Trích nội dung chương
192. The accepted disciple ready to prepare for the third degree is “full grown and mature in his consciousness”—preparing to become the “full grown man in Christ”. 192. Người đệ tử được chấp nhận, đã sẵn sàng chuẩn bị cho bậc điểm đạo thứ ba, là người “đã phát triển đầy đủ và trưởng thành trong tâm thức”—đang chuẩn bị trở thành “con người trưởng thành trọn vẹn trong Đức Christ”.
192. The accepted disciple ready to prepare for the third degree is “full grown and mature in his consciousness”—preparing to become the “full grown man in Christ”.
192. Người đệ tử được chấp nhận, đã sẵn sàng chuẩn bị cho bậc điểm đạo thứ ba, là người “đã phát triển đầy đủ và trưởng thành trong tâm thức”—đang chuẩn bị trở thành “con người trưởng thành trọn vẹn trong Đức Christ”.
193. We find an inference that preparatory initiates of the first two degrees are not really ready to subject themselves “to hierarchical impression without reservation. ” The one preparing for the third degree, however, is ready.
193. Chúng ta thấy có hàm ý rằng các điểm đạo đồ dự bị thuộc hai bậc đầu chưa thực sự sẵn sàng đón nhận “ấn tượng từ Thánh đoàn mà không dè dặt. ” Tuy nhiên, người đang chuẩn bị cho bậc thứ ba đã sẵn sàng.
194. In His correspondential classifications, DK is definitely equating accepted discipleship with the third degree—the initiation of “integration”, of maturity and of unreserved willingness to receive hierarchical impression.
194. Trong cách phân loại theo sự tương ứng của Ngài, Chân sư DK rõ ràng đang đồng nhất địa vị đệ tử được chấp nhận với bậc điểm đạo thứ ba—cuộc điểm đạo của “sự tích hợp”, của sự trưởng thành và của thái độ sẵn lòng đón nhận ấn tượng từ Thánh đoàn mà không chút dè dặt.
195. When we study these stages of discipleship, we should remain aware of the initiations to which they correspond, bearing in mind that when specific people and their lives are studied, there may be exceptions. Taking a real-life example, all of the members of Master DK’s New Seed Group were, technically, “accepted disciples” yet very few of them were preparing for the third degree. However, even if they were preparing for the second, it should be borne in mind that the second and third degrees will often be taken in the same life—so as accepted disciples, they were still very close to the third degree.
195. Khi nghiên cứu các giai đoạn của địa vị đệ tử này, chúng ta nên luôn nhận biết những cuộc điểm đạo mà chúng tương ứng, đồng thời ghi nhớ rằng có thể có những ngoại lệ khi nghiên cứu những con người cụ thể và cuộc đời của họ. Lấy một ví dụ thực tế, tất cả các thành viên trong Nhóm Hạt Giống Mới của Chân sư DK, xét về mặt chuyên môn, đều là “đệ tử được chấp nhận”, nhưng rất ít người trong số họ đang chuẩn bị cho bậc điểm đạo thứ ba. Tuy nhiên, ngay cả khi họ đang chuẩn bị cho bậc thứ hai, cần nhớ rằng người ta thường đạt bậc thứ hai và thứ ba trong cùng một kiếp—vì thế, với tư cách đệ tử được chấp nhận, họ vẫn rất gần bậc thứ ba.
There is no need further to enlarge upon this preliminary phase, upon the weary, though inspiring path of discipleship. [717] Much has been given out to the world anent this matter with almost undue emphasis upon purification, service and devotion. The reason that I say this is that they should be assumed to constitute part of the exoteric life expression of all true aspirants. They are not esoteric causes but exoteric effects of inner attitudes.
Không cần bàn rộng thêm về giai đoạn sơ bộ này trên Con Đường Đệ Tử đầy nhọc nhằn nhưng cũng đầy cảm hứng. [717] Thế gian đã nhận được nhiều giáo huấn về vấn đề này, với sự nhấn mạnh gần như quá mức vào thanh lọc, phụng sự và sùng tín. Sở dĩ Tôi nói như vậy là vì cần xem những điều ấy là một phần đương nhiên trong biểu hiện đời sống ngoại môn của mọi người chí nguyện chân chính. Chúng không phải là những nguyên nhân nội môn mà là những hiệu quả ngoại môn của các thái độ bên trong.
196. The Path of Discipleship, we are told, is both “weary” and “inspiring”. To this assertion we can relate, can we not?
196. Chúng ta được cho biết rằng Con Đường Đệ Tử vừa “nhọc nhằn” vừa “đầy cảm hứng”. Chúng ta có thể đồng cảm với lời khẳng định này, phải không?
197. The phase of Little Chelaship is “preliminary”, yet, it would seem, demanding in its own way. There are perhaps fewer initiates of the first degree than many disciples imagine, but their numbers will soon increase.
197. Giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử mang tính “sơ bộ”, nhưng dường như vẫn có những đòi hỏi riêng. Có lẽ số điểm đạo đồ bậc một ít hơn điều nhiều đệ tử hình dung, nhưng số lượng của họ sẽ sớm gia tăng.
198. In the literature focussed on the stage of Little Chelaship there is perhaps too much emphasis placed upon purification, service and devotion. A more interior approach is required, and the realization that these three factors are the resultant effects of inner attitudes.
198. Trong các tài liệu tập trung vào giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử, có lẽ người ta nhấn mạnh quá nhiều vào thanh lọc, phụng sự và sùng tín. Cần một cách tiếp cận hướng vào bên trong hơn, cùng sự nhận biết rằng ba yếu tố này là những hiệu quả phát sinh từ các thái độ bên trong.
199. The modern disciple (of the kind the Arcane School sought and seeks to train) is assumed to be at least a little chela and probably beyond.
199. Người đệ tử hiện đại (thuộc mẫu người mà Trường Arcane đã và đang tìm cách đào tạo) được xem là ít nhất đã ở địa vị tiểu đệ tử và có lẽ đã vượt qua giai đoạn ấy.
As we continue our studies on the Stages of Discipleship, I would point out anew that for the majority of the aspirants in the world and for highly advanced people with a humanitarian consciousness, the first stage lies far behind. Many people today are “accepted disciples” and that is, as you well know, the third stage, and behind them, therefore, lie three experiences:
Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu các Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử, Tôi muốn một lần nữa chỉ ra rằng đối với phần lớn những người chí nguyện trên thế giới và những người tiến hóa cao có tâm thức nhân đạo, giai đoạn thứ nhất đã lùi xa phía sau. Ngày nay, nhiều người là “đệ tử được chấp nhận” và, như các bạn biết rõ, đó là giai đoạn thứ ba; do vậy, phía sau họ là ba kinh nghiệm:
200. DK views humanity en large and offers us some perspective. In this instance, He seems to equate aspirants with “advanced people” and therefore, reasonably, with “advanced humanity”.
200. Chân sư DK nhìn nhân loại trên bình diện rộng và cho chúng ta một góc nhìn. Trong trường hợp này, dường như Ngài đồng nhất những người chí nguyện với “những người tiến hóa” và do đó, một cách hợp lý, với “bộ phận nhân loại tiến hóa”.
201. Sometimes, in the Teaching, it seems that members of “advanced humanity” are not even to be considered aspirants and certainly not disciples. But here the equation is made.
201. Đôi khi, trong Giáo Huấn, dường như những người thuộc “bộ phận nhân loại tiến hóa” thậm chí chưa được xem là người chí nguyện, và chắc chắn chưa phải đệ tử. Nhưng ở đây, hai nhóm này được đồng nhất.
202. We must note that the highly advanced people here mentioned have a “humanitarian consciousness”, so it is not merely that they are intelligent, but that they have heart. Advanced, intelligent people can also be selfish; this type would not be numbered among real aspirants.
202. Chúng ta phải lưu ý rằng những người tiến hóa cao được nhắc đến ở đây có “tâm thức nhân đạo”, nên họ không chỉ thông minh mà còn có tấm lòng. Những người tiến hóa và thông minh cũng có thể ích kỷ; mẫu người này sẽ không được kể vào hàng những người chí nguyện chân chính.
203. There are some aspirants, apparently, for whom the stage of Little Chelaship does not lie far behind. Perhaps they are now passing through that stage, or perhaps, while lying “behind”, the stage does not lie far behind.
203. Dường như có một số người chí nguyện mà đối với họ, giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử chưa lùi xa phía sau. Có lẽ hiện giờ họ đang trải qua giai đoạn ấy, hoặc có lẽ tuy đã ở “phía sau”, giai đoạn ấy vẫn chưa lùi xa phía sau.
204. The implication in all this is that the stage of Little Chelaship lies behind most who will carefully read these words. This is another way of saying that Master DK is doing much of His writing for those who are initiates of the first degree.
204. Tất cả những điều này hàm ý rằng phần lớn những người sẽ đọc kỹ những lời này đã vượt qua giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử. Đây là một cách khác để nói rằng Chân sư DK dành phần lớn những điều Ngài viết cho các điểm đạo đồ bậc một.
205. Are there many accepted disciples today? Master DK says so. Do these people know that they are accepted disciples? Not necessarily, but they may begin to infer or intuit the fact.
205. Ngày nay có nhiều đệ tử được chấp nhận không? Chân sư DK nói là có. Những người này có biết rằng mình là đệ tử được chấp nhận không? Không nhất thiết, nhưng họ có thể bắt đầu suy ra hoặc trực nhận sự kiện ấy.
206. Behind the accepted disciple lie the stages of Little Chelaship and Chela in the Light, and the first initiation! The implication here is that the little chela or the chela in the light may not be initiates of the first degree, but an accepted disciple must be. This is an important idea and may have to be compared with other references which seem to indicate otherwise with respect to the stage of Chela in the Light.
206. Phía sau người đệ tử được chấp nhận là các giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử và Đệ tử trong Ánh sáng, cùng với lần điểm đạo thứ nhất! Hàm ý ở đây là tiểu đệ tử hoặc đệ tử trong ánh sáng có thể chưa phải là điểm đạo đồ bậc một, nhưng một đệ tử được chấp nhận nhất thiết phải là như vậy. Đây là một ý tưởng quan trọng và có lẽ cần đối chiếu với những đoạn tham chiếu khác dường như chỉ ra điều ngược lại về giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng.
1. The stage of “Little Chelaship”—elementary, testing and disturbing. It is sometimes spoken of as the “stage wherein the roots of the man-plant are shaken; the stage in which they (up till now embedded) are loosened and air and light disturb the peace of ages. This is the peace of death, the age of stone, the tomb of life. ”
1. Giai đoạn “Địa vị tiểu đệ tử”—sơ đẳng, đầy thử thách và xáo trộn. Đôi khi giai đoạn này được nói đến như “giai đoạn mà rễ của cây người bị lay động; giai đoạn mà những rễ ấy (cho đến lúc này vẫn cắm sâu) được nới lỏng, và không khí cùng ánh sáng khuấy động sự yên bình của bao thời đại. Đây là sự yên bình của cái chết, thời đại của đá, nấm mồ của sự sống. ”
207. The stage of Little Chelaship is described in terms of the Old Commentary.
207. Giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử được mô tả bằng ngôn từ của Cổ Luận.
208. We can sense in this stage the awakening which must occur before the first initiation becomes possible.
208. Trong giai đoạn này, chúng ta có thể cảm nhận sự thức tỉnh phải diễn ra trước khi lần điểm đạo thứ nhất trở nên khả thi.
209. The “roots of the man-plant” are shaken free from the soil of the ages. A great process of detachment is enforced. Vulcan and Pluto do their work. Saturn and Uranus are also involved.
209. Những “rễ của cây người” bị lay bật khỏi lớp đất của bao thời đại. Một tiến trình tách rời lớn lao buộc phải diễn ra. Vulcan và Sao Diêm Vương thực hiện công việc của mình. Sao Thổ và Sao Thiên Vương cũng tham gia.
210. ”Air and light” suggest the buddhic energy (air) and the light of the soul. The “peace of ages” is based upon ignorance.
210. ”Không khí và ánh sáng”gợi đến năng lượng Bồ đề (không khí) và ánh sáng của linh hồn. Sự “yên bình của bao thời đại” dựa trên vô minh.
211. The soul is figuratively dead when under the spell of such a peace. It is the peace of the tomb. The lowest kingdom (the mineral kingdom, the kingdom of stone) rules, for materialism is long and well established. The spirit is entombed.
211. Theo nghĩa bóng, linh hồn đã chết khi chịu sự mê hoặc của một sự yên bình như thế. Đó là sự yên bình của nấm mồ. Giới thấp nhất (giới kim thạch, giới của đá) cai quản, vì chủ nghĩa duy vật đã bám rễ sâu vững từ lâu. Tinh thần bị chôn kín.
212. We gather that the stage of Little Chelaship is disturbing. Can this stage be partially associated with the activity of the fifth petal of the egoic lotus? The dynamics for the fifth petal are described as follows:
212. Chúng ta hiểu rằng giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử gây xáo trộn. Có thể phần nào liên kết giai đoạn này với hoạt động của cánh hoa thứ năm trong Hoa Sen Chân Ngã chăng? Động lực hoạt động của cánh hoa thứ năm được mô tả như sau:
The Petal of Love for the astral plane; unfoldment is brought about through the process of gradually transmuting the love of the subjective nature or of the Self within. This has a dual effect and works through on to the physical plane in many lives of turmoil, of endeavour and of failure as a man strives to turn his attention to the love of the Real. (TCF 540 Italics MDR)
Cánh Hoa Bác Ái đối với cõi cảm dục; sự khai mở diễn ra qua tiến trình dần dần chuyển hoá tình thương đối với bản chất chủ quan hay đối với Bản Ngã bên trong. Điều này có tác dụng kép và tác động xuống cõi hồng trần qua nhiều kiếp xáo trộn, nỗ lực và thất bại, khi con người cố gắng hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực. (TCF 540, chữ nghiêng do MDR)
The many lives of turmoil seem related to the disturbing nature of little chelaship. But it is probable that fifth petal activity begins well before the stage of Little Chelaship is possible.
Nhiều kiếp xáo trộn dường như liên hệ với bản chất gây xáo trộn của địa vị tiểu đệ tử. Nhưng có lẽ hoạt động của cánh hoa thứ năm bắt đầu từ khá lâu trước khi giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử trở nên khả thi.
From a certain perspective, however, fifth petal activity corresponds to Leo, individualization and a relatively Lemurian stage of soul unfoldment. The sixth petal, then, would be Atlantean and the seventh petal the beginning of the Aryan phase.
Tuy nhiên, từ một góc nhìn nhất định, hoạt động của cánh hoa thứ năm tương ứng với Sư Tử, sự biệt ngã hóa và một giai đoạn khai mở linh hồn tương đối thuộc Lemuria. Khi ấy, cánh hoa thứ sáu sẽ thuộc Atlantis, còn cánh hoa thứ bảy là khởi đầu của giai đoạn Arya.
213. Yet, it must be remembered that Little Chelaship has at least a correspondence with the first initiation, and thus with the first of the sacrifice petals.
213. Tuy vậy, cần nhớ rằng Địa vị tiểu đệ tử ít nhất có sự tương ứng với lần điểm đạo thứ nhất, và do đó với cánh đầu tiên trong các cánh hoa hi sinh.
2. The stage of “Chela in the Light. ” About this stage I am now going to speak.
2. Giai đoạn “Đệ tử trong Ánh sáng. ” Giờ đây Tôi sẽ nói về giai đoạn này.
214. The stage of Chela in the Light (symbolically the Atlantean phase of discipleship) necessarily lies behind the true accepted disciple.
214. Người đệ tử được chấp nhận chân chính nhất thiết đã vượt qua giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng (về mặt biểu tượng là giai đoạn Atlantis của địa vị đệ tử).
3. The first initiation. This initiation ever precedes the stage of accepted discipleship. No Master accepts a disciple and takes him into His ashram in whom the birth of the Christ has not taken place. Saul must become Paul, as the Christian phraseology puts it. The babe within the womb of time emerges into the world of men and, from the standpoint of complete identification with matter (the mother), he becomes himself and seeks consciously to tread the ways of life and to become what he is. This is an esoteric repetition of the physical process of becoming a separate individual. Between the stages of “isolated individuality” and “isolated unity” lies one to which the name of “isolated identity” is given. It is with this stage we are concerned and its esoteric implications. Isolated unity describes the stage which the Master has reached; isolated individuality is that of the disciple; isolated identity (with the soul) is that of the disciple up to and including the third initiation.
3. Lần điểm đạo thứ nhất. Cuộc điểm đạo này luôn đi trước giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận. Không Chân sư nào chấp nhận một đệ tử và đưa y vào ashram của Ngài nếu Đức Christ chưa giáng sinh trong y. Saul phải trở thành Paul, như cách diễn đạt của Kitô giáo. Hài nhi trong lòng thời gian bước vào thế giới loài người và, từ chỗ hoàn toàn đồng hoá với vật chất (người mẹ), y trở thành chính mình, có ý thức tìm cách bước trên những nẻo đường sự sống và trở thành điều mà y vốn là. Đây là sự lặp lại trên bình diện nội môn của tiến trình hồng trần để trở thành một cá nhân riêng biệt. Giữa các giai đoạn “Cá Thể Cô Lập” và “Hợp Nhất Cô Lập” có một giai đoạn mang tên “Bản Sắc Cô Lập”. Chúng ta đang quan tâm đến giai đoạn này và những hàm ý nội môn của nó. Hợp Nhất Cô Lập mô tả giai đoạn mà Chân sư đã đạt tới; Cá Thể Cô Lập là giai đoạn của đệ tử; Bản Sắc Cô Lập (với linh hồn) là giai đoạn của đệ tử cho đến và bao gồm cả lần điểm đạo thứ ba.
215. Only in one instance, was there an accepted disciple in the Tibetan’s group who had not taken the first initiation—a very unusual circumstance.
215. Chỉ có một trường hợp trong nhóm của Chân sư Tây Tạng là một đệ tử được chấp nhận chưa trải qua lần điểm đạo thứ nhất—một hoàn cảnh hết sức khác thường.
“Such a group must itself be composed of people who have taken initiation. As one of your group members will only take the first initiation next life, it is obvious that the group initiation to which I refer will not be taken in this immediate cycle. The rest of the group have to wait for him. ” (DINA II 24)
“Bản thân một nhóm như thế phải gồm những người đã được điểm đạo. Vì một thành viên trong nhóm các bạn chỉ đến kiếp sau mới trải qua lần điểm đạo thứ nhất, nên hiển nhiên cuộc điểm đạo nhóm mà Tôi đề cập sẽ không diễn ra ngay trong chu kỳ này. Những thành viên còn lại của nhóm phải chờ người ấy. ” (DINA II 24)
The implications are arresting. If the members of the Tibetan’s outer groups under his direct supervision could not take group initiation in the present cycle, what can be said of contemporary groups?
Những hàm ý này khiến người ta phải chú ý. Nếu các thành viên trong những nhóm bên ngoài của Chân sư Tây Tạng, dưới sự giám sát trực tiếp của Ngài, không thể trải qua cuộc điểm đạo nhóm trong chu kỳ hiện tại, thì có thể nói gì về các nhóm đương thời?
216. That Saul should become Paul is the symbol of the transition from the non-initiate state to that of the first initiation. The historical Saul was, however, already an initiate of the second degree rapidly working His way to the third.
216. Việc Saul phải trở thành Paul là biểu tượng của sự chuyển tiếp từ trạng thái chưa được điểm đạo sang trạng thái của lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, Saul trong lịch sử đã là một điểm đạo đồ bậc hai, đang nhanh chóng tiến đến bậc thứ ba.
217. There is a close correspondence between the first initiation and individualization. The sign Leo is prominent in relation to both. Individualization is birth into the human kingdom. The first initiation is birth into the kingdom of souls.
217. Có một sự tương ứng chặt chẽ giữa lần điểm đạo thứ nhất và sự biệt ngã hóa. Dấu hiệu Sư Tử giữ vai trò nổi bật trong mối liên hệ với cả hai. Biệt ngã hóa là sự ra đời trong giới nhân loại. Lần điểm đạo thứ nhất là sự ra đời trong giới linh hồn.
218. Three important terms are proposed:
218. Ba thuật ngữ quan trọng được đưa ra:
1. Isolated individuality, pertaining to the disciple
1. Cá Thể Cô Lập, thuộc về đệ tử
2. Isolated identity, pertaining to the disciple up to the third initiation. This phase signifies “isolated identity with the soul”. It is an identification with soul but not with the monad or the life aspect.
2. Bản Sắc Cô Lập, thuộc về đệ tử cho đến lần điểm đạo thứ ba. Giai đoạn này biểu thị “Bản Sắc Cô Lập với linh hồn”. Đó là sự đồng hoá với linh hồn, nhưng không phải với chân thần hay phương diện sự sống.
3. Isolated Unity, pertaining to the Master
3. Hợp Nhất Cô Lập, thuộc về Chân sư
a. Isolated unity is the consummation of the Aryan [718] consciousness. Isolated identity is related to the Atlantean consciousness, from the angle of the higher correspondence.
a. Hợp Nhất Cô Lập là sự viên mãn của tâm thức Arya [718]. Bản Sắc Cô Lập liên hệ với tâm thức Atlantis, xét từ góc độ của sự tương ứng cao hơn.
219. The correspondences are offered. We can link “Isolated Unity” with the Aryan consciousness.
219. Những sự tương ứng được trình bày. Chúng ta có thể liên kết “Hợp Nhất Cô Lập” với tâm thức Arya.
220. ”Isolated identity” is certainly beyond the normal Atlantean consciousness (which is emotional), but in the series of three isolations, it holds the second or Atlantean place.
220. ”Bản Sắc Cô Lập” chắc chắn vượt trên tâm thức Atlantis thông thường (vốn mang tính cảm xúc), nhưng trong chuỗi ba dạng cô lập, nó giữ vị trí thứ hai, tức vị trí Atlantis.
b. Isolated unity is connected with the mental plane, is governed by the fifth Ray of Concrete Knowledge or Science, and is a reflection of the will-to-know. Isolated identity is connected with the astral plane, is governed by the sixth Ray of Devotion or Idealistic Sensitivity and is a reflection—distorted and unstable—of the will-to-love. Isolated individuality is connected with expression upon the physical plane, is governed by the third Ray of Active Intelligence, and is a reflection—again distorted and unsure—of the will-to-be.
b. Hợp Nhất Cô Lập gắn với cõi trí, chịu sự cai quản của cung năm về Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học, và là một phản ánh của ý chí-hướng đến hiểu biết. Bản Sắc Cô Lập gắn với cõi cảm dục, chịu sự cai quản của cung sáu về Sùng Tín hay Tính Nhạy Cảm Lý Tưởng, và là một phản ánh—méo mó và bất ổn—của Ý Chí-Yêu Thương. Cá Thể Cô Lập gắn với sự biểu hiện trên cõi hồng trần, chịu sự cai quản của cung ba về Trí Tuệ Hoạt Động, và là một phản ánh—cũng méo mó và thiếu vững chắc—của ý chí-hiện tồn.
221. The correspondences given here are fascinating, but again must be treated as mental constructs.
221. Những sự tương ứng được nêu ở đây rất hấp dẫn, nhưng một lần nữa, phải xem chúng là những cấu trúc do trí tuệ xây dựng.
222. The fifth, sixth and third rays are correlated to the three ‘isolations’. One could also easily imagine the seventh ray correlated to “isolated individuality”, for the Lemurian consciousness is closely related to the physicality of the seventh ray.
222. Các cung năm, sáu và ba được liên kết tương ứng với ba dạng ‘cô lập’. Người ta cũng có thể dễ dàng hình dung cung bảy tương ứng với “Cá Thể Cô Lập”, vì tâm thức Lemuria liên hệ chặt chẽ với tính chất hồng trần của cung bảy.
223. There is much of the first ray in “isolated unity”, for it pertains to the first ray Technique of Fusion. But the fifth ray (with which it is here identified) is closely related to the first ray, and resolves upon it. The will-to-know, however, might be considered the third aspect of the will (with the will-to-love as the second and the will-to-be, the first). So the highest of the three isolations is related to the lowest aspect of the three wills here discussed.
223. Có nhiều tính chất của cung một trong “Hợp Nhất Cô Lập”, vì nó thuộc về Kỹ Thuật Dung Hợp của cung một. Nhưng cung năm (mà ở đây nó được đồng nhất với) liên hệ chặt chẽ với cung một và quy về cung ấy. Tuy nhiên, ý chí-hướng đến hiểu biết có thể được xem là phương diện thứ ba của ý chí (với Ý Chí-Yêu Thương là phương diện thứ hai và ý chí-hiện tồn là phương diện thứ nhất). Vì vậy, dạng cao nhất trong ba dạng cô lập liên hệ với phương diện thấp nhất của ba dạng ý chí được bàn đến ở đây.
224. Isolated Identity relates to soul identification, and thus to the Atlantean stage of consciousness, for the astral nature corresponds to the soul nature. The second of the three wills (the will-to-love) corresponds naturally to the second of the three ‘isolations’.
224. Bản Sắc Cô Lập liên hệ với sự đồng hoá với linh hồn, và do đó với giai đoạn tâm thức Atlantis, vì bản chất cảm dục tương ứng với bản chất linh hồn. Dạng thứ hai trong ba dạng ý chí (Ý Chí-Yêu Thương) tự nhiên tương ứng với dạng thứ hai trong ba dạng ‘cô lập’.
225. The third type of ‘isolation’ is seen as a correspondence to the first of the three wills here listed—the will-to-be.
225. Loại ‘cô lập’ thứ ba được xem là tương ứng với loại thứ nhất trong ba loại ý chí được liệt kê ở đây—ý chí hiện tồn.
226. Thus the three types of will are reflected in the three types of ‘isolation’. There is not a direct superimposition of one set upon the other, for then the will-to-be would correlate with Isolated Unity, and the will-to-know, with Isolated Individuality. Some justification, however, can be found for such correlations.
226. Như vậy, ba loại ý chí phản chiếu trong ba loại ‘cô lập’. Không có sự chồng khít trực tiếp giữa hai bộ ba này, vì nếu có thì ý chí hiện tồn sẽ tương quan với Hợp Nhất Cô Lập, còn ý chí hiểu biết sẽ tương quan với Cá Thể Cô Lập. Tuy nhiên, có thể tìm thấy một cơ sở biện minh nào đó cho những mối tương quan như thế.
227. All of us have passed through the stage of Isolated individuality aeons ago, and are not working upon the Isolated Identity which will culminate when we become Self-realized souls.
227. Tất cả chúng ta đều đã trải qua giai đoạn Cá Thể Cô Lập từ nhiều đại kiếp trước, và hiện không làm việc với Bản Sắc Cô Lập, vốn sẽ đạt đến đỉnh điểm khi chúng ta trở thành những linh hồn đã chứng nghiệm Chân ngã.
On the buddhic plane, the plane of the divine intuition, these lower three expressions and their higher prototypes are harmonised and the expansive work of the three initiations (second, third and fourth) produces an absorption, a fusion and a blending process between the disciple and the soul (and eventually between humanity and the Hierarchy) which prepares for a major contact between man and the Monad. When this takes place, the soul, creator of reflection and shadow, is discarded because that point of consciousness has served its purpose. The shattering of the causal body takes place and nought is then left but fully conscious form and spirit. Until, however, man has taken the higher initiations, he cannot comprehend the significance of the above comments.
Trên cõi Bồ đề, cõi của trực giác thiêng liêng, ba biểu hiện thấp này cùng các nguyên mẫu cao hơn của chúng được điều hòa, và công việc mở rộng của ba cuộc điểm đạo (thứ hai, thứ ba và thứ tư) tạo ra một tiến trình hấp thu, dung hợp và hòa quyện giữa đệ tử với linh hồn (và cuối cùng giữa nhân loại với Thánh đoàn), chuẩn bị cho một cuộc tiếp xúc trọng đại giữa con người với Chân thần. Khi điều này xảy ra, linh hồn, chủ thể tạo ra sự phản chiếu và bóng hình, được gạt bỏ vì điểm tâm thức ấy đã hoàn thành mục đích của nó. Thể nguyên nhân tan vỡ, và khi ấy không còn gì ngoài hình tướng hoàn toàn hữu thức và tinh thần. Tuy nhiên, chừng nào con người chưa trải qua các cuộc điểm đạo cao hơn, y chưa thể thấu hiểu thâm nghĩa của những lời bình trên.
228. Thus far, in the consideration of correspondences, we have had three types of ‘isolations’, three rays, and three aspects of the will. The Tibetan has correlated all these for us in an interesting manner.
228. Cho đến đây, khi xem xét các sự tương ứng, chúng ta đã có ba loại ‘cô lập’, ba cung và ba phương diện của ý chí. Chân sư Tây Tạng đã chỉ ra cho chúng ta mối tương quan giữa tất cả những điều này theo một cách thú vị.
229. The buddhic plane is now discussed as the “plane of divine intuition” where these triplicities are harmonized.
229. Giờ đây, cõi Bồ đề được bàn đến như “cõi của trực giác thiêng liêng”, nơi các bộ ba này được điều hòa.
230. Whereas the first initiation was discussed in relation to “Isolated Individuality” and Little Chelaship, when the buddhic plane is considered, the first initiation is no longer focal. Three initiations (the second, third and fourth) all of them related to buddhi in different ways, are discussed instead.
230. Trong khi lần điểm đạo thứ nhất đã được bàn đến trong mối liên hệ với “Cá Thể Cô Lập” và Địa vị tiểu đệ tử, thì khi xem xét cõi Bồ đề, lần điểm đạo thứ nhất không còn là trọng tâm. Thay vào đó, ba cuộc điểm đạo (thứ hai, thứ ba và thứ tư), tất cả đều liên hệ với Bồ đề theo những cách khác nhau, được bàn đến.
231. The watchwords are “absorption”, “fusion” and “blending”. To such processes the dynamics of the first initiation are not related. Perhaps in relation to these three terms we may consider the planets Jupiter, Venus and Neptune—in this order, or in others.
231. Những từ then chốt là “hấp thu”, “dung hợp” và “hòa quyện”. Động lực của lần điểm đạo thứ nhất không liên hệ với những tiến trình như thế. Có lẽ, trong mối liên hệ với ba thuật ngữ này, chúng ta có thể xem xét các hành tinh Sao Mộc, Sao Kim và Sao Hải Vương—theo thứ tự này hoặc theo những thứ tự khác.
232. The period from the first initiation to the second represents one unit of work. The sequence of the second, third and fourth initiations represent another unit of work distinct from the work of the first degree and the lengthy period which follows it. This is so because the second, third and fourth degrees may be taken in rapid succession, or even in the same life (as we are told—IHS 84-85)
232. Giai đoạn từ lần điểm đạo thứ nhất đến lần thứ hai tạo thành một đơn vị công việc. Chuỗi các cuộc điểm đạo thứ hai, thứ ba và thứ tư tạo thành một đơn vị công việc khác, phân biệt với công việc của cấp độ thứ nhất và giai đoạn dài theo sau đó. Sở dĩ như vậy là vì các cấp độ thứ hai, thứ ba và thứ tư có thể đạt được liên tiếp trong thời gian ngắn, hoặc thậm chí trong cùng một kiếp sống (như chúng ta được cho biết—IHS 84-85)
233. If Isolated Unity corresponds to the mental plane, what type of ‘isolation’ corresponds to the buddhic? On this we may ponder. It should be suggested however that without a fair measure of buddhic and even atmic realization, Isolated Unity cannot be achieve, for it is the state of awareness of a Master who is atmic-buddhic in His consciousness.
233. Nếu Hợp Nhất Cô Lập tương ứng với cõi trí, thì loại ‘cô lập’ nào tương ứng với cõi Bồ đề? Chúng ta có thể suy ngẫm về điều này. Tuy nhiên, cần gợi ý rằng nếu không có một mức độ chứng nghiệm đáng kể trên cõi Bồ đề và cả cõi atma, thì không thể đạt được Hợp Nhất Cô Lập, vì đó là trạng thái nhận biết của một Chân sư mà tâm thức của Ngài thuộc cõi atma–Bồ đề.
234. If one wants to know what remains after the shattering of the causal body, the formula is simply given: “fully conscious form and spirit”. The form has absorbed soul and triad completely; or soul and triad have fully infused the form. Spirit, however, remains forever distinct and yet is all other things as well.
234. Nếu muốn biết điều gì còn lại sau khi thể nguyên nhân tan vỡ, công thức được nêu thật đơn giản: “hình tướng hoàn toàn hữu thức và tinh thần”. Hình tướng đã hấp thu hoàn toàn linh hồn và Tam nguyên tinh thần; hoặc linh hồn và Tam nguyên tinh thần đã thấm nhuần hoàn toàn hình tướng. Tuy nhiên, tinh thần mãi mãi vẫn riêng biệt, mà đồng thời cũng là tất cả những gì khác.
In connection with this, I would remind you that though I am seeking to train many at this time for further expansions of consciousness, I am writing primarily for the future and for those disciples who, in years to come, will read my words and find their way into the Ashrams of the Masters. The Hierarchy builds for the future; it is not occupied with the present. All that it does is done with the intent to open the way into a wider and more expansive world. Humanity is preoccupied with the things of the present; the Hierarchy is working and laying plans for the future; Shamballa is engrossed with the Eternal Now and with the dynamic life which has created the past, which controls the present (the centre of illusion) and [719] with the future. You may perhaps gain some idea or picture of the conditioning life of Shamballa if you will study the present era of human living. In it, people with the Lemurian consciousness, focussed on the past and concerned with the physical plane, are present; people with the Atlantean consciousness, emotional in content and focussed on the present, are everywhere to be found; and people who are definitely Aryan in their state of awareness, mentally focussed and occupied with the future, are likewise found. The three constitute one race of men and embody the whole of mankind.
Liên quan đến điều này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng mặc dù lúc này Tôi đang tìm cách huấn luyện nhiều người để họ mở rộng tâm thức hơn nữa, Tôi viết chủ yếu cho tương lai và cho những đệ tử, trong những năm sắp tới, sẽ đọc lời Tôi và tìm được đường vào các ashram của các Chân sư. Thánh đoàn kiến tạo cho tương lai; Thánh đoàn không bận tâm với hiện tại. Mọi việc Thánh đoàn thực hiện đều nhằm mở đường vào một thế giới rộng lớn hơn và ngày càng mở rộng. Nhân loại bận tâm với những việc của hiện tại; Thánh đoàn đang làm việc và lập kế hoạch cho tương lai; Shamballa chuyên chú vào Hiện Tại Vĩnh Cửu và vào sự sống năng động đã tạo ra quá khứ, đang kiểm soát hiện tại (trung tâm của ảo tưởng) và [719] vào tương lai. Có lẽ các bạn có thể có được một ý niệm hay hình dung nào đó về sự sống tạo ảnh hưởng của Shamballa nếu nghiên cứu thời đại hiện nay trong đời sống nhân loại. Trong thời đại này, những người có tâm thức Lemuria, tập trung vào quá khứ và quan tâm đến cõi hồng trần, đang hiện diện; những người có tâm thức Atlantis, với nội dung mang tính cảm xúc và tập trung vào hiện tại, có mặt khắp nơi; và cũng có những người rõ ràng thuộc Arya trong trạng thái nhận biết, tập trung vào trí tuệ và quan tâm đến tương lai. Cả ba hợp thành một nhân loại duy nhất và bao hàm toàn thể nhân loại.
235. It becomes clear that DK is writing in order to assist students to find their way into the Masters’ Ashrams. This is one of His prime objectives. There the proper training may be received.
235. Có thể thấy rõ rằng Chân sư DK đang viết để giúp các đạo sinh tìm được đường vào các ashram của các Chân sư. Đây là một trong những mục tiêu chính của Ngài. Tại đó, họ có thể nhận được sự huấn luyện thích hợp.
236. DK as a member of Hierarchy is concerned with the future.
236. Là một thành viên của Thánh đoàn, Chân sư DK quan tâm đến tương lai.
237. The formula is useful: Humanity’s attention is on the present; Hierarchy’s on the future; and Shamballa’s on the “Eternal Now”—embracing past present and future.
237. Công thức này hữu ích: Sự chú ý của nhân loại hướng vào hiện tại; của Thánh đoàn hướng vào tương lai; và của Shamballa hướng vào “Hiện Tại Vĩnh Cửu”—bao trùm quá khứ, hiện tại và tương lai.
238. Yet another correspondence is given: Lemurian consciousness focusses on the past (as does ‘Lemurian psychology’); Atlantean consciousness focusses on the present (as does ‘Atlantean psychology’); Aryan consciousness focusses on the future (as does ‘Aryan psychology’).
238. Một sự tương ứng khác nữa được nêu ra: tâm thức Lemuria tập trung vào quá khứ (cũng như ‘tâm lý học Lemuria’); tâm thức Atlantis tập trung vào hiện tại (cũng như ‘tâm lý học Atlantis’); tâm thức Arya tập trung vào tương lai (cũng như ‘tâm lý học Arya’).
239. The past is related to the physical plane and Lemurian consciousness; the present to the emotional plane and Atlantean consciousness; and the future to the mental plane and the Aryan consciousness. The correspondences are useful, are they not?
239. Quá khứ liên hệ với cõi hồng trần và tâm thức Lemuria; hiện tại với cõi cảm xúc và tâm thức Atlantis; còn tương lai với cõi trí và tâm thức Arya. Những sự tương ứng này thật hữu ích, phải không?
240. We are perhaps aware of the many groups of correspondences which have been offered in this chapter of the work. Perhaps a clearer picture of man’s development and the relation of that development to great historical ages are emerging.
240. Có lẽ chúng ta đã nhận biết nhiều nhóm tương ứng được đưa ra trong chương này của tác phẩm. Có lẽ một bức tranh rõ ràng hơn về sự phát triển của con người và mối liên hệ giữa sự phát triển ấy với các thời đại lịch sử lớn đang dần hiện ra.
241. The study of the three great categories of human beings and their three types of consciousness is, says DK, revelatory of the conditioning life of Shamballa. It is clear that Shamballic awareness spans vast stretches of time and contains all found therein in the present moment—the Eternal Now.
241. Theo Chân sư DK, việc nghiên cứu ba loại người lớn và ba loại tâm thức của họ giúp mặc khải sự sống tạo ảnh hưởng của Shamballa. Rõ ràng, sự nhận biết của Shamballa trải rộng qua những khoảng thời gian bao la và chứa đựng tất cả những gì hiện hữu trong đó ngay trong khoảnh khắc hiện tại—Hiện Tại Vĩnh Cửu.
Dear Brothers and Sisters,
Các huynh đệ và tỉ muội thân mến,
The material we have studied in this chapter is at once practical and theoretical. We have certain definite stages of discipleship under scrutiny. These stages relate directly to individuals such as ourselves and to those we know. At the same time, these definite stages of human development are related, correspondentially, to certain of the rays, to certain great phases of consciousness, and to certain of the root races.
Nội dung chúng ta đã nghiên cứu trong chương này vừa có tính thực tiễn vừa có tính lý thuyết. Chúng ta đang xem xét kỹ một số giai đoạn xác định của địa vị đệ tử. Những giai đoạn này liên hệ trực tiếp với những cá nhân như chúng ta và những người chúng ta quen biết. Đồng thời, những giai đoạn xác định này trong sự phát triển của con người liên hệ, theo sự tương ứng, với một số cung, với một số giai đoạn tâm thức lớn và với một số Giống dân gốc.
DK began this letter with a discussion of the world of meaning, which we related to an understanding of context. May we say that in this study, we have been led deeply into the world of meaning? The context of human development has been clearly set forth and, I would say, we have a clearer grasp of our place, as disciples, within the whole.
Chân sư DK bắt đầu bức thư này bằng việc bàn về Thế giới của ý nghĩa, mà chúng ta đã liên hệ với sự thấu hiểu bối cảnh. Liệu chúng ta có thể nói rằng qua việc nghiên cứu này, chúng ta đã được dẫn sâu vào Thế giới của ý nghĩa không? Bối cảnh phát triển của con người đã được trình bày rõ ràng và, tôi cho rằng, chúng ta đã nắm rõ hơn vị trí của mình, với tư cách đệ tử, trong toàn thể.
Light, Love and Power to All,
Cầu chúc Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng đến với tất cả,
Michael
Michael
17. PART VStage II. The Chela in the Light. – 17. PHẦN VGiai đoạn II. Đệ tử trong Ánh sáng.
This stage is definitely one in which the consciousness of the probationer is occupied with the overcoming of glamour and the curing of the distorted, myopic vision of the man who has been immersed in the life of matter or form. He is now attempting to see the new vision, to control the world of emotional reactions and to work in a new medium, that of Light.
Đây rõ ràng là một giai đoạn mà tâm thức của người dự bị chuyên chú vào việc khắc phục ảo cảm và chữa lành tầm nhìn méo mó, thiển cận của người đã chìm đắm trong đời sống vật chất hay hình tướng. Giờ đây, y đang cố gắng thấy được tầm nhìn mới, kiểm soát thế giới của những phản ứng cảm xúc và làm việc trong một môi trường trung gian mới, tức Ánh sáng.
1. The Chela in the Light is still a “probationer”—a probationary disciple.
1. Đệ tử trong Ánh sáng vẫn là một “người dự bị”—một đệ tử dự bị.
2. The same can be said of a little chela, though the emphasis within this earlier stage is upon aspiration.
2. Cũng có thể nói như vậy về một Tiểu đệ tử, mặc dù trọng tâm trong giai đoạn sớm hơn này là khát vọng.
3. Still and all, the “true aspirant” has passed the first initiation, which is not necessarily the case for either the chela in the light or the little chela.
3. Dù vậy, “người chí nguyện chân chính” đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, điều không nhất thiết đúng với đệ tử trong Ánh sáng hay Tiểu đệ tử.
“All true aspirants have taken the first initiation. ” (DINA I 716)
“Tất cả những người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. ” (DINA I 716)
If, however, the stage of Accepted Discipleship does not usually occur until at least midway between the first and second initiations, it is necessary that some (or even most) chelas in the Light, will have passed the first degree, for accepted disciples are chelas in the Light before they become accepted disciples.
Tuy nhiên, nếu giai đoạn Địa vị đệ tử được Chấp nhận thường chỉ bắt đầu ít nhất vào khoảng giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, thì tất yếu một số (hoặc thậm chí phần lớn) đệ tử trong Ánh sáng đã trải qua cấp độ thứ nhất, vì các đệ tử được chấp nhận đều là đệ tử trong Ánh sáng trước khi trở thành đệ tử được chấp nhận.
4. This second stage of discipleship is related to vision as is the number two. Glamor is symbolically and particularly an Atlantean phenomenon, and the Atlantean root race is the second of the major (i. e. , self-conscious) root races.
4. Giai đoạn thứ hai này của địa vị đệ tử liên hệ với tầm nhìn, cũng như con số hai. Về mặt biểu tượng và đặc biệt xét theo bản chất, ảo cảm là một hiện tượng Atlantis, và Giống dân gốc Atlantis là giống dân thứ hai trong số các Giống dân gốc chủ yếu (tức là có ngã thức).
5. The light shed upon the chela in the Light is the cure for the glamor in which he has habitually walked.
5. Chính ánh sáng chiếu lên đệ tử trong Ánh sáng là phương thuốc chữa lành ảo cảm mà y vẫn quen bước đi trong đó.
6. We can see how the signs Taurus and Sagittarius would be particularly relevant to this stage of discipleship, as would Libra (Venus-ruled) bringing a correct sense of proportion and thus curing distortion.
6. Chúng ta có thể thấy các dấu hiệu Kim Ngưu và Nhân Mã đặc biệt liên quan đến giai đoạn này của địa vị đệ tử, cũng như Thiên Bình (do Sao Kim cai quản), vốn mang lại Ý thức về tỉ lệ đúng đắn và nhờ đó chữa lành sự méo mó.
7. The task of the little chela is to work with maya, and the third ray and seventh—for re-ordering—are very important to that earliest of the Six Stages.
7. Nhiệm vụ của Tiểu đệ tử là làm việc với ảo lực, và cung ba cùng cung bảy—để tái lập trật tự—rất quan trọng đối với giai đoạn sớm nhất trong Sáu Giai đoạn ấy.
8. The chela in the Light must work with the sixth ray and the second (and to a degree, the fifth ray for the clarification of glamor).
8. Đệ tử trong Ánh sáng phải làm việc với cung sáu và cung hai (và ở một mức độ nào đó, với cung năm để làm sáng tỏ ảo cảm).
9. If the chela in the Light works in a new medium (that of the “Light”) then the light in the head is an important consideration during this stage.
9. Nếu đệ tử trong Ánh sáng làm việc trong một môi trường trung gian mới (môi trường của “Ánh sáng”), thì ánh sáng trong đầu là một yếu tố quan trọng cần xem xét trong giai đoạn này.
10. As well, the “Light of the Soul” will be making an increasing impact on his consciousness, but he has not yet (as has the accepted disciple) entered “into the light of the Angel”.
10. Đồng thời, “Ánh sáng của Linh hồn” sẽ ngày càng tác động mạnh đến tâm thức của y, nhưng y vẫn chưa bước “vào ánh sáng của Thiên Thần” như đệ tử được chấp nhận.
“it is only when the aspirant has reached the point where he ‘can enter into the light of the Angel,’ that the Master begins to take over his training. ” (DINA I 716)
“chỉ khi người chí nguyện đã đạt đến điểm mà y ‘có thể bước vào ánh sáng của Thiên Thần,’ thì Chân sư mới bắt đầu đảm nhận việc huấn luyện y. ” (DINA I 716)
11. If maya, then, is the main focus of attention for the little chela, glamor is the corresponding difficulty for the chela in the Light. This, of course, does not mean that the little chela is glamor-free. It is imply that he must deal with maya before focussing intently on the ending of glamor (as will the chela in the Light).
11. Vậy, nếu ảo lực là trọng tâm chú ý chính của Tiểu đệ tử, thì ảo cảm là khó khăn tương ứng đối với đệ tử trong Ánh sáng. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa Tiểu đệ tử đã thoát khỏi ảo cảm. Điều này chỉ hàm ý rằng y phải xử lý ảo lực trước khi tập trung cao độ vào việc chấm dứt ảo cảm (như đệ tử trong Ánh sáng sẽ làm).
The Masters do not work upon the astral plane. Certain schools of occultism teach that They do, but such is not the case. For Them (having overcome glamour and illusion) the astral plane is non-existent; it is but an illusory concept of the kama-manasic type of mind—the mind of the average aspirant. The chela is, therefore, at this stage guarded and guided by someone who is still subject to glamour, but is, at the same time, aware of the ephemeral nature of the astral plane.
Các Chân sư không làm việc trên cõi cảm dục. Một số trường phái huyền bí học dạy rằng Các Ngài làm như vậy, nhưng thực tế không phải thế. Đối với Các Ngài (đã vượt qua ảo cảm và ảo tưởng), cõi cảm dục không tồn tại; nó chỉ là một khái niệm hư ảo của loại thể trí trí-cảm—thể trí của người chí nguyện trung bình. Vì vậy, ở giai đoạn này, một người vẫn còn chịu sự chi phối của ảo cảm, nhưng đồng thời nhận biết bản chất phù du của cõi cảm dục, bảo vệ và hướng dẫn đệ tử.
12. That “the Masters do not work upon the astral plane” is an important statement.
12. Lời khẳng định rằng “các Chân sư không làm việc trên cõi cảm dục” là một phát biểu quan trọng.
13. Yet many contacts with so-called Masters occur precisely upon the astral plane. Really, such contacts are with the reflection of the Masters, and prove so delusive that many well-meaning sensitive people are ensnared in that delusion. Their faculty of discrimination is insufficiently developed.
13. Thế nhưng, nhiều cuộc tiếp xúc với những người được gọi là Chân sư lại diễn ra chính trên cõi cảm dục. Thật ra, đó là những cuộc tiếp xúc với hình ảnh phản chiếu của các Chân sư, và chúng gây mê lầm đến mức nhiều người nhạy cảm có thiện ý bị mắc vào sự mê lầm ấy. Năng lực phân biện của họ chưa phát triển đầy đủ.
14. It is the kama-manasic mind which, through faulty perception, seems to create the illusion of the astral plane.
14. Chính thể trí trí-cảm, qua nhận thức sai lạc, dường như tạo ra ảo tưởng về cõi cảm dục.
15. For the Masters the astral plane is non-existent. They can of course witness what the average individual calls astral phenomena, but They do not see these phenomena as he does; They remain detached from such glamors and unswayed. They are not beguiles whereas the average individual is convinced of the reality of such phenomena.
15. Đối với các Chân sư, cõi cảm dục không tồn tại. Dĩ nhiên, Các Ngài có thể chứng kiến những gì người bình thường gọi là hiện tượng cảm dục, nhưng Các Ngài không nhìn những hiện tượng này như y; Các Ngài vẫn tách rời khỏi những ảo cảm như thế và không dao động. Các Ngài không bị mê hoặc, trong khi người bình thường lại tin chắc rằng những hiện tượng ấy là có thật.
16. Perhaps eighty to eighty five percent of humanity has the kama-manasic mind—the mind which cannot think we true objectivity, because feeling and emotion are still attached to thought.
16. Có lẽ tám mươi đến tám mươi lăm phần trăm nhân loại có thể trí trí-cảm—thể trí không thể suy nghĩ với tính khách quan thực sự, vì cảm giác và cảm xúc vẫn còn gắn liền với tư tưởng.
17. The average aspirant (presumably one who is not yet an accepted disciple, but who is more the probationer) should not think that he is entirely free of the kama-manasic mind. This would not be the case until he has overcome glamor. He is, however, on his way.
17. Người chí nguyện trung bình (có lẽ là người chưa trở thành đệ tử được chấp nhận, mà đúng hơn là người dự bị) không nên cho rằng mình đã hoàn toàn thoát khỏi thể trí trí-cảm. Chỉ khi đã vượt qua ảo cảm, y mới đạt được điều đó. Tuy nhiên, y đang tiến về hướng ấy.
18. We gather from what is said that the kama-manasic mind still exists after the first initiation is taken, because real mental objectivity occurs closer to the second initiation (even before true mental polarization is developed midway between the second and third).
18. Từ những điều đã nói, chúng ta hiểu rằng thể trí trí-cảm vẫn tồn tại sau lần điểm đạo thứ nhất, vì tính khách quan thực sự của trí tuệ xuất hiện gần lần điểm đạo thứ hai hơn (thậm chí trước khi sự phân cực trí tuệ thực sự phát triển ở khoảng giữa lần thứ hai và thứ ba).
19. The chela in the Light is supervised by a more advanced disciple. We remember that this supervision is largely from egoic levels, whereas the supervision for the little chela is upon the physical plane.
19. Một đệ tử tiến xa hơn giám sát đệ tử trong Ánh sáng. Chúng ta nhớ rằng sự giám sát này phần lớn diễn ra từ các cấp độ chân ngã, trong khi sự giám sát dành cho Tiểu đệ tử diễn ra trên cõi hồng trần.
20. Even though the more advanced disciple is capable of supervising the chela in the Light from egoic levels, it does not mean that this disciple is entirely free from glamor. This tells us something about the stage of the more advanced disciple.
20. Mặc dù người đệ tử tiến xa hơn có khả năng giám sát đệ tử trong Ánh sáng từ các cấp độ chân ngã, điều đó không có nghĩa người đệ tử này đã hoàn toàn thoát khỏi ảo cảm. Điều này cho chúng ta biết đôi chút về giai đoạn của người đệ tử tiến xa hơn ấy.
“The chela is, therefore, at this stage guarded and guided by someone who is still subject to glamour, but is, at the same time, aware of the ephemeral nature of the astral plane. ”
“Vì vậy, ở giai đoạn này, đệ tử nhận được sự bảo vệ và hướng dẫn từ một người vẫn còn chịu sự chi phối của ảo cảm, nhưng đồng thời nhận biết bản chất phù du của cõi cảm dục. ”
21. When, after all, is one entirely free from glamor? Even between the second and third initiation there may be glamor (although illusion is the main problem of the disciple during that more advanced developmental interval).
21. Rốt cuộc, khi nào người ta mới hoàn toàn thoát khỏi ảo cảm? Ngay cả giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba vẫn có thể còn ảo cảm (mặc dù ảo tưởng là vấn đề chính của đệ tử trong khoảng phát triển tiến xa hơn ấy).
22. Since the supervising disciple is aware of the ephemeral nature of the astral plane, it can be assumed that he is focussed at the second degree or beyond, for at the second initiation a large degree of astral mastery is achieved. Later references to the guarding, guiding disciple make it seem that he would be, more likely, an initiate of the third degree or beyond (thought not yet “adept”). There is some ambiguity on this point.
22. Vì người đệ tử giám sát nhận biết bản chất phù du của cõi cảm dục, có thể giả định rằng trọng tâm của người ấy ở cấp độ thứ hai hoặc cao hơn, vì tại lần điểm đạo thứ hai, người ta đạt được một mức độ làm chủ đáng kể đối với cõi cảm dục. Những đề cập sau này đến người đệ tử bảo vệ và hướng dẫn khiến có vẻ nhiều khả năng hơn rằng người ấy là một điểm đạo đồ cấp độ thứ ba hoặc cao hơn (mặc dù chưa phải là “chân sư”). Điểm này còn có phần mơ hồ.
23. The system of safeguarding is to be noted. There is a benevolence throughout cosmos which ensures that greater ones are assigned to protect lesser ones. Unfortunately, there are also greater ones who, disregarding their obligation, prey upon lesser ones. This occurs when the love aspect is insufficiently developed.
23. Cần lưu ý đến hệ thống bảo hộ này. Có một lòng nhân từ xuyên suốt vũ trụ, bảo đảm rằng những vị cao hơn được giao nhiệm vụ bảo vệ những người thấp hơn. Đáng tiếc, cũng có những vị cao hơn phớt lờ nghĩa vụ của mình và lợi dụng những người thấp hơn. Điều này xảy ra khi phương diện bác ái chưa phát triển đầy đủ.
This stage involves so many aspirants in the world today that (before I proceed with other matters) I would like to touch upon the nature of the work which the Masters are seeking to do with Their groups of disciples in this hour of world crisis. This is a matter of paramount importance to the world from the angle of the Masters Themselves. Never forget that in all our discussions and in all your effort to understand, I am endeavouring to decentralise you by giving you, as far as I can, the point of view of the Hierarchy, stepping it down until it can come within the range of comprehension of the average aspirant.
Giai đoạn này liên quan đến rất nhiều người chí nguyện trên thế giới ngày nay, nên (trước khi chuyển sang những vấn đề khác) Tôi muốn đề cập đôi chút đến bản chất công việc mà các Chân sư đang tìm cách thực hiện với các nhóm đệ tử của Các Ngài trong giờ phút khủng hoảng thế giới này. Theo quan điểm của chính các Chân sư, đây là một vấn đề có tầm quan trọng tối cao đối với thế giới. Đừng bao giờ quên rằng trong mọi cuộc thảo luận của chúng ta và trong mọi nỗ lực thấu hiểu của các bạn, Tôi đang cố gắng giúp các bạn phi tập trung vào bản thân bằng cách cung cấp cho các bạn, trong khả năng của Tôi, quan điểm của Thánh đoàn, hạ thấp cách trình bày quan điểm ấy cho đến khi nó nằm trong phạm vi lĩnh hội của người chí nguyện trung bình.
24. We note the use of the term “aspirants” in relation to the stage of Chela in the Light. Really, such aspirants are aspirants who are probationers, rather than aspirants who are strictly aspirants—if this distinction can be understood. Perhaps they are more conscious of passing through tests and are face their testing more cautiously and systematically. Chelas in the Light are disciples at an early stage of development.
24. Chúng ta lưu ý việc sử dụng thuật ngữ “những người chí nguyện” trong mối liên hệ với giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng. Thật ra, những người chí nguyện như thế là những người chí nguyện đang ở địa vị dự bị, hơn là những người chí nguyện chỉ thuần túy là người chí nguyện—nếu có thể thấu hiểu sự phân biệt này. Có lẽ họ ý thức rõ hơn rằng mình đang trải qua các thử thách và đối diện với những thử thách ấy một cách thận trọng, có hệ thống hơn. Các đệ tử trong Ánh sáng là những đệ tử ở giai đoạn phát triển ban đầu.
25. The bulk of disciples (considering the term generically) are, thus, to be found in the Atlantean stage of discipleship—not the Atlantean stage of consciousness of average, mass man (the group which is the great majority in relation to the entirety of humanity).
25. Như vậy, phần lớn các đệ tử (xét thuật ngữ này theo nghĩa chung) đang ở giai đoạn Atlantis của địa vị đệ tử—không phải giai đoạn Atlantis về tâm thức của con người bình thường trong quần chúng (nhóm chiếm đại đa số trong toàn thể nhân loại).
26. The thought to have in mind is that, amongst the ranks of disciples, there are great numbers of chelas in the Light.
26. Điều cần ghi nhớ là trong hàng ngũ đệ tử có rất nhiều đệ tử trong Ánh sáng.
27. The Tibetan reminds us that He is working to decentralize our consciousness by giving us the point of view of the Hierarchy on these matters.
27. Chân sư Tây Tạng nhắc chúng ta rằng Ngài đang giúp tâm thức chúng ta phi tập trung vào bản thân bằng cách cung cấp cho chúng ta quan điểm của Thánh đoàn về những vấn đề này.
28. If He is speaking to us and also attempting to step the teaching “down until it can come within the range of comprehension of the average aspirant”, then we are considered by Him as average aspirants! And no doubt, the great majority of those who will read His words are chelas in the Light—not yet sure of their acceptance by a Master and into an Ashram.
28. Nếu Ngài đang nói với chúng ta và cũng đang cố gắng hạ thấp cách trình bày giáo huấn “cho đến khi nó nằm trong phạm vi lĩnh hội của người chí nguyện trung bình”, thì chúng ta được Ngài xem là những người chí nguyện trung bình! Và chắc chắn, đại đa số những người sẽ đọc lời Ngài là các đệ tử trong Ánh sáng—chưa chắc chắn rằng mình đã được một Chân sư chấp nhận và thu nhận vào một ashram.
[720]
[720]
As far as these aspirants are concerned, the one thing which the Masters are endeavouring to bring about is the stimulation of the flame of the spirit in them so that they may set the world on fire. The fires of judgment and of substance, of karma and its vehicle, matter, are raging in the world at this time. Fire must be countered by fire, as well you know, and to stop the raging inferno of fire which is today devastating the world, the fire of spirit must be opposed, distributed and effectively used by the disciples of the Masters. The task of Shamballa, in relation to the Hierarchy, is similar in nature but expresses itself upon a higher level. They dispense the ultimate fire of the Will. The fire which must, in the final analysis, be used by the disciples in the world is the fire of the will-to-love.
Đối với những người chí nguyện này, điều duy nhất mà các Chân sư đang cố gắng thực hiện là khơi mạnh ngọn lửa tinh thần trong họ để họ có thể làm bừng cháy thế gian. Lúc này, những ngọn lửa của sự phán xét và của chất liệu, của nghiệp quả và vận cụ của nó là vật chất, đang hoành hành trên thế giới. Phải lấy lửa đối chọi với lửa, như các bạn biết rõ, và để ngăn chặn biển lửa cuồng nộ đang tàn phá thế giới ngày nay, các đệ tử của các Chân sư phải đưa lửa tinh thần ra đối chọi, phân phối và sử dụng một cách hữu hiệu. Nhiệm vụ của Shamballa đối với Thánh đoàn có bản chất tương tự, nhưng biểu hiện trên một cấp độ cao hơn. Các Ngài phân phát ngọn lửa tối hậu của Ý Chí. Xét đến cùng, ngọn lửa mà các đệ tử trên thế giới phải sử dụng là ngọn lửa của Ý Chí-Yêu Thương.
29. The Master is speaking of aspirants and the “flame of the spirit” in the same breath. This is unusual, for the flame of the spirit relates to the first aspect of divinity which is beyond the reach of most aspirants.
29. Chân sư đang nói đến những người chí nguyện và “ngọn lửa tinh thần” trong cùng một lời. Điều này khác thường, vì ngọn lửa tinh thần liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính, vốn nằm ngoài tầm với của phần lớn những người chí nguyện.
30. But we will notice that, as this paragraph proceeds, the Tibetan makes a subtle transition from speaking about aspirants to speaking about disciples, thus referencing the higher type of aspirant. There is a constant mixing of these terms and the reader must be alert to when it is happening.
30. Nhưng chúng ta sẽ nhận thấy rằng, khi đoạn văn này tiếp diễn, Chân sư Tây Tạng chuyển một cách tinh tế từ việc nói về những người chí nguyện sang nói về các đệ tử, qua đó đề cập đến mẫu người chí nguyện cao hơn. Các thuật ngữ này liên tục được dùng xen kẽ, và người đọc phải tỉnh táo nhận ra khi điều ấy xảy ra.
31. When can the “flame of spirit” become active in the life of the aspirant/disciple? We might consider the second initiation and the period immediately preceding as that time, for the spirit (monad) is found upon the second subplane (or sixth) of the cosmic physical plane, and the second initiation is, of course, the second, and necessitates the application of the sixth ray—thus the numbers correlated. As well, the context between will and desire begins in earnest during the period preceding and leading up to the second initiation. Vulcan is in context with Mars.
31. Khi nào “ngọn lửa tinh thần” có thể trở nên hoạt động trong đời sống của người chí nguyện/đệ tử? Chúng ta có thể xem lần điểm đạo thứ hai và thời kỳ ngay trước đó là thời điểm ấy, vì tinh thần (chân thần) hiện hữu trên cõi phụ thứ hai (hay thứ sáu) của cõi hồng trần vũ trụ, và dĩ nhiên, lần điểm đạo thứ hai là lần thứ hai, đồng thời đòi hỏi phải vận dụng cung sáu—do đó, các con số có sự tương quan. Ngoài ra, mối liên hệ giữa ý chí và dục vọng bắt đầu trở nên thực sự rõ nét trong thời kỳ trước và dẫn đến lần điểm đạo thứ hai. Vulcan nằm trong mối liên hệ với Sao Hỏa.
32. As the Tibetan writes this instruction, fire by friction was blazing in the world unchecked. The three worlds were consumed by the fires of judgment and of karma—the fires of retribution.
32. Khi Chân sư Tây Tạng viết huấn thị này, Lửa ma sát đang bùng cháy trên thế giới mà không gì kiềm chế được. Ba cõi giới chìm trong những ngọn lửa phán xét và nghiệp quả—những ngọn lửa báo ứng.
33. The Master is calling for the descent and expression of a higher fire—ultimately the Solar Fire of the Solar Logos, related to the will-to-love.
33. Chân sư đang kêu gọi một ngọn lửa cao hơn giáng xuống và biểu lộ—rốt cuộc là Lửa Thái dương của Thái dương Thượng đế, liên quan đến Ý Chí-Yêu Thương.
34. The ancient adage holds—”fight fire with fire”. The raging inferno of lower fires must be countered by the “fire of spirit”. This of course is the highest fire. Solar fire in its lesser expression, has so far not been mentioned. What must be remembered is that the three fires with which we are familiar (fire by friction, solar fire and electric fire) are all part of the greater Solar Fire of the Solar Logos.
34. Câu ngạn ngữ cổ vẫn đúng—”dùng lửa chống lửa”. Phải dùng “lửa tinh thần” để chống lại biển lửa cuồng nộ của những ngọn lửa thấp. Dĩ nhiên, đây là ngọn lửa cao nhất ấy. Cho đến lúc này, Lửa Thái dương trong biểu hiện thấp hơn của nó vẫn chưa được đề cập đến. Cần nhớ rằng ba loại lửa quen thuộc với chúng ta (Lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện) đều là những phần của Lửa Thái dương lớn hơn của Thái dương Thượng đế.
35. Of course, the average aspirant will not be able to directly wield of the fire of spirit. It will take an advanced disciple to do so, and, indeed, in speaking of the need for the wielding and expression of the fire of spirit, DK speaks of disciples and not of aspirants.
35. Dĩ nhiên, người chí nguyện trung bình sẽ không thể trực tiếp vận dụng lửa tinh thần. Phải là một đệ tử tiến bộ mới làm được điều đó, và quả thực, khi nói về nhu cầu vận dụng và biểu lộ lửa tinh thần, Chân sư DK nói đến các đệ tử chứ không phải những người chí nguyện.
36. A number of fires are discussed in this paragraph.
36. Đoạn văn này bàn đến một số loại lửa.
36. The fires of judgment
36. Những ngọn lửa phán xét
37. The fires of karma
37. Những ngọn lửa nghiệp quả
38. The fires of matter
38. Những ngọn lửa vật chất
39. The fire of spirit
39. Lửa tinh thần
40. The fire of Will
40. Lửa Ý Chí
41. Thus far, solar fire (per se) is not mentioned specifically
41. Cho đến lúc này, chính Lửa Thái dương vẫn chưa được đề cập cụ thể
42. The fire of the will-to-love.
42. Lửa của Ý Chí-Yêu Thương.
37. It is Shamballa which dispenses “the ultimate fire of the Will”. Presumably this fire is even higher than the fire of spirit, which to a degree, pertains to the particular monad. “The ultimate fire of Will” is operative on at least a planetary level.
37. Chính Shamballa ban phát “ngọn lửa tối hậu của Ý Chí”. Có lẽ ngọn lửa này còn cao hơn lửa tinh thần, vốn ở một mức độ nào đó thuộc về chân thần riêng biệt ấy. “Ngọn lửa tối hậu của Ý Chí” hoạt động ít nhất ở cấp độ hành tinh.
38. When thinking of the essential nature of fire, it is that which brings change by reducing to essence that which it touches. It brings about rapidly changes of state on various levels—depending upon the fire.
38. Khi suy nghĩ về bản chất cốt yếu của lửa, ta thấy lửa mang lại sự thay đổi bằng cách quy những gì nó chạm đến về tinh túy. Lửa nhanh chóng tạo ra những thay đổi trạng thái trên nhiều cấp độ—tùy theo loại lửa.
“Fire is the sumtotal of that which destroys form, produces complete purity in that which is not itself, generates the warmth which lies behind all growth, and is vitality itself. ” (R&I 82)
“Lửa là tổng thể của những gì hủy diệt hình tướng, tạo ra sự tinh khiết hoàn toàn trong những gì không phải là chính nó, sinh ra hơi ấm nằm sau mọi sự tăng trưởng, và chính là sinh lực. ” (R&I 82)
39. Finally, a fire which may be seen as related to solar fire is mentioned: the fire of the will-to-love. It is this fire which must be used by disciples, and which the Master seeks to promote in the disciple’s life. The disciple (because he has some facility in the use of the will) will be more successful in the use of this fire than will the aspirant (who may use, instead, goodwill). One of the key distinctions between an aspirant and a true disciple is the degree and type of will which each may access.
39. Cuối cùng, một ngọn lửa có thể xem là liên quan đến Lửa Thái dương được đề cập đến: lửa của Ý Chí-Yêu Thương. Chính ngọn lửa này là ngọn lửa các đệ tử phải sử dụng, và Chân sư tìm cách thúc đẩy trong đời sống của người đệ tử. Người đệ tử (vì đã có phần thành thạo trong việc sử dụng ý chí) sẽ sử dụng ngọn lửa này thành công hơn người chí nguyện (người có thể sử dụng thiện chí thay vào đó). Một trong những điểm phân biệt then chốt giữa người chí nguyện và người đệ tử chân chính là mức độ và loại ý chí mà mỗi người có thể tiếp cận.
40. The fire of the will-to-love would seem to be a mixture of the first and second aspects. If so, it can be considered representative of the fire of spirit (to a degree) and of solar fire which is, essentially, the fire of love.
40. Lửa của Ý Chí-Yêu Thương dường như là sự pha trộn giữa phương diện thứ nhất và thứ hai. Nếu vậy, có thể xem nó là đại diện cho lửa tinh thần (ở một mức độ nào đó) và Lửa Thái dương, vốn về bản chất là lửa tình thương.
41. If aspirants and most disciples could simply, and at will, love, there would be less need for the will-to-love, but they are not yet to that point of development. The will-to-love, of course, is a step along the way to the spontaneous expression of pure love.
41. Nếu những người chí nguyện và phần lớn đệ tử có thể đơn giản yêu thương, bất cứ khi nào họ muốn, thì sẽ ít cần đến Ý Chí-Yêu Thương hơn, nhưng họ vẫn chưa đạt đến trình độ phát triển ấy. Dĩ nhiên, Ý Chí-Yêu Thương là một bước trên con đường tiến đến sự biểu lộ tự phát của tình thương thuần khiết.
This fire is not what you think it is. The will-to-love means the love of the greater Whole and the ability to do that which is needed for the good of the group in the right way and with the needed skill in action. It involves capacity for firm action where need arises, because the disciple has a long range vision and is not misled by the immediate perspective. He works and prepares for the future. It is, in other words, the loving intention to fire the entire world with the new idea of the “spirit of relationship,” beginning with the disciple’s own self, his family and immediate group. This is the will-to-fire. It would be well to reflect deeply on these ideas.
Ngọn lửa này không phải như các bạn nghĩ. Ý Chí-Yêu Thương có nghĩa là tình thương dành cho Toàn Thể lớn hơn và khả năng làm những gì cần thiết vì lợi ích của nhóm, theo cách đúng đắn và với sự khéo léo cần thiết trong hành động. Nó bao hàm khả năng hành động kiên quyết khi cần, vì người đệ tử có tầm nhìn xa và không để góc nhìn trước mắt dẫn mình đi sai đường. Y làm việc và chuẩn bị cho tương lai. Nói cách khác, đó là ý định đầy tình thương nhằm khơi lửa trong toàn thế giới bằng ý tưởng mới về “tinh thần của mối quan hệ,” bắt đầu từ chính bản thân của người đệ tử, gia đình và nhóm gần gũi của y. Đây là ý chí khơi lửa. Nên suy ngẫm sâu sắc về những ý tưởng này.
42. DK speaks in various ways in various references of the will-to-love. Usually, He considers it a step along the way to pure love. In this case, He is viewing it as a very high state.
42. Chân sư DK nói về Ý Chí-Yêu Thương theo nhiều cách trong nhiều đoạn văn khác nhau. Thông thường, Ngài xem đó là một bước trên con đường tiến đến tình thương thuần khiết. Trong trường hợp này, Ngài đang xem đó là một trạng thái rất cao.
43. The will-to-love does not concern small or petty loves. It necessitates “the love of the greater Whole” and a realization of what is good for that whole. Law and principle (related to the will aspect) are involved in the expression of the will-to-love. Rectitude and skill in action are required.
43. Ý Chí-Yêu Thương không liên quan đến những tình cảm nhỏ bé hay vụn vặt. Nó đòi hỏi “tình thương dành cho Toàn Thể lớn hơn” và sự nhận biết điều gì có lợi cho toàn thể ấy. Định luật và nguyên khí (liên quan đến phương diện ý chí) đều tham gia vào sự biểu lộ của Ý Chí-Yêu Thương. Điều này đòi hỏi sự chính trực và khéo léo trong hành động.
44. DK is emphasizing that the will-to-love does not lead to an unseemly ‘softness’, but rather to “firm action” because the long range perspective is seen. It is easy to be misled if one does not see the larger picture; values to not fall into their proper place unless the big picture is seen. Importantly, the development of the will is related to the capacity to see the big picture. Those who are intent on the development of the will must attempt to see and understand the Whole (at least a whole reasonably larger than their normal context).
44. Chân sư DK đang nhấn mạnh rằng Ý Chí-Yêu Thương không dẫn đến sự ‘mềm yếu’ không thích hợp, mà dẫn đến “hành động kiên quyết” vì đã thấy được viễn cảnh lâu dài. Người ta dễ bị dẫn sai đường nếu không thấy được bức tranh rộng lớn hơn; các giá trị không thể nằm đúng vị trí của chúng nếu không thấy được toàn cảnh. Điều quan trọng là sự phát triển ý chí có liên quan đến khả năng nhìn thấy toàn cảnh. Những ai quyết tâm phát triển ý chí phải cố gắng nhìn thấy và thấu hiểu Toàn Thể (ít nhất là một toàn thể lớn hơn đáng kể so với phạm vi thông thường của họ).
45. DK gives a magnificent definition of the will-to-love: “the loving intention to fire the entire world with the new idea of the ‘spirit of relationship’. ” We see how the first and second aspects of divinity combine in this definition. It is not merely intention, but loving intention. That which is to be fired is not just certain individuals or certain groups but, inclusively, “the entire world”. And, something new is involved—”the spirit of relationship”—which, according to the Tibetan, is a “new idea”. We note that it is the “spirit” of relationship, which means that Brotherhood (a state existing on monadic levels and, in essence, monadically derived) is involved.
45. Chân sư DK đưa ra một định nghĩa tuyệt vời về Ý Chí-Yêu Thương: “ý định đầy tình thương nhằm khơi lửa trong toàn thế giới bằng ý tưởng mới về ‘tinh thần của mối quan hệ’. ” Chúng ta thấy phương diện thứ nhất và thứ hai của thiên tính kết hợp như thế nào trong định nghĩa này. Đó không chỉ là ý định, mà là ý định đầy tình thương. Đối tượng cần được khơi lửa không chỉ là một số cá nhân hay một số nhóm, mà bao gồm “toàn thế giới”. Và có một điều mới mẻ ở đây—”tinh thần của mối quan hệ”—mà theo Chân sư Tây Tạng, là một “ý tưởng mới”. Chúng ta lưu ý rằng đó là “tinh thần” của mối quan hệ, hàm ý rằng Tình Huynh Đệ (một trạng thái hiện hữu trên các cấp độ chân thần và về bản chất bắt nguồn từ chân thần) có liên quan ở đây.
46. DK is immensely practical about what the disciple must do under the impulse of the will-to-love, for the ‘firing’ for which he is responsible must begin with himself and then extend to his family and group. He cannot leap into an abstract concern for humanity without taking care of that which is closest to him.
46. Chân sư DK vô cùng thực tế về những gì người đệ tử phải làm dưới xung lực của Ý Chí-Yêu Thương, vì việc ‘khơi lửa’ mà y chịu trách nhiệm phải bắt đầu từ chính mình, rồi mở rộng đến gia đình và nhóm của y. Y không thể nhảy ngay sang mối quan tâm trừu tượng đối với nhân loại mà không chăm lo những gì gần gũi nhất với mình.
47. From the perspective here presented, the will-to-love is, thus, the will-to-fire: the fire of love-wisdom enlivened by the fire of spirit.
47. Vì vậy, từ góc nhìn trình bày ở đây, Ý Chí-Yêu Thương là ý chí khơi lửa: lửa Bác Ái – Minh Triết được lửa tinh thần làm cho sống động.
48. This section gives, perhaps, the most potent and evocative idea of the meaning of the will-to-love.
48. Có lẽ phần này đưa ra ý tưởng mạnh mẽ và có sức gợi mở nhất về ý nghĩa của Ý Chí-Yêu Thương.
49. For those who are attempting to understand and penetrate the spirit aspect, DK’s definition of the will-to-love should be most useful. Love is needed when approaching the spirit, and the “loving intention” characteristic of the will-to-love unites the second and first rays.
49. Đối với những ai đang cố gắng thấu hiểu và thâm nhập phương diện tinh thần, định nghĩa của Chân sư DK về Ý Chí-Yêu Thương hẳn sẽ rất hữu ích. Cần có tình thương khi tiếp cận tinh thần, và “ý định đầy tình thương” đặc trưng cho Ý Chí-Yêu Thương hợp nhất cung hai và cung một.
To bring about and render effective this fiery stimulation, the disciple must apply the fire to himself and in the ensuing blaze see himself as he truly is. The fire of the material aspect (the fire of the personality) is still too prevalent and too powerful in the lives of aspirants. It renders them harmful. I would remind you that the fire of the mental plane (that is, of the mind) is the reflection (and the distorted reflection) of the fire of spirit. Some disciples use only the fire of the mind; in their highest and best moments, they attempt to use the fire of love to offset the fires of the critical mind but at the best it is no spontaneous flow but a laborious effort to be nice, to refrain (through drastic disciplining of themselves) from uttering the things which their critical minds say or to act upon the opinions they may have formed through the use of the fire of mind. This fire is always directed at a brother and the effort to refrain from [721] the use of this fire inevitably creates a gap or barrier.
Để tạo ra và làm cho sự kích thích bằng lửa này có hiệu quả, người đệ tử phải áp dụng ngọn lửa ấy cho chính mình và, trong ngọn lửa bùng lên sau đó, thấy mình đúng như thực chất. Lửa của phương diện vật chất (lửa của phàm ngã) vẫn còn quá phổ biến và quá mạnh trong đời sống của những người chí nguyện. Nó khiến họ gây tổn hại. Tôi muốn nhắc các bạn rằng lửa của cõi trí (tức là của thể trí) là sự phản chiếu (và là sự phản chiếu méo mó) của lửa tinh thần. Một số đệ tử chỉ sử dụng lửa của trí tuệ; trong những thời khắc cao cả và tốt đẹp nhất của mình, họ cố gắng sử dụng lửa tình thương để hóa giải những ngọn lửa của thể trí hay chỉ trích, nhưng ngay cả khi tốt nhất, đó cũng không phải là một dòng tuôn chảy tự phát mà là nỗ lực nhọc nhằn để cư xử tử tế, để tự kiềm chế (qua việc tự rèn kỷ luật nghiêm khắc) không thốt ra những điều mà thể trí hay chỉ trích của họ nói, hoặc không hành động theo những ý kiến họ có thể đã hình thành qua việc sử dụng lửa của trí tuệ. Ngọn lửa này luôn hướng vào một huynh đệ, và nỗ lực kiềm chế [721] việc sử dụng ngọn lửa này tất yếu tạo ra một khoảng cách hoặc rào cản.
50. DK emphasizes the practicality of His theme. The fiery stimulation is to be applied by each disciple to himself. Note, He is here talking of disciples and not, per se, of aspirants, though, I am sure, He would encourage aspirants as well to think in terms of the will-to-love.
50. Chân sư DK nhấn mạnh tính thực tế trong chủ đề của Ngài. Mỗi đệ tử phải áp dụng sự kích thích bằng lửa này cho chính mình. Hãy lưu ý, ở đây Ngài đang nói về các đệ tử chứ không phải chính những người chí nguyện, mặc dù tôi tin chắc rằng Ngài cũng sẽ khuyến khích những người chí nguyện suy nghĩ theo hướng Ý Chí-Yêu Thương.
51. We note that in the first sentence of the section above DK spoke of disciples. In the second sentence (probably not accidentally), He speaks of aspirants. True disciples are able to apply the fiery stimulation of the will-to-love to themselves and, in doing so, see themselves as they really are (for love both purifies and reveals, and reduces all to essence). Aspirants, however, are characterized by an excessive burning of the “fire of personality”. We come to understand that in the true disciple the personality is fading in importance; this is not the case in the life of an aspirant.
51. Chúng ta lưu ý rằng trong câu đầu tiên của phần trên, Chân sư DK nói về các đệ tử. Trong câu thứ hai (có lẽ không phải ngẫu nhiên), Ngài nói về những người chí nguyện. Các đệ tử chân chính có thể áp dụng sự kích thích bằng lửa của Ý Chí-Yêu Thương cho chính mình và, khi làm như vậy, thấy mình đúng như thực chất (vì tình thương vừa thanh lọc vừa mặc khải, đồng thời quy mọi sự về tinh túy). Những người chí nguyện, tuy nhiên, lại có đặc điểm là “lửa của phàm ngã” bùng cháy quá mức. Chúng ta dần thấu hiểu rằng nơi người đệ tử chân chính, tầm quan trọng của phàm ngã đang giảm dần; điều này chưa xảy ra trong đời sống của người chí nguyện.
52. Another distinction appears by implication: aspirants are harmful because the fire of personality is burning too fiercely in them; the true disciple is not harmful, and presumably the fire of personality is much abated.
52. Một điểm phân biệt khác hiện ra qua hàm ý: những người chí nguyện gây tổn hại vì lửa của phàm ngã đang cháy quá dữ dội trong họ; người đệ tử chân chính không gây tổn hại, và có lẽ lửa của phàm ngã đã dịu đi nhiều.
53. DK seems to suggest that the distorted fire of spirit is behind the critical minds of many aspirants. There is a link between spirit and mind; love, however, may be missing.
53. Chân sư DK dường như gợi ý rằng lửa tinh thần méo mó nằm sau những thể trí hay chỉ trích của nhiều người chí nguyện. Có một mối liên kết giữa tinh thần và thể trí; tuy nhiên, tình thương có thể vắng mặt.
54. We have noticed it to be true, have we not (and especially in the field of academic esotericism) that a number of disciples “use only the fire of mind”. Something tells them they can and should do better and so, “in their highest and best moments” they attempt to use the fire of love. Here DK comments on the laborious effort required; such disciples are far from spontaneously loving. They simply suppress their critical minds in the effort to “be nice”. Not a very flattering picture, but a true one.
54. Chúng ta đã nhận thấy điều này là đúng, phải không (đặc biệt trong lĩnh vực huyền bí học mang tính học thuật), rằng một số đệ tử “chỉ sử dụng lửa của trí tuệ”. Một điều gì đó mách bảo họ rằng họ có thể và nên làm tốt hơn, nên “trong những thời khắc cao cả và tốt đẹp nhất của mình” họ cố gắng sử dụng lửa tình thương. Ở đây, Chân sư DK bình luận về nỗ lực nhọc nhằn cần có; những đệ tử như vậy còn lâu mới yêu thương một cách tự phát. Họ chỉ đè nén thể trí hay chỉ trích của mình trong nỗ lực “cư xử tử tế”. Một bức tranh chẳng mấy đẹp đẽ, nhưng đúng với sự thật.
55. We see that the fire of mind, untempered by love, can be quite dangerous. Under the influence of this fire, it seems to require “drastic disciplining” even to “be nice”. This tells us something about the potent virulence of the critical mind. Obviously, we are dealing with the mental hydra—the three hydra “head” hardest to redeem (pride separativeness and cruelty). The problem here discussed is principally between the third and second rays—the third ray representing the mind and the second, love.
55. Chúng ta thấy rằng lửa của trí tuệ, khi không có tình thương điều hòa, có thể khá nguy hiểm. Dưới ảnh hưởng của ngọn lửa này, dường như cần phải “rèn kỷ luật nghiêm khắc” ngay cả để “cư xử tử tế”. Điều này cho chúng ta biết phần nào về sức độc hại mãnh liệt của thể trí hay chỉ trích. Rõ ràng, chúng ta đang đề cập đến con rắn nhiều đầu của trí tuệ—ba “cái đầu” khó cứu chuộc nhất của nó (kiêu hãnh, chia rẽ và tàn ác). Vấn đề bàn đến ở đây chủ yếu nằm giữa cung ba và cung hai—cung ba đại diện cho thể trí, còn cung hai đại diện cho tình thương.
56. The fire of mind is most often directed at a brother. Thus, it is a weapon. The disciple, increasingly aware of his undesirable tendencies, may seek to tame and restrain the mind, but the very effort to do so creates a gap between him and the brother he otherwise would have criticized. This gap would not be present were he able to love spontaneously.
56. Lửa của trí tuệ thường hướng vào một huynh đệ nhất. Vì vậy, nó là một vũ khí. Người đệ tử, ngày càng nhận biết những khuynh hướng không đáng có của mình, có thể tìm cách thuần hóa và kiềm chế thể trí, nhưng chính nỗ lực ấy lại tạo ra một khoảng cách giữa y và người huynh đệ mà nếu không kiềm chế thì y đã chỉ trích. Khoảng cách này sẽ không tồn tại nếu y có thể yêu thương một cách tự phát.
57. DK seems to be suggesting that if the fiery stimulation of the will-to-love were applied by the disciple to himself, the problem of the transformation of the critical mind would be solved.
57. Chân sư DK dường như gợi ý rằng nếu người đệ tử áp dụng sự kích thích bằng lửa của Ý Chí-Yêu Thương cho chính mình, thì vấn đề chuyển đổi thể trí hay chỉ trích sẽ được giải quyết.
Among the majority of aspirants, there is no true love in action but only much personality effort to be non-critical. Their concentration is upon the recognised and basic need to be non-critical because it is right so to be, and there is a reward for those who achieve it, but the concentration is not based upon the effects upon others when the fire of the mind is let loose with its destroying, burning and damaging effects.
Trong đa số những người chí nguyện, không có tình thương chân thật trong hành động, mà chỉ có nhiều nỗ lực của phàm ngã để không chỉ trích. Họ tập trung vào nhu cầu cơ bản đã được thừa nhận là không chỉ trích, vì làm như vậy là đúng, và có phần thưởng dành cho những ai đạt được điều đó, nhưng sự tập trung ấy không dựa trên những tác động đối với người khác khi lửa của thể trí được thả lỏng với những tác động hủy diệt, thiêu đốt và gây tổn hại của nó.
58. DK is back to the word “aspirants”. We should note how often He switches from the word “aspirant” to “disciple” and back again. He does this also (in the astrological context) with the terms “sign” and “constellation” requiring that the reader read very carefully to catch the hidden implication (if there is one)—and not simply an effort to blind the subject.
58. Chân sư DK trở lại với từ “những người chí nguyện”. Chúng ta nên lưu ý Ngài thường xuyên chuyển từ từ “người chí nguyện” sang “đệ tử” rồi lại chuyển ngược lại như thế nào. Ngài cũng làm như vậy (trong ngữ cảnh chiêm tinh học) với các thuật ngữ “dấu hiệu” và “chòm sao”, đòi hỏi người đọc phải đọc thật cẩn thận để nắm bắt hàm ý ẩn giấu (nếu có)—chứ không đơn thuần là một nỗ lực che giấu vấn đề.
59. He is nothing if not realistic about the state of the usual aspirant—relatively unloving. DK finds “no true love in action” in the case of the majority of aspirants; only the pale shadow of love identified as “much personality effort to be non-critical”. These two are clearly not the same. The second is a lifeless shadow of the first.
59. Ngài hết sức thực tế về trạng thái của người chí nguyện thông thường—tương đối thiếu tình thương. Chân sư DK nhận thấy “không có tình thương chân thật trong hành động” nơi đa số những người chí nguyện; chỉ có cái bóng nhợt nhạt của tình thương mà Ngài gọi là “nhiều nỗ lực của phàm ngã để không chỉ trích”. Rõ ràng hai điều này không giống nhau. Điều thứ hai là cái bóng vô hồn của điều thứ nhất.
60. DK points to the essentially selfish motive which animates the disciple who tries to be non-critical because “it is right so to be” and because “there is a reward for those who achieve it”. The thought of such an aspirant is clearly on the little self and not upon harm caused should the fire of mind be let loose upon others. The mind involved is not compassionate mind. Selfishness has not been defeated.
60. Chân sư DK chỉ ra động cơ về bản chất là ích kỷ đang thúc đẩy người đệ tử cố gắng không chỉ trích vì “làm như vậy là đúng” và vì “có phần thưởng dành cho những ai đạt được điều đó”. Rõ ràng, người chí nguyện như vậy đang nghĩ đến cái tôi nhỏ bé chứ không phải sự tổn hại sẽ gây ra nếu thả lỏng lửa của trí tuệ vào người khác. Thể trí ở đây không phải là thể trí từ bi. Lòng ích kỷ vẫn chưa bị đánh bại.
61. The eyes have not been taken off the little personal self; there is still too much self-concern and self-preoccupation. The welfare of others is, unfortunately, incidental to the welfare of oneself.
61. Ánh mắt vẫn chưa rời khỏi cái tôi cá nhân nhỏ bé; vẫn còn quá nhiều sự quan tâm và bận tâm đến bản thân. Đáng tiếc, phúc lợi của người khác chỉ là thứ yếu so với phúc lợi của chính mình.
62. Why do the fires of mind have destroying, burning and damaging effects? Simply because they are not conditioned or wielded by the energy of love. These fires are separative and separate rather than unite. The energy of the “Divine Separator” (the Third Ray Lord) is useful at a certain stage of evolution, but must be transcended or its expression elevated so that it serves the great Ray of Love-Wisdom.
62. Vì sao những ngọn lửa của trí tuệ có tác động hủy diệt, thiêu đốt và gây tổn hại? Đơn giản vì năng lượng tình thương không định hình hay vận dụng chúng. Những ngọn lửa này mang tính chia rẽ và gây chia cách thay vì hợp nhất. Năng lượng của “Đấng Phân Chia Thiêng Liêng” (Đấng Chúa Tể Cung ba) hữu ích ở một giai đoạn tiến hoá nhất định, nhưng phải vượt lên trên năng lượng ấy hoặc nâng cao sự biểu lộ của nó để nó phụng sự Cung Bác Ái – Minh Triết vĩ đại.
The Masters are, therefore, anxious to “burn up the disciple in the fire of the will-to-love so that he is set free and the barriers to the inflow of the avataric force may be dissolved. ” Why is this? Because it is the disciples in the world and not the mass of men who today hinder the Coming of the Avatar and render useless His intention. He dare not come until the disciples and aspirants in the world bring about the needed changes in themselves, for the reason that there would not be “enough of the will-to-love with the fiery essence. ”
Vì vậy, các Chân sư tha thiết muốn “thiêu đốt người đệ tử trong lửa của Ý Chí-Yêu Thương để y được giải thoát và những rào cản đối với dòng mãnh lực của Đấng Hoá Thân tuôn vào có thể tan biến. ” Vì sao lại như vậy? Vì ngày nay, chính các đệ tử trên thế giới chứ không phải quảng đại quần chúng đang cản trở Sự Giáng Lâm của Đấng Hoá Thân và khiến ý định của Ngài trở nên vô hiệu. Ngài không dám đến cho tới khi các đệ tử và những người chí nguyện trên thế giới tạo ra những thay đổi cần thiết trong chính mình, vì sẽ không có “đủ Ý Chí-Yêu Thương cùng với tinh túy lửa. ”
63. The Masters have a rather dramatic goal with respect to the selfish aspirant or disciple. The seek to “burn up the disciple in the fire of the will-to-love so that he is set free and the barriers to the inflow of the avataric forces may be dissolved”.
63. Các Chân sư có một mục tiêu khá quyết liệt đối với người chí nguyện hay đệ tử ích kỷ. Các Ngài tìm cách “thiêu đốt người đệ tử trong lửa của Ý Chí-Yêu Thương để y được giải thoát và những rào cản đối với các mãnh lực của Đấng Hoá Thân tuôn vào có thể tan biến”.