Trích nội dung chương
64. If the disciple is consumed in this fire, barriers to right relationship will be dissolved. He will be effectively animated by the “spirit of relationship”. 64. Nếu người đệ tử cháy hết trong ngọn lửa này, những rào cản đối với mối quan hệ đúng đắn sẽ tan biến. Y sẽ thực sự nhận được sức sống từ “tinh thần của mối quan hệ”.
64. If the disciple is consumed in this fire, barriers to right relationship will be dissolved. He will be effectively animated by the “spirit of relationship”.
64. Nếu người đệ tử cháy hết trong ngọn lửa này, những rào cản đối với mối quan hệ đúng đắn sẽ tan biến. Y sẽ thực sự nhận được sức sống từ “tinh thần của mối quan hệ”.
65. We can see how important it is to understand the will-to-love and to apply it to ourselves. If we fail to do so, we shall remain an obstacle to the coming of the Christ.
65. Chúng ta có thể thấy việc thấu hiểu Ý Chí-Yêu Thương và áp dụng nó cho chính mình quan trọng đến mức nào. Nếu không làm được điều đó, chúng ta sẽ vẫn là chướng ngại đối với sự giáng lâm của Đức Christ.
66. What is the “avataric force” here discussed? Probably the best and most practical answer is the “Christ-force”. Christ is the coming Avatar for the Aquarian Age (whether or not He will be recognized by those who so loudly proclaim his name).
66. Đâu là “mãnh lực của Đấng Hoá Thân” đang được bàn đến ở đây? Có lẽ câu trả lời tốt nhất và thực tế nhất là “mãnh lực của Đức Christ”. Đức Christ là Đấng Hoá Thân đang đến cho Kỷ Nguyên Bảo Bình (dù những người lớn tiếng tuyên xưng danh Ngài có nhận ra Ngài hay không).
67. We come to understand that it is the “disciples of the world” who are hindering the coming the Avatar, the Christ. In fact, they are powerful enough to render His intention to reappear useless! This is a stern judgment and should cause all of us who call ourselves disciples to pause and reflect.
67. Chúng ta dần thấu hiểu rằng chính “các đệ tử trên thế giới” đang cản trở sự giáng lâm của Đấng Hoá Thân, Đức Christ. Thực tế, họ đủ mạnh để khiến ý định tái lâm của Ngài trở nên vô hiệu! Đây là một lời phán xét nghiêm khắc và hẳn phải khiến tất cả chúng ta, những người tự gọi mình là đệ tử, dừng lại suy ngẫm.
68. Apparently it is our relationships with each other and with other groups, which are not animated by that “new idea”, the “spirit of relationship”.
68. Dường như chính những mối quan hệ của chúng ta với nhau và với các nhóm khác chưa nhận được sức sống từ “ý tưởng mới” ấy, tức “tinh thần của mối quan hệ”.
69. Something extremely potent is said of the Christ: that He “dare not come” until the disciples and aspirants (note that both are included) bring about the needed changes in themselves. So, it would appear that we (the aspirants and disciples of the world) are the prime cause of the delay in the Christ’s Reappearance. The responsibility then falls immediately to us: let us improve our relationships with each other, with other groups (i. e. , groups other than our own) and with humanity. Then there is a chance that we may be useful to the Christ and not well-meaning but ignorant obstacles as now we are.
69. Có một điều có sức nặng phi thường được nói về Đức Christ: rằng Ngài “không dám đến” cho đến khi các đệ tử và người chí nguyện (lưu ý rằng cả hai đều được bao gồm) tạo ra những thay đổi cần thiết trong chính mình. Vì vậy, dường như chúng ta (những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới) là nguyên nhân chính gây nên sự trì hoãn cuộc Tái Lâm của Đức Christ. Vậy trách nhiệm lập tức thuộc về chúng ta: hãy cải thiện các mối quan hệ giữa chúng ta với nhau, với các nhóm khác (nghĩa là những nhóm ngoài nhóm của chúng ta) và với nhân loại. Khi ấy, chúng ta mới có cơ hội trở nên hữu ích cho Đức Christ, thay vì là những chướng ngại có thiện ý nhưng vô minh như hiện nay.
70. The reason He dares not come is because “there would not be ‘enough of the will-to-love with the fiery essence’. ”
70. Lý do Ngài không dám đến là vì “sẽ không có ‘đủ Ý Chí-Yêu Thương mang tinh chất lửa’. ”
71. This may seem a rather abstruse point, but the meaning is clear. Unless disciples and aspirants in the world are animated by the will-to-love (that “loving intention to fire the entire world with the new idea of the ‘spirit of relationship’”, the Christ cannot return. The ensuing separativeness stimulated by His presence would be most destructive, for the energy of a great Member of Hierarchy can cause cleavages among the unprepared (and even among those who think they are prepared, but are not). Not enough love would be present within His representatives to lovingly modulate His tremendous energy so that its impact would bring union rather than division. We are reminded of His statement:
71. Điểm này có vẻ khá khó hiểu, nhưng ý nghĩa thì rõ ràng. Trừ khi các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới được Ý Chí-Yêu Thương thôi thúc (tức “ý định đầy tình thương nhằm thắp lửa toàn thế giới bằng ý tưởng mới về ‘tinh thần của mối quan hệ’”, Đức Christ không thể trở lại. Sự hiện diện của Ngài sẽ kích thích tính chia rẽ, và tính chia rẽ phát sinh ấy sẽ có sức tàn phá ghê gớm, vì năng lượng của một Thành Viên vĩ đại trong Thánh đoàn có thể gây ra những rạn nứt giữa những người chưa sẵn sàng (và ngay cả giữa những người nghĩ mình đã sẵn sàng, nhưng thực ra chưa sẵn sàng). Những người đại diện cho Ngài sẽ không có đủ tình thương để điều hòa năng lượng phi thường của Ngài bằng tình thương, sao cho tác động của năng lượng ấy đem lại sự hợp nhất thay vì chia rẽ. Chúng ta nhớ lại lời Ngài nói:
I come to bring not peace but the sword”. The coming of the “sword” of discrimination is inevitable; the great and inevitable divisions caused by His presence must be offset by the spread of love amongst human beings. When even disciples cannot manage to love each other, what hope is there for average humanity!
Ta đến để mang lại gươm đao chứ không phải hòa bình”. Sự xuất hiện của “thanh gươm” phân biện là điều tất yếu; những sự chia rẽ lớn lao và tất yếu do sự hiện diện của Ngài gây ra phải được hóa giải bằng sự lan tỏa tình thương giữa con người. Khi ngay cả các đệ tử cũng chưa thể yêu thương nhau, thì còn hy vọng gì cho nhân loại bình thường!
72. We may all ponder on what our lives would be like if we were animated by a sufficiency of the “will to love with the fiery essence”. The “fiery essence” would seem to be the essential quality of our planet and solar system—the fire of Love-Wisdom. That second ray fire is supreme over its three subdivisions—fire by friction, solar fire and electric fire. The “fiery essence” reveals that the God of our solar system is Love.
72. Tất cả chúng ta đều có thể suy ngẫm xem đời sống mình sẽ ra sao nếu chúng ta được thôi thúc bởi một mức độ đầy đủ của “Ý Chí-Yêu Thương mang tinh chất lửa”. “Tinh chất lửa” dường như là phẩm tính cốt yếu của hành tinh và hệ mặt trời chúng ta—lửa Bác Ái – Minh Triết. Lửa cung hai ấy tối thượng hơn ba phân nhánh của nó—Lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện. “Tinh chất lửa” mặc khải rằng Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta là Tình thương.
73. Christ’s presence will be potent in the extreme. The fires of matter, karma and judgment will be stimulated in reaction to the fire of love He carries, or rather, is. The disciples must be in a position to help fight fire with fire. Thus, the will-to-love must be awakened in them so they can assist in countering this expected reaction.
73. Sự hiện diện của Đức Christ sẽ có uy lực tột độ. Những ngọn lửa của vật chất, nghiệp quả và phán xét sẽ bùng lên như một phản ứng trước lửa tình thương mà Ngài mang theo, hay đúng hơn, mà Ngài chính là. Các đệ tử phải ở vị thế có thể giúp lấy lửa chống lửa. Vì vậy, Ý Chí-Yêu Thương phải được đánh thức trong họ để họ có thể góp phần hóa giải phản ứng được dự liệu này.
74. All during this discussion we are to be reminded that we are discussing that stage of the Six Stages of Discipleship called “Chela in the Light”.
74. Trong suốt cuộc thảo luận này, chúng ta cần nhớ rằng mình đang bàn về giai đoạn trong Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử được gọi là “Đệ tử trong Ánh sáng”.
Where that will is present two things can take place:
Ở đâu có ý chí ấy, ở đó có thể xảy ra hai điều:
1. There can be the needed stepping-down of the inflowing energy which the Avatar would bring with Him so that it can be rendered effective in humanity.
1. Có thể thực hiện việc hạ giảm cần thiết đối với dòng năng lượng tuôn vào mà Đấng Hoá Thân sẽ mang theo, để năng lượng ấy có thể phát huy hiệu quả trong nhân loại.
75. We see why we must be animated by the will-to-love. This animation has very practical purposes.
75. Chúng ta thấy vì sao mình phải được Ý Chí-Yêu Thương thôi thúc. Sự thôi thúc này có những mục đích rất thiết thực.
76. Christ, the Avatar (in this case) is bringing with Him the energies of the Avatar of Synthesis, of the Spirit of Peace and of the Buddha. These are, for our purposes, supremely high energies and must be stepped-down for the use of humanity.
76. Đức Christ, Đấng Hoá Thân (trong trường hợp này), đang mang theo những năng lượng của Đấng Hoá Thân Tổng Hợp, của Đấng Tinh thần Hòa Bình và của Đức Phật. Xét theo mục đích của chúng ta, đây là những năng lượng cao siêu tột bậc và phải được hạ giảm để nhân loại có thể sử dụng.
77. In addition to these three supreme energies flowing through the Christ, there will be His own energies which are, to say the least, potent and remarkable.
77. Ngoài ba năng lượng tối thượng này tuôn chảy qua Đức Christ, còn có những năng lượng của chính Ngài, mà nói một cách dè dặt nhất, cũng đầy uy lực và phi thường.
78. Thus the will-to-love is in the nature of an energy-transformer, and without its potent representation in the members of Christ’s Household, the Reappearance of the Christ and the Externalization of the Hierarchy cannot be as effective as otherwise they would. In fact, a premature Reappearance would be amazingly destructive.
78. Vì vậy, Ý Chí-Yêu Thương có bản chất của một bộ chuyển đổi năng lượng, và nếu ý chí ấy không biểu hiện mạnh mẽ trong các thành viên thuộc Gia Quyến của Đức Christ, thì cuộc Tái Lâm của Đức Christ và Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn không thể đạt hiệu quả như lẽ ra có thể. Thực ra, một cuộc Tái Lâm quá sớm sẽ có sức tàn phá khủng khiếp.
2. The Avatar and Those Who are working with Him and under His influence can be provided with a group which can:
2. Đấng Hoá Thân và Các Đấng đang làm việc cùng Ngài và dưới ảnh hưởng của Ngài có thể có được một nhóm có khả năng:
79. The Avatar is, of course, the Christ and those Who are working with Him are not only the three great surrounding and protective Entities mentioned immediately above, but the entire Spiritual Hierarchy and especially those Who are planning to externalize with Him.
79. Dĩ nhiên, Đấng Hoá Thân chính là Đức Christ, và Các Đấng đang làm việc cùng Ngài không chỉ là ba Thực Thể vĩ đại bao quanh và che chở vừa được đề cập ở trên, mà còn là toàn thể Thánh đoàn, đặc biệt là Các Đấng đang dự định ngoại hiện cùng Ngài.
a. Respond intelligently to that influence, recognising it and absorbing it.
a. Đáp ứng một cách thông minh với ảnh hưởng ấy, nhận biết và hấp thu ảnh hưởng ấy.
b. Distribute the inflowing energy.
b. Phân phối năng lượng đang tuôn vào.
80. There must be groups in the world which can recognize the Avataric energy, respond intelligently to it and absorb it so that they can distribute it radiantly (albeit in a somewhat reduced manner).
80. Trên thế giới phải có những nhóm có thể nhận biết năng lượng của Đấng Hoá Thân, đáp ứng một cách thông minh và hấp thu năng lượng ấy để có thể phân phối nó bằng sự tỏa chiếu (dù ở mức độ phần nào đã hạ giảm).
81. We might think that recognition of the avataric energy would be easy. However, anyone who has become imbued with the Christ energy understands how essentially unusual and elusive it is.
81. Chúng ta có thể nghĩ rằng việc nhận biết năng lượng của Đấng Hoá Thân sẽ dễ dàng. Tuy nhiên, bất cứ ai đã thấm nhuần năng lượng của Đức Christ đều thấu hiểu rằng về bản chất, năng lượng ấy khác thường và khó nắm bắt đến mức nào.
82. If we realize that Shamballic energies (and energies even higher—such as those the Avatar of Synthesis) will be augmenting the energy of the Christ, we can see that recognition and absorption do not take place as a matter of course.
82. Nếu nhận ra rằng các năng lượng Shamballa (và cả những năng lượng cao hơn nữa—chẳng hạn như năng lượng của Đấng Hoá Thân Tổng Hợp) sẽ tăng cường năng lượng của Đức Christ, chúng ta có thể thấy rằng sự nhận biết và hấp thu không tự nhiên mà xảy ra.
c. Interpret to humanity the new impelling forces which are occupied with the precipitation of the new vision, the new world order and the New Age ideals.
c. Giải thích cho nhân loại những mãnh lực thúc đẩy mới đang thực hiện sự ngưng tụ của tầm nhìn mới, trật tự thế giới mới và các lý tưởng của Kỷ Nguyên Mới.
83. Something remarkable is on its way to humanity. Even those religious people who speak much of Jesus-Christ will find it startling and far different from what they may have expected.
83. Một điều phi thường đang đến với nhân loại. Ngay cả những người theo tôn giáo thường nói nhiều về Đức Jesus-Christ cũng sẽ thấy điều ấy gây sửng sốt và khác xa những gì họ có thể đã mong đợi.
84. Intelligent, empathic interpreters will be needed so that great numbers of human beings can grasp what is happening and still maintain their balance.
84. Sẽ cần những người diễn giải thông minh, biết đồng cảm, để đông đảo con người có thể nắm bắt những gì đang diễn ra mà vẫn giữ được sự quân bình.
85. This “Coming” has been called the advent of the ‘Wave of Fiery Love’.
85. “Sự Giáng Lâm” này đã được gọi là sự xuất hiện của ‘Làn Sóng Tình Thương Rực Lửa’.
There will then be very many chelas in the Light and on the other graded steps of discipleship.
Khi ấy sẽ có rất nhiều đệ tử trong Ánh sáng và trên các cấp bậc khác của địa vị đệ tử.
86. DK seems to know when the Avatar will make His appearance.
86. Chân sư DK dường như biết khi nào Đấng Hoá Thân sẽ xuất hiện.
87. Or, perhaps He is saying that whenever that appearance occurs, there will be many “chelas in the Light”.
87. Hoặc có lẽ Ngài đang nói rằng bất cứ khi nào sự xuất hiện ấy diễn ra, cũng sẽ có nhiều “đệ tử trong Ánh sáng”.
88. It appears, from this statement, that there will also be many other kinds of disciples available for work on all the “other graded steps of discipleship”.
88. Từ phát biểu này, dường như cũng sẽ có nhiều loại đệ tử khác sẵn sàng làm việc trên tất cả “các cấp bậc khác của địa vị đệ tử”.
89. Chelas in the Light will be especially necessary are they are quite close to average humanity and will be able to throw the light of understanding upon the unusual developments which the Advent will bring.
89. Các Đệ tử trong Ánh sáng sẽ đặc biệt cần thiết vì họ khá gần gũi với nhân loại bình thường và sẽ có thể soi ánh sáng của sự thấu hiểu lên những diễn biến khác thường mà cuộc Giáng Lâm sẽ mang lại.
The vision which many have of the influence and work of the Avatar is that of a Great Appearance which will end all strife, inaugurate the new era of peace and goodwill, soothe the hearts of the people and lead mankind into realms of beauty and of happiness. He will be the consummation of the [722] wishful thinking of countless minds down the ages. He will be the solace of distressed humanity. He will sweetly love and quietly deal with His Own people and will sweep the evil doer out of the Earth and prevent him from again molesting the peace of the world.
Tầm nhìn của nhiều người về ảnh hưởng và công việc của Đấng Hoá Thân là một cuộc Hiện Diện Vĩ Đại sẽ chấm dứt mọi xung đột, mở ra kỷ nguyên mới của hòa bình và thiện chí, xoa dịu lòng người và dẫn dắt nhân loại vào những cảnh giới của cái đẹp và hạnh phúc. Ngài sẽ là sự thành tựu trọn vẹn của [722] những mong tưởng nơi vô số thể trí qua các thời đại. Ngài sẽ là niềm an ủi cho nhân loại khổ đau. Ngài sẽ yêu thương dịu dàng và xử lý êm thấm mọi việc với dân của chính Ngài, sẽ quét sạch kẻ làm điều ác khỏi Trái Đất và ngăn không cho kẻ ấy quấy nhiễu nền hòa bình thế giới một lần nữa.
90. DK expresses for us in this paragraph the wishful thinking of millions. In some ways, it is an appealing picture, but we sense that it has very little to do with reality. It is an illusion which will have to be broken. Probably, many people, expecting the kinds of developments noted above, will fail to recognize the Avatar when He comes. Their false expectations will blind them.
90. Trong đoạn này, Chân sư DK diễn tả cho chúng ta những mong tưởng của hàng triệu người. Ở một vài phương diện, đó là một bức tranh hấp dẫn, nhưng chúng ta cảm nhận rằng nó rất ít liên quan đến thực tại. Đó là một ảo tưởng sẽ phải bị phá vỡ. Có lẽ nhiều người, vì mong đợi những diễn biến như đã nêu trên, sẽ không nhận ra Đấng Hoá Thân khi Ngài đến. Những mong đợi sai lầm sẽ làm họ mù quáng.
I tell you that such a picture does not enter into the vision of reality at all. It is based on theological interpretations and human selfishness; it is founded on the misery of mankind and on the failure of disciples and aspirants everywhere to grasp the true nature of love and the real vision of the hierarchical Plan.
Tôi nói với các bạn rằng một bức tranh như thế hoàn toàn không thuộc về tầm nhìn về thực tại. Nó dựa trên những diễn giải thần học và tính ích kỷ của con người; nó đặt nền trên nỗi khốn cùng của nhân loại và trên việc các đệ tử và người chí nguyện khắp nơi không nắm bắt được bản chất chân thật của tình thương và tầm nhìn đích thực về Thiên Cơ của Thánh đoàn.
91. DK states bluntly, that such a vision is no vision of reality.
91. Chân sư DK nói thẳng rằng một tầm nhìn như thế không phải là tầm nhìn về thực tại.
92. That vision has been created by theology and by “human selfishness”. Indeed, it is very self-centered and self-gratifying. It fails to embrace the larger picture and the place of humanity within that picture. It is simply a vision of that which brings relief—and revenge!
92. Thần học và “tính ích kỷ của con người” đã tạo ra tầm nhìn ấy. Quả thực, nó rất tập trung vào bản thân và nhằm thỏa mãn bản thân. Nó không bao quát được bức tranh rộng lớn hơn và vị trí của nhân loại trong bức tranh ấy. Nó chỉ là một tầm nhìn về những gì đem lại sự giải thoát khỏi khổ đau—và sự trả thù!
93. The falsity of vision is not the fault of theology and selfishness alone, but of the blindness of aspirants and disciples. They do not know the real nature of love, and not seeing the “real vision of the hierarchical Plan” they have been unable to convey it to humanity, thus altering naïve expectation.
93. Sự sai lạc của tầm nhìn không chỉ do thần học và tính ích kỷ, mà còn do sự mù quáng của những người chí nguyện và đệ tử. Họ không biết bản chất thực sự của tình thương, và vì không thấy “tầm nhìn đích thực về Thiên Cơ của Thánh đoàn”, họ đã không thể truyền đạt tầm nhìn ấy cho nhân loại để qua đó thay đổi những mong đợi ngây thơ.
It is the Fire of Love which He will bring; it is the message of the purificatory fire which He will sound; He will not teach anent the waters of purification, as has hitherto been the symbolic imparted truth; He will impart the fire which burns and destroys all barriers in man’s nature, all separating walls between individuals, between groups and between nations. Are you prepared as individuals, as disciples and aspirants to submit yourselves to this fire?
Chính Lửa Tình Thương là điều Ngài sẽ mang đến; chính thông điệp về lửa thanh luyện là điều Ngài sẽ xướng lên; Ngài sẽ không giảng dạy về nước thanh tẩy như chân lý biểu tượng vẫn được truyền dạy cho đến nay; Ngài sẽ truyền lửa thiêu đốt và phá hủy mọi rào cản trong bản chất con người, mọi bức tường ngăn cách giữa các cá nhân, giữa các nhóm và giữa các quốc gia. Với tư cách cá nhân, đệ tử và người chí nguyện, các bạn đã sẵn sàng đặt mình dưới tác động của ngọn lửa này chưa?
94. As DK discussed the true Christ and the energy which He will actually bring (the Fire of Love) His words turn dramatic.
94. Khi Chân sư DK bàn về Đức Christ đích thực và năng lượng mà Ngài thực sự sẽ mang đến (Lửa Tình Thương), lời Ngài trở nên đầy kịch tính.
95. The process will not be sweet and benign, but fiery and challenging. He, the Christ, will bring fire rather than water, and the first thing to be destroyed will be all the separative barriers which exist within man and between individuals, groups and nations.
95. Tiến trình ấy sẽ không dịu ngọt và hiền hòa, mà rực lửa và đầy thử thách. Ngài, Đức Christ, sẽ mang đến lửa thay vì nước, và điều đầu tiên bị phá hủy sẽ là mọi rào cản chia rẽ tồn tại bên trong con người và giữa các cá nhân, các nhóm cùng các quốc gia.
96. People are much sheltered and comforted by their separatisms. It will be a very great challenge for millions when these separatisms are destroyed. Once barriers are destroyed, an entirely heightened power to respond will be required, and many may feel overwhelmed when bereft of dearly held (though false) certainties.
96. Con người tìm thấy nhiều sự che chở và an ủi trong những hình thức chia rẽ của mình. Khi những hình thức chia rẽ ấy bị phá hủy, đó sẽ là một thử thách vô cùng lớn đối với hàng triệu người. Một khi các rào cản bị phá hủy, con người sẽ cần một năng lực đáp ứng được nâng cao toàn diện, và nhiều người có thể cảm thấy choáng ngợp khi mất đi những điều chắc chắn mà họ hằng trân trọng (dù là sai lầm).
97. Not only the rank and file of human beings will be challenged, but all aspirants and disciples as well. The energy of the Christ is surely the most challenging energy to which we can, at this time, be exposed.
97. Không chỉ những người bình thường sẽ chịu thử thách, mà tất cả những người chí nguyện và đệ tử cũng vậy. Chắc chắn năng lượng của Đức Christ là năng lượng mang tính thử thách cao nhất mà chúng ta có thể tiếp xúc vào lúc này.
98. That is why Master DK, with deliberation asks us if we are prepared to submit ourselves to this fire. It would seem that the usual personality would cringe before it—so thorough and all-exacting will it be.
98. Đó là lý do Chân sư DK chủ ý hỏi liệu chúng ta đã sẵn sàng đặt mình dưới tác động của ngọn lửa này chưa. Dường như phàm ngã thông thường sẽ co rúm trước ngọn lửa ấy—vì nó sẽ triệt để và đòi hỏi toàn bộ con người đến như vậy.
99. We can see why the ordinary religious person has arranged for himself a much more comfortable vision of Christ’s Second Coming. Such individuals would be psychologically terrified by the true prospects.
99. Chúng ta có thể thấy vì sao người theo tôn giáo bình thường lại tạo cho mình một tầm nhìn dễ chịu hơn nhiều về cuộc Tái Lâm của Đức Christ. Những người như thế sẽ kinh hãi về mặt tâm lý trước những triển vọng thực sự.
When a man becomes a chela in the Light, certain developments take place which enable him to see the vision more clearly and to know what he must do, for the Light ever reveals. These are:
Khi một người trở thành đệ tử trong Ánh sáng, một số sự phát triển diễn ra, giúp y thấy tầm nhìn rõ hơn và biết mình phải làm gì, vì Ánh sáng luôn mặc khải. Đó là:
100. To enter the stage of Chela in the Light signals a new engagement with the Light. Again, we find the energies of Taurus (the Mother of Illumination) and Sagittarius (the “Seeker”) inferred.
100. Bước vào giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng báo hiệu một mối gắn kết mới với Ánh sáng. Một lần nữa, chúng ta thấy hàm ý về các năng lượng của Kim Ngưu (Mẹ của Sự Soi Sáng) và Nhân Mã (“Người Tìm Kiếm”).
101. There will be a clearer vision both of microcosmic and macrocosmic actualities. The disciple will come to see himself as he really is, and the world as well. This revelation will be initially discomfiting.
101. Sẽ có một tầm nhìn rõ ràng hơn về cả những thực tại tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa. Người đệ tử sẽ dần thấy chính mình đúng như mình thực sự là, và cũng thấy thế giới như vậy. Ban đầu, sự mặc khải này sẽ gây khó chịu.
102. Master DK catalogues the developments which will occur for the chela in the light.
102. Chân sư DK liệt kê những sự phát triển sẽ diễn ra đối với đệ tử trong Ánh sáng.
1. The aspirant makes a transition in consciousness from the astral plane to the mental and, in effecting this, the senior helping chela gives definite aid and guidance.
1. Người chí nguyện thực hiện một sự chuyển tiếp trong tâm thức từ cõi cảm dục sang cõi trí, và trong quá trình này, người đệ tử trợ giúp cao niên cung cấp sự hỗ trợ và hướng dẫn rõ ràng.
103. We can gather that the stage of Little Chelaship has a close relation to the emotional plane, and certainly to the physical. The new chela in the Light is being helped to move from the emotional plane to the mental, but the transition will not be immediate.
103. Chúng ta có thể suy ra rằng giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử có mối quan hệ mật thiết với cõi cảm xúc, và chắc chắn cả với cõi hồng trần. Người mới trở thành đệ tử trong Ánh sáng đang được giúp đỡ để chuyển từ cõi cảm xúc sang cõi trí, nhưng sự chuyển tiếp ấy sẽ không diễn ra tức thì.
104. We remember that the “senior helping chela” (though still subject to glamor and illusion) is helping from egoic levels (whereon he has, presumably, developed the ability to assist). The senior helper may be known personally to the chela in the Light whom he is helping, but the help, in most instances, probably comes anonymously.
104. Chúng ta nhớ rằng “người đệ tử trợ giúp cao niên” (dù vẫn còn chịu ảnh hưởng của ảo cảm và ảo tưởng) đang trợ giúp từ các cấp độ chân ngã (nơi có lẽ người ấy đã phát triển khả năng trợ giúp). Người trợ giúp cao niên ấy có thể là người mà đệ tử trong Ánh sáng đang được trợ giúp quen biết trực tiếp, nhưng trong phần lớn trường hợp, sự trợ giúp có lẽ đến một cách ẩn danh.
105. In point one, the term “aspirant” is again used, suggesting that when thinking of those involved in the stage of Little Chelaship (the stage preceding Chela in the Light—when mental focus is enhanced) the term “aspirant” is an appropriate description of their nature. The term “aspirant” is also appropriate to chelas in the Light, but, increasingly as they progress, they are becoming disciples.
105. Ở điểm một, thuật ngữ “người chí nguyện” lại được sử dụng, gợi ý rằng khi nghĩ đến những người đang ở giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử (giai đoạn trước Đệ tử trong Ánh sáng—khi sự tập trung trí tuệ được tăng cường), thuật ngữ “người chí nguyện” là một cách mô tả thích hợp về bản chất của họ. Thuật ngữ “người chí nguyện” cũng thích hợp với các đệ tử trong Ánh sáng, nhưng càng tiến bộ, họ càng trở thành những đệ tử thực sự.
106. When I think of the best way to categorize those found in the earlier phases of the Six Stages of Discipleship (and though aware of the many exceptions to the rule), I would say that the term aspirant can reasonably and meaningfully be applied to the little chela, probationer or probationary disciple to the chela in the Light and disciple to the accepted disciple. There are all kinds of overlaps in this set up, and no hard or fast categorization is possible. DK purposefully ensures that we do not form rigid categorizations of mind, as they would lead to separatism and judgmentalism.
106. Khi nghĩ về cách tốt nhất để phân loại những người ở các giai đoạn đầu trong Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử (và dù biết rằng có nhiều ngoại lệ đối với quy luật này), tôi cho rằng thuật ngữ người chí nguyện có thể được áp dụng một cách hợp lý và có ý nghĩa cho tiểu đệ tử, người dự bị hoặc đệ tử dự bị cho đệ tử trong Ánh sáng, và đệ tử cho đệ tử được chấp nhận. Có đủ loại chồng lấn trong cách sắp xếp này, và không thể phân loại một cách cứng nhắc hay cố định. Chân sư DK chủ ý bảo đảm rằng chúng ta không hình thành những cách phân loại cứng nhắc trong thể trí, vì chúng sẽ dẫn đến chủ nghĩa chia rẽ và thái độ phán xét.
107. In any case, during the phase of Chela in the Light, there is a definite movement from preoccupation with the astral plane to a greater understanding of the astral plane through increased mental activity. This fits well with the idea that the Chela in the Light is moving through the Atlantean phase of discipleship and must learn to tackle and subdue glamor.
107. Dù sao đi nữa, trong giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng, có một sự chuyển dịch rõ rệt từ việc mải mê với cõi cảm dục sang sự thấu hiểu sâu hơn về cõi cảm dục nhờ hoạt động trí tuệ gia tăng. Điều này rất phù hợp với ý tưởng rằng Đệ tử trong Ánh sáng đang đi qua giai đoạn Atlantis của địa vị đệ tử và phải học cách đối phó và chế ngự ảo cảm.
2. The aspirant learns to distinguish, eventually infallibly, between the pairs of opposites.
2. Người chí nguyện học cách phân biệt giữa các cặp đối cực, để cuối cùng không còn sai lầm.
108. This task is part of the curriculum which prepares for the second initiation. We can understand how the energies of Libra and Gemini would be useful.
108. Nhiệm vụ này là một phần trong chương trình huấn luyện chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai. Chúng ta có thể thấu hiểu các năng lượng của Thiên Bình và Song Tử sẽ hữu ích như thế nào.
109. The suggestion is that the first attempts to distinguish between these pairs of opposites are not infallible. Only later is there certainty.
109. Điều được gợi ý là những nỗ lực đầu tiên nhằm phân biệt giữa các cặp đối cực này không tránh khỏi sai lầm. Chỉ về sau mới có sự chắc chắn.
110. The main pair of opposites which comes to the chela’s attention consists of soul and personality, of the solar and lunar lives. It takes a long time before the student of spirituality can readily distinguish between that which is of the soul and that which pertains to the more customary, personal self. It is amazing how many mistakes can be made.
110. Cặp đối cực chính thu hút sự chú ý của người đệ tử gồm linh hồn và phàm ngã, các sự sống thái dương và thái âm. Phải mất một thời gian dài, đạo sinh theo đuổi đời sống tinh thần mới có thể dễ dàng phân biệt giữa những gì thuộc về linh hồn và những gì thuộc về cái tôi cá nhân vốn quen thuộc hơn. Thật đáng kinh ngạc trước vô số sai lầm có thể mắc phải.
3. The aspirant becomes aware of glamour as something from which he must eventually free himself and aid in freeing the world.
3. Người chí nguyện nhận biết ảo cảm là điều mà cuối cùng y phải tự giải thoát khỏi đó và góp phần giải thoát thế giới khỏi đó.
111. The power of glamor persists because glamor remains undetected. Those subject to glamor think of it as reality, as the ‘way things really are’.
111. Quyền lực của ảo cảm vẫn tồn tại vì ảo cảm chưa bị phát hiện. Những người chịu ảnh hưởng của ảo cảm xem nó là thực tại, là ‘cách mọi sự thực sự đang là’.
112. It is only as the aspirant begins to suspect that there may be something amiss in relation to his habitual emotional (and thought-feeling) reactions, that some objectivity on the world of glamor can enter the consciousness.
112. Chỉ khi người chí nguyện bắt đầu nghi ngờ rằng có lẽ có điều gì đó không ổn trong những phản ứng cảm xúc (và tư tưởng–cảm xúc) quen thuộc của mình, thì một mức độ khách quan nào đó đối với thế giới ảo cảm mới có thể đi vào tâm thức.
113. It takes such a long time to realize that glamor even exists! Once it is detected and seen for what it is, something can be done about it.
113. Phải mất một thời gian rất dài mới nhận ra rằng ảo cảm quả có tồn tại! Một khi đã phát hiện và thấy đúng bản chất của nó, chúng ta có thể làm điều gì đó để xử lý nó.
114. The implication is also clear that unless the aspirant can free himself from glamor, he simply remains part of the problem and will be ineffective in helping with the deglamorization of the wider sphere (the greater consciousness of humanity).
114. Hàm ý cũng rõ ràng rằng trừ khi người chí nguyện có thể tự giải thoát khỏi ảo cảm, y vẫn chỉ là một phần của vấn đề và sẽ không thể trợ giúp hiệu quả trong việc loại trừ ảo cảm khỏi phạm vi rộng lớn hơn (tâm thức rộng lớn hơn của nhân loại).
These three stages have been dealt with in a Book of Rules for disciples on the probationary path. The rule can be roughly translated into modern English as follows:
Ba giai đoạn này đã được bàn đến trong một Sách Quy Luật dành cho các đệ tử trên con đường dự bị. Có thể dịch đại ý quy luật ấy sang tiếng Anh hiện đại như sau:
115. DK has at His access an amazing ‘library’. One day we shall know the origin of these books and manuals which He so often quotes.
115. Chân sư DK có thể tiếp cận một ‘thư viện’ đáng kinh ngạc. Một ngày kia, chúng ta sẽ biết nguồn gốc của những cuốn sách và cẩm nang mà Ngài thường xuyên trích dẫn.
116. We do see this—that the “way through” always exists, and that great souls have shared their experiences of the Path in written form for the guidance of those who would follow them. Bewildered man is never left entirely to his own devices; help is always near.
116. Chúng ta quả thực thấy điều này—rằng “con đường vượt qua” luôn tồn tại, và các linh hồn vĩ đại đã chia sẻ bằng văn bản những trải nghiệm của mình trên Đường Đạo để hướng dẫn những người sẽ theo sau. Con người hoang mang không bao giờ bị bỏ mặc hoàn toàn để tự xoay xở; sự trợ giúp luôn ở gần.
“The one upon the Way leaps forward, leaving the world of fluid life. He makes the great transition and leaves the watery way behind. He walks upon the water and is [723] not submerged therein. A chela with a light leads him by the hand from light into a greater Light.
“Người trên Đường Đạo nhảy vọt về phía trước, rời bỏ thế giới của sự sống lưu chất. Y thực hiện cuộc chuyển tiếp lớn lao và bỏ lại con đường nước phía sau. Y bước đi trên mặt nước và [723] không chìm trong đó. Một đệ tử mang ánh sáng nắm tay dẫn y từ ánh sáng vào một Ánh Sáng lớn lao hơn.
117. From what has been said above, we can see that this stanza from the Old Commentary is discussing the life of the Chela in the Light.
117. Từ những điều đã nói ở trên, chúng ta có thể thấy rằng bài kệ này trong Cổ Luận đang bàn về đời sống của Đệ tử trong Ánh sáng.
118. The “leap” made from the “world of fluid life” (the astral plane) is performed on the wings of aspiration. There is not yet enough mentality for a clear, cold decision.
118. “Bước nhảy” ra khỏi “thế giới của sự sống lưu chất” (cõi cảm dục) được thực hiện trên đôi cánh của khát vọng. Trí tuệ vẫn chưa đủ phát triển để đưa ra một quyết định sáng rõ, lạnh lùng.
119. That “leap” is here called the “great transition”. Perhaps we should pause to consider why a movement of consciousness from the astral to the mental plane should be called “the great transition”. It does represent movement from irrationality to rationality.
119. “Bước nhảy” ấy ở đây được gọi là “cuộc chuyển tiếp lớn lao”. Có lẽ chúng ta nên dừng lại để xem xét vì sao một sự chuyển dịch tâm thức từ cõi cảm dục sang cõi trí lại được gọi là “chính cuộc chuyển tiếp lớn lao”. Điều ấy quả thực biểu thị sự chuyển dịch từ phi lý trí sang lý trí.
120. Christ walked upon the water not just to demonstrate a miracle, but to empower His students to do likewise. He who can walk upon the water has placed the astral plane “under foot”. This is a symbol of mastery.
120. Đức Christ bước đi trên mặt nước không chỉ để biểu diễn một phép lạ, mà còn để trao năng lực cho các môn sinh của Ngài làm điều tương tự. Người có thể bước đi trên mặt nước đã đặt cõi cảm dục “dưới chân”. Đây là biểu tượng của sự làm chủ.
121. The “chela with a light” mentioned above is the senior guiding disciple. That “light” is the light of a greater understanding than will be possible for the one who has just entered the phase of Chela in the Light. The “greater Light” is, at this stage, the light of the soul, with which the guiding chela is very familiar, and the guided chela in the Light far less so.
121. Người “đệ tử mang ánh sáng” được nhắc đến ở trên là đệ tử cao niên đảm nhiệm việc hướng dẫn. Nguồn “ánh sáng” ấy là ánh sáng của một sự thấu hiểu lớn lao hơn mức mà người vừa bước vào giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng có thể đạt tới. Nguồn “Ánh sáng lớn lao hơn” ấy, ở giai đoạn này, là ánh sáng của linh hồn, vốn rất quen thuộc với đệ tử hướng dẫn, còn đệ tử trong Ánh sáng đang được hướng dẫn thì ít quen thuộc hơn nhiều.
122. The new chela in the Light does not yet see, and thus must be led by the hand. The guiding chela must utilize the sense of touch to guide the aspirant in his charge, for the sense of touch precedes the sense of sight. Simply to indicate the way visually is not enough.
122. Người đệ tử mới trong Ánh sáng chưa thấy, nên cần có người cầm tay dẫn dắt. Đệ tử hướng dẫn phải vận dụng xúc giác để hướng dẫn người chí nguyện mà mình phụ trách, vì xúc giác có trước thị giác. Chỉ chỉ đường bằng thị giác thì chưa đủ.
“This is a Transition upon the lesser way, preparing for a higher.
“Đây là một sự Chuyển tiếp trên con đường thấp hơn, chuẩn bị cho một con đường cao hơn.
123. The implication here is that one must leave the “watery way” behind if there is to be any hope of treading a higher way leading to the soul and its life upon the higher mental plane.
123. Hàm ý ở đây là người ta phải bỏ lại “con đường nước” phía sau nếu muốn có chút hy vọng bước trên một con đường cao hơn, dẫn đến linh hồn và đời sống của linh hồn trên Cõi thượng trí.
“The one upon the Way becomes aware of this and that. The poles appear. The two attract his daily life, first one and then the other; betwixt the two he moves. A transformation must be wrought; the two become as one. A step towards unity takes place. Between the two he forward steps. A chela in the Light throws light on either side and thus the little one can walk.
“Người trên Đường Đạo trở nên nhận biết điều này và điều kia. Các cực xuất hiện. Cả hai thu hút đời sống hằng ngày của y, trước là cực này rồi đến cực kia; y di chuyển giữa hai cực. Một sự chuyển đổi phải diễn ra; hai trở thành một. Một bước tiến tới hợp nhất được thực hiện. Y bước tới giữa hai cực. Một đệ tử trong Ánh sáng chiếu sáng cả hai bên, nhờ đó người nhỏ bé có thể bước đi.
124. Here we are discussing the second achievement of the chela in the Light—learning to distinguish between the pairs of opposites (“this and that”).
124. Ở đây chúng ta đang bàn về thành tựu thứ hai của đệ tử trong Ánh sáng—học cách phân biệt các cặp đối cực (“điều này và điều kia”).
125. The appearance of the “poles” means that the distinction between high and low, between good and evil, between light and dark, etc. , becomes meaningful.
125. Sự xuất hiện của các “cực” hàm ý rằng sự phân biệt giữa cao và thấp, giữa thiện và ác, giữa sáng và tối, v.v. , trở nên có ý nghĩa.
126. We can see that the aspirant or probationer is torn between the pairs of opposites—attracted now to one and, then, to the other. The life is unsettled. He is the “wretched aspirant” until a greater degree of mental balance supervenes.
126. Chúng ta có thể thấy rằng người chí nguyện hay người dự bị bị giằng xé giữa các cặp đối cực—lúc bị thu hút về cực này, rồi lại về cực kia. Đời sống bất ổn. Y là “người chí nguyện khốn khổ” cho đến khi đạt được mức độ quân bình trí tuệ cao hơn.
127. He must learn to walk between the pairs; he must recognize a middle way; he must recognize that which is neither of the pairs of opposites but includes them both.
127. Y phải học cách bước đi giữa các cặp đối cực; y phải nhận ra một con đường trung đạo; y phải nhận ra điều không thuộc về bên nào trong cặp đối cực nhưng bao gồm cả hai.
128. He no longer runs to extremes, and begins to understand that in the state of unity, the opposites meet.
128. Y không còn chạy theo những cực đoan, và bắt đầu thấu hiểu rằng trong trạng thái hợp nhất, các đối cực gặp nhau.
129. The guiding chela in the Light (one who has achieved what this second stage of discipleship is to reveal, and probably quite a bit more) illuminates the nature of the opposites, and the danger of choosing only one or the other. Thus, the guiding chela facilitates for the new chela in the Light the ability to step between the two.
129. Đệ tử hướng dẫn trong Ánh sáng (người đã đạt được điều mà giai đoạn thứ hai này của địa vị đệ tử sẽ mặc khải, và có lẽ còn nhiều hơn thế) soi sáng bản chất của các đối cực và mối nguy của việc chỉ chọn một bên này hay bên kia. Nhờ vậy, đệ tử hướng dẫn giúp người đệ tử mới trong Ánh sáng có khả năng bước đi giữa hai cực.
130. The new chela in the Light is a “little one”. Sometimes initiates of the first degree are called “Babes in Christ”. Those in the next degree are called “Little Children”. The term “little one”, as used here, seems to suggest a relationship to “Little Chelaship”. The one being guided is just emerging from that stage and is new to the stage of Chela in the Light.
130. Người đệ tử mới trong Ánh sáng là một “người nhỏ bé”. Đôi khi các điểm đạo đồ bậc một được gọi là “Những Trẻ Sơ Sinh trong Đức Christ”. Những người ở bậc kế tiếp được gọi là “Những Trẻ Nhỏ”. Thuật ngữ “người nhỏ bé”, như được dùng ở đây, dường như gợi ra một mối liên hệ với “Địa vị tiểu đệ tử”. Người đang được hướng dẫn chỉ vừa ra khỏi giai đoạn ấy và còn mới mẻ với giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng.
“This is a Transformation upon the dual way, leading into the Way.
“Đây là một sự Chuyển đổi trên con đường kép, dẫn vào Đường Đạo.
131. In the previous Old Commentary stanza, we had the term “Transition”, a term applying to the movement from the “watery way” to the higher life of the mind. “Transition” can be related to the term “Transmutation”, which usually precedes the stage “Transformation”.
131. Trong bài kệ Cổ Luận trước đó, chúng ta đã gặp thuật ngữ “Chuyển tiếp”, một thuật ngữ áp dụng cho sự chuyển dịch từ “con đường nước” đến đời sống cao hơn của thể trí. “Chuyển tiếp” có thể liên hệ với thuật ngữ “Chuyển hoá”, thường đi trước giai đoạn “Chuyển đổi”.
132. In the second stanza, we find the term “Transformation”, a term applying closely to the emotional sphere.
132. Trong bài kệ thứ hai, chúng ta thấy thuật ngữ “Chuyển đổi”, một thuật ngữ gắn chặt với lĩnh vực cảm xúc.
133. The struggle with the pairs of opposites is fought mostly upon the emotional plane (though of course the mind becomes strongly involved eventually). We remember that the stage of Chela in the Light is the Atlantean stage of discipleship. The Atlantean Civilization was, we are told, largely emotional.
133. Cuộc đấu tranh với các cặp đối cực diễn ra chủ yếu trên cõi cảm xúc (dù dĩ nhiên cuối cùng thể trí cũng tham gia mạnh mẽ). Chúng ta nhớ rằng giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng là giai đoạn Atlantis của địa vị đệ tử. Theo những gì chúng ta được biết, nền Văn Minh Atlantis phần lớn mang tính cảm xúc.
134. The struggle with the opposites cannot be resolved upon the plane of emotion. Some mental perspective must be added. One must rise above the battle ground.
134. Không thể giải quyết cuộc đấu tranh với các đối cực trên cõi cảm xúc. Cần bổ sung một góc nhìn trí tuệ nào đó. Người ta phải vươn lên trên chiến trường.
135. The two (the opposites) are resolved into one with the help of increasing mental poise. The “dual way” becomes the “Way” (on which the necessity for the opposites is understood, and on which these opposites are reconciled into a unity).
135. Hai cực (các đối cực) được dung giải thành một nhờ sự quân bình trí tuệ ngày càng tăng. Con “đường kép” trở thành “Đường Đạo” (trên đó người ta thấu hiểu sự cần thiết của các đối cực, và trên đó các đối cực này được dung hoà thành một sự hợp nhất).
136. In the stage of Chela in the Light, the probationary disciple learns the meaning of balance (Libra) and can tread the Way with less disturbance and distress. Steadiness and stability begin to characterize his tread.
136. Trong giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng, đệ tử dự bị học ý nghĩa của sự quân bình (Thiên Bình) và có thể bước trên Đường Đạo với ít xáo trộn và khổ não hơn. Bước chân của y bắt đầu mang tính vững vàng và ổn định.
“The one upon the Way gazes around and sees life as through a haze. The fogs and mists of glamour rest upon the valleys and the hills of life and these he must dispel. He must transmute them through the burning rays of radiant light. A chela in the light directs the burning, fiery light which dissipates the enervating fog.
“Người trên Đường Đạo nhìn quanh và thấy đời sống như qua một màn sương mờ. Những màn sương mù và sương khói của ảo cảm phủ lên các thung lũng và đồi cao của đời sống, và y phải xua tan chúng. Y phải chuyển hoá chúng bằng những tia sáng nóng bỏng của ánh sáng rạng ngời. Một đệ tử trong ánh sáng định hướng nguồn ánh sáng rực lửa, nóng bỏng, làm tiêu tan màn sương mù gây suy kiệt.
137. This is the third stanza of this selection from the Old Commentary. Now that the terrible fluctuations have subsided, the “one upon the Way” can begin to see. He sees that fogs and mists prevent his clear perception. Heretofore, he has not noticed the fogs and mists. Now he does.
137. Đây là bài kệ thứ ba trong phần tuyển trích này từ Cổ Luận. Giờ đây, khi những dao động khủng khiếp đã lắng xuống, “người trên Đường Đạo” có thể bắt đầu thấy. Y thấy rằng những màn sương mù và sương khói ngăn cản sự nhận thức sáng rõ của mình. Trước đây, y chưa nhận thấy những màn sương mù và sương khói ấy. Giờ đây y nhận thấy chúng.
138. The more experienced chela in the Light (the guiding disciple) directs the process by which the fogs and mists of glamor are burned away (i. e. , transmuted), just as earlier he (the supervising one) led the new (and quite blind) chela in the Light by the hand.
138. Đệ tử trong Ánh sáng có nhiều kinh nghiệm hơn (đệ tử hướng dẫn) chỉ đạo tiến trình thiêu tan những màn sương mù và sương khói của ảo cảm (nghĩa là chuyển hoá chúng), cũng như trước đó y (người giám sát) đã cầm tay dẫn dắt người đệ tử mới (và khá mù quáng) trong Ánh sáng.
139. We note in this stanza the use of the word “transmute”. Much psychological energy is tied up in these fogs and mists. It must be released for better use through the process of transmutation, which is, essentially, a process by means of which the quality of energy is unbound from previous patterns and elevated.
139. Chúng ta lưu ý việc sử dụng từ “chuyển hoá” trong bài kệ này. Nhiều năng lượng tâm lý bị giam giữ trong những màn sương mù và sương khói ấy. Năng lượng ấy phải được giải phóng để sử dụng tốt hơn thông qua tiến trình chuyển hoá, mà về bản chất là một tiến trình qua đó phẩm tính của năng lượng được giải thoát khỏi những mô hình trước đó và được nâng cao.
140. Perhaps, we are talking about a phase of psychological growth and, even, psychological therapy, undertaken for purposes of achieving greater psychological freedom and health. We are discussing a process of “clearing” leading to clearer and truer perception. Many of us are familiar with such processes, so popular during the past half century in psychological circles.
140. Có lẽ chúng ta đang nói về một giai đoạn phát triển tâm lý, và thậm chí cả trị liệu tâm lý, được thực hiện nhằm đạt tới sự tự do và sức khoẻ tâm lý lớn hơn. Chúng ta đang bàn về một tiến trình “dọn sạch” dẫn đến sự nhận thức sáng rõ và chân thực hơn. Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với những tiến trình như thế, vốn rất phổ biến trong giới tâm lý học suốt nửa thế kỷ qua.
141. We are learning that that a chela in the Light must learn to see the Light. The process of dissipating glamor is necessary if this is to occur.
141. Chúng ta đang biết được rằng một đệ tử trong Ánh sáng phải học cách thấy Ánh sáng. Để điều này xảy ra, tiến trình làm tiêu tan ảo cảm là cần thiết.
142. We note, as well, that the “fog” of glamor is an “enervating fog”. This is an important concept. What is said is that glamor robs us of energy. Glamor is vampiristic, draining off energy which should be used for good purposes. Glamor is devitalizing. With this fact we probably have some experience.
142. Chúng ta cũng lưu ý rằng “sương mù” của ảo cảm là một “màn sương mù gây suy kiệt”. Đây là một khái niệm quan trọng. Điều được nói ở đây là ảo cảm cướp đi năng lượng của chúng ta. Ảo cảm mang tính hút sinh lực, rút cạn năng lượng lẽ ra phải được dùng vào những mục đích tốt đẹp. Ảo cảm làm suy giảm sinh lực. Có lẽ chúng ta đã ít nhiều trải nghiệm thực tế này.
“This is the Transmutation. These fires release the hidden light and blend it with the greater. ”
“Đây là sự Chuyển hoá. Những ngọn lửa này giải phóng ánh sáng ẩn giấu và hoà nó với ánh sáng lớn lao hơn. ”
143. The term “Transmutation” sums up this third phase described in the Old Commentary. Usually the sequence is Transmutation-Transformation-Transfiguration. Here, Transformation precedes Transmutation.
143. Thuật ngữ “Chuyển hoá” tóm lược giai đoạn thứ ba này được mô tả trong Cổ Luận. Thông thường, trình tự là Chuyển hoá-Chuyển đổi-Biến hình. Ở đây, Chuyển đổi đi trước Chuyển hoá.
144. We learn that glamor has captured the light. It is hidden and rendered ineffective.
144. Chúng ta biết được rằng ảo cảm đã giam giữ ánh sáng. Ánh sáng ấy bị che giấu và trở nên vô hiệu.
145. The transmuting fires “release the hidden light”, and this release empowers the probationary disciple. That light, once released, finds its source—the “Light of the Soul”.
145. Những ngọn lửa chuyển hoá “giải phóng ánh sáng ẩn giấu”, và sự giải phóng này tăng thêm sức mạnh cho đệ tử dự bị. Một khi được giải phóng, ánh sáng ấy tìm thấy cội nguồn của mình—“Ánh sáng của Linh hồn”.
146. The chela in the Light finds the greater Light of the Soul and his life is increasingly illumined by that Light.
146. Đệ tử trong Ánh sáng tìm thấy Ánh sáng lớn lao hơn của Linh hồn, và Ánh sáng ấy ngày càng soi sáng đời sống của y.
147. He is revealed to himself, and, as well, an increasing measure of the Divine Plan is revealed.
147. Y được mặc khải cho chính mình, đồng thời Thiên Cơ cũng được mặc khải ngày càng nhiều hơn.
It is, therefore, under the guidance of a chela who is far more advanced than the chela in the Light (though not yet adept) that the first lessons in these three processes are learned. Whilst this is going on, the aspirant remains unaware of the Master’s interest in him. The Master is receiving regular reports (based on certain charts) from the senior disciple who has the neophyte in charge. It is in this way that many hierarchical relationships are established. When they are once established—through work in the Ashram of a Master and not focussed upon the physical plane—they are persistent and constitute one of the factors which produce:
Do đó, chính dưới sự hướng dẫn của một đệ tử tiến xa hơn nhiều so với đệ tử trong Ánh sáng (dù chưa phải là chân sư) mà người ta học được những bài học đầu tiên về ba tiến trình này. Trong khi điều này diễn ra, người chí nguyện vẫn không biết rằng Chân sư quan tâm đến mình. Chân sư đều đặn nhận được các báo cáo (dựa trên một số biểu đồ) từ đệ tử cao niên đang phụ trách người sơ cơ. Chính bằng cách này mà nhiều mối quan hệ trong Thánh đoàn được thiết lập. Một khi được thiết lập—thông qua công việc trong Ashram của một Chân sư và không tập trung trên cõi hồng trần—những mối quan hệ ấy sẽ bền vững và tạo thành một trong những yếu tố làm nên:
148. We are speaking of three processes prominent in the life of a chela in the Light:
148. Chúng ta đang nói về ba tiến trình nổi bật trong đời sống của một đệ tử trong Ánh sáng:
1. Moving from the astral plane to the mental
1. Chuyển từ cõi cảm dục lên cõi trí
2. Recognizing and understanding the pairs of opposites
2. Nhận biết và thấu hiểu các cặp đối cực
3. Recognizing and dealing with glamor
3. Nhận biết và xử lý ảo cảm
149. Only the “first lessons” in relation to these three processes are learned under the guidance of the guiding chela. There are apparently many other and higher lessons which must be mastered later.
149. Chỉ có “những bài học đầu tiên” liên quan đến ba tiến trình này là được học dưới sự chỉ dẫn của đệ tử hướng dẫn. Hiển nhiên còn nhiều bài học khác cao hơn mà người ta phải nắm vững về sau.
150. We notice an apparent discrepancy. How advanced is the lighted chela who guides the chela in the Light? Earlier, the text said that such a guiding chela was still subject to glamor, but more advanced than the chela to be guided. Here, however, the text tells us that the guiding chela is “far more advanced that the chela in the Light”.
150. Chúng ta nhận thấy một điểm dường như không nhất quán. Người đệ tử được soi sáng đảm nhiệm việc hướng dẫn đệ tử trong Ánh sáng đã tiến xa đến mức nào? Trước đó, văn bản nói rằng một đệ tử hướng dẫn như thế vẫn còn chịu tác động của ảo cảm, nhưng đã tiến xa hơn đệ tử cần được hướng dẫn. Tuy nhiên, ở đây văn bản cho chúng ta biết rằng đệ tử hướng dẫn “tiến xa hơn nhiều so với đệ tử trong Ánh sáng”.
Compare what is said in the Tibetan’s paragraph immediately above with:
Hãy so sánh những điều được nói trong đoạn văn ngay trên của Chân sư Tây Tạng với:
“The chela is, therefore, at this stage guarded and guided by someone who is still subject to glamour, but is, at the same time, aware of the ephemeral nature of the astral plane. ” (DINA I 719)
“Do đó, ở giai đoạn này, đệ tử được một người vẫn còn chịu tác động của ảo cảm bảo vệ và hướng dẫn, nhưng đồng thời người ấy nhận biết bản chất phù du của cõi cảm dục. ” (DINA I 719)
This does not sound like a chela who is “far more advanced than the chela in the Light”.
Điều này nghe không giống một đệ tử “tiến xa hơn nhiều so với đệ tử trong Ánh sáng”.
151. Probably, for every chela in the Light, there are a number of guiding chelas with different spheres of responsibility. The chela guiding from egoic levels is probably the most advanced, and in fact, would be, it seems, “far more advanced”. Regardless of how many other guides there may be, the chela guiding from egoic levels is the principal guide.
151. Có lẽ, với mỗi đệ tử trong Ánh sáng, có một số đệ tử hướng dẫn với những phạm vi trách nhiệm khác nhau. Có lẽ đệ tử hướng dẫn từ các cấp độ chân ngã là người tiến xa nhất, và trên thực tế, dường như sẽ là người “tiến xa hơn nhiều”. Bất kể có bao nhiêu người hướng dẫn khác, đệ tử hướng dẫn từ các cấp độ chân ngã vẫn là người hướng dẫn chính.
152. An “Adept” is an initiate of the fifth degree; sometimes the term may apply to initiates of the fourth degree. The suggestion here is that the chela in the Light may be guided by an initiate who is not yet “adept”—i. e. , who is not yet a fourth degree initiate and certainly not a Master. The guiding chela, therefore, could be an initiate of the third degree, who would certainly be familiar with the Light, and would be capable of work from egoic levels, and capable, as well, of reporting to the Master on the process of the chela under supervision.
152. Một “chân sư” là một điểm đạo đồ bậc năm; đôi khi thuật ngữ này có thể áp dụng cho các điểm đạo đồ bậc bốn. Hàm ý ở đây là đệ tử trong Ánh sáng có thể được một điểm đạo đồ chưa phải là “chân sư” hướng dẫn—nghĩa là người ấy chưa phải là điểm đạo đồ bậc bốn và chắc chắn chưa phải là một Chân sư. Do đó, đệ tử hướng dẫn có thể là một điểm đạo đồ bậc ba, người chắc chắn quen thuộc với Ánh sáng, có khả năng làm việc từ các cấp độ chân ngã, đồng thời có khả năng báo cáo với Chân sư về tiến trình của đệ tử đang được giám sát.
153. The Master is interested in the one who has reached the stage of Chela in the Light, but the chela in the Light does not realize this. A senior disciple reports to the Master concerning the process of the chela who has entered this stage. This suggests that the reporting chela must be reasonably advanced and have access to the Master in order to make such reports. This would suggest that the true inner guiding chela of a chela in the Light is at least a “Chela within the Aura” (one who has the right to set up an interview with the Master).
153. Chân sư quan tâm đến người đã đạt tới giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng, nhưng đệ tử trong Ánh sáng không nhận ra điều này. Một đệ tử cao niên báo cáo với Chân sư về tiến trình của đệ tử đã bước vào giai đoạn này. Điều này gợi ý rằng đệ tử báo cáo phải tiến xa ở mức đáng kể và có khả năng tiếp cận Chân sư để thực hiện những báo cáo như thế. Điều này gợi ý rằng người đệ tử hướng dẫn thực sự ở bên trong của một đệ tử trong Ánh sáng ít nhất phải là một “Đệ tử trong hào quang” (người có quyền thu xếp một cuộc diện kiến với Chân sư).
154. We note that the chela in the Light in relation to whom reports are being made is considered a “neophyte”. Could a little chela be considered a neophyte? Probably there is not enough serious work and application to warrant the application of this term.
154. Chúng ta lưu ý rằng đệ tử trong Ánh sáng mà các báo cáo đang đề cập được xem là một “người sơ cơ”. Một tiểu đệ tử có thể được xem là người sơ cơ không? Có lẽ chưa có đủ sự nỗ lực và vận dụng nghiêm túc để có cơ sở áp dụng thuật ngữ này.
155. DK is speaking of the establishment of inner relationship—established within the Ashram and not upon the physical plane. A chela in the Light may be associated with a guiding disciple or disciples upon the outer plane, but the inner guiding disciple, it seems, may not be known or recognized by the chela in the Light under his guidance. That guiding disciple may not even be in incarnation—so it would seem.
155. Chân sư DK đang nói về việc thiết lập mối quan hệ bên trong—được thiết lập trong Ashram chứ không phải trên cõi hồng trần. Một đệ tử trong Ánh sáng có thể có liên hệ với một hay nhiều đệ tử hướng dẫn trên cõi bên ngoài, nhưng dường như đệ tử trong Ánh sáng có thể không biết hoặc không nhận ra người đệ tử hướng dẫn bên trong đang dẫn dắt mình. Người đệ tử hướng dẫn ấy thậm chí có thể không đang lâm phàm—dường như là như vậy.
156. Important hierarchical relationships are formed by means of this process of supervision. Probably many of us have been under supervision. Do we know our supervisors? Whether or not we do at this time, we will later.
156. Những mối quan hệ quan trọng trong Thánh đoàn hình thành thông qua tiến trình giám sát này. Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã được giám sát. Chúng ta có biết những người giám sát mình không? Dù hiện nay có biết hay không, về sau chúng ta sẽ biết.
1. Hierarchical integrity.
1. Tính toàn vẹn của Thánh đoàn.
2. Eventual close relationship between humanity and the Hierarchy.
2. Mối quan hệ mật thiết sau cùng giữa nhân loại và Thánh đoàn.
157. Integrous relationships between members of the Ashram and those who are closer to humanity are formed through these supervisory relationships. Thus, the integrity of the whole is strengthened. Firm bonds unite the outer chela to the inner chela and thus to the Ashram.
157. Những mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên của Ashram và những người gần gũi với nhân loại hơn hình thành thông qua các mối quan hệ giám sát này. Nhờ vậy, tính toàn vẹn của toàn thể được củng cố. Những mối dây vững chắc nối kết đệ tử bên ngoài với đệ tử bên trong, và qua đó với Ashram.
158. What occurs in relation to an Ashram will one day occur on a much larger scale, and thus there will come to exist a firmly integrated stated between Hierarchy and humanity (under the supervision of Hierarchy).
158. Điều diễn ra trong mối liên hệ với một Ashram một ngày kia sẽ diễn ra trên quy mô lớn hơn nhiều, và nhờ đó sẽ xuất hiện một trạng thái tích hợp vững chắc giữa Thánh đoàn và nhân loại (dưới sự giám sát của Thánh đoàn).
At this time, there is a great increase in the number of people who are being thus related and the senior disciples of all the Masters Who take chelas are exceedingly busy with the training [724] of aspirants, as well as with the work entailed by the gravity of the world crisis. The aspirants thus trained are in reality the nucleus of the future world servers, and are consequently of real importance. The task of those thus engaged falls into three categories; as the senior disciples and initiates are thus occupied, they are themselves learning much. These three categories of work are:
Hiện nay, số người được liên kết theo cách này đang tăng mạnh, và các đệ tử cao niên của tất cả các Chân sư có nhận đệ tử đều vô cùng bận rộn với việc huấn luyện [724] những người chí nguyện, cũng như với công việc mà tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng thế giới đòi hỏi. Những người chí nguyện được huấn luyện như thế thực sự là hạt nhân của những Người Phụng Sự Thế Gian trong tương lai, và do đó thực sự có tầm quan trọng. Nhiệm vụ của những người đảm nhận công việc như thế chia thành ba loại; trong khi bận rộn với những công việc ấy, chính các đệ tử cao niên và điểm đạo đồ cũng đang học hỏi nhiều điều. Ba loại công việc này là:
159. So, junior disciples are being related to senior disciples in large numbers; the relating is partially subtle but also is occurring upon the physical plane noticeably.
159. Như vậy, một số lượng lớn đệ tử sơ cấp đang được kết nối với các đệ tử cao niên; sự kết nối này một phần diễn ra ở cấp độ vi tế, nhưng cũng đang diễn ra rõ rệt trên cõi hồng trần.
160. We should note that not all Masters take chelas; however, the senior disciples of those who do take chelas are extremely busy training aspirants, thus lightening the load of their Masters.
160. Chúng ta nên lưu ý rằng không phải tất cả các Chân sư đều nhận đệ tử; tuy nhiên, các đệ tử cao niên của những Chân sư có nhận đệ tử đang vô cùng bận rộn huấn luyện những người chí nguyện, qua đó làm nhẹ gánh nặng cho các Chân sư của mình.
161. The world crisis of which the Tibetan speaks is far from over; the world situation at this time (2004) is grave indeed, and the senior disciples of the Masters are burdened in meeting human need—though their burden is small compared to that of the Masters.
161. Cuộc khủng hoảng thế giới mà Chân sư Tây Tạng nói tới còn lâu mới kết thúc; tình hình thế giới vào thời điểm này (2004) quả thực nghiêm trọng, và các đệ tử cao niên của các Chân sư đang mang gánh nặng đáp ứng nhu cầu của nhân loại—dù gánh nặng của họ nhỏ bé so với gánh nặng của các Chân sư.
162. Let us pause to realize that the training of aspirants is an important matter; the ranks of the world servers must be dramatically increased, and by means of trained aspirants, the ranks swell.
162. Chúng ta hãy dừng lại để nhận ra rằng việc huấn luyện những người chí nguyện là một việc quan trọng; hàng ngũ những Người Phụng Sự Thế Gian phải gia tăng mạnh mẽ, và nhờ những người chí nguyện đã qua huấn luyện, hàng ngũ ấy sẽ lớn mạnh.
163. The training falls to the hands of senior disciples and initiates. A disciple who has passed the second degree but has not yet achieved the third is considered a “senior disciple”. The term “initiate” applies most often to those who have passed the third degree.
163. Việc huấn luyện thuộc trách nhiệm của các đệ tử cao niên và điểm đạo đồ. Một đệ tử đã vượt qua bậc hai nhưng chưa đạt tới bậc ba được xem là một “đệ tử cao niên”. Thuật ngữ “điểm đạo đồ” thường được áp dụng nhất cho những người đã vượt qua bậc ba.
164. Three categories of work are now described. These are types of work which the guiding disciple (who facilitates the world of the chela in the Light) must undertake.
164. Giờ đây ba loại công việc được mô tả. Đây là những loại công việc mà đệ tử hướng dẫn (người tạo thuận lợi cho thế giới của đệ tử trong Ánh sáng) phải đảm nhận.
1. The establishing of magnetic influence.
1. Thiết lập ảnh hưởng từ tính.
2. The setting-up of telepathic rapport.
2. Thiết lập sự giao cảm viễn cảm.
3. The making of basic karmic readjustments.
3. Thực hiện những tái điều chỉnh nghiệp quả căn bản.
165. With these three categories of work, three rays are suggested. The establishing of magnetic influence is related to the second ray. The setting-up of telepathic rapport, to the first. The making of basic karmic readjustments to the third.
165. Ba loại công việc này gợi đến ba cung. Việc thiết lập ảnh hưởng từ tính liên quan đến cung hai. Việc thiết lập sự giao cảm viễn cảm liên quan đến cung một. Việc thực hiện những tái điều chỉnh nghiệp quả căn bản liên quan đến cung ba.
166. We should remember that the guiding disciple works in large measure from egoic levels and thus the qualities of the three subplanes of the higher mental plane and the three siddhis associated with those subplanes will be of importance.
166. Chúng ta nên nhớ rằng đệ tử hướng dẫn làm việc phần lớn từ các cấp độ chân ngã, vì vậy phẩm tính của ba cõi phụ thuộc Cõi thượng trí và ba quyền năng gắn với các cõi phụ ấy sẽ có tầm quan trọng.
167. Interestingly, those disciples who found their way into the Tibetans Group of Telepathic Servers (Group IX. 1) generally had much of the first ray in their equipment. The siddhi found upon the first subplane of the higher mental plane is called “spiritual telepathy”.
167. Điều thú vị là những đệ tử đã tìm được đường gia nhập Nhóm Những Người Phụng Sự Viễn Cảm của Chân sư Tây Tạng (Nhóm IX. 1) thường có nhiều yếu tố cung một trong hệ thống các thể của mình. Quyền năng trên cõi phụ thứ nhất của cõi thượng trí được gọi là “viễn cảm tinh thần”.
168. Magnetism is the quality demonstrated on the second subplane of the higher mental plane, and the siddhi there found is “response to group vibration”, which, of course, can only occur within the magnetism of the soul.
168. Từ điện là phẩm tính biểu lộ trên cõi phụ thứ hai của cõi thượng trí, và quyền năng hiện diện ở đó là “đáp ứng với rung động nhóm”, điều này dĩ nhiên chỉ có thể diễn ra trong từ điện của linh hồn.
169. Following this design, we would correlate “spiritual discernment”, the third siddhi demonstrated on the higher mental plane (and related to the third ray and the third subplane) with karma and karmic readjustments—remembering that the web of karma has everything to do with the third ray, and especially with the sign Libra, transmitting the third ray.
169. Theo mô hình này, chúng ta sẽ liên hệ “phân biện tinh thần”, quyền năng thứ ba biểu lộ trên cõi thượng trí (và liên quan đến cung ba cùng cõi phụ thứ ba), với nghiệp quả và những sự tái điều chỉnh nghiệp quả—đồng thời nhớ rằng mạng lưới nghiệp quả có liên hệ mật thiết với cung ba, đặc biệt là với dấu hiệu Thiên Bình, vốn truyền dẫn cung ba.
The first task which confronts disciples is to arrive at an understanding of the nature of the aspirants for whom they have made themselves responsible and also to establish a zone or path of influence, so that they can be definitely useful and able to communicate with the aspirant. It might be pointed out that, in the past, such relationships were between soul and soul, and consequently required a long period of “bringing through” to adequate recognition in the mind and brain of the aspirant. Today, this method still persists in the majority of cases but many of these helping disciples are experimenting (under direction of their Master) in working directly with the aspirant upon the physical plane, thus involving personality as well as soul relation. This constitutes a far more difficult relationship but is a part of the new process of externalising the hierarchical effort of which all outer Ashrams (which are now slowly forming) are a part. By means of this, the chela in the Light is trained to recognise members of the Hierarchy by first becoming aware of disciples more advanced than himself and by learning to give due weight to their words and suggestions. You can see, therefore, how a great effort is being made to bring the two centres—Humanity and the Hierarchy—into a much closer rapport and relationship, both objectively and subjectively.
Nhiệm vụ đầu tiên mà các đệ tử phải đối diện là đạt đến sự thấu hiểu bản chất của những người chí nguyện mà họ đã nhận trách nhiệm dìu dắt, đồng thời thiết lập một vùng hoặc con đường ảnh hưởng, để họ có thể thực sự giúp ích và giao tiếp với người chí nguyện. Có thể chỉ ra rằng, trong quá khứ, những mối quan hệ như vậy là giữa linh hồn với linh hồn, và do đó cần một thời gian dài để “truyền xuống” cho đến khi thể trí và bộ não của người chí nguyện nhận biết đầy đủ. Ngày nay, phương pháp này vẫn tồn tại trong đa số trường hợp, nhưng nhiều đệ tử đang trợ giúp như vậy đang thử nghiệm (dưới sự chỉ đạo của Chân sư mình) làm việc trực tiếp với người chí nguyện trên cõi hồng trần, qua đó bao gồm cả mối quan hệ phàm ngã lẫn linh hồn. Điều này tạo nên một mối quan hệ khó khăn hơn nhiều, nhưng là một phần của tiến trình mới nhằm ngoại hiện nỗ lực của Thánh đoàn; mọi ashram bên ngoài (hiện đang dần hình thành) đều là một phần của tiến trình ấy. Nhờ đó, đệ tử trong Ánh sáng được huấn luyện để nhận biết các thành viên của Thánh đoàn, trước hết bằng cách nhận biết những đệ tử tiến xa hơn mình và học cách coi trọng đúng mức những lời nói cùng gợi ý của họ. Do đó, các bạn có thể thấy một nỗ lực lớn lao đang được thực hiện để đưa hai trung tâm—Nhân loại và Thánh đoàn—vào sự giao cảm và mối quan hệ gần gũi hơn nhiều, cả về mặt khách quan lẫn chủ quan.
170. Whether we are discussing the task set before an advanced disciple on the inner planes (as he supervises a lesser aspirant/disciple from egoic levels) or, perhaps, the task before a more advanced disciple on the outer plane as he seeks to help his junior brother (also on the outer plane). No outer disciple can be the kind of guide necessitated by the chela in the Light unless that outer disciple also has inner facility upon egoic levels and can report, at will, to the Master.
170. Dù chúng ta đang bàn về nhiệm vụ đặt ra trước một đệ tử tiến hóa cao trên các cõi bên trong (khi y giám sát một người chí nguyện/đệ tử ít tiến hóa hơn từ các cấp độ chân ngã), hay có lẽ là nhiệm vụ đặt ra trước một đệ tử tiến xa hơn trên cõi bên ngoài khi y tìm cách giúp đỡ người huynh đệ đi sau mình (cũng ở trên cõi bên ngoài). Không đệ tử nào ở bên ngoài có thể trở thành người hướng dẫn mà đệ tử trong Ánh sáng cần đến, trừ khi người đệ tử bên ngoài ấy cũng có khả năng hoạt động bên trong trên các cấp độ chân ngã và có thể trình báo với Chân sư theo ý muốn.
171. The advice offered in this section is sound.
171. Lời khuyên đưa ra trong phần này là xác đáng.
172. The very first requirement is to understand the nature of the aspirants one seeks to assist. The tools of astrology and rayology are very useful for this purpose, but nothing can replace a keen intuition which reveals the inner nature of another individual—whether as soul or personality.
172. Yêu cầu đầu tiên chính là thấu hiểu bản chất của những người chí nguyện mà mình tìm cách trợ giúp. Các công cụ của chiêm tinh học và cung học rất hữu ích cho mục đích này, nhưng không gì có thể thay thế một trực giác nhạy bén, vốn mặc khải bản chất bên trong của một cá nhân khác—dù với tư cách linh hồn hay phàm ngã.
173. It is interesting to consider the “zone or path of influence” by which the higher disciple can reach the chela in the Light who is under his supervision. This can be done occultly through the power of thought and imagination, or it may be a more external matter, if also occurring on the physical plane. The kind of zone or path here discussed seems to be an interior matter.
173. Thật thú vị khi xem xét “vùng hoặc con đường ảnh hưởng” mà qua đó đệ tử cao cấp hơn có thể tiếp cận đệ tử trong Ánh sáng đang được mình giám sát. Điều này có thể được thực hiện một cách huyền bí nhờ quyền năng của tư tưởng và sự tưởng tượng, hoặc có thể mang tính bên ngoài hơn nếu cũng diễn ra trên cõi hồng trần. Loại vùng hoặc con đường đang được bàn đến ở đây dường như là một vấn đề thuộc nội giới.
174. It is important to understand the procedure used in the past as a guiding interior disciple attempted to influence a chela in the Light; the method was a strictly subjective one—a communication from soul to soul. One can understand that the chela in the Light receiving ‘soul guidance’ would often be unaware of this method and its results—far more unaware, generally, than a little chela would be of his guiding disciple on the physical plane.
174. Cần thấu hiểu cách thức đã được sử dụng trong quá khứ khi một đệ tử hướng dẫn ở nội giới cố gắng tạo ảnh hưởng lên một đệ tử trong Ánh sáng; phương pháp ấy hoàn toàn mang tính chủ quan—một sự giao tiếp từ linh hồn đến linh hồn. Có thể hiểu rằng đệ tử trong Ánh sáng đang tiếp nhận ‘sự hướng dẫn của linh hồn’ thường không nhận biết phương pháp này cùng các kết quả của nó—nhìn chung, kém nhận biết hơn nhiều so với một tiểu đệ tử đối với người đệ tử hướng dẫn mình trên cõi hồng trần.
175. DK stresses that this former method of communication was not rapid, requiring much time to “bring through” impression because of the condition of the mind and brain of the guided aspirant. (Again, note that the chela in the Light is called an “aspirant”).
175. Chân sư DK nhấn mạnh rằng phương pháp giao tiếp trước kia này không nhanh chóng, mà đòi hỏi nhiều thời gian để “truyền xuống” ấn tượng, do tình trạng thể trí và bộ não của người chí nguyện được hướng dẫn. (Một lần nữa, hãy lưu ý rằng đệ tử trong Ánh sáng được gọi là một “người chí nguyện”).
176. The Master, it appears, is the supervisor of this process between guiding chela and the guided chela in the Light. The soul-to-soul method is still used, but new methods are under way as part of the process of externalizing the Hierarchy. These methods involve working directly with the personality of the aspirant, from inner levels. The methods are part of externalizing the inner Ashrams through the formation of outer groups which represent the Ashrams. We can understand that Master DK worked in this way, influencing the personalities of quite a number of chelas, some of whom were initially chelas in the Light, but later became accepted disciples.
176. Dường như Chân sư là Đấng giám sát tiến trình này giữa đệ tử hướng dẫn và đệ tử trong Ánh sáng được hướng dẫn. Phương pháp linh hồn với linh hồn vẫn được sử dụng, nhưng những phương pháp mới đang được triển khai như một phần của tiến trình ngoại hiện Thánh đoàn. Những phương pháp này bao gồm việc làm việc trực tiếp với phàm ngã của người chí nguyện từ các cấp độ bên trong. Các phương pháp ấy là một phần của việc ngoại hiện các ashram bên trong thông qua sự hình thành những nhóm bên ngoài đại diện cho các ashram. Chúng ta có thể hiểu rằng Chân sư DK đã làm việc theo cách này, tạo ảnh hưởng lên phàm ngã của khá nhiều đệ tử; một số ban đầu là đệ tử trong Ánh sáng, nhưng về sau trở thành đệ tử được chấp nhận.
177. Master DK tells us that it is a far more difficult task to work in this way (from inner to outer, rather than from inner to inner); the personality has its inertia, its resistances, its opacity.
177. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng làm việc theo cách này (từ bên trong ra bên ngoài, thay vì từ bên trong đến bên trong) là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều; phàm ngã có tính trì trệ, những sự kháng cự và tính thiếu trong suốt của nó.
178. When an advanced disciple is able to “get through” to an aspirant in the stage of chela in the Light, it makes it possible for that chela to begin to recognize members of the Hierarchy, by first recognizing the guiding disciple (inwardly or outwardly where applicable). One recognition leads to another.
178. Khi một đệ tử tiến hóa cao có thể “truyền đạt tới” một người chí nguyện ở giai đoạn đệ tử trong Ánh sáng, điều đó giúp người đệ tử ấy bắt đầu nhận biết các thành viên của Thánh đoàn, trước hết bằng cách nhận biết người đệ tử hướng dẫn (ở bên trong hoặc bên ngoài, tùy trường hợp). Sự nhận biết này dẫn đến sự nhận biết khác.
179. In all of this discussion, Master DK is not telling us whether such guiding disciples work only from interior levels or whether they may work upon both levels simultaneously.
179. Trong toàn bộ phần bàn luận này, Chân sư DK không cho chúng ta biết liệu những đệ tử hướng dẫn như vậy chỉ làm việc từ các cấp độ bên trong, hay họ có thể làm việc đồng thời trên cả hai cấp độ.
180. We have been informed of one of the principal methods by which the Hierarchy is seeking to move closer to humanity. Their first efforts are with responsive aspirants and disciples.
180. Chúng ta đã được biết về một trong những phương pháp chủ yếu mà Thánh đoàn đang sử dụng để tiến đến gần nhân loại hơn. Những nỗ lực đầu tiên của Các Ngài hướng đến những người chí nguyện và đệ tử có khả năng đáp ứng.
181. The point to be grasped is that this attempted union is proceeding both subjectively and objectively, and in the case of some aspirants and disciples through both methods simultaneously. The methods used are to be understood as part of the process of the Externalization of the Hierarchy.
181. Điểm cần nắm bắt là nỗ lực hợp nhất này đang diễn ra trên cả hai phương diện chủ quan và khách quan, và trong trường hợp một số người chí nguyện cùng đệ tử, thông qua cả hai phương pháp đồng thời. Cần hiểu rằng những phương pháp được sử dụng là một phần của tiến trình Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.
All who have, in this life, transitted from the stage of chela in the Light to that of accepted disciple have established two recognitions:
Tất cả những ai, trong kiếp sống này, đã chuyển từ giai đoạn đệ tử trong Ánh sáng sang giai đoạn đệ tử được chấp nhận đều đã xác lập hai sự nhận biết:
182. DK discusses now the transit or transition from the stage of chela in the Light to accepted disciple.
182. Giờ đây, Chân sư DK bàn về sự chuyển dịch hay chuyển tiếp từ giai đoạn đệ tử trong Ánh sáng sang đệ tử được chấp nhận.
183. He points out two established recognitions which can be considered identifying characteristics of those who have made the transition.
183. Ngài chỉ ra hai sự nhận biết đã được xác lập, có thể xem là những đặc điểm nhận diện của những người đã thực hiện sự chuyển tiếp ấy.
1. A recognition of the senior disciple whom they have discovered “in the Light. ”
1. Sự nhận biết người đệ tử cao niên mà họ đã khám phá “trong Ánh sáng. ”
184. This means that, as one becomes an accepted disciple, there will be a recognition of the senior guiding disciple who has been discovered “in the Light”.
184. Điều này có nghĩa là khi trở thành một đệ tử được chấp nhận, người ta sẽ nhận biết người đệ tử hướng dẫn cao niên đã được khám phá “trong Ánh sáng”.
185. For those who may wonder whether they have become accepted disciples, this might be considered one of the criteria, though there are other criteria even more important.
185. Đối với những ai có thể đang tự hỏi liệu mình đã trở thành đệ tử được chấp nhận hay chưa, có thể xem đây là một trong những tiêu chí, dù còn có những tiêu chí khác quan trọng hơn.
[725]
[725]
2. A recognition of the Master. This whole question of recognising the Master will be dealt with by me later.
2. Sự nhận biết Chân sư. Tôi sẽ bàn đến toàn bộ vấn đề nhận biết Chân sư này về sau.
186. Recognition of the senior guiding disciple (whether subjective or both subjective and objective), should lead to recognition of the Master Whom that guiding disciple represents.
186. Việc nhận biết người đệ tử hướng dẫn cao niên (dù mang tính chủ quan hay cả chủ quan lẫn khách quan) sẽ dẫn đến sự nhận biết Chân sư mà người đệ tử hướng dẫn ấy đại diện.
187. There are many people who, while studying various kinds of hierarchical teachings, may not really know who is their Master.
187. Có nhiều người, trong khi nghiên cứu nhiều loại giáo huấn khác nhau của Thánh đoàn, có thể vẫn chưa thực sự biết ai là Chân sư của mình.
188. How will this recognition come? Probably it is a matter of ‘vibrational certitude’. Such recognition would, therefore, not be easy to discuss in objective terms.
188. Sự nhận biết này sẽ đến như thế nào? Có lẽ đó là vấn đề ‘xác tín về rung động’. Do đó, sự nhận biết như vậy sẽ không dễ bàn luận bằng những cách diễn đạt khách quan.
189. We may question ourselves in this regard: are either one of these recognitions ours? And if we think so, why do we think so?
189. Về điều này, chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta đã có một trong hai sự nhận biết ấy chưa? Và nếu nghĩ là có, tại sao chúng ta nghĩ như vậy?
190. These two recognitions may come under the heading of “magnetic influence” and relate to ashramic affiliation.
190. Hai sự nhận biết này có thể được xếp vào phạm trù “ảnh hưởng từ tính” và liên quan đến sự liên kết với ashram.
The consequent developing process of telepathic interplay is one which should be most carefully studied. All groups of disciples, working in or out of an Ashram, should be in close telepathic rapport and thus provide a training ground for the development of this type of sensitivity. The first thing that has to be established in a group of disciples is love and trust, for without that there can be no true transference of thought. Where love and trust do not exist, they must be definitely and consciously developed.
Tiến trình phát triển sự tương tác viễn cảm nảy sinh từ đó cần được nghiên cứu hết sức cẩn thận. Mọi nhóm đệ tử, dù làm việc trong hay ngoài một ashram, đều cần có sự giao cảm viễn cảm mật thiết, qua đó tạo nên một môi trường huấn luyện để phát triển loại nhạy cảm này. Điều đầu tiên cần thiết lập trong một nhóm đệ tử là tình thương và lòng tin cậy, vì thiếu điều đó thì không thể có sự truyền đạt tư tưởng chân thực. Ở đâu chưa có tình thương và lòng tin cậy, ở đó phải phát triển chúng một cách dứt khoát và có ý thức.