và thưa thớt, khiến người ta tự hỏi liệu một tiểu đệ tử có thể được cùng một đệ tử trên cõi hồng trần hướng dẫn qua hơn một kiếp lâm phàm hay không.
179. When is it that the aspirant can “enter into the light of the Angel”? It is certainly not before the first initiation. In fact, it would seem that the stage of “Chela in the Light” must have been passed, for a Master only takes over the training of a chela when that chela has moved from an “accepting disciple”, through the phrase of “pledged disciple” and into the condition where he may be technically “accepted” by the Master. This moving into the light therefore, will most probably occur not before the midway point between the first and second initiations, for at that time the stage of “accepted disciple” technically understood, may begin.
179. Khi nào người chí nguyện có thể “bước vào ánh sáng của Thiên Thần”? Chắc chắn không phải trước lần điểm đạo thứ nhất. Thực ra, dường như người ấy phải trải qua giai đoạn “Đệ tử trong Ánh sáng”, vì một Chân sư chỉ đảm nhận việc huấn luyện một đệ tử khi người ấy đã chuyển từ một “đệ tử chấp nhận”, qua giai đoạn “đệ tử đã lập nguyện”, rồi bước vào trạng thái mà, về mặt chuyên môn, người ấy có thể “được chấp nhận” làm đệ tử của Chân sư. Do đó, rất có thể việc bước vào ánh sáng này sẽ không xảy ra trước điểm giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, vì vào lúc ấy, giai đoạn “đệ tử được chấp nhận”, hiểu theo nghĩa chuyên môn, mới có thể bắt đầu.
180. Actually, DK states directly that the disciple ready for direct training by the Master is an “accepted disciple”.
180. Thực ra, Chân sư DK trực tiếp khẳng định rằng người đệ tử sẵn sàng để Chân sư trực tiếp huấn luyện là một “đệ tử được chấp nhận”.
181. We may say that when a disciple can “enter into the light of the Angel” he can become an “accepted disciple”, directly supervised by the Master.
181. Chúng ta có thể nói rằng khi một đệ tử có thể “bước vào ánh sáng của Thiên Thần”, y có thể trở thành một “đệ tử được chấp nhận”, dưới sự giám sát trực tiếp của Chân sư.
These stages are all of them related to one or other of the initiations. This one, called Little Chelaship, is related to the first initiation. This initiation is connected with the physical plane and, for a very large number of people (as I have several times pointed out) lies far behind. All true aspirants have taken the first initiation. This fact is indicated by their intensive struggle to grow into the spiritual life, to follow the way of determined orientation to the things of the spirit and to live by the light of that spirit. I believe that many who read my words will recognise these determinations as the basic motivation of their lives.
Tất cả những giai đoạn này đều liên hệ với một trong các cuộc điểm đạo. Giai đoạn này, được gọi là Địa vị tiểu đệ tử, liên hệ với lần điểm đạo thứ nhất. Cuộc điểm đạo này gắn với cõi hồng trần và, đối với rất nhiều người, đã lùi xa phía sau (như Tôi đã nhiều lần chỉ ra). Tất cả những người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Sự kiện này thể hiện qua nỗ lực đấu tranh mãnh liệt của họ để trưởng thành trong đời sống tinh thần, đi theo con đường kiên quyết hướng về những điều thuộc tinh thần và sống theo ánh sáng của tinh thần ấy. Tôi tin rằng nhiều người đọc những lời của Tôi sẽ nhận ra những quyết tâm này là động lực căn bản của đời mình.
182. If all the Six Stages of Discipleship relate to one or other of the initiations, then we are being instructed about disciplic stages which correlate to perhaps six or seven initiations. But I do not think that the alignment between the stages and the initiations is quite so straightforward. The third stage (that of accepted discipleship) is possible of attainment well before the second initiation, so we see that a strictly linear, one-to-one matching of disciplic stages and initiations will not be entirely satisfactory.
182. Nếu cả Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử đều liên hệ với một trong các cuộc điểm đạo, thì chúng ta đang được chỉ dạy về những giai đoạn đệ tử tương ứng với có lẽ sáu hoặc bảy cuộc điểm đạo. Nhưng tôi không nghĩ rằng sự tương ứng giữa các giai đoạn và các cuộc điểm đạo lại đơn giản đến thế. Người ta có thể đạt đến giai đoạn thứ ba (địa vị đệ tử được chấp nhận) từ khá lâu trước lần điểm đạo thứ hai, nên chúng ta thấy rằng việc ghép các giai đoạn đệ tử với các cuộc điểm đạo theo một trình tự tuyến tính nghiêm ngặt, tương ứng từng giai đoạn một, sẽ không hoàn toàn thỏa đáng.
183. When the stage of Little Chelaship is here connected with the first initiation, I do not think that the earliest lives as a little chela are necessarily lived as first degree initiate. The Master must sponsor or recommend the disciple for initiation, and, as we have been told, the Master has very little to do with the little chela (paying no attention to him) especially at the beginning of his novitiate.
183. Khi giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử được liên kết ở đây với lần điểm đạo thứ nhất, tôi không nghĩ rằng trong những kiếp đầu tiên làm tiểu đệ tử, người ta nhất thiết đã là điểm đạo đồ bậc một. Chân sư phải bảo trợ hoặc tiến cử đệ tử để được điểm đạo, và như chúng ta đã được cho biết, Chân sư rất ít liên hệ với tiểu đệ tử (không chú ý đến y), nhất là vào đầu thời kỳ tập sự của y.
184. Perhaps during the later stages of Little Chelaship (since this stage is said to take several lives) the first initiation may become a possibility.
184. Có lẽ trong những giai đoạn về sau của Địa vị tiểu đệ tử (vì giai đoạn này được cho là kéo dài vài kiếp), lần điểm đạo thứ nhất mới có thể trở thành một khả năng.
185. If all “true aspirants” have taken the first initiation, we must surely discriminate between the aspirant and the true aspirant, for the stage of aspiration must surely begin before the first initiation. (at which time the Christ is met face to face for the first time). From this perspective, it can be questioned whether a little chela is, initially, really a “true aspirant”, or only becomes so in the later stages of his little chelaship.
185. Nếu tất cả “những người chí nguyện chân chính” đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, thì chắc chắn chúng ta phải phân biện giữa người chí nguyện và người chí nguyện chân chính, vì hẳn giai đoạn khát vọng phải bắt đầu trước lần điểm đạo thứ nhất. (đó là lúc người ta lần đầu tiên gặp Đức Christ mặt đối mặt). Từ góc nhìn này, có thể đặt câu hỏi liệu lúc đầu một tiểu đệ tử có thực sự là một “người chí nguyện chân chính”, hay chỉ trở thành như thế trong những giai đoạn về sau của địa vị tiểu đệ tử.
186. Further characteristics of the first degree initiate are offered: “All true aspirants have taken the first initiation. This fact is indicated by their intensive struggle to grow into the spiritual life, to follow the way of determined orientation to the things of the spirit and to live by the light of that spirit. I believe that many who read my words will recognise these determinations as the basic motivation of their lives. ”
186. Những đặc điểm khác của điểm đạo đồ bậc một được nêu ra: “Tất cả những người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Sự kiện này thể hiện qua nỗ lực đấu tranh mãnh liệt của họ để trưởng thành trong đời sống tinh thần, đi theo con đường kiên quyết hướng về những điều thuộc tinh thần và sống theo ánh sáng của tinh thần ấy. Tôi tin rằng nhiều người đọc những lời của Tôi sẽ nhận ra những quyết tâm này là động lực căn bản của đời mình. ”
187. The word “spirit” frequently means “monad”, but in this case its meaning refers more to the soul as the source of spiritual life.
187. Từ “tinh thần” thường có nghĩa là “chân thần”, nhưng trong trường hợp này, ý nghĩa của nó nghiêng về linh hồn như nguồn cội của đời sống tinh thần.
188. DK seems to be suggesting that many who will read these words are first degree initiates and, as such, have passed or are rapidly passing out of the stage of Little Chelaship.
188. Dường như Chân sư DK đang gợi ý rằng nhiều người sẽ đọc những lời này là các điểm đạo đồ bậc một và, với tư cách ấy, đã vượt qua hoặc đang nhanh chóng vượt khỏi giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử.
This stage is a correspondence to the process of individualisation in Lemurian times and the stage of Little Chelaship is sometimes referred to as the “period of the Lemurian consciousness” leading, through the Atlantean stage of a Chela in the Light, to the Aryan stage of Accepted Discipleship. At this stage, the third and real preparation for initiation is consciously undertaken, because by then integration has been stabilised and the man is full grown and mature in his consciousness and is ready to subject himself to hierarchical impression without reservation.
Giai đoạn này tương ứng với tiến trình biệt ngã hóa trong thời Lemuria, và giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử đôi khi được gọi là “thời kỳ tâm thức Lemuria”, dẫn qua giai đoạn Atlantis của Đệ tử trong Ánh sáng đến giai đoạn Arya của Địa vị Đệ tử được Chấp nhận. Ở giai đoạn này, sự chuẩn bị thứ ba và thực sự cho điểm đạo được tiến hành một cách có ý thức, vì đến lúc ấy sự tích hợp đã ổn định và con người đã phát triển đầy đủ, trưởng thành trong tâm thức và sẵn sàng đón nhận ấn tượng từ Thánh đoàn mà không dè dặt.
189. Wider correspondences to these Stages of Discipleship are now offered. Little Chelaship is “Lemurian”; Chela in the Light is Atlantean; and Accepted Discipleship is Aryan.
189. Giờ đây, những sự tương ứng rộng hơn với các Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử này được trình bày. Địa vị tiểu đệ tử thuộc “Lemuria”; Đệ tử trong Ánh sáng thuộc Atlantis; và Địa vị Đệ tử được Chấp nhận thuộc Arya.
190. As broad categories, these divisions are useful, but the analogy should not be forced.
190. Xét như những phạm trù rộng, các cách phân chia này hữu ích, nhưng không nên gượng ép phép tương đồng.
191. It is inferred that preparation for the first two initiations is not “real preparation for initiation” which can only be undertaken in the stage of accepted discipleship. The third preparation is the real preparation. In fact, it seems to be the third initiation which is here referenced as “initiation”, even though one may become an accepted disciple before having taken the second degree.
191. Có thể suy ra rằng sự chuẩn bị cho hai lần điểm đạo đầu tiên không phải là “sự chuẩn bị thực sự cho điểm đạo”, vốn chỉ có thể được tiến hành trong giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận. Sự chuẩn bị thứ ba mới là sự chuẩn bị thực sự. Thực ra, dường như chính lần điểm đạo thứ ba được nhắc đến ở đây bằng từ “điểm đạo”, mặc dù người ta có thể trở thành đệ tử được chấp nhận trước khi đạt bậc điểm đạo thứ hai.